Một Thế Giới Thiếu Vắng Tình Yêu - Chương 04
Buổi sáng đầu tiên của tháng Hai, Motomura vẫn như thường lệ đi tới phòng giải phẫu trên tầng một tòa nhà B khu Tự nhiên trường Đại học T.
Giữa trưa cô bận trao đổi mail và đọc lướt qua bài nghiên cứu mà mình thấy tò mò, chẳng mấy chốc mà thời gian trôi đi. Về buổi hội nghị hợp tác mùa hè, cô phải điều chỉnh rất nhiều thứ với các phòng nghiên cứu của những trường đại học khác, lại còn phải nhanh nhạy nắm bắt kết quả các cuộc nghiên cứu mới nhất được đăng trên tạp chí, thế nên Motomura cứ xoay như chong chóng.
Thật ra cô chỉ ước gì mình được làm những công việc sử dụng đôi tay, như theo dõi tế bào phiến lá đã biến trong suốt qua kính hiển vi, hoặc phối giống cây để quan sát xem chúng sẽ cho ra thể biến dị nào trong lúc dõi theo các cây Arabidopsis thaliana lớn lên từng ngày. Nhưng dĩ nhiên là thế gian làm gì có chuyện tốt đẹp dường đó. Vả lại, Motomura cũng thừa biết rằng một khi đắm mình vào việc nghiên cứu, cả con mắt lẫn cái đầu cô đều không tránh khỏi tình trạng mệt mỏi. Cho nên, có thể chạm tới thế giới bên ngoài qua việc trao đổi email hay đọc bài nghiên cứu thì cũng có cái thú của nó, giúp bản thân cô có thể nghỉ lấy hơi một tẹo.
Đến giữa trưa thì tất cả các công việc của cô đều đã hoàn tất. Motomura cất bước đến phòng giải phẫu với tâm trạng thỏa mãn. Bữa trưa hôm nay là nhờ Viên Phục Đình đưa cơm tới. Cô đã nhờ Kato ở phòng nghiên cứu gọi giúp mình một phần cơm cuộn trứng rồi. Vẫn còn một tiếng nữa mới tới giờ được ăn một bữa ngon. Hay là tranh thủ lúc này đi quan sát các cây Arabidopsis thaliana nhỉ, cô nhẩm tính, đoạn mở cửa vào phòng giải phẫu. Không chỉ bước chân mà cả tâm tình của Motomura cũng nhẹ tênh. Thế nhưng ngay lập tức...
“Gì thế này...”
Cô bất giác kêu lên. Sàn phòng giải phẫu đang ngập đầy nước. Nguồn cơn của vũng nước này hiển nhiên là chamber của giáo sư Matsuda Kenzaburo rồi. Xem chừng thầy ấy lại quên bỏ ống xả nước vào xô.
Motomura tức tối thở phì phì, nhưng ngay lập tức cô đã trấn tĩnh lại mà cầm lấy miếng giẻ lau sạch sàn nhà. Nước nhiễu ra nhiều đến nỗi miếng giẻ lau không hút hết được, thế là cô đành phải lấy luôn cái khăn bông cũ mèm vứt trơ trọi trên bàn họp. Motomura cảm thấy sao nó giống với cái khăn mà Kato hay vắt trên cổ mỗi lần đến nhà kính làm việc quá, nhưng thôi lỡ rồi. Bây giờ chắc thầy Matsuda không sử dụng loại hóa chất nào có hại với cơ thể người trong phòng giải phẫu đâu. Nước từ trong chamber chỉ toàn chứa đầy chất dinh dưỡng thôi mà.
Motomura có thể cảm nhận được nỗi bi thương và cay đắng quyện trong từng câu chữ mà Matsuda sử dụng để kể ra quá khứ của mình, dù chúng không được thể hiện rõ ràng. Bất kỳ ai cũng sẽ nói với thầy rằng đó không phải lỗi của thầy ấy, nhưng đó vẫn là nỗi đau mà Matsuda phải một mình chịu đựng.
Nguyên nhân hàng đầu khiến cuộc sống của Matsuda chỉ xoay quanh mỗi việc nghiên cứu hẳn là vì lòng yêu thích của thầy đối với thực vật, nhưng cô cũng đoán rằng, hơn một nửa lý do nhất định cũng bắt nguồn từ suy nghĩ về người bạn đã khuất kia, bằng cách nào đó đã ảnh hưởng đến thầy. Song, thực hư thế nào thì Motomura lại không thể gặng hỏi Matsuda. Cô không thể bâng quơ hỏi thầy, vả lại, vai vế giữa Matsuda và Motomura vốn dĩ là giáo sư và học trò. Cô chỉ có thể giữ khoảng cách như mọi khi với Matsuda lúc ở phòng nghiên cứu vì đã hàm ơn sự dạy dỗ đầy tâm huyết của thầy mà thôi.
Có vẻ như Kawai cũng có cùng tâm trạng. Anh không động chạm gì đến quá khứ của Matsuda nữa và vẫn giữ thái độ như trước giờ. Kể cả đương sự là Matsuda cũng chẳng hé răng nửa lời về những chuyện mà mình đã trải qua và vẫn tiếp xúc với mọi người trong phòng nghiên cứu, tiêu biểu là Motomura, một cách bình thường.
Tuần trước đến phiên Motomura phát biểu về nghiên cứu của mình ở buổi họp nội bộ. Motomura thành thật báo cáo rằng nghiên cứu đã đến giai đoạn gieo hạt nhằm tìm ra hạt giống mang biến dị lần bốn. Nghe vậy, Matsuda liền hỏi kỹ thêm rằng cô tính sử dụng phương pháp nào để nhận biết chúng.
“Tôi nghĩ sẽ tốt hơn nếu em có thể tăng tốc thí nghiệm lên. Dĩ nhiên là tính chuẩn xác vẫn là điều quan trọng nhất.”
Thầy nêu ra ý kiến của mình với giọng lạnh lùng. Tất cả mọi trao đổi vào lúc ấy đều phải được tiến hành thông qua Anh ngữ nên Motomura phải toát mồ hôi khi lo lục lọi từ vựng tiếng Anh bên trong não mình.
Hiển nhiên là trong nghiên cứu thì sẽ không bao giờ có chuyện giáo sư Matsuda “nương tay”. Motomura chịu đựng cảm giác chán nản và khó chịu đối với bản thân. Cô thấy hơi có lỗi vì đã hành động quá phận, khiến cho Matsuda phải kể ra câu chuyện khó nói như thế. Nhưng Matsuda quả nhiên vẫn là Matsuda. Thầy ấy kể ra chuyện đó vì thấy nó cần phải được kể, đó là quyết định dựa trên lý trí của thầy. Matsuda không ghét bỏ gì ai cả, hay nói cách khác là thầy tuyệt đối không nương tay, vẫn tiến hành phương thức giáo dục tuy lạnh lùng nhưng hết sức tâm huyết của mình như mọi khi. Điều này khiến Motomura yên lòng hơn, nhưng bao tử cô vẫn hơi thắt lại khi thấy giáo sư vẫn quả quyết thọc mạnh vào điểm thiếu sót trong nghiên cứu của mình như thế.
Theo như chỉ đạo của Matsuda thì việc tăng tốc là bắt buộc phải thi hành. Tháng Tư này sẽ là năm thứ hai trong chương trình học tiến sĩ của Motomura. Học vị tiến sĩ chỉ mất có ba năm nên nếu không mau chóng thực hiện nghiên cứu thì sẽ không kịp mất. Trễ nhất là vào tháng Bảy năm ba chương trình tiến sĩ, cô bắt buộc phải đăng được bài nghiên cứu của mình lên tạp chí chuyên môn.
Dù đã có bản nháp của bài nghiên cứu, Motomura vẫn cần phải kiểm tra lại tiếng Anh và trau chuốt thêm cho câu chữ của mình. Ngay cả khi thành công đăng lên tạp chí thì vẫn phải chờ các nhà nghiên cứu chuyên môn “xét duyệt” để bình luận về bài nghiên cứu. Vượt qua vòng “xét duyệt” rồi cũng chưa đến lúc để cô mừng thầm đâu. Bởi vì ở đâu đó vẫn sẽ có người chỉ trích bài nghiên cứu của cô rằng, “Luận điểm này sao mập mờ quá”,... Không phải chuyện gì hiếm hoi khi cần tới bốn đến năm tháng để một bài nghiên cứu được cấp phép đăng lên tạp chí.
Tại cao học T, chuyện được đăng bài nghiên cứu lên các tạp chí giao lưu quốc tế là một trong những điều kiện xét duyệt cấp bằng tiến sĩ. Một khi chắc mẩm rằng bài nghiên cứu của mình được đăng trên tạp chí thì Motomura sẽ ngay lập tức bắt tay vào viết luận văn tiến sĩ.
Khối lượng của một bài luận tiến sĩ phải nhiều gấp đôi một bài nghiên cứu đăng trên tạp chí. Bởi vì trong đó chứa những dữ liệu thí nghiệm không được đăng trong phần tạp chí, nội dung cũng được triển khai trọn vẹn hơn.
Vòng xét duyệt luận văn tiến sĩ gồm hai giai đoạn: giai đoạn đầu là bảo vệ luận án, gọi là “Dự bị xét duyệt”, diễn ra vào tháng Mười một năm ba chương trình tiến sĩ; giai đoạn sau là vòng “Xét duyệt” thật sự sẽ diễn ra vào khoảng giữa tháng Hai năm kế tiếp. Nếu qua được vòng xét duyệt luận văn thì Motomura sẽ được nhận bằng tiến sĩ vào cuối tháng Ba.
Nói cách khác, kể từ sau tháng Bảy năm ba chương trình học tiến sĩ thì rất hiển nhiên rằng ai cũng sẽ bị cuốn vào quá trình chấp bút bài nghiên cứu đăng trên tạp chí và nghiên cứu tốt nghiệp tiến sĩ. Vậy nên ngay bây giờ, cô bắt buộc phải chuẩn bị tinh thần luyện nói các câu, “Đây là những điểm mới nhất mà em rút ra được từ nghiên cứu của mình. Bản thân em cũng muốn con đường nghiên cứu sau này của mình sẽ đi theo hướng ấy.”
Thời gian chỉ còn vỏn vẹn một năm năm tháng cho đến tháng Bảy năm sau. Motomura vốn đã sốt ruột lắm rồi, nhưng cô không thể hối thúc cây Arabidopsis thaliana mọc nhanh hơn được nữa. Cô chỉ có thể kiên nhẫn quan sát và tiến hành thí nghiệm một cách chuẩn xác trong lúc chờ chúng tạo ra thể biến dị lần bốn thôi.
Rốt cục cũng lau xong sàn phòng giải phẫu, Motomura vừa thở hồng hộc vừa quay sang quan sát chamber của mình.
Mỗi ngày cô đều thất vọng khi nhìn chòng chọc vào chúng mà chẳng thấy nổi chiếc lá siêu to nào mọc ra cả. Chuyện này đã lặp đi lặp lại nhiều đến mức Motomura tự dặn lòng rằng hôm nay cũng đừng trông đợi gì, thế nhưng khi giờ khắc đến thì cô vẫn không khỏi thấy nôn nao. Giả như không xuất hiện thể biến dị lần bốn đi nữa thì đối với một người yêu mến giống Arabidopsis thaliana như Motomura, có thể được chiêm ngưỡng những phiến lá đáng yêu kia cũng đủ để tim cô đập rộn rồi. Những người yêu mèo, dù mệt cách mấy vẫn sẽ tươi tỉnh lại ngay khi trở về và nhìn thấy bé mèo nhà mình. Họ sẽ lập tức vớ lấy cây lục lạc mèo mà vờn chú mèo nhà mình ngay trên đầu nó.
Rồi, hôm nay mấy bé Arabidopsis thaliana có khỏe không nào? Motomura chống tay lên đùi đứng trước chamber, nhòm vào dãy bông khoáng được xếp ngay ngắn trên khay. Hiện tại bên trong chamber đang có ba cái khay cả thảy. Vì thời điểm gieo hạt khác nhau nên tình trạng sinh trưởng của cây ở mỗi khay cũng khác nhau.
Để tiết kiệm không gian, Motomura quyết định gieo trên mỗi miếng bông khoáng bốn hạt giống. Một khay xếp được bốn mươi miếng bông khoáng nên vị chi cô đã tạm thời gieo xong 480 hạt. Xét theo xác suất thì thể biến dị lần bốn chắc chắn sẽ xuất hiện khoảng bốn đến năm hạt trong số 1.200 hạt kia. Cô nhẩm tính rằng trong số ba chiếc khay này có khả năng xuất hiện một hạt giống là thể biến dị lần bốn.
Các cây Arabidopsis thaliana vẫn dần lớn lên bên trong chamber. Lá cây cũng bắt đầu trổ nhiều hơn trên thân. Motomura nhẩm tính, nếu các cây cứ mọc vù vù thế này thì đến chừng chen hết chỗ, cô sẽ phải chuyển từng gốc một sang miếng bông khoáng mới thì chúng mới có thể tiếp tục phát triển.
Có một khay trong số này mới chỉ được gieo hạt vào năm ngày trước, ấy vậy mà lá non đã bắt đầu lú nhú cả rồi. Ngắm nhìn những chiếc lá tí hon chỉ nhỏ cỡ đầu ngón út, Motomura cười đến cong mắt mà nghĩ, ôi sao đáng yêu thế này. Nhưng giây phút tiếp theo, cô lại sững hết cả người.
Miếng bông khoáng nằm ngay chính giữa khay. Cô cảm giác rằng có một cây trong đó mọc lá trông khác hẳn những cái trước đây cô từng thấy. Motomura ghé mặt sát lại gần để có thể nhìn rõ hơn, mạnh đến nỗi trán cô đụng phải cánh cửa chamber.
“Đau...”
Motomura chỉnh lại cặp kính bị lệch do cú va đập rồi rên rỉ vì lỡ đập đầu mũi và phần trán vào cửa. Đoạn, cô vội vàng mở cửa chamber, nhẹ nhàng rút khay ra rồi đặt nó lên chiếc bàn họp. Ở khoảng cách gần sát rạt thế này thì cô mới dễ nhìn chằm chằm chiếc lá non có vấn đề kia.
Quả nhiên. Quả nhiên, chiếc lá non này khác hẳn lá các cây còn lại. Tuy rằng chỉ mới ở giai đoạn trổ mầm, nhưng mầm lá nom đã to hơn hẳn so với những cây khác. Đoạn gốc thân cây (cành nằm ở dưới lá mầm) cũng có mật độ lông non nhiều đáng kể.
Lá to, gốc thân có nhiều lông. Có lẽ nào đây chính là... thể biến dị lần bốn mà mình vẫn hằng mong chờ bấy lâu?! Nếu phối giống thành công thì chẳng phải mình sẽ thu được thể biến dị lần bốn đó sao?
Trống ngực của Motomura đập dồn như muốn kêu thành tiếng. Cô cũng tự biết rằng hô hấp của mình ngày càng trở nên nặng nề hơn. Mà khoan, gượm đã. Có khi do mắt mình quáng gà cũng nên, có khi đây chỉ là ảo giác do kỳ vọng quá lớn của mình gây ra. Trước hết phải trấn tĩnh. “Bình tĩnh lại, bình tĩnh lại...”, cô niệm thầm trong đầu.
Cô quyết định trước hết lôi cả hai cái khay còn lại ra để hoàn thành nốt lịch trình ngày hôm nay. Phải tưới nước, ghi lại quá trình sinh trưởng và chụp ảnh kỹ thuật số. Thế nhưng trong lúc thực hiện những tác nghiệp ấy, mắt cô vẫn nhìn chằm chằm vào cây giống có lá mầm vừa to lại vừa lắm lông ở gốc thân kia. Kể cả lúc chụp ảnh, Motomura cũng cố gắng chụp các cây từ khoảng cách bình thường với tần suất bình thường, thế mà khi sực tỉnh thì trong máy chỉ toàn ảnh chụp cái cây đặc biệt kia thôi. Lại còn chụp dưới nhiều góc độ với tần suất cực cao nữa chứ.
Chuyện này không khác gì một người tình cờ gặp được thần tượng của mình trong quán cà phê, thế là anh ta không khỏi nhìn chòng chọc vào người ấy, thi thoảng lại vờ đi vệ sinh để có thể lén nhìn góc nghiêng gương mặt và xác nhận rõ đó là thần tượng của mình. À không, có thể nói là Motomura khách sáo và thận trọng hơn những người hâm mộ lúc được gặp thần tượng nhiều. Tại vì đó là cây Arabidopsis thaliana chứ có phải là người đâu. Nhịp thở của Motomura trở nên dồn dập. Cô quan sát chiếc lá non kia với bộ dạng chăm chú đến nỗi như thể muốn liếm nó luôn vậy. Đến mức ngay cả bản thân Motomura cũng bắt đầu thấy hồi hộp, lỡ như chiếc lá không chịu nổi áp lực của ánh mắt mình mà héo rũ thì tính sao bây giờ.
Song, lá mầm này chỉ mới nhú lên thôi. Chỉ nhìn bằng mắt thường thì không thể xác định rõ được. Motomura hít vào một hơi thật sâu rồi lại bắt đầu thao tác máy ảnh kỹ thuật số. Cô bật ảnh chiếc lá mầm mình vừa chụp được, cho hiển thị trên màn hình máy ảnh rồi phóng to nó lên.
Phần cành mỏng dính đỡ lấy chiếc lá cũng có rất nhiều lông mịn. Đoạn, Motomura so sánh nó với ảnh những chiếc lá non khác. Quả nhiên là to hơn rõ rệt. Đây chính là chiếc lá non mà trước giờ cô chưa hề được thấy qua.
Thành công rồi. Thành công rồi. Thành công rồi!
Motomura vung hai tay lên trời với chiếc máy ảnh vẫn còn nắm trong tay.
Mình có được mẫu biến dị lần bốn rồi! Tất nhiên là vẫn còn công đoạn nghiên cứu kỹ lưỡng hơn, nhưng theo như kinh nghiệm quan sát Arabidopsis thaliana mỗi ngày của mình thì đây nhất định là thể biến dị lần bốn!
Hạ tay xuống, Motomura cất ba cái khay kia vào lại chamber. Đoạn, cô cầm máy ảnh chạy như bay ra khỏi phòng giải phẫu. Thật ra bây giờ cô chỉ muốn ôm cái khay có giống cây lạ kia chạy khắp trường Đại học T, nhưng cây Arabidopsis thaliana lại thuộc loại “tiểu thư khuê các” phải được chăm sóc cẩn thận trong nhà. Cho nên cô không thể mang nó ra khỏi phòng giải phẫu được. Thay vào đó, cô sẽ cho mọi người trong phòng nghiên cứu thấy bức ảnh trong máy kỹ thuật số của mình.
Motomura lao lên cầu thang trong tòa nhà B khu Tự nhiên để chạy đến phòng nghiên cứu Matsuda nằm trên tầng hai. Cô đểnh đoảng đến nỗi quên mất tình trạng hỏng hóc của cánh cửa để rồi lại cụng đầu một cái rõ đau. “Đau quá...”, Motomura vừa rên rỉ vừa giữ tay đấm cửa trong lúc nhấc nó lên.
Bên trong phòng nghiên cứu, Kato và Fujimaru ở Viên Phục Đình đang phân chia đồ ăn trên bàn họp. Cả hai vẫn luôn tay, không để ý rằng Motomura vừa chạy thục mạng lên phòng nghiên cứu.
“Mầm cây xương rồng nằm ở gốc gai của nó đấy.”
“Thật luôn. Xương rồng hay ho thế.”
Hai người đang lúc chuyện trò vui vẻ.
“Không chỉ mỗi cây xương rồng thôi đâu. Trên mấy cành cây to của cây rẻ quạt cũng có chôn nhiều mầm non lắm. Đơn vị cấu tạo của thực vật vốn bao gồm lá, mầm và cành nên những bộ phận ấy sẽ luôn mọc to ra. Loại thực vật nào cũng thế, số phiến lá sẽ bằng với số mầm non của nó.”
“Ồ. Nói vậy thì cây cối cũng ghê gớm quá chứ. Mắt mọc toàn thân không khác gì yêu quái luôn.”
“À không, cái đấy... không phải là mắt đâu, mà là ‘mầm’ trong mầm cây ấy.”
Đoạn hội thoại giữa Kato và Fujimaru chỉ vừa đến đó thì đột nhiên có tiếng gì đập lên cửa phòng nghiên cứu, rồi sau đó cửa phòng bật mở khiến cả hai hết hồn mà quay lại nhìn. Hóa ra là Motomura với cặp kính lệch và bộ dạng đứt hơi đang đứng ngay thềm cửa.
Bị Kato và Fujimaru nhìn chòng chọc khiến Motomura dần phát hoảng. Mặc dù cô nghĩ rằng chắc mặt mình đang đỏ tới trán luôn rồi, nhưng cô vẫn cứ chạy tới chỗ hai người và cho họ xem máy ảnh.
“Hai người hãy nhìn đi!”
Kato và Fujimaru liền ngoan ngoãn nhòm vào màn hình máy ảnh.
“Đây là lá mầm cây Arabidopsis thaliana nhỉ?”
“Oa, dễ thương quá!”
Cả hai lần lượt bày tỏ cảm xúc của mình khi vẫn dán mắt lên màn hình.
Không phải thế, Motomura bắt đầu thấy sốt ruột.
“Tôi nghĩ đây chính là thể biến dị lần bốn!”
Cô nhấn mạnh. Chuyên môn của Kato là loài xương rồng, Fujimaru thì hoàn toàn không có tí liên quan gì đến ngành thực vật nên cả hai chẳng ai nhận ra sự khác biệt trong kích thước của chiếc lá này.
“Ồ.”
Dứt lời, Fujimaru liền tủm tỉm cười. Dường như anh chỉ có thể nở nụ cười thật tươi và chúc mừng Motomura sau khi thấy được bộ dạng phấn khích và vui sướng của cô. Nhận được phản ứng cứng đờ như vậy, Motomura chỉ muốn kêu lên, thôi chịu mấy người đấy.
Thế là cô đành phải tới chỗ của Iwama. Motomura trực tiếp hét lên với chị.
“Thể biến dị lần bốn đó!”
Iwama đang hít hà mùi thức ăn xông vào cánh mũi cũng nhìn vào màn hình với bộ dạng nín thở, không biết có phải do chị bị giật mình hay không.
“Hửm?”
Iwama ậm ừ. “Đây chỉ mới là chồi non nên chị cũng không rõ cho lắm...”
“Chị hãy nhìn kỹ lại đi! Phần gốc thân mọc rất nhiều lông tơ, kích cỡ của mầm lá này khi so sánh cũng lớn hơn rất nhiều. Đây nhất định là thể biến dị lần bốn rồi!”
“Rồi rồi, em bình tĩnh lại đã.”
Iwama lại một lần nữa nhòm vào màn hình. “Ừ ha. Em nói thì chị mới để ý hình dạng của nó đúng là có hơi khác đấy.”
“Tôi nhìn vào thì chỉ biết đây là phiến lá thôi, nhưng dù sao cũng chúc mừng Motomura nhé. Cô thành công rồi.”
Fujimaru nói lời chúc mừng nghe vô trách nhiệm thật sự.
“Nếu đây mà là cây xương rồng thì bao nhiêu em cũng phân biệt được tất.”
Kato thì nom thờ ơ vô cùng.
Đúng lúc mọi người nhao nhao vây xung quanh chiếc máy ảnh thì Matsuda và Kawai cũng đã trở lại phòng nghiên cứu. Matsuda nhìn vào màn hình máy ảnh.
“Đích thị là nó rồi.”
Thầy gật gù. “Đúng là nó nhìn rất giống với thể biến dị, nhưng tuyệt đối không được võ đoán. Lỡ như đây là loại đột biến ngẫu nhiên xảy ra không liên quan gì đến thể biến dị lần bốn thì sao? Vả lại, cũng có trường hợp trời xui đất khiến mà một trong các thể biến dị lần bốn ngẫu nhiên xuất hiện đặc tính lá cây to hơn thông thường.”
Cảm xúc sung sướng của Motomura như vừa bị giội một gáo nước lạnh. Nhưng quả đúng như lời thầy Matsuda nói. Theo như vế đầu, rất có thể cô đã ngộ nhận loại đột biến không phải thể biến dị lần bốn thành thể biến dị lần bốn. Còn với vế sau thì lỡ như cô bỏ sót thể biến dị lần bốn thật thì sao? Dù là thế nào đi nữa thì cũng không thể phán định rằng đây là thể biến dị lần bốn chỉ bằng mắt thường được.
Motomura bắt đầu nguôi ngoai dần.
“Vâng ạ.”
Cô đáp, đoạn lấy tay chỉnh lại cặp mắt kính khi rốt cục cũng nhận ra nó bị lệch.
“Muốn biết xem em có thực hiện phối giống thành công hay không, rằng đây có phải là thể biến dị lần bốn hay không thì hãy sử dụng phương pháp PCR[25] ấy.”
“Ừ nhỉ. Em cũng đã tra cứu qua các bài nghiên cứu trong quá khứ, phương pháp thí nghiệm ấy vừa không xảy ra lỗi sai hay lỗ hổng gì, ở thời điểm hiện tại cũng đã có thể tái xác nhận trước rồi.”
Motomura nghiêm túc tiếp thu lời khuyên của Matsuda. Đoạn, cô rút quyển sổ con để trong túi quần jeans ra rồi ghi dòng “Xác nhận nghiên cứu” vào. Nhìn thấy Motomura và Matsuda như vậy, Kawai không khỏi mỉm cười.
“Nào, nghỉ trưa thôi mọi người.”
Anh nói. “Cậu Fujimaru này, đưa canh cho tôi với.”
***
Thế là Motomura đã không nhận được đóng dấu “Thể biến dị lần bốn” từ mọi người trong phòng nghiên cứu. Giai đoạn hiện tại, chỉ có mỗi chiếc lá mầm bé xíu và trực giác của Motomura thì đành chịu. Tiện thể thì lời chúc mừng của Fujimaru, vì chẳng dựa vào căn cứ nào nên cũng chả được Motomura công nhận.
Fujimaru lại còn reo lên, “Phiến lá khổng lồ, thân gốc nhiều lông tơ... Ôi, thế thì gọi nó là ‘khổng lông’ đi nhé!”. Motomura liền âm thầm tiêu diệt cái biệt danh anh gắn cho chiếc lá mầm từ trong trứng nước.
Tình hình rất ư là tình hình, thế nhưng Motomura vẫn một mực tin vào trực giác của mình không chút suy chuyển. Dĩ nhiên là cô cũng phải gạt bỏ thành kiến qua một bên. Phải thông qua thí nghiệm mới chứng minh được đó có phải là thể biến dị lần bốn cô đạt được khi thành công phối giống cây hay không. Nhưng dấu hiệu thế này với cô là đủ rồi.
Bao nhiêu công sức cô bỏ ra để tỉ mỉ phối giống, tách hạt, gieo hạt, rốt cục cũng không bị lãng phí. Chuỗi ngày quan sát cây Arabidopsis thaliana liên tục cũng không phí hoài chút nào.
Motomura vui lắm, đến nỗi cả gương mặt và toàn thân cô đều phát run vì xúc động. Dẫu cho cô có mở quyển tạp chí nghiên cứu để kiểm tra lại đường hướng nghiên cứu của mình thì cũng chả có nửa chữ nội dung vào đầu. Nguyên một buổi chiều hôm đó của Motomura đành phải kết thúc trong tình trạng dở việc.
Trên đường về nhà cũng vậy. Motomura một mình về tới căn hộ, lúc đó cô mới phát hiện ra mình vẫn cười hí hửng thành tiếng nãy giờ. Trước khi về nhà cô có ghé qua phòng giải phẫu nhòm lại chamber một lần, quả nhiên là sau đó đầu óc cô chỉ nghĩ về chiếc lá non biến dị lần bốn kia thôi.
Làm thế nào bây giờ? Mọi chuyện suôn sẻ một cách đáng sợ. Tuy lúc nào cũng tự ti, nhưng có khi nào mình lại khéo tay trong việc phối giống một cách chuẩn xác không nhỉ? Có lẽ nào... có lẽ nào... Mình thừa năng khiếu làm nhà nghiên cứu chăng!? Ôi!
Cứ nghĩ đến đó là cô lại phải cắn hai bên má trong để kiềm chế bản thân không ngây ngô cười thành tiếng. Tuy rằng đương sự đã rất cố gắng, nhưng nỗ lực lại hầu như công cốc. Thế là lúc bản thân đã đủ nguôi ngoai để nằm xuống ngủ thì Motomura vẫn cứ cười hí hí một mình trong phòng. Trên nền chiếu bên cạnh cô là chiếc bóng thảm đạm của cây trạng nguyên sắp sửa biến thành “gậy Cái Bang” vì đã rụng trụi lá.
Sáng hôm sau, Motomura kéo giãn khuôn mặt đỏ ửng của mình, nhân tiện trấn an lại cảm xúc của bản thân rồi mới đi tới Đại học T. Lúc đến được tòa nhà B khu Tự nhiên thì cô tiện chân đi thẳng tới phòng giải phẫu nằm ở tầng một để theo dõi cây Arabidopsis thaliana trong chamber.
Không phải mơ. Đúng là có một cây giống nằm ở giữa khay có gốc thân mọc rậm lông tơ và kích cỡ lá mầm cũng to hơn nhiều. Hiển nhiên là so với hôm qua thì cái cây cũng không lớn lên được bao nhiêu, nhưng chỉ nhìn thế thôi thì Motomura cũng đã mãn nguyện lắm rồi. Ảnh lưu trữ thì nên được chụp vào cùng một khung giờ, thế là cô quyết định tầm trưa sẽ lại đến phòng giải phẫu thêm lần nữa.
Phòng nghiên cứu trên tầng hai vẫn chưa có ai tới. Motomura nấu nước sôi để pha cà phê rồi bắt đầu đọc lại các bài nghiên cứu trong quá khứ hòng kiểm tra lại phương pháp thí nghiệm của mình.
Hiện tại thì Motomura đang có ý định tra cứu về “cơ chế kiểm soát phiến lá”. Kích thước phiến lá và tế bào chỉ có thể nằm trong một giá trị nhất định. Bởi vì có rất nhiều chuỗi ADN hoạt động một cách hết sức tinh tế để điều chỉnh kích thước và số lượng tế bào của phiến lá.
Thế nhưng trong các loại thực vật vẫn có giống cây mọc ra được phiến lá khổng lồ, tế bào của phiến lá cũng có thể nhân lên vượt mức giới hạn. “Cơ chế kiểm soát phiến lá” của những loại thực vật ấy có phải đã xảy ra sự thay đổi lớn lao gì không? Motomura quyết định tiến hành thí nghiệm trên cây Arabidopsis thaliana dựa theo suy luận ấy của mình. Hay nói cách khác, cô chọn ra các chuỗi gen A, B, C và D có quan hệ với “cơ chế kiểm soát phiến lá” để phối chúng với các giống biến dị a, b, c và d, hòng phối ra được thể biến dị lần bốn mang mã gen “abcd”.
Nếu cây Arabidopsis thaliana mang biến dị lần bốn này mà cho ra phiến lá to hơn các cây thường, số lượng tế bào của phiến lá cũng nhiều hơn thì cô sẽ tìm hiểu xem “cơ chế kiểm soát phiến lá” đã gây ra ảnh hưởng gì trong việc phá hoại chuỗi ADN. Từ kết quả kể trên, Motomura sẽ nắm bắt được manh mối để giải mã bí ẩn của phiến lá.
Bây giờ cô vẫn đang nuôi trồng giống Arabidopsis thaliana trông giống với thể biến dị lần bốn kia trong chamber. Nhưng dù thế nào đi nữa thì nó cũng chỉ trông khác hơn so với các cây Arabidopsis thaliana thông thường thôi. Nó có thật sự là thể biến dị lần bốn hay không thì nếu không tiếp tục tiến hành nhiều loại thí nghiệm, Motomura sẽ không thể biết chính xác được.
Mà rốt cục phải làm thế nào mới xác định chuẩn xác các giống cây biến dị lần bốn trong số 1.200 giống Arabidopsis thaliana được phối chứ? Motomura vừa đọc đi đọc lại các bài nghiên cứu trước đây vừa suy tính trong đầu. Trong lúc đó thì mọi người đã lục đục đến nơi. Motomura vì quá chú tâm vào các bài nghiên cứu nên dù được mọi người chào hỏi thì cô cũng chỉ lơ đãng mà đáp lại.
Nếu viết ra mã ADN của gen “abcd” thể biến dị lần bốn một cách chính xác thì nó phải là “aabbccdd” cơ. Cái mà Motomura muốn là mỗi gen A, B, C và D khi phối với các gen aa, bb, cc, dd thì đều thành dị hợp “abcd” biến dị lần bốn. Tỉ dụ như gen di truyền A sẽ có dị hợp tử là Aa, còn đồng hợp tử của nó sẽ là AA. Đồng hợp tử là thể không biến dị nên giống cây đó sẽ bị loại khỏi nghiên cứu.
Thể biến dị a, b, c mà Motomura phối giống đều có từng đặc trưng riêng. Vậy nên cô mới lựa chọn chúng. Các đặc trưng ấy sẽ là dấu hiệu rất tiện lợi trong lúc cô khoanh vùng xem giống cây nào là thể biến dị lần bốn.
Đầu tiên là thể biến dị a có kiểu gen gọi là “stop/go”, mang đặc trưng phiến lá to và phải mất thời gian khá lâu để thân cây trổ lá. Sau khi đã mọc lá mầm mà thân cây vẫn không trổ lá thì Motomura có thể xác định rằng giống cây đó mang mã gen aa.
Theo “Quy tắc phân ly” của Mendel thì tỷ lệ xuất hiện của các gen mang kiểu gen AA, Aa và aa sẽ lần lượt là 1:2:1. Hay nói cách khác, trong số bốn ứng cử viên thể biến dị lần bốn nằm lẫn trong 1.200 hạt giống, sẽ có một hạt duy nhất mang kiểu gen aa.
Motomura thận trọng ghim cây tăm vào bên cạnh cây giống có thân chậm trổ lá, chỉ cần nhìn qua là biết ngay đây là “giống cây cần kiểm tra.”
Cần phải mất chút thời gian thì mới đến lúc khoanh vùng thể biến dị b, hay nói cách khác là thể có kiểu gen bb.
Có một loại thuốc diệt cỏ tên là Basta[26]. Thông qua việc tiêm các gen kháng thuốc diệt cỏ vào bên trong ADN cây Arabidopsis thaliana một cách thủ công, ta sẽ có được chủng cây Arabidopsis thaliana không bị héo rũ khi tiếp xúc với thuốc diệt cỏ Basta.
Thể biến dị b vốn là thứ phá vỡ gen di truyền B, mang trong mình kiểu gen “miễn nhiễm với thuốc Basta”. Đặc trưng của thể biến dị b này sẽ giúp cây chống chọi hiệu quả với thuốc diệt cỏ Basta và có thể mang kiểu gen Bb hoặc bb.
Khi gieo 1.200 hạt cây được phối giống lần lượt vào bông khoáng, Motomura đã không quên trộn chung thuốc diệt cỏ Basta vào nước tưới cho từng khay.
Nếu làm thế thì sẽ có chuyện gì xảy ra? Chủng Bb và chủng bb vì được trang bị sẵn tính năng kháng lại thuốc Basta nên dù có hấp thu nước tưới pha với thuốc trừ sâu thì cũng không bị héo. Tuy nhiên, chủng mang kiểu gen BB thì lại không có sức đề kháng với thuốc diệt cỏ và sẽ trở nên héo rũ.
Lại chiếu theo “Quy tắc phân ly” của Mendel, ta sẽ có xác suất xuất hiện kiểu gen BB là 1:4. Hay nói cách khác, ta có thể khiến cho một phần tư cây trong số 1.200 hạt giống héo đi chỉ với thuốc Basta. Ba phần còn lại sẽ trở thành ứng cử viên cho thể biến dị lần bốn.
Ở giai đoạn quan sát các cây Arabidopsis thaliana được nuôi trồng trong chamber như hiện tại thì một phần tư giống cây đã có lá biến thành màu trắng và bắt đầu héo đi khi chỉ vừa mới nhú lá non. Chỉ có điều, ba phần không héo còn lại vừa có chủng mang kiểu gen Bb, vừa có chủng mang kiểu gen bb. Muốn phân biệt xem đâu mới là chủng biến dị b mang kiểu gen bb thì Motomura phải dùng tới phương pháp PCR để cho ra kết quả cuối cùng.
Khi trong đầu đã sắp xếp tới bước kể trên, Motomura hít một hơi rồi uống cà phê. Sau khi thổi phù phù và nghiêng tách, cô mới phát hiện cà phê đã nguội từ lúc nào. Cô lén lút nhìn quanh để xem hành động ngớ ngẩn vừa rồi của mình có bị ai bắt gặp không.
Mọi người trong phòng nghiên cứu đều đang chăm chú nhìn vào laptop của mình với vẻ mặt nghiêm túc. Motomura tằng hắng một cái để điều chỉnh bản thân rồi lại tiếp tục đưa mắt nhìn xuống bài luận văn trên tạp chí.
Thể biến dị c, hay nói cách khác là chủng mang kiểu gen cc sẽ khiến cuống lá có màu đỏ phớt. Theo “Quy tắc phân ly” của Mendel thì kiểu gen ấy sẽ xuất hiện với tỷ lệ 1:4. Dĩ nhiên là Motomura đã cắm sẵn tăm đánh dấu “cần kiểm tra” bên cạnh những gốc cây xuất hiện cuống lá màu đỏ phớt rồi.
Rồi, đến đây thì đại khái đã khoanh vùng gần xong.
Chủng mang kiểu gen dd thì không thể xác định được thông qua bề ngoài hoặc đặc trưng kháng thuốc diệt cỏ Basta, nhưng đến đây thì điều đó đã không còn là vấn đề nữa.
Nếu phân loại theo sức đề kháng với thuốc Basta thì cô sẽ có được 900 cây, tức ba phần tư trong số 1.200 hạt giống. Trong số 900 cây ấy, cô có thể chọn ra các giống mang kiểu gen “gốc thân trổ lá chậm” và “cuống lá có màu đỏ phớt” chỉ bằng mắt thường. Đó chính là chủng có kiểu gen “aacc”.
Một khi đã xác định được đâu là “aacc” rồi, cô sẽ phân biệt ba loại kiểu gen cho alen B lần lượt là Bb, bB, bb; và bốn kiểu gen DD, Dd, dD, dd cho alen D. Từ “Quy tắc phân ly” suy ra, tỷ lệ xuất hiện của bb là 1:3 còn dd là 1:4.
Thế có nghĩa là, Motomura trở nên hưng phấn, trong số các chủng mang kiểu gen aa và kiểu gen cc thì tỷ lệ xuất hiện thể biến dị lần bốn mang kiểu gen “aabbccdd” sẽ là một phần mười hai!
Vậy thì mình chỉ cần chọn ra 24 cây giống mang kiểu hình “gốc thân trổ lá trễ, ngoài ra cuống lá còn có màu đỏ phớt” trong số các cây “còn sống sau khi đã hấp thụ thuốc diệt cỏ Basta”. Tính theo xác suất một phần mười hai kia thì mình sẽ có được hai cây là thể biến dị lần bốn. Sau đó thì chỉ cần sử dụng phương pháp PCR để kiểm nghiệm và đích xác chỉ ra đâu mới là thể biến dị lần bốn trong số 24 cây đó là được. Kết quả là nếu cây “có kích thước lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ” cũng nằm trong số hai giống mang thể biến dị lần bốn kia, thì có thể chứng minh giả thuyết của mình đã đúng!
Tâm trạng của Motomura đang bừng bừng như củ khoai hấp nóng hổi vậy. Cô ngẩng đầu lên khỏi tạp chí nghiên cứu mà mình đang đọc. Hí hí hí, phương pháp thí nghiệm và thứ tự nghiên cứu mà mình định ra thật sự không sai rồi.
Mình đã sử dụng thể biến dị b mang kiểu hình miễn nhiễm với thuốc Basta để phối giống. Thành quả của phương pháp mà mình đã tính toán từ lâu ấy chính là một phần tư số cây mầm trên bông khoáng đang héo dần đi. Những cây chậm mọc lá ở phần gốc thân và những cây có cuống lá màu đỏ phớt cũng đã được xác định rằng có xuất hiện. Hay nói cách khác, đây chính là bằng chứng cho việc phối giống đã thành công tốt đẹp, và cả quá trình tìm ra ứng cử viên cho thể biến dị lần bốn sắp tới từ kiểu gen đề kháng với thuốc trừ sâu hoặc hình dạng bên ngoài của cây cũng sẽ thành công.
Hơn nữa. Hơn nữa, giống cây “có kích thước lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ” chỉ cần nhìn qua cũng đủ biết là thể biến dị lần bốn kia cũng đã xuất hiện rồi. Mình đúng là được trời cao khoản đãi!
Motomura bật cười khúc khích thành tiếng mà không e dè gì nữa. May mắn thay, mọi thành viên của phòng nghiên cứu lúc bấy giờ vì quá chuyên tâm vào tác nghiệp của mình nên mới không để ý đến khuôn mặt cười đến là nhăn nhở của cô.
Phía sau chỉ còn mỗi việc đem gieo nốt phần hạt giống Arabidopsis thaliana còn lại nhằm tìm ra phiến lá thích hợp trong số 24 giống cây được khoanh vùng thôi. Chỉ cần sử dụng phương pháp PCR xét nghiệm những phiến lá ấy thì thể nào cũng sẽ bắt được thể biến dị lần bốn.
Máy PCR là loại máy có thể chạy 12 ống nghiệm cỡ nhỏ cùng một lúc. Ống PCR có hình dạng nhỏ hơn ống Eppendorf một chút, vì mỗi lần phải dùng tới 12 ống xếp cạnh nhau. Cô sẽ phải bỏ từng mảnh của mỗi phiến lá vào ngâm trong dung dịch trong suốt đựng bên trong mỗi ống.
Motomura thầm nghĩ, có tận 12 ống cơ mà. Cứ đồng loạt xét nghiệm hết phiến lá của 36 cây luôn đi. Những phiến lá được mang đi xét nghiệm dĩ nhiên là từ các cây “gốc thân trổ lá trễ, hơn nữa cuống lá có màu đỏ phớt” rồi. Thể biến dị lần bốn mà Motomura đang để mắt tới đương nhiên cũng sẽ bao gồm các cây “có kích thước lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ”. Tính theo xác suất thì thể biến dị lần bốn nhất định sẽ là ba cây trong số 36 giống cây kia.
Nhưng chủ quan là điều cấm kỵ trong nghiên cứu. Tính chính xác và minh bạch của thí nghiệm mới là tối quan trọng. Tuyệt đối không được mờ mắt bởi sự kỳ vọng vào giống cây “có kích thước lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ” kia. Motomura tự dặn lòng rằng, con đường của lý lẽ và tư duy phải theo đúng những gì đã trù tính. “Phải tìm ra thể biến dị lần bốn bằng cách áp dụng phương pháp PCR để kiểm tra 36 giống cây có kiểu hình ‘gốc thân trổ lá trễ, cuống lá có màu đỏ phớt’. Nếu trong số kết quả có xuất hiện giống cây ‘có kích thước lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ’ thì có nghĩa là thí nghiệm đã thành công và giả thuyết của mình là đúng.”
Cứ tuần tự tiến hành thí nghiệm thế này thì sẽ đường hoàng chứng minh được kết quả phối giống của mình đã cho ra thể biến dị lần bốn. Sau khi nhìn lại một lượt quá trình, Motomura tự tin rằng tiến độ đang diễn ra hết sức suôn sẻ. Cô thì thầm với bản thân, “Được lắm!” Bây giờ cô đã hiểu rõ những giai đoạn về sau, và cần thực hiện thí nghiệm gì kế tiếp. Cô cảm giác như mình mới vừa được khai sáng vậy. Tâm trạng hiện tại của Motomura tựa như khi đứng ở đài viễn vọng trên đỉnh núi, ngắm nhìn phong cảnh đẹp đẽ hữu tình giữa khí trời tươi mát. Thậm chí cô còn có thể thấy được mặt biển lấp lánh từ đằng xa.
Motomura vui vẻ đứng dậy. Cô mang tách cà phê đi rửa rồi rời khỏi phòng nghiên cứu. Cô vừa ngâm nga vừa đi đến phòng giải phẫu để tiến hành công tác chụp ảnh các cây Arabidopsis thaliana theo như lịch trình.
Đây đó trên mấy miếng bông khoáng được xếp trong khay có cắm những cây tăm làm dấu. Đều là những mầm cây có cuống lá màu đỏ phớt hoặc gốc thân trổ lá trễ. Trong số đó dĩ nhiên là đã bao gồm cây vừa có kích thước lá non to hơn vừa có gốc thân mọc nhiều lông tơ, vốn là ứng cử viên sáng giá nhất để trở thành thể biến dị lần bốn. Nó vẫn sinh trưởng khỏe mạnh hệt như lúc cô thấy hồi sáng.
Chẳng phải mình đã có thể viết luận văn tiến sĩ rồi sao? Đâu chỉ thế, nếu phát biểu kết quả này ở hội thảo thì biết đâu còn khiến mọi người trầm trồ một phen ấy chứ?
Hí hí hí. Tính tình của Motomura nói dễ nghe thì là khiêm tốn, nói khó nghe thì là tự ti. Ấy thế mà giờ đây cô lại phát ra tiếng cười khùng khục nom như một tay đại gian thần, quả là hiếm thấy. Vừa reo thầm trong đầu rằng lá ơi hãy mau mọc lớn hơn nữa nhé, cô vừa tưới nước cho cây. Sau khi quan sát cẩn thận từng cây bằng mắt thường, Motomura mới lại ngâm nga trở về phòng nghiên cứu.
Thế giới của mình đang ngập tràn sắc xuân. Motomura cảm thấy buồng phổi căng tràn oxy hơn bình thường, thân thể lẫn tinh thần đều phơi phới. Đầu óc tỉnh táo sáng suốt hơn hẳn. Chỉ lướt mắt qua mạng nhện giăng trên trần nhà phản chiếu ánh sáng lấp lánh tí thôi cũng đủ để cô xúc động dạt dào. Motomura thấy rằng, bây giờ cô có khả năng làm tất cả mọi thứ và không gì có thể cản nổi bước cô nữa.
Vừa kiểm tra email trong phòng nghiên cứu, Motomura vừa hít thở thật sâu. Nếu không làm thế thì cô sẽ không cách nào kiềm chế được giọng ngâm nga và nét mặt cười trộm của mình.
Đây cũng là cảm giác mà những nhà cầm quyền xưa kia từng trải qua sao, Motomura không khỏi suy nghĩ.
Vì bản thân cô có khiếu học những chuyên ngành liên quan đến khoa Tự nhiên hơn, nên dù thời phổ thông Motomura có chọn lớp Lịch sử Nhật Bản đi nữa thì cô cũng không tránh khỏi việc phải chống chọi với cơn buồn ngủ mỗi lần tới tiết. Thế mà bây giờ, những món tri thức mờ mờ ảo ảo mà cô được học ở tiết Lịch sử lại đang trỗi dậy khiến Motomura không thể kiềm chế được vẻ đắc ý khi cảm thấy mình hệt như Toyotomi Hideyoshi[27] lúc ngắm hoa trên một ngôi chùa ở Kyoto, hay Fujiwara no Michinaga[28] lúc ngâm bài tanka[29] Ta là ánh trăng rằm. Các vị ấy thì vui sướng vì đang nắm trong tay “quyền lực tột đỉnh”, còn Motomura chỉ đơn giản là vì “thí nghiệm thành công” thôi, nhưng tâm trạng hẳn là không khác gì nhau.
Sau khi nhanh tay hồi âm tất cả email, Motomura quyết định bắt đầu chuẩn bị thí nghiệm tiếp theo. Hiển nhiên là cô phải canh thời gian sao cho khớp với tác nghiệp gieo nốt số hạt giống còn lại. Giai đoạn sau chỉ còn mỗi phương pháp PCR nữa thôi.
Nếu các cây Arabidopsis thaliana cứ sinh trưởng với tốc độ thế này thì cô sẽ sớm trích được phiến lá từ mỗi gốc cây để tiến hành PCR. Bằng máy móc, cô có thể nhân bản đoạn ADN đặc định. Như vậy là xác định được gen di truyền của phiến lá ấy có phải là thể biến dị lần bốn mang kiểu gen “abcd” mà Motomura cần tìm hay không rồi.
Để thực hiện phương pháp PCR, ngoài việc phải ngâm kỹ phiến lá cho vỡ ra, quan trọng nhất vẫn là “đoạn mồi”. Đoạn mồi còn gọi là chất đánh dấu, có nhiệm vụ chỉ thị “nhân bản đoạn ADN từ đây đến đây”.
Nên chuẩn bị đoạn mồi nào? Mình phải kiểm tra kỹ trước mới được. Tiện thể tra cứu lần nữa về gen di truyền mà mình đã chọn cho thí nghiệm lần này luôn. Motomura với tay đến chồng tạp chí nghiên cứu chất chồng như núi trên bàn làm việc của mình.
Đúng lúc đó, một luồng điện bỗng giật khắp người cô từ đỉnh đầu đến tận ngón chân.
Gượm đã. Gen di truyền. Mình đã... chọn gen di truyền nào ấy nhỉ?
Tầm nhìn của cô mờ hẳn đi, vầng trán thì bắt đầu lấm tấm mồ hôi.
Motomura vừa nhận ra một vấn đề vô cùng nghiêm trọng. Có lẽ nào, mình đã lấy nhầm đoạn gen di truyền được chọn cho thí nghiệm lần này không!
Cho đến bây giờ, cô chưa từng nghĩ đến việc mình sẽ “lấy nhầm”. Chính vì bây giờ là lúc đầu óc Motomura thanh tỉnh nhất nên mối ngờ vực đáng sợ này mới trở thành dự cảm trong lòng cô.
Có khi nào... Nếu mình nhầm mã gen thì dù có phối giống bao nhiêu lần đi nữa, có tách đến 1.200 hạt giống đi nữa, có trồng hết những hạt giống ấy thành cây Arabidopsis thaliana đi nữa, hay nói cách khác là toàn bộ quá trình thí nghiệm từ trước tới giờ, tất cả sẽ hóa thành công cốc. Vì tiền đề là mình đã lỡ lấy nhầm mã gen.
Không, không lý nào. Motomura nhanh chóng phủi bay nghi vấn và dự cảm ấy đi. Lựa chọn mã gen di truyền nào vốn là một phần cốt lõi của thí nghiệm. Mình đã cẩn thận kiểm tra tới lui không biết bao lần, xác định rằng đây đúng là bốn loại gen A, B, C, D rồi mới tiến hành phối các thể biến dị với nhau. Vả lại, mình làm sao có thể phạm phải sai lầm cơ bản như là lấy nhầm mã gen di truyền cơ chứ.
Nhưng trong thực tế, A, B, C, D vốn chỉ là tên mà Motomura thuận miệng gọi thôi.
Vì có rất nhiều mã gen di truyền nên mỗi gen đều được gắn cho một mã viết tắt, ví dụ như UBA1 hay STH3. Cũng giống như cách gọi CIA (Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ) thực chất là viết tắt cho Central Intelligence Agency vậy, tên gọi tắt của từng mã gen đều lấy từ ký hiệu đầu tiên trong mỗi chữ hợp thành tên gọi dài ngoằng của nó. Tuy nhiên, dù đã được tóm gọn lại rồi thì tên của từng mã gen vẫn vô cùng khó nhớ, cách phát âm cũng hết sức phiền phức nữa.
Chính vì lẽ đó nên Motomura mới quyết định sẽ gọi bốn mã gen di truyền được xác định là có ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát phiến lá thành “A”, “B”, “C” và “D”. Ví dụ như mã gen mà Motomura vẫn gọi là “D” chẳng hạn, tên viết tắt của nó thực chất là AHO cơ.
Và đó là cách mà mã gen D, tức AHO, trở thành vấn đề hiện tại.
Nỗi ngờ vực và dự cảm hết sức đáng sợ đang tấn công Motomura chính là, “Lúc mới bắt đầu thí nghiệm, mình đã quyết định nghiên cứu gen AHO sau nhiều phen kiểm tra. Nhưng lỡ như mã gen có liên quan đến cơ chế kiểm soát phiến lá vốn là một mã gen hoàn toàn khác với AHO, như là mã gen có tên viết tắt là AHHO thì sao?”
Không đâu không đâu, dù cho bản thân mình có thơ thẩn thế nào đi nữa thì cũng không thể lấy nhầm mã gen được.
Motomura run rẩy lật quyển sổ tay thí nghiệm ra. Đoạn, cô lật tìm đến trang ghi chép về bốn mã gen được lựa chọn để tiến hành nghiên cứu. Lúc lật đến trang có ngày tháng tương ứng thì Motomura mới thấy, nội dung quả nhiên vẫn tương ứng với những gì ban đầu mình nghĩ. Cô đã chọn lấy mã gen AHO làm đối tượng nghiên cứu, sau đó đổi cách gọi nó là D, rồi mới tiến hành phối mã gen đó với các gen khác và tiến hành tách hạt.
Nhân tiện thì cô cũng lôi ra một quyển sách từ trong chồng tạp chí nghiên cứu bên cạnh. Tay cô run ngày một dữ dội hơn. Motomura mãi vẫn không lật nổi trang sách. Rốt cục thì cũng giở được tới trang có bài nghiên cứu mà mình muốn, Motomura ngửa đầu lên nhìn trần nhà.
Bài nghiên cứu ghi chép rõ ràng, “Mã gen di truyền AHHO được cho rằng có khả năng ảnh hưởng đến quy tắc kích thước của phiến lá”.
Tại sao lại như vậy?! Quả nhiên mã gen mình cần nghiên cứu không phải AHO mà là AHHO...!
Tại sao bản thân đã cẩn thận lắm rồi mà vẫn phạm vào sai lầm căn bản như vậy? Bởi vì tên viết tắt của các mã gen khá giống nhau nên chẳng biết từ lúc nào mình đã nhầm lẫn chúng.
AHO và AHHO là hai mã gen di truyền hoàn toàn khác nhau. Việc Motomura nhầm lẫn hai mã gen này chẳng khác nào phạm phải sai lầm mang tính quyết định hết sức ngu ngốc mà dân gian vẫn ví von như “lẫn đường với muối” vậy.
Suốt mấy tháng trời nay, mình lỡ nấu canh thành chè mất rồi...
Hai tay Motomura vô lực buông thõng bên người, đầu cô thì gục ngay trên bàn. Toàn bộ sức lực gồng gánh cơ thể cô giờ đây mất sạch. Trong đầu cô chỉ lặp đi lặp lại mỗi câu văn “Tiếng chuông chùa Gion Shoja gióng cõi vô thường vào lòng ta”[30]. Taira no Kiyomori[31] hẳn cũng lâm vào tình cảnh thế này khi lìa đời bởi một cơn sốt. Vinh hoa phú quý đời người ngắn chẳng tày gang. Chính vì đã được nếm qua mùi vinh hoa phú quý nên mới đắng cay đến thế khi bản thân mất hết tất cả. Thôi, không thể nghĩ được gì nữa. Tất cả đều là một màu trắng xóa.
Hết thật rồi. Thí nghiệm của mình đã kết thúc một cách bẽ bàng thế đấy. Chỉ vì mình đã mắc phải lỗi lầm hết sức ngớ ngẩn.
Motomura vẫn chôn mặt vào trong quyển sổ con ghi chú nội dung thí nghiệm. Vừa thất vọng tột độ vừa tức giận với bản thân khiến cô khóc không ra nước mắt.
Mới 15 phút trước cô vẫn còn tươi cười đắc ý, thế mà giờ đây lại thấy xấu hổ và căm ghét mình lúc ấy vô cùng. Nào là luận văn tiến sĩ. Nào là khiến mọi người ở buổi hội thảo trầm trồ. Có thể phạm vài sai lầm ngu ngốc thế này thì mình đã mất tư cách làm nhà nghiên cứu rồi. Bố ơi, mẹ ơi, con xin lỗi. Bố mẹ đã cất công cho con học lên tới tiến sĩ mà con gái của bố mẹ lại bừng bừng khí thế đi nấu canh thành chè!
“Gì thế này, sao lại ngủ mất rồi?”
Iwama bước vào phòng nghiên cứu và lay lay vai của Motomura, nhưng cô vẫn chỉ ì ra đó mà không nhúc nhích gì. Đến lúc này thì ngay cả Iwama cũng không khỏi lo lắng.
“Sao vậy? Em thấy không khỏe trong người à?”
Chị khom lưng xuống để nhìn Motomura, nhưng cô lại nhắm tịt mắt.
“Không có gì ạ...”
Motomura lí nhí nói. “Chắc là em bị thiếu máu. Chị cứ để mặc em là được.”
Cô cứng đầu không chịu ngẩng mặt lên. Cô không muốn để mọi người nhìn thấy gương mặt đáng thương của mình. Tuy rằng cô chẳng bị thiếu gì cả, nhưng Motomura thấy bất ngờ vì cơ thể này lại mất hết sức lực và mọi suy nghĩ đều ngừng trệ.
Ánh trăng tròn rồi lại khuyết, trước mắt mình chỉ có bóng tối vĩnh hằng. Motomura thẫn thờ nghĩ.
***
Motomura trải qua những ngày sau đó trong lo sợ vì cô chẳng dám nói với ai chuyện mình nhầm lẫn mã gen di truyền dùng trong thí nghiệm.
Cô buộc phải hành động ngay lập tức nếu muốn làm lại thí nghiệm với mã gen AHHO ban đầu. Cô hủy bỏ toàn bộ giống cây Arabidopsis thaliana có mã gen AHO mà mình đang trồng, sau đó tiến hành phối lại giống nhằm cho ra bốn mã gen biến dị bao gồm AHHO. Thế là cô phải tách thêm 1.200 hạt giống mới để phối chéo với nhau, rồi sau đó gieo hạt và bắt đầu trồng.
Nghĩ đến hạn chót phải viết bài nghiên cứu đăng lên tạp chí, vốn là tiền đề để nộp luận văn tiến sĩ thì thời gian của cô rất eo hẹp. Nếu không quyết tâm từ bây giờ thì xôi hỏng bỏng không.
Nhưng Motomura vẫn rối rắm lắm. Tuy cô đã lỡ chọn sai mã gen AHO, thế nhưng cô vẫn trồng ra một cây nghi ngờ là thể biến dị lần bốn có phiến lá nảy sinh thay đổi trong cơ chế kiểm soát đó thôi. Có khi nào trong họa được phúc, cô đã vô tình phát hiện điều gì đó lớn lao thì sao? Mã gen di truyền AHO trước giờ vốn được cho rằng chẳng liên quan gì đến cơ chế kiểm soát phiến lá cả, nhưng thực tế đã chứng minh nó có thể khiến cho phiến lá to hơn so với kích thước quy định cơ mà?
Tất nhiên là rủi ro ở đây cũng rất lớn. Nếu cứ tiếp tục tiến hành thí nghiệm này thì có lẽ cô sẽ chẳng được kết quả nào. Khả năng cao là bài luận văn của cô chỉ có thể đi đến kết luận cuối cùng rằng mã gen AHO hoàn toàn không có liên hệ gì với cơ chế kiểm soát phiến lá mà thôi.
Một mặt, tiếp tục thí nghiệm để rồi kết thúc trong thất bại; mặt khác, làm lại với mã gen AHHO thì cũng có nguy cơ cô sẽ phải bỏ dở thí nghiệm giữa chừng vì quá hạn.
Quả là tiến thoái lưỡng nan. Motomura đã lâm vào tình trạng bốn bề thọ địch.
Không biết có phải vì áp lực hay không mà khi trở về căn hộ của mình để ngủ thì giấc ngủ của Motomura cũng nông hơn, thi thoảng cô còn bị giật mình thức giấc nữa. Cô ho khan, miệng thở dốc còn mắt thì đỏ hoe ngân ngấn nước. Motomura phiền muộn vì không biết bản thân nên làm sao bây giờ.
Thật ra vẫn còn một nguyên nhân quan trọng khiến cho Motomura không thể dứt khoát làm lại thí nghiệm.
Motomura đã lấy tới 1.200 hạt giống Arabidopsis thaliana mới có thể phối nhiều thể biến dị với nhau. Đây tất thảy đều là sinh mệnh. Chỉ vì một sai lầm hết sức ngớ ngẩn của mình mà phải tiêu hủy hết thảy các cây Arabidopsis thaliana đã sinh trưởng trong chamber từ trước đến giờ hay sao? Chúng là những hạt giống mà mình đã chờ mong từ lúc gieo xuống cơ mà?
Dù biết rằng nguy cơ thất bại rất cao, nhưng Motomura vẫn muốn trồng chúng đến bước cuối cùng và sử dụng chúng trong thí nghiệm quan trọng này. Chính vì bản thân đã dành mỗi ngày để dõi theo và chăm sóc chúng với tất cả sự quan tâm, cho nên Motomura cảm thấy mình nên có trách nhiệm và tình thương đối với 1.200 hạt giống là ứng cử viên cho thể biến dị lần bốn. Cô không tài nào tiêu hủy, hay nói cách khác là giết chết toàn bộ đám cây hòng làm lại thí nghiệm. Luân lý không cho phép cô hành động như thế. Có thể người khác sẽ cho rằng cô quá ngây thơ, nhưng đối với người yêu thương loài cây Arabidopsis thaliana như Motomura mà nói, cô không thể chỉ đơn giản xem chúng như “tài liệu thí nghiệm” được.
Nếu lỡ xảy ra sự việc thế này thì việc đầu tiên cô nên làm là báo cáo với giáo sư hướng dẫn, tức thầy Matsuda, để thảo luận về vấn đề. Motomura đã nhiều phen muốn thú tội với Matsuda rằng mình trót lấy nhầm mã gen dùng trong thí nghiệm mất rồi.
Nhưng, Matsuda sẽ nghĩ sao về thất bại của Motomura đây? Việc thầy nổi giận trước lỗi sai sơ đẳng như thế là lẽ đương nhiên, nhưng Motomura rất sợ thầy sẽ thất vọng và nghĩ rằng cô nên từ bỏ ước mơ trở thành nhà nghiên cứu vì không đủ tư cách. Mặc dù cô hiểu rất rõ, Matsuda không phải là kiểu giáo viên sẽ bỏ rơi học trò mình. Thầy luôn khiến mọi nghiên cứu trở nên thú vị và tận lực hướng dẫn học trò. Nhưng cô vẫn không tài nào có đủ can đảm để thú nhận với thầy.
Đối với Motomura mà nói, phòng nghiên cứu là nơi khiến cô thấy mình cũng có chốn thuộc về. Nghiên cứu cây Arabidopsis thaliana là tất cả của cô. Mặc dù đã toàn tâm toàn ý dành trọn tâm sức cho việc nghiên cứu, thế mà cô lại phạm phải một sai lầm ngây ngô. Điều này đã đè bẹp chút lòng tự tin ít ỏi của cô. Lỡ như Matsuda khuyên cô nên từ bỏ sự nghiệp nghiên cứu thì phải làm sao bây giờ? Cứ hễ nghĩ đến chuyện đó là người Motomura như co rúm lại, đến mức cô không dám nhìn thẳng vào mắt thầy Matsuda nữa rồi.
Thấy Matsuda đi ra từ sau tấm bình phong, Motomura vờ nhặt cục tẩy dưới gầm bàn để cúi người xuống.
“Motomura này, việc tổ chức hội nghị hợp tác mùa hè thế nào rồi?”
Nghe tiếng thầy gọi mình, cô cứng đờ người mà tiến lại gần thầy. Motomura sợ sệt cúi gằm mặt nghe thầy hỏi chuyện, hệt như tên tội phạm đang chờ tuyên án tử hình.
Sau vài lần lặp đi lặp lại, ngay cả Matsuda cũng thấy quái lạ.
“Em sao thế?”
Giọng hỏi thăm của thầy pha chút thắc mắc, khiến cho Motomura run như cầy sấy mà lắc đầu nguầy nguậy.
Cứ như vậy, suốt cả tuần Motomura vẫn chưa quyết định được liệu mình có nên làm lại thí nghiệm hay không.
Trong lúc ấy, Motomura vẫn tiếp tục tác nghiệp theo dõi các cây Arabidopsis thaliana bên trong chamber. Cái cây có lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ vốn là ứng cử viên sáng giá cho vị trí thể biến dị lần bốn dường như chẳng hề biết đến tâm trạng nặng nề của Motomura mà vẫn cứ trổ lá thật như thường. Ở giai đoạn này, cô vẫn chưa thể xác định rõ ràng các phiến lá của nó có kích thước to hơn những cây khác hay không nếu chỉ nhìn bằng mắt thường.
Hồi chúng vẫn còn là lá non thì nhìn một cái cô đã phát hiện ngay có điểm gì khang khác, ấy vậy mà... Mà điểm khác biệt mình nhìn ra lúc bấy giờ có khi cũng là ảo giác sinh ra bởi lòng chờ mong của bản thân cũng nên. Quả nhiên, chính vì lấy nhầm mã gen D, tức gen AHO, nên cơ chế kiểm soát phiến lá mới không có gì thay đổi?
Motomura thở dài thườn thượt rồi tiếp tục dõi mắt quan sát cái cây mới nhú lá thật kia. Đây vốn dĩ là hạt giống lấp lánh tượng trưng cho kỳ vọng trước đây của cô. Có lẽ bây giờ nó đã trở thành một hạt giống vô nghĩa mất rồi.
Thế nhưng trong mắt Motomura, nó vẫn hết sức đặc biệt. Tuy rằng tạm thời lá của nó không khác so với những cây còn lại, nhưng bất chấp mọi sự phủ định, trực giác của Motomura mách bảo cô rằng, mầm cây này đang mang thứ gì đó rất đặc biệt.
Song, đó có thể chỉ là cách nhìn cầu may, xuất phát từ mong muốn được tiếp tục thí nghiệm, nên cô mới thấy “khác thường” cũng nên.
Bản thân Motomura đã không còn tin vào con mắt quan sát của mình được nữa, cô cũng không còn hơi sức đâu để phân định con đường nào là tốt nhất cho mình. Điều này khiến cho cô ngày càng bệ rạc. Thế nhưng thói quen quả là đáng sợ. Tay cô vẫn tự động di chuyển theo ý nó, vừa chụp ảnh các giống Arabidopsis thaliana, vừa ghi chép lại nghiên cứu, vừa tưới nước cho cây theo đúng với kế hoạch hằng ngày.
Cô không thể cứ bỏ mặc những cây Arabidopsis thaliana đang lớn lên trước mắt mình như thế được. Chỉ bằng suy nghĩ ấy đã đủ để khiến Motomura hành động như mọi khi rồi. Mặc dù đây là những cây Arabidopsis thaliana mà cô bắt buộc phải tiêu hủy nếu hạ quyết tâm làm lại thí nghiệm. Cứ nghĩ đến đó là Motomura lại không khỏi cảm thấy mấy bé Arabidopsis thaliana vẫn còn lấm tấm mầm non chưa kịp mọc hẳn lá này sao mà đáng thương. Cô càng thêm ân hận về sai lầm ngu ngốc của mình, thậm chí còn chảy nước mắt, bất chấp bây giờ không phải lúc để khóc lóc.
Dĩ nhiên là giống Arabidopsis thaliana chỉ xem tình cảm và nỗi mâu thuẫn trong lòng Motomura như gió thoảng mây bay. Tuy rằng không biết khi nào bị ngắt đi, nhưng chúng vẫn cứ ung dung quang hợp và phân chia tế bào dưới ánh nắng nhân tạo.
Nghĩ tới đây, Motomura cảm thấy an ủi đôi chút, nhưng trong lòng vẫn còn khó chịu nên cô lại đánh một tiếng thở dài.
“Quả nhiên là cô đang ở đây.”
Kawai nói rồi bước vào bên trong phòng giải phẫu. Motomura vội vã dụi mắt rồi quay sang phía cửa dạ vâng một tiếng.
Kawai đến đứng trước chamber của mình, đoạn, anh lấy mấy chậu trồng rêu và dương xỉ ra ngoài.
“Bởi vì tháng sau là khởi hành đi Borneo rồi, nên tôi quyết định sẽ dọn sạch chamber của mình. Từ đây cho đến lúc tôi trở về có tới một tháng rưỡi lận, trong lúc đó Motomura có muốn sử dụng chamber trống này không? Trồng Arabidopsis thaliana trong đây cũng được lắm đấy.”
“Nhưng mà...”
Nhìn vào những chậu rêu, dương xỉ mà Kawai vừa lấy ra khỏi chamber và đang để trên bàn họp, Motomura có chút lưỡng lự.
“Không sao đâu.”
Kawai mở lời khuyên nhủ cô. “Mấy chậu rêu và dương xỉ này tôi trồng chẳng qua vì sở thích thôi. Cậu Kato sẽ trông bọn chúng giúp tôi, tảo thì để ở chamber của cậu ấy, còn dương xỉ thì gửi ở nhà kính. Mấy loại tảo dùng trong thí nghiệm thì vẫn để nguyên ở tầng dưới trong chamber của tôi, nhưng tôi cũng đã nhờ Kato chăm giúp cả bọn chúng luôn rồi, chắc là sẽ không ảnh hưởng gì đến các cây Arabidopsis thaliana của Motomura đâu.”
“Vâng ạ, em cảm ơn anh.”
“Ừ. Vậy cô hãy mau chóng gieo hạt Arabidopsis thaliana vào chỗ trống trong chamber của tôi đi. Tôi sẽ giúp một tay cho.”
Kawai chắc là lo cho thí nghiệm bị chậm trễ của Motomura nhiều lắm. Anh lấy khay ra rồi xếp bông khoáng mới vào.
Sao mà chuyện mình lỡ lấy nhầm mã gen khiến cho cả thí nghiệm phải bắt đầu lại từ đầu lại khó nói ra đến vậy? Motomura đến chỗ tủ lạnh trong phòng giải phẫu để lấy hạt giống ra. Đây là những hạt giống không thể gieo được nữa trong số 1.200 hạt đã được phối giống và loại ra.
Nhờ có sự giúp đỡ của Kawai mà cô đã gieo được tới hai khay bông khoáng.
Kawai thi thoảng lại hỏi chuyện cô bằng mấy câu như, “Cái cây nom như biến dị lần bốn vẫn sinh trưởng tốt đẹp chứ?” với cả “Cô đã chuẩn bị đoạn mồi chưa?”, thế nhưng Motomura chỉ có thể trả lời cụt lủn “Vẫn được ạ” và “Chưa anh ạ”. Sau đó là một khoảng không thinh lặng. Hai người chỉ tập trung dính hạt giống vào tăm ướt và gieo chúng lên bông khoáng thôi.
Dù có cẩn thận cách mấy đi nữa thì thí nghiệm này vẫn sẽ hoài công. Cứ nghĩ đến chuyện mình đang lãng phí thành ý và cả thời gian của Kawai là Motomura lại trở nên buồn rầu. Song, cô vẫn không có can đảm thú nhận sự thật và nhờ anh giúp đỡ. Motomura ghét bản thân mình vô cùng vì sự ích kỷ và hèn nhát này.
Nhận thấy Kawai đang nhìn mình với ánh mắt lo ngại, Motomura mím chặt môi rồi vờ như bản thân đang chú tâm vào việc gieo hạt.
Nhưng cây kim trong bọc cũng đến ngày phải lòi ra. Mọi người trong phòng nghiên cứu gặp nhau một tuần đã hết năm, sáu ngày rồi. Có ngày còn dành thời gian ở bên nhau suốt nữa. Ai cũng có thể lập tức nhận ra tình trạng ủ dột của Motomura.
Hôm gieo hạt với Kawai là thứ Sáu. Đêm hôm đó, lúc Motomura tính trở về nhà thì lại bị phục kích ngay khi vừa ra khỏi phòng nghiên cứu. Đứng ngoài hành lang trước cửa phòng là Kawai, Iwama cùng Kato, tất cả đều sẵn sàng ra về giống như cô.
“Đi uống với mọi người chút đã nào.”
Mọi người nắm lấy tay cô như chẳng có chuyện gì xảy ra.
Matsuda đã về từ trước rồi. Thầy vốn là người đặt nghiên cứu lên hàng đầu lại sống rất có quy luật: Buổi sáng tầm bảy rưỡi sẽ đến sở làm, chiều tối muộn nhất là tám giờ đã không thấy tăm hơi đâu. Xung quanh thầy ta vẫn đầy rẫy những bí ẩn, chẳng ai biết nhà thầy ở đâu cũng như đời sống cá nhân của thầy ra sao cả. Mọi người chỉ biết rằng tủ quần áo thầy nhìn như màu ngựa vằn thôi.
Sau khi Matsuda ra về, mọi người sẽ nhân lúc “Con ma khoa học vắng nhà rồi” mà hò nhau đi chè chén. Cả nhóm sẽ mua bia và món mặn ở mấy cửa hàng gần Đại học T rồi mở tiệc nhậu ngay phòng nghiên cứu đến tận khi chuyến tàu cuối cùng sắp rời bến mới chịu tan. Nhiều phen mọi người chỉ mặc sức buôn chuyện, cười giỡn và trêu đùa những thứ rất ngớ ngẩn với nhau, nhưng cuối cùng thì buổi tiệc vẫn vòng lại với chủ đề hết sức nghiêm túc về việc nghiên cứu. Chẳng hiểu sao, cứ như ai cũng bị “con ma khoa học” nhập vào vậy.
Chỉ có điều, tối hôm đó lại khác hẳn mọi hôm. Hội Kawai cưỡng ép lôi kéo Motomura đến Viên Phục Đình.
Hình như đến cả Kato, người trong mắt chỉ có mỗi xương rồng, mà còn nhận ra Motomura dạo này có vẻ khác thường. Nếu mở tiệc ở phòng nghiên cứu thì không biết có giúp tâm trạng của Motomura khá hơn không, nên Iwama, Kawai cùng Kato đã bàn nhau và quyết định mọi người sẽ đi uống ở ngoài trường T, tại ngay Viên Phục Đình.
Mặc dù bản thân Motomura không có tâm trạng để nhậu nhẹt gì, nhưng cô cũng cảm nhận được sự lo lắng của hội Kawai. Thêm vào đó, lúc đến Viên Phục Đình và trông thấy gương mặt tươi cười của Fujimaru chào đón mình, Motomura lại không thể nói lời từ chối, thế là cô cứ để mặc mọi người lôi kéo ngồi vào chỗ.
Đồng hồ sắp điểm chín giờ, các thực khách trong tiệm hoặc là đang dùng tráng miệng, hoặc là đang chuẩn bị tính tiền đi về. Cả ông chủ Tsuburaya của Viên Phục Đình dường như cũng được ngơi tay khỏi việc bếp núc mà đến đứng ở quầy tính tiền chờ thanh toán hóa đơn hoặc lui tới tán dóc với mấy vị khách quen.
Fujimaru, sau khi đã dọn hết chén bát muỗng nĩa khỏi một bàn trống thì lập tức quay sang chuyện trò với nhóm Motomura đang xem thực đơn.
“Mọi người gọi món chưa ạ?”
Iwama với tư cách là đại diện nhóm chỉ ậm ừ gật đầu.
“Ừm... Xin lỗi cậu vì đã đến vào lúc trễ thế này. Giờ đóng cửa là tầm mười giờ nhỉ?”
Bây giờ mà gọi đồ chiên thì vô duyên lắm, có món nào không cần mất công bày bừa không nhỉ? Cả hội không tài nào quyết định món được.
Fujimaru hình như đã nhận ra vấn đề rồi.
“Mọi người đừng bận tâm đến chuyện đó.”
Anh nói.
“Mọi người muốn ăn gì thì xin cứ việc gọi.”
Tsuburaya đứng ở quầy tính tiền cũng nói với vào. “Hôm nay tôi phải về sớm một chút, nên nếu mọi người có gọi thêm món thì chắc là vị sẽ không được ngon lắm đâu. Nên là tôi sẽ giảm giá cho mọi người, phần đó sẽ được trừ vào tiền lương của Fujimaru nên đừng ngại chi cả.”
“Khoan đã ông chủ à... Sao bác lại quá đáng với cháu như vậy?”
Fujimaru lên tiếng phản đối Tsuburaya rồi lại quay sang nhìn nhóm Motomura.
“Ông chủ cuối tuần này sẽ đi Ito chơi với bạn gái nên có chút háo hức muốn về sớm ấy mà.”
“Ông chủ tiệm đang hẹn hò á?!”
Kato dường như đã chịu đả kích lớn. Có vẻ cậu chàng đã luôn đơn phương nghĩ rằng mình và Tsuburaya là hai người bạn tốt cùng chí hướng với nhau, vì bản thân cậu chỉ chuyên tâm với con đường nghiên cứu xương rồng, còn Tsuburaya cũng là chuyên gia ở mảng ẩm thực.
“Dĩ nhiên.”
Vốn dĩ Fujimaru luôn hướng đến chuyện yêu đương nên anh chỉ bâng quơ gật đầu với thái độ hết sức hiển nhiên. “Dạo này sư phụ cũng đã giao hết toàn bộ chuyện bếp núc cho tôi rồi đó. Ngày mai bác ấy sẽ đi vắng, nên tôi sẽ tiếp quản cửa tiệm này nguyên một ngày. Tôi cũng phụ trách đứng bếp vào tối hôm nay sau khi sư phụ ra về nữa. Nếu là mọi người thì có thể ở đến mấy giờ cũng được, thích ăn gì thì đừng ngại, cứ nói cho tôi biết nhé.”
Được lời nói của Fujimaru khuyến khích, Kawai và Iwama đều gọi một phần thịt hamburger sốt đặc, Kato thì chọn phần cơm thịt heo tẩm bột chiên xù. Motomura chẳng có hứng ăn uống gì, nhưng thấy Fujimaru đang cười tủm ta tủm tỉm cầm quyển sổ gọi món chờ ngay bên cạnh mình thì cô đành phải kêu một đĩa mì Ý sốt cà chua. Kato chẳng ngại ngần mà gọi thêm cho mỗi người một cốc bia.
Sau khi nhận món, Tsuburaya hào hứng đi vào trong bếp để làm nốt việc cuối cùng trước khi về nhà. Fujimaru thì phụ trách bưng bia lên. Xong xuôi hết thì anh lại quay sang tính tiền cho các khách khác, rửa chén bát, đem những tấm khăn trải bàn đã được giặt xong ra trải lại. Nom anh có vẻ tất bật với công tác chuẩn bị cho việc đóng cửa sắp tới và kinh doanh của tiệm vào ngày mai.
“Cạn ly!”
Các thành viên của phòng nghiên cứu Matsuda kêu lên. Mặc dù không ai biết rằng đang cụng ly vì điều gì, nhưng mọi người vẫn đưa cốc chạm nhẹ với nhau. Dạo này Motomura không thể ăn uống nổi thứ gì ngoại trừ một lượng thức ăn cần thiết, vậy nên cô có cảm giác bao tử mình như đang sôi lên ùng ục vì ngụm bia vậy. Chắc là cơ thể bị giật mình khi đột nhiên có cồn vào. Rốt cục là cô chỉ uống đúng một ngụm, sau đó thì đành để cốc bia lên bàn.
Trông thấy Motomura như vậy, hội Kawai hỏi han với giọng cẩn thận. Motomura cúi gằm mặt khổ sở. Thế là một bầu không khí im ắng đến sượng sùng chợt bao trùm lên cả bàn.
“Cảm ơn vì bữa ăn ngon nhé”, lại có thêm khách ra về. “Cảm ơn quý khách rất nhiều ạ!”, Fujimaru kêu lên với giọng khỏe khoắn khi tiễn họ ra cửa. Tsuburaya cũng cất tiếng cảm ơn khách hàng từ trong bếp, nghe cứ như tiếng vọng từ Fujimaru vậy.
Thế là trong tiệm chỉ còn lại mỗi hội Motomura là khách.
“Này...”
Iwama ngồi bên cạnh Motomura mạo hiểm cất lời. “Em... không khỏe hả?”
Ngay lập tức, Iwama giẫm nhẹ lên chân của Kawai phía đối diện. Có cảm giác như hai người họ đang khiêu vũ một điệu chân gõ đầy phức tạp dưới gầm bàn.
Đúng lúc cả hai đều nghĩ rằng trận chiến này sẽ bất phân thắng bại thì...
“Giống cây vừa có lá non to hơn bình thường và gốc thân mọc nhiều lông tơ dạo này thế nào rồi ạ?”
Kato hỏi, nhưng cả Kawai lẫn Iwama đều cảm thấy cậu chàng quá thẳng thừng rồi. Kato kêu lên oai oái khi bị Kawai ngồi bên cạnh cụng cùi chỏ và Iwama ngồi ở phía chéo đối diện đá vào chân.
Mình lại hành động hết sức ấu trĩ đến nỗi khiến mọi người phải lo lắng nữa rồi. Motomura răn dạy bản thân. Vì chỉ mải lo nghĩ đến chuyện phiền não của bản thân nên cô không còn thừa tinh lực nghĩ cho những người xung quanh mình.
Nếu chưa dám bàn bạc hay thú nhận về thất bại và những lo âu của bản thân thì phải cư xử như bình thường. Nếu đã cố mà vẫn không thể cư xử như bình thường thì phải lấy hết can đảm bộc bạch và hỏi xin ý kiến người khác về vấn đề mình lo nghĩ.
Motomura khích lệ bản thân, dáng vẻ ỉu xìu và nín thinh với mọi người xung quanh khiến ai cũng phải sốt ruột thật là hành vi không trưởng thành chút nào.
Mà nói đâu xa, ngay cả em bé lúc tủi thân hay khó chịu đều biết bày tỏ bằng cách khóc lên thật to, như muốn kêu lên rằng, “Có ai cứu con với!” Nếu có người đến thay tã hoặc cho bé bú sữa thì bé sẽ lại cười thật tươi chứ không còn khóc nhè nữa, “A, sảng khoái quá. Con cảm ơn ạ!” Thấy em bé cười tươi như vậy, những người giúp bé xóa bỏ nỗi khó chịu cũng không khỏi mỉm cười, thầm cảm thấy may thay.
Chuyện kêu gọi giúp đỡ tuyệt đối không phải là hành động đáng xấu hổ gì, cũng không phải là biểu hiện của một kẻ vô dụng. Nó chẳng qua chỉ là phương pháp giao tiếp cơ bản thôi. Ngược lại, nếu cứ tự ti nghĩ rằng đối phương sẽ nghĩ thế nào nếu mình nói ra sự thật hoặc phô bày mặt yếu đuối, điều đó sẽ khiến ta chỉ muốn trốn tránh sự quan tâm từ người khác và sống thu mình lại, hoàn toàn mất hết dũng khí và trở nên thờ ơ trước tấm lòng của mọi người xung quanh.
Dĩ nhiên là cũng có trường hợp khi quá đau khổ và tuyệt vọng, con người ta vừa không thể nói nên lời vừa không thể cử động được gì. Nhưng trường hợp của mình thì lại khác, Motomura thầm nghĩ. Từ lúc phát hiện việc lấy nhầm mã gen làm thí nghiệm thì mình đã lâm vào khổ sở và phiền não rồi. Nhưng nếu phải bóc trần nỗi khổ ấy ra thêm một lần nữa, thì tâm lý “muốn bảo vệ bản thân” vẫn chiếm phần nhiều.
Mình không muốn giáo sư Matsuda và mọi người nghĩ rằng mình là đứa không đủ tư cách trở thành nhà nghiên cứu, cũng không muốn thẳng thắn đối diện với sự thật rằng thí nghiệm của mình chắc đã không còn đủ thời gian. Mình vẫn luôn khổ sở vì không biết làm sao cho phải. Buồn lòng thì cũng có đấy, nhưng trên hết vẫn là tại lòng tự tôn không cho phép mình thừa nhận thất bại của bản thân.
Lòng tự tôn ngu ngốc, Motomura tự trào phúng. Tâm tình của cô tươi tỉnh hơn một chút, cô đã có thể nghĩ được rằng, “Mình quả nhiên vẫn nên lấy hết can đảm hỏi xin lời khuyên từ anh Kawai và mọi người.”
Việc tiếp tục tiến hành thí nghiệm với mã gen di truyền bị nhầm lẫn có khi cũng không đáng lo ngại đến thế. Mình nên nhanh chóng mượn kiến thức từ mọi người xung quanh để tìm ra giải pháp tốt nhất mới được. Cứ ngậm miệng lại tự dằn vặt một mình thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề, chỉ tổ im lặng dằn vặt bản thân thêm vạn năm nữa thôi. Nhưng chuyện ấy làm gì có thực ngoài đời. Nếu có thừa sức lực để mà khổ sở suốt cả vạn năm như vậy thì sẽ nhanh hơn nếu thu hết can đảm để thành thật bộc bạch sự yếu đuối của mình và rồi hỏi xin sự giúp đỡ của những người khác.
Motomura đã hạ quyết tâm. Cô ngẩng mặt lên.
“Thật ra thì...”
Đúng lúc cô đang nói dở thì bỗng:
“Đã để quý khách phải đợi lâu rồi!”
Fujimaru chợt ập tới. Trên lòng bàn tay và cổ tay anh đang để hai chiếc chảo sắt có món thịt hamburger sốt đặc nóng hôi hổi kèm phần cơm.
Không đúng lúc chút nào... Tất cả mọi người ngoại trừ Fujimaru đều nghĩ thế.
Kawai, Iwama và Kato trong cơn tuyệt vọng đã gọi thêm một vại bia cỡ đại. Mọi người đều đi đến kết luận rằng, nếu bây giờ mà không uống gì vào thì sẽ không thể chịu nổi cái sự phập phồng lên xuống của bầu không khí căng thẳng này mất. Fujimaru lập tức bưng lên vại bia cỡ đại kia.
Nhoáng thấy Fujimaru đã mất dạng sau bếp, Kawai mới cầm vại bia lên để lần lượt rót thêm bia vào cốc của Iwama, Kato và mình. Cảm thấy cái bụng không còn cồn cào nữa, Motomura cũng uống thêm một hớp bia đã nguội từ cốc của mình.
“Chuyện là...”
Sau khi đã nhuận cổ họng rồi, cô cố gắng cất lời thêm lần nữa. Nhưng ông thần Fujimaru lại ập tới.
“Đã để quý khách phải đợi lâu!”
Hai tay anh cầm tô cơm thịt heo chiên xù và đĩa mì Ý.
Tất cả thành viên trong phòng nghiên cứu Matsuda đến lúc này đã phải giơ tay chào thua và bắt đầu trầm ngâm ăn phần cơm của mình. Chỉ có mỗi đĩa mì của Motomura là mãi chẳng vơi đi mấy. Món mì Ý sốt cà chua ngon lành luôn khiến cô cảm thấy đây là đặc ân mà ông trời ban xuống giờ lại có vị nhạt nhẽo chả khác gì mấy món mì ống tầm thường. Vì cứ liên tục bị ngắt lời giữa lúc đang muốn thú nhận nên Motomura lại bắt đầu trở nên rối rắm, “Thôi vậy, có nói ra thì hội anh Kawai cũng đâu thể giúp gì cho mình, dễ chừng còn làm phiền mọi người hơn ấy chứ.” Nỗi bồn chồn đã khiến chồi vị giác của cô trở nên tê dại mất rồi.
Tsuburaya cởi chiếc áo cấp dưỡng màu trắng mặc khi nấu ăn ra rồi rời khỏi bếp.
“Tôi xin phép về trước đây. Có chuyện gì thì mọi người cứ gọi Fujimaru nhé.”
Tsuburaya ân cần dặn dò. “Thôi, mọi người cứ tự nhiên đi.”
Mọi người đều đồng loạt líu ríu tạm biệt Tsuburaya rồi nhìn ông bước nhẹ tênh ra ngoài đường. Đây là lần đầu tiên mình được thấy ông chủ quán mặc đồ thường thì phải, Motomura thơ thẩn nghĩ. Dáng dấp quần jeans với áo len màu đỏ sậm, bên ngoài khoác thêm chiếc áo phao màu kaki sao mà mang hơi hướm thời Showa[32] thế, lại còn hợp với Tsuburaya nữa chứ.
Chắc là bây giờ bác ta sẽ đến gặp bạn gái đây, Motomura trộm nghĩ.
“Tình yêu à...”, cô dõi mắt nhìn xa xăm. Mình đã luôn nghĩ rằng bản thân chẳng có hứng thú gì với chuyện yêu đương và chỉ mong được nghiên cứu cả đời, nhưng nếu thí nghiệm cứ thất bại thế này thì mình chẳng còn gì hết...
Tuy khá là đáng sợ, nhưng Motomura khó lòng phủi sạch suy nghĩ rằng, chuyện yêu đương có ra sao cũng được. Rất có thể trong lúc làm bạn với giống Arabidopsis thaliana, cô đã dần đồng hóa bản thân thành thực vật và khái niệm về cảm xúc cũng theo đó mà hao mòn dần cũng nên.
Từ bỏ ý muốn tiếp tục ăn món mì Ý, Motomura gác lại chiếc nĩa lên đĩa ăn.
Ừm, cũng không hẳn là thế. Thật ra mình vẫn còn cảm xúc. Chỉ có điều, đối tượng khiến mình toàn tâm toàn ý không phải con người, mà là “Nghiên cứu thực vật”. Dù nó có kết thúc trong bẽ bàng đi nữa thì những tình cảm và ký ức khi ta dốc hết trái tim cho một thứ gì đó sẽ không bao giờ tan biến. Chính vì đã dồn toàn bộ nhiệt huyết và tình yêu vào sự nghiệp nghiên cứu thực vật, nên khi nó gặp phải nguy cơ chết non mình mới khổ sở và chua xót đến vậy.
Kawai, Iwama và Kato cũng vừa lúc ăn xong phần thịt hamburger sốt đặc và phần cơm thịt heo chiên xù của mình. Xem bộ dạng chán ăn của Motomura, cả hội chỉ biết vừa uống bia vừa nhìn nhau.
“Thí nghiệm của em đang bị trục trặc chỗ nào à?”
Iwama rốt cục cũng gom đủ can đảm để đặt câu hỏi. À không, thay vì nói là câu hỏi thì nên bảo đó là câu khẳng định sẽ đúng hơn. Lời nói chứa đầy sự quan tâm và săn sóc của chị khiến Motomura thấy như bản thân vừa được cứu rỗi. Cô gật đầu.
“Em... nên làm gì bây giờ đây...?”
Cuối cùng thì Motomura cũng có thể nói ra câu này. “Em không biết nữa...”
Tín hiệu cầu cứu SOS đến từ giọng nói khàn đặc của Motomura khiến Kawai, Iwama và Kato phải nhoài người lên như thể cả ba đang muốn nói rằng, “Tấm à, làm sao con khóc, hãy kể mọi chuyện cho Bụt nghe nào.”
Đúng lúc đó thì Fujimaru đã quay lại sau khi cất xong tấm biển hiệu của tiệm.
“Mọi người muốn ăn tráng miệng chưa? Hôm nay có bánh phô mai đông lạnh do chính tay tôi làm đó. Vừa hay chỉ còn lại bốn miếng thôi.”
Nói đến đó, Fujimaru mới nhận ra Motomura không hề động vào đĩa mì Ý của cô. “Motomura sao thế này? Món này là do ông chủ làm chứ không phải tôi đâu, vị chắc chắn rất ngon cơ mà. Cô đang bị đau bụng hả?”
Thấy Fujimaru ân cần với Motomura, Kawai đành nghiêm mặt báo cho anh hay.
“Nhờ cậu cho chúng tôi bốn miếng bánh phô mai nhé. Tiện thể, nếu Fujimaru đã đóng cửa tiệm xong rồi thì cũng ngồi xuống với chúng tôi đi. Từ nãy đến giờ chẳng hiểu sao cậu cứ xuất hiện không đúng lúc hoài.”
***
Chẳng biết Fujimaru đang làm gì trong bếp mà đồ đạc cứ kêu loảng xoảng. Mãi sau anh mới bưng lên hai lượt, lượt đầu là bốn miếng bánh phô mai, còn lượt sau là năm tách cà phê. Cuối cùng anh còn thêm một đĩa cơm thập cẩm tổ chảng nữa. Cà phê hình như là Fujimaru mời, còn đĩa cơm thập cẩm nằm giữa năm tách cà phê kia là bữa tối muộn của Fujimaru.
Fujimaru ngồi vào chiếc bàn bên cạnh mọi người. Song, vì khoảng cách giữa hai bàn vốn khá hẹp nên có thể nói rằng anh đang ngồi sát bên Kato. Đó cũng là vị trí hơi chếch ở phía đối diện Motomura.
Nhìn thấy Fujimaru bắt đầu và từng muỗng cơm thập cẩm vào mồm, Motomura chẳng hiểu sao có chút ghen tị. Bên tay cô vẫn là đĩa mì Ý còn nguyên. Thấy nó nguội lạnh thế này lòng cô xót lắm, chỉ mong Fujimaru có thể chóng dọn nó đi thôi.
Kawai, Iwama và Kato thở phào nhẹ nhõm khi thấy Fujimaru rốt cục cũng dừng muỗng. Anh còn uống cạn cả vại bia nữa. Trước mặt ba người kia chỉ còn lại mỗi bánh kem và cà phê.
Kawai vừa ăn bánh vừa mở lời.
“Chà... Rốt cục thì bây giờ Motomura cũng có thể nói cho mọi người nghe bản thân đang buồn phiền chuyện gì rồi nhỉ?”
Motomura kể ra. Rằng mình đã lấy nhầm mã gen di truyền dùng trong thí nghiệm. Rằng hiện giờ cô đang rất rối rắm, không biết nên làm lại từ đầu, hay cứ thế mà tiếp tục.
Lúc cô bắt đầu nói thì câu chữ cứ tuôn ra không ngừng, như thể bóng ma phiền não đã tan đi. Motomura đã có thể không còn ngại ngần chi nữa mà thẳng thắn kể hết tình trạng bế tắc hiện tại của bản thân. Chắc cũng nhờ não cô đã sắp xếp lại câu chuyện không biết bao lần để tìm cách tháo gỡ rắc rối.
“Nếu đã là như vậy...”
Hội Kawai nhìn nhau, lặng thinh như thể không biết nên trả lời sao cho phải.
“Thế có nghĩa là, chị đã nhầm lẫn ngay từ bước sơ bộ vốn hết sức quan trọng với cả quá trình nhỉ?”
Kato tỏ vẻ cảm thông.
“Đúng là mã viết tắt của từng gen di truyền rất dễ nhầm. Đây là lỗi sai mà ai cũng có thể phạm phải thôi.”
Iwama thì khoanh tay lại nói.
Bầu không khí trầm ngâm lại phủ trùm lên khắp bàn. Thế nhưng ở đây vẫn còn một người dường như chưa kịp hiểu ra tính nghiêm trọng của vấn đề. Không cần nói cũng biết đó đích thị là Fujimaru.
Sau khi dùng tốc độ tên lửa chén sạch đĩa cơm thập cẩm, Fujimaru vừa lắng nghe lời trần thuật của Motomura, vừa dùng muỗng vê vê mấy ký tự AHO với AHHO trong không khí. Đoạn, anh bật cười một tiếng, chẳng biết có phải lúc này thì câu chuyện mới thẩm thấu kịp vào đầu anh hay không nữa.
“Thế có nghĩa là... đáng lẽ phải nghiên cứu về A Hổ thì cô lại lỡ nghiên cứu sang A Hố hả? Kể ra cũng sốc thật đấy.”
Motomura nghĩ thầm, “Đó chỉ là ký tự viết tắt của mã gen thôi, không phải đọc là A Hố gì đâu!”, nhưng chính Motomura cũng sực nhận ra, tên viết tắt của mã gen có thể đọc thành A Hổ A Hố, cho nên cô có chút xấu hổ và khổ sở mà gục đầu xuống.
Thấy Motomura lại ỉu xìu, hội Kawai lườm Fujimaru đến rát mặt, tới nỗi anh phải vội vàng xin lỗi mọi người, “Từ giờ tôi hứa sẽ giữ im lặng.”
“Mặc dù đã lấy nhầm mã gen, nhưng mà...”
Kawai nói với giọng trầm ngâm. “Nếu có thể chứng minh rằng AHO cũng ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát phiến lá thì đó nhất định sẽ trở thành phát hiện gây sốc. Có điều, đến bây giờ vẫn chưa có ai tiến hành nghiên cứu về mã gen ấy, cho nên ở giai đoạn hiện thời ta vẫn không có bất kỳ gợi ý gì về động thái tiếp theo. Dù Motomura tiếp tục tiến hành thí nghiệm đi nữa thì khả năng cao là cô sẽ phải ra về tay trắng...”
“Đúng là như vậy ạ.”
Motomura gật đầu. “Nếu là mọi người thì sẽ làm thế nào?”
“Khó nhằn đấy.”
Kawai thở dài. “Nếu không cần phải làm luận văn tiến sĩ thì tôi sẽ tiếp tục đeo đuổi thí nghiệm này. Nhưng nếu như hạn chót nộp luận văn tiến sĩ là ưu tiên hàng đầu của Motomura thì tôi nghĩ cô nên làm lại thí nghiệm thì hơn.”
“Dù có làm lại thì cũng đâu chắc thí nghiệm sẽ thành công.”
Iwama phản bác.
“Đúng là không có gì chắc chắn một trăm phần trăm ạ.”
Chẳng biết có phải lây nhiễm nỗi khổ não của Motomura hay không mà bản thân Kawai cũng day dứt như chính mình là người đã lấy nhầm mã gen vậy.
“Thay vì tiếp tục sử dụng thể biến dị từ mã AHO vốn có kiểu gen cực kỳ không rõ ràng, thiết nghĩ rằng Motomura nên làm lại thí nghiệm với mã gen AHHO đã được chứng minh là có ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát phiến lá để tạo ra thể biến dị lần bốn chân chính thì hơn. Như thế thì tỷ lệ thành công của thí nghiệm sẽ cao hơn, cô cũng có thể chứng minh rằng AHHO đích xác là mã gen có liên quan đến việc quy định kích thước phiến lá. Đó cũng là một phát hiện rồi.”
“Nếu muốn làm lại thí nghiệm thì bây giờ chính là cơ hội cuối cùng.”
Iwama xem chừng cũng đồng tình. Cô quay mặt về phía Motomura rồi hỏi:
“Em đã báo cáo với giáo sư Matsuda chuyện lấy nhầm mã gen di truyền chưa?”
“Vẫn chưa ạ. Em không cách nào mở lời được...”
Motomura co rúm người lại với khuôn mặt vẫn cúi gằm.
“Hiển nhiên rồi. Đến cả nói với bọn chị em còn đắn đo thế kia mà.”
Iwama thở dài. “Mặc dù chị rất hiểu cảm xúc của em, nhưng không thể cứ giấu mãi chuyện này được, em nên mau chóng bàn bạc với thầy ấy đi.”
“Đúng rồi. Không nói gì với giáo sư Matsuda cả thì dở lắm.”
Kato xen vào. “Nhân tiện, nếu là em thì em sẽ tiếp tục thực hiện thí nghiệm. Bởi vì hiện tại cũng đã xuất hiện giống cây nom như thể biến dị lần bốn rồi, đúng không? Nếu phải vứt nó đi thì tiếc lắm.”
“Ừ nhỉ.”
Kawai cũng nói. “Có cách nào để tận dụng giống cây được tạo ra từ mã AHO không ta... Nếu nó thật sự được xác định là thể biến dị lần bốn thì cô có thể thử phối nó với thể biến dị AHHO. Nếu vậy thì ta sẽ có đời F1 là thể biến dị lần bốn có gen AHO bình thường, nhưng gen AHHO thì lại bị phá vỡ. Phương pháp này hẳn là sẽ thuận lợi hơn cách bắt đầu lại mọi thứ từ con số không, mà lại có cơ hội sử dụng được thể biến dị lần bốn có mã gen AHHO nữa chứ.”
Kato và Kawai nhìn nhau rồi gật đầu, ám chỉ rằng ý kiến của người nào cũng hợp lý. Chẳng hiểu sao mà đến cả Fujimaru cũng tỏ ra gật gù.
“Xem chừng gen A Hố cũng quan trọng quá đó chứ.”
Anh nói. “Tôi đã thấy thắc mắc từ trước rồi. Không biết nếu làm lại thí nghiệm thì Khổng Lông nó sẽ ra sao đây.”
Motomura đầy bụng bất mãn, “Sao anh Fujimaru cứ thích đẻ ra mấy cái biệt danh quái dị vậy”, nhưng vì cô bẩm sinh thích im lặng, lại đang ủ rũ nên cũng chẳng phản bác. Ngược lại, hội Kawai tiếp tục lườm nguýt Fujimaru, khiến cho anh phải vội nói, “Xin lỗi, lần này tôi thật sự sẽ không nói gì nữa”, rồi ngoan ngoãn uống cà phê.
“Khổng Lông, à không, đúng hơn là...”
Kato phải tằng hắng một phát rồi mới lại tham gia vào câu chuyện.
“Cái cây vừa có lá non to hơn và gốc thân mọc nhiều lông tơ ấy mà, bây giờ tình trạng nó thế nào rồi?”
“Từ lúc trổ lá đến giờ vẫn chưa có gì.”
Motomura chùng vai xuống như con bọ gỗ rồi đáp với giọng lí nhí. “Bây giờ thì kích thước lá của nó cũng trông không khác gì mấy cây còn lại.”
“Thế tức là nó không phải thể biến dị lần bốn à?”
“Dù có là thể biến dị lần bốn đi nữa thì rất có thể sẽ không sinh ra biến dị có liên quan đến cơ chế kiểm soát phiến lá như mình chờ mong, vì cô đã sử dụng AHO trong thí nghiệm.”
Kawai làm thinh như đang nghĩ ngợi về điều gì đó trong lúc nhìn Iwama và Kato thảo luận với nhau.
“Quả nhiên là bắt đầu thí nghiệm lại từ con số không vẫn là biện pháp an toàn nhất nhỉ.”
Iwama nói với giọng đầy khích lệ. “Như vậy thì em có thể nộp bài luận tiến sĩ đúng hạn chót. Chị nghĩ là với tài phối giống của Motomura, lần này em nhất định sẽ tạo ra được thể biến dị lần bốn đúng với những gì em muốn.”
Giống cây đang tỏa sáng lấp lánh bên trong chamber kia. Motomura không thể đáp lời ngay lập tức khi nghĩ tới niềm vui sướng của khoảnh khắc trực giác “nó nhất định là thể biến dị lần bốn” ập đến trong cô. Thế nhưng, đúng lúc mà con tim của cô bắt đầu nghiêng hẳn về phía “Bắt đầu lại thí nghiệm từ con số không” thì...
“Nếu là cậu Fujimaru thì sẽ làm gì?”
Kawai bỗng hỏi.
Nhưng Fujimaru có biết gì nhiều về nghiên cứu hay thí nghiệm đâu. Motomura sửng sốt. Tại sao anh Kawai lại bất chợt muốn hỏi ý kiến của Fujimaru thế này? Iwama và Kato hình như cũng đang nghĩ giống Motomura, cả hai đều mở to mắt kinh ngạc nhìn về phía Kawai và Fujimaru.
Chỉ có mỗi Fujimaru là chẳng có vẻ bất ngờ gì cả. Anh trông vui sướng lắm vì rốt cục mình cũng được phép phát biểu. Fujimaru thản nhiên mà đáp.
“Tôi sẽ cứ tiếp tục thôi.”
Tại sao một người ngoại đạo như anh Fujimaru lại có thể khẳng định chắc chắn như vậy chứ? Motomura bây giờ còn ngạc nhiên hơn ban nãy nữa.
“Tại sao lại nói thế?”
Cô hỏi mà không kịp suy nghĩ, thế nên cũng quên luôn chuyện phải tỏ ra lịch sự.
“Tại vì Motomura đã rất sung sướng lúc Khổng Lông nảy mầm mà?”
Fujimaru gãi gãi má. “Tôi nghĩ nên làm sao khiến cô vui vẻ như thế là được.”
“Nhưng tôi đã lấy nhầm mã gen di truyền, nên không chắc nó chính là thể biến dị lần bốn như tôi trông đợi...”
“Tôi nhé, từ hồi nhỏ xíu đã thích nấu ăn rồi đấy.”
Fujimaru chợt nói với giọng nghiêm túc hẳn. “Ban đầu là được mẹ chỉ dạy, hoặc tôi tự mình đọc sách nấu ăn để xuống bếp, nhưng về sau tôi sẽ nghĩ ra công thức riêng. Tôi sẽ nêm nếm gia vị dựa theo trực giác, hoặc sẽ bỏ qua những loại nguyên liệu mà tôi nghĩ không hòa hợp với nhau. Thế là dần dà, tôi bắt đầu cảm thấy vui khi được vào bếp. Có khi món ăn tôi nấu ra nhạt nhẽo vô cùng, nhưng cũng có lúc tôi làm được món gì đó thơm ngon đến bất ngờ. Tim tôi sẽ đập rộn lên vì vui sướng.”
Fujimaru đang gắng hết sức để kể câu chuyện dựa vào trải nghiệm và kiến thức của chính anh. Không chỉ mỗi Motomura mà cả hội Kawai cũng phải chăm chú lắng nghe từng lời Fujimaru nói.
“So với việc làm ra những món ăn đúng vị theo sách hướng dẫn, tôi vẫn thích những lúc bản thân bị bất ngờ khi phát hiện hương vị mới hơn. Tuy rằng cũng có nhiều phen dở tệ, nhưng nói thật là vui lắm. Thế cho nên tôi ấy, mới muốn Motomura thử tiếp tục theo đuổi thí nghiệm này xem sao. Nếu bản thân mình cảm thấy vui vẻ hạnh phúc thì kết quả là thành công hay thất bại cũng đâu hề gì. Bởi vì tôi thuộc loại người sẽ chấp nhận thất bại và cố gắng nấu ra món ăn ngon hơn vào lần tới.”
Chà, nhưng mà độ khó giữa việc nấu nướng của tôi và thí nghiệm của Motomura vốn khác nhau hoàn toàn nhỉ. Fujimaru cũng ngượng ngùng nói thêm.
“Không đâu.”
Motomura lắc đầu. Không đâu, hoàn toàn không khác biệt chút nào. Nấu ăn hay làm thí nghiệm cũng đều như nhau thôi. Luôn băn khoăn rằng nếu tiếp tục thí nghiệm theo dự định thì có ra được kết quả như mong muốn hay không. Tự hỏi liệu mình có kịp nộp luận văn tiến sĩ trước hạn chót hay không. Có lẽ ngay từ đầu mình đã sai khi chỉ bận tâm những chuyện như thế....
Làm gì có khuôn mẫu nào cho thí nghiệm? Cũng làm gì có hạn chót nào cho nghiên cứu?
Bản thân mình nên tránh khỏi góc nhìn chủ quan mà quan sát sự vật và hiện tượng xảy ra trước mắt, bao gồm cả những lỗi lầm đáng thất vọng, để rồi tiếp tục ghi lại sự thật một cách công bằng và trung thực nhất. Dù có thất bại đi chăng nữa, ta vẫn sẽ tìm ra cách khác để làm lại từ đầu, tiếp tục vật lộn với những nguyên lý của thế giới này. Cho đến ngày mất đi sinh mệnh, mình sẽ không bao giờ ngừng tự hỏi “Tại sao?” Mình sẽ luôn tìm hiểu những câu đố đến cùng. Đó mới chính là thí nghiệm và nghiên cứu.
Motomura sực nhớ tới cái bụng rỗng kêu vang đã lâu. Đoạn, cô bắt đầu ngấu nghiến đĩa mì Ý mà cô bỏ mặc từ nãy đến giờ. Đến mức khiến cho Fujimaru phải hốt hoảng kêu lên:
“Để tôi làm lại đĩa mới cho!”
Nhưng Motomura chỉ lắc đầu thêm lần nữa.
Đĩa mì Ý đã lạnh ngắt đến nỗi đóng mỡ, nhưng Motomura vẫn cầm nĩa xúc cả khối mì lên để cắn gặm sạch. Ngon như được ông trời ban ơn vậy. Cô cũng một hơi nốc cạn cả cốc bia nguội.
“Cảm ơn cậu nhé, Fujimaru.”
Nhìn thấy Motomura như vậy, Kawai liền nói.
“Xem chừng tôi đã biến thành một thằng khờ chỉ biết mỗi chuyên môn rồi. Chuyện quan trọng nhất bây giờ vốn không phải là nâng tỷ lệ thành công của thí nghiệm hay là nộp luận văn tiến sĩ kịp hạn chót.”
Iwama thì rũ mắt nhìn xuống đĩa bánh kem mình đã ăn xong, hẳn là chị cũng cảm nhận được những lời mà Fujimaru vừa nói.
“Ấy khoan, em nghĩ rằng chuyện đó cũng quan trọng mà.”
Kato đáp lời với giọng tếu táo. “Nhưng mà lúc nhận ra thất bại của bản thân, em nghĩ mình nên tận hưởng điều đó và cẩn thận ngẫm nghĩ ra đối sách đảo ngược lại tình huống, biết đâu lại phát hiện ra nghiên cứu nào mang tính đột phá thì sao?”
Sau khi đã được nạp thêm năng lượng và lấy lại sức lực, Motomura cũng rất ư đồng tình.
“Anh Fujimaru, anh Kawai, chị Iwama và Kato, thành thật cảm ơn mọi người vì đã cho tôi nhiều lời khuyên và cái nhìn đa chiều như vậy.”
“Tốt quá, có vẻ như Motomura đã ra được quyết định rồi nhỉ?”
Kawai cười. “Vậy thì cô hãy đường hoàng mà báo cáo với thầy Matsuda thôi. Ngày mai tuy là thứ Bảy, nhưng thầy ấy bảo sẽ đến phòng nghiên cứu đấy.”
Các thành viên của phòng nghiên cứu rời khỏi Viên Phục Đình vào khoảng 11 giờ hơn. Motomura vì không kịp ăn phần bánh phô mai của mình, nên Fujimaru đã bỏ nó cùng với gói giữ đông vào hộp nhựa cho cô.
Fujimaru tiễn mọi người ra đến cửa tiệm.
“Cô hãy cố lên nhé.”
Anh nói với Motomura.
Motomura cúi người thật thấp để cảm ơn anh. Với tâm tình giờ đây đã phấn chấn hẳn, cô cùng với nhóm Kawai rời khỏi con hẻm để bước vào màn đêm ngoài đường Hongo.
***
Sáng hôm sau, Motomura lấy hộp nhựa đựng miếng bánh phô mai được đậy thật kín khỏi tủ lạnh. Cô pha một tách cà phê, chuyển miếng bánh ra một chiếc đĩa nhỏ, đoạn ngồi xuống chiếc bàn lùn đặt trên thảm chiếu. Cây kim tiền với mấy chậu xương rồng bên bậu cửa sổ phản chiếu ánh nắng trong ngần, cứ như tâm trạng của chúng cũng đang vô cùng vui vẻ vậy.
“Mời cả nhà ăn cơm.”
Mặc dù trong phòng chẳng có ai khác đáp lại lời chào cơm của Motomura, nhưng cô vẫn làm theo phép tắc đàng hoàng rồi mới bắt đầu ăn bánh. Miếng bánh kem mang lại cho người ta cảm giác rất đỗi dịu dàng với vị ngọt đằm thắm mềm mại chạm vào đầu lưỡi.
Motomura thầm nghĩ, đây đúng là hương vị của anh Fujimaru rồi. Dù là món khoai lang nghiền hay bánh phô mai thì đều mang hương vị rất riêng của chính Fujimaru khi anh kết hợp những loại nguyên liệu ngon lành lại. Thực khách chỉ cần nếm thử thôi là đã biết ngay rằng đây là những món ăn được chế biến với suy nghĩ và tấm lòng dành cho họ.
Chẳng hiểu có phải do biết rằng mùa xuân đã cận kề hay không mà lá cây của chậu nào nom cũng xanh mướt và tốt tươi hơn hẳn. Sau khi ăn xong miếng bánh, Motomura rửa thật sạch chén bát rồi đi quan sát khí khổng của từng cái cây bên bậu cửa sổ nhân lúc tưới nước cho chúng.
Chậu sen đá tuy không có thay đổi gì rõ ràng, nhưng mấy chậu thảo dược đã úa lá vì khí trời giá rét thì chẳng biết từ lúc nào lại nhú thêm cành non rồi. Thân cây xương rồng cũng mọc thêm nhánh cây trông không khác gì một cục u, bên trên tua tủa gai nhọn trắng như phấn.
Thứ làm cô bận lòng nhất vẫn là cây trạng nguyên kia. Đến tận hôm nay mà nó vẫn giữ nguyên tình trạng “gậy Cái Bang”, có lẽ nào nó đã chết thật rồi chăng? Motomura dời tầm mắt sang chậu cây đang nằm trên sàn chiếu.
“A!”
Đoạn, cô kêu lên. Trên các nhánh cây gầy trơ héo úa của cây trạng nguyên có lú nhú vài mảnh màu xanh lục trông như miếng bọt rửa chén. Thứ mà ai nhìn vào cũng tưởng là rác kia chính là chồi non. Trong lúc Motomura không để ý thì cây trạng nguyên đã im lặng trở mình mọc thêm lá mới.
May mà mình vẫn luôn kiên trì tưới nước cho nó. Trong lúc mình mải chìm đắm trong tâm trạng hụt hẫng và ủ dột thì cây trạng nguyên vẫn từ tốn mà gắng sức sinh tồn. Motomura mừng lắm, có cảm giác như mình vừa được cây trạng nguyên lẳng lặng truyền cho chút dũng khí. Cô khẽ chạm nhẹ lên những chồi non mới nhú.
Thật là khó hiểu quá đi. Tuy rằng chúng không có ngôn ngữ, cũng không có khái niệm về nhiệt độ hay mùa màng, thế mà thực vật vẫn biết rất rõ rằng mùa xuân sắp đến. Dù không sử dụng nhiệt kế hay nhật ký, chúng vẫn có thể dựa vào ký ức mà đoán chắc rằng, “Đây không phải là tiết trời cuối đông mà đích thị là mùa xuân thực thụ. Thời kỳ để ta thuận lợi sinh sôi nảy nở lại tới rồi.”
Thiết nghĩ, có khi con người lại đang dựa dẫm quá nhiều vào bộ não cùng ngôn ngữ cũng nên. Bởi vì mọi khổ sở và hạnh phúc đều sinh ra từ não bộ nên con người mới bị nó chi phối, trải qua ngũ vị tạp trần. Nói khác đi thì loài người là tù nhân của bộ não. So với những loài cây mọc trong chậu, chúng ta chỉ có thể nhận thức được thế giới trong một phạm vi nhỏ hẹp. Sự tồn tại của chúng ta là sự tồn tại mất tự do.
Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta nên ghen tị với thực vật. Sửa soạn xong xuôi, Motomura đứng ngay giữa phòng vươn vai một cái rõ dài. Mình cũng nên học tập thực vật, tiếp thu mọi cảm giác để biết cách phán đoán và hành động theo lối nghĩ tốt đẹp nhất. Vì mình còn có bộ não nên phải cố gắng động não tối đa và trau dồi óc sáng tạo mới được. Một phần tất nhiên là để làm lợi cho việc nghiên cứu, nhưng còn lại cũng là vì những người xung quanh mình nữa.
Tuyệt đối không được để bản thân quên mất việc xung quanh còn những người luôn quan tâm săn sóc cho mình. Phải thôi ngay cái thói suốt ngày thấy tủi thân và giậm chân tại chỗ khi gặp chuyện bế tắc nữa.
Motomura kêu lên, “Tôi đi đây”, rồi mới rời khỏi nhà. Hiển nhiên là không ai đáp lại cô, nhưng Motomura lại cảm nhận được cây kim tiền có khẽ lung lay cành lá.
Tòa nhà B khu Tự nhiên vào thứ Bảy quả nhiên vắng người ra vào hơn mọi khi.
Chẳng mấy chốc sau khi Motomura tới được phòng nghiên cứu, Matsuda cũng đến nơi và cất giọng chào buổi sáng với cô. Motomura vốn đang khởi động cái laptop mà cô mang theo, nhưng cô vội vã đến trước mặt Matsuda, chắn đường di chuyển của thầy ta từ cửa phòng đến tấm bình phong.
“Giáo sư này, hôm nay thầy có thể dành ra cho em chút thì giờ được không ạ?”
“Được chứ, trò nói đi.”
Một tay Matsuda vẫn xách cặp táp, mắt thầy thì điềm nhiên nhìn xuống Motomura.
Kawai, vốn ngồi ở bàn làm việc của mình trong phòng nghiên cứu từ mấy phút trước, đang toát cả mồ hôi, “Ít nhất cũng phải chờ tới giờ nghỉ rồi hẵng tìm một nơi ngồi xuống nói chuyện chứ.” Nhưng Motomura thì lại không có cách nào biết được nỗi lòng của anh lúc này. Cô chỉ một lòng muốn thú nhận và báo cáo mọi chuyện với giáo sư càng nhanh càng tốt. Motomura chà xát lòng bàn tay rịn mồ hôi vì căng thẳng vào hai bên quần jeans.
“Chào buổi sáng.”
Kato mở cửa phòng nghiên cứu ra.
“À đấy!”
Kawai kêu lên rồi bật dậy khỏi ghế ngồi. “Vừa hay tôi đang tính đến nhà kính để xem qua mấy chậu sen đá gửi nhờ cậu. Kato này, đi với tôi một lát đi.”
Kato chưa kịp bước chân vào phòng thì đã bị Kawai lôi biến ra khỏi cửa.
Trong phòng thí nghiệm bây giờ chỉ còn lại mỗi Motomura và Matsuda.
“Thật ra thì...”
Motomura vừa biết ơn sự tế nhị của Kawai, vừa hạ quyết tâm nói ra sự thật. “Em đã lỡ lấy nhầm mã gen làm thí nghiệm rồi ạ.”
Matsuda chỉ im lặng nhìn vào Motomura. Sốt ruột vì không biết thầy có đang ngán ngẩm với mình hay không, Motomura trở nên khổ sở và bắt đầu cố sức tìm lời để nói tiếp.
“Em vốn định lấy mã AHHO để tạo ra thể biến dị lần bốn, nhưng lại lỡ chọn nhầm sang mã AHO. Bởi vì tên của chúng quá giống nên em hoàn toàn...”
Đây đã là lần thứ hai mình giải thích mọi chuyện bằng lời, nhưng không thể tìm ra cái cớ gì cả, vì đây rõ là một lỗi sai ngớ ngẩn vô cùng. Motomura lại một lần nữa trách móc bản thân.
“Khi nào thì trò phát hiện ra?”
Thấy Motomura gục đầu ủ rũ như vậy, Matsuda bèn cất tiếng hỏi.
“Cách đây hơn một tuần ạ...”
Matsuda thở đánh thượt một hơi thật dài. Quả nhiên là mình đã làm thầy ấy chán ngán lắm rồi. Không chỉ phạm phải một lỗi sai sơ đẳng, mình còn không báo cáo ngay với giáo sư hướng dẫn nữa chứ, không thể nào thông cảm được. Nhìn từ góc độ nào cũng thấy đây là hành vi vô cùng thiếu nghiêm túc và thành thật. Hẳn nhiên là thầy sẽ nghĩ thế về mình thôi. Đầu của Motomura ngày một thấp xuống.
“Em xin lỗi ạ.”
Cô nói. Motomura đã chuẩn bị tinh thần để bị Matsuda trách móc là một đứa không có tư cách làm nghiên cứu rồi.
“Trò không cần phải xin lỗi đâu.”
Thế nhưng, Matsuda chỉ nói với chất giọng hiền từ.
“Ai mà chẳng từng phạm lỗi. Chuyện khiến tôi ngạc nhiên nhất là...”
Đang nói giữa chừng thì dường như Matsuda lúc này mới nhận ra sức nặng của chiếc cặp. Thầy bèn tạm đặt nó lên chiếc bàn họp bên cạnh.
“Chuyện khiến tôi ngạc nhiên nhất là Motomura lại quyết định giữ im lặng và buồn phiền về việc này hơn cả tuần nay kia.”
Trước những lời không thể ngờ tới ấy, Motomura đành phải rụt rè nhìn lên. Matsuda vẫn chau mày như mọi khi, còn đôi mắt trông như luôn tư lự điều gì của thầy lại đang nhìn thẳng vào Motomura.
“Có lẽ nào tôi lại trông khó tính đến thế ư?”
Matsuda hỏi.
“Hả? Dạ không... cái đó...”
Motomura dĩ nhiên không thể huỵch toẹt ra rằng Matsuda lúc nào cũng trông không dễ gần cho lắm, thế nên cô chỉ đành lúng búng đáp. “Hôm qua em đã kể cho mọi người ở phòng nghiên cứu nghe rồi.”
Đây còn chẳng phải là câu trả lời cho Matsuda mà nghe như là lời bình phẩm về bầu không khí căng thẳng luôn vây lấy thầy ta vậy. Trong lúc Motomura không biết mình nên làm gì tiếp đây thì Matsuda lại gật đầu, mặc kệ vẻ lúng túng của cô.
“Thế thì tốt rồi. Tôi đã lỡ khiến Motomura cảm thấy buồn phiền nhỉ. Tôi cũng nhận thấy rằng bản thân luôn gây cho người khác ấn tượng vừa u ám lại vừa không thú vị. Từ nay về sau tôi sẽ nỗ lực cải thiện bầu không khí, thông qua việc mặc thêm áo sơ mi có màu chẳng hạn.”
“Không phải đâu giáo sư ạ. Không phải thế đâu.”
Thấy Matsuda đang muốn cúi đầu xin lỗi mình, Motomura vội vã ngăn thầy lại.
“Không phải chỉ với mỗi thầy thôi đâu, với ai em cũng không tài nào nói ra thất bại của bản thân...”
Vả lại, nhận thức về bản thân của giáo sư Matsuda đã sai cả dặm rồi, Motomura trộm nghĩ. Trong tòa nhà B khu Tự nhiên này làm gì có ai nghĩ rằng thầy là người “không có mặt nào thú vị” cơ chứ? Thường tỏ vẻ cách biệt với xung quanh, luôn hăng hái lao vào nghiên cứu, chỉ mặc mỗi trang phục có hai màu trắng đen, sinh hoạt đúng giờ đúng giấc như một cái máy, người như thầy Matsuda vốn luôn được mọi người âm thầm mến mộ thì có. Đến nỗi trong khoa phải có bạn nữ nào đó bí mật viết nhật ký theo dõi giáo sư Matsuda luôn. Nói vậy thì nghe như Matsuda giống với gấu trúc quá, nhưng những người thân cận và hiểu rõ tính cách của thầy như bọn Motomura thì biết, thầy cũng có nhiều phen vụng về đến bất ngờ, thế nhưng ai cũng mến mộ và tôn trọng một người thầy luôn dồn hết tâm huyết vào việc dạy học như Matsuda vậy.
“Quả thật là thế.”
Matsuda nói. “Tôi hiểu rất rõ tâm trạng khi có gì khó nói, nhưng không chỉ giới hạn ở việc nghiên cứu, một khi xảy ra điều gì khiến trò cảm thấy buồn phiền thì phải tìm đến ai đó để thảo luận ngay lập tức mới được. Những người làm nghiên cứu như ta tuy cũng có đối thủ, nhưng trên hết họ là những người bạn sẽ luôn giúp đỡ và đồng hành cùng trò. Trò không bao giờ phải một mình khổ sở vì điều gì cả.”
“Vâng ạ.”
Cuối cùng thì Motomura đã có thể nhìn thẳng vào mặt Matsuda. Trong ánh mắt thầy hoàn toàn không có lấy một tia trách móc. Motomura cảm nhận được rằng Matsuda đang thật sự lo nghĩ cho mình, và điều đó khiến tim cô như thắt lại.
“Vậy rồi...?”
Matsuda hơi nghiêng đầu. “Tôi hiểu rằng trò đã lỡ lấy nhầm gen AHO làm thí nghiệm. Thế sau này trò tính làm thế nào?”
“Kích thước phiến lá của cây trông như thể biến dị lần bốn kia bây giờ nhìn không khác mấy so với những cây khác. Nhưng lúc chúng còn là lá non, em đã có linh tính rằng đây chính là thể biến dị mình hằng mong, nên em cũng khó lòng vứt nó đi được.”
“Hừm...”
“Nếu có thể xuất hiện thể biến dị lần bốn, điều đó sẽ chứng minh rằng mã gen AHO cũng có ảnh hưởng đến quy định kích thước của phiến lá. Em dự định sẽ dựa theo giả thuyết này để tiếp tục nghiêm túc quan sát và thực hiện thí nghiệm ạ.”
“Nghe được lắm. Tôi cũng nghĩ đó là biện pháp tối ưu.”
Matsuda đồng tình một cách điềm nhiên, khiến cho Motomura vốn đã chuẩn bị đầy một bụng lý do thuyết phục thầy bỗng phải cứng họng.
“Sao vậy?”
“Dạ không, à... Em đang muốn bàn với giáo sư về chuyện phối thể biến dị lần bốn mình có được lần này với gen AHHO thêm lần nữa để có thể quay về phương hướng ban đầu của thí nghiệm ạ. Anh Kawai và mọi người cũng đồng ý rằng đây là phương pháp em nên theo đuổi hiện tại.”
“Nếu trò cứ tiến hành thí nghiệm như dự tính thì sẽ ra được kết quả như dự tính. Làm vậy thì còn gì là thú vị nữa?”
Matsuda bật cười. “Lớp thực hành nữ công gia chánh chẳng phải luôn thú vị sao? Trò có bao giờ biến sốt kem thành màu cà ri hay luộc khoai tây ra nước luôn chưa?”
“Em chưa bao giờ gặp phải tình huống như vậy ạ.”
“Vậy hả? Thôi vậy, tôi cũng khét tiếng là kẻ thiếu hụt khiếu nấu ăn.”
Matsuda lấy ngón tay đẩy lại gọng kính. “Laptop của trò đã bật lên chưa? Có thể mang lại đây một chút được không?”
Motomura mang chiếc laptop từ bàn mình lại. Cô đặt nó lên bàn họp rồi ngồi vào ghế bên cạnh Matsuda.
Matsuda truy cập vào một trang web, đoạn, thầy vừa nói vừa gõ vào máy.
“Dĩ nhiên là ý kiến của nhóm Kawai cũng rất hay. Nếu xác định được giống cây hiện tại là thể biến dị lần bốn, em có thể đem nó phối với thể biến dị của gen AHHO và rồi nghiên cứu về cách thức hoạt động của mã gen AHHO như dự định ban đầu.”
“Vâng, đúng là vậy ạ.”
Về đường hướng và sự sắp xếp của thí nghiệm, Matsuda và Motomura đều đồng tình với ý kiến của nhau. Tâm tình của Motomura trở nên nhẹ nhàng hơn hẳn, nhưng cô vẫn còn bứt rứt.
“Chỉ có điều... vẫn còn chuyện khiến em thấy khá băn khoăn ạ.”
Motomura thành khẩn hỏi xin sự giúp đỡ từ Matsuda. “Nếu vẫn giữ đường hướng nghiên cứu về AHHO, em có thể không cần bỏ ngang thí nghiệm ở giai đoạn này không ạ? Nhưng em cũng lo rằng nếu cứ để thí nghiệm xuôi theo hướng của AHO, có lẽ kết quả sẽ không như mong muốn và em vẫn phải kết thúc thí nghiệm trong dang dở, hơn nữa, có khi bài luận tiến sĩ của em cũng không nộp kịp hạn chót thầy ạ.”
“Như tôi đã nói ban nãy...”
Matsuda từ tốn lắc đầu như muốn trấn an Motomura. “Những thí nghiệm cho ta kết quả như dự đoán vốn rất nhàm chán. Lớp nữ công gia chánh ở cấp trung học cơ sở bây giờ cũng không dạy nấu ăn theo công thức trong sách giáo khoa nữa. Chẳng phải có rất nhiều giáo viên đang tìm cách cho học sinh có thể vui vẻ thỏa sức sáng tạo và thực hành đấy sao? Điều quan trọng nhất của việc làm thí nghiệm là tính sáng tạo của từng cá nhân và sự kiên cường trước thất bại. Biết đâu thứ đang chờ trò ở trước ngưỡng cửa thất bại chính là một kết quả bất ngờ thì sao?”
Motomura tự vấn lại lương tâm. Mình đã luôn cẩn thận bước vững từng bước một, nhưng lại quá đắc ý mới trở nên nhút nhát. Mình đã quá thận trọng trong việc né tránh sai lầm, và luôn thiển cận muốn ghì chặt mọi thứ trong tầm kiểm soát của bản thân.
“Ưu điểm của trò nằm ở tính bướng bỉnh này đấy.”
Matsuda nói, như thể thầy đang đọc được suy nghĩ trong lòng của Motomura vậy. “Luôn làm đến cùng, phân tích mọi dữ liệu thu được từ thí nghiệm với con mắt và nhận thức về sự công bằng, minh bạch chính là những điều căn bản làm nên một nhà nghiên cứu, và đó cũng là tố chất tối quan trọng của họ. Nhưng ở trường hợp của Motomura, tôi nghĩ có lẽ sẽ hay hơn nếu trò phát huy óc sáng tạo nhiều hơn nữa khi tiến hành thí nghiệm.”
“Phát huy... ấy ạ?”
Motomura vốn luôn ý thức được rằng mình là người vô cùng cứng nhắc, nên cô cứ băn khoăn mãi không biết bản thân liệu có làm được như lời thầy nói không.
“Vâng ạ. Em sẽ bắt đầu thí nghiệm với óc sáng tạo được phát huy hết mức, dẫu cho có thất bại giữa chừng đi nữa thì em vẫn sẽ đón nhận nó với một tâm thế vui vẻ và luôn phấn đấu tiến về phía trước ạ.”
Dường như Matsuda đã nhìn ra chút bất an còn sót lại trên gương mặt của Motomura. Matsuda chỉ đành cười trừ, thôi thì đành vậy. Đoạn, thầy trỏ vào màn hình laptop cho cô xem.
“Để tôi cho trò xem căn cứ đằng sau phương hướng tiếp tục thí nghiệm với mã gen AHO”.
Motomura nhìn vào màn hình laptop. Trang web mà Matsuda đang xem gọi là ATTED – II. Đây là một trong các kho dữ liệu lưu trữ ADN của giống cây Arabidopsis thaliana do người Nhật tạo ra. Các mã gen ấy mang chức năng gì? Các mã gen ảnh hưởng lên nhau thế nào để phát huy tính năng của mình? Chỉ cần tra theo tên mã gen là những con số và biểu đồ sẽ hiện ra ngay lập tức.
Xem ra trong lúc Matsuda bàn bạc cùng Motomura thì thầy cũng đang tra cứu về AHO trên trang ATTED – II này. Trên màn hình hiện lên vài mã gen của giống Arabidopsis thaliana, còn có cả hình ảnh về cây phả hệ và quá trình tổng hợp ADN nom như sự phân chia của trùng amip vậy.
Dĩ nhiên là nó không thể giải thích toàn bộ chức năng của mọi mã gen thuộc giống Arabidopsis thaliana được. Có rất nhiều mã gen vẫn chưa được giải mã hết, có mã chưa ai tìm ra cách thức hoạt động của nó, cũng có mã mới giải một phần cách thức hoạt động nhưng lại không biết nó có liên quan gì tới mã gen khác hay không,...
AHO là một mã gen như thế. Có thể nói rằng đến tận bây giờ, vẫn còn rất ít nghiên cứu lấy AHO làm đề tài chủ chốt. Thế nhưng, nó lại góp mặt rất nhiều ở các thí nghiệm liên quan đến những mã gen di truyền khác. Bởi vì họ phát hiện ra rằng, AHO cũng hoạt động trong trường hợp các mã gen khác hoạt động, mặc dù không ai hiểu rõ tại sao lại như thế.
ATTED – II là trang web thu thập rất nhiều dữ liệu thí nghiệm, cho nên nó minh họa rất rõ khi mã gen khác hoạt động thì AHO có liên quan thế nào.
“Trò hãy nhìn vào hình này đi.”
Matsuda nói. “Lúc người ta phát hiện ra mã gen được cho rằng có liên quan đến sự quy định kích thước phiến lá, họ cũng tìm hiểu được rằng AHO không hiểu sao cũng có liên đới trong quá trình này.”
“Đúng là vậy thật...”
Motomura bất giác ghé mặt sát lại gần màn hình laptop. Nếu xét về mặt phả hệ thì quan hệ của chúng chắc phải xa xôi cỡ cháu chắt hay chít, nhưng cũng không hẳn là không thể truy vết nổi.
“Thế có nghĩa, AHO không hoàn toàn là một mã gen sai lầm, có lẽ nó cũng có ảnh hưởng gì đó đối với sự quy định kích thước phiến lá.”
“Vậy, bây giờ em nên làm gì đây ạ?”
Motomura vì quá phấn khích mà giọng mũi cũng lạc hẳn đi. Matsuda bật cười như muốn trấn an cô. “Đó là điều mà trò cần phải tìm ra thông qua thí nghiệm của mình. Ở đây đầy rẫy những câu đố chưa được ai giải đáp, việc tìm hiểu về chúng hẳn sẽ thú vị lắm đây. Không phải sao?”
Quả đúng là vậy. Motomura cảm nhận được thứ dũng khí đang cuộn trào trong lòng mình. Bởi vì cô đã có được giống cây nom giống với thể biến dị lần bốn nên cứ thế mà nghiên cứu về AHO thôi. Dù có gì lệch khỏi kỳ vọng của cô đi nữa thì hẳn là cũng có thể hiểu biết thêm chút ít về mã gen AHO này.
Từ một lỗi sai ngớ ngẩn mà giờ đây cô lại có được một giống cây rất có thể là thể biến dị lần bốn khác với trù tính của mình. Motomura không muốn phủi sạch toàn bộ niềm vui sướng khi nhìn vào chiếc lá non ấy và nghĩ rằng “Chính là nó”. Hạn chót nộp luận văn tiến sĩ và cả kết quả nghiên cứu bây giờ ra sao cũng được. Cô sẽ thử nghiên cứu về chiếc lá Khổng Lông được sinh ra một cách tình cờ ấy.
Giờ đây Motomura đã tự giác hạ quyết tâm nên dù thí nghiệm có kết thúc hoàn toàn trong thất bại thì cô cũng sẽ không hối hận.
“Không bao giờ được phép xem thường trực giác của bản thân.”
Matsuda đứng dậy khỏi ghế rồi cầm lấy chiếc cặp. “‘Trực giác’ mà tôi đang nói tới không phải là ‘chỉ dẫn đột ngột từ thần thánh’, mà đó là thứ trò có được nhờ ngày ngày kiên trì quan sát đối tượng. Tôi nghĩ rằng trò cần tự tin hơn nữa mới được.”
“Em cảm ơn thầy nhiều ạ.”
Motomura liền đứng dậy rồi cúi người trước Matsuda nay đã khuất sau tấm bình phong.
Lúc ngồi được vào chỗ, hình như Matsuda lại lục tìm thứ gì đó như thường lệ. Đằng sau tấm bình phong vang ra tiếng của núi tạp chí đổ rầm xuống. Trộn lẫn trong đó là tiếng thì thầm của Matsuda.
“Tìm ra thật rồi này.”
Nghe như thầy đang tự nói với mình nên Motomura không thưa gửi gì hơn. Song, cô vẫn không kiềm được tâm trạng vui sướng pha lẫn hạnh phúc vào lúc này.
Trực giác của một nhà nghiên cứu đã mách bảo Matsuda rằng “mình tìm trúng mã AHO rồi”, có khả năng cao rằng mã gen này cũng ảnh hưởng tới việc quy định kích thước của lá cây.
Thế là từ bây giờ, Motomura sẽ nghiên cứu về mã gen di truyền mà trước giờ chưa ai để ý tới. Cánh cửa dẫn đến vùng đất vô định giờ đây đã xuất hiện trước mặt Motomura dưới một hình dạng mà cô không ngờ. Motomura hưng phấn và mừng rỡ đến mức run rẩy. Thậm chí cả chiếc laptop cô để trên bàn họp cũng đang tỏa nhiệt như bị lây nhiễm niềm phấn khích của Motomura.
Sau khi đã xác định được đường hướng sắp tới và thấy tỉnh táo trở lại, Motomura lại xuống phòng giải phẫu như mọi khi để theo dõi các cây Arabidopsis thaliana, còn đến phòng thí nghiệm để chuẩn bị cho các công đoạn kế tiếp nữa. Ngày thứ Bảy này của cô tràn ngập tinh thần.
Lúc trưa, cô ngồi ở bàn họp phòng nghiên cứu để ăn cơm hộp mình mang theo. Tầm đó thì Kawai và Kato cũng đã từ nhà kính về. Hai người mừng thay cho Motomura khi nghe tin cô đã báo cáo mọi chuyện với thầy Matsuda và xác định được đường hướng thí nghiệm về sau. Phòng nghiên cứu chẳng thấy tăm hơi Iwama đâu, chắc là cuối tuần này chị ấy nghỉ phép.
Matsuda thì chẳng thấy tham gia vào cuộc trò chuyện, thầy chỉ xì xụp cốc mì ăn liền trong lúc đọc tờ tạp chí đang giở ra trên bàn họp. Chắc là thầy ta đang ngượng vì bị Kawai và Kato nhìn với ánh mắt ngưỡng mộ khi biết đến những lời khuyên vô cùng chuẩn xác mà thầy đã đưa ra cho Motomura. Tuy rằng tác phong ăn uống của thầy khá tệ, nhưng tư thế lại đúng đắn đến bất ngờ. Cách thầy nâng đũa hạ đũa nhìn cực kỳ nghiêm chỉnh. Ấn tượng của Fujimaru về chuyện giáo sư Matsuda là một tay sát thủ hẳn là bắt nguồn từ đây? Motomura trộm cười một mình.
Sau tầm ba giờ chiều, khi đợt sóng vui mừng đầu tiên và nỗi bận tâm đã tan đi hết, cơn buồn ngủ rũ rượi lập tức ập đến với Motomura. Mấy ngày nay cô vẫn ngủ không được ngon giấc, nên xem ra dù có hăng hái đến mấy thì thể lực cũng đến giới hạn rồi. Hôm nay đi về thôi. Quần áo bẩn chất đống chờ giặt, còn phải chuẩn bị đồ ăn để mở đầu một tuần mới đầy nỗ lực chứ.
Sau khi quyết định, Motomura liền rời khỏi tòa nhà B khu Tự nhiên trong tâm trạng lơ mơ buồn ngủ. Nhưng cô vẫn không quên lịch sự ghé qua Viên Phục Đình để trả lại hộp nhựa đựng bánh kem.
Vừa hay tiệm đang trong giờ nghỉ chờ đến giấc phục vụ cơm tối. Vì ngoài nắm đấm cửa đang treo bảng Sắp mở cửa nên Motomura đành phải nhòm vào bên trong thông qua ô cửa sổ hướng ra con hẻm. Bên kia ô cửa, cô nhìn thấy cây xương rồng đặt trên bậu cửa sổ và dáng vẻ Fujimaru đang nằm ườn. Cô thoáng hết hồn, cứ tưởng anh ngất xỉu hay gì, nhưng nhìn kỹ mới phát hiện anh nằm trên một dãy ghế ghép lại với nhau, hình như đang ngủ. Chắc là anh đã mệt lả cả người khi phải gồng mình phụ trách cả giờ cơm trưa của tiệm trong lúc ông chủ vắng nhà đây mà.
Hay là mình treo hộp nhựa ngoài cửa? Những lúc thế này, giá mình đem theo một cái túi trông đàng hoàng hơn thì tốt biết mấy, vậy mà chỉ có mỗi cái bọc nilon của siêu thị. Ít nhất cũng nên để lại mẩu giấy cho anh ấy chứ nhỉ? Nghĩ đoạn, Motomura lục lọi bên trong cặp táp của mình. Đúng lúc đó thì Fujimaru trở mình ngồi dậy, chắc là anh cảm thấy bên ngoài có bóng người. Fujimaru vừa ngáp một cái rõ dài vừa nhìn về phía cửa, lúc nhận ra cái người đang loay hoay kia là Motomura thì anh lập tức mỉm cười.
“Motomura ơi!”
Anh phóng như bay mở cửa ra. “Cô đang trên đường đến trường hay tính về nhà thế?”
“Tôi đang tính về nhà ạ. Hôm qua thật lòng cảm ơn anh vì đã tiếp đãi chúng tôi đến tận đêm hôm. Với lại...”
Nói đoạn, Motomura giơ cái túi nilon nhăn nhúm đựng hộp nhựa ra. Những lúc thế này thì hẳn là mình nên sử dụng mẫu túi giấy nào trông đẹp đẹp mới ra dáng con gái chứ. Nghĩ thì nghĩ thế, nhưng hình ảnh của “mẫu túi giấy trông đẹp đẹp” lại không hiện ra cụ thể trong đầu Motomura, vả lại, cô cũng chẳng muốn tỏ ra duyên dáng làm gì. Đối với cô mà nói, có thể trả lại cái hộp nhựa nguyên vẹn không trầy xước gì đã là đáng tự hào lắm rồi.
Fujimaru cũng không phải là người câu nệ tiểu tiết.
“Xin lỗi vì khiến cô cất công. Tôi đã định cho luôn Motomura cái hộp này mà.”
Anh nhận lấy cái túi. “Lúc tôi nhận ra thì số lượng hộp nhựa đã nhiều đáng kể rồi. Cứ như chúng lén lút sinh sôi trong đêm ấy.”
Vật vô tri thì sao mà sinh sôi được, Motomura thầm nghĩ, nhưng dĩ nhiên là cô không bóc trần anh.
“Món bánh ngon lắm ạ.”
Cô bảo.
“A, vậy hả? May quá.”
Hai người bật cười với nhau. Ê hê hê, a hi hi.
“Motomura hôm nay mặt mày tươi tỉnh hẳn ra rồi nhỉ.”
Motomura áp lòng bàn tay lên má, cố nén niềm phấn khích của mình. Đáng đời cô lắm, ai bảo không chịu trang điểm.
“Đúng thật ạ. Tôi đã thú nhận với giáo sư về thất bại của mình, xác định được đường hướng thí nghiệm và tâm trạng cũng trở nên nhẹ nhàng hơn. Đều nhờ vào lời khuyên của anh Fujimaru hết đấy.”
“Không đâu, tôi đã làm gì được. Chỉ toàn phá đám mọi người thôi.”
Fujimaru cứ day day chiếc túi nilon đựng hộp nhựa mình đang cầm trong tay.
“Không có chuyện đó đâu ạ. Giáo sư Matsuda cũng nói hệt như anh Fujimaru vậy. Thầy ấy nói, làm ra được kết quả thí nghiệm như dự định thì rất nhàm chán.”
Motomura dùng cặp mắt ngưỡng mộ ngước nhìn Fujimaru. “Với những người đang theo đuổi điều gì đó, dù tầm nhìn có khác nhau đi nữa, cảnh tượng mà họ thấy được vẫn rất giống nhau. Tôi nghĩ là thế đấy.”
“Không đâu không đâu.”
Chắc vì nhận ra chất giọng nghẹn ngào của mình trở nên hơi quá nên Motomura đành rũ mắt xuống. Cái túi nilon bị Fujimaru vặn xoắn trong lòng bàn tay trở nên biến dạng như kẹo chảy vậy.
“Chà, chuyện nấu nướng và thí nghiệm giống nhau hơn tôi nghĩ. Ha ha...”
Nỗi ngượng ngùng pha với lòng tự hào vì có thể giúp đỡ Motomura khiến gương mặt của Fujimaru chợt đỏ lựng. Nhưng hiển nhiên là Motomura không hề hiểu cho nỗi lòng vừa lương thiện lại rất đỗi ngây thơ của chàng trai. Cô hiểu nhầm rằng Fujimaru đỏ mặt chắc là do anh quá buồn ngủ. Nhắc mới nhớ, hình như cô đang làm phiền giờ nghỉ ngơi của anh thì phải. Motomura hoảng hốt.
“Vậy...”
Cô cúi đầu chào. “Tôi xin phép đi trước nhé.”
“Vâng. Chúc cô ngủ ngon.”
Fujimaru hiện lên trong mắt của Motomura thoáng có chút buồn bã, nhưng cô lại nhanh chóng nghĩ rằng có lẽ do bản thân nghĩ nhiều thôi. Cô cúi chào anh thêm lần nữa rồi bước ra khỏi con hẻm. Mặt trời mới ngả bóng một chút, ánh nắng ban trưa vẫn còn sót lại trên con đường này. Vậy mà anh Fujimaru cũng chúc mình ngủ ngon cho được. Chẳng hiểu sao mà Motomura lại thấy Fujimaru như vậy thật tốt.
***
Tháng Ba là tháng mà Kawai xuất phát đi Borneo.
Đến tận trước lúc Kawai khởi hành, Matsuda vẫn còn ân cần nhắc nhở từng li từng tí, như là “Nhớ đừng uống nước lã đấy”, hoặc “Phải chú ý quan sát kỹ nhiều lần xem có voi hay không nhé”. Kawai rất kiên nhẫn mà vâng dạ trước mỗi lời dặn dò của thầy, nhưng khi quay sang Motomura thì anh lại hành xử y hệt, nhắc nhở cô từng tí một những chuyện như, “Nếu có gặp rắc rối trong lúc làm thí nghiệm thì cứ gửi mail cho tôi lúc nào cũng được. Ngày về nước tôi sẽ đến giúp cô ngay nên đừng cố sức quá”, hoặc “Mấy loại hóa chất sắp hết tôi đã nhờ cô Nakaoka đặt mua thêm cho đủ rồi đó, nhưng để chắc ăn thì cô hãy nhờ cô ấy mua thêm đi.”
Các anh các thầy sao cứ như gà mái mẹ vậy, Motomura sắp buột miệng than thở đến nơi. Iwama cũng đã ngán ngẩm lắm rồi.
“Thôi đủ rồi, anh đi Borneo nhanh nhanh giùm tôi cái.”
Kato dường như cũng có chút giận dỗi.
“Anh không khuyên nhủ gì cho mấy nhóc xương rồng của em sao?”
Cậu lên án.
“Dù tôi bỏ mặc thì cậu vẫn có thể nuôi mấy cây xương rồng lớn nhanh mà.”
Xem ra lòng anh Kawai bây giờ đang rất loạn, vừa háo hức trông chờ chuyến đi lại vừa phải bận tâm về mọi người trong phòng nghiên cứu.
“Nhà kính lại đầy bồn chậu rồi đấy, mong là trước khi tôi về thì cậu có thể dọn hết cho gọn. Nhớ phải xong trước lúc lửa giận của giáo sư Morooka bốc cao đến mức đủ sức hấp khoai nhé.”
“Này đâu tính là khuyên nhủ!”
Kato bắt đầu nổi đóa.
Dù có khá nhiều quan ngại, nhưng Kawai rốt cục cũng bình an vô sự mà đến được Borneo. Hình như anh còn thi thoảng gửi email về cho Matsuda báo cáo tình hình nữa. Xem ra vì hoạt động nghiên cứu được tiến hành trong rừng rậm nên mãi anh mới bắt được chút internet. Phần báo cáo của anh chủ yếu là văn tự, dù có đính kèm hình ảnh thì độ phân giải cũng rất thấp, thế mà Matsuda vẫn rất vui sướng mà đọc từng mail.
“Có vẻ như cậu ta rất vui khi được làm việc nhóm cùng với mọi người ở hiện trường, còn rất tận hưởng những ngày ở Borneo nữa.”
Matsuda bảo. “Nghe cậu ấy nói rằng, đã tìm được nhiều chủng loại thực vật quý hiếm, cho nên rất háo hức để mang mẫu vật và ảnh chụp về nước cho chúng ta xem.”
Nhờ có chamber trống mà Kawai để lại, Motomura mới có thể suôn sẻ tiến hành thí nghiệm của mình.
Chiếc lá non được Fujimaru đặt biệt danh là Khổng Lông đã lớn dần thành một chiếc lá thực thụ, có kích thước rõ ràng là lớn hơn so với những gốc cây khác. Lúc nhận ra điều này ở phòng giải phẫu, Motomura đã không kiềm được mà reo lên, “Được lắm!” Cô siết chặt hai bàn tay lại rồi kéo chúng về phía hai bên eo mình, nom cứ như một ngôi sao nhạc rock đang ra hiệu cho tay trống của nhóm kết thúc buổi trình diễn với màn cao trào cuối cùng vậy. Đây là lần đầu tiên Motomura làm động tác như thế nên cô cũng rất bất ngờ, lúc tỉnh ra thì mới phát hiện trong phòng chỉ có mỗi mình mình thôi. Mấy gốc cây Arabidopsis thaliana là những khán giả duy nhất.
Motomura tiếp tục quan sát bên trong chamber, sau đó mới chuẩn bị tiến hành PCR cho các gốc cây được nghi ngờ là thể biến dị lần bốn, bao gồm cả Khổng Lông.
Đầu tiên là phải trích phiến lá của mỗi gốc cây được chọn, nấu sơ qua, sau đó hớt lấy phần dịch chất chiết xuất rót vào bên trong ống Eppendorf loại nhỏ. Chất dịch kia chỉ cần một lượng nhỏ là được. Vậy là đã xét nghiệm được ADN của từng gốc cây rồi.
Còn có phương pháp bỏ một mẩu của phiến lá cùng dung dịch chiết xuất vào bên trong ống Eppendorf, dùng ống chày ép nát để chiết tách mẫu ADN nữa. Ống chày được làm từ nhựa, to bằng một thanh kẹo sô cô la dù. Nếu dùng ống chày dập nát phiến lá thì Motomura sẽ tiếp tục tâm đắc rằng sao mà chuyện làm thí nghiệm giống với nấu ăn đến thế.
Song, Motomura cũng có thể dùng đuôi tăm để nghiền nát phiến lá thay cho ống chày. Mấy cây tăm vừa có thể dùng để cắm làm dấu trên bông khoáng, vừa có thể thay thế dụng cụ thí nghiệm, thật là tiện lợi và linh hoạt vô cùng. Phải sử dụng một lượng lớn tăm tre hẳn cũng là một điểm chung nữa giữa địa điểm nấu nướng và phòng thí nghiệm Khoa học Sinh học cũng nên. Thư ký của phòng thí nghiệm Matsuda là cô Nakaoka kể lại rằng, trước kia, kế toán của trường còn đến thắc mắc với cô. Xem chừng là do người ta thấy, việc phòng nhập vào một lượng lớn tăm tre khá đáng ngờ. Nakaoka đã phải chật vật giải thích rằng, cái đấy không phải dùng để tổ chức tiệc nướng tưng bừng đâu, mà là để làm thí nghiệm. Cô còn cười lớn mà rằng, khó khăn lắm họ mới hiểu cho cơ.
Chất dịch chiết xuất của phiến lá chứa bên trong ống Eppendorf cỡ nhỏ sẽ được bảo quản tại tủ đông dành riêng cho thí nghiệm ở nhiệt độ -20°C. Sau khi đã hoàn tất công đoạn gieo hạt, cô sẽ theo dõi những cây Arabidopsis thaliana đang phát triển tốt, dù gì thì cũng sắp đến lúc phải loại ra 36 cây có gốc thân trổ lá trễ và cuống lá đỏ phớt rồi. Theo đúng mục đích ban đầu, Motomura sẽ trích phiến lá của 36 gốc cây đó, chiết lấy chất dịch để làm PCR. Phần chất dịch đã được chiết xuất trước đó sẽ tạm thời được nghỉ ngơi bên trong tủ đông.
PCR là một cái máy có hình dạng trông như chiếc máy in để bàn đời cũ màu xám vậy. Motomura đã từng nhìn thấy trong catalog máy móc thí nghiệm có loại máy PCR màu đỏ trông rất đáng yêu, nhưng loại máy được sử dụng trong tòa nhà B khu Tự nhiên lại như là vật đại diện cho sự “bền bỉ đích thực”. Phòng nghiên cứu nào cũng phải tiến hành thí nghiệm dựa trên khoản dự toán không thể nói là dồi dào gì cho cam, thế nên chừng nào mà máy PCR này vẫn chưa hỏng hoàn toàn thì chuyện mua thêm máy mới vẫn chỉ là giấc mơ xa vời mà thôi.
Phần trên của máy PCR có cái nắp gập màu xám. Lúc mở nắp lên thì sẽ thấy một hàng 12 lỗ hổng được lắp ống PCR bên trong. Lúc chuyển dung dịch chiết xuất từ phiến lá vào trong máy PCR, Motomura sẽ phải rót dung dịch từ ống Eppendorf sang ống PCR rồi để lại vào trong máy, sau đó mới bật máy lên được.
Song, quá trình PCR không chỉ cần mỗi chất dịch chiết xuất từ phiến lá thôi đâu. Trước đó cô còn cần phải pha vào trong dung dịch một ít enzyme và chất gọi là “đoạn mồi”. Mặc dù bản thân cô nghĩ rằng pha sẵn từ đầu để bảo quản trong tủ đông sẽ không có vấn đề gì, nhưng enzyme có lẽ sẽ mất đi hoạt tính khi bị đông lại. Cho nên mới cần phải chia ra hai công đoạn rõ ràng là “Bảo quản chất dịch chiết xuất từ phiến lá trong tình trạng ủ đông” và “Pha trộn dung dịch enzyme và đoạn mồi ngay trước khi tiến hành PCR”.
Đơn đặt hàng đoạn mồi đã được gửi đến đơn vị kinh doanh từ lúc bảy giờ tối, ngay trưa hôm sau nó sẽ được gửi sớm tới phòng nghiên cứu. Đoạn mồi có thể là dạng bột hoặc chất lỏng trong suốt, và đều được bảo quản trong một cái ống nghiệm nhỏ làm bằng nhựa. Một cặp hai ống có giá 2.000 yên[33]. Bởi vì số lượng sử dụng khá ít nên có thể pha đoạn mồi ra nhiều ống Eppendorf dùng được trong cơ man thí nghiệm. Tính ra thì vụ mua bán này rất có lời. Enzyme có giá đắt hơn đoạn mồi nhiều, vậy nên Motomura phải dùng tới ống pipet mới có thể pha dung dịch một cách hiệu quả mà không lãng phí.
“Đoạn mồi” là chất chỉ thị để ADN có thể nhân đôi từ đầu này đến đầu kia của mạch. Những người làm thí nghiệm sẽ chọn ra đoạn mồi thích hợp với gen di truyền mình muốn nghiên cứu để đặt hàng với đơn vị kinh doanh.
Lấy ví dụ Motomura đang muốn nghiên cứu về mã gen di truyền D. Ký hiệu là AHO. Thể biến dị d của nó sẽ được tiếp xúc với tia phóng xạ và ngẫu nhiên mất đi một phần trong chuỗi ADN của mã gen D. Có rất nhiều tập hợp thể biến dị được sản sinh ngẫu nhiên thế này, Motomura đã chọn ra trong số đó thể biến dị d mà cô nghĩ sẽ thích hợp với thí nghiệm lần này nhất.
Đoạn mồi sẽ đảm trách vai trò làm chất đánh dấu phần đầu và phần cuối của đoạn mạch sẽ bứt ra khỏi chuỗi ADN. Nó là chất chỉ dẫn để ADN biết rằng chỉ được phân chia trong phạm vi này thôi. Khi pha trộn đoạn mồi cùng enzyme vào bên trong chất dịch chiết xuất từ ADN của phiến lá rồi bỏ vào trong máy PCR, thì chỉ mỗi đoạn ADN có chứa gen di truyền D sẽ được nhân đôi ra nhiều lần.
Lỡ như mã gen di truyền không xuất hiện biến dị, chỉ là mã gen DD thường nên do đó không bị cắt đứt, thì lúc bấy giờ, đoạn ADN được nhân đôi sẽ rất dài. Mặt khác, nếu mã gen là dd thì phần mạch bị bứt ra và được nhân đôi sẽ trở nên rất ngắn.
Để xác định xem đoạn mạch là dài hay ngắn thì Motomura sẽ phải dùng phương pháp “điện di” đối với dung dịch trong máy PCR để xác định chiều dài của mạch. ADN lúc này phải được nhuộm thì mới biểu thị rõ.
Phần máy thực hiện quá trình điện di thoạt nhìn trông như hộp cơm làm bằng nhựa. Bên trong bộ phận khoang chứa có một loại chất lỏng gọi là dung dịch đệm màu trong suốt. Ta sẽ nhúng khối keo được tinh chế đến bóng loáng từ thạch đông vào trong đây. Khối keo có dạng giống rau câu, bên trong chứa sắc tố sẽ nhuộm màu cho ADN khi thực hiện PCR.
ADN được nhuộm màu có thể phản quang và được nhìn thấy bên dưới loại tia tử ngoại đặc biệt. Bên cạnh bộ phận điện di là một chiếc hộp có kích cỡ tương đương một cái tủ lạnh mini. Bên trong là máy chiếu tia tử ngoại. Nếu muốn biết ADN đang hoạt động thế nào bên trong khoang điện di, chúng ta sẽ lấy chất keo ra rồi bỏ nó vào bên trong chiếc hộp nhìn như tủ lạnh kia, sau đó chỉ cần quan sát thông qua cái ô nhỏ để hở được gắn trên cửa hộp là được. ADN được nhỏ vào bên trong chất keo sẽ phát sáng, như vậy là xác định được ngay. Phần máy móc trông như tủ lạnh mini kia còn được trang bị chức năng chụp ảnh khi cần.
Sau khi đã bố trí khối keo vào khoang chứa dung dịch đệm thì dòng điện sẽ chạy qua đó. Chỉ cần chờ một lúc rồi lấy khối keo ra, soi dưới tia tử ngoại để xem có nổi lên những đường kẻ ngang phát sáng hay không. Trường hợp mã gen di truyền có kiểu gen là Dd, đường sáng sẽ hiện lên hai vạch, báo hiệu cho chúng ta biết trong đây có xuất hiện hai đoạn mạch: mạch D không phân chia và mạch d có phân chia. Trường hợp gốc cây là thể DD thì sẽ chỉ nổi lên một vạch sáng, biểu thị rằng nó chỉ có mỗi đoạn mạch không phân chia. Trường hợp mã gen là thể dd, vạch sáng cũng chỉ có một, nhưng vị trí hiện lên sẽ khác so với mã gen mang kiểu gen DD. Điều này có nghĩa rằng ở đây chỉ có đoạn mạch đã phân chia.
Đường vạch sẽ mất một khoảng thời gian để dần dần di chuyển. Với các mạch ADN dài thì tốc độ di chuyển của chúng sẽ rất chậm. Chính vì lẽ đó, phải mất một quãng thời gian để so sánh vị trí của từng đường kẻ vạch nhằm xác định đâu mới là gen DD, còn đâu là gen dd.
Dĩ nhiên là không chỉ có mã gen di truyền D, kể cả các mã gen A, B và C cũng thế, một khi không thể xác định được kiểu gen aa, bb và cc của chúng thì đồng nghĩa với việc ta chưa thể chắc chắn rằng gốc cây này là thể biến dị lần bốn.
Vả lại, với mỗi gen di truyền mà Motomura muốn nghiên cứu, cô phải sử dụng đoạn mồi khác nhau cho từng mã gen. Motomura đã có thể xác định kiểu gen đồng hợp aacc khi quan sát thấy những gốc cây gốc thân trổ lá trễ và cuống lá có màu đỏ phớt rồi. Trong số đó, kỳ quái nhất phải kể đến Khổng Lông. Cô đoán chắc rằng đây chính là thể biến dị lần bốn. Vậy nên cô mới chọn ra 36 gốc cây bao gồm cả gốc có Khổng Lông để trích phiến lá và tiến hành xét nghiệm PCR.
Làm như vậy, ví dụ như với gốc cây của Khổng Lông, Motomura sẽ phải pha chế hỗn hợp enzyme và đoạn mồi dùng cho mã gen di truyền A. Tương tự, sau đó cô còn phải pha chế thêm ba loại hỗn hợp khác dùng riêng cho mã gen B, C và D; trộn chúng chung với chất dịch chiết xuất từ phiến lá, bỏ vào máy PCR rồi tiến hành điện di. Thế tức là nếu xét nghiệm 36 mẫu cây, Motomura phải làm cả thảy 144 loại dung dịch hỗn hợp gồm chiết xuất, đoạn mồi và enzyme thì mới xong thí nghiệm.
Nếu là Motomura của trước kia thì đã đảo mắt và thở ngắn than dài, nhưng cô đã nhìn lại bản thân từ bước ngoặt lấy nhầm mã gen. Motomura của hiện tại khác rồi. Tinh thần khiêu chiến của cô hừng hực, hệt như là một tuyển thủ môn võ karate sẵn sàng tay đối với cả trăm người. Mỗi khi tuyển chọn từng gốc cây nghi ngờ là thể biến dị lần bốn, trích và nấu sơ lá cây, bỏ từng ống dịch chiết xuất vào tủ đông thì mắt cô lại rực lửa như đang muốn thét lên rằng, “Ai cũng được, có giỏi thì tới đây!”
Để không nhầm lẫn mẫu phiến lá, Motomura vô cùng kỹ lưỡng trong khâu xác nhận và dán nhãn cho từng ống Eppendorf. Dù bây giờ có nghĩ thoáng về việc “tận hưởng quy trình thí nghiệm dẫu không chắc sẽ thu được kết quả như dự đoán” thế nào đi nữa, lần này mà mình còn phạm phải sai lầm ngớ ngẩn nào khác thì chắc phải tự chui vào tủ đông để hóa đá luôn trong nhiệt độ -20 độ cho rồi.
“Em thôi ngay đi.”
Lúc cô bày tỏ suy nghĩ như thế với Iwama thì đã bị chị ấy quở trách ngay lập tức.
“Mặc dù dáng người Motomura cũng được tính là nhỏ bé, nhưng em mà chui vào bên trong tủ đông thì chẳng phải sẽ hết chỗ chứa sao? Lỡ như chị cần bảo quản tư liệu thí nghiệm thì sao đây?”
“Lúc đó thì chị chỉ cần lôi em đã đông cứng thành băng ra khỏi tủ rồi đập cho nát vụn trên sàn nhà thôi mà.”
“Kinh lắm! Mấy khối thịt vụn sẽ rã đông mất? Lúc đó thì thế nào?”
“Thì gọi cậu Kato đến quét dọn cho sạch.”
“Em không làm đâu!”
Kato kêu toáng lên. “Sao tự dưng hai người lại nói chuyện gớm ghiếc đó vậy?”
Iwama và Kato đang cùng ngồi bên bàn thí nghiệm, giã lẹp xẹp mấy mẫu lá Arabidopsis thaliana bằng ống chày. Hai người họ đang phụ Motomura. Mấy công đoạn như trộn lẫn đoạn mồi và enzyme, pha dung dịch ấy với chiết xuất từ phiến lá thì sẽ do một tay Motomura xử lý trước khi tiến hành xét nghiệm PCR, vì nếu những tác nghiệm ấy mà sai một ly thì sẽ ảnh hưởng đến tính chính xác của toàn bộ quá trình. Các công đoạn đơn giản trước đó thì Motomura sẽ san sẻ với Iwama và Kato mỗi khi hai người họ rảnh tay. Trước khi đi Borneo, Kawai đã gửi gắm Motomura cho hai người rồi.
“Anh ta nói nghe hệt như lời trăng trối của mấy ông võ tướng thời chiến quốc ấy, ‘Từ nay con trai trưởng của ta trông cậy vào các người’.”
Đấy là so sánh của Iwama.
Motomura thì không thể vui nổi trước câu đùa “trăng trối” kia khi đã biết chuyện giữa thầy Matsuda và Okuno. Nhưng cô vẫn rất biết ơn sự săn sóc của Kawai lẫn lòng tốt của Iwama và Kato khi họ làm đúng với những gì Kawai gửi gắm. Cô đã có thể tự nhiên nhờ đến sự giúp đỡ của mọi người khi làm thí nghiệm rồi.
Một khi xác định được đâu mới là thể biến dị lần bốn, Motomura sẽ phải nhân giống gốc cây ấy rồi mới tiếp tục thí nghiệm. Từng mã gen A, B, C và D có ảnh hưởng cụ thể thế nào lên cơ chế kiểm soát của phiến lá? Thêm vào đó, cô còn phải tạo ra thể biến dị lần bốn từ mã gen AHHO mà vốn dĩ cô tính nghiên cứu nữa.
Chính vì lẽ đó, ngay từ đầu Motomura phải trích được hạt giống từ gốc cây biến dị lần bốn của gen AHO. Nó sẽ được sử dụng trong việc gieo trồng, nhân và phối giống thể biến dị lần bốn nhằm tiến hành thí nghiệm.
Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, mặc dù gốc cây đáng ngờ kia vẫn đang lớn lên từng ngày, nhưng Motomura vẫn chưa thể xác định liệu nó có thật là thể biến dị lần bốn hay không, và rằng trong số các cây ở đây đâu mới thật sự là thể biến dị lần bốn. Để cho chắc ăn, cô còn trích hết hạt giống của 36 gốc cây được xét nghiệm PCR rồi đem đi bảo quản.
Mấy gốc cây Arabidopsis thaliana được gieo trồng lúc đầu sinh trưởng rất thuận lợi, đúng lúc đang ra hạt giống. Kể cả gốc Khổng Lông mà cô lần đầu tiên phát hiện cũng đã bình an vô sự kết hạt. Mặc dù lá của nó không khổng lồ đến mức có thể phá vỡ chamber mà chui ra, nhưng vẫn nom vô cùng khỏe khoắn, lá nào lá nấy to lớn sum suê.
Khổng Lông là gốc cây đầu tiên được đánh dấu là gốc thân trổ lá trễ và cuống lá có màu đỏ phớt, vậy nên Motomura mới trích hạt của nó. Sẵn tiện thì cô cũng trích luôn mẫu lá từ mấy gốc cây này, sau đó bỏ dung dịch chiết xuất từ chúng vào tủ đông.
Mong sao trong số đám này sẽ có thể biến dị lần bốn. Vừa cầu nguyện như vậy, Motomura vừa bỏ từng hạt giống trích được vào trong ống Eppendorf, sau đó không quên kiểm tra lại nhãn dán nhiều lần. Cây Arabidopsis thaliana sẽ cho 30 hạt giống trong một quả. Mặc dù số lượng hạt giống nhiều đến nỗi không dùng xuể, nhưng Motomura vẫn không khỏi nghĩ rằng, trái này trông tươi tốt quá, để rồi thu thập hết chừng trăm hạt mỗi cây. Đây cũng là dấu hiệu cho sự kỳ vọng lớn lao của cô.
Mấy cây Arabidopsis thaliana được chuyển đến chamber của Kawai cũng đang lớn lên từng ngày. Motomura còn phát hiện ra Khổng Lông thứ hai trong số đó nữa. Loại cây có gốc thân trổ lá trễ và cuống lá màu đỏ phớt có xác suất xuất hiện tương đối chính xác với những gì cô trù tính. Motomura đều trích lấy mẫu lá từ những ứng cử viên đắc lực cho vị trí thể biến dị lần bốn này để nấu ra dịch chiết xuất.
Tầm mười ngày sau khi gieo hạt là đã có thể trích mẫu lá rồi. Tuy nhiên, để lấy được hạt giống của từng cây thì phải mất chừng hai tháng kể từ ngày gieo hạt. Hiện tại thì bên trong chamber của cô đã trồng được 480 cây đang trong giai đoạn có thể trích hạt. Bên chamber của Kawai thì đang trồng 240 cây. Motomura có thể trích hạt từ những cây này đúng vào lúc Kawai trở về từ Borneo.
Trong số 1.200 hạt giống mà cô chuẩn bị sẵn, vẫn còn 480 hạt chưa thể được gieo trồng. Sau khi lứa đầu tiên trong chamber của Motomura được trích hết hạt giống thì sẽ lại có chỗ trống. Cô sẽ gieo nốt 480 hạt còn lại ở đây, sau đó vừa theo dõi vừa chăm sóc bọn chúng. Tính thế nào đi nữa thì cũng phải đến tháng Năm mới trích được hạt giống.
Con đường trước mắt sao mà dài quá. Trong phòng giải phẫu, Motomura xắn tay áo khoác mỏng của mình lên rồi bắt tay vào công đoạn gieo hạt cuối cùng. Cô dính từng hạt vào đầu tăm ướt nước rồi đặt chúng lên bông khoáng.
Ngoài cửa phòng có tiếng gõ cửa ngập ngừng. Motomura dạ vâng một tiếng nhưng vẫn không dời tầm mắt khỏi miếng bông khoáng. Bởi vì hạt giống cây Arabidopsis thaliana quá ư là tí hon nên cô mà vô ý bất cẩn một chút thì sẽ không biết mình đã gieo đến miếng bông khoáng nào rồi.
Thế mà cánh cửa vẫn mãi không mở ra. Nếu là học viên cao học thì đã vô tư đi vào mà không cần gõ cửa rồi, hay là cô nghe nhầm nhỉ? Motomura dừng tay, cắm một cây tăm lên miếng bông khoáng làm dấu mình đã gieo đến đây.
“Vâng, mời vào ạ.”
Giọng cô bây giờ lớn hơn ban nãy một xíu, cuối cùng thì cánh cửa cũng mở ra. Fujimaru thò đầu vào.
“Xin lỗi vì đã quấy rầy cô trong lúc làm việc.”
Fujimaru xin lỗi với vẻ ngượng ngùng. “Tôi đến giao cơm trưa, đúng lúc tính đi về thì bị chị Iwama gọi lại. Mọi người sắp sửa dùng bữa rồi đấy ạ.”
Ừ nhỉ, hôm nay là ngày Viên Phục Đình đưa cơm đến. Motomura nhìn vào đồng hồ đeo tay mới biết, đã đến lúc nghỉ trưa rồi.
“Cảm ơn anh nhiều nhé, bây giờ tôi đi ngay.”
Làm cho xong khay này để được nghỉ ngơi hẳn hoi nào. Motomura rút cây tăm ra rồi lại tiếp tục công việc gieo hạt lên bông khoáng chuẩn xác như cái máy của mình.
“Cô lại đang gieo hạt đấy à?”
Fujimaru nói với giọng nửa thán phục nửa ngạc nhiên. Từ lúc vào phòng anh đã luôn nhòm bàn tay của Motomura. Anh ráng nín thở vì sợ sẽ thổi bay hạt giống đi mất.
“Tại vì vẫn còn một nửa số hạt chưa được gieo anh ạ.”
“Ồ...”
Fujimaru vừa nín thở vừa ngắm nghía tay nghề điêu luyện đến đáng kinh ngạc, tưởng chừng như một nghệ nhân của Motomura.
“Mà này, anh cứ thở như bình thường đi, không sao cả đâu.”
Motomura vừa di chuyển cây tăm vừa khuyên nhủ Fujimaru. “Nhắc mới nhớ, có chuyện này tôi muốn nhờ anh Fujimaru một tí.”
“Vâng, chuyện gì ạ?”
“Buổi hội nghị hợp tác mùa hè sắp tới ấy, chỉ có mình tôi trong ban tổ chức...”
“Hội nghị ấy ạ?”
Fujimaru vẽ đường vòng cung bằng lòng bàn tay mình, bộ dạng có vẻ khá đắn đo. Liếc thấy hành động ấy của anh, Motomura không khỏi thắc mắc anh đang vẽ cái gì.
“Đó có phải là kiểu hội nghị thức tỉnh năng lực đang say ngủ của người tham gia chỉ để bán mấy cái bình gốm may mắn cho họ không?”
Motomura mới nhận ra, cái mà Fujimaru vẽ trong không khí có dạng bình gốm.
Tùy theo quy mô mà các buổi hội thảo học thuật thường là dịp để các nhà nghiên cứu và học viên cao học trong nước tụ hợp lại, thi thoảng còn có khách nước ngoài đến nữa, vì lẽ đó nên có khi hội thảo sẽ được tổ chức ở hội trường có sức chứa lớn, nhiều khi còn phải đặt trước phòng khách sạn để mọi người nghỉ qua đêm. Những lúc như vậy, mọi người sẽ phải chứng minh rằng mình là nhà nghiên cứu vì sợ bị hiểu lầm rằng đây là mấy cái chương trình mờ ám kiểu đánh thức bản thân hoặc liên quan đến tôn giáo. Cho nên Motomura mới lạnh lùng mà phủ nhận ngay với Fujimaru, “Anh lầm rồi.”
“Đây là chương trình để mọi người đứng lên phát biểu và giải thích về nghiên cứu của mình cho những người tham gia. Mỗi tuần một lần, phòng nghiên cứu Matsuda cũng tổ chức tọa đàm tương tự.”
“À... trước đây, lúc tôi bị giáo sư Khoai đá cho ngã chổng vó ra ấy...”
Fujimaru gật gù. “Mọi người lúc đó đều đang thảo luận bằng tiếng Anh nhỉ?”
“Đúng rồi. Nhưng buổi hội nghị kia có quy mô còn lớn hơn nữa cơ. Nó được tổ chức vào mùa hè hằng năm, sẽ có rất nhiều nhà nghiên cứu, học viên từ nhiều trường đại học và cơ sở nghiên cứu đến tụ hợp và phát biểu. Hội trường của buổi hội nghị năm nay sẽ là tòa nhà B khu Tự nhiên này.”
“Ở đâu của tòa nhà B ạ? Nếu là phòng nghiên cứu hay phòng giải phẫu thì không thể chứa đủ người rồi ha.”
“Vâng ạ. Nên mọi người đã quyết định lấy giảng đường trên tầng ba ạ.”
“Ô! Ở đây còn có cả giảng đường?”
Nhắc mới nhớ, mình chưa bao giờ lên tầng ba. Fujimaru lẩm bẩm một mình.
“Hội nghị sẽ được tổ chức trong hai ngày, vậy nên tôi có thể nhờ anh giao cơm trưa và cơm tối trong vòng hai ngày đến tòa nhà B này được không ạ?”
“Thành thật cảm ơn cô vì đã tin tưởng chúng tôi, nhưng chuyện này tôi không thể tự quyết định được.”
Lần này, vẻ mặt của Fujimaru trộn lẫn giữa niềm vui sướng và sự áy náy. “Chờ sau khi tôi bàn bạc với ông chủ rồi mới trả lời cô, được không?”
“Dĩ nhiên ạ.”
Motomura báo cho Fujimaru hay ngày khai mạc hội nghị vào hạ tuần tháng Bảy, ngân sách dành cho việc đặt cơm phần, cùng với số khách mời tham gia dự tính là 50 người. Fujimaru lẩm nhẩm để ghi nhớ toàn bộ thông tin cần thiết.
“Cả hai ngày từ sáng đến chiều đều kín lịch thuyết trình. Có khi lịch quá gấp rút, mọi người cũng không thể tận hưởng giờ nghỉ trưa, vậy nên rất khó để đi ăn ngoài.”
“Chà, vậy thì mọi người có thể ăn vội một hộp cơm. Nhưng bữa ăn phải ngon lành và đầy đủ calo để giúp họ thấy tươi tỉnh hơn nhỉ.”
Mặc dù nói phải về bàn bạc với chủ tiệm, nhưng Fujimaru đã háo hức lắm rồi. “Mọi người cả ngày phải ra sức học tập nên chắc sẽ đói bụng dữ lắm. Chà, tôi thì chưa bao giờ học đến nỗi để bụng đói, nhưng theo suy đoán thì chắc là thế.”
“Sẽ đói lắm ạ. Đói cồn cào luôn.”
Motomura nói từ kinh nghiệm của mình. “Sau khi hai ngày hội nghị kết thúc, người thuyết trình lẫn người hỏi đều sẽ thấy choáng váng hết cả đầu. Mọi người nhất định sẽ rất mong đợi bữa ăn, đến lúc đó đành phải trông cậy vào Viên Phục Đình.”
“Tôi hiểu rồi.”
Fujimaru gật đầu với vẻ tự hào. “Nếu là vậy thì tôi sẽ cố gắng thuyết phục chủ quán để được ông ấy đồng ý. Với lại, nếu có thể thì Motomura nên sớm đi ăn trưa đi. Món cơm cuộn trứng sẽ nguội mất.”
Motomura cất khay vừa gieo hạt xong vào bên trong chamber, sau đó theo Fujimaru rời khỏi phòng giải phẫu.
“Sau khi nói chuyện xong với ông chủ tôi sẽ gọi báo cho cô biết.”
Dứt lời, Fujimaru liền hứng trí bừng bừng mà đi xuống cầu thang tòa nhà B. Nếu đặt được cơm phần ngon lành cho mọi người thì Motomura đã tận chức tận trách một phần nhiệm vụ của mình với tư cách là ban tổ chức. Khách khứa nhất định sẽ hài lòng lắm nếu được thưởng thức món ăn của Viên Phục Đình cho xem.
Mong là chủ tiệm sẽ đồng ý. Motomura lặng lẽ gửi lời cầu nguyện theo bóng lưng của Fujimaru, đoạn quay trở về phòng nghiên cứu để ăn phần cơm cuộn trứng của mình.
***
Cánh hoa anh đào bay lất phất.
Tòa nhà B khu Tự nhiên của trường Đại học T vốn nghiêm trang, lại có vẻ sôi động hơn hẳn khi bước vào tháng Tư. Chắc là vì năm nay cao học T cũng đón chào thêm lứa tân sinh viên. Mỗi phòng nghiên cứu đều thầm lặng mở tiệc ăn mừng hết đêm này qua đêm nọ.
Phòng nghiên cứu Matsuda vốn chẳng thu được mống sinh viên mới nào nên vẫn tiếp tục chuỗi ngày thường nhật. Thứ duy nhất có chút thay đổi hẳn là việc trang phục của thầy Matsuda đã có thêm mấy chiếc áo sơ mi màu. Tuy rằng có vẻ như thầy cũng tự ý thức được sự u ám của bản thân, nhưng nếu thầy mà mặc mấy chiếc áo sơ mi sặc sỡ như áo aloha đi biển kia thì trông lại cợt nhả. Rốt cục là sự việc cũng chẳng chuyển biến tích cực hơn.
Nhưng tin vui thì có đấy. Đó chính là Kawai đã bình an vô sự trở về từ chuyến đi Borneo. Matsuda vốn dĩ luôn trong tâm trạng ngồi trên đống lửa, chỉ đến hôm thấy Kawai bình an về nhà thì bầu không khí xung quanh thầy mới nhẹ nhàng và tươi tắn hẳn lên. Bất chấp chuyện thầy vẫn giữ nguyên bộ dạng sơ mi trắng âu phục đen.
Chuyện anh cả của phòng nghiên cứu là Kawai đã trở về đồng nghĩa với việc hội Motomura vô cùng mừng rỡ. Mọi người vây xung quanh anh hỏi về đặc sản đảo Borneo cứ như ong mật vây quanh hoa vậy. Kawai thì cho mọi người xem rất nhiều tấm ảnh chụp những loại thực vật quý hiếm trong rừng rậm. Có loại cây khổng lồ đến mức chưa ai từng được nhìn thấy ở Nhật Bản. Còn có vô số loại thực vật dị dưỡng chỉ bé bằng lòng bàn tay. Bên trong khu rừng rậm rạp ngập tràn cơ man các loại sinh mệnh vô cùng phong phú.
“Hướng dẫn viên bản địa là một cậu chàng hay ho lắm.”
Kawai nói. “Mọi người đều gọi cậu ấy là cậu Jona.”
“Giống tên nhân vật chính trong Bay cùng những ước mơ[34] à?”
Kato hỏi.
“À không, cậu nghe nhầm cả kính ngữ rồi. Dù không có bản đồ hay la bàn trong tay, cậu Jona vẫn có thể dẫn đường cho chúng tôi băng rừng vù vù luôn. Cậu ấy còn dạy cho chúng tôi biết rất nhiều điều về các loại thực vật trong rừng, phân biệt nấm nào ăn được nấm nào không nữa. Có loại nấm trông như họ hàng của loài nấm môi đỏ Nhật có thể ăn được lúc nó còn ở giai đoạn bào tử đấy.”
“Thế anh có ăn không?”
Iwama hỏi với vẻ ngạc nhiên. Đối với người biết tường tận về các loại nấm thì chuyện phân biệt giữa nấm thường và nấm độc còn khó. Huống hồ gì còn có loại nấm mang kịch độc, lỡ mà ăn phải trong rừng là xem như hết cứu.
Thế mà Kawai chỉ thản nhiên gật đầu, “Được mời nên tôi cũng ăn thử xem sao.”
“Vị giống như lớp vỏ ngoài của pho mát Camembert[35] vậy.”
Mặc dù cậu Jona không học về chuyên ngành Thực vật học ở trường đại học hay những cơ sở liên quan, nhưng từ lúc còn nhỏ cậu ta đã thân thuộc với việc sống trong rừng, nên dường như mắt quan sát và kiến thức của cậu về các loại thực vật xuất hiện đầy rẫy trong đời sống lại không hề nửa vời chút nào.
“Lúc nhìn thấy bộ dạng bọn tôi hết quan sát rồi lại thu thập mẫu vật, cậu ấy đã nhanh trí chỉ ra cho chúng tôi các loại thực vật thú vị ngay khi phát giác được. Nhìn thấy loại thực vật dị dưỡng mà cậu ấy bảo rằng có hình dạng hiếm thấy hơn bình thường, tôi phát hiện ra đây quả thật là chủng loại hoàn toàn mới.”
“Ồ!”
Nhóm Motomura không khỏi kinh ngạc. Thực vật phân hủy hầu như không bắt mắt, ngoài thời kỳ nở hoa, nên thường rất dễ bị người ta bỏ qua. Vậy nên không thể nói rằng tất cả chủng thực vật dị dưỡng đều đã được nghiên cứu tất tần tật, huống hồ chỉ gặp một phát là trúng ngay một chủng mới chưa ai khám phá.
“Tôi không khỏi trầm trồ thán phục cậu ấy là người có óc quan sát nhạy bén. Tôi đã được cấp phép để lấy mẫu tiêu bản thực vật dị dưỡng ấy về rồi. Về sau phải nghiên cứu nó tỉ mỉ hơn, nhưng vì đây là chủng thực vật mới nên tôi sẽ hỏi thử cậu Jona xem nên đặt tên gì cho nó.”
Trường hợp cần đặt tên cho chủng côn trùng hay thực vật mới, quyền đặt danh pháp cho chúng sẽ thuộc về người đã phát hiện và công bố chúng với mọi người. Trong giới nghiên cứu côn trùng có rất nhiều trường hợp, người đặt tên lấy tên mình để đặt cho loài mới, nhưng giới nghiên cứu thực vật không làm thế. Chỉ khi người phát hiện chủng mới và người đặt tên là hai người khác nhau, thì người ta mới lấy tên của người phát hiện để đặt danh pháp. Motomura thi thoảng lại thấy học viên Thực vật học đùa với học viên Côn trùng học rằng, “Do bọn tao khiêm tốn thôi”, “Mày nói gì chứ”,... nhưng đó đơn giản chỉ vì thói quen của hai bên khác nhau.
Ở trường hợp lần này, người phát hiện và người đặt tên lại là hai người khác nhau, dễ chừng chủng thực vật dị dưỡng mà cậu Jona tìm thấy sẽ được ghi vào trong sử sách toàn cầu dưới tên riêng của cậu ấy cũng nên.
Người như anh Fujimaru hóa ra tồn tại khắp thế giới nhỉ, Motomura nghĩ thầm. Mặc dù không uyên bác như các nhà chuyên môn, nhưng họ lại mang trong mình thú vui tìm tòi về thực vật hoặc là môn Thực vật học, để rồi tiếp cận với cỏ cây bằng lòng hiếu kỳ của bản thân. Thực vật và côn trùng vốn dĩ là những loài hết sức gần gũi với chúng ta nên có rất nhiều người yêu thích chúng. Có khi người ta còn thu được những phát kiến không ngờ tới từ óc quan sát hằng ngày của những người đem lòng yêu mến côn trùng và thực vật.
Nghiên cứu vốn không phải là công việc làm vì lợi ích của những nhà nghiên cứu, mà là để đưa cho những người yêu thích thực vật những tri thức dễ hiểu, rồi một ngày nào đó, họ lại đem đến cho nghiên cứu những tri thức mới mẻ khác. Những nhà nghiên cứu và những người yêu mến thực vật sẽ cùng nhau bắt tay trong việc gia tăng số người yêu thích thực vật, nhằm truyền tải với mọi người tầm quan trọng của việc duy trì tính đa dạng loài. Đó cũng là một nhiệm vụ hết sức trọng đại của người làm nghiên cứu.
Nếu được cậu Jona mời thì anh Fujimaru nhất định sẽ mừng rỡ mà ăn thử cây nấm kia. Motomura nghĩ. Anh ấy chắc còn nghĩ ra công thức mới dành cho chủng nấm ấy nữa.
Thông qua thực vật, sự tồn tại của những con người mang tâm hồn rạng rỡ lại được người ta phát hiện. Mặc dù Borneo cách Nhật Bản rất xa, nhưng bằng cách này hay cách khác, bọn họ đều thân quen và yêu mến thực vật. À không, ngay cả ở những mảnh đất cằn cỗi ít cây cối, con người sẽ luôn di chuyển đến vùng nước nơi có thực vật tốt tươi, hoặc là đem lòng ngưỡng mộ mùa xuân ngắn ngủi khi hoa cỏ sum suê nở rộ.
Ánh sáng lập lòe phát ra từ tâm hồn của bọn họ chính là thứ bao phủ và gắn kết Trái đất này lại với nhau, Motomura không khỏi suy tưởng.
Trong số những món mà Kawai xin phép lấy về từ Borneo, ngoại trừ mẫu tiêu bản chủng thực vật dị dưỡng kia, còn có một gốc cây Monophyllaea. Đây là gốc cây mà anh Bran ở Đại học B trồng được. Nếu mẫu cây dính đất thì sẽ không qua được hải quan, vậy nên rễ cây được tỉa ngắn nhất có thể, phiến lá cũng được cắt bỏ những phần bị tổn thương, và gốc cây rốt cục cũng đến nơi trong tình trạng khỏe mạnh.
Tạm thời nó đang được gửi trong nhà kính để Kato “ngón tay xanh” chăm sóc. Thấy Motomura lo sợ mình sẽ làm cây Monophyllaea héo mất, Kato bèn nắm chặt tay lại cam đoan với cô rằng, “Cứ để em chịu trách nhiệm chăm sóc em ấy cho đến khi vững rễ trong chậu đi!”
Mỗi gốc cây chỉ cho ra đúng một chiếc lá, nhưng phiến lá này còn to hơn cả khuôn mặt của Motomura. Nếu có thể xác định thể biến dị lần bốn của cây Arabidopsis thaliana thì một ngày nào đó mình sẽ nghiên cứu tiếp về gen di truyền của chủng Monophyllaea, Motomura vui vẻ chờ mong. Nếu so sánh Arabidopsis thaliana và Monophyllaea, có lẽ những thắc mắc về loại đột biến nào xảy ra trong gen di truyền ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát phiến lá sẽ rõ ràng hơn nhiều.
Nhờ có sự trợ giúp của Kato, Motomura cũng đã nắm chắc việc giải phẫu mẫu ớt cựa gà. Chuyện này không liên quan gì đến nghiên cứu, hoàn toàn là vì sở thích cá nhân. Hạt giống cô nhận từ thầy Matsuda đã được chuyển vào gieo trong môi trường nuôi trồng của nhà kính. Nếu suôn sẻ thì đến hè, cô có thể thu hoạch được trái ớt.
Cứ thế, phòng nghiên cứu Matsuda đã đón chào năm học mới với những gương mặt cũ kỹ, và trong bầu không khí an lành.
Nhóm Motomura cũng chạy qua chạy lại giữa mấy buổi tiệc mừng tân binh của các phòng nghiên cứu khác trong tòa nhà B nhằm làm thân với hội học viên mới. Phòng nghiên cứu Morooka kế bên đón vào những ba thạc sĩ năm nhất. Matsuda có vẻ ghen tị lắm, thầy còn nói rằng, “Rõ là vì khoai có thể ăn được còn Arabidopsis thaliana thì không đây mà.” Tiệc mừng của phòng nghiên cứu Morooka toàn những khoai là khoai. Hết rượu sochu ủ từ khoai, đến trò ăn thử khoai sấy thầy Morooka tự tay làm rồi đoán tên loại khoai nữa chứ. Vị giác của Motomura vốn dĩ không tinh cho lắm, thêm việc lúc đó cô đang say bí tỉ nên chả đáp trúng nổi lần nào.
Sau khi được Kawai cho xem mấy bức ảnh chụp các loại khoai ở Borneo, thầy Morooka có vẻ vui lắm. Motomura có chuyển lời nhờ vả của thầy đến Kawai, nên anh đã chụp rất nhiều ảnh về. Hoặc là ảnh khoai bán ngoài chợ ở Borneo, hoặc là ảnh khoai trong ruộng một ngôi làng nào đó ven đường đến khu rừng. Thầy Morooka đỏ ửng cả mặt khi ngắm từng bức ảnh trên màn hình laptop, chẳng biết là vì vui hay vì rượu.
Lúc mọi người mở cửa sổ phòng nghiên cứu đang náo nhiệt ra thì làn gió xuân chợt ùa vào. Giữa màn đêm, cây hoa anh đào lặng thinh gửi những cánh hoa vào trong gió. Nhắc mới nhớ, Motomura nghĩ, người ta chưa bao giờ dùng cụm “hoa tàn” cho hoa anh đào cả. Những cánh hoa mỏng manh tinh khôi tản mác khắp thinh không như đang khắc họa nên quỹ đạo của vô số con đom đóm giữa đêm tối này.
***
Sau khi bầu không khí mở tiệc mừng náo nhiệt đã qua đi, Motomura quyết định đã đến lúc thực hiện quy trình PCR và điện di rồi. Tất cả 36 mẫu cây nghi ngờ là thể biến dị lần bốn đều đã có chất dịch chiết xuất từ phiến lá.
Motomura thận trọng lựa chọn đoạn mồi cần thiết để thực hiện PCR. Nếu sử dụng sai đoạn mồi thì ADN sẽ nhân đôi sai đoạn mạch, đến lúc đó thì đúng là bi kịch.
Kể từ pha lấy nhầm mã gen di truyền dạo đó, Motomura trở nên hoài nghi hết sức về năng lực chú ý và sức tập trung của mình, vậy nên cô đã rèn ra thói kiểm tra tới lui nhiều lần. Lúc lưu trữ lại hạt giống cây Arabidopsis thaliana trong ống Eppendorf cũng vậy, cô chỉ dán nhãn lên ống sau khi đã nghiêm túc kiểm tra. Không hài lòng với sức dính của keo dán, cô còn dán thêm băng keo trong lên nhãn cho chắc ăn. Có thể nói rằng tính nghiêm khắc trời sinh của cô đã được mài giũa đến độ mấy hạt giống như đang trổ mầm phỏng theo động tác giơ tay xin hàng trước áp lực từ ánh nhìn của Motomura vậy.
Bên cạnh Motomura đang mải nhìn chằm chằm vào màn hình laptop để tuyển chọn đoạn mồi được gợi ý, Matsuda bỗng vấp phải chồng giấy tờ cao như núi chất trên sàn nhà. Mấy xấp giấy tờ và tạp chí nghiên cứu như sắp cất lời càm ràm đến nơi.
“Thầy à! Làm ơn mau chóng dọn dẹp lại cái mớ này đi!”
Điều này khiến cho thầy bị Iwama mắng cho một trận. “Mớ giấy tờ này đang dần xâm lấn sàn nhà tuốt từ sau bình phong đây này!”
Matsuda thành khẩn nói lời xin lỗi với chị, nhưng bộ dạng thầy thì vẫn lơ đãng trong khi xếp lại chồng tư liệu. Cảnh tượng vừa rồi nom cứ như trò xếp gạch bị đổ vì các góc chênh nhau ấy. Chắc là lần này trong đầu thầy ấy lại đầy ắp nghiên cứu mới rồi.
Motomura giúp Iwama chất lại mớ giấy tờ trong khi nghĩ ngợi rằng, không phải cứ nghiêm túc làm mọi thứ thì mới hay. Tuy giáo sư Matsuda là kiểu người sẽ để nước chảy lênh láng từ mối nối ống nước và chồng ra núi giấy tờ cao ngất, nhưng thầy ấy lại luôn luôn chính xác trong thí nghiệm và luôn luôn lấp đầy nghiên cứu bằng toàn bộ nguồn cảm hứng và khí thế của mình.
Tự nói với bản thân rằng mình đã kiểm tra tới lui đủ rồi, Motomura bèn nhấn đặt hàng những đoạn mồi cần thiết. Sắp sửa đến giai đoạn cuối cùng của thí nghiệm rồi. Cứ nghĩ đến chuyện mình sẽ biết được mẫu Arabidopsis thaliana nào mới là thể biến dị lần bốn, Motomura lại không kiềm chế nổi cơn rùng mình.
Hôm sau, đoạn mồi đã được gửi đến phòng nghiên cứu ngay lập tức. Để sử dụng được chúng, đầu tiên Motomura phải bắt tay vào làm ra hỗn hợp pha với chiết xuất từ phiến lá.
Việc đặt chất dịch chiết xuất từ phiến lá vào máy PCR là nhằm nhân bản ADN của Arabidopsis thaliana lên. Tuy nhiên, chẳng có gì sinh ra từ số không cả. Nếu có hiện tượng như thế thì ngành khoa học nên treo biển thành ngành ma pháp luôn cho rồi. Để có thể nhân bản ADN thì tất nhiên ta cần nguyên liệu là ADN, tức chất dịch chiết xuất từ phiến lá.
Bên trong chất dịch bao gồm enzyme, đoạn mồi và mẫu ADN của phiến lá, tiếp theo là dung dịch đệm làm xúc tác cho quá trình điện di. Phân lượng cần thiết cho mỗi dung dịch phải được lấy bằng ống hút pipet và nhỏ vào ống Eppendorf rồi mới trộn lẫn với nhau. Chỉ lắc lắc ống nghiệm thôi thì các hóa chất sẽ không thể hòa tan vào nhau được, cho nên Motomura phải dùng đến loại máy gọi là “máy lắc vortex”.
Máy lắc vortex là loại máy cỡ nhỏ được đặt một góc trên bàn thí nghiệm. Kích thước của nó chỉ cỡ một cái máy chuốt bút chì chạy điện, với một lớp cao su gắn vào phần đế bằng nhựa cứng. Tuy nhiên, bộ truyền động này lại không xoay vòng. Khi gắn ống Eppendorf vào máy, nó sẽ chỉ rung lên thật mạnh mà thôi. Hỗn hợp bên trong ống Eppendorf sẽ được khuấy trộn theo từng đợt xung động. Máy lắc vortex chỉ tồn tại vì mục đích đó.
Mỗi lần sử dụng máy lắc vortex, Motomura lại không khỏi thán phục công nghệ khai thác các loại máy móc thí nghiệm đặc thù. Thi thoảng, cô sẽ cho ngón tay mình tiếp xúc với máy lắc vortex đang chạy mà không có ống Eppendorf để cảm nhận độ rung mãnh liệt của nó. Mỗi lần chạm vào là ngón tay Motomura lại rung lên bần bật theo một quy luật nhất định. Tuy rằng máy lắc vortex có mục đích khá đơn giản và rõ ràng, nhưng nó cũng mang trong mình vẻ thú vị rất riêng.
Chỉ có điều, vì máy lắc vortex chỉ biết rung lắc một cách mãnh liệt và mù quáng, nên có khi nó sẽ khiến dung dịch rỉ nước và bắn ra ngoài, hoặc làm văng ống Eppendorf lên tường. Đây là loại hỗn hợp có pha đoạn mồi và enzyme đắt tiền, thế nên Motomura không muốn lãng phí dù chỉ một giọt. Dù có rỉ nước bắn lên tường đi nữa thì cô cũng muốn hốt nó vào lại trong ống nghiệm.
Không biết đây là chuyện đáng kinh ngạc hay quá ư là hiển nhiên, khi xét về lòng nhiệt huyết luôn muốn phát minh ra các loại máy móc mới dùng trong thí nghiệm của các doanh nghiệp, mà Motomura biết rằng thậm chí có cả loại máy loại trừ những giọt nước bắn cơ. Nó là chiếc máy ly tâm cỡ nhỏ để bàn gọi là “Chibitan”.
Máy Chibitan có hình dáng nom như máy bắt muỗi loại dùng chất lỏng vậy. Kato còn bảo rằng trông nó hệt như người máy R2-D2 trong Star Wars. Khi mở cái nắp hình vòm ra, ta sẽ thấy bên trong là bệ đỡ có vài mấu lõm. Chỉ cần cài ống Eppendorf vào bên trong những mấu lõm ấy, đóng nắp lại rồi bật nút lên là bệ đỡ sẽ xoay vòng với gia tốc chóng mặt và không còn những giọt nước nào bị bắn lên vách tường hai bên nữa.
Máy móc thí nghiệm quả thật vẫn luôn là thị trường đặc thù đầy tiềm năng. Motomura không khỏi nghĩ thế khi ngắm nhìn máy Chibitan đang vô tư xoay vòng. Nhưng nó đích thực là một cỗ máy hết sức tiện lợi. Học viên cao học nào cũng yêu mến Chibitan, nên ban đầu Motomura còn tưởng “Chibitan” là tên gọi yêu[36] cơ. Thế nhưng có hôm nhìn kỹ lại cô mới phát hiện trên máy ghi rõ dòng CHIBITAN. Hóa ra “Chibitan” là tên sản phẩm? Nghe đáng yêu thế. Motomura càng yêu mến Chibitan hơn.
Nhờ sự đắc lực của máy lắc vortex và Chibitan mà hỗn hợp đã được ra lò một cách bình an vô sự. Motomura dùng ống pipet để chia nhỏ nó vào 12 ống nghiệm PCR. Gen di truyền mà cô muốn nghiên cứu gồm bốn loại A, B, C và D, vậy nên cô phải chia đoạn mồi ra để sử dụng cho từng loại mã gen. Dĩ nhiên là cô cũng làm ra bốn loại hỗn hợp và dán nhãn đàng hoàng lên ống PCR để tránh nhầm lẫn.
Rồi, tiếp theo là công đoạn pha chiết xuất từ phiến lá với hỗn hợp đã được chia nhỏ vào ống PCR. Motomura mở tủ lạnh lấy ống Eppendorf cỡ nhỏ chứa chiết xuất đang được bảo quản ra ngoài. Vì lượng dung dịch khá ít nên dù có bị đông lại chúng cũng sẽ rã ra ngay. Nhưng sợ hai bên thành ống nghiệm sẽ còn vương vãi vài giọt hỗn hợp li ti, Motomura đành nhờ đến sự trợ giúp của Chibitan.
Cô dùng ống pipet hút chiết xuất từ phiến lá đọng dưới đáy ống Eppendorf cỡ nhỏ lên rồi nhiễu vào ống PCR.
Việc chuẩn bị cho quy trình PCR xem như đã hoàn tất. Tính ra thì có tổng cộng 144 hỗn hợp chiết xuất dành cho 36 mẫu lá và bốn lần chuẩn bị. Nhưng máy PCR của tòa nhà B chỉ có 96 đế ống. Thế là cô đành phải chia làm hai lần PCR.
Đầu tiên là nhóm thứ nhất. Motomura đặt tám bộ, mỗi bộ gồm 12 ống nghiệm, vào bên trong chiếc máy nom như máy in đời cũ. Khi âm thanh lục bục lục bục phát ra thì tức là máy PCR đang khởi động rồi. Mỗi lần sử dụng máy PCR đều phải nghe thứ tiếng ồn chói tai này, khiến Motomura không khỏi muốn mở miệng cổ vũ nó. Cô chỉ sợ lỡ như chiếc máy kêu bụp một tiếng rồi hỏng luôn.
Phải mất tầm hai, ba tiếng thì mới xong quá trình nhân đôi ADN. Trong lúc đó, Motomura còn phải chịu đựng cái tiếng lục bục lục bục kia, nên không lý nào cô lại thảnh thơi ngồi chờ.
Công đoạn tiếp đến là quá trình điện di. Phần này thì phải đi chuẩn bị khối keo để còn dùng đến. Motomura bỏ chất agarose làm nhiệm vụ kết dính khối keo cùng dung dịch đệm vào bên trong một cái bình hình tam giác rồi đem bỏ vào lò vi sóng. Nói một cách đơn giản thì agarose là chất có dạng bột như bột làm rau câu, nhưng lại phấn mịn hơn nhiều. Vì lẽ đó, có thể nói rằng, so về giá cả dựa theo khối lượng thì nó còn đắt hơn cả kim cương. Mỗi lần sử dụng agarose, Motomura đều băn khoăn không biết mình nên làm gì nếu bản thân lỡ hắt xì khiến bột bay tứ tán.
May mắn là cô đã hoàn tất công đoạn này mà không có cái hắt xì nào, còn bột agarose nhờ nhiệt độ lò vi sóng cũng đã trở thành chất lỏng. Trong phòng thí nghiệm có nhiều nhất là tủ đông, nhưng lò vi sóng cũng góp mặt, chỉ có điều, theo lệ rất nghiêm, đừng nói đến nấu nướng, ngay cả đồ ăn thức uống cũng bị cấm mang vào. Nếu bị trộn lẫn với dị vật bên ngoài thì thí nghiệm sẽ tiêu tùng, nhưng trên hết vẫn là vì bên trong phòng thí nghiệm có rất nhiều vật chất nguy hại tới cơ thể người, lỡ mà ăn nhầm vào thì chắc chắn sẽ nguy to.
Nếu là anh Fujimaru thì nhất định có thể làm ra món rau câu tráng miệng ngon tuyệt chỉ sử dụng những trang thiết bị trong phòng thí nghiệm nhỉ. Nguyên nhân mình có tài nấu nướng không được điêu luyện cho lắm có phải là vì chỉ dành thời gian để cắt giã lá cây Arabidopsis thaliana, cho nên thiếu hụt kinh nghiệm xử lý nguyên liệu nấu ăn không nhỉ?
Vừa suy nghĩ vẩn vơ, Motomura vừa lấy bình tam giác ra khỏi lò vi sóng. Motomura tuy không có “lưỡi mèo”[37] nhưng lại được cái “tay mèo”, cho nên cô phải quấn một cái khăn xung quanh cổ bình tam giác.
Nhân lúc agarose hãy còn nóng, Motomura rót nó vào một cái khuôn chuyên dụng, sau đó cô lại dùng ống pipet nhiễu một ít giọt dung dịch nhuộm màu ADN vào trong khuôn rồi trộn chúng lại với nhau. Xong xuôi thì chỉ việc chờ cho khối keo nguội rồi đông lại nữa là hoàn tất.
Bên trong khuôn có gắn mấy cái lược trông như lược chải đầu. Chúng tạo ra từng rãnh khuôn để chia nhỏ khối keo. Lúc sau chỉ cần rót hỗn hợp chiết xuất từ phiến lá làm PCR vào trong những khe rãnh này là được.
Khi khối keo đã cứng lại rồi, cô sẽ nhấc lược ra. Trước đó Motomura còn phải đổ dung dịch đệm vào trong khuôn. Như vậy thì sẽ tránh được trường hợp dung dịch đệm làm tắc khe lược, khiến cho khối keo không thể tách ra.
Đến chiều, máy PCR mới dừng kêu lục bục. Motomura liền lấy ống PCR ra khỏi máy. Nhìn bằng mắt thường sẽ không thấy có biến đổi gì, nhưng số lượng ADN của cây Arabidopsis thaliana bên trong nhất định đã được nhân bản lên rất nhiều rồi.
Motomura đặt từng khuôn keo vào thùng điện di đổ đầy dung dịch đệm. Bước tiếp theo là rót dung dịch ADN nhân bản vào từng chỗ lõm trên khối keo đang chìm trong chất lỏng. Nói thì nói thế, nhưng chuyện này tương tự việc đứng bên cạnh thành hồ bơi mà đổ canh vào từng lỗ nhỏ chìm bên dưới hồ, nghe thì dễ chứ làm mới khó.
Giải pháp cho trường hợp này chính là, tỷ trọng của món canh, hay nói cách khác là dung dịch, phải nặng hơn dung dịch đệm đang nhấn chìm khối keo.
Motomura dùng ống pipet hút dung dịch từ trong ống PCR ra rồi nhỏ từng giọt có đường kính khoảng hai milimet thành hàng trên một tấm màng parafilm.
Màng parafilm nom như một lớp màng bọc mỏng, nửa trong suốt, được làm từ chất parafin (nến). Nó có độ co giãn như kẹo dẻo, dùng để đậy lên các loại vật chứa để được kín khí hơn, còn rất hay được sử dụng nhằm mục đích cố định cành lá khi thực hiện ghép cành nữa. Vì màng parafilm có tính chất kháng ẩm nên những lúc thí nghiệm, Motomura rất ưa dùng món này thế cho thảm giấy, xong việc chỉ cần vứt đi.
Motomura lại dùng ống pipet nhiễu từng giọt chất lỏng gọi là dung dịch nạp mẫu vừa có sắc tố xanh lam, lại vừa có tỷ trọng nặng hơn, lên những giọt dung dịch đang nằm trên màng parafilm. Vì đối tượng là những giọt nước lớn chưa bằng đầu ngón tay út, nên đây là thao tác đòi hỏi tính tỉ mỉ. Bằng cách hút lên hút xuống từng giọt dung dịch với ống pipet, chúng đã được trộn đều với dung dịch nạp mẫu và chất chiết xuất từ phiến lá đã qua PCR. Một khi pha trộn xong, Motomura sẽ dời ống pipet lên trên thùng điện di để nhiễu từng giọt dung dịch vào bên trong lỗ keo. Những giọt chất lỏng vốn đã nhỏ xíu nên phải mất rất lâu thì từng lỗ keo mới đầy được. Đây là công việc đòi hỏi độ cứng tay và sự tập trung cao độ.
Giai đoạn nào của thí nghiệm cũng có thao tác cần đến thần kinh thép. Trước kia, có lần Iwama đang nhiễu dung dịch vào khối keo thì chuông báo cháy vang lên. Đúng lúc đó, Motomura cũng đang ở trước bàn thí nghiệm cắt phiến lá Arabidopsis thaliana. Bị giật mình bởi tiếng chuông chói tai, cô ngay lập tức chạy ra ngoài hành lang. Kato và Kawai cũng vọt ra khỏi phòng nghiên cứu và ngơ ngác hỏi gì đó gì đó.
Rốt cục thì đấy là báo động giả, Motomura nghe vậy mới yên tâm quay trở về phòng thí nghiệm. Iwama lúc bấy giờ vẫn còn nhiễu từng giọt dung dịch vào khối keo với nét mặt tập trung cao độ.
“Hả, chuông báo cháy có kêu sao?”
Iwama hỏi. Sức tập trung tốt đến mức khiến người ta phát hờn. Lỡ mà xảy ra hỏa hoạn thật thì không biết người này có bị khói lửa vây hãm cùng với đám keo không đây. Motomura đã rất lo lắng cho chị.
Hình như trong tòa nhà B cũng có vài học viên chẳng mảy may xao động mà vẫn tiếp tục công tác thí nghiệm hoặc quan sát của mình khi chuông báo cháy vang lên, hệt như Iwama. Ban giám hiệu có vẻ đã bày tỏ nỗi quan ngại trước tình hình này, thế là hôm sau, Matsuda liền nghiêm giọng thông báo với toàn thể mọi người trong phòng nghiên cứu:
“Một khi có chuông báo cháy vang lên, đầu tiên ta phải xác định nguồn gốc của vụ hỏa hoạn rồi liên lạc ngay với đội cứu hỏa. Mọi người nhớ hãy vừa lớn tiếng kêu cứu với những người xung quanh, vừa thực thi nhiệm vụ dập lửa sơ bộ. Nếu thấy khói bốc lên quá nhiều vượt khỏi tầm kiểm soát của bản thân thì phải dừng lại ngay lập tức. Không được tiếp tục di chuyển những chậu cây đang trồng nữa mà phải sơ tán tức thì, đồng thời kêu gọi những người xung quanh sơ tán theo.”
Giọng điệu của giáo sư nghe như, đến lúc thật sự cấp bách, thầy sẽ ưu tiên sự sống chết của thực vật hơn là sinh mạng của người khác...
“Mà thôi, bản thân thầy Matsuda lúc đó vẫn ngồi lỳ ở bàn làm việc thơ thẩn viết luận văn ấy mà.”
Anh Kawai về sau mới kể ra với giọng ngao ngán. Chắc là thầy Matsuda cũng không chú ý tới âm thanh to như vậy.
Rồi, thời gian để khối keo được điện di trong thùng sẽ mất từ 30 đến 40 phút. Vì chiều ngang của khối keo có giới hạn nên trong một lần không thể điện di hết toàn bộ dung dịch trong ống PCR. Motomura ban đầu đã chọn dung dịch của Khổng Lông số 1 và dung dịch của mẫu cây gốc thân trổ lá trễ, cuống lá màu đỏ phớt khác. Vì đoạn mồi sử dụng cho bốn mã gen di truyền A, B, C, D hoàn toàn khác nhau, nên cô phải làm những bốn lần, tổng cộng là tám loại hỗn hợp cho từng mã gen mới xong.
Sau khi đã nâng tỷ trọng của tám loại hỗn hợp đó, Motomura còn phải dùng ống pipet cẩn thận nhiễu chúng vào trong khối keo nữa. Đến đây cô sẽ chính thức biết được đâu mới là thể biến dị lần bốn. Thời gian 40 phút chờ kết thúc điện di sao mà đằng đẵng. Nhịp tim của Motomura không khỏi tăng lên khi cô chìm trong tâm trạng vừa muốn biết sự thật lại vừa sợ hãi nó.
Motomura vừa canh giờ vừa làm tiếp một khối keo nữa. Cô dòm vào thùng điện di mà nghĩ, sắp rồi sắp rồi. Nhờ có thuốc nhuộm màu xanh lam nhỏ vào hỗn hợp mà cô mới biết khối keo bên trong đã di chuyển đến đâu. “Chắc là được rồi”, nghĩ đoạn, Motomura liền đeo găng tay loại mỏng vào. Đây là loại găng tay nửa trong suốt dùng một lần dành cho những người phải làm những việc đụng tới nước bên trong nhà bếp nhưng lại sợ chất tẩy rửa làm thô ráp bàn tay. Lúc chạm vào khối keo thì bắt buộc phải sử dụng găng tay.
Motomura bắt lấy khối keo trong thùng điện di rồi nhấc nó ra khỏi khuôn. Cảm giác như đang chạm vào một khối rau câu vậy. Nom nó rung rinh vui vẻ chưa kìa.
“Tối nay cô tính ăn oden[38] à?”
Nghe có tiếng nói vang lên, Motomura suýt chút nữa đánh rơi khối keo quý giá của mình. Cô giật mình ngoái đầu lại thì thấy Fujimaru đang đứng ngay cửa phòng thí nghiệm.
“Tôi đã nghĩ ra thực đơn cho hội nghị rồi. Tôi vào tí được không?”
“Vâng ạ, mời anh.”
Motomura đáp. Thật lòng mà nói thì đây không phải là lúc để thảo luận về thực đơn cơm phần, nhưng đành chịu. Từ lúc nhận được sự nhờ vả từ Motomura, Fujimaru đã ngay lập tức thuyết phục được ông chủ tiệm Viên Phục Đình, nghĩ tới nghĩ lui về phần cơm và những nguyên liệu mình sẽ nấu. Bất chấp việc từ đây đến hội nghị hợp tác còn những ba tháng trời, anh vẫn luôn sốt sắng, với những câu hỏi như, “Ông chủ bảo tôi hỏi cô rằng có ai không ăn được thứ gì do dị ứng hoặc vì lý do tôn giáo không”, hoặc là, “Tôi đang nghĩ thực đơn cơm phần ngày đầu tiên nên là món Nhật, còn ngày thứ hai là món Âu...”
Cả Tsuburaya lẫn Fujimaru đều rất vui vẻ tiếp nhận công việc vừa mất thời gian lại còn chẳng khá khẩm gì mấy này. Nghĩ đến lòng nhiệt tình của hai người họ, Motomura thật sự không thể nào đang tâm thẳng thừng từ chối Fujimaru.
Bước vào phòng thí nghiệm, Fujimaru liền đến đứng bên cạnh Motomura rồi dòm vào khối keo với vẻ hết sức tò mò.
“Đây chẳng phải là rau câu sao?”
Motomura muốn trêu anh một chút nên liền thừa nhận:
“Đúng rồi đó.”
Nghe vậy, Fujimaru liền nghiêm mặt gật đầu. “Mặc dù hoa anh đào đã rụng cả rồi, nhưng tôi lại nghĩ đây là thời điểm thích hợp để ăn oden.”
Vấn đề ở đây không phải là thời tiết, chẳng phải anh nên thắc mắc rằng trong phòng thí nghiệm vốn không được nấu ăn sao? Motomura liếc trộm sang Fujimaru với vẻ hoài nghi. Fujimaru thì lại thành thật tự hỏi.
“Đây chẳng phải là món tráng miệng rau câu sao? Làm gì mà cô phải đeo găng tay vào thế?”
Motomura suy nghĩ xem mình có nên nói anh biết đây không phải rau câu mà là agarose hay chăng, nhưng rồi lại thôi. Cô chả dư hơi đi giải thích tường tận cho anh hiểu. Còn phải nhanh chóng chiếu tia tử ngoại lên khối keo để xác định tốc độ chuyển động của ADN nữa chứ.
“Đây là chất được dùng để trộn chung với thuốc nhuộm ADN, nhìn khá giống món rau câu chứ thực chất nó có hại cho cơ thể lắm.”
Fujimaru vừa tính xán lại gần khối keo thì lập tức hoảng hồn nhảy ra xa. Bình thường nom Fujimaru không khác gì một chú chó bự, giờ thì lại như mèo.
“Xin lỗi vì đã chọc anh sợ.”
Motomura vừa cười vừa nói. “Dù có tiếp xúc trực tiếp cũng không sao đâu ạ.”
Fujimaru bước chậm từng bước về lại chỗ cũ, thế nhưng anh cũng không muốn sờ vào khối keo nữa mà chỉ một mực chắp tay ra sau lưng. Quả nhiên là một chú mèo hoang có tính phòng vệ rất cao nha.
Tuy rằng trong phòng đích thực có những loại vật chất cực kỳ nguy hại đối với con người, nhưng những hóa chất chuyên dụng ấy đã trở thành điều gì đó rất bình thường của Motomura. Dĩ nhiên là lúc sử dụng chúng cô đều phải cẩn thận chú ý, lúc tiến hành tiêu hủy cũng phải tuân theo quy định nghiêm ngặt. Chỉ có điều trong lòng cô không có mấy cảm giác sợ hãi đối với chúng. Vậy nên phản ứng của Fujimaru trước “vật chất không xác định” này mang lại cho Motomura cảm giác vô cùng mới lạ. Mặc dù đúng là phải sử dụng chúng thường xuyên thật đấy, nhưng điều đó không có nghĩa mình nên buông lỏng đề phòng. Motomura lại một lần nữa dặn dò bản thân.
Trước con mắt nhìn chằm chặp của Fujimaru, Motomura bỏ khối keo vào trong máy scan nhòm như một chiếc tủ lạnh mini. Cô thở ra một hơi thật mạnh rồi mới tính bật công tắc chiếu tia tử ngoại. Rốt cục thì cũng biết ADN đang di chuyển với tốc độ thế nào. Nhờ có tia tử ngoại mà quỹ đạo chuyển động của chúng sẽ được hiển thị rõ lên. Đầu ngón tay cô tê buốt vì căng thẳng.
“Cái đó cũng dùng để nghiên cứu à? Trông mới lạ thế.”
Vì Fujimaru đột ngột cất lời nên Motomura không thể bật công tắc, mặc dù chỉ một chút nữa thôi là cô đã vặn được nó rồi. Đây là thời khắc quan trọng nên Motomura hiếm hoi lắm mới nhìn sang Fujimaru như thể đang muốn nói, anh có thể chờ lúc sau hãy nói được không.
Liền lúc đó, cơn khó chịu trong lòng Motomura tan biến ngay. Bởi vì Fujimaru đang nhòm vào máy scan keo với nét mặt vẫn còn nguyên vẻ nghiêm túc. Anh Fujimaru vốn không muốn quấy nhiễu mình làm thí nghiệm, chẳng qua vì tò mò nên mới hỏi mình thôi. Thấy thế, Motomura bèn tạm gác lại chuyện chiếu tia tử ngoại để lắng nghe những gì Fujimaru muốn nói. Cô cảm thấy hổ thẹn vì đã nóng nảy với Fujimaru trong lúc bản thân không kìm nén được lòng sốt sắng với cao trào thí nghiệm trước mắt.
Dĩ nhiên là Fujimaru không biết được những xáo trộn trong lòng Motomura.
“Thí nghiệm của Motomura chuẩn bị đến thời khắc quan trọng à?”
Anh bắt đầu hỏi.
“Vâng ạ.”
Cô hơi bất ngờ vì anh nói trúng tim đen của mình. Khuôn mặt của Motomura cứng đờ vì thầm nghĩ rằng mình đã quá bất lịch sự khi biểu hiện như thế. “Anh Fujimaru đã bắt đầu hiểu biết hơn về thí nghiệm rồi đấy.”
“Làm gì có.”
Cuối cùng thì Fujimaru cũng chịu buông lỏng hai tay đang chắp sau lưng ra mà xua qua xua lại trước mặt. “Tại vì thấy cô cẩn thận đem mấy thứ trông như mồi nhử bọ cánh cứng khổng lồ vào trong tủ lạnh nên tôi mới đoán thế thôi.”
Motomura xem điện di là phương pháp thí nghiệm hết sức thông thường. Suy cho cùng thì thao tác với khối keo cũng quen tay đối với cô. Cô cũng hay bắt gặp các thành viên trong phòng thí nghiệm tự làm.
Chỉ có điều, cảnh tượng một người trưởng thành to xác vỗ cho khối keo vốn không dùng để ăn lắc lư núng nính trong phòng thí nghiệm hẳn là sẽ để lại ấn tượng khá sâu sắc đối với người ngoài cuộc.
“Đây không phải là tủ lạnh đâu ạ.”
Motomura nói. “Nó gọi là máy scan keo, có chức năng chiếu tia tử ngoại lên khối keo và chụp ảnh lại.”
Fujimaru trưng ra vẻ mặt như đang nhìn một vết mực siêu to trên mặt Motomura. Bộ dạng anh như đang tự hỏi, làm cái gì với cái gì cơ. Song, mặc dù không hiểu cho lắm chức năng và mục đích của máy scan keo, nhưng hình như anh vẫn nhận ra rằng tình hình đang rất khẩn trương.
“Xin lỗi vì đã quấy rầy cô.”
Dứt lời, anh liền lui về phía cửa. “Tôi... vẫn nên rời khỏi đây thì hơn. Về chuyện cơm phần, hôm nào khác ta lại bàn nhé.”
“Không, không việc gì đâu ạ.”
Motomura vội vàng ngăn anh lại. “Chỉ cần tôi bật công tắc là sẽ thấy kết quả ngay. Sau đó chúng ta sẽ bàn đến chuyện cơm nước nhé.”
Phải rồi, thí nghiệm dài lê thê này sắp sửa tới hồi minh bạch kết quả. Motomura thở ra một hơi để tự trấn an. Dù là thành công hay thất bại thì mình cũng sẽ không phải đón nhận nó một mình. Vào khoảnh khắc này, có Fujimaru ở cạnh trong phòng nghiên cứu khiến cô cảm thấy yên tâm một cách kỳ lạ.
Chẳng hiểu sao mà anh Fujimaru đã luôn ở đây kể từ giai đoạn đầu tiên của thí nghiệm. Tại ngay hiện trường chung cuộc này anh ấy cũng không gọi mà đến. Nếu được bàn bạc về chuyện cơm phần ngay sau đây, hẳn là mình sẽ được phân tâm nhiều.
Tuy có vẻ mừng rỡ nhưng Fujimaru vẫn chần chừ khi quay lại đứng bên cạnh Motomura. Motomura một lần nữa giơ tay đến công tắc máy scan.
Bụp, chiếc máy lập tức khởi động với âm thanh đục ngầu ấy. Đứng cách vài bước chân, Fujimaru hết nhìn cái máy rồi lại nhìn sang Motomura với vẻ lưỡng lự. Sao cả cái máy lẫn Motomura đều chẳng nhúc nhích tí nào thế này?
“Nó có kêu ting một tiếng để báo cho mình biết khi nào xong không?”
“Không ạ, đây không phải lò vi sóng.”
Motomura nói. “Bên trong đang chiếu tia tử ngoại rồi đấy.”
Fujimaru lại trưng ra vẻ mặt khờ khạo.
“Vậy chúng ta nhìn thử xem sao.”
Rồi anh ngây ngô nói.
“Ừ nhỉ.”
Giọng cô lạc hẳn đi vì căng thẳng. Motomura tằng hắng một cái rồi mở nắp ô cửa sổ nhỏ trên nắp máy scan ra. Cô và Fujimaru sáp lại gần nhau để cùng nhòm vào bên trong.
Bên trong cái máy đang chiếu tia tử ngoại tràn ngập ánh sáng xanh tím đục ngầu. Trông như màu đại dương xanh thăm thẳm. Có một vạch sáng màu đỏ hồng lờ mờ nổi lên ở giữa không gian ấy. Nom không khác gì vảy cá lấp lánh dưới biển sâu vậy. ADN thì đang phát sáng nhờ được nhuộm thuốc nhuộm có sẵn bên trong keo.
“Oa, đẹp thế!”
Fujimaru thì thào. Motomura thì đang trừng mắt ráng nắm hết những thông tin mà vạch sáng đang biểu thị.
Giống cây “gốc thân trổ lá trễ và có cuống lá màu đỏ phớt” số 1 đã được xác định mang kiểu gen đồng hợp aa và cc của gen di truyền A và gen di truyền C.
Vậy còn gen di truyền B có sức đề kháng cực mạnh đối với thuốc Basta thì sao? Cô đã khoanh vùng các gốc cây không bị ảnh hưởng bởi thuốc diệt cỏ, chúng hẳn là những gốc cây trộn lẫn giữa kiểu gen Bb và bb. Muốn phân biệt xem cây nào là cây nào thì Motomura chỉ cần chăm chú theo dõi ánh sáng mà ADN của chúng phát ra là được.
“Là kiểu gen bb!”
Motomura nhỏ giọng kêu lên. Fujimaru lập tức nhìn quanh, “Ơ, ở đâu có đạn BB[39] cơ?” Hiển nhiên là Motomura không hề để ý tới hành động và lời nói của anh.
Trong số bốn loại gen di truyền thì đã có hết ba loại là kiểu gen lặn rồi!
Á, nhưng mà... Chỉ có mỗi gen di truyền D là hiện ra vạch sáng khác. Trong khi các mẫu khác chỉ hiện ra đúng một vạch như dạng cái thang, thì đây lại hiện tới hai vạch. Tức là kiểu gen Dd. Dị hợp. Mẫu cây “gốc thân trổ lá trễ và có cuống lá màu đỏ phớt” số 1 tuy đã thành công trở thành thể biến dị lần ba, nhưng lại không phải là thể biến dị lần bốn.
Vì bị cuốn vào sự thật “Nó không phải là thể biến dị lần bốn” nên Motomura nhất thời trở nên âu sầu. Thế nhưng chỉ một giây sau, cô liền nghĩ lại, đây biết đâu là trong họa được phúc.
Thói xấu của Motomura là làm gì cũng cân nhắc đắn đo kỹ lưỡng đến mức gần như là hèn nhát, dễ dàng bị xoáy vào những chuyện trước mắt. Lúc chọn nhầm mã gen di truyền D, cô cũng chỉ sợ sệt không biết nên làm gì, không thể ngay lập tức đem chuyện này đi thảo luận với ai hay nghĩ ra được đối sách tạm thời.
Như vậy không được, không xong. Vì quá tập trung vào chuyện được mất của thể biến dị lần bốn nên mình đã bỏ qua điều căn bản nhất trong thí nghiệm. Phải bình tĩnh lại suy nghĩ cho cặn kẽ vào, Motomura tự dặn lòng.
Mẫu cây “gốc thân trổ lá trễ và có cuống lá màu đỏ phớt” có kích thước lá vốn không sai biệt gì lắm so với cây Arabidopsis thaliana thường. Ngược lại, Khổng Lông thì từ lúc chỉ mới là lá non đã thấy to hơn rành rành rồi.
Giả thuyết mà Motomura lập ra lúc ban đầu là “Nếu cả bốn loại gen di truyền này đều là thể đồng hợp mang tính trạng lặn, hay nói cách khác là thể biến dị lần bốn, thì nhất định trong cơ chế kiểm soát phiến lá của nó sẽ xảy ra đột biến khiến cho kích thước của lá trở nên to hơn. Dựa trên giả thuyết ấy, giống cây “gốc thân trổ lá trễ và có cuống lá màu đỏ phớt” có kích thước phiến lá không sai biệt gì lắm so với cây Arabidopsis thaliana thường tuy chỉ là thể biến dị lần ba, nhưng lại là bước đầu tiên chứng minh tính đúng đắn trong suy luận của Motomura.
Với suy nghĩ đó, Motomura đã bật dậy một cách ngoạn mục khỏi tâm trạng thất vọng cùng cực kia và bắt đầu háo hức mong chờ con đường phía trước.
Thí nghiệm này biết đâu lại suôn sẻ hơn mình tưởng. Nếu Khổng Lông có lá siêu to kia mà được xác định là thể biến dị lần bốn đàng hoàng, thì rõ ràng mình đã thành công rồi còn gì?
ADN của Khổng Lông số 1 rốt cục đã vẽ ra quỹ đạo thế nào đây? Motomura chùi bàn tay đang rịn mồ hôi vào quần jeans rồi mới ghé mắt nhòm vào ô cửa sổ trên máy scan. Chẳng biết có phải bị Motomura dọa hay không mà Fujimaru lùi một bước về phía sau để chừa chỗ cho cô đứng trước ô kính.
Motomura tập trung nhìn vào vạch sáng đang nổi lên giữa không gian xanh tím kia. Mã gen A của Khổng Lông số 1 đã được xác định là kiểu gen aa. Kể cả mã gen B được trang bị kháng thể với thuốc Basta cũng... ồ ồ, mang kiểu gen bb!
Cảnh vật trước mắt cô như chao đảo, không biết có phải do cơn kích động mạnh đã chạm tới nhãn cầu của cô hay không. Motomura hít thở sâu mấy lần rồi cố gắng tập trung nhìn rõ cảnh vật. Bộ dạng cô bây giờ hệt như mấy kẻ đáng nghi đang thở hồng hộc tính làm chuyện gì mờ ám, nhưng Motomura không còn hơi sức đâu mà để tâm đến điều này nữa.
Gen di truyền C cũng là kiểu gen cc. Được rồi, vậy có nghĩa đã xác định xong đây là thể biến dị lần ba. Motomura nuốt nước bọt cái ực. Vậy, còn mã gen di truyền D mang tính chất quyết định có tên viết tắt AHO thì sao..?
Motomura nhìn chòng chọc vào vạch sáng màu đỏ giữa không gian tối tăm kia. Quỹ đạo của gen di truyền D khá dài, vạch sáng nom như dây thang kia chỉ có đúng một vạch. Hay nói cách khác, mã gen D cũng mang kiểu gen dd.
Motomura hồi hộp bật màn hình được gắn trên máy scan lên, chỉnh sao cho hình ảnh rõ nét rồi ấn nút chụp. Quỹ đạo đang phát sáng của ADN nhẹ nhàng trườn ra khỏi khe in chuyên dụng của máy scan dưới dạng trắng đen.
Ngắm nhìn bức ảnh mình đang cầm trong tay, Motomura cắn môi. Những mảnh ký ức của kỳ thí nghiệm này lại ùa về trong cô, từ việc tỉ mẩn ngồi tách và gieo hạt, chuyện trò và chăm sóc các cây Arabidopsis thaliana lặng thinh hằng ngày, cho đến lúc bị thảy đến hố sâu tuyệt vọng vì lỡ chọn nhầm mã gen di truyền. Những suy nghĩ và tâm tình đó trộn lẫn vào nhau khiến Motomura trở nên lo lắng, “Mình sắp chết rồi sao? Đây là cái mà người ta gọi là thước phim cuộc đời lóe qua trước mắt đấy à?”
Vừa nhìn lom lom Motomura đang đứng trơ ra như phỗng không khác gì tượng phật Địa Tạng, Fujimaru vừa đến nhòm vào bên trong máy thông qua ô kính kia. Anh chờ một lúc nhưng Motomura vẫn chưa thoát khỏi tình trạng Địa Tạng của mình.
“Cho tôi hỏi...”
Thấy vậy, Fujimaru liền cất tiếng. “Thế kết quả rốt cục ra sao rồi? Vạch màu đỏ này nghĩa là gì vậy?”
Nhớ ra sự có mặt của Fujimaru, Motomura bèn vội ngẩng mặt lên khỏi bức ảnh.
“Bốn loại gen di truyền đều là đồng hợp lặn. Đây là thể biến dị lần bốn.”
Motomura giải thích trong lúc gắng kiềm chế niềm hưng phấn trong lòng. “Khổng Lông đích thực là thể biến dị lần bốn. Hơn nữa, dù tôi đã lấy nhầm mã gen di truyền D, nhưng vẫn cho ra được thể biến dị lần bốn như dự tính. Đây cũng là nguyên nhân tại sao lá của Khổng Lông lại to hơn so với những cây Arabidopsis thaliana khác. Điều này đã chứng minh được rằng, mã gen AHO mà trước giờ không ai để mắt tới cũng có ảnh hưởng đến cơ chế kiểm soát của phiến lá. Ôi, cái phát hiện tình cờ này thật là...!”
Đứng trước một Motomura vì quá phấn khích nên đã lỡ mồm hét lên, Fujimaru lần thứ ba trong ngày trưng ra vẻ mặt khờ khạo không biết nên nói gì.
“Nghe hơi khó hiểu với tôi... Xin lỗi cô nhé.”
Fujimaru nói. “Thế tóm lại là?”
“Tóm lại là thành công rồi. Thí nghiệm này thành công rồi!”
Như bị lời của Motomura quất mạnh vào người, Fujimaru lập tức nhảy cẫng lên.
“Hả? Thật ư?!”
“Vâng!”
Giọng nói của Motomura trở nên cao vút. “Dĩ nhiên là tôi còn phải xét nghiệm PCR nốt cho các mẫu chiết xuất từ phiến lá còn lại để khỏi nhầm lẫn.”
Thế nhưng Fujimaru lại không nghe lọt vào tai lời giải thích chi tiết ấy của cô mà chỉ phản ứng với mỗi từ “thành công”.
“Hoan hô!”
Fujimaru giơ hai tay lên trời, thuận tiện cũng ôm chầm lấy Motomura. “Vậy thì tốt quá, tốt quá rồi!”
Motomura sững sờ, nhưng như thể chịu sự lôi cuốn từ niềm vui sướng bộc phát tận đáy lòng của Fujimaru, lúc này chính bản thân cô cũng bị cuốn lấy bởi những suy nghĩ hỗn loạn tràn đầy hạnh phúc.
“Vâng ạ, đã thành công rồi!”
Motomura đáp, khẽ khàng nắm lấy hai bên áo của Fujimaru. Cả hai người cứ dính với nhau như vậy mà nhảy lên nhảy xuống.
Quả đúng như lời anh Fujimaru và giáo sư Matsuda. Motomura thầm nghĩ. Dù có thất bại giữa chừng hay gặp phải chuyện ngoài dự kiến thì cũng đừng nên ngần ngại. Một thứ “y như dự tính” vốn chẳng có thật, hơn nữa lại còn nhàm chán. Nhờ đi chệch khỏi những gì đã trù tính để tin tưởng vào suy nghĩ và cảm xúc bản thân nên mình mới có được phát hiện như bây giờ. Mới có được niềm hạnh phúc và vui sướng như lúc này.
Thí nghiệm và thực vật quả nhiên vô cùng thú vị. Mình không thể dừng bước. Cũng không bao giờ muốn dừng. Tựa như không thể ngừng sống vậy. Lòng đắn đo, hiếu kỳ và ước nguyện thời còn học cử nhân của mình không hề vô ích chút nào. Mình muốn biết, biết nhiều hơn về những loại thực vật vừa kỳ lạ vừa đầy sức hút đang sống trên cùng một hành tinh với mình. Từ giờ về sau mình sẽ tiếp tục sống với tư cách một nhà nghiên cứu, để được biết nhiều hơn nữa.
Dẫu sẽ có những lúc thất bại hoặc không được suôn sẻ, nhưng mình sẽ mãi mãi không hối hận. Bởi vì chỉ cần kiên trì tiếp xúc với thực vật và tiếp tục công việc thí nghiệm cùng nghiên cứu, mình nhất định sẽ lại được nếm trải mùi vị của niềm hạnh phúc này. Thích quá, thích quá đi mất... Cũng bởi mình đã đem lòng yêu thực vật.
Motomura đỏ mặt mà buông Fujimaru ra. Cô đã thất thố trước sự kích động vì thí nghiệm thành công. Thôi, bình tĩnh lại rồi bàn chuyện đặt cơm nào.
Cô tắt công tắc máy rồi mở cửa ra để lấy khối keo. Lúc bấy giờ Motomura mới để ý, tay cô vẫn còn nguyên găng lúc bắt lấy áo sơ mi của Fujimaru. Tuy rằng chỉ chạm nhẹ một góc thôi thì chỉ cần đem áo đi giặt sạch là được.
Motomura quay sang Fujimaru, trong tay vẫn cầm khối keo với ý định nhắc nhở anh một tiếng. Song, Fujimaru lại đang nhìn cô chằm chằm, ánh nhìn nghiêm nghị đến nỗi như tức giận.
“Tôi... quả nhiên vẫn còn rất thích Motomura.”
Fujimaru nhẹ giọng nói. “Mặc dù tôi cũng không định nói ra lần nữa...”
“Xin lỗi anh.”
Motomura cũng nhỏ nhẹ đáp. “Tôi đã xác định được rồi. Tôi không thể đáp lại tình cảm của anh Fujimaru được.”
Khối keo khẽ run lên trong lòng bàn tay Motomura.

