Một Thoáng Ta Rực Rỡ Ở Nhân Gian - Chương 07

Một tuần sau lần đầu tiên đó, bọn con làm lần nữa. Chim cậu nằm trong tay con, bọn con bắt đầu. Tay con siết chặt tấm mền. Và cảm giác trơ ì của da cậu, dính nhớp trên da con, khiến việc này dường như không còn chỉ là đụ, mà là bấu víu. Mé trong má cậu, nơi mềm nhất, có vị như gum hương quế và sỏi ướt. Con với tay xuống chạm vào khe miệng con chim ấy. Khi con vuốt ve cái đầu tròn đang ấm dần, cậu không kìm được mà run lên. Đột nhiên, cậu nắm tóc con, đầu con bị kéo giật lại. Con buột ra một tiếng kêu cụt lủn, và cậu ngừng, tay cậu lửng lơ bên mặt con, do dự.

“Tiếp đi,” con nói và ngả người ra, trao hết cho cậu. “Nắm đi.”

Con không làm sao hiểu được những gì đang cảm thấy. Lực kéo và mô men, cái đau tăng dần về điểm bùng phát, một cảm giác con chưa từng tưởng tượng là một phần của sex. Có thứ gì đó chiếm lấy con và con bảo cậu làm mạnh lên. Và cậu làm theo. Cậu gần như nhấc con khỏi giường, kéo căng từng nang tóc. Theo mỗi cú dập, một ngọn đèn sáng lên rồi tắt đi trong con. Con chớp tắt, như bóng đèn trong cơn bão, tìm kiếm con dưới sự điều khiển của cậu. Cậu chỉ buông tóc con ra để quàng tay xuống dưới cổ con. Môi con quệt qua cẳng tay cậu và con nếm được vị muối tụ lại trên đó. Cậu thoáng rúm lại vì vỡ lẽ. Đây là cách bọn con sẽ làm chuyện đó từ rày trở đi.

Mẹ sẽ dùng tên gì gọi con vật khi tìm thấy thợ săn đã tự nộp mình? Một kẻ tuẫn đạo? Một kẻ yếu đuối? Không, là con vật đạt được khả năng hiếm hoi - biết ngừng. Phải, dấu chấm trong câu - đó là thứ khiến ta là con người mẹ à, con thề đấy. Nó cho phép chúng ta ngừng lại để có thể tiếp tục tiến tới.

Bởi vì, con sớm nhận ra, khuất phục cũng là một dạng quyền lực. Để được vào trong khoái lạc, Trevor cần con. Con có một lựa chọn, một ngón nghề, cậu lên hay xuống đều phụ thuộc vào việc con có sẵn lòng xếp chỗ cho cậu, vì ta không thể vươn lên nếu không có gì cho ta vươn cao hơn nó. Khuất phục là cách kiểm soát mà không cần phải ở trên cao. Con hạ mình xuống. Con đưa cậu vào miệng mình, đến tận cán, và ngước nhìn lên cậu, mắt con là một nơi cậu có thể thăng hoa. Sau một đỗi, chính kẻ đang quỳ trên gối lại nắm quyền điều khiển. Và cậu nghe theo, khi con xoay bên nào, cậu quay theo bên đó. Và con ngước nhìn cậu như thể nhìn một con diều, cả cơ thể cậu trói vào cái thế giới ngả nghiêng là đầu con.

Cậu ấy yêu mình, cậu ấy không yêu mình, chúng ta được dạy nói câu này, trong lúc xé dần bông hoa tới lúc không còn lại bông hoa. Như vậy, đến được cái đích tình yêu là đến thông qua phá hủy. Ta muốn nói rằng, Hãy móc ruột gan tôi, tôi sẽ cho biết sự thật. Tôi sẽ nói vâng. “Tiếp đi,” con van vỉ. “Dập nữa đi, dập nát ra đi.” Đến lúc đó, bạo lực với con đã trở thành tầm thường quen thuộc, trở thành cái cốt lõi con biết về tình yêu. Dập. Nát. Đi. Thật dễ chịu khi có thể gọi tên cái điều đã và vẫn diễn ra với con suốt cả cuộc đời. Con đang bị dập cho nát ra, nhưng lần này, rốt cuộc, là do con lựa chọn. Trong nắm tay Trevor, con có quyền lên tiếng về cách mình muốn bị xé ra. Thế nên con lên tiếng: “Mạnh lên. Mạnh nữa lên,” cho tới khi con nghe cậu thở hộc lên, như thể vừa trồi lên từ một cơn ác mộng chúng ta thề là có thật.

Sau khi cậu xuất, cậu định ôm con, môi áp lên vai con, nhưng con đẩy cậu ra, kéo quần lên và đi súc miệng.

Đôi khi chính việc được vỗ về lại giống như là bằng chứng cho thấy ta đã bị hủy hoại.

Rồi, một buổi chiều, Trevor bỗng dưng bảo con đổi vai, vẫn theo cái cách bọn con đang làm, mà giờ được bọn con gọi là đụ vờ. Cậu nằm nghiêng. Con phun nước bọt vào tay rồi nằm rúc vào người cậu từ đằng sau. Con chỉ cao tới cổ cậu, nhưng khi nằm xuống, úp thìa, đầu bọn con ở kề nhau. Con hôn lên vai cậu, lần tới cổ cậu, nơi tận cùng mái tóc, giống như vài đứa con trai khác, những sợi tóc nhọn dần xuống thành cái đuôi dài chừng một phân ở gáy. Đó là phần sáng lên như đầu ngọn lúa được ánh nắng chạm vào, trong khi cả đầu cậu, đầy tóc, thì vẫn nâu thẫm. Con đánh lưỡi bên dưới đó. Làm sao một chàng trai hổ báo như cậu lại sở hữu được thứ gì mỏng manh như thế, chỉ toàn những góc nhọn, những tận cùng? Giữa hai bờ môi con, nó như một cái nụ nhú ra từ cậu, chứa những khả thể. Đây là phần đẹp đẽ của Trevor, con nghĩ. Không phải cái kẻ đi bắn mấy con sóc. Không phải cái thằng dùng rìu băm nát những gì còn lại của cái băng ghế bị bắn tan tành. Không phải cái thằng, đang cùng con đi bộ về từ cửa hàng góc đường, đã xô con vào đống tuyết bên lề, nổi điên lên vì lý do gì con chẳng còn nhớ nổi. Phần này, mỏm tóc này, khiến cậu là người đã ngừng giữa dòng xe để há miệng ngỡ ngàng nhìn cây hoa hướng dương cao gần hai mét bên lề. Là người đã nói với con hoa hướng dương là loài hoa cậu thích vì chúng vươn cao hơn cả người. Là người đã vuốt những ngón tay thật dịu dàng xuôi cuống hoa đến mức con tưởng có máu đỏ phập phồng chảy bên trong.

Nhưng chuyện đã kết thúc trước cả khi kịp bắt đầu. Trước cả khi phần chóp tròn của con trượt vào bàn tay thấm ướt của cậu, cậu đã cứng người, lưng hóa thành tường đá. Cậu đẩy con ra, ngồi dậy. “Mẹ nó.” Cậu nhìn thẳng tới trước.

“Mình chịu. Mình không… ý mình là…” Cậu nói với bức tường. “Không biết nữa. Mình không muốn cảm thấy như một đứa con gái. Như một con chó cái. Không được đâu. Xin lỗi nha, vụ này không hợp với mình…” Cậu ngừng. Quệt mũi. “Nhưng cậu thì hợp mà. Đúng không?”

Con kéo mền lên tận cằm.

Con đã tưởng sex là để khai phá những khu vực mới, bất chấp nỗi kinh sợ, tưởng chừng nào bọn con còn chưa bị thế giới nhìn thấy, thì các quy luật của nó không áp dụng vào đây. Nhưng con đã lầm.

Các quy luật ấy, chúng đã nằm sẵn trong chúng ta rồi.

Chẳng mấy chốc cái máy Super Nintendo đã bật lên. Vai Trevor rung lên trong lúc cậu nện liên hồi lên bộ điều khiển. “Ê. Chó Con nè,” cậu lên tiếng, sau một lúc. Rồi, vẫn dán mắt vào trò chơi, cậu khẽ khàng: “Mình xin lỗi. OK?”

Trên màn hình, một chú Mario đỏ nhỏ xíu nhảy từ bậc này sang bậc khác. Nếu Mario rơi xuống, chú sẽ phải bắt đầu lại cả bàn, từ vạch xuất phát. Ta cũng nói là chú chết.

Một đêm nọ, thằng nhóc bỏ nhà ra đi. Nó đi mà chẳng có dự định gì. Trong ba lô là một gói Cheerio đã đổ ra khỏi hộp, một đôi vớ, và hai cuốn Nổi da gà bìa mềm. Mặc dù nó chưa thể đọc truyện dài nhiều chương, nhưng nó biết một câu chuyện có thể đưa mình đi xa đến đâu, và có trong tay hai cuốn sách này tức là có ít nhất hai thế giới nữa mà nó cuối cùng có thể bước vào. Nhưng bởi mới mười tuổi, nó chỉ đi được tới khu vui chơi sau trường tiểu học cách nhà hai mươi phút.

Sau một hồi ngồi trên xích đu trong bóng tối, tiếng kẽo kẹt của dây xích là âm thanh duy nhất nghe được, thằng nhóc leo lên một trong những cây phong gần đó. Cành lá xào xạc xung quanh trong lúc nó leo lên. Nửa chừng, nó dừng lại lắng nghe âm thanh khu phố, tiếng một bài nhạc pop vang lên từ cửa sổ căn hộ ở khu nhà đối diện sân chơi, tiếng xe cộ từ xa lộ gần đó, tiếng phụ nữ réo gọi một con chó, hay cũng có thể là một đứa nhỏ.

Rồi thằng nhóc nghe tiếng bước chân trên lá khô. Nó co đầu gối lên ôm lấy thân cây. Nó im phăng phắc và nhìn xuống, thận trọng, qua những cành lá bụi bặm và xám xỉn do sương khói thị thành. Là bà ngoại nó. Đứng bất động, bà nhìn lên, một mắt mở to, dò xét. Ở đây quá tối không thể nhìn thấy nó. Bà trông thật nhỏ, như một con búp bê bị lạc, trong lúc bà quay tới quay lui, mắt nheo lại.

“Chó Con,” bà khẽ gọi. “Con trên kia không, Chó Con?” Bà nghểnh cổ, rồi nhìn ra chỗ khác, nhìn xa lộ ở đằng xa. “Má con. Má con không khỏe OK? Má con đau. Má con khổ. Nhưng má con mong con, má con cần hai bà cháu mình đó con.” Bà nhúc nhích nhưng vẫn đứng. Lạo xạo tiếng lá khô. “Má con thương con lắm đó Chó Con. Nhưng má con bệnh. Bệnh như bà vậy. Trong đầu nè.” Bà săm soi bàn tay, như thể kiểm tra xem nó còn đó không, rồi buông xuống.

Thằng nhóc nghe xong, ịn môi vào thân cây lạnh ngắt để ngăn mình khóc.

Mẹ đau, thằng bé nghĩ, nhẩm đi nhẩm lại lời bà. Làm sao người lại có thể là một cảm giác? Thằng bé không nói gì.

“Đừng có sợ, Chó Con. Con khôn hơn bà mà.” Có gì đó sột soạt. Trong vòng tay bà ôm như đứa bé, là một bịch bánh Cool Ranch Doritos. Trong bàn tay kia là cái chai Poland Spring đựng đầy trà lài ấm. Bà cứ thì thào một mình, “Không cần phải sợ. Đừng sợ.”

Rồi bà dừng và dõi mắt về phía thằng nhóc.

Họ nhìn nhau giữa những chiếc lá bị chẻ nhỏ. Bà chớp mắt một lần. Cành cây đập vào nhau cành cạch, rồi ngừng hẳn.

Mẹ có nhớ ngày vui nhất trong đời mình không? Thế còn ngày buồn nhất? Mẹ có bao giờ tự hỏi liệu nỗi buồn và niềm vui có thể trộn vào với nhau, để tạo thành một thứ cảm xúc màu tím thẫm, không tốt cũng không tồi, nhưng đáng nhớ chỉ vì mẹ không phải sống hẳn về một bên?

Đường Main trống trơn cái đêm Trevor và con đạp xe giữa đường, bánh xe nuốt lấy vạch phân cách màu vàng to sụ trong lúc bọn con lao đi. Lúc đó là bảy giờ tối, tức là chỉ còn năm tiếng nữa sẽ hết ngày lễ Tạ ơn. Hơi thở bốc thành từng đám khói qua đầu bọn con. Mỗi hơi hít vào, mùi bếp lửa củi cay xè lại ngân lên một nốt trong phổi con trong trẻo. Ông già Trevor đã trở về căn nhà rơ moóc, ngồi xem bóng bầu dục, vừa ăn đồ chế biến sẵn vừa nốc bourbon với Coca không đường.

Bóng con hiện lên méo mó trên lớp kiếng ở mặt tiền các cửa hàng khi bọn con đạp xe ngang qua. Đèn vàng ở mỗi ngã tư chớp chớp và âm thanh duy nhất là tiếng nan hoa kêu lạch cạch. Hai đứa con cứ quành đi quành lại trên đường như thế, và trong một khoảnh khắc ngớ ngẩn, cảm giác như dải bê tông gọi tên là đường Main đó là mọi thứ bọn con từng sở hữu, mọi thứ giữ lấy hai đứa con. Sương mù phủ xuống, làm ánh đèn đường nhiễu xạ thành những khối cầu to bự như trong tranh Van Gogh. Trevor, đang đạp phía trước con, nhổm người đứng thẳng lên, dang rộng hai tay và la lớn, “Mình đang bay nè! Mình đang bay!” Giọng cậu vỡ ra khi cậu nhái lại cảnh nữ chính đứng ở mũi tàu trong Titanic. “Đang bay nè, Jack!” cậu la.

Một lúc sau, Trevor ngừng đạp để cho xe trượt tới khi dừng hẳn, hai tay bỏ thõng bên hông.

“Mình đói quá.”

“Mình cũng thế,” con nói.

“Có cây xăng đằng kia.” Cậu chỉ vào một cây xăng Shell trước mặt. Lọt thỏm giữa màn đêm mông mênh, nó trông như một phi thuyền vừa đâm xuống bên lề đường.

Bên trong, bọn con nhìn hai cái bánh kẹp trứng phô mai đông lạnh quay vòng bên nhau trong lò vi sóng. Bà cụ da trắng ở quầy hỏi thăm bọn con đang đi đâu.

“Về nhà,” Trevor nói. “Mẹ con bị kẹt xe nên tụi con đi kiếm gì ăn nhẹ chút trước khi mẹ về ăn tối.” Bà ta liếc mắt nhìn con lúc đưa Trevor tiền thối. Mẹ Trevor đã chuyển tới Oklahoma sống với bạn trai gần năm năm trước.

Ở bậc thềm trước phòng khám răng, đối diện một nhà hàng Friendly’s đã đóng cửa, bọn con tháo bánh kẹp. Lớp nylon gói ấm nóng rúm lại trong tay. Bọn con nhai, ngó qua cửa sổ nhà hàng dán một tấm poster quảng cáo món kem xanh lè tên “Thuyền thần lùn bạc hà siêu to khổng lồ” từ tháng Ba năm ngoái. Con đưa cái bánh sát mặt, để hơi nóng che mờ khung cảnh trước mắt.

“Cậu có nghĩ tụi mình còn chơi với nhau tới khi trăm tuổi không?” con hỏi mà không nghĩ gì.

Cậu ném giấy gói bánh, nó nương theo cơn gió bay ngược lại đáp xuống bụi cây bên cạnh cậu. Ngay tức thì con ước mình không hỏi. Cậu vừa nuốt bánh vừa nói, “Người ta không sống tới trăm tuổi đâu.” Cậu xé một gói xốt cà, bóp một đường đỏ mỏng lên bánh của con.

“Công nhận.” Con gật đầu.

Rồi con nghe tiếng cười. Từ ngôi nhà sau lưng bọn con.

Giọng trong trẻo của trẻ con, hai hay ba đứa, rồi giọng đàn ông - ba chúng chăng? Họ đang chơi ở sàn sau. Không hẳn là trò chơi, mà là một hiện thân của niềm sung sướng mơ hồ, cái loại chỉ có bọn trẻ con nhỏ xíu mới trải qua, khi niềm thích chí ào ạt chảy trong chúng khi chỉ cần được chạy băng băng trên đồng trống, mà chúng chưa nhận ra chỉ là một khoảnh sân sau nhỏ tí nằm trong một khu vực tồi tàn của thành phố. Nghe tiếng reo rít róng, con đoán chúng chỉ tầm sáu tuổi đổ lại, độ tuổi mà chỉ cần chuyển động là ta đã hân hoan chí tử. Chúng là những cái chuông nhỏ dường như chỉ cần không khí khua động là reo vang.

“Đủ rồi. Tối nay thế là đủ rồi nha,” người đàn ông lên tiếng, tức thì các giọng nói tắt ngúm. Tiếng cửa lưới đóng sập lại. Cái im lặng ùa về. Trevor bên cạnh con, hai tay ôm đầu.

Bọn con đạp xe về, đèn đường tỏa sáng cách quãng trên đầu. Hôm đó là một ngày màu tím - không tốt cũng không tồi, nhưng là một ngày ta đi qua. Con đạp nhanh hơn, con lướt tới, trong một thoáng bỗng nhiên chống chếnh. Trevor bên cạnh con, đang hát ca khúc của 50 Cent.

Giọng cậu nghe trẻ con đến lạ, như thể vọng về từ cái thời trước khi con gặp cậu. Như thể con chỉ cần quay qua là sẽ thấy một cậu bé trong chiếc áo khoác denim được mẹ cậu giặt cho, mùi thuốc tẩy thoảng lên và lùa qua mái tóc vẫn vàng ươm, đắp bên trên cặp má phúng phính trẻ thơ của cậu, hai bánh xe phụ cho trẻ lóc cóc trên mặt đường nhựa.

Con hát cùng cậu.

“Cơ man là nhiều, kể nhiêu cho xiết, những thằng muốn tìm tao đòi giết.”

Bọn con hát, gần như gào lên lời ca khúc, gió bạt đi giọng cả hai. Họ nói bài hát có thể là cầu nối, mẹ à. Nhưng con thấy bài hát cũng là mặt đất mà chúng ta đứng. Và chúng ta hát, có lẽ để giữ mình khỏi rơi. Chúng ta hát, có lẽ để giữ lấy mình.

“Chúa ơi, ông có biết, nước mắt thằng này không còn rơi, đầu nó chẳng còn ngẩng lên trời. Xin hãy rủ lòng thương xót với.”

Trong những phòng khách màu xanh da trời bọn con lướt qua, trận bóng đang vào tàn cuộc.

“Mắt lấm máu, tao chẳng thấy, mày ơi.”

Trong những phòng khách màu xanh da trời, có người thắng và có người thua.

Cứ như thế, mùa thu trôi qua.

Bên trong một cuộc đời dùng-một-lần, không tồn tại cơ hội thứ hai. Đó là lời dối trá, nhưng chúng ta sống trong nó. Chúng ta sống bất chấp mọi điều. Đó là lời dối trá, nhưng thằng nhóc mở mắt ra. Căn phòng là một vệt nhòe màu xanh xám. Có tiếng nhạc vọng qua tường. Chopin, thứ nhạc duy nhất mẹ nó nghe. Thằng nhóc xuống khỏi giường và các góc phòng nghiêng quanh một trục, như một con thuyền. Nhưng nó cũng biết đây là một thứ ảo giác mà nó tự tạo ra. Trong hành lang, nơi ngọn đèn đổ lăn lóc soi tỏ một đống đen hỗn độn những dĩa vinyl 45 vòng một phút đã vỡ, nó đi tìm mẹ. Trong phòng mẹ nó, ga giường bị kéo ra, tấm mền viền ren hồng nằm thành đống trên sàn. Đèn ngủ chớp tắt liên hồi, phích cắm hờ trong ổ điện. Piano nhỉ từng nốt be bé, như hạt nước mơ mình thành cơn mưa. Cậu lần vào phòng khách. Máy phát nhạc kê bên cái xô pha con kêu rin rít ngắt quãng khi cái dĩa nó đang quay đã kết thúc từ lâu, tiếng rè rè lớn dần khi thằng nhóc tiến lại. Nhưng Chopin vẫn vang lên, đâu đó ngoài tầm với. Nó đi theo tiếng nhạc, đầu nghiêng nghiêng, tìm nguồn phát. Và kia, trên bàn bếp, bên cạnh can sữa nằm nghiêng, chất lỏng chảy lan thành từng dòng trắng như một tấm khăn trải bàn ác mộng, một con mắt đỏ hấp háy. Cái đài stereo mẹ nó mua ở Goodwill, cái máy bỏ vừa trong tạp dề lúc làm việc, cái máy mẹ nó nhét dưới gối khi trời mưa bão, các bản Dạ khúc lớn thêm sau mỗi tiếng sấm rền. Cái máy để trong vũng sữa, như thể nhạc được sáng tác ra chỉ cho mình nó. Trong cơ thể dùng-một-lần của thằng nhóc, mọi thứ đều có thể. Nên nó lấy ngón tay che con mắt lại, để chắc chắn mình vẫn còn là thực, rồi nó cầm cái radio lên. Âm nhạc trong tay nhễu sữa tong tỏng, nó mở cửa trước. Đang là mùa hè. Đám chó hoang bên kia đường ray đang sủa, tức là có gì đó, một con thỏ hay chồn, vừa lẻn khỏi cuộc sống của mình và bước vào thế giới. Các nốt nhạc piano thấm qua ngực thằng nhóc trong lúc nó đi ra sân sau. Bởi vì có gì đó bên trong cho nó biết mẹ sẽ ở đó. Và rằng mẹ đang đợi nó. Vì các bà mẹ đều làm thế. Đều đợi. Đều đứng yên cho tới khi con mình thuộc về người khác.

Đúng như thế, mẹ nó kia rồi, đứng cuối cái sân nhỏ rào lưới mắt cáo, bên cạnh một quả bóng rổ xẹp lép, lưng xoay về phía nó. Vai mẹ hẹp hơn là nó nhớ vài giờ trước đó, khi mẹ tém mền cho nó, đôi mắt hồng lên, mờ mịt. Bộ đầm ngủ, sửa lại từ một cái áo thun quá khổ, bị rách sau lưng, để lộ ra bả vai mẹ, trắng như một quả táo bổ đôi. Một điếu thuốc lá lơ lửng bên trái đầu mẹ. Thằng nhóc tiến lại. Nó tiến lại bên mẹ mình, âm nhạc ôm trong tay, run rẩy. Mẹ nó gù lưng, rúm ró, nhỏ thó, như thể chỉ cần không khí đè lên đã bẹp.

“Con ghét mẹ,” nó nói.

Nó quan sát mẹ, để xem ngôn ngữ có thể làm được gì - nhưng mẹ không cả phản ứng. Chỉ hơi quay đầu. Điếu thuốc, viên cườm than đỏ ấy, bay lên môi, rồi đung đưa gần cằm mẹ nó.

“Con không muốn mẹ làm mẹ con nữa.” Giọng thằng nhóc trầm đến lạ, đầy hơn.

“Mẹ nghe không? Mẹ là quái vật…”

Ngay lúc đó đầu mẹ nó lăn xuống khỏi vai.

Không, mẹ nó vừa cúi xuống, xem xét gì đó dưới chân. Điếu thuốc lửng lơ trên không. Thằng nhóc vươn tay chụp lấy. Cảm giác bỏng rát mà nó chờ đợi không xuất hiện. Thay vào đó, có gì nhột nhột trong tay nó. Xòe tay ra, nó nhìn thấy tấm thân đứt rời của con đom đóm, đốm máu xanh lá thẫm lại trên da. Nó ngước lên - chỉ còn nó với cái radio đứng bên cạnh một quả bóng xẹp lép giữa mùa hè. Đám chó giờ đã im tiếng. Bụng đã đầy.

“Mẹ,” thằng nhóc nói vào khoảng không, mắt đẫm nước, “con không nghĩ thế thiệt đâu.”

“Mẹ!” nó kêu lớn, loạng choạng bước đi. Cái radio bị buông rơi, úp miệng xuống đất, và thằng nhóc quay về phía ngôi nhà. “Mẹ ơi!” Nó chạy trở vào trong, tìm mẹ mình, bàn tay vẫn còn ướt vì cuộc đời dùng-một-lần.

Rồi con cho mẹ biết sự thật.

Hôm đó là một ngày Chủ nhật xám xịt. Cả sáng trời cứ muốn mưa lớn. Kiểu ngày mà con đã hy vọng là mối liên kết giữa hai con người có thể được quyết định dễ dàng - một ngày thời tiết ảm đạm tới mức hai mẹ con mình sẽ nhẹ nhõm khi thấy nhau, một gương mặt thân quen đã trở nên lung linh hơn là ta vẫn nhớ vì đặt trên nền ánh ngày lạnh lẽo.

Trong quán Dunkin’ Donuts sáng trưng, giữa mẹ con mình là hai cốc cà phê đen bốc khói. Mẹ đăm đăm nhìn ra cửa sổ. Mưa quất xuống đường lên những xe cộ đi về từ buổi lễ nhà thờ trên đường Main. “Dạo này dân tình thích đi mấy cái SUV kia dữ.” Mẹ nhận xét đoàn xe đi qua quầy bán mang đi. “Ai cũng muốn ngồi càng cao càng tốt.” Mẹ nhịp nhịp tay trên mặt bàn.

“Mẹ lấy đường không?” con hỏi. “Hay lấy kem, à, hay mẹ ăn donut không? Ủa mà, mẹ thích bánh sừng bò…”

“Con muốn nói gì thì nói đi Chó Con.” Giọng mẹ lặng lẽ, nghèn nghẹn. Hơi nóng từ cốc cà phê làm vẻ mặt mẹ thay đổi luôn.

“Con không thích con gái.”

Con không muốn xài cái chữ tiếng Việt pê đê - mượn từ tiếng Pháp pédé, nói tắt của pédéraste. Trước thời Pháp chiếm đóng, người Việt Nam mình không có chữ chỉ những cơ thể lệch chuẩn - vì họ bị nhìn thấy như mọi cơ thể khác, có thịt da và chung nguồn cội - và con không muốn giới thiệu phần này của con người con bằng cái tính ngữ dành cho tội phạm.

Mẹ chớp mắt mấy cái.

“Con không thích con gái,” mẹ lặp lại, lơ đãng gật đầu. Con có thể thấy những chữ đó đi qua mẹ, ấn mẹ sâu vào ghế. “Vậy chớ con thích gì? Con mới mười bảy tuổi đầu. Con không thích gì hết. Con không biết gì hết,” mẹ nói, tay cào lên bàn.

“Con thích con trai,” con nói, cố giữ giọng bình tĩnh. Nhưng câu nói trong miệng nghe trống rỗng. Cái ghế mẹ ngồi cót két khi mẹ chúi người tới.

“Sô cô la! Con muốn sô cô la!” Một đám con nít mặc áo thun màu xanh ngọc thùng thình, vừa hái táo về - nhìn mấy túi giấy đựng đầy táo là biết, lũ lượt kéo vào, tiếng rú rít hào hứng vang khắp quán.

“Con có thể đi, mẹ à,” con đề nghị. “Nếu mẹ không chấp nhận thì con có thể đi. Mẹ không phải lo về con nữa và cũng không ai cần phải biết đâu… Mẹ nói gì đi.” Trong cốc, bóng con lay động dưới con triều nước đen. “Đi mẹ.”

“Nói mẹ nghe,” mẹ nói đằng sau lòng bàn tay bụm lấy cằm, “giờ con sẽ bận đầm luôn phải không?”

“Mẹ…”

“Tụi nó sẽ giết con,” mẹ lắc đầu, “con biết mà.”

“Ai giết con?”

“Tụi nó giết mấy đứa bận đầm. Tin tức nói đầy. Con đâu biết con người ta thế nào. Con đâu biết tụi nó ra làm sao.”

“Con không có bận đầm đâu mẹ. Con hứa. Nghe nè, trước giờ con có bận đầm đâu, ha? Giờ sao lại bận làm chi?”

Mẹ nhìn vào hai cái hốc trên mặt con. “Con khỏi cần đi đâu hết. Có con với mẹ thôi, Chó Con à. Mẹ còn ai đâu.” Mắt mẹ đỏ hoe.

Đám con nít đầu kia quán đang hát bài “Old MacDonald Had A Farm”, giọng tụi nó, niềm hoan hỉ dễ có của tụi nó, sao mà xóc óc.

“Nói mẹ,” mẹ ngồi thẳng lên, vẻ lo âu trên mặt, “từ hồi nào vậy? Mẹ đẻ ra một thằng con trai khỏe mạnh, bình thường mà. Cái đó mẹ biết. Từ hồi nào?”

Hồi con sáu tuổi, học lớp một. Trường con học được cải tạo từ tòa nhà thờ phái Luther. Do khu nhà bếp sửa không bao giờ xong, nên bữa trưa luôn được phát ở phòng thể chất, vạch kẻ sân bóng rổ uốn cong dưới chân trong khi tụi con ngồi bên những bàn ăn tạm bợ: bàn học kê thành từng cụm. Mỗi ngày cấp dưỡng sẽ đẩy vào những thùng lớn đựng các suất ăn đông lạnh chỉ gồm một món: một cục nâu nâu đo đỏ trong một cái khay vuông trắng bọc màng bọc thực phẩm. Tụi con xếp hàng sau bốn lò vi sóng kêu o o suốt bữa trưa, chờ từng phần ăn một được hâm nóng rồi, keng một tiếng, bị đẩy ra, phồng rộp lên, bốc khói, vào đôi tay đợi sẵn của tụi con.

Con cầm cái khay cháo vuông ngồi xuống bên một cậu bé mặc áo thun có cổ vàng với mái tóc đen chải ngược ra sau. Cậu tên Gramoz và, về sau con được biết, gia đình cậu từ Albania đến Hartford sau khi Liên Xô sụp đổ. Nhưng hôm đó mấy chuyện đó chẳng quan trọng gì. Quan trọng là cậu không có cái khay vuông trắng đựng thứ cháo xám, mà lại có một túi đồ ăn trưa màu ngọc lam trơn láng có khóa dán, và cậu lấy ra một khay đựng mấy cái pizza mini, mỗi cái nhìn như một món trang sức quá khổ.

“Ăn không?” cậu nói tự nhiên, cắn một miếng.

Con ngại không dám đụng vào. Gramoz thấy vậy liền cầm tay con, ngửa lên, rồi để vào một cái bánh. Bánh nặng hơn con tưởng. Và không hiểu sao vẫn còn ấm. Sau đó, mỗi giờ giải lao, con theo Gramoz đi bất cứ đâu. Dưới cậu hai nấc trên xà đu, sát gót chân cậu đang leo lên cầu tuột màu vàng uốn tròn, đôi Keds trắng cậu mang chớp lên mỗi bước.

Để trả ơn cậu bé đã cho con cái pizza mini đầu tiên trong đời, còn cách nào ngoài trở thành cái bóng của cậu?

Vấn đề là, lúc đó, tiếng Anh của con còn gần như là số không. Con không thể nói chuyện với cậu. Và dù có thì biết nói gì đây? Con đang theo cậu tới đâu? Tới mục đích nào? Có lẽ thứ con tìm kiếm không phải là điểm đến, mà chỉ là sự tiếp tục. Ở gần Gramoz là được ở lại trong phạm vi cử chỉ tốt bụng duy nhất của cậu, là được đi ngược thời gian, trở lại giờ trưa đó, với cái pizza nặng trên tay.

Một ngày, trên cầu tuột, hai má phồng lên đỏ lựng, Gramoz quay lại la lên, “Đừng có theo tao nữa, đồ điên! Mày bị gì vậy hả?” Không phải lời nói mà là đôi mắt cậu, nheo lại như thể đang nhắm bắn, khiến con hiểu ra.

Như một cái bóng bị cắt rời khỏi thân, con dừng lại trên đầu cầu tuột, nhìn mái tóc bóng mượt chải ngược của cậu nhỏ dần xuôi đường ống trước khi biến vào giữa những tiếng cười trẻ con, mất hút.

Khi con tưởng thế là xong rồi, thế là con đã trút xong những thứ trong lòng rồi, thì mẹ đẩy cốc cà phê qua bên, nói, “Giờ thì mẹ có cái này muốn nói với con.”

Hàm con nghiến lại. Đây có phải là trao đổi qua lại đâu, có phải là một vụ giao dịch đâu. Con gật đầu, giả là mình rất muốn nghe, khi mẹ nói.

“Con có một đứa anh.” Mẹ vén tóc khỏi đôi mắt không chớp. “Nhưng nó chết rồi.”

Đám trẻ vẫn còn đó nhưng con không nghe thấy những tiếng nói lí nhí, chóng tàn ấy nữa.

Con nhận ra mẹ con mình đang trao đổi sự thật, tức là đang cắt vào nhau.

“Nhìn mẹ đây. Con phải biết chuyện này.” Mẹ nghiêm mặt. Môi mím lại thành một đường tím.

Mẹ kể tiếp. Mẹ từng có một đứa con trai đang lớn lên trong mình, một đứa con trai mẹ đã đặt tên, một cái tên mẹ không chịu nói. Đứa con trai trong bụng mẹ bắt đầu nhúc nhích, tay chân nó khuôn theo vòng bụng mẹ. Và mẹ hát và nói chuyện với nó, như sau này với con, kể cho nó nghe những bí mật ngay cả chồng mẹ cũng không biết. Mẹ khi đó mười bảy tuổi và còn ở Việt Nam, bằng tuổi con lúc này đang ngồi trước mặt mẹ.

Hai bàn tay mẹ giờ cụp lại giống như ống nhòm, như thể quá khứ là thứ cần phải săn lùng cho ra. Bàn bên dưới mẹ ướt. Mẹ lấy khăn giấy lau, rồi nói tiếp, về năm 1986, năm có anh con, con trai mẹ. Về chuyện, bầu đến tháng thứ tư, khi khuôn mặt của đứa bé thành hình, thì chồng mẹ, ba con, bị bên nội ép, bắt mẹ phá thai.

“Không có gì ăn,” mẹ nói tiếp, vẫn bụm cằm phía trên bàn. Một người cần tới nhà vệ sinh xin phép đi qua. Mẹ nhích qua mà không nhìn lên. “Người ta phải độn mùn cưa vô cơm. Có chuột để mà ăn là mừng.”

Mẹ chọn từng chữ cẩn thận, như thể câu chuyện là đốm lửa mẹ nâng niu trước gió. Đám trẻ cuối cùng cũng đi - chỉ còn hai cụ ông cụ bà ngồi lại, hai nhúm tóc trắng lấp ló sau hai tờ báo.

“Không như anh con,” mẹ nói, “con chỉ sinh ra khi ba mẹ biết chắc là con sống được.”

Mấy tuần sau khi Gramoz cho con cái pizza mini đó, mẹ mua con chiếc xe đạp đầu tiên: một chiếc Schwinn hồng chói có hai bánh phụ cùng với túm đuôi nheo màu trắng ở hai đầu tay cầm kêu loạt soạt, như những chùm bông cổ động nhỏ xíu, cả khi con đạp với vận tốc đi bộ, mà thường là thế. Xe màu hồng vì màu hồng rẻ nhất trong cửa hàng.

Chiều hôm đó, khi đang đạp trong bãi đậu xe chung cư, chiếc xe bị chận lại. Con nhìn xuống thì thấy một đôi tay đang túm lấy ghi đông. Tay một thằng nhóc, chừng mười tuổi, cái mặt mập ú mướt mồ hôi cắm chình ình trên một thân hình núc thịt. Trước khi con kịp hiểu sự tình, chiếc xe đã bay ngược ra sau và con té đập mông xuống mặt đường. Mẹ đã chạy lên lầu ngó ngoại. Bước ra từ sau lưng thằng kia là một thằng nhỏ hơn mặt như mặt chồn. Thằng mặt chồn la lớn, nước miếng văng trước mặt nó màu cầu vồng dưới ánh nắng xiên khoai.

Thằng mập lôi ra cái móc chìa khóa rồi bắt đầu cạo lớp sơn trên xe đạp con. Sơn tróc ra dễ dàng thành những túm lửa hồng. Con ngồi đó, nhìn những hạt bụi hồng lả tả trên nền bê tông trong lúc thằng kia rạch chìa khóa lên xương của chiếc xe. Con muốn khóc nhưng vẫn chưa biết khóc bằng tiếng Anh. Nên con chẳng làm gì.

Đó là ngày con biết được rằng màu có thể nguy hiểm thế nào. Rằng một thằng nhóc có thể bị đánh văng khỏi cái màu đó và buộc phải suy ngẫm về vi phạm của mình. Ngay cả khi màu sắc chẳng là gì ngoài những gì ánh sáng cho ta thấy, thì cái chẳng là gì đó cũng có luật riêng, và một thằng con trai đi xe đạp hồng cần được dạy, trên hết, về luật của trọng lực.

Đêm đó, trong căn bếp dưới ánh bóng đèn tròn không chao, con quỳ bên mẹ nhìn mẹ quệt từng vệt dài, với sự chính xác nhà nghề, sơn đè lên những đường thẹo màu xanh coban trên thân xe, chai sơn móng màu hồng mẹ cầm vững vàng trong tay.

“Ở bệnh viện, người ta đưa mẹ hũ thuốc. Mẹ uống một tháng. Để cho chắc. Sau một tháng, đáng lẽ mẹ phải cho ra nó - anh con.”

Con muốn về, muốn nói mẹ thôi. Nhưng cái giá của việc thú nhận, con đã học được, là mình sẽ có một câu trả lời.

Sau một tháng uống thuốc, khi anh con đáng lẽ phải ra rồi, thì mẹ thấy đau xé trong bụng. Người ta mau mau đưa mẹ trở vô bệnh viện, lần này vào khu cấp cứu. “Mẹ thấy anh con đạp trong lúc người ta đẩy mẹ qua những căn phòng xám ngoét tường bong tróc. Bệnh viện vẫn còn mùi khói và xăng sau cuộc chiến.”

Chỉ tiêm có Novocain giữa hai đùi mẹ, các y tá đưa vào một thứ dụng cụ dài bằng kim loại và cứ thế “nạo con của mẹ ra khỏi mẹ, như người ta nạo hột đu đủ”.

Chính hình ảnh đó, cái sự tầm thường thực tế của nó, việc gọt trái cây mà con đã thấy mẹ làm cả ngàn lần, cái muỗng trượt theo phần lòng trái đu đủ màu cam như màu thịt, từng đám hột đen dính nhau rớt bộp xuống bồn rửa thép, chính điều đó khiến con chịu không nổi. Con trùm cái nón áo nỉ trắng qua đầu.

“Mẹ thấy nó, Chó Con à. Mẹ thấy thằng con mẹ, chỉ thoáng thấy thôi. Một đám nâu nâu chuẩn bị vào thùng rác.”

Con vươn tay chạm vào bên cánh tay mẹ.

Ngay lúc đó, một bài hát của Justin Timberlake vang lên trên loa, những âm gió mong manh luồn qua những tiếng gọi cà phê, bã cà phê đập đánh thịch xuống thùng rác cao su. Mẹ nhìn con, rồi nhìn ra sau con.

Khi đôi mắt mẹ quay về, mẹ nói, “Lần đầu mẹ nghe Chopin là ở Sài Gòn. Con biết không?” Tiếng Việt của mẹ bỗng nhẹ bẫng, lâng lâng. “Mẹ chắc chừng sáu bảy tuổi gì đó. Có ông đó ở bên kia đường, là một nghệ sĩ dương cầm học ở Paris, ổng để cây Steinway ở sân và hay chơi vào buổi tối, để cửa mở. Con chó của ổng, ổng có con chó đen nhỏ, cao chừng này, hay nhổm lên rồi nhảy. Hai cái chân ốm nhách như cái que đi vòng vòng trong đám bụi nhưng ông kia chả bao giờ để ý mà chỉ nhắm mắt chơi nhạc. Đó là quyền năng của ổng. Ổng không quan tâm tới phép màu tạo ra từ bàn tay mình. Mẹ ngồi ngoài đường và xem cảnh mà mẹ đã cho là phép màu: âm nhạc biến một con thú thành người. Mẹ nhìn con chó lòi hết xương sườn ra đó nhảy theo nhạc Pháp và nghĩ điều gì cũng có thể xảy ra. Bất cứ điều gì.” Mẹ đan tay vào nhau trên bàn, một cử chỉ vừa buồn bã lẫn bồn chồn. “Ngay cả khi ổng ngừng chơi, đi tới chỗ con chó đang ngúc ngoắc đuôi và đặt miếng đồ ăn vào cái miệng há ra của nó, một lần nữa chứng tỏ chính cái đói, chỉ cái đói chứ không phải âm nhạc, đã cho con chó khả năng của con người, thì mẹ vẫn tin. Rằng bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.”

Cơn mưa ngoan ngoãn bắt đầu lớn lên lại. Con ngả người ra và nhìn những cửa sổ cong đi trong mưa.

Đôi lần, khi bất cẩn, con nghĩ sống sót là việc đơn giản thôi: mình chỉ cần cứ thế tiến tới với những gì mình có, hoặc những gì còn lại từ những gì mình được từ đầu, cho tới khi có sự thay đổi - hay tới khi mình nhận ra, rốt cuộc, là mình có thể thay đổi mà không biến mất, rằng tất cả những gì mình phải làm là chờ tới khi cơn bão đi qua mình và mình thấy - phải - tên mình vẫn còn gắn vào một sinh vật đang sống.

Vài tháng trước khi mẹ con mình nói chuyện với nhau trong Dunkin’ Donuts, một cậu bé mười bốn tuổi ở miền quê Việt Nam bị tạt axít vào mặt sau khi nhét thư tình vào hộc bàn một cậu bạn. Hè năm ngoái, một người quê Florida hai tám tuổi tên Omar Mateen bước vào hộp đêm ở Orlando, giương khẩu súng trường tự động và xả đạn. Bốn mươi chín người bị giết. Đó là một hộp đêm cho dân gay và những cậu bé ở đó, vì họ đúng là những cậu bé - những đứa con trai, những cậu thiếu niên - trông giống như con vậy: một thứ có màu sinh ra từ cùng một mẹ, lần mò trong bóng tối, dò dẫm lẫn nhau, kiếm tìm hạnh phúc.

Đôi lần, khi bất cẩn, con tin rằng vết thương cũng là nơi mà da gặp lại mình, bờ này hỏi bờ kia, mày đã ở đâu?

Mình đã ở đâu, hả mẹ?

Một nhau thai nặng trung bình khoảng hơn nửa ký. Một cơ quan dùng rồi bỏ, chuyển chất dinh dưỡng, hoóc môn và chất thải qua lại giữa người mẹ và thai nhi. Theo cách này, nhau thai là một dạng ngôn ngữ - có lẽ là thứ ngôn ngữ đầu tiên của chúng ta, tiếng mẹ đẻ theo đúng nghĩa của nó. Vào tháng thứ tư hoặc năm, nhau thai của anh con đã hoàn thiện. Mẹ và anh khi đó đã trò chuyện với nhau - những lời bằng máu.

“Nó về gặp mẹ, con biết đó.”

Ngoài kia mưa đã tạnh. Bầu trời là một cái tô úp sạch trơn.

“Về gặp mẹ?”

“Anh con, nó về gặp mẹ trong mơ, chừng một tuần sau khi mẹ rời viện. Nó ngồi ngoài bậc cửa. Mẹ với nó ngó nhau một hồi, rồi nó chỉ quay người đi mất, đi xuôi hẻm. Mẹ nghĩ nó chỉ muốn thấy mặt mũi của mẹ, muốn thấy mẹ nó trông như thế nào. Mẹ chỉ mới là một đứa con gái. Trời ơi… trời, mẹ mới mười bảy thôi.”

Ở đại học, đi lạc đề giữa một bài giảng về Othello, một vị giáo sư từng quả quyết rằng, theo ông ta thấy, người đồng tính nam đều mắc bệnh yêu bản thân từ trong bản chất, và thói tự luyến công khai thậm chí còn có thể là dấu hiệu đồng tính luyến ái ngầm ở những người đàn ông vẫn chưa chấp nhận “xu hướng” của mình. Ngay giữa lúc con ngồi tức tối trên ghế, ý nghĩ đó cũng không thôi đào sâu vào con. Có thể nào, bao nhiêu năm trước, con đã đi theo Gramoz ngoài sân trường đơn giản là vì cậu là con trai, và do đó là tấm gương phản chiếu chính con?

Nhưng nếu là thế - thì sao lại không? Có khi ta soi gương không phải chỉ để tìm cái đẹp, dù có hão huyền đến đâu, mà để chắc chắn, dù đã rất rõ ràng, là ta vẫn còn đây. Rằng cơ thể bị săn lùng mà ta cư ngụ vẫn còn chưa bị hủy hoại, nạo bỏ. Thấy rằng mình vẫn là mình chính là một chốn ẩn náu mà những ai chưa từng bị phủ nhận thì không thể biết đến.

Con đọc được rằng trong suốt lịch sử cái đẹp luôn bắt người ta sao chép lại. Chúng ta nhân thêm bất cứ thứ gì cho chúng ta khoái cảm thẩm mỹ, dù là cái bình, bức tranh, ly rượu, hay bài thơ. Chúng ta sản sinh thêm vật đó để giữ nó, mở rộng nó qua không gian và thời gian. Nhìn ngắm thứ cho ta khoái cảm - một bức tranh tường, một dãy núi màu đỏ đào, một cậu con trai, nốt ruồi trên quai hàm cậu - tự thân điều đó đã là sao chép: hình ảnh được lưu lại trong mắt, nhân thêm và gìn giữ nó. Soi mình trong gương, con sao chép chính mình cho một tương lai con có thể không tồn tại. Và đúng vậy, bao nhiêu năm trước, cái con muốn ở Gramoz không phải là miếng pizza mini, mà là sự sao chép. Vì món quà của cậu đã mở rộng con thành một thứ gì đó xứng đáng nhận được sự hào phóng và, do đó, được nhìn thấy. Chính sự nhân thêm đó là thứ con muốn gìn giữ, muốn quay trở lại.

Không phải ngẫu nhiên đâu mẹ, mà dấu phẩy nhìn giống một thai nhi - cái nét cong đánh dấu sự tiếp diễn ấy. Chúng ta đều từng nằm trong bụng mẹ, và bằng toàn bộ cái tôi cong lại và lặng lẽ, thốt lên: thêm nữa, nữa, nữa. Con muốn quả quyết rằng việc ta đang sống đã là đủ đẹp đẽ đáng sao chép lại. Và thế thì sao? Cứ cho là con chỉ dùng được cuộc đời này vào một việc là nhân nó lên thêm nữa, thì sao?

“Mẹ muốn ói,” mẹ nói.

“Hả?”

“Mẹ sắp ói.” Mẹ bật dậy rồi chạy vào nhà vệ sinh.

“Trời đất, mẹ nói thật hả,” con nói, đi theo mẹ. Trong nhà vệ sinh, mẹ quỳ bên cái bồn cầu duy nhất và ngay lập tức ộc ra. Dù tóc mẹ đã búi lại, con vẫn quỳ xuống và lấy hai ngón tay vén ra sau ba bốn sợi tóc rủ xuống của mẹ, một hành động mang tính gần như quy ước. “Mẹ có sao không?” con nói với cái gáy mẹ.

Mẹ lại ọe, lưng mẹ co thắt dưới bàn tay con. Chỉ tới khi thấy bồn tiểu bên đầu mẹ vương vãi những sợi lông con mới nhận ra là nhà vệ sinh nam.

“Để con mua chai nước suối.” Con vỗ lưng mẹ rồi đứng lên.

“Không,” mẹ gọi theo, mặt đỏ bừng, “nước chanh. Kêu cho mẹ nước chanh.”

Mẹ con mình rời Dunkin’ Donuts nặng nề hơn vì những gì đã biết được về nhau. Nhưng mẹ không biết rằng, thực ra, con đã mặc đầm - và sẽ làm vậy nữa. Rằng vài tuần trước, con đã mặc bộ đầm đỏ rượu nhảy trong một nhà kho phơi thuốc lá cũ, trong khi bạn con, một cậu trai lêu nghêu với đôi mắt vằn đỏ, choáng váng ngồi xem. Con đã tận dụng cái đầm trong tủ đồ của mẹ, cái đầm mẹ mua nhân dịp sinh nhật lần thứ ba lăm nhưng không bao giờ mặc. Con xoay tít trong lớp vải mỏng tang trong khi Trevor, chễm chệ trên một chồng lốp xe, vừa rít từng hơi cần sa vừa vỗ tay, xương đòn của bọn con sáng gắt dưới ánh hai cái điện thoại di động để dưới sàn nhà đầy xác ngài chết. Trong nhà kho đó, lần đầu tiên trong nhiều tháng, bọn con không sợ ai cả - ngay cả chính mình. Mẹ lái chiếc Toyota về nhà, con im lặng ngồi ghế bên cạnh. Có vẻ tối nay mưa sẽ quay lại và cả đêm thành phố sẽ được gột rửa, hàng cây dọc theo xa lộ rỏ nước xuống bóng đêm loang loáng. Lúc ăn tối, con sẽ kéo ghế ngồi xuống và, trong lúc lột nón áo nỉ ra, một cọng cỏ khô ở nhà kho dính lại mấy tuần qua sẽ lời ra từ trong mái tóc đen. Mẹ sẽ với tay qua, phủi nó đi, rồi lắc đầu trong khi ngắm nhìn đứa con trai mẹ đã quyết định giữ lại.

Phòng khách giàn giụa tiếng cười. Trên cái ti vi to cỡ lò vi sóng, một bộ phim hài oang oang một thứ niềm vui léo nhéo và giả tạo không khiến ai tin. Không ai tin, trừ ba của Trevor, hay đúng hơn, không phải là tin, mà là quy hàng nó, ông cười khùng khục trong chiếc ghế bành La-Z-Boy, chai Southern Comfort như một khối pha lê hoạt hình đặt trong lòng. Mỗi lần ông nhấc chai lên, thứ chất lỏng màu nâu lại vơi đi, cho đến khi chỉ còn những sắc màu méo mó từ ti vi nháng qua lớp thủy tinh rỗng. Ba cậu có gương mặt phì phị và mái tóc hớt sát bôi sáp, thậm chí là vào tầm giờ này. Ông trông như Elvis vào ngày cuối đời. Cái thảm dưới hai bàn chân trần bóng như dầu loang sau nhiều năm bị giẫm cho mòn đi.

Bọn con ngồi sau lưng ông, trên cái xô pha chế từ băng ghế mót được trong một chiếc Dodge Caravan bị đâm nát, chuyền tay nhau chai Sprite một lít, vừa cười rúc rích vừa cùng nhắn cho một cậu trai ở Windsor mà bọn con sẽ không bao giờ gặp. Từ tận chỗ này, bọn con cũng ngửi thấy ông, nồng mùi rượu cùng xì gà rẻ tiền, và giả vờ như ông không có mặt.

“Cứ cười đi.” Thân hình ba Trevor gần như không nhúc nhích, nhưng giọng ông gầm gừ. Ghế bọn con ngồi cũng rung lên vì cái giọng ấy. “Cười thằng cha mày cho đã đi. Tụi mày cười y chang hải cẩu vậy.”

Con săm soi sau đầu ông, ánh sáng trắng từ ti vi viền quanh mái đầu, nhưng không thấy chuyển động tí nào.

“Tụi này đâu có cười ông.” Trevor nhăn mặt và đút túi điện thoại. Tay cậu buông thõng hai bên như thể bị ai đó gạt khỏi đầu gối cậu. Cậu trừng mắt nhìn cái lưng ghế. Từ nơi bọn con ngồi, chỉ thấy được một phần đầu ông, một chỏm tóc và một bên má, trắng như lát thịt gà tây.

“Giờ mày bắt đầu ông với tao đó hả? Mày lớn rồi ha? Mày tưởng tao điên tao khùng nhưng hông có đâu con ha. Tao nghe thấy mày đó. Ba mày thấy hết đó.” Ông ho; một màn sương rượu. “Đừng quên tao là huấn luyện viên hải cẩu giỏi nhất Thế Giới Đại Dương ha. Orlando năm 85. Tao cuỗm đi luôn má mày trên ghế khán giả vì màn biểu diễn đó ha. Đám hải cẩu quân của tao, mấy nhóc con đó. Tao là nguyên soái hải cẩu. Bả gọi tao vậy đó. Nguyên soái. Tao biểu tụi nó cười là tụi nó cười.”

Một mục quảng cáo ầm ĩ nhảy lên màn hình, một thứ cây thông Giáng sinh bơm hơi gì đó có thể cất gọn trong túi. “Có thằng nào muốn bỏ cái cây thông trời đánh trong túi đi vòng vòng chớ hả? Mắc mệt với cái đất nước này.” Đầu ông ngoẹo sang bên, làm ngấn mỡ thứ ba hiện ra sau gáy. “Ê - thằng nhóc kia có đây chớ hả? Thằng ba tàu ở kế bên mày phải hông? Tao biết mà. Tao nghe được nó. Nó hổng nói nhưng tao nghe thấy nó.” Cánh tay ông vung lên và con cảm thấy Trevor rúm người trên nệm ghế. Ông già tu một ngụm nữa, chai bia đã cạn từ lâu, nhưng ông vẫn chùi miệng.

“Cậu James của mày. Mày nhớ cậu James chớ gì?”

“Có hơi hơi,” Trevor gặng đáp.

“Nói gì đó?”

“Dạ có.”

“Vậy chớ.” Ông già lún người sâu hơn xuống ghế, mái tóc sáng bóng. Hơi nóng từ người ông dường như tỏa ra chung quanh, tràn ngập căn phòng. “Cậu mày đó, được lắm, rất cứng. Nặn từ toàn xương với muối. Nó hốt bao nhiêu thằng trong cái rừng đó. Công nó lớn lắm. Nó thiêu hết cả đám đó. Mày biết chớ, Trev? Là như vậy đó.” Ông ta lại bất động, đôi môi nhóp nhép nhưng toàn bộ khuôn mặt còn lại vẫn ngay đơ. “Nó kể mày nghe chưa? Vụ nó rưới xăng thiêu tới bốn thằng trong cái rãnh đó? Nó kể tao nghe vụ đó ngay đêm tân hôn của nó chớ, tin nổi hông mày?”

Con liếc nhìn Trevor nhưng chỉ thấy gáy cậu, mặt cậu vùi vào giữa hai đầu gối. Cậu đang hùng hục thắt dây giày, đầu dây bịt nhựa xuyên qua các lỗ trong lúc hai bờ vai cậu giật cục.

“Nhưng giờ thì khác rồi, tao biết. Tao đâu có ngu đâu mày. Tao biết mày cũng ghét tao. Tao biết.”

[Tiếng cười trên ti vi]

“Hai tuần trước đi gặp má mày. Đưa bả chìa khóa tủ để đồ ở Windsor Locks. Chả biết sao tới giờ mới chịu đi gom đồ của bả về. Oklahoma coi bộ hổng có tử tê lắm với bả.” Ông ta ngừng lời. Tu thêm một ngụm không khí. “Tao nuôi mày cũng ngon lành lắm, Trev. Tao biết mà.”

“Ông thúi như cứt.” Mặt Trevor đanh lại như đá.

“Nói gì đó? Tao nói là…”

“Nói ông thúi như cứt đó.” Ánh sáng ti vi làm mặt Trevor xám ngoét trừ vết sẹo ở cổ, một vệt màu đỏ bầm không bao giờ biến đổi. Cậu mang vết sẹo đó từ hồi chín tuổi; ông già cậu, trong con điên giận, đã bắn một khẩu súng bắn đinh vào cửa và cây đinh dội lại. Máu đỏ thắm, dây khắp nơi, như là Giáng sinh đến vào tháng Sáu vậy, cậu kể với con thế.

“Ông nghe rồi đó.” Trevor để chai Sprite xuống thảm sàn, gõ lên ngực con, ra hiệu đã đến lúc té.

“Giờ mày nói chuyện kiểu đó đó hả?” ông già lắp bắp, mắt dính chặt vào ti vi.

“Làm gì được nhau?” Trevor nói. “Tới đi, làm gì làm đi, thiêu tôi đi.” Trevor sấn một bước tới cái ghế. Cậu biết gì đó mà con không biết. “Đủ chưa?”

Ông già cậu chỉ ngồi yên thở. Phần còn lại của căn nhà tối mịt và yên lặng, như một bệnh viện về đêm. Lát sau ông mới nói, một tiếng than van the thé lạ lùng. “Ba nuôi con tử tế mà.” Các ngón tay ông cựa quậy trên thành ghế. Những nhân vật trong phim đang nhảy nhót trên mái đầu bóng mượt của ông.

Con tưởng mình thấy Trevor gật đầu một hai lần gì đó, nhưng có thể chỉ là do ti vi.

“Mày khác gì thằng James. Đúng đó. Tao biết. Mày cũng thiêu, rồi mày sẽ thiêu hết tất cả.” Giọng ông ta run lên. “Thấy chưa? Là Neil Young đó. Một huyền thoại. Một chiến binh. Mày thích thằng đó phải không Trev.” Ông khoát tay về phía tấm poster kế hành lang đúng lúc cánh cửa đóng lại che khuất ông, không tiếng động. Hai đứa con chuồn ra bầu không khí giá lạnh, đi tới chỗ xe đạp, ông già vẫn tiếp tục bài ca, giờ chỉ là tiếng âm âm không rõ đằng sau bọn con.

Lòng đường cuộn đi dưới bánh xe bọn con. Không đứa nào nói gì trong lúc những cây phong, bắt sáng ánh đèn hơi, lù lù hiện ra đỏ rực, im lìm phía trên đầu. Thật nhẹ nhõm khi thoát khỏi ông già cậu.

Bọn con đạp xe dọc theo sông Connecticut trong lúc màn đêm nhập vào chính nó, mặt trăng mới nhú treo cao trên những ngọn sồi, mép viền nhòa đi bởi một mùa thu ấm áp khác thường. Dòng nước cuộn chảy tung bọt trắng bên phải bọn con. Lâu lâu, sau hai hay ba tuần không mưa, lại có xác chết nổi lên từ đáy sâu, bờ vai trắng bệch nhô khỏi mặt nước, và những gia đình đang nấu nướng ngoài bờ sông sẽ ngừng lại, tụi nhỏ sẽ lặng đi, rồi ai đó sẽ la lên, “Chúa ơi, chúa ơi,” và ai đó khác sẽ gọi 911. Và đôi khi đó chỉ là báo động giả: một cái tủ lạnh gỉ sét bám rêu như màu một làn da nâu. Và đôi khi đó là cá, ngửa bụng nổi lên hàng ngàn con không hiểu vì sao, qua một đêm mặt sông óng ánh bạc.

Con đã thấy mọi dãy nhà trong thành phố chúng ta mà mẹ, vì quá bận rộn với công việc, không hề biết đến, những dãy nhà biết bao chuyện xảy ra. Những chuyện ngay cả Trevor, sau khi đã sống cả đời bên này sông, bên phía người da trắng, bên phía con đang đạp xe đây, cũng chưa từng chứng kiến. Con đã thấy ánh đèn trên đại lộ Asylum, nơi từng có một nhà thương (mà thực tế là ngôi trường cho người điếc) bị cháy và làm chết cả nửa phân khu vào năm một tám mấy mấy mà đến nay vẫn không ai biết nguyên do. Nhưng với con nó là con đường có Sid bạn con sống cùng gia đình sau khi họ từ Ấn Độ sang vào năm 95. Và mẹ cậu, hồi còn ở New Delhi là giáo viên, đã tập tễnh trên đôi chân sưng phù vì tiểu đường, đi gõ cửa từng nhà chào bán mấy con dao săn cho hãng Cutco để kiếm chín bảy đô la mỗi tuần - bằng tiền mặt. Rồi có anh em Canino, có ba phải ở tù trong khoảng thời gian tưởng như hai cuộc đời vì đã đi bảy mươi dặm một giờ trong khi tốc độ giới hạn là sáu lăm, trước mặt một chiếc xe cảnh sát trên cao tốc 91. Với lại hai mươi túi heroin và khẩu Glock dưới ghế lái phụ nữa. Nhưng gì thì gì. Rồi có Marin, mỗi ngày tới làm trong siêu thị Sears ở Farmington phải ngồi xe buýt bốn mươi lăm phút mỗi lượt đi về, lúc nào cũng thấy đeo vàng quanh cổ hay bên tai, đi đôi cao gót kêu lộp bộp như tiếng vỗ tay hết sức chậm rãi đầy chủ ý khi chị tới cửa hàng góc đường mua thuốc lá và Hot Cheetos, yết hầu nhô ra trên cổ, chĩa ngón tay thối với đám đàn ông kêu chị là bê đê, là bóng lại cái. Những người tay nắm tay con mình còn miệng thì nói ra mấy câu như: “Mày coi chừng chết với tao, con chó cái, coi chừng tao xẻo mày ra, cho mày siđa chết. Tối nay đừng có ngủ nha mày, tối nay đừng có ngủ, tối nay đừng có ngủ. Đừng có ngủ.”

Bọn con băng qua tòa nhà chung cư trên đại lộ New Britain, nơi mẹ con mình đã sống ba năm. Nơi con đạp chiếc xe đạp hồng có cặp bánh phụ khắp hành lang lót vải sơn để không bị đám con nít trong khu đánh vì yêu một thứ màu hồng. Con hẳn đã đạp xe tới lui trên những hành lang đó một ngày mấy trăm bận, cái chuông nhỏ con leng keng mỗi lần con tới một đầu hành lang. Có ông Carlton sống ở căn hộ cuối dãy, ngày nào cũng lao ra chửi con, “Mày là ai? Làm cái trò gì ở đây? Sao không ra ngoài mà đạp? Mày là ai? Mày không phải con gái tao! Mày không phải Destiny! Mày là ai?” Nhưng tất cả những điều đó, nguyên tòa nhà đó, giờ đã mất rồi - thay vào đó là một tòa nhà của Hiệp hội Thanh niên Cơ đốc - ngay cả khu đậu xe của chung cư (nơi không ai dùng đến vì đâu ai có xe), vốn mọc đầy cỏ dại cao đến cả mét hai, cũng đã biến mất, toàn bộ đều bị san phẳng và biến thành một khu vườn cộng đồng để cho mọi người đến trồng trọt, cắm bù nhìn là những con ma nơ canh bị cửa hàng đồng giá ở Bushnell quẳng đi. Giờ thì các gia đình bơi và chơi bóng chuyền ở nơi chúng ta từng ngủ. Giờ thì người ta bơi bướm ở nơi về sau ông Carlton đã chết, một mình, trên giường. Không ai hay biết hàng mấy tuần cho tới khi cả tầng bốc mùi và đội SWAT (vì sao phải gọi đến họ thì con không biết) đã phải tông cửa xông vào, tay lăm lăm súng. Nguyên một tháng ròng đồ đạc của ông nằm chỏng chơ trên cái xe rác bằng sắt to đùng ở sân sau, và một con ngựa gỗ sơn tay, cái đầu thè lè lưỡi của nó, ngó ra từ trên đỉnh xe rác dưới cơn mưa.

Trevor và con cứ đạp đi, qua đường Church nơi chị gái Joe Bự sốc thuốc, qua khu đậu xe phía sau cái BẾN TÌNH XXX SIÊU CẤP nơi Sasha sốc thuốc, qua công viên nơi Jake và B-Rab sốc thuốc. Có điều B-Rab sống, chỉ để mấy năm sau thì bị bắt vì ăn trộm cả đống laptop trong Đại học Trinity và phải ở bốn năm trong nhà tù hạt - không được thả trước hạn. Một án phạt khá nặng, đặc biệt là với một đứa trẻ da trắng ở ngoại ô. Rồi có Nacho bị mất chân phải trong chiến tranh Vùng Vịnh, mỗi cuối tuần lại nằm lên ván trượt chui vào sửa chữa dưới gầm những chiếc xe được kích nâng lên ở Trạm sửa xe Maybelle. Nơi ông từng lôi ra một em bé đẹp đẽ, mặt đỏ lựng vì gào khóc, từ trong thùng xe một chiếc Nissan bị bỏ lại sau trạm trong cơn bão tuyết. Ông buông rơi đôi nạng và đưa cả hai tay ẵm đứa bé, và không khí đỡ ông đứng lên lần đầu tiên sau bao nhiêu năm trời, trong lúc tuyết đổ xuống, rồi dâng lên lại từ dưới đất, sáng chói tới nỗi, trong một giờ khắc mịt mờ tuyệt diệu, tất cả mọi người trong thành phố đều quên mất vì sao mình đang cố thoát ra khỏi nó.

Rồi có quán Mozzicato trên đại lộ Franklin, nơi con lần đầu tiên được ăn món canoli. Nơi không có gì chết đi trong số những gì con quen biết. Nơi con ngồi nhìn ra cửa sổ một đêm hè từ tầng năm tòa nhà mình sống, trong bầu không khí cũng ấm áp và dịu ngọt như lúc này, nghe những giọng nói thì thào của các cặp đôi trẻ, những đôi Converse và Air Force One va vào nhau trên cầu thang thoát hiểm trong lúc họ để cơ thể mình cất lên những ngôn ngữ còn lại, âm thanh của diêm, hay lửa lóe lên từ mấy cái hộp quẹt có hình những khẩu 9 ly hay Colt .45 bóng loáng, đấy là cách mà ta biến cái chết thành một trò đùa, cách ta thu nhỏ lửa xuống còn bằng một hột mưa trên phim hoạt hình, rồi hút lấy qua những đầu thuốc lá quấn bằng lá thuốc, như truyện thần thoại. Bởi vì dần dà nước sông sẽ dâng lên ở nơi đây. Nó sẽ tràn ra chiếm lấy tất cả và cho ta thấy mình đã mất gì, như bao lần trước đó.

Nan hoa kêu ro ro. Mùi cống từ nhà máy nước thải làm mắt con cay xè ngay trước khi gió kịp ra tay, thổi bạt hết ra sau con, như nó vẫn thổi đi những cái tên người chết.

Bọn con băng qua, để hết lại sau lưng, nan hoa xoay vòng đưa bọn con tiến vào gần khu ngoại ô. Khi bánh xe đã nghiến xuống mặt đường ở Đông Hartford, mùi khói củi bay xuống từ trên đồi làm trong veo tâm trí. Con nhìn chăm chăm lưng Trevor trong lúc đạp xe, chiếc áo khoác UPS màu nâu của cậu, ba cậu được phát hồi làm việc ở đó được một tuần rồi bị sa thải sau khi nốc hết cả lốc sáu lon bia trong giờ nghỉ trưa và tỉnh dậy lúc gần nửa đêm trên một chồng thùng các tông tím rịm dưới ánh trăng.

Bọn con đi dọc đường Main. Lúc tới được nhà máy đóng chai Coca-Cola, tấm bảng đèn neon sáng rực phía trên tòa nhà, Trevor gào toáng, “Đù má Coca-Cola! Sprite là số một, đồ chó!” Cậu liếc ra sau và cười méo xẹo. “Ừ, đù má tụi nó,” con hùa theo. Nhưng cậu không nghe thấy.

Đèn đường lui dần và vỉa hè dốc lên thành một vệ đường đầy cỏ, tức là bọn con đang đi lên đồi, tới khu biệt thự. Chẳng mấy chốc bọn con đã vào sâu khu ngoại ô ở Nam Glastonbury, và những ánh đèn nhà người ta bắt đầu xuất hiện, đầu tiên là những đốm cam lập lòe qua hàng cây, nhưng tới gần hơn, chúng trở thành những phiến vàng dày lớn. Ta có thể nhìn qua những ô cửa sổ này, những cửa sổ không có chấn song thép, rèm kéo mở hết cỡ. Ngay cả từ ngoài đường cũng thấy được những đèn chùm lấp lánh, bàn ăn tối, mấy cái đèn Tiffany đủ màu có chụp đèn kiếng ghép trang trí. Những ngôi nhà này lớn tới nỗi có thể ngó khắp các cửa sổ mà không thấy một ai.

Trong lúc chúng con leo lên con đường đồi dốc, bầu trời không sao mở ra, cây cối từ từ dạt về phía sau, và những ngôi nhà càng lúc càng cách xa nhau. Có hai nhà hàng xóm cách nhau cả một vườn cây ăn trái, táo chín rụng bắt đầu thúi um khắp vườn bởi không ai hái. Trái cây lăn ra đường, thịt đã nhão nhoét và nâu lại, vỡ tung dưới những bánh xe đi qua.

Bọn con ngừng lại ở đỉnh một ngọn đồi, kiệt sức. Ánh trăng ve vuốt vườn cây bên phải bọn con. Những quả táo sáng lờ mờ trên cành, đôi chỗ rụng xuống kèm theo những tiếng thịch nhanh gọn, cái mùi lên men ngọt gắt xuyên sâu vào phổi. Sâu trong cánh rừng sồi bên kia đường, những con ếch cây vô hình lào khào gọi nhau. Bọn con bỏ xe đạp nằm xuống và ngồi trên một hàng rào gỗ dọc bên đường. Trevor đốt một điếu thuốc, rít một hơi, mắt nhắm lại, rồi chuyền cái hạt cườm màu hồng ngọc đó sang các ngón tay con. Con hút nhưng bật ho, nước bọt quánh lại sau chuyến đạp xe. Khói sưởi ấm phổi con và mắt con nhìn xuống một cụm biệt thự dưới thung lũng nhỏ trước mặt.

“Người ta nói Ray Allen sống trên này đó,” Trevor nói.

“Cầu thủ bóng rổ đó hả?”

“Ổng chơi cho Đại học Connecticut - ổng có khi có tới hai căn trên này.”

“Có thể ổng sống trong kia,” con nói, chỉ điếu thuốc về phía ngôi nhà duy nhất tối hù ở rìa thung lũng. Ngôi nhà gần như vô hình nếu không thấy đường trang trí màu trắng quanh các viền, như bộ xương của một sinh vật thời tiền sử. Có thể Ray Allen không có nhà, con nghĩ, anh ta thi đấu giải NBA và quá bận rộn không thể về đây sống. Con chuyền lại điếu thuốc.

“Nếu Ray Allen là ba mình,” cậu nói, ánh mắt vẫn dán vào ngôi nhà xương, “đó sẽ là nhà mình và cậu có thể tới ngủ lại lúc nào cũng được.”

“Cậu đã có ba cậu rồi mà.”

Cậu búng mẩu thuốc xuống đường và nhìn đi chỗ khác. Nó rơi và vỡ ra thành một vết rách màu cam trên mặt đường, rồi tắt ngúm.

“Quên thằng cha đó đi, cậu nhỏ,” Trevor nhìn con, ánh mắt dịu dàng, “ổng không đáng.”

“Đáng gì?”

“Đáng để bực mình, chứ gì. A - hên quá!” Cậu lấy một thanh Snickers mini từ túi áo khoác. “Hẳn là còn sót lại hồi Halloween.”

“Ai nói mình bực đâu.”

“Chỉ là ổng có chút vấn đề, cậu biết không?” Cậu chỉ cây Snickers lên đầu. “Rượu ngấm vô đầu ổng rồi.”

“Ừ. Chắc vậy.” Đám ếch cây dường như mỗi lúc một xa, nhỏ dần.

Một kiểu im lặng căng lên giữa bọn con.

“Nè, đừng có im ru bà rù kiểu đó chứ. Bê đê lắm. Ý mình là…” Cậu thở hắt ra một hơi buồn bực. Cậu cắn thanh Snickers. “Chia không?”

Con trả lời bằng cách há miệng ra. Cậu đặt mẩu kẹo cỡ bằng ngón tay cái lên lưỡi con, rồi lấy cổ tay chùi miệng, nhìn đi chỗ khác.

“Về thôi,” con vừa nói vừa nhai.

Cậu định nói gì khác, răng cậu như những viên thuốc xám dưới ánh trăng, nhưng rồi cậu đứng dậy và loạng choạng ra chỗ xe đạp. Con dựng xe mình lên, khung thép ướt đầm vì sương, và lúc đó con nhìn thấy. Chính xác thì Trevor thấy trước, cậu buột ra một tiếng thốt gần như thì thào. Con quay lại và bọn con cứ đứng trân ra đó tựa vào xe đạp.

Là Hartford. Nó là một cụm ánh sáng phập phồng với thứ sức mạnh con chưa từng nhận ra nó sở hữu. Có thể là do hơi thở của cậu khi đó con nghe thật rõ ràng - do con hình dung ôxy trong cổ họng cậu, phổi cậu, phế quản và các mạch máu nở ra, ôxy di chuyển khắp các ngóc ngách mà con sẽ không bao giờ nhìn thấy - mà con cứ trở lại với thước đo cơ bản nhất cho sự sống này, rất lâu sau khi cậu đã đi xa.

Nhưng lúc này, thành phố sáng lên trước mắt bọn con chói lọi một vẻ hiếm hoi, lạ thường - như thể nó không hề là một thành phố, mà là một chùm tia lửa do một vị thần nào đó đang mài vũ khí trên đầu bọn con.

“Đù,” Trevor thì thào. Cậu đút tay vào túi quần và khạc xuống đất.

“Đù.”

Thành phố phập phồng, nhấp nhánh. Rồi, như vỗ vào mình cho tỉnh lại, cậu nói, “Đù má Coca-Cola.”

“Ừ, Sprite là số một, đồ chó,” con nói thêm, khi đó không hề biết điều bây giờ con đã biết: rằng Coca-Cola và Sprite đều do một công ty chết bầm làm ra. Rằng dù ta có là ai hay yêu gì hay đứng ở đâu đi nữa, thì đến cuối cùng, nó cũng vẫn là Coca-Cola thôi.

Báo cáo nội dung xấu