Mưu Trí Thời Lưỡng Tống - Chương 08
30. Mượn tay kẻ khác, thực hiện ý đồ của mình
Sau 11 năm Thái hậu buông rèm chấp chính, Nhân Tông mới chính thức điều hành triều chính. Chính sách của ông giống hệt cha mình, rất nhu nhược, đối với kẻ thù chỉ dùng cách phòng thủ.
Thời kỳ Tông Thái Tông, chiếm lĩnh vùng Hạ Châu là dân tộc Đẳng Hạ, thủ lĩnh tên là Lý Kế Thiên, được triều Liêu phong vương, xưng là Hạ Quốc Vương. Sau khi Lý Kế Thiên chết con là Lý Đức Minh kế nghiệp, chủ trương hòa hoãn với triều Tống. Công nguyên năm 1038 con của Đức Minh là Nguyên Hạo xây dựng thành đô ở Hưng Châu tự xưng Hoàng đế, quốc hiệu Đại Hạ, bắt đầu gây căng thẳng với triều Tống. Năm 1040, Nguyên Hạo dẫn quân Tây Hạ xâm lược Diên Châu. Tướng quân là Lưu Bình, Thạch Nguyên Tôn tức tốc từ Khánh Châu dẫn binh tới cứu ứng. Giám quân Hoàng Đức Hòa (vốn là hoạn quan), Quách Tôn v..v cũng kéo đến đánh cho quân Tây Hạ phải liên tiếp lui quân. Nhưng đến tối, quân Đại Hạ đông tới hàng vạn bất ngờ tấn công. Quân Tống chưa kịp trở tay đã bị đánh bại. Tướng quân Lưu Bình sai con đi khuyên Hoàng Đức Hòa dẫn quân quay trở lại phối hợp chặn giặc. Nhưng ông này không nghe, một mực tìm đường rút lui, một số tướng khác thấy vậy cũng bỏ chạy. Lưu Bình và binh sĩ của ông đơn độc không chống nổi địch nên đều tử trận.
Tin này lập tức được truyền về triều đình, văn võ bá quan dâng tấu vạch tội Hoàng Đức Hoa và xin vua định rõ tội. Sau khi điều tra sự thật, chiếu theo luật định xử Hoàng Đức Hòa phải tội chết.
Cùng lúc đó trong triều có người dâng tấu nói rằng không nên để hoạn quan giữ chức lâm quân. Nhân Tông bèn triệu tể tướng Lã Di Giản lại bàn bạc. Ông này trong thâm tâm đã không muốn bọn hoạn quan giữ chức lâm quân nhưng lại không muốn nói ra vì sợ mất lòng bọn chúng. Nay hoàng thượng hỏi đến chuyện này, ông bèn đáp: “Hoàng thượng hãy khoan bãi chức lâm quân của hoạn quan, đợi đến khi nào chọn được người thay thế”. Nhân Tông nói: “Vậy khanh giúp trẫm chọn người”. Lã Di Giản đáp: “Thần là tể tướng, không nên có mối quan hệ cá nhân với thái giám, thần lại không hiểu hết tình hình của bọn họ. Xin hoàng thượng lệnh cho chủ quản Thái giám là Đô Tri và Giáp Ban chọn người. Hai người này nắm rõ thuộc hạ của mình, hơn nữa, nếu người mà ông ta chọn không làm tròn bổn phận thì ông ta cũng phải chịu tội”. Nhân Tông nghe xong cho là phải.
Thái giám nào cũng thích giữ chức lâm quân. Nhưng mắt thấy Hoàng Đức Hoa bị xử chết, nên bọn thái giám trong lòng đều sợ. Nếu như kẻ được chọn kế tiếp lại không làm tròn nhiệm vụ thì Đô Tri và Giáp Ban cũng bị vạ lây. Thế là nhận được lệnh chưa đầy hai ngày, Đô Tri và Giáp Ban bèn tâu xin Hoàng thượng xin cho thái giặm được rút khỏi chức lâm quân. Và ngay sau đó điều này lập tức được phê chuẩn. Các quan trong triều không ngớt lời khen Lã Di Giản khôn khéo mượn tay Đô Tri và Giáp Ban thực hiện ý đồ của mình.
Trong thương nghiệp cũng vậy, người chủ doanh nghiệp có thể sử dụng người ngoài để đạt lấy mục đích của mình.
Phải biết khéo léo tận dụng cái gì có thể tận dụng được để mở rộng phạm vi sản phẩm của mình, nâng cao uy tín của sản phẩm, hoặc có thể sử dụng danh tiếng của những vị có tên tuổi để hỗ trợ cho việc tuyên truyền sản phẩm công ty.
Trước khi Pepsi ra đời thì Coca Cola đã nổi tiếng trên thế giới. Tuy thế công ty Pepsi vẫn tồn tại và phát riển thành bá chủ mới của thế giới giải khát. Tất cả thành công này là công lao của chủ tịch hội đồng quản trị, ông Naider. Ông gia nhập tập đoàn Pepsi từ sau chiến tranh thế giới lần 2. Lúc đầu ông chỉ là một anh tiếp thị vô danh tiểu tốt. Lúc đó trên thị trường trong nước và quốc tế Pepsi không được coi là đối thủ của Coca Cola. Thấy cảnh đó, Naider rất lo lắng. Ông không chỉ lo lắng cho công việc của mình mà còn lo lắng cho sự phát triển của công ty. Thế là ông luôn suy nghĩ tìm mọi cách làm tốt công việc. Điều này mang lại cho ông một chút thành công ở hải ngoại.
Ông chăm chú nghiên cứu thị trường tiêu thụ của Coca Cola và phát hiện ra rằng còn có rất nhiều “mảnh đất trống”, nhất là khu vực Trung Quốc, Liên-xô, châu Á, châu Phi rộng lớn. Thế là ông quyết tâm đầu tư vào những thị trường này.
Năm 1959 một hội chợ được tổ chức tại Matxcơva. Đích thân Phó Tổng thống Mỹ lúc bấy giơ là Nickxon sẽ đến tham dự. Vốn có mối quan hệ từ trước, Naider liền nhờ Phó Tổng thống giúp cho, làm thế nào để các quan chức Liên Xô trong buổi khai mạc đều xuất hiện trước công chúng với một lon Pepsi trên tay.
Và thế là trên các phương tiện thông tin khắp thế giới hôm ấy đều xuất hiện hình ảnh các vị lãnh đạo với lon Pepsi trên tay. Naider rất hài lòng. Đây là một quảng cáo không gì có thể so sánh nổi của công ty. Sau vụ đó Naider được bầu là phó giám đốc đối ngoại và sau đó là giám đốc đối ngoại công ty.
Năm 1964, Phó Tổng thống Nickxon bị thất bại trong cuộc chạy đua vào nhà trắng. Naider quyết định dùng một số lượng kỷ lục là 10 vạn USD mời ông về làm cố vấn và luật sư cho công ty. Đây quả là quyết định sáng suốt bởi với danh tiếng và các mối quan hệ cũ, ông đã gây được nhiều ảnh hưởng tốt, thuận lợi cho công ty. Đặc biệt là trong cuộc cạnh tranh với hãng Coca Cola tại Đài Loan, Pepsi đã giành được thắng lợi.
Ngày nay Pepsi đã trở nên hùng mạnh, đứng ở thế ngang hàng với Coca Cola. Nói đến thành công này không thể quên được sự khôn khéo của Naider trong việc dựa vào danh tiếng và mối quan hệ của Phó Tổng thông Mỹ Nickxon để đạt được mục đích của mình.
31. Chậm mà chắc
Tống Nhân Tông có một vị hàn lâm học sĩ kiêm sử quan tên là Thịnh Độ. Một hôm, quan thái giám chạy tới tìm ông nói: “Hoàng thượng muốn gặp ông ngay”. Thịnh Độ không kịp chuẩn bị gì tức tốc vào cung. Thấy ông, Tống Nhân Tông nói: “Gần đây khắp nơi trong dân gian hạn hán. Trẫm đã cầu tế trồi đất nhiều lần mà chưa thấy kết quả gì. Nay trẫm muốn thảo một chiếu thư để nhận những sai lầm của mình, ủy lạo muôn dân, chia sẻ với họ sự khổ cực. Khanh hãy lập tức viết chiếu thư này cho trẫm”. Nghe hoàng thượng nói vậy, Thịnh Độ sợ toát mồ hôi. Ông vốn nổi tiếng văn hay chữ tốt, nhưng trước tác của ông phải có thời gian suy ngẫm và chỉnh lý mới đạt tới hoàn hảo mà mọi người thường thấy. Nay nêu lập tức viết thì nhất định sẽ chẳng ra gì rồi. Cái khó ló cái khôn, ông chợt quỳ xuống tâu: “Hoàng thượng, thần mỗi khi viết văn thường phải có bàn mới viết được”. Vua bèn lệnh cho người di khênh bàn tới. Trong thời gian ngắn ngủi đó ông đã kịp trấn tĩnh và nghĩ ra được đôi điều. Khi bàn viết đưa tới, ông lập tức đưa nét chữ như phượng múa rồng bay trên nền lụa đỏ. Hoàng thượng đứng cạnh không ngớt lời khen tài văn chương của ông.
Thông thường, sự chậm chạp hay bị xem là điều không nên và bị chỉ trích. Nhưng trong nhiều trường họp nó lại được sử dụng như một mưu kế khôn ngoan. Trong cuôn “Chiến tranh luận” Klasawisi từng viết: “Trong chiến tranh, có những lúc chính phủ phải biết chờ đợi, hoặc là đợi sự tham chiến của liên quân, hoặc là đợi quân đội hùng mạnh từ chiến trường khác điều đến hoặc là đợi tới khi quân địch lâm vào thế bí về kinh tế, lương thực v.v… Trong lịch sử chiến tranh, điều này như là sợi chỉ đỏ xuyên suốt. Nó đã nhiều lần cứu nguy cho phe đồng minh và cũng nhiều lần cứu nguy cho đê quốc Anh! Nếu sự chậm trễ, trì hoãn được sử dụng một cách có mục đích, có tiết chế thì nó sẽ tạo nên những cơ hội tốt.
Ông chủ của công ty Sony tên là Thịnh Điền Chiêu Phu rất am hiểu về lĩnh vực điện tử và là một nhân tài về nghiên cứu khoa học. Nhờ vậy công ty của ông đã sáng chế được chiếc máy video gia dụng đầu tiên trên thế giới. Ông muốn tìm một người hợp tác để nhanh chóng phổ biến mặt hàng này. Và cuối cùng ông chọn công ty điện tử Hitachi. Đây là công ty hàng đầu thế giới về đồ điện, lúc đó video đang là sản phẩm rất ăn khách, nên công ty Hitachi cũng đang đầu tư nghiên cứu. Nay được tin công ty Sony đã cho ra đời sản phẩm này họ vừa lo vừa mừng. Mừng vì công ty Sony chưa tung sản phẩm ra thị trường mà lại tìm cách hợp tác với mình. Giám đốc công ty Sony năm lần bảy lượt đến bàn bạc với công ty Hitachi nhưng công ty này tìm hết lý do này đến lý do khác để hoãn việc công bố sản phẩm. Linh cảm thấy có điều bất ổn, Thịnh Điền Chiêu Phu liền rút lại lời hợp tác, tự mình đưa sản phẩm ra thị trường. Nhưng đúng lúc ông công bố sản phẩm thì tập đoàn Hitachi cũng cho ra đòi loại video tương tự. Nhờ vào thực lực mạnh, Hitachi chẳng mấy chốc đã chiếm lĩnh thị trường, đánh bại sản phẩm của Sony. Nhờ vào sự trì hoãn có mục đích mà Hitachi đã chiến thắng.
32. Quan sát tình thế, chuẩn bị chu đáo
Chiến tranh giữa Tống triều và Tâv Hạ vẫn cứ liên miên, nhưng quan hệ với Liêu quốc thì vẫn hòa bình, ổn định sau hiệp ước Thiền Châu.
Sau khi thủ lĩnh Khiết Đan bệnh chết, con trai là Tông Chân nối ngôi. Chân Tông phái hàn lâm học sĩ tên là Lưu Lục Phù sang sứ nhà Tông, ông này được triều Tống đón tiếp long trọng. Có lần, ông này hỏi đại thần triều Tống là Giả Xương Triều rằng: “Hồ ở Quan Nam nông và hẹp như vậy, sao không dùng vạn túi đất mà đắp nó thành đường”. Nghe xong, ông này vội mang lời của sứ thần nước Liêu tâu với Nhân Tông, vua bèn triệu Hàn lâm học sĩ Vương Cung Chấn vào hỏi ý kiến; ông này nghĩ một hồi rồi nói: “Việc quân luôn lấy cơ mật làm đầu. Lời của sứ thần về Quan Nam đáng ra không nên nói. Thần e nước Liêu có mưu đồ gì đây. Hồ ở Quan Nam là do các tiên đế tạo nên, bệ hạ chớ thay đổi gì”. Nghe vậy vua cho là phải và sai ông đi tìm hiểu thêm tình hình ở Quan Nam.
Ở nước Liêu, sau khi Chân Tông kê vị, quốc nội chẳng có gì đại sự, nhân khẩu gia tăng, trong khi đó nước Tống lại phải đương đầu với Tây Hạ mấy năm liền, sức quân và lực dân hao mòn nên Tông Chân nảy sinh ý đồ xâm lược vùng phía Nam nước Tông, bèn sai sứ thần Lưu Lục Phù đến đổi 10 huyện ở Quan Nam. Ông này đứng trước triều Tống lên tiếng trách: “Tại sao nước Tống lại vi phạm hiệp ước, tập trung binh lính, tăng thêm nước hồ và đóng kín cửa ải Quan Nam”. Vương Cung Chấn đáp: “Triều Tống không vi phạm hiệp ước. Đóng của ải - tập trung binh mã chỉ là việc quân sự thao luyện binh lính để phòng thủ của quốc gia. Tăng thêm nước hồ là để khơi thông dòng chảy Bắc Nam”. Sứ thần nước Liêu lại tiếp: “Mười sáu châu ở Yên Vân vốn là đất của nước Liêu. Thái Tông đem quân chinh chiến chiếm cứ vùng này. Nay hai nước đã hòa hảo, quý quốc nên trả lại đất Quan Nam thuộc vùng này cho Liêu quốc”. Các quan trong triều chưa biết trả lời sao thì Vương Cung Chân đã đáp: “Năm xưa tiên đế chinh phạt Bắc Hán, nước Liêu đem quân viện trợ cho Bắc Hán, tiên đế nổi giận đem quân chinh phạt Yên Vân”. Sau đó ông miêu tả tỉ mỉ tình tiết và nguyên nhân của trận chiến năm xưa, trong đó cố ý chỉ rõ cho sứ thần nước Liêu biết rằng Quan Nam thuộc về nước Tống là điều hợp tình hợp lý, không thể khác được. Sứ thần nước Liêu không biết nói gì đành hậm hực quay về. Nhân Tông vui mừng nói: “Nếu không có đại thần Vương Cung Chân sớm biết rõ mưu đồ của Liêu để chuẩn bị đối phó kỹ càng thì sứ thần Liêu quốc sẽ dồn ta vào thế bí rồi”. Vương Cung Chấn biết quan sát tình hình, chu đáo trong công tác chuẩn bị đã giành được thế chủ động cho nhà Tống.
Trong thương trường ngày nay, một nhà doanh nghiệp giỏi phải có con mắt quan sát tinh tường, nắm được những cái sẽ xảy ra, lường trước được những cái sẽ đến, có như vậy mới có thể nắm được xu hướng vận động của thị trường và yêu cầu xã hội, từ đó có được những quyết sách khoa học, chuẩn xác hơn người và giành được lợi ích.
Khi chiến tranh Nam Bắc ở Mỹ nổ ra, giá thịt lợn hộp rất đắt, nhưng ông chủ Philip của công ty gia công thịt hộp Philip nhận thấy đó chỉ là con sốt tạm thời. Nếu chiến tranh kết thúc, giá thịt hộp sẽ lập tức giảm. Ông theo dõi sát sao tình hình chiến sự để kịp thời ứng phó. Một hôm ông chợt đọc được một bài phóng sự trên báo. Nội dung là một đám trẻ con cầm tiền trên tay mà không biết mua bánh mì ở đâu. Chúng nói ba chúng đều là quân lính của đội quân phía Nam. Bố chúng cũng đói mấy ngày nay rồi chỉ có thịt ngụa để ăn thôi. Tin này quả là quan trọng vì qua đó ông biết quân phía Nam đã thất thủ, chẳng cầm cố được bao lâu nữa cho nên chiến tranh sẽ kết thúc trong nay mai.
Ông lập tức đưa ra một quyết định, ký một hợp đồng với thị trường đông bộ bán một lượng thịt lợn hộp cực lớn cho họ với giá rẻ bất ngờ. Không lâu sau đó, chiến tranh kết thúc, đúng như dự đoán của Philip, thịt lợn hộp rớt giá thảm hại. Với khả năng dự đoán tài tình ông đã kiếm được 100 vạn USD tiền chênh lệch giá từ khoản hợp đồng ký kết này.
33. Tri châu thuận gió đẩy thuyền,
tùy tùng không có cớ gây sự
Trong sách cổ Trung Hoa từng viết rằng: “Con người hành động nên dựa vào thời thế mà tiến hay lùi, giống như chèo thuyền vậy. Khi thủy triều lên thì đưa thuyền vào bến, nếu để lỡ mất thời cơ thì vừa khó nhọc mà lại nguy hiểm”. Đại ý của câu nói này là thời thế và sự thành công có mối quan hệ mật thiết. Biết lợi dụng tình thế thì sẽ tận dụng được nhiều yếu tố mà dẫn đến thành công.
Thời Tống Nhân Tông, Văn Ngạn Bác nhận chức tri châu ở ích Châu (nay là Thành Đô - Tứ Xuyên). Một hôm, ngoài trời mưa phùn gió bấc, tiết trời giá rét, ông mở yến tiệc linh đình trong phủ. Thịt, rượu ê hề, tiếng đàn hát, chúc tụng không ngớt. Lúc này đám lính canh ở ngoài bắt đầu ta thán bất bình, có người nói: “Các anh em, các huynh trưởng, đại quan ở trong phủ yến tiệc say sưa, còn chúng ta chịu đói, chịu rét ở ngoài này, đến một ngọn lửa sưởi ấm cũng không có. Chúng ta hãy đi dỡ ngôi đình bên giếng nước kia để lấy củi sưởi”. Nghe vậy có người gàn: “Nếu quan biết được lập tức sẽ cho tra hỏi. Như vậy có phải là ầm ỹ lên không?” Người này bèn đáp: “Như thế càng hay, chúng ta cũng có dịp nói cho hả giận”. Nói rồi ông này tiên phong dỡ mấy mảnh gỗ trên mái đình xuống, tất cả bọn lính khác thấy vậy cũng ra tay. Chẳng mấy chốc ngôi đình đã bị phá tan hoang, củi gỗ chất một đống, lửa cháy bập bùng. Một tên thuộc hạ trong phủ đi ra nhìn, thấy vậy hốt hoảng chạy vào bàn tiệc bẩm báo. Mọi quan khách nghe tin đều sợ hãi tái mặt. Vậy nhưng Văn Ngạn Bác vẻ mặt vẫn điềm nhiên dáp: “Kể ra bọn chúng làm vậy cũng có chỗ dễ hiểu. Ngoài trời rét như thế, không có ngọn lửa nào sưởi ấm thì chịu sao nổi. Thôi, hãy kệ cho chúng làm”. Nói rồi lại vui vẻ nâng cốc như không có chuyện gì. Đám lính canh bên ngoài chắc mẩm thế nào quan lớn cũng ra quát nạt, nay bỗng thấy bên trong, phủ vẫn vui vẻ như thường, chẳng thấy động tĩnh gì thì chột dạ, lo lắng.
Ngày hôm sau, Văn Ngạn Bác cho tra hỏi tìm rõ kẻ cầm đầu làm bậy, đánh cho một trận rồi đuổi về quê.
Văn Ngạn Bác do am hiểu thời thế, xử trí sự việc theo đà phát triển của nó nên tránh được một trận cãi vã không đáng có.
Chủ tịch tập đoàn Phong Long Singapore là Quách Phương Phong từng nói: “Phải biết kết hợp với nhu cầu của thời đại”. Trong cuộc sống hiện tại, mọi thứ đều có thể biến đổi. Đôi với những bậc mưu sĩ cao tay mà nói nên nhận thức rõ ràng đại cục của thời đại thì mới nắm bắt được cơ hội tiềm tàng. Từ thập kỷ 80 của thế kỷ 20 trở lại đây, lĩnh vực y học không ngừng phát triển, nhiều phương thức chẩn đoán và trị liệu mới được áp dụng đã khiến cho tuổi thọ của con người kéo dài hơn. Con người lại khát khao lưu giữ diện mạo và sức lực của tuổi thanh xuân. Nắm bắt được trào lưu này, khắp nơi trên thế giới cho ra dơi các sản phẩm chông lão hóa.
Lúc đó xưởng trưởng của xưởng sản xuất thuốc thứ hai của Hàng Châu là ông Phùng Căn Sinh cảm thấy dường như môn thuốc Đông y từ cổ xưa của Trung Quốc đã trở thành viên ngọc đến lúc phát sáng. Và ông quyết định bám sát trào lưu, cho ra đời loại thuốc đông y chống lão hóa.
Ồng cho thành lập một đội ngũ cán bộ khoa học giỏi, tập trung các bài thuốc gia truyền trong dân gian và các thang thuốc bảo mật quý giá của các vua chúa đời xưa. Thông qua nghiên cứu, thử nghiệm ông đã chế ra được một phương thuốc có kết quả chống lão hóa cực kỳ hiệu nghiệm mà lại không gây phản ứng phụ, đó là: Minh triều Vĩnh Lạc. Sau đó ông cho sản xuất dưới dạng viên gọi là: “Hồi phục thanh xuân”. Thông qua việc thử nghiệm trên động vật và xét nghiệm lâm sàng đã rút ra kết luận: 1- Không có phản ứng độc hại; 2- Có tác dụng đặc biệt tốt; 3- Có tác dụng điều chỉnh hoặc bình thường hóa, bất luận thể chất của người bệnh là gì; 4- Có tác dụng bảo vệ cơ thể không có phản ứng phụ như thuốc Tây mà hiệu quả sử dụng lại không kém gì.
Năm 1982, Tổng cục Y dược Trung Quốc giới thiệu với các nước sản phẩm “Thanh Xuân bảo” và tổ chức giao lưu học thuật do Phùng Căn Sinh viết báo cáo. Tất cả báo chí và các phương tiện truyền thông đều đưa tin về sản phẩm này.
Năm 1987, thành lập công ty liên doanh giữa công ty Thanh Xuân Bảo của Trung Quốc và một chi nhánh công ty Canada. Đây là công ty thuốc Đông y đầu tiên ở Trung Quốc liên doanh với nước ngoài. Phùng Căn Sinh giữ chức chủ tịch hội đồng quản trị và trở thành thầy thuốc Đông y Trung Quốc đầu tiên có tên tuổi vượt khỏi biên giới lãnh thổ. Thành công to lớn này là nhờ ông nắm được nhu cầu thời thế, thuận gió giương buồm.

