Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 9

Chương IX. Nghệ thuật chiến tranh

Tuyệt đỉnh của nghệ thuật chiến tranh là khuất phục kẻ thù mà không cần phải giao chiến.

—Tôn Tử

Tôi căng phổi lên hét gã bồi phòng của khách sạn Bristol tại Paris: “Anh nói không có áo choàng tắm nào trong phòng hạng sang là thế nào hả?” Anh ta lùi về phía cửa ra vào và nhún vai, tỏ ý không thể làm gì hơn, đúng là khốn kiếp. Rồi tôi để ý thấy, không có đĩa trái cây nào. Cái đĩa có táo và chuối đáng lẽ phải ở trong phòng hạng sang đâu rồi? Mà này, đợi một lát. Họ cũng quên không gấp lớp giấy đầu tiên của cuộn giấy vệ sinh thành một hình tam giác nhỏ. Nhảm nhí, không thể nào tin được. “Chết tiệt,” tôi quát, “Gọi quản lý lên đây ngay. Anh có hiểu tôi phải trả bao nhiêu để ở lại đây không? Có hiểu không?”

Rồi tôi thức dậy. “Không sao đâu,” vợ tôi nói. “Anh chỉ có một cơn ác mộng về khách sạn nữa thôi mà.” Nhưng nó không chỉ là một cơn ác mộng ở khách sạn, và nó cũng không tốt lành gì. Đôi khi tôi mơ mình vừa bị hãng hàng không British Airways chuyển từ hạng hội viên xuống hạng kinh doanh, lắm lúc còn tệ hơn. Nhà hàng Tante Claire ở London đã cho phép ai đó ngồi vào cái bàn ăn ưa thích của tôi hay người lái xe bị chậm vào buổi sáng. Tôi đã phải trải qua những điều đó. Cơn ác mộng về ngân hàng đầu tư đã ám ảnh tôi suốt từ khi tôi bán các trái phiếu O&Y: bị dằn vặt bởi sự kết hợp giữa sự xa hoa quá độ và vóc dáng kinh sợ của một Big Swinging Dick. Hãy hình dung xem. Không có đĩa trái cây. Dù sao chăng nữa, nó cũng qua rồi. Và đã 6 giờ sáng. Đến giờ làm việc rồi.

Có phải đến giờ chưa? Ngày này – tháng 8 năm 1986 – là một ngày đặc biệt. Tôi sắp có cuộc chạm trán đầu tiên với loại mưu mô và cách thọc dao đằng sau lưng rất nổi tiếng của các vị giám đốc ngân hàng đầu tư. Có hai loại va chạm trong giới Salomon Brothers. Loại thứ nhất được tạo ra bởi những người đang xô xát đổ lỗi cho nhau khi bị thua lỗ. Loại thứ hai do những người xô xát để tranh công khi làm ra lợi nhuận. Trận chiến đầu tiên của tôi trên sàn giao dịch là do lợi nhuận chứ không phải thua lỗ, điều này rất tốt. Tôi sẽ thắng nó, thế thì càng tốt.

Không có luật bản quyền nào trong nghiệp vụ ngân hàng đầu tư và không có cách nào để đăng ký cấp bằng sáng chế cho một ý kiến hay. Niềm tự hào về quyền sở hữu ý kiến được thay thế bằng niềm tự hào về những món lãi. Nếu Salomon Brothers tạo ra một loại trái phiếu hay cổ phiếu mới, thì trong vòng 24 tiếng đồng hồ, Morgan Stanley, Goldman Sachs và những công ty còn lại sẽ phải vạch ra kế hoạch hành động ra sao và cố gắng làm ra một loại giống như thế. Tôi hiểu điều này là một phần của trò chơi. Tôi nhớ một vị giám đốc ngân hàng đầu tư đã dạy cho tôi một câu châm ngôn.

“Chúa đã cho nhân loại đôi mắt, hãy dùng nó để ăn cắp.”

Hãy ra đòn mạnh tay khi cạnh tranh với các công ty khác. Tuy nhiên, những gì tôi sắp học được, đó là bài thơ này cũng mạnh tay tương đương khi cạnh tranh bên trong Salomon Brothers.

Tại London, vào lúc 10 giờ sáng ngày hôm đó, Alexander gọi điện tới. Tất nhiên anh đang ở New York và lúc đó là 5 giờ chiều. Anh đã và đang ngủ trong công việc nghiên cứu của mình, bên cạnh chiếc máy Reuters và mỗi giờ lại thức giấc để kiểm tra giá cả. Anh muốn biết tại sao đồng đô-la đang giảm mạnh. Đồng đô-la biến động thường là do thống đốc ngân hàng trung ương hay một chính trị gia nào đấy ở đâu đó đã đưa ra một tuyên bố. (Các thị trường sẽ bình ổn hơn nhiều nếu các chính trị gia cứ việc giữ quan điểm về tương lai của đồng đô-la cho riêng họ. Thường thì câu chuyện sẽ kết thúc với việc họ đưa ra lời xin lỗi, hay đính chính bình luận đó). Nhưng đã không có tin nào như vậy. Tôi nói với Alexander rằng có vài tay người Ả-rập đang bán ra một trữ lượng lớn vàng để thu về đồng đô-la. Họ bán luôn lượng đô-la đó để đổi lấy đồng mark Đức, và vì thế kéo giá đồng đô-la xuống thấp hơn.

Tôi dùng phần nhiều thời gian trong quãng đời làm việc để sáng tạo ra những lời nói dối hợp lý như thế này. Thường thường mỗi khi thị trường biến động, hầu như không ai biết tại sao. Là dân môi giới, ai có thể kể một câu chuyện hay thì có thể kiếm sống sung túc. Công việc của những người như tôi là tạo ra nhiều lý lẽ hay thêu dệt huyên thuyên. Thật kinh ngạc là mọi người vẫn tin theo. Việc bán tống bán tháo từ Trung Đông là cách câu giờ cổ điển. Vì không ai biết những tay Ả-rập đang làm gì với số tiền của họ hay tại sao họ làm vậy, cho nên không có câu chuyện nào liên quan đến người Ả-rập lại bị bắt bẻ. Do vậy, nếu bạn không biết tại sao đồng đô-la đang rớt thì hãy quát to một điều gì đó về người Ả-rập. Tất nhiên Alexander có cảm nhận rất sắc sảo về giá trị của bình luận mà tôi đưa ra. Anh chỉ cười lớn.

Có một vấn đề cấp bách hơn cần thảo luận. Một trong những khách hàng của tôi chắc chắn rằng thị trường trái phiếu của Đức sẽ lên giá. Anh ta muốn đánh cược lớn về điều đó. Và việc này làm Alexander thấy thích thú hơn. Nếu một nhà đầu tư cảm thấy tin tưởng về các trái phiếu ở Đức thì có lẽ những người khác cũng thế, họ sẽ kéo thị trường đó lên cao hơn. Có hàng chục cách để đánh cược theo quan điểm đấy. Cho tới thời điểm đó, vị khách hàng của tôi chỉ đơn giản mua các trái phiếu chính phủ Đức trị giá tới hàng trăm triệu đồng mark. Tôi tự hỏi có cách nào khác để khiến cuộc chơi trở nên táo bạo hơn trên thị trường không, đây là một suy nghĩ thông thường đối với một người đã quen dần với việc đánh cược bằng tiền của kẻ khác. Alexander và tôi đã chọn ra nét tiêu biểu nhất trong những suy nghĩ lộn xộn của tôi. Và trong quá trình đó, chúng tôi tình cờ gặp một ý tưởng hay, một công cụ mới hoàn toàn.

Vị khách hàng của tôi rất ưa rủi ro. Theo tôi từng được học, rủi ro tự thân nó là một hàng hóa. Rủi ro có thể được đóng hộp và bán như cà chua vậy. Những nhà đầu tư khác nhau đặt giá khác nhau cho rủi ro. Nếu bạn có khả năng, bạn có thể mua rủi ro từ một nhà đầu tư với giá rẻ và bán nó cho một nhà đầu tư khác với giá đắt, bạn có thể kiếm được tiền mà bản thân không phải chịu rủi ro. Và đây là điều chúng tôi làm.

Vị khách hàng của tôi muốn bạo gan hơn bằng cách đánh cược một khoản tiền lớn vào sự lên giá của các trái phiếu Đức. Do vậy anh ta là một “người mua” rủi ro. Alexander và tôi đã tạo ra một công cụ tài chính gọi là chứng chỉ đặc quyền, hay còn gọi là quyền chọn mua, nó là một phương tiện để chuyển rủi ro từ một bên này sang một bên khác. Bằng việc mua chứng chỉ của chúng tôi, những nhà đầu tư chấp nhận rủi ro thấp từ khắp thế giới (có nghĩa là phần lớn các nhà đầu tư) đang bán rủi ro cho chúng tôi. Nhiều người trong số này không biết rằng họ muốn bán rủi ro trên thị trường trái phiếu ở Đức cho tới khi chúng tôi gợi ý với họ bằng trái phiếu mới của chúng tôi, như thể người ta không hề biết mình muốn dán tai nghe ban nhạc Pink Floyd suốt ngày cho tới khi hãng Sony sản xuất ra máy Walkman.

Một phần công việc của chúng tôi là đáp ứng nhu cầu mà các nhà đầu tư không bao giờ biết rằng họ cần. Chúng tôi sẽ dựa vào lực lượng kinh doanh của Salomon để tạo ra nhu cầu cho sản phẩm mới của mình, mà vì nó là độc nhất nên chắc chắn sẽ thành công. Sự chênh lệch về thứ mà chúng tôi trả cho rủi ro của các nhà đầu tư thận trọng và thứ mà chúng tôi bán cho khách hàng sẽ là lợi nhuận. Chúng tôi ước tính con số này lên đến khoảng 700.000 đô-la.

Ý tưởng đó là một giấc mơ. Salomon Brothers ngồi giữa sự chuyển đổi rủi ro mà không bao giờ phải chịu rủi ro. 700.000 đô-la không rủi ro là một cách nhìn nhận mới đối với ban quản trị Salomon. Nhưng thậm chí quan trọng hơn đối với Salomon là tính mới lạ về cách giao dịch của chúng tôi. Một chứng chỉ đặc quyền trên cơ sở lãi suất ở Đức là mới lạ. Việc làm cho mọi người biết đến như là ngân hàng đầu tư đầu tiên phát hành chúng đã khiến các giám đốc ngân hàng đầu tư phát điên lên vì thèm khát.

Khi các giao dịch dần dần hình thành, mọi người trên tầng giao dịch bắt đầu trở nên tò mò. Một phó chủ tịch từ một khu vực khác của tầng giao dịch – một tay kinh doanh thường chịu trách nhiệm về việc thương thuyết với các công ty lớn – đã bắt đầu đánh hơi thấy. Tôi sẽ gọi người này là kẻ cơ hội. Anh ta quyết định rằng đó là một sứ mệnh mà anh ta phải đóng một vai trò trong việc giao dịch của chúng tôi. Tôi không lên tiếng phản đối. Anh ta đã làm việc ở Salomon được sáu năm, gấp đôi tổng số năm của Alexander và tôi gộp lại, và chúng tôi có thể sử dụng kinh nghiệm của anh ta. Kẻ cơ hội đó chẳng có việc gì khác phải làm. Thời điểm phát thưởng cuối năm đang đến nhanh. Anh ta khao khát muốn làm cho người ta chú ý và đã xem giao dịch của chúng tôi như là cơ hội của anh ta.

Công bằng mà nói, kẻ cơ hội đó hoàn toàn không phải là không có mục đích. Chúng tôi đã xem nhẹ sự cần thiết phải đạt được sự chấp thuận của chính phủ Đức và kẻ cơ hội đó đã cứu chúng tôi thoát khỏi sự lúng túng. Chính phủ Đức không có tiếng nói trên các thị trường châu Âu. Cái hay của thị trường châu Âu là nó không chịu sự phán quyết của bất kỳ chính phủ nào. Về mặt lý thuyết, chúng tôi có thể bỏ qua những người Đức, nhưng chúng tôi phải lịch sự. Salomon Brothers hy vọng sẽ mở một văn phòng tại Frankfurt, và điều cuối cùng mà công ty cần là những chính trị gia Đức nóng giận.

Vậy là kẻ cơ hội đó trở thành phái viên mật của chúng tôi tại Bộ Tài chính Đức. Anh ta đã thuyết phục các nhà chức trách rằng hoạt động giao dịch của chúng tôi sẽ không phá hoại khả năng kiểm soát cung tiền của họ (điểm này là thật) mà cũng không kích thích đầu cơ về lãi suất ở Đức (điểm này là giả, toàn bộ vấn đề là để thuận tiện cho việc đầu cơ). Anh ta đã khôn khéo ngụy trang trên những phi vụ đến Frankfurt: nhà đầu tư dài hạn màu nâu. Bộ quần áo nâu, giày nâu và cà-vạt nâu. Không đeo khuy cổ tay áo bằng vàng. Anh ta đóng vai một công dân thị thành điềm đạm, anh ta đã giành được sự tin cậy của giới chức cao cấp ở Bộ, đúng thế, tôi cũng tin, huống hồ là ngài Bộ trưởng Tài chính.

Trong một vài tuần thương thuyết chỉ có những trục trặc nhỏ. Trong một buổi thương thuyết, nó đã bị đăng tải và những người Đức tỏ ra không hài lòng bởi sự chú ý của giới truyền thông mà giao dịch đó thu hút. Vì không hiểu trọn mọi ẩn ý của chứng chỉ đặc quyền mua cổ phần của chúng tôi nên họ sợ danh tiếng của họ quá liên lụy tới việc đó. Chúng tôi nói rằng chúng tôi sẽ giữ mức độ công khai ở mức thấp nhất. Họ hỏi về cái bia lưu niệm – việc công bố vụ thương lượng trên các tờ báo tài chính khi nó kết thúc. Chúng tôi nói rằng chúng tôi muốn có cái bia (để làm một vật kỷ niệm) nhưng chúng tôi sẽ không đăng tải nó trên báo chí. Họ đồng ý để chúng tôi tạo một cái bia với điều kiện chúng tôi không được in biểu tượng nước Cộng hòa Liên bang Đức – con đại bàng – lên trên đó. Chúng tôi gợi ý đùa rằng nên thay bằng hình chữ thập ngoặc. Rõ ràng họ đã không thấy chuyện đó buồn cười bằng tôi. Đó là sự phá vỡ trạng thái điềm tĩnh duy nhất của chúng tôi trong suốt quá trình.

Cuối cùng thỏa thuận cũng được thông qua, đó là một thành công tuyệt đỉnh. Salomon Brothers và vị khách hàng của tôi đã thực hiện công việc như những kẻ cướp. Rõ ràng Alexander và tôi làm việc này để có chút tiếng tăm địa phương. Kẻ cơ hội cũng xứng đáng được tán thưởng. Rồi sự rắc rối đã bắt đầu. Vào buổi chiều khi thỏa thuận được thông qua, có một báo cáo nội bộ được gửi đi khắp London và New York mô tả cuộc thương lượng đã được tiến hành tốt ra sao (cốt truyện được đánh giá cao về trí thông minh và vì vậy giọng điệu rất kiêu hãnh). Báo cáo không nói một lời về Alexander, vị khách hàng của tôi hoặc chính tôi. Báo cáo được ký tên: kẻ cơ hội.

Đó là một trò quảng cáo xảo quyệt nhưng hiệu quả. Nó gây ấn tượng mạnh tới những người không quen thuộc với hoạt động kinh doanh này, không ai trong số các ông chủ ở New York hay London hiểu trọn vẹn về những gì mà chúng tôi đã làm. Bằng việc giải thích giao dịch đó cho ban quản trị cấp cao, kẻ cơ hội đã làm ra vẻ như thể mình hoàn toàn chịu trách nhiệm về giao dịch đó.

Thực rõ là bất công, hết sức dối trá (Làm sao anh ta lại nghĩ rằng mình có thể tiến xa với điều đó được? Tôi vẫn tự hỏi vậy) đến nỗi tôi đã sặc cười. Tuy nhiên, vào thời điểm đó, nó dường như không buồn cười chút nào. Tôi quay đầu nhìn về bàn của anh ta để gây sự. Quẳng điện thoại cũng được. Quát mắng cũng được. Đánh một đồng nghiệp thì không. Tôi hy vọng mình sẽ không đánh anh ta nhưng nếu làm, tôi hy vọng anh ta sẽ đánh lại tôi, rồi cả hai sẽ bị đuổi việc.

Hóa ra kẻ cơ hội đi trước tôi một bước. Anh ta đã chạy đua để kịp chuyến máy bay Concorde đầu tiên về New York ngay lúc mà bản ghi nhớ của anh ta được đưa vào máy photo hãng Xerox. Không phải anh ta cố tránh tôi. Tôi nghĩ sự lo ngại đối với tôi chưa từng nảy ra trong đầu anh ta. Anh ta biết, tôi không quen biết ai trong công ty đủ quan trọng để gây trở ngại nào cho cuộc vui của anh ta. Dù thế nào, nếu anh ta đơn giản chỉ muốn biến đi thì một chiếc vé hạng nhất trên hãng hàng không thương mại tiêu chuẩn cũng là đủ rồi.

Đúng vào lúc tôi đang liếc nhìn vào chiếc ghế trống không của anh ta trên tầng giao dịch ở London thì kẻ cơ hội đang làm điều mà Alexander mô tả là một “vòng diễu hành thắng lợi” quanh tầng 41 tại New York. Khi bước đi chầm chậm loanh quanh tầng 41, anh ta dừng lại và nói chuyện với mấy vị như Strauss và Gutfreund, thông báo giao dịch đã tốt đẹp như thế nào. Tất nhiên anh ta không nói “Tôi đã làm vụ giao dịch đó, và tôi thực đáng được một khoản tiền thưởng khi thời cơ đến”, mặc dù nó mang ý nghĩa như vậy. Anh ta không cần thiết phải la lối. Bản ghi nhớ đã đến trước rồi. Rằng việc anh ta đã một mình làm được vụ giao dịch, hoàn toàn không liên quan đến chuyến trở về New York này và rằng chính anh ta chứ không phải ai khác đã tiến hành giao dịch.

Có lẽ mọi người hiểu, thật tức điên khi bị một kẻ khác cướp mất công. Nhưng bạn sẽ chưa cảm nhận được nỗi cay đắng cho đến khi bạn bị cả hệ thống đè nén. Và điều đó đang xảy ra. Dường như không một nhân vật cấp cao biết được sự thật. Vị chủ tịch ban quốc tế của Salomon Brothers qua chỗ bàn của tôi, tay cầm bản ghi nhớ quái quỷ đó. “Tôi chỉ muốn cảm ơn về sự giúp đỡ của anh,” ông ta nói: “Kẻ cơ hội có thể đã không làm được vụ giao dịch của anh ta nếu không có mối quan hệ của anh với khách hàng.”

Vụ giao dịch của anh ta? “Ông khờ dại thật,” tôi muốn gào lên: “Ông đã bị bịp rồi!” Tôi mỉm cười và nói lời cảm ơn.

Alexander bảo với tôi rằng mọi người ở New York đang nói kẻ cơ hội ấy sao thông minh giỏi giang đến thế. Đúng là Alexander có đầy đủ quyền để ít nhất cũng tức giận như tôi. Anh vẫn bình thản. “Đừng lo,” anh nói: “Hắn ta từng làm như vậy rồi, nó vẫn xảy ra.” Ít nhất tôi cũng có công trạng là sự trợ giúp nho nhỏ. Alexander thậm chí không có được cái tốt số đó. Sự đóng góp của anh cho lịch sử tài chính Salomon đã bị lãng quên hoàn toàn. Chúng tôi có một sự lựa chọn, Alexander và tôi. Hoặc chúng tôi có thể nổi khùng lên hoặc cứ bình thản. Tôi nêu vấn đề ấy với Alexander để thảo luận. Cả hai chúng tôi đều rơi vào một tình thế là phải gào lên tên tội phạm dính máu. Làm Big Swinging Dig để làm gì nếu anh cứ đứng chịu đựng khi mấy tay phó chủ tịch vung cát vào mặt mình? Nhưng mà gào thét trong một công ty, ngay cả gào thét trong một công ty ở thời vượn người như Salomon thì cũng vô ích. Chúng tôi vẫn có thể chém được thủ cấp của kẻ cơ hội nhưng phải trả một cái giá nào đó. Anh ta là một thành viên trong gia đình Voute. Chúng tôi là thành viên trong gia đình Strauss. Nếu chúng tôi bới thối ra thì nó sẽ bốc tận trời cao, hay ít nhất cũng đến văn phòng ngài chủ tịch. Vấn đề là lòng trung thành với gia đình sẽ bị lu mờ đi. Những cuộc chiến kiểu mafia thật bẩn thỉu. Vì vậy làm thế nào chúng tôi đóng đinh được kẻ cơ hội đó mà không cần phải động đến những cuộc chiến phức tạp? Làm thế nào chúng tôi tiêu diệt tế bào ung thư mà không giết chết các tế bào lành?

Alexander nghe tràng đả kích của tôi xong và quyết định làm một người lớn, lờ đi toàn bộ chuyện đó. Quan điểm của Alexander là một người không thể làm cho công ty phát triển bằng kiểu dẫm lên đầu kẻ khác; nếu kẻ cơ hội đó đã đạp lên chúng tôi, chúng tôi nên tự gội sạch và quên chuyện đó. Chẳng nghi ngờ gì, Alexander đúng. Nhưng tôi rời khỏi hàng ngũ của anh. Tôi quyết định làm một thằng nhóc và báo thù. Tôi chui vào rừng rậm và phát triển một mùi vị của chiến tranh du kích.

Trình độ về lịch sử nghệ thuật cuối cùng đã giúp ích cho nghề nghiệp của tôi. Tôi biết tất cả mọi mánh khóe lừa gạt. Hãy tự hỏi mình xem: một họa sỹ sẽ làm gì nếu như đối thủ đánh cắp tác phẩm của mình và ký tên anh ta trên bức tranh đó? Tay họa sỹ đó sẽ vẽ một bản sao và đưa ra thách thức đó với đối thủ để hắn ta cũng làm như thế. Và đó là điều tôi đã làm. Hiển nhiên hai việc này không hoàn toàn giống nhau bởi vì phần lớn mọi người cho rằng chứng chỉ đặc quyền mua trái phiếu dễ làm giả hơn một bức tranh Rembrandt, hay thậm chí một bức Jackson Pollock. Nhưng tôi không cần phải chứng minh anh ta lừa đảo trắng trợn, tôi chỉ cần tung ra mối nghi ngờ về những lời quả quyết của anh ta. Kẻ cơ hội ấy đã tự đại diện như người phát minh duy nhất về chứng chỉ đặc quyền mua trái phiếu và nếu việc đó bị phanh phui thì ở một chừng mực nào đó, anh ta sẽ bị mất uy tín. Chúng tôi (vì tôi đã có được sự hậu thuẫn tinh quái của Alexander, nếu không muốn nói là có sự tán đồng của anh) đã nghĩ ra một giao dịch khác, tương tự như cách trước đây và có vẻ như do cùng một người phát minh ra. Nó liên quan đến các trái phiếu chính phủ Nhật Bản, không phải chính phủ Đức và có một cơ cấu hơi khác, những chi tiết trong đó – theo mục đích hiện tại của tôi – không được thích hợp lắm.

Với giao dịch được hình thành, tôi không đến chỗ kẻ cơ hội và đề nghị anh ta đóng vai phái viên mật tại chính phủ liên quan nữa. Kẻ cơ hội được thông báo về thứ mà anh ta đáng biết là: không gì hết. Rồi trước khi giao dịch đó được thực hiện, tôi đã tự thực hiện vòng đua của mình trên tầng 41 ở New York. Hãy gọi đó là một vòng khởi động. Một vòng khởi động, không như một vòng quanh chiến thắng, có thể được thực hiện qua điện thoại.

Tôi đã gọi mấy cú điện thoại. Kẻ cơ hội, người thích tự nhận rằng mình chỉ báo cáo trực tiếp với John Gutfreund, lại có một ông chủ. Ông chủ của anh ta ngồi trên tầng 41 và vẫn đang tắm mình trong ánh hào quang của kẻ tôi đòi đó. Đột nhiên ông chủ tự thấy mình ở trong một tình huống khó xử. Một số người ngang cấp với ông ta nhùng nhằng với ông ta về vụ giao dịch mới với người Nhật, nói rằng “dường như những bộ não của hoạt động này có lẽ xuất phát từ đâu đó chứ không phải từ đầu óc của nhân viên ông”. Ông ta cho gọi kẻ cơ hội đến để hỏi tại sao ông ta đã không được báo trước về giao dịch mới này. Kẻ cơ hội cũng chẳng biết giao dịch đó và cũng không chứng tỏ rằng mình hiểu được nó. Những quả bom điện thoại của tôi đã nổ trúng mục tiêu.

Tôi sẵn sàng dừng lại không làm “kẻ chỉ điểm” nữa và để sự việc tại đó. Anh ta thì không. Khoảng một tiếng sau khi tôi hoàn thành vòng đua khởi động thì kẻ cơ hội đang đứng trước tôi, nhìn tôi trừng trừng. Tôi ngạc nhiên với sự cáu kỉnh của anh ta. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm để che giấu sự khoái trá ra mặt. Anh ta trông có vẻ giống hệt như tôi, khi lần đầu đọc bản báo cáo nội bộ của anh ta. Tôi nghĩ, anh ta có lẽ đã tự thuyết phục bản thân rằng chứng chỉ đặc quyền mua trái phiếu Đức luôn là sáng kiến của anh ta. Tôi đã cố hết sức che giấu sự khoái trá đó để đáp lại anh ta bằng một nụ cười mỉm, mà tôi e ngại đáng lẽ nó phải là một nụ cười rách mang tai.

“Hãy lại đây với tôi một lát,” anh ta nói.

“Xin lỗi tôi bận,” tôi nói dối, “chúng ta sẽ làm việc đó dịp khác.”

“Tối nay tôi sẽ có mặt ở đây lúc 8 giờ và anh cũng nên có mặt,” anh ta nói.

Có lẽ tôi sẽ chuồn đi, song điều đó đã xảy ra. Tôi buộc phải có mặt ở chỗ của tôi lúc 8 giờ tối hôm đó vì những lý do khác, thực là không may, chúng tôi đã gặp nhau.

Kẻ cơ hội đó đến đúng lúc 8 giờ và nói: “Hãy vào văn phòng của Charlie đi.”

Charlie là chủ tịch của chúng tôi. Một trong những thói quen của kẻ cơ hội đó là anh ta dùng văn phòng của vị chủ tịch chúng tôi như thể là của riêng vậy. Anh ta kéo chiếc ghế bên cạnh cái bàn. Tôi kéo chiếc ghế ở chỗ khác và cảm giác mình như một cậu học trò sắp bị mắng mỏ. Anh ta là thằng ăn cắp, tôi tự nhắc nhủ mình.

Có lẽ tôi quá tin vào Salomon Brothers và tin quá ít vào bản thân, nhưng tôi nghĩ rằng ý nghĩ tiếp theo chợt lóe lên trong óc tôi có lẽ đã không bao giờ xảy ra nếu tôi chưa từng đặt chân lên tầng giao dịch. Nói tóm lại, tôi đã quyết định đưa anh ta vào tròng. Vì mục đích đó, tôi đã thấy được thủ đoạn nham hiểm mà tôi không biết rằng tôi đã có, nó nói lên điều gì đó. Nỗi thích thú chơi trên cơ kẻ khác vây bọc lấy tôi. Thay vì khó chịu, băn khoăn hay tức giận, đột nhiên tôi sẵn sàng với ý nghĩ về cuộc chạm trán được dự tính trước. Thật rõ ràng khi muốn gây thiệt hại tối đa: càng nói ít càng tốt và cho anh ta có cơ hội để nói điều gì đó mà anh ta không nên nói.

Kẻ cơ hội đã có cơ hội để trấn tĩnh lại. Anh ta hết sức thận trọng khi bắt đầu nói. Xét về mọi phương diện thì anh ta đều đúng mực, chỉ trừ một điều, đó là anh ta tự cho mình là quan trọng. Anh ta khôn khéo – tôi công nhận điều đó. Điều mà anh ta không nhận thấy được là những người khác cũng khôn khéo. Anh ta gác một chân lên trên bàn và nhìn xuống một vật, đó là cây bút, anh cầm nó trong tay, xoay bóp nó, và không nhìn thẳng vào mắt tôi.

“Tôi đã đánh giá cao anh,” anh ta nói. “Phần nhiều trong số những người quanh đây đều ngu ngốc. Tôi nghĩ rằng anh phải thông minh hơn chứ.”

Rõ ràng phần lớn những người quanh Salomon đều không ngu đần, nhưng đó là kiểu mà anh ta nói.

“Ý anh là sao?” – tôi hỏi.

“Tôi nhận được cú điện thoại [của ông chủ anh ta] nói rằng anh đang rêu rao về một chứng chỉ đặc quyền Nhật Bản.”

“Vậy thì sao?” – tôi hỏi.

“Vậy sao anh không nói cho tôi biết? Anh biết anh đang làm gì không?” – anh ta hỏi. Anh ta dừng lại một lúc rồi tiếp tục: “Anh không thể tiến hành giao dịch được nếu không có sự giúp đỡ của tôi. Tôi có thể ngăn cản việc giao dịch của anh, chỉ bằng một cú điện…” Rồi anh ta lên danh sách các giao dịch hàng tỷ đô-la trước đây mà Salomon đã hoặc không thực hiện được bởi anh ta.

“Ở đâu ra trên đời này cái kiểu anh lại ngăn cản việc giao dịch của tôi nếu nó sẽ là một thương vụ sinh lãi?” – tôi hỏi.

Tôi biết chính xác tại sao anh ta cứ muốn ngăn cản một thương vụ sinh lãi. Nếu anh ta không tăng uy tín thì anh ta không muốn thấy thương vụ đó xảy ra. Nó sẽ làm tiêu tan ảo tưởng mà anh ta đang cố tạo ra về sự hiểu biết độc nhất vô nhị đối với loại chứng chỉ kiểu mới này. Nếu anh ta thành công trong việc tạo ra ảo tưởng đó, công ty sẽ trả cho anh ta thêm tiền vào cuối năm. Tôi đã nhận thấy tất cả điều đó. Anh ta biết rằng tôi nhận thấy. Điều đó đã làm cho anh ta tức giận. Và việc trở nên tức giận là sai lầm lớn nhất của anh ta.

“Tôi có thể khiến anh bị đuổi việc,” anh ta nói: “Chỉ bằng một cú điện thoại thôi (có kịch tính trong những cú điện của anh ta). Tất cả những gì mà tôi cần phải làm là gọi điện [ông chủ anh ta] hay John [Gutfreund] và anh sẽ phải bước ngay ra khỏi chốn này.”

Như thế đấy. Tôi vừa rút được con át thứ tư. Kẻ cơ hội đang cáu, điều đó hiện trên khắp khuôn mặt anh ta. Ngồi trên tầng giao dịch cả ngày làm cho bạn trở nên tinh ranh hơn nhiều với những trò tháu cáy của mọi người. Chúng gần như thấy rõ. Một khi bạn tóm được chúng thì bạn sẽ sở hữu chúng như một con cá đã mắc câu. Bạn có thể nhấc nó ra khỏi móc câu, hoặc có thể kéo vào bờ. Trong trường hợp này tôi đã quyết định phải làm gì. Kẻ cơ hội đã bước qua ranh giới. Anh ta không thể buộc tôi bị đuổi việc được. Thậm chí hoàn toàn không thể. Còn gì nữa, nhiều người sẽ tức giận khi họ biết được lời đe dọa của anh ta. Anh ta đã tự đẩy mình vào thế khó khăn, ngay cả tôi cũng không mong đợi như vậy. Từ trước tới nay tôi chưa bao giờ có mưu đồ tiêu diệt ai đó. Hãy thử nghĩ xem, từ trước tới nay tôi chưa bao giờ có mưu đồ tiêu diệt ai đó.

Đã không còn gì để tiếp tục nữa. Tôi giả vờ quan tâm. Tôi nói với anh ta rằng tôi xin lỗi, rằng tôi sẽ không bao giờ lặp lại việc đó nữa, và nếu tôi có một ý tưởng hay trong tương lai thì chắc chắn tôi sẽ chạy thẳng đi tìm và báo cho anh ta. Bằng cách nào đó anh ta đã tin tôi.

Điều mà kẻ cơ hội đã xao nhãng không tính đến trong mưu đồ của anh ta là một người có quyền tuyệt đối, thông suốt mọi sự. Không, không phải Chúa. Một người trên tầng giao dịch được xem như là người quản lý nghiệp đoàn. Những người quản lý nghiệp đoàn trên Phố Wall và tại thành phố London chịu trách nhiệm điều phối tất cả các giao dịch; người quản lý nghiệp đoàn London của Salomon, một trong số ít những phụ nữ có quyền lực trong công ty, đã điều phối các trái phiếu Đức của chúng tôi. Những người quản lý nghiệp đoàn tương đương với những người tổ chức về nhân sự trong Nhà Trắng hay ông bầu của đội thể thao chuyên nghiệp. John Gutfreund đã có tiếng là một người quản lý nghiệp đoàn. Vai trò đó đẻ ra người nắm chính trị thật sự, nham hiểm với mọi ý nghĩa của từ này. Bạn không thể qua mặt người quản lý nghiệp đoàn. Nếu bạn dám làm, bạn sẽ bị tổn hại.

Ngày hôm sau, tôi nói cho người quản lý nghiệp đoàn thành phố London về cuộc nói chuyện đêm hôm trước. Bà ta đã biết sự thật về vụ giao dịch chứng chỉ Đức bởi vì ba ta từng đóng vai trò trong sự thành công của nó. Thậm chí bà ta còn tức giận hơn tôi nghĩ. Bà ta hết sức gắn chặt với Salomon Brothers còn kẻ cơ hội thì không. Tôi nhẫn tâm bỏ mặc số phận anh ta trong tay người phụ nữ này, giống như để một con cá vàng ngấp nghé móng vuốt con mèo. Song rồi, sau khi đã quá muộn – không thể đảo ngược tình thế được nữa, tôi lại cảm thấy hối hận. Nhưng không nhiều lắm. Thậm chí lương tâm tôi dần trở nên tính toán, nó cho phép tôi đủ cảm thấy tội lỗi để sống với chính mình chứ không đủ để ngăn cản tôi không làm việc ghê rợn ấy.

Mãi về sau tôi mới biết kết thúc của câu chuyện này. Người phụ nữ mà tôi đã nói chuyện là người trực tiếp chịu trách nhiệm quyết định kẻ cơ hội được trả bao nhiêu tiền. Kẻ cơ hội đang mong đợi được nhiều tiền và có một sự thăng cấp từ phó phòng lên giám đốc. Việc thăng cấp ấy có ý nghĩa quan trọng đối với tương lai anh ta. Người phụ nữ này đã gọi năm hay sáu cú điện thoại dập tắt những kế hoạch của anh ta. Tôi phải đợi cho tới thời điểm nhận tiền thưởng, cuối tháng 12, mới biết được kết quả. Việc thăng cấp được công bố một tuần trước khi khoản tiền thưởng được thông qua. Kẻ cơ hội đó vẫn ở chức phó phòng. Khi khoản tiền thưởng của anh ta được chuyển vào tài khoản ngân hàng, anh ta rời bỏ công ty.

Tại thời điểm diễn ra câu chuyện này, vào mùa thu năm 1986, vận may của tôi và vận may của công ty càng ngày càng rời xa. Qua điện thoại của tôi tiền cứ rót vào, nhưng nó dường như không lọt vào Salomon Brothers. Thị trường trái phiếu lên giá cuối cùng đã hết hơi. Vào tháng 9, thị trường đã bị chìm, học thuyết Darwin về tài chính đã thắng. Nhiều tay giao dịch yếu kém của Salomon cùng một số khách hàng đã tự hạ gục mình. Có ít khách hàng hơn và còn ít tay giao dịch hơn, điều đó đã làm cho khối lượng giao dịch giảm xuống. Phần lớn nhân viên kinh doanh đã dùng thời gian trả lời những cú điện thoại của các tay say cờ bạc ít hơn và thời gian cố gắng thể hiện bận rộn nhiều hơn. Vào cuối năm, những món tiền thưởng được trả. Lần đầu tiên trong nhiều năm ở Salomon Brothers, lễ Giáng sinh có vẻ trở nên buồn bã.

Những cuộc chiến tranh nhỏ cục bộ đang nổ ra khắp tầng giao dịch London. Vài nhân vật thuộc loại trầm lặng mang những cái tên Phổ giữ bản sao cuốn On War (Chiến luận) của Clausewitz 4 trên bàn. Các nhân viên ngân hàng đầu tư thường bí mật đọc cuốn sách này không phải vì họ cảm thấy xấu hổ khi bị bắt gặp đọc nó, mà vì họ không muốn để cho bất cứ ai biết được kỹ xảo này. Tôi đã giới thiệu Tôn Tử – một thiên tài về chiến tranh của Trung Hoa cổ, cho một trong những tay đồng nghiệp người Phổ của tôi, và anh ta nhìn tôi với vẻ nghi ngờ, làm như tôi sắp lừa anh ta phải tin rằng người Trung Hoa biết điều gì đó về chiến tranh.

Khi mà tiền ra đi khỏi tầng giao dịch, người ta cảm thấy như khi tiếng nhạc im bặt trong phòng nhạc. Một vài người giữ chặt ghế của mình khi nhìn thấy kẻ khác tử chiến để giữ ghế của họ. Những ý nghĩ quanh Salomon Brothers đã không còn là về sự vinh quang hơn của công ty, mà tập trung vào thu vén cá nhân. “Mẹ kiếp, kẻ nào sắp bị nhỉ?” – đó là câu hỏi thường được đặt ra.

Đám nhân viên kinh doanh trách đám giao dịch và đám giao dịch lại trách đám nhân viên kinh doanh. Tại sao chúng tôi không thể bán trái phiếu của họ cho các nhà đầu tư ngu dốt châu Âu? Đám giao dịch muốn biết. Tại sao họ không thể tìm thấy được những trái phiếu khá khẩm hơn, đỡ rắc rối hơn? Đám nhân viên kinh doanh muốn biết. Một tay giao dịch đang muốn thoát khỏi một đống trái phiếu AT&T và trút lên đầu một trong số những khách hàng của tôi, bảo với tôi rằng tôi cần cố gắng làm việc có tinh thần đồng đội hơn. Tôi bứt rứt muốn hỏi “Đội nào?” Lẽ ra tôi đã phải bán những trái phiếu của anh ta và giúp anh ta bảo vệ một ít tiền, nhưng điều đó phải trả giá bằng việc mất đi mối quan hệ. Nói với đám giao dịch rằng hãy sống với sai lầm của họ, như tôi đã nói nhân những lúc can đảm hiếm hoi, không phải là nguyên tắc đạo đức mà là một quyết định kinh doanh. Theo cách nhìn của tôi, giải pháp cho cơn ác mộng AT&T không phải là đổ chúng vào danh mục đầu tư của những khách hàng của tôi, mà trước tiên phải đuổi đám giao dịch đã đẩy chúng tôi vào vấn đề ấy. Dĩ nhiên đám giao dịch không đồng ý.

Thực tế rõ ràng là sự kết hợp giữa các động lực thị trường và sai lầm trong quản lý đã đưa Salomon Brothers ngày càng dấn sâu vào rắc rối. Nhiều lúc như thể chúng tôi hoàn toàn không có sự quản lý nào. Không ai chấm dứt cuộc chiến nội bộ bí mật ấy; không ai cho chúng tôi một định hướng, không ai kìm hãm sự phát triển quá nhanh của chúng tôi; không ai muốn đưa ra quyết định cứng rắn mà các thương nhân, như những vị tướng, đơn giản phải làm.

Việc xảy ra trên tầng giao dịch là một sự đảo ngược kỳ lạ, nó trở nên rõ ràng hơn khi ban quản trị thất bại trong việc nắm bắt các sự kiện. Lính bộ binh Hoa Kỳ có thể chẩn đoán những vấn đề về công việc làm ăn của chúng tôi tốt hơn các vị tướng. Những tay kinh doanh bình thường nói chuyện điện thoại suốt ngày với nguồn doanh thu của chúng tôi: các nhà đầu tư châu Âu. Và vào tháng 12 năm 1986, những tay kinh doanh ở Salomon đồng loạt nghe thấy một âm điệu mới trong những giọng nói của khách hàng và nhìn thấy vài sự thay đổi trùng hợp mà ban quản trị đã không nhìn thấy.

Thứ nhất, các nhà đầu tư ngày càng bực tức với quan điểm vắt chanh bỏ vỏ mà Salomon Brothers và các ngân hàng đầu tư khác của Mỹ tiếp cận đối với mối quan hệ khách hàng. Những người điều hành số vốn lớn (chẳng hạn các nhà đầu tư tại Pháp và Đức) đang từ chối không mua những trái phiếu và cổ phiếu của chúng tôi. Một hôm, một nữ đầu tư người Pháp chán nản nói với tôi khi cô lảng tránh “quyền ưu tiên” của Salomon Brothers: “Anh phải hiểu là chúng tôi quá chán nản vì bị Drexel Burham, Goldman Sachs, Salomon Brothers và các công ty Mỹ bóc lột.”

Có, hoặc đã có một sự khác nhau căn bản giữa các nhà đầu tư châu Âu và các nhà đầu tư Mỹ, được nhận thấy bởi bất cứ tay giao dịch nào ở New York đã dành thời gian làm việc với văn phòng chúng tôi. Hoạt động ngân hàng đầu tư tại Mỹ là hoạt động của những tập đoàn đầu tư có chuyên ngành lâu đời. Một số nhỏ các ngân hàng đầu tư “có tên tuổi” đua tranh nhau để huy động vốn. Các nhà đầu tư Mỹ (người cho vay vốn) đã được huấn luyện theo lối tư duy rằng họ chỉ có thể làm ăn với một nhóm ngân hàng đầu tư lớn. Và nhìn tổng quát, mối quan tâm của những người cho vay vốn tại New York đứng sau mối quan tâm của những người đi vay. Do vậy, tại New York, các vụ giao dịch chứng khoán và trái phiếu không bị điều khiển bởi việc liệu các nhà đầu tư (người cho vay) muốn mua chúng hay không, mà bởi việc liệu các công ty có muốn huy động vốn hay không.

Tôi chưa bao giờ dám chắc tại sao điều này đã xảy ra. Tôi muốn nói, bạn có thể cho rằng người đi vay tiền vẫn bị bóc lột bởi người trung gian lẫn người cho vay. Nhưng không phải vậy. Các tập đoàn ở Phố Wall lấy phí quá cao đối với người cho vay, vậy nên nó không có vẻ ảnh hưởng mấy đến người đi vay, có lẽ bởi vì họ đủ tinh khôn để kích cho vài ngân hàng đầu tư giành giật nhau, hoặc có lẽ bởi vì trước hết họ ít phụ thuộc hơn vào Phố Wall; rút cuộc, nếu họ không thích các điều khoản của một giao dịch phát hành trái phiếu thì lúc nào họ cũng có thể vay ở một ngân hàng. Dù sao chăng nữa, chẳng có ai mơ mộng việc cố lừa IBM để họ phát hành trái phiếu hay cổ phiếu với giá rẻ hơn. Hãng IBM được xem là quá quan trọng và vì thế thường xuyên phát hành cổ phiếu và trái phiếu với giá đắt. Rồi những tay kinh doanh ở Phố Wall cố lừa các nhà đầu tư mua hàng với giá cao hơn nữa.

Những người cho vay châu Âu (khách hàng của tôi) không biết cách nào để tiếp tục quay vòng vốn cho vay và chơi đến cùng. Bạn có thể hút máu họ một lần nhưng nếu làm vậy, họ sẽ không bao giờ trở lại. Không như những người cho vay Mỹ, họ không hiểu rằng họ không thể sống được nếu thiếu các dịch vụ của Salomon Brothers. Một tay giao dịch Salomon ở New York có lần nói với tôi: “Vấn đề về văn phòng London là ở chỗ khách hàng không được đào tạo.” Nhưng tại sao lại cần vậy? Nếu họ không thích chúng tôi, thật đơn giản, họ có thể giao dịch với Anh, Pháp hoặc đối thủ cạnh tranh Nhật Bản. Liệu các ngân hàng nước ngoài có dễ thân thiết hơn chúng tôi? Tôi không biết. Tuy nhiên, điều rõ ràng là có hàng trăm công ty có thể làm phần lớn những gì chúng tôi có thể làm.

Người ta không thể và tôi sẽ không cố thuyết phục ban quản trị của chúng tôi về thực tế đau buồn này. Sự phản ứng tức là bắn vào người đưa tin. (“Anh nói vậy là ý gì? Chúng ta không khác với bất kỳ ai khác ư? Nếu đúng là vậy, tức là anh đang không làm tốt công việc của mình”). Tôi nhớ có lần trong chuyến đi ngắn sang Geneve, tôi đã gặp một vị đang quản lý khoảng 86 triệu đô-la – người đã gói gọn quan điểm ấy lại trong một vỏ hạt dẻ cho tôi. Khi chúng tôi ngồi nói chuyện trong văn phòng của anh ta, một trong những nhân viên kế toán của anh ta bước vào, vung vẩy một tờ giấy.

“Hai trăm tám mươi lăm,” người này nói rồi bỏ đi.

Con số 285 hóa ra là số lượng ngân hàng đầu tư khác nhau mà anh ta đã giao dịch trong năm trước. Nếu vở kịch được diễn để gây ấn tượng cho tôi thì nó đã có hiệu quả. Tôi không biết, tôi nghẹn ngào, rằng có tới 285 ngân hàng đầu tư trên toàn thế giới này.

“Không phải,” anh ta nói. “Có nhiều hơn. Và tất cả họ đều giống nhau.”

Nói cách khác, toàn bộ ý định về việc toàn cầu hóa là một tin vịt. Thế giới mới được thúc đẩy bởi những phương tiện thông tin liên lạc tiên tiến và một thị trường chung về vốn rộng khắp thế giới không nhất thiết bao hàm ý rằng một nhóm nhỏ các ngân hàng đầu tư như Salomon sẽ chiếm lĩnh thế giới. Nó có nghĩa rằng đồng tiền di chuyển tự do hơn trên khắp toàn cầu. Nhưng nó không có nghĩa là có cùng một lợi thế kinh tế cho các tập đoàn lớn trong việc quản lý đồng tiền đó như là buôn bán đậu xanh đông lạnh được.

Phát hành nợ và giao dịch trái phiếu không còn là lãnh địa riêng lẻ của một công ty nào nữa, mà là của hàng trăm công ty. Nhiều công ty mới không có cùng cảm giác tự đề cao giá trị như chúng tôi. Các ngân hàng Nhật Bản như Nomura, các ngân hàng thương mại Hoa Kỳ như Morgan hay cộng đồng châu Âu như Crédit Suisse – tất cả đều sẵn sàng làm cùng công việc như Salomon Brothers tại châu Âu, nhưng chi phí ít hơn nhiều. Thậm chí những công ty nhỏ chỉ với sáu người trong một văn phòng tối tăm cũng có thể cạnh tranh với giá rẻ như bèo. Những tin tức thông qua hệ thống thông tin liên lạc đang trở nên rẻ hơn và dễ dàng thu thập hơn. Chúng tôi đang bị gạt ra ngoài thị trường của mình bởi những nhà sản xuất nước ngoài với chi phí thấp, giống như việc từng xảy ra với ngành công nghiệp ôtô và thép của Mỹ.

Ban quản trị kém cỏi của chúng tôi đã phải chịu đựng một gánh nặng không thể kham nổi. Những mệnh lệnh nhận từ phòng tác chiến New York không liên quan gì đến tình hình trên mặt trận. Văn phòng tại London do John Gutfreund và Strauss đặc trách thực hiện một chiến lược không hoàn thiện. Gutfruend và Strauss vẫn say mê với ý niệm chiếm lĩnh toàn cầu. Họ đã có ý khiển trách các vị trung úy của mình về việc thực hiện không ra gì một kế hoạch sáng suốt hơn là đặt nghi vấn về chính kế hoạch đó. Các vị trung úy này đã cùng hợp xướng vang lên bài hát của Salomon Brothers tại châu Âu, nó có tên là “Đó Không Phải Là Lỗi Của Tôi, Tôi Chỉ Vừa Mới Đến Đây Thôi!”

Đó là sự thật. Các nhà quản lý ở London, như những thằng Geek, họ quá mới đối với thị trường để không dám đặt nghi vấn về chiến lược. CEO Miles Slater của chúng tôi là một người Mỹ 43 tuổi, cho tới tháng 6 năm 1986 mới đặt chân đến London, sáu tháng sau khi tôi đến đây. Bruce Koepgen, đứng đầu bộ phận kinh doanh, là một người Mỹ 34 tuổi, lần đầu tiên sang London vào năm 1985, sáu tháng trước khi tôi đến. Còn Charlie McVeigh – vị chủ tịch phụ trách về hoạt động, một người Mỹ 45 tuổi có rất nhiều kinh nghiệm nhưng lại là nhà ngoại giao của công ty hơn là nhà quản lý. Chưa bao giờ có được một giám đốc điều hành nào của Salomon Brothers tại London mà có thể nói thứ tiếng nào ngoài tiếng Anh.

Vào tháng 11 năm 1986, các văn phòng của chúng tôi chuyển từ khu chật hẹp ở trung tâm tài chính London sang chỗ thoáng mát ngay bên trên nhà ga Victoria, nay được gọi là Victoria Plaza. Văn phòng mới gần rộng bằng nhà ga và là một dấu hiệu của tinh thần lạc quan, đúng hơn là vì nhu cầu của chúng tôi. “Việc khai trương văn phòng tại London,” William Salomon nói, “với một sàn giao dịch rộng gấp đôi sàn giao dịch ở New York, tôi thấy đây là sự lãng phí ở mức độ lớn nhất.”

Địa điểm mới của chúng tôi chỉ cách một quãng đường ngắn là tới Đại lộ Cung Điện Buckingham – nơi thánh thần sinh ra bà Hoàng Thái hậu. Một cầu thang tự động dài chạy từ khu phố của các vị vua qua một hành lang tráng crôm và gương tới những độ cao chóng mặt của tầng giao dịch chúng tôi. Tầng giao dịch của chúng tôi không phải ở trên đỉnh của cầu thang tự động đó. Nếu chỉ thế thôi đã là quá tiết kiệm. Ở trên đỉnh của cầu thang tự động là một khoảng trống lớn gây cảm giác của hành lang theo phong cách Hyatt Regency, với đầy những bộ sofa, những cây cảnh nhỏ và một bức tượng đồng con thỏ đang chạy nước rút. Thiết kế bức tượng này không có nghĩa rằng một công ty trên Phố Wall đang can đảm lao vào tương lai như chú thỏ Bugs Bunny lao giữa những cái hố để vượt lên một bước trước Elmer Fudd. Vào mùa Giáng sinh, các tay giao dịch treo vào phía sau đuôi con thỏ những trái châu bằng bạc để nó có thêm nhiều trái tim bằng lửa (ngụ ý là để cho nó can đảm hơn).

Rõ ràng người ta đã mất nhiều thì giờ vào việc xem xét các văn phòng mới phải nên nhìn thế nào, tương đương với việc xem xét chúng nên hoạt động ra sao. Cầu thang tự động rất hiện đại và hệ thống ống dẫn bằng kim loại của phòng giải lao lộ ra, xen vào một cầu thang bằng gỗ hình xoắn ốc và những bức tranh in của các họa sỹ lớn trước thế kỷ XVIII. Đây không phải là một văn phòng, mà đúng hơn là một sự chuyển tiếp kiến trúc của Hollywood năm 2001: Một cuộc phiêu lưu vũ trụ (A Space Odyssey) từ trên xuống và Cuốn theo chiều gió (Gone with the Wind) từ dưới lên. Đối với những khách hàng Anh, khu vực này hoàn toàn sặc mùi Mỹ. Họ thầm thì với nhau rằng nó giống như một sai lầm ghê gớm nào đó mà họ từng nhìn thấy ở New York, và đó là trước khi họ nhìn thấy loại giấy dán tường kỳ quặc, kiểu những người New York thấy chúng ở nhà hàng Tad’s Steak House hay người London thấy ở các nhà hàng Ấn Độ.

Một hôm, tay người Pháp của tôi – lúc này là một chủ nhân đa nghi của 80 triệu đô-la trái phiếu York & Olympia (cuối cùng anh ta đã rũ được món nợ đời với một món lãi nhỏ và không bao giờ tha thứ cho tôi vì tình thế chết tiệt mà tôi đã đẩy anh ta vào), đến ăn trưa và lần lần bàn tay tò mò của anh dọc lan can gỗ sồi chạm trỗ của chúng tôi. Rồi anh ta tẩn mẩn xem giấy dán tường màu đỏ và màu kem gần bên cứ như thể nó làm bằng lông thú quý hiếm vậy. Anh ta hỏi: “Tôi nghĩ chính chúng tôi, những khách hàng đã trả tiền cho cái này, đúng không nào?” Âm điệu trong giọng nói của anh ta gợi lên hàm ý mà không hẳn là trách cứ chúng tôi đã lấy tiền hoa hồng quá cao, đúng hơn là mỉa mái cách thức chúng tôi đã dùng đồng tiền đó.

Tầng giao dịch mới dường như rộng hơn gấp hai lần tầng 41 tại New York và được trang bị tân tiến nhất. Trong căn phòng này, bốn người có thể (và đã) rê dắt và đá bóng theo mọi hướng đều không bị vướng. Tuy nhiên, diện tích quá rộng đó lại là một chướng ngại tựa như việc đi chiếc giày quá cỡ vậy. Nó không có cảm giác dễ gây căng thẳng thần kinh như tầng giao dịch New York. Bất kể chút năng lượng nào chúng tôi sản xuất ra đều tiêu tan mất. Sự yên lặng đã làm cho chúng tôi cảm thấy lười biếng và khiến mọi người dễ trốn tránh. Trốn tránh là những gì mà người ta đã làm khi họ không kinh doanh. Tôi bồn chồn muốn bước ra ngoài tầng giao dịch và hét “Tự do”, chỉ để xem ai đang hăng hái muốn làm việc. Cảm giác trống rỗng của nơi này đã làm mất thời gian của ban quản trị. Sau nhiều năm ở New York, trước khi được cử sang London, các nhà quản lý luôn ồn ào khi kinh doanh sinh lãi và im lặng khi thua lỗ.

Nhanh lên, đưa ngay món tiền còn lại cho tôi. Đó là ngụ ý chung trong bầu không khí cuối năm 1986 vì những lý do đã nói trên. Khi chúng tôi chuyển sang Victoria Plaza, một ban hội thẩm gồm các giám đốc điều hành đang được hình thành ở New York để phân chia quyền lợi. Tiền được trao vào ngày 21 tháng 12, trước đó mọi người không nghĩ và không nói chuyện gì ngoài tiền thưởng. Công việc làm ăn của chúng tôi bị đông cứng lại quả thật ngoạn mục, song tôi nghĩ điều đó có thể đoán trước. Đó là thời điểm mà tất cả chúng tôi đã và đang chờ đợi.

Theo lệnh của Gutfreund, tiền thưởng cuối năm sẽ có giới hạn trần và sàn đối với những nhân viên năm thứ nhất và năm thứ hai, bất kể thành tích của họ ra sao. Đó là một truyền thống đối với những người ở Salomon làm việc năm thứ nhất và năm thứ hai lúc nào cũng đồn về khả năng bãi bỏ quy định này. Suốt sáu tuần lễ cuối năm, chủ yếu tôi gọi điện bàn tán với các thành viên cùng lớp đào tạo trước đây mà nay đang làm việc khắp hệ thống Salomon. Chúng tôi không nói chuyện gì ngoài quy định về tiền thưởng đó. Có hai loại câu chuyện. Thứ nhất, chúng tôi thảo luận quy định áp dụng đối với tất cả chúng tôi.

“Năm ngoái, nó là 65 đến 85 [nghìn đô-la].”

“Tôi nghe đâu là 55 đến 90 cơ!”

“Không thể nào họ lại để hạn mức dãn rộng đến thế đối với những người hết năm nhất.”

“Họ có trả tiền theo cách nào khác cho những người kinh doanh tốt không?”

“Anh cho rằng họ quan tâm đến những người kinh doanh sinh lãi à? Họ cứ khư khư giữ cho bản thân càng nhiều càng tốt thì có.”

“Phải, tôi đoán rằng anh nói đúng, thôi phải biến đây!”

“Gặp sau vậy!”

Và loại câu chuyện thứ hai, chúng tôi thảo luận quy chế áp dụng đặc biệt đối với từng người trong chúng tôi.

“Nếu họ không trả tôi 80, tôi sẽ sang Goldman.”

“Sặc, họ sẽ trả anh 80. Anh là một trong những người sinh lãi nhất trong lớp. Mẹ kiếp, họ bóc lột anh quá đáng!”

“Goldman sẽ đảm bảo tối thiểu 180. Những người này đang chèn ép chúng ta.”

“Ừ”

“Ừ”

“Ừ”

“Ừ”

“Phải biến đây!”

“Gặp sau vậy!”

Ngày nhận tiền thưởng, khi nó đến, là một sự kiện cho phép hoãn thói quen hàng ngày tán gẫu với mấy nhà đầu tư và đặt tiền cược trên thị trường. Nhìn những gương mặt họ tan họp thật đáng giá một nghìn buổi nói chuyện về ý nghĩa của đồng tiền trong xã hội nhỏ bé của chúng tôi. Mọi người phản ứng theo một trong ba cách khi họ nghe thấy mình trở nên giàu có hơn bao nhiêu: với vẻ nhẹ nhõm, với vẻ vui sướng và với vẻ tức giận. Phần nhiều cảm thấy cả ba vẻ. Một số cảm thấy rõ rệt cả ba vẻ: nhẹ nhõm khi được nói ra, vui sướng khi nghĩ tới việc mua một cái gì đó, và tức giận khi nghe thấy những người cùng cấp được trả nhiều hơn. Nhưng cảm giác trên những gương mặt đó thì luôn giống nhau, bất kể mức độ tiền thưởng là bao nhiêu. Họ trông ì ạch như bị đau bụng, như thể họ mới ăn quá nhiều sô-cô-la vậy.

Được trả tiền là nỗi đau khổ đối với nhiều người. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1987, năm 1986 sẽ được xóa sổ trong trí nhớ, trừ một con số độc nhất: số tiền bạn được trả. Con số đó là sự tổng kết cuối cùng. Hãy hình dung người ta nói với bạn rằng bạn sẽ được gặp đấng Tạo hóa thiêng liêng vào một thời điểm của năm và được nghe rằng bạn xứng đáng làm một con người. Có lẽ bạn có hơi chút bực mình về toàn bộ vấn đề. Phải không nào? Đại thể đó là những gì chúng tôi phải cam chịu. Mọi người chỉ có một cảm giác xúc động thoảng qua, đằng đẵng một năm họ chỉ theo đuổi một mục đích thành công, và nó làm cho bao tử của họ co bóp. Thật tệ hơn, họ đã phải che giấu nó. Trò chơi phải được chơi. Thật là thô lỗ để hả hê quá sớm khi được trả tiền và thực là lúng túng khi biểu lộ sự tức giận.

Còn cảm giác thoải mái thuộc về những người được trả tiền nhiều như mong đợi. Không có gì ngạc nhiên, không có phản ứng nào. Thật tốt. Điều đó làm cho người ta dễ dàng trở nên bình thản hơn. Chuyện đó đã qua.

Cuộc họp về lương thưởng của tôi diễn ra vào cuối ngày. Tôi gặp người hướng dẫn của tôi, Stu Willicker và Bruce Koepgen, vị quản lý kinh doanh phụ trách chi nhánh London, tại một trong những phòng ăn “Cuốn theo chiều gió”. Người hướng dẫn của tôi chỉ ngồi nghe và mỉm cười. Còn Koepgen (thay mặt cho sự tuyệt vời của Salomon Brothers) thì biện hộ cho tổ chức.

Tôi muốn nói rằng tôi đã lạnh lùng và tính toán như một sát thủ đang báo công với ông trùm mafia sau khi làm xong nhiệm vụ. Nhưng đó không phải là sự thật. Tôi bực mình hơn dự đoán. Tất cả những gì mà tôi hoặc bất cứ ai khác thật sự muốn biết là khoản tiền thưởng. Song tôi đã phải ngồi nghe một bài diễn thuyết lê thê mà thoạt đầu tôi đã không hiểu lý do là vì sao.

Vị quản lý xếp mấy tờ giấy trước mặt và nói: “Tôi đã gặp nhiều người đến đây và đã lập công trong năm đầu tiên”, rồi nêu tên một vài giám đốc điều hành trẻ làm ví dụ, “nhưng tôi chưa bao giờ gặp một ai có một năm như anh”. Ông ta lại bắt đầu lên danh sách các tên. “Không phải Bill, không phải Rich, không phải Joe,” ông ta nói. Và rồi thậm chí không phải Human Piranha. Không phải Human Piranha sao? Thậm chí không phải Human Piranha!

“Tôi có thể nói gì,” ông ta nói, “ngoài những lời chúc mừng?” Ông ta nói độ 5 phút và đã đạt được kết quả mong muốn. Khi ông ta nói xong, tôi đã chuẩn bị để đáp lại đặc ân làm việc ở Salomon Brothers.

Và tôi nghĩ rằng tôi cũng biết chút đỉnh về cách kinh doanh. Nhưng ông chủ đã làm cho tài năng nhỏ bé của tôi phải hổ thẹn. Ông ta đã điểm trúng tất cả các huyệt. Hầu hết sự chỉ trích và cay đắng mà tôi phải trải nghiệm vì công ty đã tiêu tan. Tôi cảm thấy vô cùng tôn kính công ty, những ông chủ của tôi, John Gutfreund, tay giao dịch trái phiếu AT&T và những người từng giao dịch với Salomon Brothers, ngoại trừ, có lẽ là kẻ cơ hội kia. Tôi không quan tâm về tiền bạc, tôi chỉ muốn con người này đồng ý với việc làm của tôi. Tôi đã bắt đầu hiểu tại sao họ nói chuyện với bạn trước khi họ đưa tiền cho bạn.

Như đám thầy tu, những người nắm việc trả lương trong đế chế Salomon đã theo đuổi một tiêu chuẩn danh giá cho thời gian làm việc lâu năm. Đồng tiền luôn đến sau khi đã xong việc và trong một mấu chốt mà bạn là người phải gỡ rối.

“Năm ngoái anh đã kiếm được 90 nghìn đô,” ông ta nói.

45 là lương. Do vậy 45 là tiền thưởng.

“Sang năm lương của anh sẽ là 60 nghìn đô. Giờ thì hãy để tôi giải thích những con số này.”

Trong khi ông ta giải thích rằng tôi được trả cao hơn bất cứ ai trong lớp đào tạo của tôi (về sau tôi mới biết có ba người khác được trả ngang bằng), tôi đã đổi 90 nghìn đô-la thành đồng bảng Anh (56 nghìn) và chuyển cái đó sang một góc độ khác. Về mặt lý thuyết, số tiền đó lớn hơn mức tôi đáng được hưởng. Nó nhiều hơn những gì tôi đã đóng góp cho xã hội. Lạy Chúa! Nếu sự đóng góp xã hội là thước đo thì có lẽ tôi phải trả tiền chứ không phải nhận tiền vào cuối năm! Nó còn nhiều hơn cả mức mà bố tôi đã làm ra khi ông 26 tuổi, thậm chí tính đến cả lạm phát, mà tôi cũng đã khấu trừ rồi. Nó nhiều hơn bất cứ ai khác mà tôi biết ở cùng độ tuổi tôi. Ha! Tôi giàu rồi. Tôi yêu ông chủ của tôi. Ông chủ của tôi yêu tôi. Tôi thật hạnh phúc. Rồi buổi gặp mặt kết thúc.

Và tôi đã nghĩ lại. Khi có khoảng thời gian chốc lát để nhớ lại, tôi quyết định rằng tôi không thật sự vừa lòng. Kỳ cục quá hử? Hãy nhớ, đây là Salomon Brothers. Cũng như những gã đã buộc tôi phải hạ gục khách hàng với các trái phiếu AT&T chết tiệt. Họ hoàn toàn có khả năng chĩa hỏa lực ấy vào tôi như khi họ từng làm với khách hàng của tôi. Tôi đã làm công việc bẩn thỉu của họ được một năm và chỉ có một vài nghìn đô để vui vẻ với nó.

Đồng tiền tuột khỏi túi tôi là đồng tiền chui vào túi kẻ tán dương tôi. Kẻ đó biết điều đó rõ hơn tôi. Và lời nói là rẻ tiền, kẻ ấy cũng hiểu điều đó.

Cuối cùng, tôi cho rằng tôi đã bị người ta đem ra làm trò cười, một ý nghĩ mà tôi vẫn nghĩ là nghiêm túc. Tôi không chắc mình đã kiếm cho Salomon Brothers bao nhiêu triệu đô, nhưng tính chi li, tôi xứng đáng hưởng nhiều hơn 90 nghìn đô. Theo tiêu chuẩn của lĩnh vực kinh doanh độc quyền như chúng tôi, con số 90 nghìn giống như là trợ cấp phúc lợi. Tôi cảm thấy bị lừa đảo, thật sự phẫn uất. Tôi phải cảm thấy sao nữa đây? Tôi nhìn quanh mình và thấy những kẻ đang hưởng nhiều hơn, khi mà chính chúng chẳng sinh ra một đồng xu lợi nhuận nào.

“Anh không trở nên giàu có trong nghề này,” Alexander nói khi tôi phàn nàn riêng với anh. “Anh chỉ đạt một mức độ mới về tài sản tương đối thôi. Anh cho rằng Gutfreund có cảm thấy giàu không? Tôi cá là không.” Alexander quả thật là một người uyên thâm. Anh đã nghiên cứu đạo Phật, và anh thích sử dụng nó để giải thích sự lãnh đạm với sự đời của mình. Mặt khác, anh đã tốt nghiệp chương trình đào tạo được tròn ba năm và không còn bị ràng buộc bởi quy chế đó nữa. Công ty vừa mới trả cho anh một món tiền khả dĩ. Anh có thể chống đỡ với những cảm xúc ủy mị của mình.

Tuy nhiên, anh đã vạch ra sự thèm khát vô độ của bất kỳ ai thành công ở Salomon Brothers và có thể ở bất cứ công ty nào trên Phố Wall. Sự thèm khát hay tính tham lam có những hình thức khác nhau. Độc hại nhất là sự thèm khát có nhiều tiền hơn nữa ngay ở thời điểm hiện tại: tính tham lam ngắn hạn chứ không phải tính tham lam dài hạn. Những gã có tính tham lam ngắn hạn không phải là người trung thành. Mọi người ở Salomon Brothers vào năm 1986 đều muốn có tiền ngay lập tức, như thể công ty sắp phải đối đầu với thảm họa. Ai biết được năm 1987 sẽ ra sao?

Ngay sau thời gian nhận tiền thưởng, các tay giao dịch London, đám nhân viên kinh doanh cùng người của Ranieri tại New York bắt đầu ùa ra cửa để kiếm tiền nhiều hơn ở mọi nơi khác. Các công ty khác vẫn đang mời chào đám giao dịch và kinh doanh Salomon với những cam kết hậu hĩnh. Đám nhân viên có thâm niên hơn đánh bạc với những món tiền thật sự lớn đã thất vọng cay đắng. Họ đã mong đợi 800 nghìn đô và rồi chỉ nhận được 450 nghìn đô. Đơn giản không có đủ để chia khắp lượt. Đó là một năm khủng khiếp đối với công ty, ấy thế mà mỗi cá nhân không biết bằng cách nào đều cảm thấy mình đã làm tốt.

Một năm sau khi đến, tôi đã có thể nhìn quanh mình và đếm trên cả hai bàn tay và bàn chân số người làm việc ở công ty lâu hơn tôi. Tất cả, trừ ba trong số khoảng 20 người châu Âu già hơn tôi – những người đã xây dựng và phát triển văn phòng này từ thời mỗi bữa ăn trưa có hai chai rượu, đã chuyển đến những đồng cỏ xanh tươi hơn. Mỗi người nhanh chóng được thay thế với nửa chục thằng Geek. Do vậy, mặc dù những người ở đây sẽ thôi việc nhanh như khi họ có thể kiếm được việc khác, thì công ty vẫn mở rộng.

Phát hiện những xác chết đơn giản không phải là điều gì khó khăn lắm. Vào cuối năm 1986, những dấu hiệu của chứng điên dại Hoa Kỳ đã xuất hiện tại nước Anh. Mọi người có cùng cảm giác kỳ quái chung rằng không có công việc nào đáng kiếm bằng công việc ở ngân hàng đầu tư. Cuối năm tôi được mời đến nói chuyện với Hội Sinh viên Đảng Bảo thủ tại Trường Kinh doanh London. Nếu có một nơi nào trên thế gian này có thể chống lại Hội Sinh viên Đảng Bảo thủ lẫn sự cám dỗ của Salomon Brothers thì đó chính là Trường Kinh doanh London, một vùng nóng truyền thống của ý kiến cực tả.

Chủ đề bài nói chuyện của tôi là thị trường trái phiếu. Tôi cho rằng chủ đề đó khiến họ không quan tâm. Bất cứ điều gì về thị trường trái phiếu hứa hẹn sự lê thê và buồn tẻ. Ấy thế mà vì sự kiện này, 100 sinh viên đã đến và khi một kẻ trông buồn bã đang uống ừng ực bia ở đằng sau thét lên rằng tôi là kẻ ăn bám, hắn ta đã bị tống cổ. Sau buổi nói chuyện, tôi bị xúm quanh bởi hàng loạt câu hỏi về thị trường trái phiếu lẫn câu hỏi về cách thức kiếm được một công việc ở Salomon Brothers. Một sinh viên Đảng Cấp tiến Anh tự cho rằng mình có thể nhớ toàn bộ đội hình chính thức của đội bóng bầu dục New York Giants bởi anh ta nghe đồn rằng vị giám đốc nhân sự ở Salomon Brothers là cổ động viên của đội bóng này (điều này đúng). Một sinh viên khác muốn biết thông tin mà mình đọc được trên tạp chí Economist, rằng mọi người ở Salomon không đâm dao sau lưng mà chém trực tiếp vào đầu bằng lưỡi hái, là đúng hay không. Cách nào là tốt nhất để chứng tỏ rằng mình đủ hung hăng? Có thể đi quá xa như vậy hay không, hay chỉ để chúng lửng lơ vậy thôi?

Vào thời điểm đỉnh cao, giữa năm 1987, văn phòng ở Victoria Plaza chứa đến 900 người và trông có vẻ như một trường mẫu giáo hơn là sở tư lệnh của một đế chế toàn cầu. Một hôm, Dash Riprock ngẩng lên và nói: “Chỉ có những tay giám đốc điều hành và một đám nhóc.” Tôi hiểu ý anh ta muốn nói gì gần như trước khi anh ta nói ra điều gì đó, tôi đã được cài đặt một thiết bị giải mã Dash Riprock tự động. Nhiệm kỳ trung bình mà các đồng nghiệp của tôi tại London phục vụ đã giảm từ sáu năm xuống dưới hai năm. Tuổi trung bình của họ từng là 30, nhưng giờ chỉ khoảng 25.

Suốt đầu năm 1987, một trò đùa cũ rích chán ngắt đã được lan truyền: có một tấm biển gắn ngay bên cạnh lối ra của sàn giao dịch: NGƯỜI CUỐI CÙNG RA VỀ XIN VUI LÒNG TẮT ĐIỆN. Rồi một trò đùa mới toanh đã diễn ra tới vài lần. Thế là hóa thành thật. Một tay giao dịch hàng đầu về trái phiếu chính phủ Anh đã thôi việc. Mấy vị giám đốc điều hành của văn phòng London đã quỳ gối (nói ẩn dụ) và van nài anh ta ở lại. Họ nói rằng anh ta là xương sống của một tổ chức kinh doanh mới và yếu ớt. Kệ mẹ mấy cái xương sống, anh ta nói, Goldman đã chào mời hậu hĩnh hơn rất nhiều, vậy nên phải nhận lời ngay khi lời chào mời còn hiệu lực. Rút cục anh ta đang giao dịch chỗ làm. Họ đã mong đợi gì? Họ mong đợi anh ta quên đi việc giao dịch trong chốc lát để suy nghĩ về tầm quan trọng của lòng trung thành với công ty.

Và bạn có biết anh ta đã nói gì về điều đó không? Anh ta nói: “Ông muốn lòng trung thành, vậy hãy thuê một con chó giống Cocker Spaniel!”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.