Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 2
Chương II. Không bao giờ được nhắc đến tiền
Em muốn trở thành một nhân viên ngân hàng đầu tư. Nếu ai có 10.000 cổ phiếu, em sẽ bán giúp. Em sẽ kiếm được nhiều tiền. Em yêu công việc của mình vô cùng. Em sẽ giúp đỡ mọi người. Em sẽ trở thành triệu phú. Em sẽ có một ngôi nhà to, và em sẽ sống hạnh phúc.
— Học sinh nam bảy tuổi ở tiểu bang Minnesota,
What I Want to Be When I Grow Up
(Những điều em muốn làm khi lớn lên), tháng 3 năm 1985
Mùa đông năm 1984, khi đang sống tại London và vừa tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế của Đại học Kinh tế London, tôi nhận được lời mời đi dự dạ tiệc với Hoàng Thái hậu. Sở dĩ tôi được mời là nhờ cô em họ xa mấy năm trước đã cưới một nam tước người Đức. Mặc dù tôi không phải là người thường xuyên được mời dự tiệc ở Cung điện St. James, nhưng cô em họ tôi lại rất hay được mời. Tôi mượn một chiếc cà-vạt đen, leo lên xe điện ngầm và lên đường. Sự kiện này là mắt xích đầu tiên trong một chuỗi những chuyện hầu như không thể xảy ra và kết thúc bằng việc tôi được nhận vào làm việc cho Salomon Brothers.
Bữa dạ tiệc được quảng cáo rùm beng này hóa ra là một cuộc gặp gỡ để gây quỹ của Hoàng gia Anh và bảy hay tám trăm nhân viên bán bảo hiểm. Chúng tôi rạo rực bước qua đại sảnh với những chiếc ghế gỗ màu sẫm, thảm đỏ màu rượu vang, bên trên là các bức chân dung của Hoàng gia cứ như thể để thử vai phụ cho chương trình “Masterpiece Theater”. May mắn thay, đâu đó trên đại sảnh là hai vị giám đốc điều hành của Salomon Brothers. Tôi biết điều này chỉ vì may mắn được ngồi giữa hai bà vợ của họ.
Bà vợ của vị giám đốc điều hành cao cấp hơn của Salomon Brothers là một người Mỹ. Bà luôn nắm chặt mép bàn mỗi khi cố nghển cổ để nhìn lướt về phía các thành viên trong Hoàng gia Anh. Khi biết tôi đang chuẩn bị tìm việc và có ý muốn tham gia ngành ngân hàng đầu tư, bà ta đã biến buổi tối đó thành một cuộc phỏng vấn. Bà ta đã thúc giục, vặn vẹo, châm chích và chất vấn tôi trong gần một tiếng đồng hồ trước khi ngừng lại và thỏa mãn. Sau khi tìm hiểu xong những điều thú vị trong suốt 24 năm sống trên cõi đời này tôi thâu lượm được, bà ta hỏi tại sao tôi lại không đến làm việc cho sàn giao dịch Salomon Brothers.
Tôi cố gắng giữ bình tĩnh. Tôi sợ rằng nếu tôi tỏ ra quá hăm hở thì bà ta sẽ nhận ra mình đã mắc một sai lầm ghê gớm. Gần đây tôi đã được nghe một lời bình luận đầy tính truyền thuyết của John Gutfreund, đó là để thành công trên sàn giao dịch Salomon Brothers, người ta phải dậy sớm vào mỗi buổi sáng với tinh thần “sẵn sàng cắn nát mông một con gấu”. Thế nên tôi nói rằng tôi không hứng thú lắm. Tôi đã giải thích cho bà ta quan điểm của mình về cuộc sống khi làm việc trong một ngân hàng đầu tư là như thế nào. (Tôi mô tả tới một văn phòng to bằng kính, một cô thư ký, một tài khoản chi tiêu lớn và một lô những cuộc họp hành với các vị đứng đầu ngành công nghiệp). Công việc này vẫn tồn tại ở Salomon Brothers, nhưng nó không được coi trọng nữa. Nó được gọi là tài chính doanh nghiệp. Nó khác với kinh doanh và giao dịch, song nhìn chung cả hai đều là nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Sàn giao dịch của Gutfreund, nơi mua bán cổ phiếu và trái phiếu, là một trung tâm đầy hỗn loạn để kiếm tiền và chấp nhận rủi ro. Những tay giao dịch không có thư ký, văn phòng hay các cuộc họp hành. Lĩnh vực tài chính doanh nghiệp – với nhiệm vụ phục vụ các công ty và chính phủ đi vay mượn tiền, hay được gọi là “khách hàng”, thực ra chỉ là một thế giới nhỏ bé, lịch sự và thanh tao. Các nhà tài chính doanh nghiệp không liều lĩnh với tiền bạc, vậy nên họ luôn bị giới giao dịch coi là những kẻ yếu đuối nhu nhược. Tuy nhiên, với bất kỳ tiêu chuẩn nào ngoại trừ tiêu chuẩn của Phố Wall, tài chính doanh nghiệp vẫn là một khu rừng rậm đầy rẫy những loài mãnh thú).
Quý bà đến từ Salomon vẫn ngồi lặng lẽ cho đến khi tôi kết thúc bài diễn thuyết ngắn của mình. Rồi bà ta thở dài, bà nói một cách giễu cợt về mấy gã ăn mặc ẻo ợt, bóng bẩy với đồng lương ít ỏi trong lãnh vực tài chính doanh nghiệp. Sự cả gan dũng cảm của tôi đâu rồi? Chẳng lẽ tôi lại muốn ngồi trong văn phòng suốt ngày? Tôi là ai – một gã khờ?
Rõ ràng bà ta không kiếm tìm một câu trả lời. Bà ta thích những câu hỏi hơn. Thế nên tôi đã hỏi liệu bà có quyền hạn để có thể cho tôi một công việc hay không. Khi đó, không để ý gì đến việc tôi cũng là một gã đàn ông, bà ta khẳng định rằng khi về nhà, bà ta sẽ bảo chồng để ý đến việc này.
Đến cuối bữa tiệc, bà Hoàng Thái hậu tám mươi tư tuổi chậm rãi rời khỏi phòng. Chúng tôi – tám trăm tay bán bảo hiểm, hai giám đốc điều hành của Salomon Brothers, hai bà vợ của họ và tôi – im lặng cung kính đứng lên trong lúc Hoàng Thái hậu tiến về phía mà lúc đầu tôi cho là cửa sau. Sau đó, tôi nhận ra chắc chắn đó là mặt trước của cung điện và chúng tôi, những nhà gây quỹ, hẳn đã đi vào cửa sau giống như những cậu bé giao hàng. Hoàng Thái hậu đi đầu, theo sau là bà hầu Jeeves, đi thẳng như một cái chổi, thắt cà-vạt trắng, đeo dải và tay nâng một cái mâm bạc. Tiếp theo Jeeves là đám hầu cận nối đuôi thành một đoàn diễu hành và cả một tốp chó nhỏ, mình ống, thuộc giống Corgis xứ Wales, trông như một bầy chuột cống. Người Anh cho rằng chúng dễ thương. Sau này tôi nghe nói rằng Hoàng gia Anh đi đâu cũng mang theo chúng.
Không khí trang nghiêm im lặng bao trùm khắp đại sảnh của Cung điện. Khi Hoàng Thái hậu tiến lại gần, mấy tay bán bảo hiểm cúi đầu như những con chiên ngoan đạo. Mấy con chó Corgis được huấn luyện cứ 15 giây lại cúi chào bằng cách bắt chéo hai chân và quết những cái bụng như bụng chuột xuống sàn. Cuối cùng đoàn diễu hành cũng tới nơi. Chúng tôi đứng ngay bên cạnh Hoàng Thái hậu. Bà vợ của giám đốc Salomon Borthers mặt đỏ bừng bừng. Tôi chắc mình cũng vậy nhưng bà ta còn bừng bừng hơn. Lòng mong muốn được chú ý của bà ta đang trỗi dậy. Có rất nhiều cách gây sự chú ý của Hoàng gia trước sự hiện diện của tám trăm tay bán bảo hiểm từ Prudential lầm lầm lì lì, nhưng cách chắc ăn nhất là hét lớn. Và bà ta đã làm vậy. Chính xác là bà ta gào to: “Này, Nữ hoàng, mấy con chó của bà dễ thương ghê!”
Mấy chục vị bán bảo hiểm tái mặt. Thực ra thì họ đã tái sẵn rồi, nên có lẽ tôi đã cường điệu. Họ đằng hắng và nhìn chòng chọc xuống giày. Người duy nhất nghe thấy những lời đó mà không tỏ vẻ khó chịu lại chính là Hoàng Thái hậu. Bà ta thản nhiên bước ra khỏi sảnh.
Trong cái khoảnh khắc kỳ quặc đó tại Cung điện St. James, cả hai thể chế đầy kiêu hãnh đó đều thể hiện được bản lĩnh của mình: vị Hoàng Thái hậu đã giải quyết sự bất nhã một cách tế nhị bằng cách phớt lờ nó đi; bà vợ của giám đốc điều hành Salomon Brothers, với sự dạn dĩ và bản năng của mình, đã khôi phục sự cân bằng quyền lực trong căn phòng bằng cách nói to lên. Tôi vẫn luôn có một sự ngưỡng mộ nhất định đối với Hoàng gia, đặc biệt là Hoàng Thái hậu. Nhưng cũng từ giây phút đó, tôi phát hiện ra rằng Salomon Brothers, những kẻ ăn bám ở Cung điện St. James, cũng hấp dẫn không kém. Tôi đã nghĩ vậy. Đối với một số người, họ là những kẻ cộc cằn, bất lịch sự và không được xã hội chấp nhận. Nhưng tôi không hề muốn họ khác đi. Họ, cũng như bất kỳ nhân viên ngân hàng đầu tư khác, chính là anh em của tôi. Và không nghi ngờ gì nữa, chính cái cá tính mạnh mẽ khác thường này, sản phẩm của văn hóa Salomon Brothers, sẽ thuyết phục chồng bà ta nhận tôi vào làm.
Tôi nhanh chóng được chồng bà ta mời đến văn phòng của Salomon Brothers ở London và được giới thiệu với những tay giao dịch và kinh doanh trên sàn giao dịch. Tôi thích họ. Tôi thích cái không khí ồn ào trong môi trường kinh doanh của họ. Nhưng tôi vẫn không nhận được một lời mời chính thức nào và tôi cũng chẳng phải trải qua một vòng phỏng vấn thật sự nào. Xem ra việc không phải trải qua vòng phỏng vấn nào khác chứng tỏ bà vợ ngài giám đốc điều hành đã làm đúng lời hứa và Salomon có ý định nhận tôi. Nhưng rồi chẳng có ai bảo tôi quay lại cả.
Vài ngày sau, tôi lại nhận được một cú điện thoại. Tôi được mời tới ăn sáng vào lúc 6h30 tại Khách sạn Berkeley, London với Leo Corbett, giám đốc tuyển dụng của Salomon đến từ New York. Đương nhiên là tôi nhận lời. Tôi đã khổ sở cố gắng dậy sớm từ lúc 5 giờ 30 sáng rồi khoác lên bộ com-lê xanh đến dự bữa sáng để bàn công việc. Nhưng Corbett cũng không mời tôi vào làm, tôi chỉ nhận được một đĩa trứng bác. Chúng tôi có một cuộc trao đổi vui vẻ. Điều này lại làm tôi lúng túng vì những người tuyển dụng của Salomon Brothers luôn bị coi là kẻ tàn nhẫn. Rõ ràng là Corbett muốn tôi làm việc cho Salomon nhưng ông ta không nói thẳng ra và không đề nghị tôi làm việc. Tôi trở về nhà, cởi bỏ bộ com-lê và lăn lên giường ngủ.
Cuối cùng, tôi băn khoăn và kể cho một người bạn học cùng trường Đại học Kinh tế London về những gì đã xảy ra. Cậu ấy cũng rất muốn được làm việc cho Salamon Brothers nên cậu ấy biết chính xác tôi phải làm gì. Cậu ấy nói rằng Salamon Brothers không bao giờ đề nghị tuyển dụng. Thật quá khôn ngoan khi để người khác có cơ hội từ chối. Salamon chỉ gợi ý bóng gió. Nếu tôi đã có lời gợi ý rằng họ muốn thuê tôi, vậy thì cách tốt nhất tôi phải làm là gọi cho Leo Corbett ở New York và nhận việc từ ông ta.
Tôi đã làm thế. Tôi gọi điện, giới thiệu lại về mình và nói: “Tôi muốn ông biết rằng tôi nhận lời.”
“Chào mừng cậu lên tàu,” ông ta cười và nói.
Vậy là ổn. Và tiếp theo là gì? Ông ta giải thích rằng tôi sẽ bắt đầu cuộc sống với “Brothers” bằng một chương trình đào tạo từ cuối tháng Bảy. Ông ta nói tôi sẽ tham gia cùng ít nhất 120 sinh viên khác, phần lớn được tuyển từ các trường kinh doanh. Rồi ông ta gác máy và cũng chẳng nói tôi sẽ được trả mức lương bao nhiêu, và tôi cũng không hỏi vì tôi biết rằng, vì những lý do sắp đề cập tới đây, giới ngân hàng đầu tư không thích nói về tiền.
Ngày tháng trôi đi, tôi chẳng biết gì về giao dịch, vậy nên tôi gần như chẳng biết gì về Salomon Brothers. Hơn bất cứ công ty nào ở Phố Wall, Salomon Borthers là một hãng được điều hành bởi những tay giao dịch. Tôi chỉ biết được những gì đã đọc trên báo chí, và người ta nói rằng Salomon Brothers là ngân hàng đầu tư sinh lãi nhất trên thế giới. Thực tế có thể vậy lắm, và quá trình nhận được việc làm đã khiến tôi rất phấn khởi. Sau một vài choáng váng ban đầu về lời hứa hẹn một công việc lâu dài, tôi bắt đầu hoài nghi về khát vọng cuộc sống trên một sàn giao dịch. Một ý nghĩ chợt nảy trong đầu, đó là tôi muốn làm việc trong ngành tài chính doanh nghiệp. Nhưng vì chẳng còn sự lựa chọn nghề nghiệp nào khác, tôi đành không viết cho Leo hay rằng tôi không muốn thuộc về bất cứ nhóm nào có thể chấp nhận tôi là một thành viên.
Tôi đành phải mang vết nhơ là đã có được một công việc thật sự đầu tiên thông qua chỗ quen biết. Nhưng nó còn khá khẩm hơn là thất nghiệp – một nỗi đáng sỉ nhục. Dù bằng cách nào nhảy lên được sàn giao dịch Salomon thì tất cả đều phải chấp nhận những trở ngại không mấy vui vẻ, chẳng hạn như trong các cuộc phỏng vấn xin việc (năm đó có tới 6.000 người nộp đơn). Phần lớn những người mà tôi làm việc cùng đã phải vật lộn trong hàng đống cuộc phỏng vấn và tích lũy được những câu chuyện đáng rùng mình để kể lại. Ngoại trừ ký ức khó hiểu về cuộc tấn công của Salomon vào Hoàng gia Anh thì tôi không có một vết sẹo chinh chiến nào cả và tôi cảm thấy thật hổ thẹn.
Được thôi, tôi thú nhận. Một trong những nguyên do khiến tôi chộp ngay lấy cơ hội của Salomon Brothers như một quả bóng xì hơi là tôi đã nhìn thấy mặt trái của vấn đề tìm việc làm trên Phố Wall và không hề muốn gặp phải lần nữa. Năm 1981, khi đang là sinh viên năm cuối, tức là ba năm trước cái đêm gặp may ở Cung điện St. James, tôi đã nộp đơn xin việc vào các ngân hàng. Tôi chưa bao giờ gặp bất kỳ người nào ở Phố Wall lại hoàn toàn tán đồng với bất kỳ vấn đề mà họ thấy trên tờ đơn xin việc của tôi. Một số người cười nhạo vào bản tóm tắt lý lịch. Mấy tay đại diện tuyển dụng nói rằng tôi thiếu kỹ năng về thương mại và e ngại rằng tôi sẽ phải sống suốt đời nghèo khổ. Tôi luôn gặp khó khăn khi đưa ra những thay đổi đột ngột và đây là thay đổi đột ngột nhất. Tôi nhớ là tôi không thể hình dung nổi mình có thể mắc một chiếc cà-vạt lên cổ. Và tôi cũng chưa bao giờ gặp một nhân viên ngân hàng nào tóc vàng. Tất cả những người liên quan đến tiền bạc mà tôi gặp đều tóc đen hay bị hói. Tôi thì không. Vậy bạn thấy đó, quả tôi có nhiều vấn đề. Khoảng một phần tư số người mà tôi cùng làm việc tại Salomon Brothers đều đến thẳng từ trường đại học, tức là đã vượt qua kỳ tuyển dụng mà tôi bị rớt. Tôi vẫn tự hỏi như thế là thế nào.
Lúc đó, tôi không cho rằng giao dịch là một nghề quan trọng. Tôi không phải là ngoại lệ. Khi nói tới sàn giao dịch, đám sinh viên năm cuối sẽ coi nó như một cái lồng nhốt những con vật hoang dã không được huấn luyện, và một trong những thay đổi lớn lao vào thập niên 1980 là việc giảm bớt đi cái bộ tịch của những người có được học vấn đắt đỏ nhất ở Mỹ và Anh. Khóa năm 1982 của Đại học Princeton của tôi là khóa cuối cùng nắm được thực trạng này một cách chắc chắn. Vậy nên chúng tôi không nộp đơn xin việc vào các sàn giao dịch. Thay vào đó, chúng tôi nhắm vào những công việc trả lương thấp hơn trong ngành tài chính doanh nghiệp. Lương khởi điểm 25.000 đô-la/năm cộng với tiền thưởng. Tính đi tính lại thì nó khoảng 6 đô-la/giờ. Công việc đó có tên là “nhà phân tích ngân hàng đầu tư".
Nhà phân tích chẳng phân tích cái gì cả. Họ là lũ nô lệ cho một nhóm các nhà tài chính doanh nghiệp, chuyên làm những công việc về thương lượng và giấy tờ (không phải là giao dịch hay bán hàng) cho các đợt phát hành cổ phiếu và trái phiếu của các công ty Mỹ. Tại Salomon Brothers, họ là những người thấp nhất trong những người thấp, còn ở các ngân hàng khác thì họ lại là người thấp nhất trong những người cao; nhưng dù trong trường hợp nào, đó cũng là một nghề khổ cực. Họ phải sao chụp, đọc, sửa chữa và ghép các tài liệu giấy tờ một cách tẻ nhạt và làm việc hơn 90 tiếng đồng hồ mỗi tuần. Nếu làm tốt thì họ được các sếp đánh giá tốt.
Đây là niềm vinh dự mơ hồ. Các sếp thường gắn máy nhắn tin lên nhà phân tích nào họ thích để có thể gọi mọi lúc. Một số nhà phân tích cực giỏi sau mấy tháng bước vào công việc mới đã đánh mất đi nguyện vọng sống một cuộc sống bình thường. Chính bản thân họ đã hoàn toàn vượt qua cả sếp của mình, làm việc thâu đêm suốt sáng. Họ hiếm khi ngủ và lúc nào cũng có vẻ đau ốm, họ càng làm tốt công việc hơn thì trông càng như thể gần tiến tới cái chết. Một nhà phân tích cực kỳ thành công làm việc cho Dean Witter vào năm 1983 (một người bạn mà lúc ấy tôi rất hâm mộ phong cách làm việc) đã làm việc căng thẳng đến nỗi anh ta thường vào toilet ngủ gật. Anh ta làm việc thâu đêm và cả vào ngày nghỉ cuối tuần, ấy vậy mà anh ta còn cảm thấy có lỗi vì không làm được nhiều việc hơn. Theo lý thuyết thì nghề phân tích chỉ kéo dài hai năm, sau đó nhà phân tích sẽ quay lại học tiếp cao học ở trường kinh doanh. Nhiều nhà phân tích thừa nhận rằng hai năm đó, khoảng thời gian giữa đại học và cao học, là những năm tháng tồi tệ nhất.
Nhà phân tích là tù nhân của chính tham vọng hẹp hòi của riêng mình. Anh ta cần tiền, nhưng không muốn bộc lộ bản thân theo bất cứ lối bất thường nào. Anh ta muốn những người khác nghĩ mình thành công như chính mình tự cho là thế. (Tôi kể cho bạn điều này chỉ vì tôi đã tự thoát khỏi nhà tù mà không chọn lựa gì. Và nếu tôi không thoát ra được thì chắc hẳn lúc này tôi đã không ở đây. Có lẽ tôi vẫn đang tiếp tục leo lên nấc thang như nhiều bạn học khác). Chỉ có một cách chắc chắn và duy nhất để tiến lên như những người có con mắt tinh đời vào năm 1982 nhìn thấy: học đại học ngành kinh tế, sử dụng tấm bằng kinh tế để kiếm một công việc phân tích ở Phố Wall, sử dụng công việc phân tích để xin vào học ở các trường kinh doanh Stanford hay Harvard, và rồi sau đó hẵng lo lắng về phần đời còn lại của mình.
Do vậy, câu hỏi mà các bạn học và tôi thắc mắc vào học kỳ mùa thu năm 1981 và mùa xuân năm 1982 là: Làm thế nào trở thành nhà phân tích Phố Wall? Thời gian cứ trôi đi và câu hỏi này đã đưa ra những câu trả lời kỳ lạ. Câu trả lời thứ nhất có thể rút ra từ ví dụ này: 40% trong số 1.300 sinh viên tốt nghiệp khóa năm 1986 của Đại học Yale đã xin vào một ngân hàng đầu tư duy nhất, đó là First Boston. Tôi cho rằng có lẽ tồn tại một cảm giác an toàn từ những con số đó. Số người tham gia càng lớn, họ càng dễ tự dối mình rằng họ là người thông minh. Điều đầu tiên bạn học được trên sàn giao dịch là khi có một số lượng lớn những người muốn mua cùng một hàng hóa, có thể là một cổ phiếu, trái phiếu hoặc một công việc, thì món hàng đó nhanh chóng được định giá cao quá mức. Rất tiếc vào thời điểm đó, tôi chưa một lần đặt chân lên sàn giao dịch nào.
Câu trả lời thứ hai gây cho tôi ấn tượng về bi kịch, đó là phong trào học kinh tế. Vào năm 1987, ở trường Harvard, môn kinh tế học căn bản đã có tới 40 lớp và 1.000 sinh viên; số lượng tuyển sinh của khoa cũng đã tăng gấp ba trong vòng mười năm. Còn ở trường Princeton, vào năm mà tôi tốt nghiệp, lần đầu tiên trong lịch sử của trường, kinh tế học trở thành ngành phổ biến nhất. Càng nhiều người học kinh tế thì tấm bằng kinh tế càng là yêu cầu bắt buộc khi xin việc ở Phố Wall.
Có một lập luận thú vị cho điều này. Kinh tế học đã đáp ứng được hai yêu cầu cơ bản nhất của các giám đốc ngân hàng đầu tư. Đầu tiên, họ muốn có những con người thực tế, sẵn sàng cống hiến toàn bộ học vấn của mình cho nghề nghiệp. Kinh tế học ngày càng trở thành môn khoa học khó hiểu, sản sinh ra những luận thuyết toán học không có ứng dụng rõ ràng nào, gần như chỉ là một phương tiện. Lối dạy kinh tế học đã không kích thích được trí tưởng tượng. Ý tôi là không mấy ai tự nhận mình thật sự thích kinh tế học. Đó không phải là vì đam mê say đắm, mà là hành động hy sinh mang tính nghi thức nhiều hơn. Tất nhiên tôi không thể chứng minh hết điều này. Đây chỉ là nhận định dựa vào cái mà các nhà kinh tế học gọi là chủ nghĩa kinh nghiệm tự nhiên. Tôi đã quan sát, chứng kiến và ngẫm nghĩ về những người bạn đã tiêu hao dần hết cuộc đời mình. Tôi thường hỏi những người có mục đích làm trong ngành ngân hàng tại sao họ lại học kinh tế, và họ giải thích rằng đó là môn khoa học ứng dụng nhiều nhất, ngay cả khi họ vẽ những biểu đồ nhảm nhí. Tất nhiên họ đúng và thậm chí còn cuồng nhiệt hơn. Kinh tế học là môn học ứng dụng. Nó tạo cho mọi người việc làm. Và thực tế đã có vì nó chứng minh là họ nằm trong số những con người tin tưởng nhất vào tầm quan trọng của kinh tế học đối với cuộc sống.
Các giám đốc ngân hàng đầu tư cũng muốn tin tưởng rằng tính logic trong kỹ thuật tuyển dụng của họ là khá chắn chắn. Chẳng người nào ngoài ngành lại được chấp nhận cả. Tính tự phụ này đi đôi với niềm tin của các ngài giám đốc ngân hàng đầu tư rằng họ có thể điều khiển số mệnh của mình, một thứ gì đó, như sau này chúng ta sẽ thấy, họ đã không làm nổi. Kinh tế học cho phép nhà tuyển dụng của các ngân hàng đầu tư có thể trực tiếp so sánh các học bạ trong trường của ứng viên. Khía cạnh duy nhất không thể giải thích được là ở chỗ, lý thuyết kinh tế (thứ mà sinh viên có nhiệm vụ phải biết) lại không phục vụ cho bất kỳ chức năng nào ở ngân hàng đầu tư. Các giám đốc ngân hàng đã dùng kinh tế học như một tiêu chuẩn cho toàn bộ trí thông minh.
Đứng giữa hội chứng cuồng loạn, tôi cũng bị cuồng loạn theo. Song tôi đã đưa ra một quyết định tỉnh táo là không học ngành kinh tế ở Princeton, một phần là do tất cả mọi người đều học ngành này, theo tôi, đó dường như là một sai lầm. Xin đừng hiểu sai về tôi. Tôi biết rồi một ngày nào đó mình cũng phải kiếm sống. Nhưng dường như sẽ là một sự phí phạm nếu không nắm bắt lấy cơ hội duy nhất để thể hiện bộ óc của mình về một lĩnh vực nào đó thật sự hứng thú. Cũng thật phí phạm nếu không sử dụng phần còn lại của ngôi trường. Vì vậy tôi đã đặt chân vào một trong những khoa được ứng dụng ít nhất của trường. Ngành Lịch sử nghệ thuật, đối lập với kinh tế học, và không ai muốn có nó trong tờ lý lịch của mình. Lịch sử nghệ thuật, đó là ngành mà như một sinh viên kinh tế đã nói với tôi, “là dành cho bọn con gái ở Connecticut”. Mục đích kinh tế chính của lịch sử nghệ thuật là để sinh viên nâng điểm trung bình trong học bạ. Họ nhảy vào khoa tôi, học lấy vài môn để cải thiện phần nào điểm số trung bình đó. Ý tưởng xem ngành lịch sử nghệ thuật là một mục đích chính đáng để tự cải thiện sự nghiệp bị mọi người coi là khờ khạo và thiếu thận trọng. Ngày tốt nghiệp sắp đến, mọi thứ càng trở nên rõ ràng. Ngay cả một vài bạn học cũng bày tỏ sự thông cảm với tôi như thể tôi là một kẻ què quặt, bần cùng không có ý thức. Việc trở thành người theo dòng Francis có cái lợi của nó, nhưng đó không phải là một tấm vé để bước vào Phố Wall.
Công bằng mà nói, nghệ thuật chỉ là sự khởi đầu mọi vấn đề của tôi. Nó không giúp được chuyện tôi thi rớt môn “Vật lý học cho các thi sĩ” (Physics for Poets) hay việc bản lý lịch của tôi liệt kê năng khiếu về pha chế rượu và nhảy dù. Sinh ra và lớn lên ở tận cùng Miền Nam, tôi chưa bao giờ nghe nói đến ngân hàng đầu tư cho tới vài tháng trước buổi phỏng vấn đầu tiên của mình.
Tuy nhiên, Phố Wall dường như là nơi mà người ta muốn đến lúc bấy giờ. Thế giới này không cần thêm luật sư, tôi cũng không thể trở thành bác sỹ, và ý tưởng của tôi về việc khởi sự kinh doanh đó là sản xuất những cái túi nhỏ bịt mông con chó lại, không chó chúng ị bậy ra ngoài đường phố Manhattan (với dòng quảng cáo “Chúng tôi ngăn được phế thải rồi!”) – một ý tưởng không bao giờ tìm được nguồn vốn. Có lẽ sự thật của vấn đề ở đây là tôi sợ sẽ lỡ chuyến xe buýt mà tôi biết mọi người đều đã đặt chỗ trước vì e rằng sẽ không có chuyến thứ hai. Tôi hoàn toàn không có ý định cụ thể sẽ làm gì sau khi tốt nghiệp và Phố Wall sẽ trả giá cao nhất cho những gì tôi có thể làm, đó là không biết làm gì cả. Động cơ của tôi thật nông cạn, song đó cũng không phải là vấn đề, thậm chí còn là lợi thế nếu như tôi cảm thấy mình xứng đáng có một công việc. Nhưng tôi thì chẳng xứng đáng chút nào. Nhiều bạn học đã hy sinh một phần tươi đẹp trong cuộc sống sinh viên cho Phố Wall, còn tôi thì chẳng hy sinh gì cả. Điều này làm cho tôi trở thành một tay tài tử lướt điệu vanxơ bước vào trong một cuộc chiến mà đối thủ là những chàng trai tốt nghiệp từ những ngôi trường danh giá vùng Đông Bắc.
Tóm lại, tôi sẽ không làm cho ngân hàng đầu tư lúc này. Khoảnh khắc suy tính xuất hiện trong tôi ngay sau buổi phỏng vấn đầu tiên vào năm 1982 với công ty Lehman Borthers ở Phố Wall. Để có được buổi phỏng vấn đấy, tôi đã phải đứng ngập sâu hơn 15cm trong tuyết lạnh cùng với 50 sinh viên khác đợi văn phòng dịch vụ việc làm của trường Đại học Princeton mở cửa. Suốt cả mùa đông, văn phòng ấy giống như một cái quầy bán vé xem chương trình biểu diễn của Michael Jackson, với những hàng dài hỗn tạp sinh viên đứng thâu đêm để đợi được lên trước. Khi cánh cửa mở tung ra, chúng tôi lao vào tranh nhau điền tên lên tờ hẹn phỏng vấn của Lehman.
Mặc dù không định làm việc trong ngân hàng đầu tư, song tôi thấy vui vui và cũng đã chuẩn bị cho cuộc phỏng vấn của mình. Tôi học thuộc lòng một số điều mà giới sinh viên Princeton thừa nhận là bí quyết để sống sót trong buổi phỏng vấn xin việc với các ngân hàng đầu tư. Những người nộp đơn đòi hỏi phải có văn hóa cao. Chẳng hạn vào năm 1982, ít nhất họ cũng phải có khả năng định nghĩa được những thuật ngữ sau: ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư, tham vọng, công việc vất vả, cổ phiếu, trái phiếu và Đạo luật Glass-Steagall.
Glass-Steagall là một đạo luật của Quốc hội Mỹ, nhưng nó có hiệu lực hơn cả luật của Chúa. Nó chia nhân loại ra làm đôi. Với đạo luật này, năm 1934, các nhà lập pháp Hoa Kỳ đã tách ngân hàng đầu tư ra khỏi hoạt động ngân hàng thương mại. Hiện nay, ngân hàng đầu tư nhận phát hành các chứng khoán như cổ phiếu và trái phiếu. Các ngân hàng thương mại, như Citibank, nhận tiền gửi và thực hiện cho vay. Đạo luật này đã tạo nên ngành nghề ngân hàng đầu tư với mục đích thiết thực, và đây là sự kiện quan trọng nhất trong lịch sử nhân loại, ít nhất là tôi tin như vậy.
Nó hoạt động riêng biệt. Sau Đạo luật Glass-Steagall, phần lớn mọi người đều trở thành chủ ngân hàng thương mại, nhưng trong ý nghĩ của họ, đó chỉ là một thương nhân bình thường với những tham vọng bình thường của người Mỹ. Ông ta cho vài quốc gia thuộc vùng Nam Mỹ vay vài trăm triệu đô-la một ngày. Nhưng thật ra ông ta cũng chẳng thiệt gì. Ông ta chỉ làm theo những gì mà cấp trên ra lệnh mà thôi – một chuỗi lệnh dài vô tận. Một chủ ngân hàng thương mại không còn là kẻ quấy rối hơn Dagwood Bumstead nữa. Ông ta có một bà vợ, một chiếc xe hơi vừa chở khách vừa chở hàng, hai đứa con và một con chó thường tha đôi dép đi trong nhà mỗi khi ông đi làm về lúc 6 giờ. Tất cả chúng tôi biết và chủ ngân hàng đầu tư cũng biết rằng chúng tôi còn nộp đơn xin việc ở các ngân hàng thương mại khác như là phương án phòng hờ. Ngân hàng thương mại luôn là nơi an toàn.
Chủ ngân hàng đầu tư là một giống nòi khác, là bậc thầy về giao dịch. Ông ta phải có tầm nhìn bao quát, tài năng phi thường và đầy tham vọng. Ông ta có một con chó gầm gừ. Ông ta có hai chiếc xe thể thao màu đỏ nhưng lại muốn tới bốn chiếc. Để có được những thứ ấy, một người đàn ông diện bộ đồ vest trông rất lịch sự – thật bất ngờ – lại sẵn sàng gây rắc rối. Chẳng hạn ông ta rất thích quấy rối đám sinh viên năm cuối như tôi. Các ông chủ ngân hàng đầu tư có một thứ kỹ thuật được gọi là “phỏng vấn ở tình trạng căng thẳng”. Nếu bạn được mời đến các văn phòng của Lehman ở New York, câu phỏng vấn đầu tiên là yêu cầu mở cửa sổ ra. Bạn đang ở tầng 43 và có thể nhìn toàn cảnh Phố Wall. Cửa sổ được hàn chặt. Tất nhiên chỉ có một điểm thôi. Người phỏng vấn chỉ muốn xem liệu bạn có khả năng làm theo yêu cầu của ông ta hay không và rồi dẫn bạn tới chỗ toát mồ hôi hột, khiến tham vọng của bạn tan chảy ra thành nước. Người ta đồn rằng một số ứng viên đã căng thẳng đến mức ném cả chiếc ghế vào cửa sổ.
Một mẹo gây căng thẳng khác là “giải pháp im lặng”. Bạn bước vào cuộc phỏng vấn, người phỏng vấn ngồi im trên ghế không nói lời nào. Bạn chào ông ta. Ông ta nhìn chòng chọc. Bạn nói bạn tới để tham dự phỏng vấn xin việc. Ông ta lại nhìn chòng chọc tiếp. Bạn làm một trò đùa ngớ ngẩn. Ông ta lại nhìn chòng chọc và lắc đầu. Ruột gan bạn nóng như lửa đốt. Rồi ông ta nhặt tờ báo lên (hoặc tệ hơn nữa là bản lý lịch của bạn) và bắt đầu đọc. Ông ta đang thử khả năng điều khiển cuộc gặp của bạn. Trong trường hợp này, có thể chấp nhận việc ném cái ghế qua cửa sổ.
Tôi muốn trở thành một nhân viên trong ngân hàng đầu tư. Lehman Brothers là công ty tốt nhất. Tôi muốn trở nên giàu có. Vào ngày hẹn, giờ hẹn, đứng bên ngoài phòng phỏng vấn, tôi xát hai lòng bàn tay đầy mồ hôi với nhau và cố chỉ liên tưởng tới những ý nghĩ trong sáng, chẳng hạn như những điều trên đây. Tôi đã kiểm tra nhanh các “trang bị” tựa như nhà du hành vũ trụ chuẩn bị lên bệ phóng vậy. Những điểm mạnh của tôi: Tôi là một người tham vọng thành đạt, làm việc nhóm, người của công chúng – là bất cứ thứ gì có ý nghĩa. Và những điểm yếu của tôi: quá hăng hái thành ra hay mau mắn, nhanh nhảu trong công việc.
Tên của tôi được xướng lên. Lehman phỏng vấn từng cặp. Tôi không chắc rằng mình tận dụng được cơ hội này.
Tin vui, Lehman đã cử về trường Princeton một người đàn ông và một phụ nữ. Tôi không biết người đàn ông đó. Nhưng người phụ nữ là một cựu sinh viên, người bạn cũ mà trước đây tôi không mong đợi được gặp. Có lẽ tôi sẽ sống sót đây.
Tin buồn, khi tôi bước vào căn phòng nhỏ, cô ta không mỉm cười, cũng chẳng tỏ ra biết tôi. Về sau cô ta nói với tôi rằng cư xử như vậy là không chuyên nghiệp. Chúng tôi bắt tay nhau, và cô ta có vẻ thuần thục như một võ sĩ quyền anh trước khi vào trận đấu. Rồi cô ta quay về góc phòng ngồi nghỉ, cứ như thể đợi hồi chuông báo. Cô ta ngồi yên lặng trong một bộ quần áo màu xanh lục. Người đàn ông đi cùng là một thanh niên trạc 22 tuổi, vai rộng, khỏe mạnh, tay cầm bản lý lịch của tôi.
Hai người này đã có hai năm kinh nghiệm làm việc về nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Điều lố bịch nhất trong các cuộc phỏng vấn của ngân hàng đầu tư tại trường đại học chính là những người được cử tới tiến hành phỏng vấn. Rất nhiều trong số họ chưa làm việc ở Phố Wall quá một năm. Những lời lẽ họ ưa dùng là đống từ chuyên môn. Kiểu ngồi cứng nhắc, cử chỉ trịnh trọng, nói năng quả quyết, nhâm nhi cốc nước lạnh rất chuyên nghiệp. Cười đùa hay cạo cạo xuống bàn không phải là tác phong chuyên nghiệp. Bạn tôi và đồng sự của cô ta là minh chứng số một chống lại việc trở thành kẻ chuyên nghiệp. Một năm trên Phố Wall đã làm họ biến đổi rất nhiều. Bảy tháng trước còn nhìn thấy cô bạn tôi trong khuôn viên trường, mặc quần jean, áo thun logo và lầm lì ít nói. Cô ta nốc bia còn nhiều hơn cả mức cho phép. Tóm lại, cô ta là một sinh viên điển hình. Còn bây giờ, cô ta là một đối thủ đáng gờm trong cơn ác mộng của tôi.
Người thanh niên kéo chiếc ghế phía sau cái bàn sắt lạnh lẽo và bắt đầu đặt câu hỏi cho tôi. Có lẽ cách tốt nhất để mô tả cuộc gặp gỡ của chúng tôi là kể lại chi tiết. Trí nhớ là thứ giúp ích nhất về những chuyện đã qua trong cuộc đối thoại này.
Người thanh niên: Anh hãy giải thích cho tôi sự khác biệt giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại?
Tôi (sai lầm thứ nhất là việc tôi sao nhãng không nắm lấy cơ hội để khen ngợi giới ngân hàng đầu tư và dồn sự nhạo báng vào giờ làm việc ngắn ngủi, nhàm chán về phía giới ngân hàng thương mại): Giới ngân hàng đầu tư phát hành chứng khoán. Anh thấy đấy, cổ phiếu và trái phiếu. Giới ngân hàng thương mại chỉ cho vay thôi.
Người thanh niên: Tôi thấy anh có nhiều tài năng về lịch sử nghệ thuật. Tại sao? Thế anh có lo ngại khi xin việc không?
Tôi (bám sát đường lối chỉ đạo của khoa lịch sử nghệ thuật ở Princeton): Ồ, lịch sự nghệ thuật là mối quan tâm nhiều nhất của tôi, và khoa này thật tuyệt vời. Vì trường Princeton không có khóa đào tạo hướng nghiệp nào nên tôi không cho rằng lựa chọn chuyên môn trong trường đại học lại quá tách biệt với chuyện xin việc.
Người thanh niên: Anh có biết tổng sản phẩm quốc gia (GDP) của Hoa Kỳ là bao nhiêu không?
Tôi: Tôi không chắc lắm, khoảng chừng 500 tỷ đô-la? Người thanh niên (đưa mắt đầy ý nhị với cô bạn tôi): Tới hơn 3.000 tỷ chứ. Anh thấy đấy, chúng tôi phỏng vấn hàng trăm người cho từng vị trí khác nhau. Anh đang chọi lại nhiều người có tài năng về kinh tế lại tinh thông nghiệp vụ của mình. Tại sao anh lại muốn trở thành nhân viên ngân hàng đầu tư?
Tôi (rõ ràng câu trả lời thật thà nhất là tôi cóc biết. Có điều như vậy thì không chấp nhận được. Sau một hồi câu giờ, tôi cho anh ta câu trả lời mà tôi nghĩ anh ta muốn nghe): Ồ, thật ra, nói cho cùng thì tôi muốn kiếm tiền.
Người thanh niên: Đó không phải là câu trả lời chính xác với nghề này, anh làm việc nhiều giờ liền thì phải có động cơ nào đó thúc đẩy mạnh hơn cả đồng tiền ấy chứ. Sự thực lương của chúng tôi phù hợp với sự đóng góp của chúng tôi. Thực tình mà nói chúng tôi không khuyến khích những người quá quan tâm đến đồng tiền tham gia cùng với chúng tôi. Thế thôi, xong rồi!
Thế thôi? Những lời đó reo vào tai tôi. Trước khi có thể dừng chuyện đó lại thì tôi đã đứng bên ngoài căn phòng nhỏ, mồ hôi lạnh toát để nghe ứng viên tiếp theo bị “quay”. Chưa bao giờ, dù chỉ trong một khoảnh khắc, tôi lại nghĩ rằng người ta không chấp nhận một người yêu tiền làm việc cho ngân hàng đầu tư. Tôi từng cho rằng nhân viên ngân hàng đầu tư cũng kiếm tiền để sinh sống thôi, giống như kiểu hãng Ford sản xuất xe hơi vậy. Ngay cả khi mấy nhà phân tích không được trả lương hậu hĩnh bằng mấy tay nhân viên ngân hàng đầu tư, tôi vẫn cho rằng người ta muốn nói ít nhất họ cũng tham lam. Tại sao người thanh niên vai rộng của Lehman ấy lại mếch lòng với ý kiến đó? Về sau, một người bạn đã kiếm được việc làm ở Lehman Brothers đã giải thích: “Đó là điềm cấm kỵ. Khi được hỏi tại sao anh muốn trở thành nhân viên ngân hàng đầu tư, anh chỉ được nói về những thách thức và mong muốn thực hiện công việc giao dịch buôn bán, cũng như niềm hứng thú khi được làm việc với những người có phẩm chất năng lực cao. Nhưng, không bao giờ, không bao giờ được nhắc đến tiền.”
Học cách nói dối thì rất dễ. Tin vào nó lại là vấn đề khác. Từ đó trở đi, bất cứ một nhân viên ngân hàng đầu tư nào hỏi về động cơ của tôi, tôi liền dắt ông ta vào những câu trả lời chính xác: sự thách thức, sự hồi hộp trong giao dịch, và cả về con người. Đúng, vài năm về trước, tôi tự nhủ điều này khó mà tin được (thậm chí tôi còn làm tương tự điều đó với bà vợ ngài giám đốc điều hành Salomon Brothers). Tuy nhiên, việc đồng tiền không phải là động lực chính ở đây thì dứt khoát là chuyện nhảm nhí. Nhưng bên trong văn phòng dịch vụ việc làm của Princeton, bạn không thể để cho sự thật chen ngang vào công cuộc tìm kiếm việc làm. Tôi đã tâng bốc mấy tay ngân hàng đầu tư. Tôi cũng sôi lên vì thái độ đạo đức giả của họ. Tôi định nói, trong những ngày ấu trĩ ấy, liệu có ai nghi ngờ về tầm quan trọng của đồng tiền trên Phố Wall hơn chính những kẻ đến từ Phố Wall khi nói chuyện với những người từ nơi khác tới hay không.
Sôi lên rồi dịu đi. Cần phải dịu đi. Từ khi tốt nghiệp Đại học Princeton, tôi không có việc làm (Salomon đã từ chối mà không cần phỏng vấn). Trong những năm tiếp theo, khi kinh qua ba công việc khác nhau, tôi bắt đầu cảm thấy mình vẫn không khác gì kẻ thất nghiệp như điều những tay nhân viên ngân hàng đầu tư nhìn thấy ở tôi. Tôi cũng không nghi ngờ về những gì tôi xứng đáng có được. Tôi chỉ không thích cái cách mình phải trả giá. Tôi không học được điều gì từ đống thư từ chối của Phố Wall, ngoại trừ việc mấy tay nhân viên ngân hàng không làm ăn trên thương trường vì lòng trung thực, hay vì sự phục vụ (cũng không phải là vì hai điều này có liên quan với nhau). Cuộc phỏng vấn thành công vào ngân hàng đầu tư của sinh viên năm cuối có vẻ như câu chuyện đậm nét giáo điều. Còn cuộc phỏng vấn bất thành thì lại giống tai nạn khủng khiếp. Buổi phỏng vấn với Lehman Brothers của tôi là điển hình không chỉ cho kinh nghiệm cá nhân tôi, mà còn cho hàng nghìn cuộc phỏng vấn của hàng chục ngân hàng với mấy chục trường đại học từ khoảng năm 1981 đến nay.
Dẫu sao, câu chuyện vẫn kết thúc có hậu. Lehman Brothers cuối cùng đã vỡ nợ. Một cuộc chiến giữa những tay giao dịch và tài chính doanh nghiệp đã làm cho công ty sụp đổ vào đầu năm 1984. Phe giao dịch đã chiến thắng, nhưng đế chế uy nghiêm Lehman Brothers không còn đáng để mà ở trong đó nữa. Các thành viên cao cấp phải lật ngửa mũ ra, bước tới đối thủ cạnh tranh Shearson để xin được mua lại. Cái tên Lehman Brothers mãi mãi bị xóa sổ khỏi những tấm danh thiếp trên Phố Wall. Khi đọc tin này trên tạp chí New York Times, tôi đã nghĩ Thật là thoát nợ!, mặc dù phải thừa nhận rằng đó không phải là cách phản ứng của một con chiên ngoan đạo. Liệu điều không may xảy ra với Lehman Brothers có trực tiếp liên quan đến việc bất đắc dĩ khi phải thú nhận rằng kiếm tiền là động lực chính hay không, tôi thực không biết.

