Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 3
Chương III. Học cách yêu mến văn hóa doanh nghiệp
Kẻ nào tự biến mình thành quái vật thì sẽ xóa được hết nỗi đau làm người.
— Samuel Jackson
Tôi còn nhớ chính xác những gì mình thấy và cảm nhận được trong ngày đầu tiên ở Salomon Brothers. Một cảm giác run run vì cái lạnh bao trùm toàn thân như thể vẫn còn mơ màng ngái ngủ. 7 giờ 30 sáng tôi mới phải bắt đầu làm việc, vậy nên tôi dậy sớm và đi dạo khắp Phố Wall trước khi đến văn phòng. Tôi chưa bao giờ xem xét nơi này. Một đầu là dòng sông, còn đầu kia là nghĩa địa. Ở khoảng giữa là khu Manhattan cổ kính: một hẻm núi hẹp và sâu [có thể hiểu là con đường lọt giữa hai bên là dãy nhà cao tầng] có những chiếc taxi màu vàng luồn lách qua nào là nắp cống, ổ gà và đống rác. Những đoàn người khoác bộ vest ào ào cuốn vào ga xe điện ngầm Lexington. Đối với giới thượng lưu, những người này có vẻ không sung sướng gì. Họ trông nghiêm túc, căng thẳng, ít ra thì cũng hơn tôi lúc này nhiều. Tôi chỉ có chút ít bồn chồn lo lắng thường xuất hiện khi khởi đầu một cái gì mới. Lạ lùng thay, tôi không thể tưởng tượng rằng cuối cùng mình cũng đã đi làm, mà lại giống như đi đổi tờ vé số trúng giải độc đắc.
Salomon Brothers đã gửi cho tôi một lá thư tới London thông báo rằng công ty sẽ trả tôi mức lương của một thạc sỹ quản trị kinh doanh (MBA), mặc dù tôi không có bằng MBA – khoảng 42.000 đô-la cộng thêm tiền thưởng, sau sáu tháng đầu tiên sẽ tăng thêm 6.000 đô-la. Hồi ấy tôi không có đủ trình độ cần thiết để cảm thấy hèn mọn với mức lương 48.000 đô-la/năm (tương đương 45.000 bảng Anh lúc bấy giờ). Khi tin tức đó vươn tới Anh, đồng lương tập tễnh ở đất nước này đã làm nổi bật tính hào phóng của Salomon Brothers. Một vị giáo sư trưởng khoa thuộc Đại học Kinh tế London, con người của chủ nghĩa vật chất, đã trố mắt lên nhìn tôi và nói ríu rít khi ông ta nghe thấy số tiền tôi được trả. Nó gấp đôi số lương của ông ta – một người đang ở độ tuổi 40, giai đoạn đỉnh cao của sự nghiệp. Còn tôi mới 24 tuổi và đang ở đáy của sự nghiệp. Không có sự công bằng trên thế giới này, và xin cám ơn Chúa về điều đó.
Có lẽ nên giải thích số tiền này xuất phát từ đâu thì hay ho hơn là việc cứ nghĩ ngợi về nó. Năm 1985 là năm Salomon Brothers làm ăn sinh lãi nhất thế giới. Ít nhất đây là những gì tôi được nghe nhiều lần. Tôi không bao giờ áy náy đến mức phải kiểm tra lại thông tin bởi vì dường như đối với tôi nó hoàn toàn đúng. Phố Wall đang sôi sục và chúng tôi là công ty kiếm được nhiều tiền nhất trên Phố Wall.
Phố Wall luân chuyển cổ phiếu và trái phiếu. Thời kỳ cuối thập niên 1970 là màn mở đầu của lịch sử tài chính và nền chính trị hiện đại Mỹ, Salomon Brothers nắm rõ về trái phiếu hơn bất kỳ công ty nào khác trên Phố Wall: biết cách định giá, cách giao dịch và bán chúng. Chỉ có một mảng nhỏ duy nhất mà công ty không chiếm ưu thế, đó là trái phiếu thứ cấp (junk bond) – chúng ta sẽ đề cập tới sau – và là sở trường của một công ty khác rất giống chúng tôi: Drexel Burnham. Nhưng vào cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, trái phiếu thứ cấp chỉ chiếm một phần nhỏ trong thị trường trái phiếu rộng lớn mà Salomon chiếm lĩnh hoàn toàn. Phần còn lại của Phố Wall đành nhường bước và đầu hàng Salomon Brothers không phải vì họ không thu được lợi nhuận hay không có uy tín. Lợi nhuận nhiều nhất là từ huy động vốn (vốn cổ phần) cho các công ty. Uy tín là có nhiều mối quan hệ với giới điều hành các công ty. Salomon Brothers lại là kẻ đứng ngoài các mối quan hệ tài chính và xã hội.
Dù thế nào chăng nữa thì đó cũng là những điều tôi nghe được. Thực khó để chứng minh vì chúng chỉ là tin đồn. Nhưng hãy suy nghĩ về lời nói đùa mở đầu bài diễn thuyết tại Trường Wharton vào tháng 3 năm 1977 của Sydney Homer thuộc Salomon Brothers – nhà phân tích trái phiếu hàng đầu của Phố Wall suốt từ giữa thập niên 1940 cho tới cuối thập niên 1970. Homer nói: “Tôi cảm thấy bế tắc về công việc của mình. Trong các bữa tiệc rượu cocktail, các quý bà cứ dồn dập hỏi quan điểm của tôi về thị trường, nhưng chao ôi, khi họ biết được tôi là một gã kinh doanh trái phiếu thì họ cứ lẳng lặng bỏ đi.”
Hoặc, hãy suy nghĩ về việc thiếu bằng chứng. Thư viện Công cộng New York chứa tới 287 cuốn sách bàn về trái phiếu và hầu hết chúng đều chứa đầy các công thức phức tạp. Không có cuốn sách nào không chứa những con số khô khan, hay mang những tựa đề hấp dẫn đại loại như All Quiet on the Bond Font (Mặt trận trái phiếu yên ả), Low-Risk Strategies for the Investor (Chiến lược dành cho nhà đầu tư với rủi ro thấp). Nói cách khác, những cuốn sách đó không thuộc loại khiến bạn phải ngồi lật dở liền tay từng trang và dán chặt vào ghế. Người ta thường cho rằng con người có xu hướng để lại cho xã hội những tri thức quý giá thông qua thể loại hồi ký và giai thoại hơn. Nhưng trong khi có tới hàng chục hồi ký và giai thoại kinh điển như vậy dành cho thị trường cổ phiếu thì thị trường trái phiếu lại hoàn toàn im hơi lặng tiếng. Dân trái phiếu có cùng một vấn đề giống với các nhà khảo cổ ở tận sâu trong khu rừng Amazon. Một phần là vì những tay thuộc thế giới trái phiếu không phải là tầng lớp có học vấn cao, và điều đó càng làm cho thị trường trái phiếu trở nên không mấy hấp dẫn. Năm 1968, lần cuối cùng tính về số bằng cấp ở Salomon Brothers, 13 trong số 28 thành viên không học đại học và một người chưa tốt nghiệp lớp 8. Trong đám này, John Gutfruend có vẻ là người trí thức nhất, mặc dù ông ta bị Harvard từ chối, song cuối cùng cũng tốt nghiệp Oberlin (trường hạng xoàng).
Đó là huyền thoại lớn nhất về giới giao dịch trái phiếu, vậy nên mối hiểu lầm lớn nhất về sự phồn vinh chưa hề thấy trên Phố Wall vào thập niên 1980 là họ kiếm tiền bằng cách cả gan liều mạng. Đúng là có một số kẻ như vậy, song tất cả còn lại đều ít liều lĩnh hơn. Phần lớn các tay giao dịch hành động đơn giản như những kẻ thu thuế. Sự phát đạt họ có được, như Kurt Vonet (nhưng lại nói về dân luật sư) đã tóm lược ngắn gọn là: “Có một khoảnh khắc thật kỳ diệu, khi một người dâng nộp kho báu mà chính người sắp nhận kho báu đó lại chưa kịp nhận ra. Một luật sư nhanh nhẹn [ám chỉ giới giao dịch] sẽ chớp lấy vận may, sở hữu nó trong tích tắc, chiếm lấy một phần kho báu và rồi chuyền nó đi.”
Nói cách khác, Salomon đã cắt lại một phần nhỏ từ mỗi giao dịch tài chính. Cứ thế mà cộng dồn vào. Một tay kinh doanh của Salomon bán trái phiếu mới của IBM trị giá 50 triệu đô-la cho quỹ hưu trí X. Một tay giao dịch của Salomon, người cung cấp cho tay kinh doanh số trái phiếu đó, được hưởng 1/8 của 1% (0,125%) trị giá trái phiếu hay 62.500 đô. Nếu tay giao dịch đó muốn, anh ta có thể lấy thêm. Khác với thị trường cổ phiếu, trong thị trường trái phiếu, tỷ lệ hoa hồng không được tuyên bố công khai.
Bây giờ là lúc trò vui bắt đầu. Khi mà tay giao dịch biết được các trái phiếu IBM đó đang thuộc về ai và tính khí của người chủ sở hữu chúng, không cần phải thông minh lắm anh ta cũng có thể cho các trái phiếu (kho báu) di chuyển một lần nữa. Anh ta có thể tạo ra ra khoảnh khắc kỳ diệu của riêng mình. Chẳng hạn, anh ta có thể bảo tay kinh doanh của mình cố gắng thuyết phục công ty bảo hiểm Y rằng các trái phiếu IBM có giá trị cao hơn giá mà quỹ hưu trí X đã trả lúc đầu. Điều đó đúng hay không cũng không quan trọng. Tay giao dịch đó mua lại các trái phiếu từ X và bán chúng cho Y để lấy thêm 1/8 nữa. Và quỹ hưu trí thì rất hài lòng vì có được một món lãi nhỏ chỉ trong khoảng thời gian ngắn ngủi như thế.
Trong quá trình trên, tốt nhất là không để cả hai đối tác từ hai phía của người trung gian biết giá trị thực của kho báu. Những kẻ tung hoành trên sàn giao dịch có thể đã không được đi tới trường, nhưng họ có bằng tiến sỹ về sự ngu xuẩn của con người. Trên bất cứ thị trường nào – cũng giống như mọi sòng bài xì phé, bao giờ cũng có một kẻ khờ. Nhà đầu tư tinh ranh Warren Buffett thích nói rằng nếu anh không nhận ra ai là kẻ khờ trong thị trường thì coi chừng anh chính là nó. Năm 1980, khi mà thị trường trái phiếu bừng dậy sau một giấc ngủ dài, thì nhiều nhà đầu tư và thậm chí cả các ngân hàng ở Phố Wall cũng không có một manh mối nào để nhận ra ai là kẻ khờ trong trò chơi này. Các tay giao dịch Salomon Brothers biết ai là kẻ khờ bởi đó là nghề của họ. Nắm rõ thị trường tức là nắm rõ điểm yếu của những kẻ khác. Họ vẫn thường nói một kẻ khờ luôn sẵn sàng bán trái phiếu rẻ hơn hoặc mua trái phiếu cao hơn giá trị thực của nó. Một trái phiếu chỉ đáng giá với những kẻ đánh giá đúng nó. Và Salomon là công ty đã đánh giá trái phiếu thích đáng nhất.
Tuy nhiên, không thể nào giải thích được tại sao Salomon Brothers đặc biệt phát tài vào thập niên 1980. Hoạt động kiếm tiền trên Phố Wall có nét gì đó giống với việc ăn gà tây nhồi. Đầu tiên, một cơ quan quyền lực cao hơn nào đó phải nhồi nhân vào con gà tây. Vào thập niên 1980, những con gà tây được nhồi nhiều hơn bao giờ hết. Và với sự thành thạo của mình, Salomon đã ăn đến lần thứ hai, thứ ba trước khi các công ty khác biết rằng đang có bữa ăn.
Một trong những người làm công việc nhồi nhân con gà đó là Cục Dự trữ Liên bang (FED). Điều đó thực mỉa mai, bởi không ai phản đối việc ngài chủ tịch FED Paul Volcker vượt quá những giới hạn của Phố Wall vào thập niên 1980. Tại một cuộc họp báo hiếm hoi thứ bảy ngày 6 tháng 10 năm 1979, Volcker tuyên bố rằng nguồn cung tiền sẽ không biến động theo chu kỳ kinh tế nữa; nguồn cung tiền này sẽ được giữ cố định và lãi suất sẽ được thả nổi. Tôi cho rằng sự kiện này đánh dấu màn khởi đầu thời đại hoàng kim của giới giao dịch trái phiếu. Nếu như Volcker không bao giờ làm cuộc cải tổ căn bản với chính sách đó thì thế giới này sẽ có biết bao tay giao dịch trái phiếu ngày càng nghèo. Sự thay đổi tập trung vào chính sách tiền tệ có nghĩa là lãi suất sẽ biến động rất mạnh. Giá trái phiếu ngược chiều với lãi suất. Để cho lãi suất biến động mạnh tức là để cho giá trái phiếu biến động mạnh. Trước khi có bài diễn văn của Volcker thì trái phiếu là khoản đầu tư bảo thủ, nơi mà các nhà đầu tư đổ tiền tiết kiệm của mình vào khi họ không cảm thấy hào hứng với trò may rủi trên thị trường cổ phiếu nữa. Sau bài diễn văn, trái phiếu đã trở thành mục tiêu của giới đầu cơ, một phương thức tạo nên sự giàu có chứ không phải chỉ để lưu giữ giá trị. Qua một đêm, thị trường trái phiếu được chuyển từ một vũng nước thành một sòng bạc. Doanh thu của Salomon tăng vọt. Công ty ngày càng phải thuê thêm nhiều nhân viên để giải quyết nhiều hoạt động kinh doanh mới, với lương khởi điểm là 48.000 đô-la.
Khi mà Volcker để lãi suất thả nổi tự do thì những bàn tay nhồi nhân gà tây bắt đầu làm việc: giới đi vay Mỹ. Trong suốt thập niên 1980, các chính quyền tiểu bang, người tiêu dùng và các công ty vay tiền với tốc độ nhanh hơn bao giờ hết; điều này có nghĩa khối lượng giao dịch và phát hành trái phiếu cũng bùng nổ (một cách khác để soi vào vấn đề này là các nhà đầu tư cho vay thoải mái hơn trước đây). Năm 1977, tổng số nợ của ba nhóm trên hợp lại là 323 tỷ đô-la phần nhiều trong đó không phải là trái phiếu mà là khoản vay từ các ngân hàng thương mại. Năm 1985, ba nhóm trên đã vay tới 7.000 tỷ đô-la. Nhờ có các doanh nghiệp tài chính như Salomon và tính hay dao động của các ngân hàng thương mại, tỷ lệ phần trăm của các món nợ dưới hình thức trái phiếu đã lớn hơn nhiều so với trước.
Vậy nên không chỉ giá trái phiếu dao động mạnh hơn mà tính thanh khoản cũng tăng. Chẳng có gì thay đổi trong nội bộ Salomon Brothers khiến cho những tay giao dịch trở nên giỏi giang hơn. Tuy nhiên, đây là lúc các giao dịch bùng nổ cả về quy mô lẫn tần suất. Trước kia, mỗi tuần một tay kinh doanh của Salomon chỉ bán được 5 triệu đô-la giá trị hàng hóa trong sổ sách của một tay giao dịch, thì nay anh ta có thể đẩy lên 300 triệu đô-la chỉ trong một ngày. Anh ta cùng với tay giao dịch và công ty tha hồ làm giàu. Và họ quyết định rằng, vì những mục đích tốt đẹp cho công ty, bỏ ra phần nào số tiền trên để đầu tư, mua những người như tôi.
Các lớp đào tạo ở Salomon Brothers được tổ chức trên tầng thứ 23, thuộc tòa nhà của công ty nằm ở góc đông nam Manhattan. Cuối cùng thì tôi cũng đã leo lên được tới đó để bắt đầu sự nghiệp. Thoạt nhìn thì tầng lầu có vẻ trống vắng, lạnh lẽo. Những thực tập sinh khác hình như đã đến trước mấy tiếng đồng hồ rồi. Thực tế thì, để có lợi thế hơn những người khác, phần lớn đã ở đây hàng tuần trước. Trong lúc tôi đi vào, họ đã tụ tập thành từng nhóm ngoài hành lang hay trong phòng giải lao phía sau nói chuyện huyên thuyên. Nó như là một cuộc đoàn tụ vậy. Tất cả mọi người đều quen biết nhau. Bè nhóm đã hình thành. Tất cả các két gửi đồ có khóa tốt nhất đã bị chiếm giữ. Những người mới đến bị xem xét với vẻ nghi ngờ. Đã có những đánh giá về việc ai là “người giỏi”, nghĩa là ai sẽ được bước lên sàn giao dịch Salomon và ai là kẻ thất bại.
Có một nhóm quây thành vòng tròn ở góc phòng giải lao đang chơi một trò chơi mà lúc đó tôi không nhận ra, nhưng bây giờ thì đã biết, “Bài Nói dối”. Họ cười nhạo, chửi rủa và liếc bài nhau, nói chung là cư xử theo phong cách của những tay giao dịch. Họ đeo thắt lưng. Khi thấy những cái thắt lưng đó, tôi đã từ bỏ ngay ý tưởng cảm thấy Salomon Brother là nhà của mình. Tôi thì đeo lên mình sợi đai quần màu đỏ tươi với những biểu tượng đồng đô-la màu vàng chạy dọc. Đã đến lúc nên đóng vai một nhân viên ngân hàng đầu tư. Lầm to! Về sau, một thực tập sinh tốt bụng đã cho tôi lời khuyên: “Đừng có để họ thấy anh trên sàn giao dịch với cái thứ này. Chỉ có mấy tay giám đốc điều hành mới có thể tránh được phiền hà khi đeo nó thôi. Họ sẽ nhìn anh và rủa: “Mẹ kiếp, mày nghĩ mày là thằng nào?”
Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng đầu tiên khi bước vào phòng giải lao, một thực tập sinh nữ đang hét to vào chiếc điện thoại, chắc hẳn là điều gì đó mập mờ đây. Giữa tiết trời tháng bảy nóng như thiêu như đốt, cô gái có dáng người mập lùn này mặc bộ vest ba mảnh bằng vải tuýt và đeo cái nơ con bướm màu trắng quá cỡ, đến nỗi tôi không cần phải đắn đo cho rằng cô ta làm thế chỉ cốt gây chú ý. Cô ta đặt một tay che ống nghe và nói với một nhóm nhỏ phụ nữ ngay đó: “Nè mấy chị, tôi có thể đặt sáu bộ vest hoàn chỉnh chỉ với giá 750 đô-la. Hàng chất lượng nhá. Giá này là chuẩn rồi. Mấy chị không thể tìm ra chỗ nào rẻ hơn đâu”.
Chính điều đó giải thích mọi chuyện. Cô ta mặc vải tuýt chỉ vì cô ta đang bán quần áo may bằng vải tuýt mà thôi. Cô ta đoán chính xác rằng khóa đào tạo này đại diện cho một thị trường: những người này có tiền để đốt, có mắt để mặc cả và có tủ quần áo lớn để chứa đồ. Cô ta đặt một lượng lớn từ một xí nghiệp bóc lột công nhân tàn tệ nào đó ở phương Đông. Khi nhận thấy tôi đang nhìn, cô ta nói ngay: “Đàn ông tôi cũng chơi”. Cô ta không có ngụ ý tục tĩu. Thế nên lời nói đầu tiên tôi nhận được hôm đó lại là từ một người định bán cho tôi một cái gì đó. Thật đúng là một sự chào đón phù hợp với Salomon Brothers.
Từ góc tối nhất của phòng giải lao phát ra một tia hy vọng nhỏ, đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy có những khái niệm khác về cuộc sống ở Salomon Brothers. Một anh chàng béo mập nằm giang tay trên sàn nhà, có thể thấy là hắn ta đang ngủ. Chiếc áo sơ mi của hắn bỏ ngoài quần và nhàu nếp, cái bụng trắng phớ sỗ sàng như một cục bướu của con cá voi căng lên ở chỗ mấy chiếc khuy không được cài. Miệng hắn mở ngoác y như thể đang đợi chùm nho rơi vào. Hắn là một người Anh. Số mệnh hắn là dành cho chốn văn phòng ở London và hắn tỏ ra chẳng chút băn khoăn gì về nghề nghiệp của mình. So với phần lớn các thực tập sinh thì hắn là một người trong cuộc. Hắn phàn nàn liên miên về việc bị công ty đối xử như một thằng con nít. Hắn đã sống với thị trường London tròn hai năm và thấy toàn bộ ý định của sự lố bịch trong chương trình đào tạo. Vì vậy hắn biến Manhattan thành nơi quậy phá vào ban đêm và cố hồi sức vào ban ngày. Hắn uống mấy bình cà phê và lăn ra ngủ trên sàn học, hành động đó đã gây ra ấn tượng đầu tiên không thể gột sạch đối với nhiều đồng nghiệp mới.
Toàn bộ 127 thành viên của khóa năm 1985 là một trong những đợt sóng rũ sạch đi những gì gọi là sàn giao dịch sinh lãi nhiều nhất thế giới. Vào thời kỳ ấy chúng tôi thuộc khóa đào tạo lớn nhất trong lịch sử của Salomon, nhưng khóa sau chúng tôi lại lớn gần gấp đôi. Tỷ lệ nhân viên giúp việc cho một nhà chuyên môn (tin nổi không, chúng tôi cũng là những nhà chuyên môn!) là 5 trên 1, do vậy 127 người chúng tôi có nghĩa cần thêm 635 nhân viên giúp việc. Con số gia tăng mạnh mẽ này quả là rất ấn tượng đối với một công ty chỉ có hơn 3.000 nhân viên. Sự gia tăng quá nhanh này dần dần sẽ khiến cho công ty bị tổn hại và thậm chí cả chúng tôi nữa. Nó không được tự nhiên, giống như kiểu cứ tưới quá nhiều phân lên một cái cây con vậy. Vì một vài lý do lạ lùng nào đó mà ban quản trị đã không đồng tình với quan điểm của tôi.
Nhìn lại, tôi nhận thức được rõ ràng rằng việc đến với Salomon đã đánh dấu điểm bắt đầu của màn cuối của đế chế thần thánh này. Dù đi đến đâu, tôi cũng không thể thấy gì ngoài sự tan vỡ của nó. Tôi không phải là một bánh răng đủ lớn trong cỗ máy để trực tiếp gây ra sự suy vi của công ty. Nhưng họ đã để cho tôi và những người đánh lưới như tôi bước qua cánh cửa như một dấu hiệu báo trước. Hồi chuông đã điểm. Họ đang mất đi cá tính của mình – những tay buôn ngựa sắc sảo. Hiện họ đang sai lầm khi thu nhận nhiều loại người. Ngay cả những người có đầu óc kinh doanh hơn tôi, chẳng hạn như cô gái bán quần áo kể trên đều không có ý định cống hiến cuộc đời mình cho Salomon Brothers. Và cả tôi cũng vậy.
Chẳng có gì trói buộc chúng tôi vào công ty ngoại trừ động lực đã lôi cuốn nhiều người trong chúng tôi xin vào làm: vì tiền và vì niềm tin lạ lùng rằng chẳng có công việc nào khác trên thế gian này đáng làm hơn. Chính xác không phải vì lòng trung thành sâu sắc. Trong chừng ba năm, 75% trong số chúng tôi ra đi (so với những năm trước, sau ba năm vẫn còn trung bình 85% làm việc với công ty). Sau đợt pha trộn những con người xa lạ này với ý định giữ chân họ thì công ty lại đi vào chỗ lung lay, giống như bị rối loạn tiêu hóa vì ăn quá nhiều thứ lạ.
Chúng tôi là một nghịch lý. Chúng tôi được thuê để giao dịch trên thị trường, để tinh ranh hơn kẻ đứng kế bên, nói đơn giản là để trở thành những tay giao dịch. Hãy hỏi bất kỳ tay giao dịch tinh khôn nào, anh ta sẽ nói cách tốt nhất là phải làm ngược với những hiểu biết thông thường. Tay giao dịch giỏi có thiên hướng làm những việc không ngờ đến. Chúng tôi là một nhóm người khó ai có thể lường trước được. Đến với Salomon, chúng tôi chỉ đang làm những gì mà một người mê tiền phải làm. Nếu chúng tôi không thể hưng phấn với những điều bình thường trong cuộc sống, thì làm sao có thể hưng phấn với những điều bình thường trên thị trường? Rút cục, thị trường lao động vẫn là một thị trường.
Chúng tôi tỏ ra lễ độ trước một người đàn ông cao lớn giống như tỏ ra trước bất kỳ ai, đó là không nói năng gì cả. Ông ta giảng bài cả buổi chiều. Điều đó có nghĩa là ông ta bị kẹt ba tiếng đồng hồ trong một cái rãnh rộng hơn 3m trên sàn, ngay phía trước căn phòng cùng một chiếc bàn dài, bục diễn thuyết và bảng đen. Người đàn ông bước đi bước lại trong cái rãnh đó như vị huấn luyện viên đứng ngoài mép biên, thỉnh thoảng liếc xuống sàn nhà, đôi lúc lại tỏ vẻ đe dọa chúng tôi. Chúng tôi ngồi trong các dãy ghế được nối thông nhau – 22 dãy với những thực tập sinh nam mặc sơ mi trắng, lác đác mấy thực tập sinh nữ mặc áo màu xanh nước biển, hai người da đen và một nhóm người Nhật Bản. Màu kem u buồn của món súp nghêu vùng New England trên bốn bức tường và sàn nhà nói lên tâm trạng của lớp học. Một bức tường có các tấm cửa sổ với những kẽ hở dài và hẹp, tầm nhìn quét hết cả khu cảng New York và tượng Nữ thần Tự do – tuy nhiên bạn phải ngồi ngay bên cạnh chúng thì mới nhìn thấy, thậm chí khi ở ngay đó bạn cũng không được phép đắm đuối ngắm phong cảnh.
Đúng ra nó giống một nhà tù hơn là phòng học. Căn phòng nóng bức và thiếu không khí. Sau một ngày mài đũng quần vào những chiếc đệm ghế màu xanh, khi đứng lên trông chúng thật khó ưa. Khi ngấu nghiến xong một chiếc hamburger pho mát to đùng béo ngậy và chỉ có một thoáng quan tâm mang tính xã hội đối với vị giảng viên, cơn buồn ngủ bao trùm lên tôi. Chúng tôi chỉ mới bước vào tuần đầu tiên của năm tháng đào tạo, vậy mà tôi đã kiệt sức. Tôi lặng chìm trên ghế của mình.
Vị giảng viên hôm đó là một tay giao dịch trái phiếu hàng đầu của Salomon. Trên chiếc bàn phía trước căn phòng có một cái điện thoại, nó sẽ reo lên mỗi khi thị trường trái phiếu biến động. Khi bước đi, ông ta phải khép chặt hai tay vào sườn để che đi vệt mồ hôi hình bán nguyệt đang loang ra phía dưới nách. Nỗ lực hay kiên cường? Có lẽ là kiên cường. Bạn không thể quở trách ông ta được. Tay giao dịch này cố bày tỏ niềm tin từ tận đáy lòng mình và chính vì vậy mà trông ông ta dữ dằn hơn bất kỳ giảng viên nào từ trước tới giờ. Tôi lại thuộc thiểu số những người thấy ông ta có chút gì đó tẻ nhạt. Ông ta vẫn hoàn hảo trước đám thực tập sinh. Đám thực tập sinh ngồi ở hàng cuối vẫn lắng nghe chăm chú. Khắp phòng, tất cả các thực tập sinh đều bỏ chơi trò ô chữ trên tờ New York Times xuống. Ông ta đang kể cho chúng tôi cách để tồn tại. “Các anh phải biết rằng Salomon Brother giống như một khu rừng,” ông ta nói. Thật ra không phải như vậy, nó như thế này: “Các enh phãi bét ràng Salomon Bruddahs dống như một khu ràng” [nói ngọng kiểu miền Tây].
“Sàn giao dịch là một khu rừng nhiệt đới,” ông ta tiếp tục, “và sếp của các anh chính là viên kiểm lâm. Thành công hay thất bại hoàn toàn tùy thuộc vào cách tồn tại trong khu rừng. Anh nên học hỏi ở sếp. Ông ta chính là chìa khóa. Hãy tưởng tượng xem tôi lấy hai người và đặt họ vào giữa khu rừng, tôi cho một người cuốn cẩm nang đi rừng còn người kia thì chẳng có gì. Bên trong khu rừng có nhiều bãi lầy, thú dữ và vô số thứ rùng rợn. Còn ngoài khu rừng có một chiếc tivi đang phát sóng trận chung kết giải vô địch bóng đá quốc gia và một tủ lạnh khổng lồ đầy Bud [bia Budweiser]...”
Vị giảng viên này đã tìm thấy bí quyết để điều khiển khóa đào tạo 1985 của Salomon Brothers: thu phục những trái tim và khối óc của hàng ghế sau. Từ khoảng ngày thứ ba của buổi học, hàng ghế sau đã gần giống một mớ hỗn độn. Thậm chí khi cảm thấy chẳng yêu chẳng ghét vị giảng viên này thì đám người ngồi dãy ghế sau vẫn ngủ gục hay ném những cục giấy vo tròn vào lũ nhu nhược ngồi hàng trước. Nhưng nếu vì một vài lý do nào đó mà đám người này không quan tâm đến vị giảng viên thì thật chết tiệt, tất cả sẽ sổ lồng. Không phải lúc này. Sự tiết lộ sơ khởi đã quét tới phía cuối lớp học như âm điệu của tiếng mõ rừng; giống như toán người Cro-Magnon đang rập rình đi săn thì thình lình phát hiện và ngần ngại trước một công cụ mới. Lần đầu tiên trong suốt cả ngày, đám thực tập sinh dãy bàn cuối ngả người về phía trước và thở phì phò.
Bỏ qua dãy bàn cuối bị vô hiệu hóa, vị giảng viên này đã điều khiển hoàn toàn khán giả - đám ngồi dãy đầu lúc nào cũng trong thái trạng máy móc, vô ý thức. Những kẻ ngồi dãy bàn đầu trên khắp thế giới này đều giống nhau. Phần lớn dân tốt nghiệp Harvard đều ngồi ghế trước. Một người trong số họ chào đón vị giảng viên mới bằng cách vẽ một sơ đồ tổ chức. Sơ đồ đó giống như cây thông Noel, với John Gutfreund ở phía trên cùng và chúng tôi ở phía dưới cùng. Phần giữa là các ô nhỏ, trông giống như những món đồ trang trí. Anh ta cố kiểm soát tình huống bằng cách xác định rõ chức vị của vị giảng viên, hình dung vị trí của ông ta trong hệ thống cấp bậc và đặt ông ta vào ô hợp lý.
Thật lạ lùng, các sơ đồ này trông giống như trò ảo thuật hơn là một doanh nghiệp. Trên sàn giao dịch, thứ hạng không mấy quan trọng. Cơ cấu tổ chức của Salomon Brothers là một thứ gì đó giống như trò cười. Việc kiếm tiền mới thật sự quan trọng nhất. Nhưng tốp người dãy ghế phía trước thì không tin tưởng lắm về việc công ty là lãnh địa của những kẻ giỏi kiếm tiền như tốp người ở dãy ghế phía sau. Họ đang đi nước đôi – phòng khi Salomon Brothers vẫn có vài mối liên hệ nào đó với những thứ họ đã được học trong trường.
“... một cái tủ lạnh đầy Bud,” vị giảng viên nhắc lại lần nữa, “xác xuất rất cao cho người có cẩm nang đi rừng, anh ta sẽ là người đầu tiên đi xuyên rừng tới chỗ có tivi và bia. Không phủ nhận rằng cuối cùng người còn lại cũng có thể tới được nơi đó. Nhưng... ” – đến đây vị giảng viên dừng lại nhìn chúng tôi với vẻ hơi ranh mãnh, “người tới sau sẽ rất rất (nhấn giọng) khát nước và sẽ chẳng còn giọt bia nào nữa.”
Đây là là cú đấm hiệu quả. Bia. Những gã bàn cuối rất thích thú. Họ chồm qua nhau, vỗ tay, và trông lố bịch như những anh chàng da trắng khoác bộ vest bắt chước phong cách của dân da đen. Họ càng thích thú thì càng cảm thấy bớt căng thẳng. Nhưng khi không còn được nghe những câu chuyện kiểu này nữa, chúng tôi lại thấy mình đang đối diện với một người đàn ông nhỏ bé, với một hàng bút bi cài trên túi áo, đang giảng giải về phép toán chuyển lãi suất trái phiếu nửa năm một lần thành lãi suất trái phiếu hàng năm. Đám bàn cuối hoàn toàn chán nản. “Dẹp mẹ mấy cái phép toán chó đẻ này đi ông nội ơi,” họ kêu ca. “Hãy kể chuyện về khu rừng nữa đi.”
Việc dãy bàn cuối trông giống đám cổ động viên tưng bừng quậy phá sau trận đá bóng hơn là những người được ký thác sẽ trở thành lãnh đạo tương lai của ngân hàng đầu tư sinh lãi nhất Phố Wall đã khiến rất nhiều ủy viên ban quản trị công ty gặp rắc rối và khó xử. Với lượng thời gian và nỗ lực đã đầu tư vào việc tuyển mộ số lượng thực tập viên ở dãy bàn cuối và dãy bàn đầu và cả lớp học, về lý thuyết, lẽ ra tất cả phải rất quy củ như một đội quân. Nét kỳ lạ của sự phá vỡ kỷ luật này là ở chỗ nó ngẫu nhiên, không liên quan tới bất kỳ thứ gì bên ngoài nó và vì thế, không cách nào kiểm soát được tình thế. Mặc dù hầu hết những người tốt nghiệp Harvard đều ngồi dãy bàn đầu, nhưng cũng có một số ngồi ở dãy cuối. Ngay kế bên họ cũng là những kẻ tốt nghiệp Stanford, Yale và Penn. Dãy bàn cuối cũng gồm những người có học vấn cao, được dạy dỗ công phu. Ít nhất nó cũng có nhiều bộ não tương đương với dãy bàn đầu. Vậy tại sao những người này lại cư xử như vậy?
Và tại sao Salomon để điều đó xảy ra, tôi cũng không biết nữa. Ban quan trị công ty đã xây dựng chương trình đào tạo này, đổ vào nó đầy ắp và quay mình bỏ đi. Trong tình trạng vô chính phủ, cái ác áp đảo cái thiện, cái lớn áp đảo cái bé và cơ bắp áp đảo trí tuệ. Có một điểm chung duy nhất của dân ngồi bàn cuối, mặc dù tôi không nghĩ là nó xảy ra cho bất kỳ ai: Họ cảm thấy cần phải giấu đi những cá tính tốt đẹp và vẻ trí thức mà họ đã mang theo mình đến Salomon Brothers. Đây là hành động phản xạ hơn là có ý thức. Họ là nạn nhân của huyền thoại đặc biệt phổ biến ở Salomon Brothers, rằng giới giao dịch là những kẻ tàn ác và càng giỏi thì càng tàn ác. Điều này không đúng tuyệt đối. Sàn giao dịch có nhiều bằng chứng cho phản đối, song cũng có không ít bằng chứng cho điều ngược lại. Mọi người có quyền tin vào điều họ muốn.
Có một nguyên nhân khác giúp lý giải chủ nghĩa du côn này. Cuộc sống của một thực tập sinh ở Salomon ở trong tình trạng giống như bị kẻ hàng xóm hung dữ đánh đập hàng ngày vậy. Dần dần bạn sẽ trở nên hèn hạ và xấu tính. Tỷ lệ chọi để có thể được tham gia vào chương trình đào tạo này, ngoại trừ tôi - kẻ cực kỳ may mắn, là 60:1. Bạn chiến đấu gian khổ để vượt qua tỷ lệ đó và cảm thấy xứng đáng được hưởng một chút khuây khỏa. Không hề! Công ty sẽ không kéo bạn qua một bên, xoa lưng bạn và an ủi rằng rồi thì mọi thứ sẽ tốt đẹp thôi. Mà là ngược lại, nó xây dựng một hệ thống xoay quanh niềm tin rằng thực tập viên phải biết mềm dẻo và khéo léo luồn lách. Lúc này, những kẻ chiến thắng sau quá trình phỏng vấn sẽ phải chiến đấu tiếp trong lớp học. Nói ngắn gọn, kẻ xấu tính nhất trong những kẻ xấu tính sẽ nhận được việc làm.
Việc làm sẽ được thông báo nhỏ giọt trên tấm bảng đen bên hông sàn giao dịch. Trái với những gì kỳ vọng, chúng tôi không được bảo đảm về công ăn việc làm. Nhiều giảng viên từng nói: “Hãy nhìn sang bên trái rồi sang bên phải các anh xem. Trong vòng một năm thôi, một trong số những người này sẽ bị đá ra ngoài đường.” Hàng ngang phía trên cùng của tấm bảng là danh sách các phòng của sàn giao dịch như trái phiếu đô thị, trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, v.v... Còn dọc theo tấm bảng là các chi nhánh của công ty: Atlanta, Dallas, New York, v.v... Cái ý nghĩ rằng anh ta sẽ hạ cánh tại một chỗ đáng sợ nào đó trong cái ma trận này, hoặc chẳng nơi nào hết, càng dồn chàng thực tập sinh vào cơn tuyệt vọng. Anh ta dần mất hết mọi khái niệm về triển vọng của công việc. Anh ta không cho rằng mình may mắn vì đã có mặt ở Salomon Brothers, mà bất kỳ ai nghĩ theo cách ấy đều chẳng bao giờ nhận được việc làm trước tiên cả. Thực tập sinh ở Salomon chỉ có thể thấy được hai thái cực: thành công và thất bại. Việc bán trái phiếu đô thị ở Atlanta là quá sức thê thảm. Còn bán trái phiếu thế chấp ở New York là vinh quang tột đỉnh.
Trong vòng mấy tuần lễ sau khi chúng tôi đến, giám đốc mỗi phòng ban bắt đầu tranh cãi về những phẩm chất và triển vọng của chúng tôi. Nhưng từ tận đáy lòng, mấy vị sếp đó vẫn là những tay giao dịch. Họ không thể nào thảo luận về một con người, một nơi hay một vật gì đó mà không giao dịch về nó. Do đó, họ bắt đầu giao dịch về đám thực tập sinh như thể là buôn nô lệ vậy. Một ngày, bạn có thể thấy ba người bọn họ chúi mũi vào cuốn sổ màu xanh trong đó có ảnh và hồ sơ lý lịch chúng tôi. Ngày hôm sau, bạn nhận được tin bạn đã bị trao đổi để lấy một người ngồi ở dãy đầu cộng với một suất lựa chọn trước tiên cho một thực tập sinh ở khóa đào tạo kế tiếp.
Áp lực tăng dần. Ai là người nghe được chuyện của kẻ khác? Ở đâu có công việc còn lại? Như bất kỳ quá trình tuyển chọn nào, bao giờ cũng có kẻ thắng người thua. Nhưng quá trình tuyển chọn này thì cực kỳ mang tính chủ quan. Vì không có một tiêu chí năng lực nào nên việc được bố trí một công việc tốt có thể nói một phần là do may mắn, một phần là nhờ “phong cách nổi bật” và một phần là biết cách “bợ đỡ” vài nhân vật quan trọng. Bạn chẳng thể làm được gì nhiều với hai yếu tố đầu tiên, do vậy bạn phải xoay xở để tập trung vào yếu tố thứ ba. Chỉ làm quen với 112 vị giám đốc điều hành thôi thì không đủ, bạn phải kết thân với một vị trong số họ. Có một vấn đề nho nhỏ ở đây. Các vị giám đốc không phải lúc nào nhiệt tình đánh bạn với lũ thực tập sinh. Rút cục họ được lợi lộc gì trong chuyện này?
Một giám đốc điều hành chỉ quan tâm khi bạn là người được mọi người yêu thích. Lúc đó bạn mới có nhiều ích lợi cho ông ta. Vị này sẽ thắng điểm khi cuỗm được một thực tập sinh được nhiều người yêu thích từ các tay giám đốc điều hành khác. Do vậy, phương pháp của nhiều thực tập sinh là phải tạo ra ảo tưởng rằng mình được người khác thèm muốn. Rồi các ông chủ sẽ muốn thực tập sinh đó không vì một lý do xác đáng nào ngoài lý do đơn giản là các ông chủ khác cũng muốn anh ta. Kết quả cuối cùng là một loại kế hoạch Ponzi mang tính đại chúng như thường thấy trên thị trường. Để xây dựng được nó đòi hỏi rất nhiều sự tự tin và niềm tin vào tính cả tin của những người khác. Đây là giải pháp mà tôi đã chọn cho vấn đề việc làm. Một vài tuần trước khi bắt đầu chương trình đào tạo, tôi làm quen với một người bạn trên sàn giao dịch, mặc dù người này không làm trong phòng mà tôi muốn. Anh ta cứ ép tôi vào làm phòng của mình, tôi đã cho mấy thực tập sinh khác biết rằng tôi đang bị theo đuổi. Họ đã kể với bạn bè của họ trên sàn giao dịch, và những người này lại trở nên tò mò. Cuối cùng, chính vị giám đốc mà tôi muốn làm việc cho ông ta lại nghe lỏm được câu chuyện mà mọi người bàn tán về tôi và đã mời tôi đi ăn sáng.
Nếu thấy như vậy có vẻ tính toán và thủ đoạn, hãy xem xét vài sự lựa chọn khác. Hoặc tôi phó mặc số phận của mình trong tay ban quản trị – theo tôi nghĩ cách này không đủ chắc ăn nên không ai dám tin là làm được, hoặc trực tiếp đề nghị lên giám đốc điều hành về mong muốn của mình. Tôi có những người bạn đã thử chiến thuật này. Họ đã quỳ xuống dưới chân ông chủ của họ để cầu cạnh, như thể một tên nô tỳ trước một vị lãnh chúa, với giọng ngọt xớt: “Tôi là kẻ hầu tận tâm và hèn mọn của ngài đây! Hãy thuê tôi, ôi Đại nhân, tôi sẽ làm bất cứ thứ gì mà ngài sai bảo!” Rồi họ hy vọng rằng vị giám đốc điều hành sẽ có phản ứng thân thiện. Có lẽ nói câu gì đó, chẳng hạn: “Hãy đứng dậy đi, chàng trai, cậu không việc gì phải sợ sệt. Nếu cậu thực lòng với tôi, tôi sẽ bảo vệ cậu khỏi sức mạnh của ác quỷ và mối lo sợ thất nghiệp.” Đôi khi điều này xảy ra. Nhưng nếu nó không xảy ra thì có nghĩa bạn đã tự bắn vào chân mình. Trong khóa đào tạo đã xảy ra một cuộc tranh cãi liệu việc quỵ lụy có thể chấp nhận được trong hoàn cảnh này không. Dường như toàn bộ quan điểm của hệ thống Salomon chỉ đơn giản là để đánh giá xem ai là người thoái chí trước áp lực và ai là kẻ đứng vững.
Mỗi thực tập sinh phải tự quyết định cho mình. Vì vậy đã sinh ra cuộc “Đại phân chia”. Những kẻ chọn phương pháp quỵ lụy thì ngồi hàng ghế phía trước của lớp học, đôi môi mím chặt suốt cả chương trình học kéo dài năm tháng. Những người quý trọng niềm tự hào của mình – hoặc có lẽ họ cho rằng tốt nhất nên tránh xa – giả đò không có sự khác nhau lắm bằng cách ngồi ở hàng ghế sau và vẫy vẫy những tờ giấy trắng với mấy vị giám đốc điều hành.
Tất nhiên vẫn có trường hợp đặc biệt ngoài những hình thức cư xử này. Một đám người rơi vào giữa dòng của cuộc “Đại phân chia”. Hai hay ba người làm những thương vụ ám muội với các vị giám đốc điều hành ngay khi bắt đầu chương trình để đảm bảo họ có công việc như ý. Họ trôi nổi thật khó lường, giống như những kẻ tự do trong đám nô lệ và thường bị coi là gián điệp của ban quản trị. Một số thực tập sinh mang trái tim của những kẻ ngồi dãy ghế sau, nhưng họ còn phải nuôi nấng cả vợ con. Bởi vậy họ không thể tỏ ra chân thật. Họ tách biệt khỏi dãy ghế trước một cách khinh thị và tách khỏi hàng ghế sau do cảm thấy phải có trách nhiệm. Tất nhiên tôi tự coi mình là trường hợp ngoại lệ. Tôi bị ai đó kết tội là một người ngồi dãy ghế trước bởi vì tôi thích ngồi cạnh anh chàng tốt nghiệp Harvard và theo dõi anh ta vẽ sơ đồ tổ chức. Tôi phân vân liệu anh ta có thành công hay không (kết quả là không!). Một điều nữa là tôi hay hỏi quá nhiều câu hỏi. Người ta cho rằng tôi cố ý làm điều này để mấy vị giảng viên yêu mến mình như một người ngồi ở dãy trước. Điều này không đúng. Nhưng hãy thử nói nó cho người ở dãy ghế sau xem. Tôi đã có sự “đền bù” thỏa đáng bởi vì tôi cũng vẫy vẫy tờ giấy với những tay giao dịch quan trọng. Và uy tín của tôi bỗng tăng vọt một cách kỳ lạ với nhóm người ở hàng ghế sau khi tôi bị đuổi ra khỏi lớp vì đọc báo trong lúc giảng viên giảng bài. Nhưng dù sao đi nữa thì tôi cũng không bao giờ được liệt vào hàng ngũ những người ở hàng ghế sau.
Người Nhật đã phá bỏ mọi phép phân tích về nền văn hóa của lớp học chúng tôi. Tất cả sáu người bọn họ đều ngồi ở hàng đầu tiên và… ngủ gật. Những mái đầu tóc đen gật tới gật lui và lâu lâu lại nghẻo sang một bên. Thế nên thực khó tranh luận liệu có phải họ đang lắng nghe với đôi mắt nhắm lại hay không, vì thương gia Nhật rất hay làm vậy. Lời giải thích độ lượng nhất về sự lãnh đạm của họ là họ không thể hiểu được tiếng Anh. Họ cứ khư khư như thế, tuy nhiên bạn không bao giờ có thể biết rõ là do trình độ ngoại ngữ hay do động cơ. Người dẫn đầu bọn họ tên là Yoshi. Cứ vào đầu giờ sáng và chiều, mấy anh chàng ở dãy ghế sau lại bắt đầu đánh cược xem vị giảng viên sẽ mất bao nhiêu phút để làm Yoshi ngủ gật. Họ thích nghĩ rằng Yoshi là một kẻ gây rối có tính toán. Yoshi là người hùng của bọn họ. Một cuộc ăn mừng khoái trá nho nhỏ rộ lên ở dãy bàn cuối khi Yoshi đổ sụp xuống ngủ, một phần vì ai đó mới thắng một đống tiền, nhưng cũng là để tán thưởng bất kỳ ai cả gan ngủ gật ở dãy bàn đầu.
Người Nhật là loại người được bảo hộ và tôi nghĩ họ biết điều đó. Tổ quốc của họ, do kết quả của thặng dư thương mại, đang tích lũy một khối lượng lớn đồng đô-la. Phải tốn rất nhiều tiền để có thể dẫn dụ những đồng đô-la này từ Tokyo biến thành trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ và các khoản đầu tư khác bằng đô-la. Salomon đang cố gắng mở thêm chi nhánh ở Tokyo bằng cách thuê những người địạ phương có kinh nghiệm vào làm cho mình. Đây là vấn đề. Người Nhật có thiên hướng sống với một công ty Nhật, và những kẻ có năng lực sẽ không mơ ước làm việc cho một công ty Mỹ. Khi làm việc cho Salomon, họ đánh đổi món sushi và việc làm ổn định để đổi lấy hamburger pho mát và căn bệnh hoài bão của tuổi trẻ, điều mà ít người sẵn sàng làm. Những người Nhật hiếm hoi mà Salomon tìm được đắt giá gấp nhiều lần trọng lượng của họ quy ra vàng và được đối xử trân trọng như món đồ sứ cổ. Những tay giao dịch nói chuyện với chúng tôi không bao giờ hé lộ ra một lời chống lại họ. Thêm vào đó, trong khi Salomon không hề nhạy cảm chút nào với văn hóa nước ngoài, thì nó lại rất quan tâm đến sự khác biệt của người Nhật. Vấn đề không phải ở chỗ có một quan điểm chung về việc người Nhật khác biệt như thế nào. Người Nhật có thể có mũi tẹt và thực hiện cái bắt tay kiểu Kiwanis Club vào mỗi buổi sáng, và tôi xin cá rằng không ai lại nghĩ nó không có cá tính riêng.
Cuối cùng, người Nhật vẫn bị dồn đến chỗ chẳng hơn gì một trò tiêu khiển kỳ dị. Dãy ghế sau đã tạo nên phong độ của lớp học bởi vì nó hành động như một khối gây ầm ĩ và không thể chia rẽ được. Số người ghế sau di chuyển thành từng nhóm – vì sự an toàn và vì thoải mái, tới lớp mỗi buối sáng và đầu giờ chiều, tới sàn giao dịch vào cuối ngày, tới câu lạc bộ lướt sóng vào ban đêm, rồi quay trở lại chương trình đào tạo vào buổi sáng hôm sau. Họ gắn kết với nhau từ những thứ mà họ thích lẫn không thích. Họ tán thưởng vị giảng viên mà họ chấp nhận bằng cách đứng lên và chơi trò làn sóng trong lớp [giống như tạo làn sóng của cổ động viên trên khán đài bóng đá hay sân khấu ca nhạc].
Và họ một lòng một dạ tán thành người đàn ông đứng trước phòng lúc này. Vị giảng viên dừng lại y như thể đã đánh mất luồng suy nghĩ. Chắc là không rồi. “Các anh thấy đấy,” cuối cùng ông ta nói, “các anh nghĩ các anh là cục phân nóng, nhưng khi bắt đầu bước vào sàn giao dịch, các anh sẽ đi từ dưới đáy mà thôi.”
Điều này có thực cần thiết không? Ông ta quả là điệu nghệ khi nói cho đám du côn những điều mà họ thích nghe: Là một kẻ chiến thắng ở Salomon có nghĩa là một lực sỹ trong khu rừng nhiệt đới. Bây giờ ông ta liền trả đũa bằng cách nói cho đám du côn những điều họ không thích nghe: Ở trong rừng, tài nghệ bẩm sinh không có nghĩa là ngồi xổm. Tôi nhìn quanh và chờ đợi những viên đạn giấy. Chẳng có gì. Vị giảng viên đã lấy đủ đà để cứu vãn lỗi của mình. Mấy cái đầu ở dãy ghế sau gật gù ngay. Dường như họ cho rằng có thể nhận xét đó của vị giảng viên ám chỉ bọn ngồi dãy ghế đầu.
Trong bất cứ trường hợp nào, về điểm này vị giảng viên chắc chắn sai lầm. Một thực tập sinh không phải ở đáy sau hơn đôi ba tháng. Tuổi nghề của những tay giao dịch và kinh doanh cũng giống như tuổi chó. Một năm trên sàn giao dịch bằng bảy năm ở công ty khác. Sau năm đầu tiên, tay giao dịch hay kinh doanh đều sẽ lột xác. Có ai quan tâm đến thâm niên chứ? Cái hay của sàn giao dịch là việc hoàn toàn không để ý đến thâm niên.
Khi bắt đầu làm ở sàn giao dịch, một nhân viên mới sẽ được giao hai chiếc điện thoại. Anh ta bắt đầu gọi ngay lập tức và liên tục nói. Nếu anh ta có thể kiếm được hàng triệu đô từ những cú gọi đó, anh ta sẽ trở thành loại người được kính trọng nhất trong tất cả mọi loại người: “Big Swinging Dick” [ám chỉ tay giao dịch đẳng cấp nhất, giỏi nhất]. Sau vụ bán một lô trái phiếu và đặt vài trăm nghìn đô-la vào két sắt của Salomon, một vị giám đốc điều hành sẽ đeo lon cho anh ta bằng cách gọi anh ta và nói bâng quơ: “Ê này, Big Swinging Dick, vì mục đích cao cả!” Cho tới hôm nay, cách nói đó vẫn gieo rắc vào đầu óc tưởng tượng của tôi hình ảnh cái vòi của con voi đang lúc lắc hết phía này sang phía nọ, nghe sột soạt sột soạt. Chẳng có gì trong rừng rậm có thể cản lối Big Swinging Dick.
Đó là giải thưởng mà tất cả chúng tôi thèm muốn. Có lẽ cách nói đó không in vào tâm trí của mọi người như cách mà nó đã in vào tâm trí tôi. Cái tên không quan trọng bằng tham vọng, mà tham vọng thì tất cả chúng tôi đều tràn đầy. Và dĩ nhiên không ai công khai tuyên bố: “Khi tôi bước lên sàn giao dịch, tôi sẽ là một Big Swinging Dick.” Điều này mang tính riêng tư nhiều hơn. Nhưng mọi người đều muốn trở thành Big Swinging Dick, thậm chí cả phụ nữ. Một Big Swinging Dick đàn bà, ôi lạy Chúa! Thậm chí bọn thực tập sinh ngồi dãy bàn đầu cũng hy vọng trở thành Big Swinging Dick một khi biết được nó có ý nghĩa gì. Vấn đề là họ không biết cách thực hiện phần việc của mình như thế nào. Những Big Swinging Dick vẫn phong nhã trong tình trạng chịu sức ép công việc nặng nề hơn nhiều so với bọn thực tập sinh ở dãy bàn đầu này.
Một cánh tay giơ lên (thông thường thì) từ dãy ghế trước. Nó từ một cô gái. Cô ta ngồi cao trong chiếc ghế thường ngày của mình, ngay phía trước mặt vị giảng viên. Vị giảng viên đang say sưa với câu chuyện thú vị. Những người ở dãy ghế sau đang đứng dậy để tôn vinh ông ta bằng những “làn sóng”. Lúc này vị giảng viên không muốn dừng lại. Ông ta trông có vẻ bị cụt hứng, nhưng khó có thể phớt lờ bàn tay giơ ngay trước mặt mình. Ông ta gọi tên cô gái: Sally Findley.
“Tôi vẫn đang tự hỏi,” Findley nói, “liệu ông có thể nói cho chúng tôi biết, theo ông điều gì là chìa khóa giúp ông vươn tới thành công?”
Thế này thì thật “quá cỡ thợ mộc”. Nếu cô ta đặt một câu hỏi thuần túy chuyên môn thì cô ta có lẽ đã thực hiện nó xong rồi. Nhưng đến vị giảng viên cũng bắt đầu mỉm cười. Ông ta biết rằng có thể lợi dụng dãy ghế trước theo ý mình. Ông ngoác miệng nói hùng hồn với dãy ghế phía sau: “Chà, tôi nhớ mấy câu hỏi kiểu nịnh bợ này giống với lúc tôi còn theo học chương trình đào tạo, và tôi nhớ tôi cũng khinh miệt mấy vị giảng viên mà cứ để cho người khác nịnh bợ, vì thế tôi sẽ để cho cô gái này chưng hửng và dịu đi một lát. Hè hè hè!”
Dãy người phía sau cười phá lên. Có ai đó bắt chước điệu bộ của Findley một cách ác ý theo giọng lãnh lót: “Ờ thì nói cho chúng tôi là vì sao ông lại thành công đến thếeeeee!” Có ai đó quát to: “Thằng nhãi, ngồi xuống!” cứ như là mắng một con chó xù điên dại. Người thứ ba thì khum hai bàn tay mình lại vòng quanh miệng và hô to: “Phòng cổ phiếu ở Dallas!”
Than ôi, Sally tội nghiệp! Có nhiều chỗ tồi tệ mà tên của bạn có thể bị ghi trên bảng bố trí công việc sau khóa học năm 1985, nhưng tồi tệ nhất là bị đánh một dấu ở “Phòng cổ phiếu ở Dallas” [giống như “về Cà Mau chăn vịt”]. Không thể hình dung còn gì thất bại trong cái thế giới bé nhỏ của chúng tôi hơn là làm một nhân viên bán cổ phiếu ở Dallas nữa. Phòng phụ trách cổ phiếu không hề có quyền lực gì trong công ty, còn Dallas thì cách khá xa New York. Vì thế, “Phòng cổ phiếu ở Dallas” là định nghĩa ngắn gọn của chương trình đào tạo để “cứ việc chôn vùi những thứ cặn bã thấp hèn nhất ở nơi mà nó chẳng bao giờ được ngó tới nữa”. “Hãy chôn Sally đi” – từ phía sau căn phòng hô lên.
Vị giảng viên không thèm quan tâm đến câu trả lời. Ông ta bước về phía đám hỗn loạn đã bị kích động đến mức không thể kiểm soát được: “Các anh đã mất nhiều thời gian tự hỏi chính mình: Liệu trái phiếu đô thị có hợp với mình không? Hay trái phiếu chính phủ, hoặc trái phiếu công ty thì hợp với mình? Các anh mất nhiều thời gian nghĩ ngợi về điều đó. Nhưng hãy xét tới điều này: Có thể điều quan trọng hơn là chọn một cuốn cẩm nang đi rừng, chứ không phải chọn thứ sản phẩm mình sẽ kinh doanh. Xin cảm ơn!”
Căn phòng bỗng trống không. Đến giờ tạm nghỉ 15 phút cho tới khi vị giảng viên kế tiếp bắt đầu. Hai đám đông tách biệt như thường lệ ùa ra hai cửa lớp. Những người ngồi dãy trước ra cửa trước và ngồi phía sau ra cửa sau cùng thi nhau bước tới chỗ có bốn chiếc máy điện thoại miễn phí.
Những nhà lãnh đạo của Salomon Brothers dựa vào chương trình đào tạo để biến chúng tôi giống như họ. Giống như họ có nghĩa là thế nào? Trong suốt phần lớn lịch sử của mình, Salomon Brothers là chỉ là một công ty giao dịch trái phiếu kiểu “thùng rỗng kêu to”, tồn tại nhờ khả năng và sự sẵn sàng chấp nhận rủi ro cao. Salomon bắt buộc phải chấp nhận rủi ro để kiếm tiền bởi vì nó không có một danh sách khách hàng dài gồm các công ty để có thể thu phí như Morgan Stanley. Đối với công chúng, Salomon mang hình ảnh là công ty của những người Do Thái trung thành bè đảng, khôn ngoan nhưng trung thực, nhúng mũi sâu vào các thị trường trái phiếu hơn bất kỳ công ty nào khác. Đây là một bức tranh biếm họa, tuy nhiên bức tranh này chỉ khái quát sơ qua phong vị của một thời đã qua.
Lúc này Salomon muốn thay đổi. Dấu hiệu quan trọng báo hiệu về sự biến đổi cá tính của công ty là cách sinh hoạt xã hội của ngài chủ tịch kiêm tổng giám đốc điều hành của chúng tôi, John Gutfreund. Ông ta đã kết hôn với một phụ nữ có tham vọng xã hội cháy bỏng, ít hơn ông 20 tuổi. Bà ta mở tiệc tùng linh đình và mời nhiều nhà báo chuyên viết mục lượm lặt. Những giấy mời của bà ta – có giá trị tăng giảm theo giá cổ phần của công ty chúng tôi, được thắt trong một chiếc nơ nhỏ xíu và giao tận tay người nhận. Bà ta thuê hẳn một cố vấn để đảm bảo rằng bà và chồng bà luôn “hợp thời, hợp cách”. Và mặc dù chưa hề đi quá xa để đòi hỏi rằng những người làm thuê của Salomon Brothers cũng phải bảnh bao như ông chồng (người mà bà ta đã khoác cả một tủ quần áo mới lên người), cái kiểu cách sống buông thả và giả tạo này không thể nào không lây lan trong công ty chúng tôi.
Cho dù có sự thay đổi bất thường trong bộ mặt công ty chúng tôi, chương trình đào tạo chắc chắn vẫn là sự khởi đầu tốt đẹp nhất cho một nghề nghiệp trên Phố Wall. Khi hoàn thành khóa đào tạo, một thực tập sinh với kinh nghiệm và vốn hiểu biết thu được có thể kiếm chác gấp hai lần lương trên bất cứ sàn giao dịch nào khác ở Phố Wall. Theo tiêu chuẩn Phố Wall, anh ta đã hoàn thành chuyên môn nghiệp vụ. Nó là sự giáo dục tự thân để đánh giá xem một người có thể trở thành “chuyên gia” trên Phố Wall nhanh đến mức nào. Drexel Burnham, mà tôi thừa nhận là một ví dụ điển hình, thậm chí đã bảo một người xin vào làm phải kiếm cớ kết thân với ai đó ở Salomon chỉ để kiếm được những tài liệu trong chương trình đào tạo của công ty. Khi nắm được những tài liệu đó trong tay, anh ta có thể làm việc cho Drexel.
Nhưng những tài liệu đó là thứ mang ít ý nghĩa nhất trong hoạt động đào tạo của chúng tôi. Những thứ thích đáng, những thứ mà hai năm sau tôi nhớ lại, là giai thoại về các cuộc đấu đá được truyền miệng ở Salomon Brothers. Hơn ba tháng ròng, những tay giao dịch, kinh doanh và nhà tài chính đã chia sẻ kinh nghiệm của họ cho lớp học. Họ đã buôn bán bằng sự thông thái nguyên sơ của đường phố: Tiền đã di chuyển quanh thế giới như thế nào (bằng cách mà nó muốn), một tay giao dịch cảm nhận và hành động như thế nào (theo lối anh ta muốn) và làm thế nào để tóm được một khách hàng. Sau ba tháng trên lớp, đám thực tập sinh lại mệt mỏi trên sàn giao dịch thêm hai tháng nữa. Rồi họ bắt tay vào làm. Trong suốt thời gian đó, có một chương trình nghị sự được ẩn giấu: công cuộc Salomon hóa thực tập sinh. Thứ nhất, phải làm cho thực tập sinh hiểu được rằng bên trong Salomon Brothers, theo một tay giao dịch có lần so sánh, anh ta thấp hơn cả cục phân con cá voi nằm ở đáy đại dương. Và thứ hai, phải hiểu rằng cho dù có bị cục phân cá voi đè lên thì điều đó cũng đã là rất vẻ vang so với không hề được ở trong Salomon.
Trong ngắn hạn, việc tẩy não gần như có kết quả. (Về dài hạn thì không. Đối với những người chấp nhận cái ách gông xiềng ấy, họ phải tin rằng họ không còn lựa chọn nào khác. Sau này độc giả sẽ thấy, những người mới đến như chúng tôi vừa biết cách tâng bốc giá trị bản thân lại vừa không có lòng trung thành). Một số ngân hàng đầu tư đã có chương trình đào tạo, ngoại trừ Goldman Sachs, chẳng có ai ở đâu thấm nhuần đầy đủ lời tuyên truyền về công ty cả. Một nữ phóng viên tạp chí New York Times phỏng vấn chúng tôi ba tháng trước về chương trình đào tạo đã bị ấn tượng bởi sự đồng nhất trong thái độ của chúng tôi đối với công ty đến mức cô ta đặt tên cho bài báo của mình như sau: “Trại huấn luyện cho những người có bằng MBA cao cấp”. Như tất cả các bài báo đăng về Salomon Brothers, nó nhanh chóng bị làm cho xẹp xuống. Những kẻ dãy ghế sau rủa: “Con điên đó còn không biết nó đang nói cái gì.” Những hướng đạo sinh của lớp bị săn đuổi một cách tàn tệ vì nói những điều đã in trên báo kiểu như “Họ – Salomon – không thèm cho chúng tôi một lời động viên, chúng tôi bị nhồi nhét.” Quả thực bạn cũng phải công nhận điều này là hơi thái quá.
Bài báo được tiết lộ vì một lẽ khác. Đây là lần duy nhất mà một người từ bên ngoài được phép lọt vào và lại hỏi một câu rất hiển nhiên: “Tại sao chúng tôi được trả lương hậu hĩnh đến thế?” Một người ở dãy ghế sau, vừa tốt nghiệp MBA của Đại học Chicago, đã giải thích cho độc giả tờ báo. Anh ta nói: “Đó chỉ là cung và cầu thôi. Em gái tôi dạy những đứa trẻ thiểu năng trí tuệ. Cô ấy yêu công việc giống như tôi vậy, nhưng thu nhập kém hơn nhiều. Nếu không có ai khác muốn dạy, thì cô ấy sẽ kiếm nhiều tiền hơn.” Bạn hãy thử phân tích câu nói đó xem. Những độc giả tờ báo đó chắc chắn đã làm như vậy. Bởi chính bài báo đã nêu rằng có hơn 6.000 người nộp đơn cho 127 vị trí này. Lương ở Salomon Brothers được trả rất cao, mặc dù có nhiều người khác sẵn sàng làm công việc ấy mà ăn lương ít hơn. Đâu đấy thoang thoảng mùi cá tanh trong cách mà cung và cầu gặp nhau ở một ngân hàng đầu tư.
Nhưng cũng khá là dễ chịu trong việc giải thích số tiền mà chúng tôi sắp được trả. Tôi nghĩ là vì đồng nghiệp của tôi đã thử cách mà các trường kinh doanh cũ kỹ hay dùng. Không ai phải làm gì cả. Tiền đã nằm sẵn ở đó. Tại sao ngân hàng đầu tư đã trả cho biết bao nhiêu người không có mấy kinh nghiệm nhiều tiền đến vậy? Đây là câu trả lời: Khi nắm một chiếc điện thoại trong tay, họ có thể sản sinh ra thậm chí còn nhiều tiền hơn. Bằng cách nào họ có thể sản sinh ra nhiều tiền hơn, trong khi bản thân lại không có kinh nghiệm? Câu trả lời là trong một ngân hàng đầu tư, kỹ năng ít quan trọng hơn so với những thứ vô hình như sự nhạy bén, gan lỳ và may mắn. Có phải những tài năng tìm thấy ở một người sản sinh ra tiền hiếm hoi đến mức mà chúng chỉ có thể mua được với giá rất đắt không? Câu trả lời là có và không. Đây là câu hỏi của những câu hỏi. Sự bằng lòng ngu xuẩn của chúng tôi bị bộc lộ hết cỡ do đã không hỏi ngay từ đầu tại sao tiền lại cứ tuôn ra tự do và nó sẽ kéo dài bao lâu. Câu trả lời có thể được thấy trên sàn giao dịch Salomon Brothers – có lẽ là dễ thấy hơn bất cứ đâu trên Phố Wall, nhưng nhiều người không bao giờ bận tâm tới việc làm sáng tỏ nó.
Mỗi ngày sau giờ học, vào khoảng 3 giờ, 4 giờ hoặc 5 giờ gì đấy, chúng tôi bị buộc phải đi từ lớp đào tạo ở tầng 23 lên sàn giao dịch ở tầng 41. Bạn có thể “cúp cua” một vài ngày, nhưng nếu nhiều lần không thấy có mặt trên sàn, đơn giản bạn sẽ bị bỏ quên. Bị bỏ quên ở Salomon có nghĩa là bị thất nghiệp. Cố gắng để được thuê là một hành động tích cực. Người quản lý yêu cầu bạn về đơn vị của anh ta, khi đó bạn mới được nhận. Đến cuối chương trình đào tạo, ba người đã bị sa thải. Một người bị đẩy đi Dallas và đã từ chối. Người thứ hai đã bí ẩn biến mất, nghe đồn rằng anh ta rủ một nữ ủy viên ban điều hành Salomon vào toilet (Salomon chỉ cấm quấy rối tình dục chứ không cấm dụ dỗ tình dục). Và người thứ ba, chuyện này quả thật thú vị, anh ta không chịu đựng được việc bước ra khỏi thang máy để vào sàn giao dịch. Chiều chiều, trong chiếc thang máy, anh ta cứ chồm lên chồm xuống ở phía sau. Tôi nghĩ anh ta muốn bước ra nhưng lại bị hóa đá. Câu chuyện về cố tật của anh chàng này lan truyền. Đích thân người phụ nữ chịu trách nhiệm về chương trình đào tạo đã đi xem sự thể ra sao. Bà ta đứng trước cửa thang máy trên tầng 41 suốt một tiếng đồng hồ nhìn cánh cửa đóng và mở để tận mắt chứng kiến anh chàng ma quỷ đó. Và một hôm anh ta biến mất.
Vào những hôm can đảm hơn, bạn dạo quanh sàn giao dịch để tìm một người quản lý có thể bảo trợ bạn, một cố vấn dày dạn kinh nghiệm mà chúng tôi gọi là vị giáo sỹ Do Thái. Bạn đến sàn giao dịch là để học hỏi. Hành động đầu tiên là nhảy vào bãi chiến trường, chọn lấy một ông thầy phù hợp và xin được giao phó công việc. Thực không may điều đó chẳng dễ dàng gì. Thứ nhất, theo định nghĩa, một thực tập sinh không xứng đáng để được phép mở miệng. Và thứ hai, tầng giao dịch là một bãi mìn của những người sẵn sàng cho nổ nếu bạn lọt vào đúng phạm vi của họ. Bạn không thể cứ đi lại và chào hỏi. Thực ra, nói vậy thì không công bằng. Bởi vì cũng có rất nhiều tay giao dịch lịch sự theo bản năng và nếu bạn chào thì họ cũng chỉ sẽ phớt lờ bạn mà thôi. Nhưng nếu bạn tình cờ giẫm phải bãi mìn thì cuộc đối thoại sẽ diễn ra giống như kiểu thế này:
Tôi: Chào anh!
Tay giao dịch: Mày ở đâu chui ra vậy hả? Ê Joe, Ê Bob, nhìn cái dây quần của thằng này nè!
Tôi (đỏ mặt): Tôi chỉ muốn hỏi anh mấy câu thôi!
Joe: Mẹ kiếp, nó tưởng nó là thằng nào chứ?
Tay giao dịch: Joe, để thử thằng nhóc này một chút xem sao! Khi lãi suất tăng thì giá trái phiếu biến động theo hướng nào?
Tôi: Xuống.
Tay giao dịch: Xuất sắc! Cho mày 10 điểm. Còn giờ thì tao phải làm việc.
Tôi: Vậy khi nào anh rảnh?
Tay giao dịch: Mẹ kiếp, mày nghĩ đây là cái quái gì? Quỹ từ thiện hả? Tao đang bận.
Tôi: Vậy tôi có thể giúp anh được gì chứ?
Tay giao dịch: Chạy đi mua cho tao một cái hamburger. À, nhiều nhiều sốt cà chua vào.
Vì vậy tôi phải luôn đi đứng cẩn thận. Có một triệu quy tắc nhỏ nhặt phải tuân theo mà tôi thì chẳng biết lấy một cái. Mấy tay giao dịch, kinh doanh và quản lý đi lại thành từng nhóm khắp sàn, lúc đầu tôi không thể phân biệt được nhóm nào lại nhóm nào. Ừ thì tôi biết sự khác biệt căn bản. Hầu hết ai cũng đều cầm hai điện thoại trên tay cùng một lúc và ai cũng liếc nhìn màn hình nhỏ màu xanh chi chít con số. Họ hét vào điện thoại này rồi hét vào điện thoại kia, tiếp tục quát ai đó tận phía bên kia dãy bàn và quay lại với hai chiếc điện thoại, rồi chỉ vào màn hình và hét: “Mẹ kiếp!” 30 giây được xem là một khoảng thời gian tập trung dài. Là thực tập sinh, giống như cậu học viên năm nhất trường lục quân, một thanh niên đang bị đè dưới đống phân cá voi, tôi đã làm theo cách mà mọi thực tập sinh đều làm. Tôi rón rén mò tới bên một nhân vật đang bận rộn nào đó, không nói một lời và biến thành một Người vô hình.
Tất nhiên, đó là bởi vì tôi sợ bị làm nhục như ví dụ ở trên. Đôi khi tôi phải đợi một tiếng đồng hồ, trước khi sự có mặt của tôi được biết đến; nhiều lúc chỉ cần một vài phút thôi. Thậm chí như vậy cũng đã là vô tận lắm rồi. Tôi tự hỏi có ai phát hiện ra tôi không? Chừng nào thì tôi sẽ thoát khỏi tình trạng hoàn toàn bị lãng quên như thế này? Ai đó hãy làm ơn nhận ra rằng cái thằng Người vô hình đã đến. Mối tương phản giữa sự bất động của tôi và sự chuyển động cuồng loạn của các tay giao dịch càng làm cho cảnh tượng này trở nên không thể chịu được. Nó đã nhấn mạnh vào tính vô dụng của tôi. Và khi đã rón rén như thế này rồi thì thực khó bỏ đi khi chưa được người ta chính thức nhận ra sự hiện diện của mình. Bỏ đi là chấp nhận thất bại.
Dù sao thì cũng chẳng còn chỗ nào khác để đi. Ban giao dịch dài khoảng 1/3 chiều dài một sân bóng đá, từng dãy bàn được đặt song song với nhau. Các tay giao dịch ngồi sát sườn nhau thành một chuỗi người. Giữa các dãy bàn không có đủ chỗ trống để hai người bước qua nhau mà không phải xoay ngang. Một khi thực tập sinh nào rảo quanh thì đấy cũng là lúc anh ta liều mạng quấy nhiễu các đấng thần linh đang vui đùa. Tất cả các vị cao cấp, từ chủ tịch Gutfreund trở xuống, đều lang thang ở đây. Nó không phải là một công ty bình thường mà ở đó các thực tập sinh được mấy vị ủy viên quản trị trung niên mỉm cười nhân từ bởi vì họ đại diện cho tương lai của công ty. Thực tập sinh ở Salomon là những lao công, bị kết tội cho đến khi chứng minh được là vô tội. Với tội trạng đè lên đầu, bạn càng đặc biệt không nên gặp mấy vị cao cấp đó. Nhưng thực đáng buồn là bạn không có chọn lựa nào khác. Ông chủ ở khắp mọi nơi. Ông ta nhận thấy bạn đeo dây đai quần màu đỏ có đính đồng đô-la màu vàng và biết ngay bạn là ai. Một trung tâm giá cả.
Cho dù bạn có tháo dây đeo quần màu đỏ và nhuộm màu khác, bạn vẫn dễ dàng bị nhận ra là một thực tập sinh. Các thực tập sinh lạc nhịp một cách không thể cứu vãn trước giai điệu vốn có của sàn giao dịch. Những chuyển động của khu giao dịch hòa nhập với những biến động của các thị trường cứ như thể chúng bị trói chặt với nhau. Chẳng hạn, thị trường trái phiếu Hoa Kỳ dao động bất cứ khi nào Bộ Thương Mại Hoa Kỳ phát ra dữ liệu kinh tế quan trọng, và khi đó sàn giao dịch trái phiếu cũng dao động theo. Các thị trường quyết định dữ liệu nào quan trọng và dữ liệu nào không. Tháng này là thâm hụt cán cân thương mại Hoa Kỳ, tháng khác lại là chỉ số giá tiêu dùng. Vấn đề là ở chỗ những tay giao dịch biết con số kinh tế nào quan trọng trong tháng đó, còn những thực tập sinh thì không. Toàn bộ sàn giao dịch Salomon Brothers dường như muốn nổ tung bởi một con số sắp được phát ra lúc 8 giờ 30 sáng, tâm trạng hồi hộp chờ đợi xâm chiếm toàn khu vực, người ta hy vọng, sẵn sàng nhảy lên, hô to, mua hay bán các trái phiếu trị giá tới hàng tỷ đô-la, kiếm được hoặc gây tổn thất cho công ty hàng triệu đô-la. Một thực tập sinh đến bên họ, hoàn toàn chẳng hiểu chuyện gì đang xảy ra xung quanh, nói: “Xin lỗi, tôi định ra quán ăn tự phục vụ đây, có ai muốn mua gì không?” Thực tập sinh, nói ngắn gọn, là những kẻ đần độn.
Có một thực tập sinh đã may mắn được miễn mọi phiền phức. Tên anh ta là Myron Samuels, anh ta đã thỏa thuận với một vị giám đốc phụ trách ban trái phiếu đô thị. Lúc tôi đến với Salomon Brothers thì hàng ngày anh ta đã được quá giang cùng hai giám đốc điều hành và một tay giao dịch cao cấp tới sở. Người ta đồn anh ta có mối quan hệ gia đình với những người tầm cỡ cao hơn ở công ty, một lời giải thích khác lại cho rằng anh ta là một thiên tài. Dù thế nào chăng nữa, anh ta đã không thất bại khi tận dụng thân thế cao quý của mình. Anh ta đi bộ vòng quanh tầng giao dịch với tác phong chỉ thấy ở rất ít người thật sự đang làm việc. Còn anh ta thì không phải làm việc, anh ta có thể nhởn nhơ vui chơi như một đứa trẻ con trong văn phòng của bố mình. Anh ta đi tới một chiếc bàn ở dãy bàn giao dịch trái phiếu đô thị, kéo một chiếc ghế, kêu một người đánh giày tới, gọi điện thoại cho một cậu bạn ở xa, phì phèo điếu xì-gà và đặt chiếc giày chưa được đánh lên trên bàn. Anh ta chào mấy vị giám đốc điều hành đi qua như những người bạn cũ. Không ai, mà chẳng có ai dám mơ được như thế – ngoại trừ Samuels. Nói chung, nhân vật càng cao cấp hơn thì thấy Samuels càng buồn cười hơn, tôi nghĩ là vì những người càng cao cấp càng biết rõ hơn về các mối quan hệ của Samuels. Tuy thế, một số người rất tức giận. Nhưng khi ở trong dãy bàn giao dịch trái phiếu đô thị thì Samuels không thể bị đụng chạm tới. Đúng một lần tôi đi dạo và nghe lỏm được hai vị phó chủ tịch đang thì thầm về anh ta. Một người nói với người kia: “Mẹ kiếp! Tôi không thể chịu được thằng cha đó.” Người kia đáp lại: “Ê hê, nhưng anh làm gì được nó chứ?”
Để tránh bị vặn vẹo mỗi lần lên sàn, tôi cố giữ yên lặng, né vào một góc. Loại trừ Gutfreund là nhân vật mà tôi biết qua mấy bức ảnh trên tạp chí và nghĩ rằng đó là một người danh tiếng nhiều hơn là một thương nhân, còn những khuôn mặt khác thực lạ với tôi. Điều này khiến cho người ta thật khó mà biết được nên tránh ai. Rất nhiều người trong bọn họ giống nhau như đúc, hầu hết là da trắng, nam giới và tất cả đều mặc áo sơ mi chất cotton (một trong số những người Nhật của chúng tôi đã bảo với tôi rằng cho đến hết đời, anh ta cũng không thể nào phân biệt được họ). Tầng 41 của Salomon ở New York là trung tâm quyền lực. Ở đây không chỉ có những nhà điều hành cao cấp hiện tại mà còn cả trong tương lai. Bạn hãy nhìn vào dáng khệnh khạng của họ để phân biệt người nào nên lại gần và người nào nên tránh.
Vậy theo thời gian, tôi có quen dần với sàn giao dịch hay không? Cũng phải quen thôi! Nhưng ngay cả khi tôi đã ổn định vị trí của mình trong công ty, tôi vẫn còn cảm thấy sởn gai ốc mỗi lần đi lên tầng 41, tuy nhiên tôi có thể thấy rõ những tiến bộ của bản thân. Một hôm tôi đang đóng vai Người vô hình, cảm nhận hơi ấm của đống phân cá voi và nghĩ rằng chẳng có ai trên đời này lại thấp hèn hơn tôi nữa, thì đột ngột xuất hiện một nhân viên bộ phận tài chính doanh nghiệp mặc chiếc áo khoác như biểu hiện của sự ô nhục. Không ai mặc áo khoác trên sàn giao dịch. Chắc chắn lần đầu tiên ông ta đi từ văn phòng của mình xuống đây. Giữa cảnh hỗn loạn ồn ào, ông ta dớn dác nhìn xung quanh. Một người nào đó đâm sầm vào ông ta rồi gắt gỏng bảo ông ta đi đứng phải cẩn thận. Nhưng ông ta vẫn đứng yên ở đó. Bạn có thể thấy ông ta nghĩ rằng cả thế giới đang nhìn chăm chăm vào ông ta. Ông ta bắt đầu hoang mang sợ hãi, tựa như một diễn viên trên sân khấu chợt quên mọi lời thoại. Có thể ông ta đã quên tại sao ngay từ lúc đầu ông ta lại bước vào. Và ông ta bỏ đi. Rồi một ý nghĩ xấu xa nảy trong đầu tôi. Một ý nghĩ ghê rợn. Một ý nghĩ không thể tha thứ được. Nhưng nó chứng tỏ tôi đã trưởng thành. Tôi đã nghĩ: “Mẹ kiếp, gã nhu nhược, mày cóc biết cái quái gì hết!”

