Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 4

Chương IV. Nền giáo dục dành cho người lớn

Bốn tuần lễ trôi qua. Lớp học đã cảm nhận được về các quyền của nó. Quyền bất di bất dịch thứ nhất của một thực tập sinh là phải tự mình thư giãn trước khi ngồi vào ghế mỗi buổi sáng. Rải khắp căn phòng là cảnh kẻ ăn bánh ngọt, người uống cà phê. Mấy tay đọc tờ New York Post và đặt tiền cược cho bất kỳ trận bóng nào hôm đó. Trò chơi ô chữ trên tờ New York Times được sao chép thành 126 bản và phân phát khắp. Ai đó gọi điện tới một hãng thu băng đĩa khiêu dâm và nối ống nghe vào chiếc loa đặt trên bàn ngay trước lớp học để phát oang oang. Bầu không khí sặc mùi tình dục. Vào giờ này, thói quen muôn thuở của tôi là gặm một chiếc knish [bánh của người Do Thái].

Bụp! Max Johnson, cựu phi công lái máy bay chiến đấu thuộc Hải quân Hoa Kỳ, chọi một viên đạn giấy trúng ngay mặt anh chàng bốn mắt Leonard Bublick – tốt nghiệp MBA của Đại học Indiana. Bublick có thể không ngạc nhiên vì loại trò chơi này thường xảy ra, tuy thế anh chàng có vẻ đau và muốn tìm thủ phạm. Một nhân vật hàng ghế sau gác cả hai chân lên chiếc ghế sát Johnson hét: “Bublick tóc cắt đẹp nhỉ!”

Từ chỗ mình ở phía trước, Bublick đáp: “Ô ô, đàng hoàng một chút coi nào!”

Susan James bước vào làm gián đoạn “Cuộc trả thù của Nerd đệ nhị”. James đóng một vai trò kỳ lạ. Kiểu của cô ta, nửa như người giữ trẻ, nửa là nhà tổ chức chương trình. Phần thưởng dành cho cô ta khi hoàn thành tốt công việc là được nhận vào chương trình đào tạo tương lai. Như những người khác, cô ta muốn làm việc trên sàn giao dịch; cô ta chỉ hơn chúng tôi mấy bước là nhận thấy hoài bão đó thôi. Khoảng cách của cô ta với bộ máy kiếm tiền đã làm giảm uy tín của cô ta với tư cách người giữ trật tự xuống con số 0. Cô ta chỉ có quyền nói chuyện tầm phào với chúng tôi, và thực ra thậm chí không được đến thế. Bởi vì chúng tôi là những ông chủ tương lai của cô ta. Cô ta muốn là bạn của chúng tôi. Khi chúng tôi chuyển tới sàn giao dịch và cô ta tới chương trình đào tạo, cô ta sẽ nài xin chúng tôi một công việc. Các thực tập sinh đều biết rằng quyền lực của cô ta chẳng hơn gì một giảng viên dự khuyết, vậy nên khi không lợi dụng được cô ta, họ sẽ phớt lờ cô ta. Tuy nhiên, lúc này cô ta đang mang tới một bức thông điệp quan trọng.

“Mấy cậu, thôi đừng làm những chuyện ngớ ngẩn nữa,” cô ta năn nỉ. “Jim Massey sẽ ở đây trong ít phút nữa. Lớp học này đã mang đầy tiếng xấu rồi.” Vài ngày trước, một kẻ ngồi dãy ghế sau đã vo giấy ném vào vị giám đốc điều hành phụ trách nghiên cứu thị trường trái phiếu, khiến ông ta điên tiết và gào thét độ 5 phút. Ông ta không tìm được thủ phạm là ai và trước lúc bỏ đi, ông ta thề sẽ trả thù tất cả chúng tôi.

Susan James nhắc đi nhắc lại đến lần thứ mười, rằng ấn tượng mà chúng tôi đập vào mắt ông ta trong cuộc gặp gỡ nửa tiếng đồng hồ này sẽ ảnh hưởng tới sự nghiệp chúng tôi (tiền lương!) cho tới khi về hưu hoặc chết. Tất cả chúng tôi đều nghĩ Massey là tên đao phủ của John Gutfreund. Chẳng cần phải có trí tưởng tượng cao siêu mới phác họa được hình ảnh ông ta đang xử trảm những thực tập sinh láo xược. Massey có những nét mà có lẽ người ta phải cho là đặc biệt: ông ta không bao giờ mỉm cười. Chức vụ chính của ông ta là thành viên ban quản trị Salomon, đặc trách về bán hàng và cả tương lai của chúng tôi nữa. Massey chủ trì bảng phân công công việc treo bên cạnh sàn giao dịch. Với một cái búng tay nhẹ của ông ta, tên bạn có thể bay vèo từ New York về Atlanta. Các thực tập sinh rất sợ Massey. Ông ta tỏ ra cũng thích thế.

Bề ngoài có vẻ Jim Massey đến để trả lời thắc mắc của chúng tôi về công ty. Chúng tôi chỉ mới học được bốn tuần. Chắc chắn chúng tôi có nhiều câu hỏi. Thực ra chúng tôi cũng không có nhiều lựa chọn. Chúng tôi còn tò mò hơn những gì mà Susan nói với chúng tôi: “Các cậu nên đưa ra những câu hỏi hay. Nhớ đấy, nhiều ý tưởng [xấu] đang manh nha!”

Vì thế, tiếng kèn báo hiệu xung trận đã vang lên trước khi người gìn giữ lề thói tập thể của ngài chủ tịch đến để trả lời những câu hỏi của chúng tôi. Ông ta để kiểu tóc ngắn, hàm răng rộng và sắc đủ ngoặm đứt một chiếc bánh ngọt. Không giống mấy tay ủy viên ban quản trị khác, ông ta mặc bộ vest màu xám mà không có khăn mùi soa trong túi. Massey tiết kiệm về kiểu cách giống như vận động viên có tài tiết kiệm khả năng vận động, y như thể ông ta đang bảo tồn năng lượng cho lúc cần thiết.

Ông ta có một cuộc nói chuyện ngắn, điểm tập trung của câu chuyện là nhấn mạnh văn hóa của Salomon Brothers đáng khen ngợi và độc đáo thế nào. Đúng, chúng tôi biết nó là công ty thương mại tốt nhất trên thế giới. Đúng, chúng tôi cũng biết rằng Salomon Brothers tự hào về cách làm việc đồng đội (có ai mà không đồng đội?). Đúng, chúng tôi đã nhận thấy rằng cách nhanh nhất để bị sa thải là cứ tỏ ra khoe khoang trên báo chí về việc chúng tôi đã kiếm được bao nhiêu tiền (Salomon Brothers có tính khiêm tốn và dè dặt). Chúng tôi từng nghe kể về số phận của một nhân vật làm ở Salomon tại Los Angeles, anh ta xuất hiện trên tạp chí Newsweek với hình ảnh đang cười hả hê bên bể bơi và khoác lác về vận may của mình ra sao. Đúng, hắn đã bị sa thải. Đúng, chúng tôi biết rằng 3 tỷ đô-la tiền vốn của Salomon đã làm cho công ty trở nên có thế lực nhất trên thị trường tài chính. Đúng, chúng tôi biết rằng, chúng tôi chẳng làm được tích sự gì trong cuộc sống nhỏ bé của mình, chúng tôi không xứng đáng mua một tách cà phê cho mấy tay trên sàn giao dịch. Đúng, chúng tôi biết không nên quan tâm quá nhiều, mà hãy cứ để công ty (cụ thể là Massey) quyết định chúng tôi sẽ được bố trí làm việc ở đâu trên sàn giao dịch sau khi kết thúc khóa đào tạo.

Giống như những tay ủy viên khác ở Salomon Brothers, năm 1985, Massey đã “vút cao” sau hàng loạt quý đạt lợi nhuận kỷ lục. Không chỉ là kỷ lục của Salomon Brothers mà còn là kỷ lục của tất cả các công ty trên Phố Wall. Ông ta không thể nào phạm sai lầm. Theo cách nói của ông ta thì công ty không thể nào phạm sai lầm. Ấy thế mà khi ông ta kêu gọi đặt câu hỏi thì chỉ có sự yên lặng. Chúng tôi quá sợ sệt đến mức không nói nên lời.

Chắc chắn tôi không định nói gì. Chắc chắn ông ta biết nhiều điều mà lẽ ra tôi cũng muốn biết, nhưng tôi cảm thấy rằng việc ông ta kêu gọi đặt câu hỏi thực không thành thật. Và không chỉ riêng tôi nghĩ vậy. Chẳng ai dám cả. Chẳng ai dám hỏi tại sao trong khi mọi người ở Salomon không được nói chuyện với báo chí thì khuôn mặt tròn trĩnh của Gutfreund lại được in lên trên trang bìa của tất cả các tạp chí thương mại trong nước. Không ai dám hỏi điều mà tất cả chúng tôi đều muốn biết: Chúng tôi có thể kiếm bao nhiêu tiền trong mấy năm tới? Và câu hỏi hiển nhiên nhất không ai hỏi là tại sao Jim Massey – kẻ đặc trách thuê thực tập sinh, kẻ trực tiếp chịu trách nhiệm về sức tăng trưởng bùng nổ của công ty – lại không lo lắng rằng công ty đang bành trướng một cách thiếu thận trọng (đúng vậy, thậm chí rất rõ đối với cả thực tập sinh). Không, chúng tôi run lập cập với chính những câu hỏi để mà hỏi. Và vào lúc ấy, tôi đã học được rằng đây chính là những khác biệt giữa công sở và trường học. Những ý nghĩ tò mò không phải là thứ Massey theo đuổi. Massey đang tìm kiếm sự sùng bái. Nhưng ông ta đã từ chối những kẻ ủy mị nhất ngồi ở dãy ghế trước. Thậm chí những kẻ đó miễn cưỡng phải a dua theo một đòi hỏi hiển nhiên như vậy.

Bên cạnh tôi, ở dãy ghế trước là Susan James – nom như một cô trông trẻ bị vỡ mộng. “Ồ, các cậu hỏi đi, đặt câu hỏi đi chứ!” Cuối cùng, bên phía tay phải tôi, một cánh tay ở dãy trước giơ lên. Tôi nhìn xem kẻ đó là ai rồi nhắm mặt lại, bối rối thay cho anh ta. Anh ta đã không gây thất vọng.

Chàng thanh niên mưu cầu vận may nói: “Ông có thể nói cho chúng tôi biết liệu công ty đã xem xét việc mở văn phòng tại một thành phố ở Đông Âu hay không? Ông biết đấy, Praha chẳng hạn?”

Như Praha! Nếu người thuyết trình là ai đó dưới quyền ủy viên ban quản trị thì hẳn căn phòng đã biến thành cuộc chiến bằng những viên đạn giấy và tiếng gầm rú rồi. Những âm thanh lạ phát ra từ phía dãy ghế sau, đúng là hơn chục gã đang khúc khích. Ý kiến để Salomon Brothers mở văn phòng tại Praha có thể không bao giờ nảy ra với bất kỳ ai trong lịch sử 75 năm của công ty. Như vậy là cái ý tưởng sáng tạo được phát sinh bởi sự có mặt của một vị ủy viên ban quản trị đòi hỏi ai đó phải đặt ra câu hỏi.

Ấy thế mà Massey đón nhận câu hỏi đó như một phát ngôn viên của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. Chắc hẳn ông ta chỉ muốn được hỏi rằng “Ông đã đóng góp được gì vào thành công của Salomon?” Nhưng hôm nay, chắc chắn ông ta phải tự nhủ đúng là không phải ngày của mình rồi.

Massey rời đi, đúng một tháng sau lại có ai đó cùng đẳng cấp chức vị với ông ta thử vận may trong việc đến thuyết trình ở khóa đào tạo. Có lẽ ông ta đã kể lể rằng chúng tôi không giỏi lắm về trò chơi này. Nhưng rồi thật bất ngờ, chúng tôi nhanh chóng cảm thấy khoái những đợt viếng thăm của một ủy viên khác trong ban quản trị. Đó là Dale Horowitz, và sau đó nữa là vị chủ tịch.

Horowirzt là giám đốc ngân hàng đầu tư thuộc lớp trước, trạc 55 tuổi, một người khôn lỏi, một ứng viên dĩ nhiên để khai trương và điều hành văn phòng ở Praha khi thời cơ đến. Cái đầu của ông ngặt nghẹo trên thân hình to lớn của mình, khuôn mặt ông cứ gợi cho tôi nhớ tới chú gấu Yogi . Tất cả những gì tôi biết về ông, giống như Gutfreund, là tên ông được nêu trên các trái phiếu đô thị và một số bạn bè người Do Thái của tôi rất tôn kính ông. Ông giống như một giáo sỹ: tử tế và khôn ngoan, có sở thích hút xì-gà loại to. Mọi người gọi ông là Bác Dale. Ông đứng nghiêng mình dựa vào bục rồi ngồi xuống cái bàn phía trước phòng và giang rộng tay ra. Ông nói chuyện về việc có một gia đình thì quan trọng hơn là có một nghề nghiệp như thế nào – và tôi nghĩ, so với những gì từng được nghe trong chương trình đạo tạo, nhận xét đó đã gieo rắc ấn tượng kỳ lạ nhất với hầu hết mọi người. Rồi ông nói, với giọng trầm ấm, rằng ông có thể trả lời bất kỳ câu hỏi nào mà chúng tôi quan tâm. Thực vậy, cứ tiếp tục hỏi. Bất kỳ điều gì.

Vài cánh tay giơ lên. Tôi chắc chắn đây là buổi họp “Những vấn đề mà bạn muốn biết về Salomon nhưng lại không dám hỏi” được mong mỏi từ lâu. Một thực tập sinh hỏi: “Liệu có phải Salomon bị khối Ả-rập liệt tên vào sổ đen không?”

Nét mặt của Bác Dale nhăn lại. Ông gắt gỏng: “Cậu muốn biết về cái đó để làm gì?” Trông ông phiền muộn y như gấu Yogi lúc giận dữ. Sổ đen của Ả-rập là thứ không nên nhắc tới, mặc dù tôi không hiểu tại sao. Bạn không phải là Dick Tracy để khám phá rằng tại sao (công ty) chúng tôi nằm trong đó (mặc dù bạn không cần phải là James Bond để khám phá ra cách thoát khỏi sổ đen đó. Rõ ràng cần phải có một đoàn ngoại giao sang thành phố Damas). Khối Ả-rập đã cắt đứt mối quan hệ với Salomon khi nó sáp nhập với công ty kinh doanh hàng hóa Philips Brothers. Tôi được hay là Philips Brothers có mối quan hệ với Israel. Và tôi cho rằng cuốn sổ đen đó đang mất đi chiếc vòi của nó với sự sụt giảm giá dầu. Hiện nay khối Ả-rập đang chi nhiều hơn thu. Với giá 12 đô-la/thùng dầu, họ đã trở thành khách hàng kém phần quan trọng hơn nhiều so với trước kia. Ở đây không có bí mật gì về công ty. Gần như bạn vẫn có thể thấy điểm đen được đánh dấu vào tên của thực tập sinh đã đặt câu hỏi đó.

Những đứa trẻ đã ngừng hứng thú với Bác Dale. Chúng tôi bị ru vào một cảm giác sai lầm về sự yên ổn. Chúng tôi đã cảm nhận được sự sai lầm ngay lập tức. Hàng loạt cánh tay giơ lên khắp căn phòng, cố thoát khỏi những cái răng của một chiếc bẫy đã sập. Nhưng một cánh tay khốn khổ chậm chạp đã bị phát hiện. Horowizt gọi anh ta.

Cậu thực tập sinh đó hỏi: “Tại sao chúng ta lại chịu đựng được việc cho phép một công ty Nam Phi là thành viên lớn nhất của Salomon? Có ai trong công ty suy xét đạo đức của ông chủ chúng ta không?”

Horowizt trừng mắt đe dọa: “Lũ thực tập sinh chết tiệt, bọn mày nói những lời lẽ láo xược rồi đấy!” Lúc đó, ông đang lăn một điếu xì-gà mập mạp quanh miệng và đôi mắt nhíu ti hí như kẽ hở của hộp thuốc. Minorco – một công ty khai khoáng của Nam Phi – sở hữu 12% cổ phần trong tập đoàn Salomon Inc. Câu trả lời của Bác Dale là đúng, nguyên tắc đạo đức là một sự suy xét (mọi người có thể tưởng tượng một vị giám đốc ngân hàng đầu tư nào nói nguyên tắc đạo đức không phải là sự suy xét không?), nhưng nếu vượt qua giới hạn thì ông sẽ không thảo luận về vấn đề đó nữa.

Quá nhiều bí mật để có thể công khai.

Sau đó vài buổi sáng, John Gutfreund đến. Vào lúc ấy chúng tôi đã dần chán ngán những cuộc chuyện gẫu với ban quản trị cấp cao rồi. Một số thực tập sinh dự định sẽ ngủ nướng vào buổi sáng mà John Gutfreund tới nói chuyện. Susan James lo ngại rằng cô ta sẽ không triệu tập đủ người cho nhân vật vĩ đại đó. Cô ta sai mấy thư ký gọi điện tới nhà chúng tôi vài tiếng trước khi diễn ra sự kiện trên để đe dọa trừng phạt chúng tôi nếu chúng tôi không trình diện. Nỗ lực của cô ta đã uổng phí đối với tôi. Tôi không có ý định bỏ lỡ buổi nói chuyện, như thể đó là nữ diễn viên Joan Collin đến diễn thuyết vậy. Tôi không thể bỏ qua. Tôi biết rằng khó lòng mong đợi được nghe thấy điều gì mới mẻ. Song tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ gián tiếp học được điều gì đó. Bởi người ta nói rằng đây là nhân vật đã đóng dấu ấn cá tính của mình vào một tổ chức; những lỗi lầm và thành công của ông ta cũng chính là của Salomon Brothers.

Gutfreund thường bị tố cáo là chịu ảnh hưởng của lối nói kiểu Anh, nhưng về điểm này – xét trong nghề của mình, ông ta đã rất hạn chế không gọi những người khác là “đồng chí”. “Jim Massey là một đồng chí hết sức tài năng.” Mãi sau này tôi mới xác định được không phải ông ta chịu ảnh hưởng lối nói kiểu Anh, mà là kiểu miền Đông Bắc Mỹ. Cái ảnh hưởng có thể nhận thấy ở ông ta chính là sự bình tĩnh như một nhà chính trị sắc sảo và thiết thực. Ông ta quả rất bình tĩnh và khoan thai, đến độ khiến cho bạn phải cảm thấy hồi hộp và ngờ vực. Sau mỗi câu hỏi chúng tôi đặt ra, ông ta thường dừng lại hồi lâu. Thực ra ông ta đang dò ý chúng tôi nghĩ gì. Khi một thực tập sinh hỏi về chính sách của Salomon Brothers đối với hoạt động từ thiện, ông ta nhướn mày, sau một hồi bất động một cách không thoải mái, ông ta trả lời rằng đây là vấn đề rất khó và ông ta sẽ đánh giá cao khả năng đóng góp ý kiến của chúng tôi.

Vẻ bề ngoài chính khách lại là xuất phát điểm thuận lợi của một tay giao dịch thô lỗ, cộc cằn. Và mọi người đều cho rằng tay buôn thô lỗ ấy mới thật sự là Gutfreund. Ông ta không chỉ nói năng phù hợp với vai trò đó, mà còn có bề ngoài tương xứng với nó. Ông ta tròn như Churchill, có bộ tóc bạch kim của Harry Truman và điệu bộ oai vệ – nếu không kể tới chiều cao bằng De Gaulle. Nhưng cái gì đã kiến tạo nên con người ấy – kẻ tự cho rằng mỗi sáng luôn sẵn sàng “cắn nát mông một con gấu”? Ở đâu ra con người mà khắp Phố Wall ai cũng biết - kẻ nắm đầy quyền lực? Đó có phải là con người với cái tên có thể gieo rắc nỗi kinh hãi trong trái tim của những vị giám đốc điều hành? Chúng tôi không biết. Và tôi cũng không chắc mình muốn tìm hiểu chuyện đó. Vấn đề là điệu bộ cao thượng và sự ngập ngừng đầy hàm ý của ông ta hoàn toàn bị che lấp bởi danh tiếng. Với những gì chúng tôi đã nghe được, thật không thể tưởng tượng nổi một cuộc đàm luận thoải mái bên tách trà trong phòng làm việc của ông ta. Ai mà biết ông ta nhặt được kiểu phong cách chính khách khôn ngoan này từ đâu? Nhưng không ai nghĩ rằng đó là điều có thật. Thực là nguy hiểm – như cái nhìn thôi miên của con rắn hổ mang vậy.

Không phát biểu nhiều, ngoại trừ cho chúng tôi thấy dáng vẻ một tay có hạng và danh tiếng của giới tài chính là như thế nào, ông ta đi ra. Và đó là màn kết thúc cuộc lộ diện của ban quản trị Salomon Brothers với chúng tôi.

Tôi cho rằng cách cư xử lạ lùng của các vị quản lý đơn giản chỉ là một phản ứng khi đã có một đống tiền rơi vào những chiếc túi của họ mà thôi. Họ vẫn đang thưởng thức con gà tây được Paul Volcker vỗ béo và sự miệt mài vay mượn của nước Mỹ. Đấy, họ là thế, những con người khiêm tốn, đang sống bằng “đầu thừa đuôi thẹo” của người khác, rồi đột nhiên nhận được con gà tây đã vỗ béo. Họ chẳng làm gì quá những việc thường làm, ấy thế mà vinh quang vẫn ùa đến với họ. Thu thập của họ thay đổi, và nó làm thay đổi cuộc sống của họ. Chúng ta hãy thử hình dung.

Nếu là một người bình tĩnh, có cảm giác rất thờ ơ khi rút tài khoản ngân hàng, bỗng dưng phát hiện có ai đó đã viết cho bạn một tờ séc trị giá hàng chục triệu đô-la, thì khi đó bạn có thể cư xử như kẻ chiến thắng, vung chân loạn xạ, bật cười rồi lên giường ngủ với cái may mắn tốt lành và hết sức kỳ diệu của mình. Nhưng nếu cảm giác tự mãn bao trùm thành công tài chính của bạn, chắc hẳn bạn sẽ tin rằng mình xứng đáng với mọi thứ mình có. Bạn đón nhận như thể nó phản ánh điều vĩ đại trong con người bạn. Bạn nắm được tổng thể vấn đề và khoe khoang nó ở bất kỳ chỗ nào khi thảo luận về nền văn hóa đáng ngợi ca của Salomon Brothers.

Hầu hết mọi người trên Phố Wall đã nhận món tiền của mình một cách nghiêm túc bất kể nguồn gốc của nó, và những ông chủ của chúng tôi cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Nhưng một số trong giới Salomon Brothers cũ đã có một phản ứng phức tạp hơn đối với đồng tiền của họ. Chẳng phải họ nghi ngờ mình có xứng đáng với từng đồng xu kiếm được hay không, mà vì lo ngại cơn bùng nổ vay nợ tại Mỹ. (Nói chung, càng nghĩ tới cuộc Đại khủng hoảng năm 1929, họ lại càng nghi ngờ về sức đòn bẩy của Mỹ). Nhà nghiên cứu trái phiếu ở Salomon, Henry Kaufman, là trường hợp mâu thuẫn về nhận thức sắc bén nhất khi tôi đến công ty này. Ông là người có thế lực trên thị trường trái phiếu và cũng là lương tâm của công ty chúng tôi. Ông nói với các nhà đầu tư rằng không biết liệu các trái phiếu biến động nhanh của họ đang lên hay xuống. Kaufman hầu như luôn luôn đúng về thị trường – nơi đã làm cho ông nổi tiếng khắp các quốc gia nói tiếng Anh nói chung, hoặc ít nhất là với những người đọc Wall Street Journal. Ấy thế mà Kaufman được mọi người biết đến như là Dr. Gloom (Tiến sỹ U sầu). Bữa tiệc đã tôn vinh danh tiếng ông nhưng dường như ông lại muốn nó dừng lại. Ông đã viết trên tạp chí Institustional Investor số tháng 7 năm 1987:

Một trong những điều đáng chú ý nhất xảy ra vào thập niên 1980 là cơn bùng nổ về vay nợ, chưa từng xảy ra tại bất kỳ dấu mốc lịch sử nào. Nó vượt quá bất kỳ điều gì bạn mong đợi, tương ứng với tổng sản lượng quốc gia (GNP), liên quan tới sự bành trướng tiền tệ đang diễn ra. Nhưng tôi cho rằng nó là hậu quả của việc tự do hóa hệ thống tài chính, đưa tổ chức kinh doanh tài chính vào hoạt động mà lại không đưa vào các biện pháp phòng ngừa và nguyên tắc phù hợp. Đó chính là tình trạng chúng ta gặp phải.

Tình trạng hiện tại của chúng ta: lộn xộn, thiếu thận trọng và nợ như Chúa Chổm. Với vị trí tại Salomon, chúng tôi chính là những người nằm trong số các nhà kinh doanh tài chính hàng đầu. Tình trạng tồi tệ mà Kaufman đề cập đến chính là những gì chúng tôi góp phần tạo nên.

Trong khi phần lớn nước Mỹ hình dung rằng Phố Wall có nghĩa là thị trường chứng khoán, thì chính thị trường trái phiếu của chúng tôi tạo nên nhịp điệu của Phố Wall vào thập niên 1980. Salomon Brothers đứng ở ngã tư của sự thay đổi, có được “của trời cho” nhờ đứng đúng chỗ và đúng lúc, tự hào về khả năng kinh doanh trái phiếu siêu hạng của mình, nhưng lúc nào cũng bị bịt mắt. Nó thiếu một tầm nhìn chính xác về cơn bùng nổ trên thị trường trái phiếu này rồi sẽ dẫn tới đâu, nhưng lại thừa ý tưởng về việc phải làm gì với “của trời cho” đó. Mỗi tay giao dịch có một cách nhìn. Nhưng những ý kiến thì vừa chuyên quyền, vừa tham lam. Từ năm 1980 trở đi, Salomon Brothers tiến hành cái gọi là một trong những thương vụ kỳ cục và đắt tiền nhất trong lịch sử của các công ty Mỹ. Và hầu như trong suốt chặng đường ấy, Salomon luôn vỗ ngực tự khen mình.

Với gần tám tuần đào tạo, nét mặt của những vị giảng viên đang bắt đầu pha trộn nhau. Ấy thế mà một tay giao dịch khác với giọng Brooklyn và chứng ho khan đã đến trước lớp học và thuyết trình. Ở ông ta vẫn có cái gì đó phân biệt được với những vị giảng viên khác. Thoạt đầu, tôi không thể nhận ra đó là cái gì. Song rồi tôi đã phát hiện ra, đó là những vết nhăn. Ông ta đã đứng tuổi. Thái độ của ông ta đối với công việc, theo tiêu chuẩn của chúng tôi, là đa cảm. Ông ta thốt ra những lời dí dỏm tựa như chú chim bồ câu dễ thương: “Khi tôi là một tay giao dịch, các cậu biết đấy, tôi không dừng lại để tự vỗ ngực. Bởi vì khi tôi tự vỗ ngực mình, thì cảm giác sau đó thường là một cú đá mạnh phía bên dưới. Điều đó thực chẳng vui thú gì.” Khi được hỏi về điểm mấu chốt cho sự thành công của mình, ông ta đáp: “Thằng chột làm vua xứ mù.” Trên hết, ông ta đã cho chúng tôi một quy tắc kinh nghiệm về thông tin trên các thị trường mà về sau tôi thấy rất có lợi: “Những người nói thì không biết và những người biết thì không nói.”

Ông ta đang nói về thị trường cổ phiếu. Ông ta thuộc ban cổ phiếu không sinh lãi, là cái ao tù, nơi trú chân của những kẻ bị coi là được dùng để lấp chỗ trống, giống như Phòng cổ phiếu ở Dallas. Cách tốt nhất để tránh bị đày tới Dallas bán cổ phiếu là không bao giờ gặp mặt bất cứ ai trong ban cổ phiếu. Đầu tiên nó phải chọn bạn ra khỏi hàng ngũ, trước khi nghĩ đến giao cho bạn một công việc. Chúng tôi ngồi co lại trên ghế suốt cả tuần khi các vị từ ban cổ phiếu tới nói chuyện. Chúng tôi cho rằng có lẽ chúng tôi không bao giờ gặp lại họ một khi kết thúc chương trình đào tạo. Thực không thể nói rằng họ lạc lõng – Salomon Borthers là tập đoàn chính bảo lãnh phát hành các cổ phiếu mới trên Phố Wall và là một trong hai hoặc ba công ty kinh doanh cổ phiếu hàng đầu, nhưng bên trong Salomon Brothers, những con người của ban cổ phiếu là công dân hạng hai. Ban cổ phiếu, nói một cách tương đối, là không kiếm được đồng nào.

Ban cổ phiếu không phải ở trên tầng 41 – tầng giao dịch chính, mà ở tầng bên dưới. Tầng 40 có trần nhà thấp, không cửa sổ và trông như phòng máy nước. Ngoài những tay giao dịch cổ phiếu, ở đây còn một lượng lớn giới kinh doanh trái phiếu của Salomon (chỉ những tay kinh doanh trái phiếu cỡ Big Swinging Dick mới được phép ở tầng 41). Tầng 40 phát ra âm thanh nghe như tiếng những chú dế kêu trong rừng đêm, là giọng nói kỳ dị của các cổ phiếu và trái phiếu đang được bán: âm thanh với hàng trăm giọng nói đang van nài và tiếng sột soạt của việc đóng gói “sự thật” lại, để chúng trông đẹp đẽ hơn. Từ một chiếc loa phát ra tiếng huýt dài và tiếng hú của một người trên tầng 41 với một tay kinh doanh ở tầng 40 để bán thêm trái phiếu. Có lần tôi đi bộ ngang qua khi công ty đang cố bán những trái phiếu của chuỗi cửa hàng thuốc Revco (mà về sau bị phá sản và vỡ nợ bởi chính những trái phiếu đó). Giọng nói xé ra khỏi cái phòng hình hộp đó: “Mọi người, mau lên, chúng ta đâu có bán sự thật.” Cuộc sống ở tầng 40 là sự tàn nhẫn.

Tầng 40 cách xa với tầng 41 đầy quyền lực không phải về mặt vị trí. Có một cầu thang máy phục vụ riêng tầng 40. Mọi người ở tầng 40 và tầng 41 trò chuyện với nhau suốt ngày ấy thế mà không bao giờ nhìn thấy nhau. Hệ thống thông tin được trang bị đầy đủ và tân tiến làm cho mối quan hệ giữa mọi người trở nên rất đơn giản, một tay kinh doanh ở Dallas cũng cảm thấy gần gũi với tầng 41 như một nhân viên ở tầng 40 vậy. Theo cách đó, tay kinh doanh ở Dallas còn gần hơn với trung tâm quyền lực, ít nhất là khi anh ta tới thăm tầng 41, bởi vì từ xa đến nên các vị giám đốc mới mở lời chào anh ta.

Ban cổ phiếu là một bài học cụ thể về những đảo lộn của cuộc sống. Thị trường cổ phiếu từng là nguồn lợi tức lớn nhất của Phố Wall. Những khoản tiền hoa hồng béo bở, ổn định và không thể chuyển nhượng cho ai khác được. Mỗi lần một cổ phần đổi chủ sở hữu, thì người môi giới ở đâu đó đã lấy ra cho mình một khoản tiền hoa hồng hậu hĩnh mà không cần phải làm gì lắm. Khi thực hiện một đơn hàng 200 cổ phần, người môi giới được trả tiền hoa hồng nhiều gấp đôi so với việc thực hiện một đơn hàng 100 cổ phần, mặc dù khối lượng công việc trong hai trường hợp đó như nhau. Sự kết thúc của những khoản hoa hồng môi giới cổ phiếu cố định là vào ngày 1 tháng 5 năm 1975 – được những người môi giới cổ phiếu gọi là ngày Mayday [Quốc tế Lao động?], mà sau nó có thể dự đoán sự sụp đổ của phí môi giới. Các nhà đầu tư chuyển sang bất kỳ người môi giới cổ phiếu nào lấy phí môi giới ít nhất. Kết quả là vào năm 1976, nguồn lợi nhuận của cả Phố Wall đã giảm 600 triệu đô-la. Cỗ máy kiếm tiền đã bị hỏng.

Và rồi cảnh cơ hàn bị lăng nhục thêm, thị trường trái phiếu bùng nổ. Với sự gia tăng của các thị trường trái phiếu, giới kinh doanh và giao dịch cổ phiếu bị thu nhỏ lại. Họ kiếm được ít tiền và vẫn cười đùa đôi lần, nhưng gần như không nhiều bằng những tay bám lấy trái phiếu. Chẳng hạn, không một tay giao dịch cổ phiếu nào lại dám mơ chơi Bài Nói dối với 1 triệu đô-la. Tiền đâu ra?

Chúng tôi là những thực tập sinh không định rơi vào cảnh túng bấn. Điều này khiến cho những tay thuộc ban cổ phiếu nảy sinh vấn đề là làm cách nào thuyết phục chúng tôi cùng tham gia với họ. Khi họ đi lướt qua chương trình đào tạo, khác xa cách mà nhiều tay giao dịch trái phiếu thường làm – kể những câu chuyện hậu trường để thu hút sự chú ý của chúng tôi, thì mấy vị phát ngôn viên của ban cổ phiếu liền đọc một tràng dài kiểu lời chào hàng. Những bài thuyết trình của họ thấm đẫm chất van nài đáng thương, khiến cho vấn đề càng trầm trọng thêm. Về nhiều mặt, chúng tôi có thể là những thực tập sinh chậm chạp. Nhưng chúng tôi cũng đánh hơi thấy mốt mới chứ. Và chúng tôi biết rằng, nhìn chung mức độ quan tâm chăm sóc mà chúng tôi nhận được trong khóa đào tạo tỷ lệ nghịch với tính chất hứa hẹn của công việc mà mỗi người thuyết giáo phụ trách. Về điều này lại có một bài học: Để có được công việc tốt nhất, bạn phải vượt qua việc bị người ta đối xử tồi tệ nhất.

Về vấn đề đó, một thực tập sinh cũng không khác với một khách hàng là bao. Đúng như những người ở ban cổ phiếu phải xu nịnh và chiều theo chúng tôi, họ đã xu nịnh và chiều theo khách hàng của họ để được việc, bởi vì thị trường cổ phiếu đang cạnh tranh quyết liệt. Một nhà đầu tư có thể mua các cổ phần của IBM từ Salomon, nhưng cũng có thể mua ngang giá từ 40 nhà môi giới cổ phần khác. Mặt khác, những người bán trái phiếu có thể đánh, đá những thực tập sinh chúng tôi mà không bị trừng phạt, cũng như họ có thể đấm đá khách hàng của họ nếu họ muốn, bởi vì Salomon gần như là một công ty độc quyền trên thị trường trái phiếu. Từ cách mà chúng tôi bị đối xử, chúng tôi có thể luận ra cả những tiêu chuẩn đối xử trong mọi thị trường lẫn mức độ ưu thế mà Salomon có trên mỗi thị trường đó. Mặc dù có thể không rõ ràng đối với mỗi thực tập sinh, song ai cũng hiểu một thông điệp tối quan trọng: Tham gia cổ phiếu và hôn mông như Willi Loman, tham gia trái phiếu và đá đít như Rambo.

Những người trong ban cổ phiếu dường như có vẻ vẫn hạnh phúc, mãi cho tới lúc dành chút thời gian bên họ tôi mới bắt đầu tìm hiểu tại sao. Đó là vì họ ít chịu áp lực hơn những tay giao dịch và kinh doanh trái phiếu. Họ chấp nhận số phận của mình tựa như những bác nông dân trên cánh đồng miền quê của họa sỹ Breughel và sẵn sàng tán tụng những hoan lạc đơn giản của cuộc đời. Một ngôi nhà trên bờ biển Jersey còn hơn trên Hamptons. Trượt tuyết ở Vermont còn hơn ở Zermatt. Và đối với tôi, để đánh giá thực khó làm sao, những người trong ban cổ phiếu cũng có sự nghiệp. Họ từng chứng kiến những lần thị trường giá xuống, thị trường giá lên và cả thị trường ế ẩm. Miễn là vẫn còn đó thị trường cổ phiếu yêu mến, dường như họ chẳng phiền muộn gì về cảnh bần hàn của mình. Họ liều lĩnh muốn truyền đạt cho chúng tôi tinh thần làm việc của mình. Họ đưa ra một cuốn sách gồm những bài thơ, tiểu luận hay đoạn trích dẫn khi mở đầu chương trình đào tạo. Thực không may khi bắt đầu bằng đoạn trích sau do một người chuyên về cổ phiếu viết, mang tên là “Hồi ký của một tay giao dịch”:

Thị trường, như anh ta đã học được, là biển cả, được kính trọng và sợ hãi. Bạn giương buồm lướt trên mặt biển phẳng lặng giữa một ngày hè bình yên. Bạn khoan khoái hít thở làn gió nhẹ, ùa vào làn nước trong xanh và phơi mình dưới những tia nắng rực rỡ. Hay bạn ngả mình giữa dòng nước lặng yên và lơ mơ ngủ. Một luồng gió lạnh thổi xiết, những đám mây đen ùn ùn kéo đến, mặt trời biến mất, ì ầm tiếng sấm chớp; đại dương nổi sóng dữ dội, con thuyền mong manh của bạn bị biển cả hung dữ tung lên quật xuống rồi vỡ tan từng mảnh. Một nửa đám đông bị quăng xuống biển… bạn bị đánh dạt vào bờ… trần truồng và kiệt sức nằm sóng soãi trên bờ biển, xin cảm ơn vẫn còn sống sót…

Ban cổ phiếu đã vượt qua không chỉ biển cả giận dữ mà còn cả sự chối từ nữa. Thật đau lòng khi phải nhìn thấy điều đó. Mỗi ngày, Laszlo Birinyi – người điều khiển con tàu cổ phiếu – phải vật lộn hết sức tài giỏi và dũng cảm để gây ảnh hưởng tới chúng tôi. Ấy thế mà mỗi ngày ông ta đều thất bại. Thực chất sự vật lộn của Laszlo cho ban cổ phiếu là câu hỏi này: Khi bạn mở tivi lên xem lúc 6h30 và Dan Rather nói cho bạn biết hôm nay thị trường tăng tới 24 điểm, bạn cho rằng ông ta muốn nói thị trường nào? “Cái nào nhỉ?”, Laszlo sẽ nói, “Các cậu cho rằng ông ta đang nói về trái phiếu công nghiệp hạng A ư? Ha ha! Ông ta đang nói về thị trường cổ phiếu.” Nói cách khác, nếu bạn tham gia vào ban cổ phiếu, thì mẹ bạn sẽ biết bạn đang làm gì để kiếm sống.

Laszlo cũng nhấn mạnh về nền văn hóa và lịch sử lâu đời của thị trường cổ phiếu. Mọi người, từ Will Rogers cho tới John Kenneth Galbraith đều từng nói về thị trường cổ phiếu. Tham gia vào ban cổ phiếu, phần nào chúng tôi có thể trở nên vĩ đại hơn nhiều so với bản thân mình. Tôi không chắc rằng chúng tôi đã có thể nhận thức được về bất kỳ điều gì vĩ đại hơn bản thân. Và cho dù chúng tôi nhận thức được, thì có lẽ nó đã không phải là thị trường cổ phiếu. Kết quả là yêu cầu này của Laszlo không bao giờ thực hiện được. Chúng tôi không bị lay chuyển bởi cái lịch sử và văn hóa đó, và dù thế nào chăng nữa, những con người thông thạo đó đã làm cho thị trường cổ phiếu trở thành một nơi dường như không thể làm việc được. Những bài viết xoàng xĩnh của họ thì xun xoe kiểu “Hồi ký của một tay giao dịch”. Như đoạn trích dẫn sau của một người tên là Walter Gutman: “Chẳng có gì giống bảng giá giao dịch của thị trường cổ phiếu, ngoài một phụ nữ – chẳng có gì hứa hẹn, hết giờ này qua giờ khác, ngày lại ngày chỉ là những biến động bất thường, chẳng có gì lại hay thất vọng và đôi khi lại đầy vẻ hấp dẫn đến mức khó tin đến thế.” Nó khiến những chàng trai thực tập sinh nhớ tới các cuộc chinh phục tình dục. Ai biết được những thực tập sinh nữ nghĩ gì?

Tuy nhiên, tận trong sâu thẳm, những con người của thị trường cổ phiếu không quan tâm nhiều tới kiến thức nhà trường hay sách vở, hay bất cứ điều gì đó ngoại trừ kinh nghiệm thực tế. Họ dùng một trích dẫn của nhà đầu tư huyền thoại Benjamin Graham để bảo vệ vị thế của mình: “Trên thị trường cổ phiếu, những bài toán càng phức tạp và khó hiểu thì kết luận mà chúng tôi đưa ra từ đó càng có tính chất suy đoán và không chắc chắn… Bất cứ lúc nào phép giải tích hoặc đại số cao cấp được đưa vào, bạn có thể xem đó như là dấu hiệu báo trước rằng người buôn bán chứng khoán đang cố gắng thay kinh nghiệm bằng lý thuyết.”

Điều này có vẻ buồn cười đối với 80 người có bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh và 14 người có bằng tiến sỹ trong khóa đào tạo này. Cần gì đến một khẩu súng bazôca trong khi luật pháp chỉ cho bạn săn bắn bằng cung và tên. Ban cổ phiếu dường như tụt hậu một cách tuyệt vọng. Những giọng điệu chào hàng không đủ sức nặng. Do vậy, vào một ngày kia, nó ngừng tiếng hát và nhường chỗ cho một trong những “Chàng trai thông minh” của ban nói chuyện với chúng tôi. Anh ta là thứ đồ chơi mới sáng bóng. Công việc của anh ta là làm cho chúng tôi lóa mắt vì sự thông minh của anh ta và bịt mắt chúng tôi bằng khoa học của anh ta. Anh ta làm việc trong lĩnh vực nóng bỏng nhất và mới mẻ nhất của ban – giao dịch lập trình (chương trình này được cho là nguyên nhân của sự sụp đổ thị trường cổ phiếu vào tháng 10 năm 1987). Anh ta thuyết trình về chuyên môn của mình. Rồi anh ta sẵn sàng trả lời những câu hỏi. Một người có bằng MBA từ Đại học Chicago tên là Franky Simon đã dồn anh ta vào thế bí.

Anh bạn Franky đã hỏi: Khi anh giao dịch quyền chọn cổ phiếu, anh có bảo đảm gamma và theta của mình không, hay chỉ delta thôi? Và nếu anh không bảo đảm gamma và theta thì tại sao lại không?”

Vị chuyên gia về quyền chọn cổ phiếu gật gù đầu khoảng mười giây. Tôi không chắc anh ta có hiểu những từ ngữ đó hay không. Chúng tôi – những thực tập sinh hoàn toàn không chú ý tới điều đó. (Bởi đây là câu hỏi độc địa), nhưng tôi cảm thấy rằng bất kỳ chuyên gia về quyền chọn cổ phiếu nào có lòng tự trọng cũng nên tránh không để một thực tập sinh dồn mình vào thế bí. Anh chàng chuyên gia cười gượng gạo để cố thoát khỏi thế khó xử của mình. Anh ta nói: “Các cậu thấy đấy, tôi không biết câu trả lời. Đó có thể là lý do tại sao tôi không gặp rắc rối trong khi giao dịch. Tôi sẽ tìm câu trả lời và ngày mai quay lại. Thực ra tôi không hiểu hết về lý thuyết quyền chọn.”

“Đó…,” Franky nói, “là lý do vì sao anh ở trong ban cổ phiếu.”

Câu nói đó hoàn toàn đánh gục anh ta. Chú ngựa non ra vẻ không có phản ứng nào. Anh ta chỉ biết thu mình lại như quả bóng nhỏ và quằn quại đau đớn. Thực là bẽ mặt! Đối đầu với một thực tập sinh!

Rút cục thì việc có mặt trong ban cổ phiếu quả thực không hề dễ chịu. Hãy hình dung điều khủng khiếp của chúng tôi, khi ban cổ phiếu bắt đầu một chương trình giao lưu với thực tập sinh. Biryini đề nghị ăn tối với mỗi người chúng tôi, và bất ngờ tất cả chúng tôi đều là ứng viên cho Phòng cổ phiếu ở Dallas. Mọi người hoang mang sợ hãi. Nhiều người cố tự tạo cho mình vẻ chẳng có năng lực gì. Một số là chuyên gia trong lĩnh vực đó. Họ vẫn có thể chạy, nhưng họ không thể nào trốn nữa. Không ai an toàn cả. Có tin đồn rằng ban cổ phiếu đang thiết lập danh sách sơ tuyển với những thực tập sinh mà nó “quan tâm”. Rồi chúng tôi nhận được một mẩu tin. Ban cổ phiếu đang có kế hoạch thực hiện một chuyến du thuyền để tạo thêm quen biết với những thực tập sinh có tên trong danh sách.

Điều đó có thể là sự thật không? Hoàn toàn có thật. Sáu thực tập sinh bị Biryini nhắm, mặc dù những người này không biết. Sự việc trở nên rõ ràng khi những lời mời được đưa ra. Bốn trong số sáu lời mời đi tới chỗ những người ngồi dãy ghế sau. Như vậy thì thế giới này cuối cùng cũng còn một chút công lý. Một đi tới chỗ Myron Samuels, người có thể đủ sức để mỉm cười về điều đó bởi ban trái phiếu đô thị đã hứa giúp anh ta. Người thứ sáu là tôi.

Tôi cảm thấy bơ vơ như một nàng dâu của cuộc hôn nhân được sắp đặt, khi lần đầu nhìn thấy sắc mặt ghê tởm của chú rể và chỉ biết kêu rên trong vô vọng. Tôi không nói gì được nhiều về tương lai của mình ở Salomon Brothers. Đối với việc sử dụng các vị giám đốc điều hành như luật sư bào chữa cho mình, sức ảnh hưởng của tôi thật yếu ớt và gián tiếp. Cách để thoát ra khỏi cạm bẫy đang lớn dần này là phải lạnh lùng với ban cổ phiếu, đồng thời phải kích động một vị giám đốc điều hành của một ban khác muốn nhận tôi. Sự liều lĩnh là ở chỗ tôi sẽ làm xúc phạm đến ban cổ phiếu, có thể họ sẽ sa thải tôi. Đúng là ban cổ phiếu không có nhiều quyền lực. Nhưng việc sa thải tôi cũng không đòi hỏi nhiều quyền lực lắm.

Con thuyền trôi dạt tít tận đầu phía nam Manhattan. Những thành viên của ban cổ phiếu cố dồn chúng tôi vào góc và ngâm nga như kẻ hát rong về thị trường của họ. Các thực tập sinh nhảy nhót và lắc lư như giới võ sĩ quyền Anh. Ba phút trước mũi thuyền, rồi tới sau thuyền, rồi đến phòng máy, chúng tôi đi vòng quanh và con thuyền dường như càng ngày càng nhỏ. Một tiếng đồng hồ đi quanh quẩn và con thuyền dường như chỉ là chiếc xuồng nhỏ. Ai đó bắt đầu kể lại “Hồi ký của một tay giao dịch” khi sóng biển vỗ vào mạn chiếc tàu viễn dương Circle Line.

Thao tác lôi kéo của họ thực thô thiển. Họ dồn bạn vào góc thuyền, chuốc rượu whisky cho bạn, đợi cho tới lúc trăng lên khỏi những hẻm núi của Phố Wall và neo con tàu Circle Line vào vị trí để ngắm cảnh tòa nhà Trung tâm Giao dịch Chứng khoán. Rồi một vị giám đốc điều hành đưa tay ôm bạn và bảo rằng bạn là một thực tập sinh có tài xuất chúng, và rằng bạn có muốn cống hiến tài năng đó cho một nghề mà chắc chắn sẽ đạt thành công ở ban cổ phiếu hay không? Hãy nghĩ tới lịch sử! Hãy nghĩ tới nền văn hóa! Thay vào những thứ mà ông ta bảo tôi suy nghĩ, tôi lại nghĩ ra một nguyên tắc hợp lý để tồn tại trên Phố Wall: Không bao giờ đồng ý với bất cứ điều gì được đề nghị trên con thuyền của ai đó, nếu không bạn sẽ hối tiếc vào sáng hôm sau. Tôi lanh lợi một cách lạ thường và đã tìm ra một cách để né tránh rắc rối.

Myron Samuels đã mô tả buổi sáng sau chuyến du thuyền đó như “một buổi sáng của kẻ vô lại”. Sau cuộc tình một đêm thiếu suy nghĩ, bạn thức dậy và lần đầu tiên nhìn thấy khuôn mặt người phụ nữ ngủ cùng, cánh tay bị ghì chặt xuống giường bởi đầu cô ta, và không đánh thức cô ta – như một kẻ vô lại bị mắc bẫy, bạn rút tay ra và chuồn thật lẹ. Trong ánh sáng lờ mờ của buổi sáng, ban cổ phiếu quả thực lại một lần nữa xuất hiện đầy ghê tởm.

Những tay thợ săn vẫn theo đuổi. Chúng tôi được mời chơi trận bóng giữa ban cổ phiếu Salomon với một trong số những bạn hàng lớn nhất của công ty. Vị giám đốc điều hành đêm trước vừa thì thầm những lời ngọt ngào vào tai tôi bây giờ thậm chí chẳng còn nhớ tên tôi nữa. Ông ta quá bận rộn với việc làm cho khách hàng vui vẻ đến nỗi chẳng còn bận tâm về điều gì khác nữa. Thực hiển nhiên là chúng tôi, đội của Salomon, không có nhiệm vụ phải chiến thắng. Chúng tôi phải cười vui bất cứ khi nào đội khách pha trò, thật ngớ ngẩn! Tôi đã đá trượt một vài quả ngay sát cầu môn và vì chuyện đó mà khoái trá cười như một thằng dại – những tay hài hước đấy là khách hàng của chúng tôi – nhưng tôi biết rằng đêm trước tôi đã làm một việc đúng đắn khi tự nhốt mình trong buồng tắm.

Khi chương trình đào tạo gần kết thúc, thì trò chơi Bài Nói dối ở phòng sau đã phát triển. Việc giao dịch trái phiếu đã ám ảnh đầu óc của hơn nửa số người trong lớp. Thay vì nói “mua” và “bán” như những người bình thường khác, họ nói “đặt giá” và “chào giá”. Tất cả các tay giao dịch tương lai đang tạo ra thị trường cho bất cứ thứ gì có thể quy thành công thức, từ điểm số mà đội Giants [đội bóng bầu dục New York Giants] sẽ ghi cho đến số phút trước khi kẻ đầu tiên trong số những người Nhật cảm thấy buồn ngủ, rồi tới số lượng từ trên trang sau tờ New York Post. Vào mỗi buổi sáng, ở phía trước lớp học, một thanh niên hò hét tràn đầy hy vọng: “Tôi đặt giá 25 xu cho cái bánh ngọt của anh.”

Trái phiếu, trái phiếu và thêm nhiều trái phiếu. Bất cứ ai không muốn giao dịch trái phiếu để kiếm sống thì vẫn muốn bán chúng. Nhóm người này hiện bao gồm cả một số phụ nữ mong muốn ở trên sàn giao dịch. Tại Salomon Brothers, đàn ông giao dịch, phụ nữ bán. Không ai thắc mắc về phân biệt đối xử giới tính. Nhưng cách giải thích hợp lý thì rõ ràng tức thì: giữ phụ nữ tránh xa khỏi quyền lực.

Một tay giao dịch đặt cược trên thị trường dưới danh nghĩa quyền lợi của Salomon Brothers. Còn nhân viên kinh doanh là phát ngôn viên của tay giao dịch với thế giới bên ngoài. Nhân viên kinh doanh liên hệ với các tổ chức đầu tư như quỹ hưu trí, công ty bảo hiểm, tổ chức tiết kiệm và cho vay. Những nghiệp vụ tối thiểu cần thiết đối với hai công việc này hoàn toàn khác nhau. Giới giao dịch cần có sự hiểu biết về thị trường. Giới kinh doanh đòi hỏi phải có kỹ năng giao tiếp cá nhân. Nhưng chính những tay giao dịch giỏi nhất cũng là những nhân viên kinh doanh siêu hạng, vì họ đã phải thuyết phục một tay kinh doanh và cả những khách hàng của mình mua trái phiếu X hay bán trái phiếu Y. Và chính những nhân viên kinh doanh giỏi nhất cũng là những tay giao dịch siêu hạng, vì họ đã thuyết phục được khách hàng trao danh mục đầu tư cho mình quản lý.

Sự khác nhau giữa một tay giao dịch và một nhân viên kinh doanh đúng hơn chỉ là vấn đề chức năng. Các tay giao dịch kiểm soát sân chơi và thực không khó để hiểu tại sao lại như vậy. Tiền thưởng cuối năm của một nhân viên kinh doanh lại do những tay giao dịch quyết định. Tiền thưởng của tay giao dịch dựa trên các khoản lợi tức trên sổ sách giao dịch của anh ta quyết định. Một nhân viên kinh doanh không có ảnh hưởng đối với tay giao dịch, trong khi đó tay giao dịch lại kiểm soát hoàn toàn đối với nhân viên kinh doanh. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi nhân viên kinh doanh trẻ trông đầy sợ hãi thì tay giao dịch trẻ lại thong thả hút xì-gà. Hành động chuyên chế của giới giao dịch không gây ngạc nhiên cho ai cả. Họ là những kẻ gần gũi nhất với đồng tiền. Các vị điều hành chóp bu của công ty cũng là dân giao dịch. Chính Gutfreund cũng là một tay giao dịch. Thậm chí có những lời đồn đại thưa thớt – có thể do giới giao dịch khởi xướng, rằng hãy sa thải tất cả đám nhân viên kinh doanh, công ty đơn giản chỉ việc giao dịch trong không khí. Ai mà thèm những khách hàng chết tiệt chứ?

Những tay giao dịch trái phiếu giỏi có đầu óc nhanh nhạy và khả năng chịu đựng lớn. Họ quan sát các thị trường suốt 12 tiếng đồng hồ, đôi khi lên tới 16 tiếng một ngày – không chỉ với thị trường trái phiếu. Họ quan sát hàng chục loại thị trường hàng hóa và tài chính: cổ phiếu, dầu lửa, khí đốt tự nhiên, tiền tệ và bất kể thứ gì khác có thể theo phương thức nào đó gây ảnh hưởng tới thị trường trái phiếu. Họ ngồi vào ghế làm việc từ 7 giờ sáng và cứ thế cho đến tận tối mịt. Không mấy ai trong số họ quan tâm nói chuyện về công việc của mình; họ trầm lặng như những cựu chiến binh của cuộc chiến tranh mà rất ít người biết đến. Họ đánh giá lợi nhuận và tiền. Đặc biệt là tiền, và tất cả những thứ trên đời có thể mua bằng tiền.

Tôi bước vào công ty mà không có kế hoạch cụ thể nào cho tương lai của mình, vậy nên tôi sẵn sàng nghiên cứu gần như mọi thứ. Tuy nhiên, tôi nhanh chóng đi đến kết luận rằng tôi có thể chẳng bao giờ thành một tay giao dịch trái phiếu vì tôi đã gặp phần lớn bọn họ mà chẳng thấy ai giống mình cả. Trong chừng mực nào đó, tôi có thể nói chúng tôi chẳng có điểm chung nào. Và tôi suy xét cẩn thận việc mình trở thành một tay giao dịch giống như là việc tôi làm một người Trung Quốc vậy.

Do đó, tôi mặc định mình là nhân viên kinh doanh. Việc tôi hình dung bản thân là một nhân viên kinh doanh trái phiếu có vẻ tương đối hợp lý hơn là hình ảnh một tay giao dịch. Tôi đang trải qua quá trình chuyển tiếp lúng túng từ trường học sang làm việc bên trong Salomon như khi tôi ở ngoài Salomon vậy. Và nỗi thất vọng không được làm việc trên sàn giao dịch ngày càng làm tôi nản lòng khi chương trình đào tạo tiếp tục. Các nhân viên kinh doanh trái phiếu từ tầng 41 nói với chúng tôi rằng họ là những nhà lãnh đạo công ty theo đúng nghĩa và có thể cung cấp cho tôi một mô hình vai trò, nhưng vẻ mặt sắt đen xì của họ chẳng có gì để bám víu vào được. Họ chẳng thể hiện mối quan tâm nào ngoài việc bán trái phiếu, và hiếm khi đề cập tới cuộc sống ngoài Salomon. Cuộc sống của họ dường như bắt đầu và sẽ chấm dứt trên tầng 41. Và tôi bắt đầu tự hỏi có phải tôi sắp sửa bước vào Vùng ảm đạm hay không.

Có nhiều hạng người đã thành công trên sàn giao dịch hơn so với suy nghĩ ban đầu của tôi. Một số từng nói chuyện với chúng tôi là những người thật kinh khủng. Họ chà đạp lên những người khác để tiến bước. Họ quấy rối phụ nữ. Họ làm cho các thực tập sinh cảm thấy nhục nhã. Họ không có khách hàng. Họ chỉ có nạn nhân. Còn những người khác đương nhiên là rất đáng được khâm phục. Họ thông cảm với những người xung quanh. Họ đối xử công bằng với khách hàng. Họ tử tế với thực tập sinh. Vấn đề không phải một Big Swinging Dick vốn dĩ là ác quỷ. Vấn đề là ở chỗ, anh ta không tự coi bản thân là xấu hay tốt chừng nào anh ta còn có thể vung cây gậy lớn của mình. Những kẻ xấu không phải chịu sự trừng phạt đích đáng theo Đạo luật V trên tầng 41. Họ đã thăng hoa (mặc dù thành công vì là người xấu, hay có điều gì đó trong công việc kinh doanh đã hoàn toàn ưu đãi họ, thì chúng cũng chẳng liên quan gì đến nhau). Lòng tốt không được đếm xỉa trên sàn giao dịch. Nó vô thưởng vô phạt. Có thể là có hoặc có thể là không.

Bởi vì tầng 41 là ngôi nhà được lựa chọn của những kẻ có tham vọng nhất, và bởi vì không có quy tắc nào khống chế sự mưu cầu về lợi ích và danh tiếng, những người làm việc ở đó, kể cả những kẻ khát máu nhất, cũng có vẻ rình rập nhau. Nơi ấy được chi phối bởi một quan niệm đơn giản, rằng sự mưu cầu không kiềm chế về tư lợi cá nhân là lành mạnh. Ăn thịt người hoặc bị người ăn thịt. Những thành viên của tầng 41 lúc nào cũng phải để mắt xem liệu có ai đó đang rình mò theo dõi mình không. Mức độ về tư cách đạo đức có thể chấp nhận được trong Salomon Brothers quả thực là rộng rãi. Người ta cho rằng khả năng của thị trường tự do đã nhào nặn nên cách cư xử của con người thành một khuôn mẫu được xã hội chấp nhận.

Là một thực tập sinh của Salomon, hẳn nhiên bạn không quá băn khoăn nhiều về tư cách đạo đức. Bạn cứ cố để tồn tại thôi. Bạn cảm thấy được tâng bốc khi ở trong cùng nhóm với những kẻ luôn luôn hất cẳng mọi người. Như một đứa trẻ con bị kẻ hay bắt nạt ở trường kín đáo đối xử tử tế, bạn có vẻ không nhận thấy những thiếu sót của dân buôn trái phiếu để đổi lấy sự che chở của họ. Tôi đã để ý khi những người này đến nói chuyện với chúng tôi và quan sát biểu hiện tính cách của những người thuộc loại mà tôi chưa bao giờ gặp phải từ trước tới nay, trừ trong tiểu thuyết. Như một sinh viên, bạn phải bắt đầu từ tiền đề thành công của mỗi người trong số này, rồi phải cố chỉ ra lý do tại sao. Và lần đầu tiên, với lối tư duy này, tôi xem cách Human Piranha hành động.

Human Piranha (Người cá hung dữ – Piranha là loại cá ăn thịt hung dữ ở sông Amazon) đã đến nói chuyện với chúng tôi về trái phiếu chính phủ, mặc dù anh ta thông thạo việc quản lý đồng tiền đến mức có thể nói về bất cứ thứ gì mình muốn. Anh ta là tay kinh doanh trái phiếu duy nhất khiến những tay giao dịch khác e dè bởi anh ta còn hiểu công việc của họ rõ hơn họ, và nếu họ muốn chơi xỏ bằng cách đưa cho anh ta một mức giá sai, thì anh ta thường có cách để làm cho họ bẽ mặt bằng lời nói và tiếng huýt chế giễu. Điều đó đã làm cho đám nhân viên kinh doanh hết sức thỏa mãn khi xem anh ta hành động.

Dáng người Human Piranha thấp và to ngang, giống như một cầu thủ tiền đạo trong đội bóng bầu dục. Sự bất thường nhất về anh ta là việc thể hiện nét băng giá trên khuôn mặt. Đôi mắt đen của anh ta thực ra là hai cái lỗ đen hiếm khi di chuyển. Và khi chúng di chuyển thì rất chậm chạp, trông như kính tiềm vọng vậy. Miệng anh ta gần như không bao giờ thay đổi hình dạng, nó chỉ hơi mở rộng ra và thu nhỏ lại một cách tương đối khi anh ta nói. Từ khuôn miệng đó chỉ toàn toát ra luồng khí phân tích và báng bổ.

Ngày hôm đó, Piranha bắt đầu bằng cách chĩa vào chính phủ Pháp. Chính phủ Pháp đã phát hành một loại trái phiếu được mọi người gọi là Giscard (đúng như loại trái phiếu được Tom Wolfe mô tả trong cuốn Bonfire of the Vanities (Lửa phù hoa). Wolfe biết tới trái phiếu Giscard qua một tay giao dịch ở Salomon, và trên thực tế, để xây dựng nên nhân vật tay giao dịch huyền thoại trong tiểu thuyết của mình, Wolfe đã phải lên tầng 41 và ngồi gần Human Piranha). Giscard đã gây rắc rối cho Piranha. Sở dĩ nó có tên như vậy vì là con đẻ mang chất xám của chính phủ do Valéry Giscard d’Estaing đứng đầu. Năm 1978, chính phủ Pháp đã thu được khoảng 1 tỷ đô-la từ trái phiếu đó. Nhưng đó không phải là vấn đề. Vấn đề là ở chỗ một số điều kiện quy định rằng trái phiếu đó có thể chuyển đổi được thành vàng với giá 32 đô-la/ounce, nghĩa là người nắm giữ số trái phiếu trị giá 32 triệu đô-la nếu không muốn nhận tiền mặt thì có thể nhận 1 triệu ounce vàng.

“Những con ếch chết mẹ đó đang tự để cho da mặt của chúng bị xé toạc ra,” Piranha nói, hàm ý rằng chính chủ Pháp lúc này đang mất nhiều tiền vì đã phát hành trái phiếu Giscard, thực tế chúng có thể đổi thành vàng và giá vàng hiện tại là 500 đô-la/ounce. Sự ngu xuẩn của những con ếch chết tiệt đó đã khiến anh ta cảm thấy kinh tởm. Anh ta liên tưởng những con ếch đó với thói quen kết thúc công việc vào lúc 5 giờ chiều của người Pháp. Nguyên tắc làm việc kiểu châu Âu là thứ anh ta nhạo báng, mặc dù anh ta thể hiện điều đó theo cách khác. Có lần anh ta chửi một nhóm người châu Âu lục địa và người Anh trong Salomon đang phàn nàn về tình trạng làm việc quá sức bằng cách gọi họ là “đám pêđê châu Âu”.

Ngay khi kết thúc câu chuyện về nước Pháp, anh ta liền rút ra các biểu đồ thể hiện cách thức mà người ta kinh doanh dựa trên sự chênh lệch giá trái phiếu chính phủ. Khi anh ta nói, những người ở dãy ghế trước trở nên hoảng sợ, còn những người ở dãy ghế sau bắt đầu cười rúc rích, và những người dãy trước càng sợ hãi hơn, lo sợ rằng những người ngồi dãy ghế sau sẽ làm cho Piranha ăn thịt tất cả chúng tôi. Piranha không nói chuyện như một người bình thường. Anh ta nói kiểu như “Đ. mẹ nếu mày mua các trái phiếu đ. mẹ này trong một đ. mẹ một vụ giao dịch, thì đ. mẹ mày sẽ bị đ. mẹ”, và “nếu mày không để ý đ. mẹ trong cái thời hạn đ. mẹ hai năm, đ. mẹ mày sẽ bị lột đ.mẹ da mặt.” Danh từ, động từ, tính từ đều đầy rẫy “đ. mẹ”, không còn chỗ trống nào trong mỗi câu phát biểu của anh ta. Thế giới của anh ta đầy những vật vô tri vô giác đang “đ. mẹ” nhau và những con người đang “bị lột da mặt”. Chúng tôi chưa bao giờ được biết về những con người “bị lột da mặt” này. Và anh ta thường xuyên nói điều đó như một cái tật đến mức mà mỗi lần anh ta nói lại điều đó, dãy ghế sau lại cười rúc rích. Human Piranha, một sinh viên tốt nghiệp Harvard, chẳng đoái hoài gì về điều đấy. Anh ta luôn luôn như thế.

Hàng chục nhân viên kinh doanh và những tay giao dịch của ba nhóm trái phiếu (chính phủ, công ty và thế chấp) đã đến thuyết giảng trong chương trình đào tạo của chúng tôi. Tôi chỉ nhớ được một vài người mà thôi. Human Piranha xuất thân từ giới kinh doanh trái phiếu chính phủ, nét đặc trưng của anh ta là những câu “đ. mẹ” chứ không phải là đặc điểm của những người kinh doanh trong lĩnh vực này. Một người đại diện cho công ty thường hay trích dẫn thành ngữ. Nhưng con người này có một cách tiếp cận khác biệt, mang hàm ý dọa dẫm chúng tôi. Human Piranha làm cho những người ở hàng ghế trước e sợ, nhưng với dãy ghế sau anh ta chỉ tỏ ra kỳ quặc. Một con người đại diện cho công ty lại dọa dẫm tất cả mọi người.

Vào một buổi sáng, ông ta đến sớm mà không báo trước, khoảng chín tuần sau khi bắt đầu chương trình. Tên của ông ta… Chà, chúng ta hãy gọi là Sangfroid (Kẻ máu lạnh), vì nước đá đang chảy qua những mạch máu của ông ta. Mỗi khi ông ta nói lại phát ra một chất giọng kiểu Anh cao và nhẹ, càng làm tăng sự ớn lạnh và chọc thủng cả bầu không khí. Ông ta có chiều cao vừa phải, đủ để quan sát toàn bộ lớp học – gồm 12 dãy ghế ngang và 15 dãy dọc. Một lối đi giữa các dãy ghế chạy suốt căn phòng từ đằng trước đến đằng sau. Độ một phút sau khi ông ta đến, ông ta chẳng nói gì. Một phút dường như trở nên dằng dặc khi nó hoàn toàn thuộc về một con người cao to, lạnh lùng trong bộ vest màu xám đang liếc nhìn 127 thực tập sinh bị trói.

Sangfroid đi lại giữa các hàng ghế. Nhiều lúc ông ta làm dãy ghế sau hoảng sợ. Bạn có thể nghe thấy họ thì thầm: “Tại sao lão lại đi xuống đây nhỉ? Lão không thể làm thế, lão… đang… tính… làm gì?” Nhưng ông ta đã dừng lại trước khi đi tới dãy ghế sau cùng. Ông ta chọn một người nào đó đang ngồi trên mép ghế ở giữa căn phòng và hỏi: “Tên anh là gì?”

“Ron Rosenberg,” cậu thực tập sinh đó nói.

“Ồ, vậy Ron!” Sangfroid nói, “hôm nay LIBOR bao nhiêu?

LIBOR? LIBOR? Mấy người dãy ghế sau thì thầm với nhau: “LIBOR là cái quái gì?” LIBOR là viết tắt của cụm từ “London interbank offered rate” (lãi suất cho vay liên ngân hàng London). Nó là lãi suất tại London mà ngân hàng này cho ngân hàng khác vay, nó được niêm yết vào lúc 8h sáng theo giờ London hoặc 3 giờ sáng theo giờ New York. Điều đó có nghĩa là cậu thực tập sinh đó có 4 tiếng đồng hồ để tìm ra lãi suất LIBOR trước khi giờ học bắt đầu lúc 7h sáng. Cùng với mọi thông tin khác trên thị trường cổ phiếu, sáng nay Sangfroid mong đợi LIBOR từ chót lưỡi của chúng tôi.

“Sáng nay,” Ron nói, “LIBOR là 7,25%, tăng 25 điểm so với ngày hôm qua”. Hết sức tuyệt vời! Sangfroid đã tình cờ gọi được một người trong lớp biết về lãi suất LIBOR. Ít nhất là một nửa lớp không thể biết LIBOR nghĩa là gì, và số người biết rằng lãi suất này được giao dịch ở đâu lại càng ít hơn.

Tuy nhiên, Sanfroild chấp nhận câu trả lời một cách lạnh nhạt, thậm chí ông ta không thèm khen ngợi Rosenberg. Ông tiếp tục tiến về phía cuối lớp và sự căng thẳng gia tăng theo mỗi bước chân.

“Cậu,” ông ta nói với một người ở dãy ghế sau, “tên cậu là gì?”

“Bill Lewis,” cậu thực tập sinh đó trả lời.

“Bill, sáng nay chênh lệch TED là bao nhiêu?” Sangfroid hỏi và mọi người toát mồ hôi. TED là mức chênh lệch giữa lãi suất LIBOR và lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ kỳ hạn ba tháng. Mức chênh lệch này vừa được công bố nửa tiếng trước lúc lớp học bắt đầu. Cái đó không thành vấn đề. Vấn đề là Lewis chẳng biết bất cứ thứ gì. Với Lewis, thờ ơ là vấn đề nguyên tắc. Anh ta đỏ mặt, cắn môi và nhìn với vẻ thách thức vào Sangfoird: “Tôi không biết.”

“Tại sao không?” Sangfroid hỏi.

“Sáng nay tôi không xem cái đó,” Lewis trả lời.

Sự tiếp cận với kiến thức thị trường! Đây chính là điều mà Sangfroid xông vào tận phía sau lớp học để tìm kiếm. Kết quả là: dốt nát, lười biếng, thiếu lòng tận tâm với công việc. Điều này không thể chấp nhận được, ông ta nói với chúng tôi. Một thực tập sinh ở Salomon phải luôn cập nhật thông tin và có đủ năng lực, như Gutfreund hay nói. Không còn nghi ngờ nữa, ấn tượng kém cỏi về chúng tôi đang được hình thành trên sàn giao dịch. Rồi ông ta bỏ đi, nhưng trước khi bỏ đi, ông ta cho chúng tôi biết rằng thỉnh thoảng ông ta sẽ tạt lại đây.

Sangfroid và Huma Piranha hóa ra lại là hai người mà tôi thích nhất. Không có chút nhảm nhí nào về họ. Họ thô lỗ nhưng cũng rất tự trọng, và theo tôi nghĩ, họ công bằng. Vấn đề ở tầng 41 là những con người ở đó rất cứng rắn và không công bằng – theo lời kể của nhiều thực tập sinh, là những tên khốn nạn. Bạn tồn tại được với Human Piranha và Sangfoird bằng cách đơn giản là tự lượng sức mình. Làm sao bạn có thể sống sót với một tay giao dịch sẽ ném chiếc điện thoại vào đầu bạn mỗi khi bạn bước qua bàn của hắn ta? Làm sao một cô gái đối phó được với một viên quản lý đã có vợ luôn tìm cách quyến rũ cô ta mỗi khi hắn thấy cô ta một mình? Chương trình đào tạo này không phải là lớp học về sự sống còn, nhưng đôi khi người trong cuộc lại đặt sự khủng khiếp của tầng 41 vào một viễn cảnh. Riêng tôi, người đó là Richard O’Grady – một tay kinh doanh trái phiếu trẻ, mới tốt nghiệp khóa đào tạo được một năm và đang làm việc tại tầng 41.

Khi O’Grady bước vào lớp, điều đầu tiên anh ta làm là tắt chiếc máy video thường dùng để thu lại diễn biến của lớp học. Sau đó, anh ta đóng cửa và sau nữa là kiểm tra xem có kẻ nghe lén nào ở gần cửa sổ hay không rồi đóng chặt cửa sổ lại. Chỉ sau đó anh ta mới ngồi xuống.

Anh ta bắt đầu kể lại cho chúng tôi nghe nguyên do anh ta đến với Salomon. Anh ta từng là một trong những luật sư của công ty. Luật sư, khi thấy số tiền mà giới giao dịch kiếm được, cuối cùng cũng trở thành tay giao dịch. Thật ra chính công ty đã mời O’Grady nộp đơn ứng cử. Cuộc phỏng vấn vào chiều ngày thứ Sáu. Đó là buổi phỏng vấn đầu tiên với vị giám đốc quản lý tên là Lee Kimmell. Khi O’Grady bước vào phòng làm việc của Kimmell thì ông ta đang đọc bản lý lịch của anh. Ông ta ngước lên và nói: “Amherst Phi Beta Kappa [bằng khen đặc biệt cho kết quả học tập], vận động viên ngôi sao, Trường Luật Harvard, anh nhất định phải chơi gái nhiều lắm.” O’Grady cười lớn (làm gì nữa bây giờ?).

“Cười cái gì?” Kimmell hỏi.

“Cái ý nghĩ tôi chơi gái nhiều lắm,” O’Grady đáp.

“Nó chẳng có gì buồn cười,” Kimmel nói, một sự đồi bại từ giọng ông ta tuôn ra. “Anh chơi gái nhiều cỡ nào?”

“Đó không phải là việc của ông,” O’Grady nói.

Kimmell đập bàn: “Đừng có tào lao. Nếu tôi muốn biết, anh phải nói cho tôi nghe. Hiểu không?”

Và bằng cách nào đó O’Grady ngoằn nghèo khỏi cuộc phỏng vấn này và những cuộc phỏng vấn khác, và cho đến cuối ngày, anh ta gặp Leo Corbett, người đã phỏng vấn và nhận tôi.

“Này Dick (tên thân mật của Richard)”, Corbett nói, “anh sẽ nói gì nếu tôi sẽ nhận anh vào làm?”

“À…,” O’Grady nói, “Tôi rất thích làm việc cho Salomon, nhưng tôi cũng thích về nhà và nghĩ đến việc này trong vòng một hay hai ngày.”

“Giọng anh giống như một luật sư hơn là một tay giao dịch,” Corbett nói.

“Leo, không phải tôi đang làm một vụ giao dịch, tôi đang thực hiện một cuộc đầu tư.” O’Grady đáp.

“Tôi không muốn nghe những cục phân bò thông minh của Trường Luật Harvard,” Corbett nói. “Tôi bắt đầu nghĩ anh đang phạm một sai lầm lớn… Tôi sẽ bước ra khỏi đây và quay trở lại trong 10 phút, và khi trở lại, tôi muốn nghe câu trả lời.”

Phản ứng đầu tiên của O’Grady, anh ta kể lại, là anh ta vừa mới phạm một quyết định sai thê thảm. Sau đó anh ta suy nghĩ lại như một con người (cái hay của O’Grady khác hẳn với những người khác ở tầng 41 vì anh ta có vẻ là một người thành thật). Salomon mời anh ta phỏng vấn. Ở đâu từ trên trời rơi xuống những tên “đầu đít” đưa ra tối hậu thư như vậy? O’Grady trở nên giận dữ. Corbett đã bỏ đi lâu hơn ông ta hứa và khiến O’Grady càng giận dữ hơn.

“Và…” Corbett nói khi ông ta quay lại.

“Và, tôi sẽ không làm việc ở đây vì tất cả tiền bạc trên thế giới này,” O’Grady đáp. “Tôi chưa bao giờ gặp nhiều cái lỗ thối như vậy trong cuộc đời mình. Hãy giữ lại việc làm này và đi mà dán nó vào cái lỗ thối của ông.”

“Cuối cùng thì tôi cũng nghe được vài thứ tôi thích,” Corbett nói. “Đó là câu thông minh đầu tiên mà anh thốt ra trong cả ngày hôm nay”.

O’Grady chạy khỏi Salomon Brothers và nhận một công việc tại một công ty khác ở Phố Wall. Nhưng đó chỉ là bắt đầu của câu chuyện. Câu chuyện, O’Grady nói, lại tiếp tục một năm sau khi anh ta nói chuyện với Leo Corbett. Salomon gọi lại cho anh ta và đã xin lỗi về cách xử sự của mình. Đó là việc làm thông minh bởi vì O’Grady không chỉ đã trở thành một tay giao dịch trái phiếu xuất sắc mà còn là một của quý hiếm rất đáng cần cho sàn giao dịch (tôi từng thấy anh ta cho người ăn xin vài đồng lẻ). Đáng ngạc nhiên ở đây không phải là Salomon gọi mà là anh ta đồng ý lắng nghe. Điều duy nhất mà lịch sử dạy chúng ta, như một người rộng lượng từng nói, chẳng là gì cả. O’Grady nhận lời Salomon Brothers.

Và bây giờ anh ta chuẩn bị nói về thứ mà tất cả chúng tôi đều muốn biết. “Vậy thì các cậu muốn biết làm cách nào đối phó với những thằng lỗ thối đó, phải không?” Đám thực tập sinh gật đầu ngay. O’Grady nói anh ta phát hiện ra điều bí mật sớm hơn hầu hết những người khác. Khi mới bắt đầu, anh ta gặp ngay một bài học kinh nghiệm.

Lúc đó anh ta là chân sai vặt cho một tay kinh doanh trái phiếu có thâm niên tên là Penn King, một Big Swinging Dick tóc vàng, cao to. Vào một ngày nọ, King bảo anh ta tìm giá của bốn loại trái phiếu cho một vị khách hàng lớn, Morgan Guaranty. O’Grady chạy đi nhờ một tay giao dịch gần đó tìm giúp. Và khi tay giao dịch đó nhìn thấy anh ta, hắn quát:

“Mẹ kiếp, mày muốn gì?”

“Chỉ vài cái giá thôi,” O’Grady nhỏ nhẹ.

“Tao đang bận,” tay giao dịch đáp.

Thôi thì, O’Grady nghĩ, mình sẽ tìm thử giá trên máy Quotron vậy [máy tính chuyên dụng cho dân buôn tài chính]. Và khi O’Grady đang gõ bàn phím, Penn King yêu cầu bảng giá cho khách hàng: “Tôi đã nói với cậu là lấy cho tôi bảng giá, thật là đồ chết tiệt!” Thế là O’Grady chạy lại tay giao dịch đó và hỏi lần nữa.

“Mẹ kiếp,” tay giao dịch chửi thề, “nè, tìm trong đống giấy tờ này coi” và đưa cho O’Grady một xấp bảng giá trái phiếu.

O’Grady quay lại bàn và chỉ tìm thấy đầy đủ giá cả của các loại trái phiếu, trừ loại anh cần.

“Mấy cái giá chết tiệt ấy đâu?” Penn hỏi.

O’Grady giải thích câu chuyện giữa anh và tay giao dịch kia.

“Vậy thì, mày phải làm thế này này, mày nghe tao nói không?” Peen King hoàn toàn nổi khùng.

“Mày hãy đến chỗ thằng lỗ thối đó và nói: ‘Này thằng lỗ thối, mẹ kiếp, vì lần đầu mày đã đối xử tốt với tao như vậy, nên bây giờ thì đưa đây mấy cái giá chết tiệt cho Morgan Guaranty.’”

O’Grady quay lại chỗ tay giao dịch. Anh ta tính toán rằng mình có thể sửa lại, bỏ đi mấy phần về lỗ thối và mẹ kiếp. Trong đầu anh ta đã có một phiên bản sạch sẽ hơn.

“Này, tôi thành thật xin lỗi đã làm phiền anh,” O’Grady lên kế hoạch, “nhưng Morgan Guaranty là một trong những khách hàng lớn nhất của chúng ta và chúng tôi cần anh giúp đỡ…”

Nhưng khi anh ta tiến lại thì tay giao dịch đứng dậy và hét:

“Mẹ kiếp, mày đang làm cái quái gì ở đây? Tao đã nói taooo... đđđang... bbbận.”

“Nè, thằng lỗ thối,” O’Grady nói, quên luôn cái phiên bản sạch sẽ, “mẹ kiếp, vì lần đầu mày đã vô cùng tốt bụng, cho nên tốt hơn hết mày nên đưa cho tao mấy cái giá chết tiệt ngay bây giờ đi”.

Tay giao dịch đó ngả lưng vào ghế. O’Grady to hơn hắn gấp đôi. Còn anh ta đứng trước mặt và nhìn chòng chọc tay giao dịch khoảng 1 phút. “Thằng lỗ thối,” anh ta gằn giọng lần nữa cho thêm tác dụng.

Và cuối cùng, tay giao dịch trông như bị ma ám. “Pennnnn!” hắn nửa hét nửa rên rỉ xuyên qua cái sàn giao dịch tới sếp của O’Grady. “Mẹ kiếp, có chuyện chó gì với thằng này vậy?”

Penn nhún vai một cách ngây thơ như thể ông ta chẳng biết gì. O’Grady quay trở về ghế, nơi có vài tay giao dịch đang đứng theo dõi diễn biến câu chuyện.

Tất nhiên, cuối cùng tay giao dịch đó cũng đi tới chỗ anh ta và chìa ra mấy cái giá.

“Và sau đó,” OGrady nói với đám thực tập sinh, “hắn ta không còn ‘mẹ kiếp’ tôi nữa”.

Như bạn có thể tưởng tượng, câu chuyện làm cho đám thực tập sinh ngồi dãy bàn cuối vui sướng điên loạn, giống như khán giả reo hò sau một cú sút thủng lưới. Còn dãy bàn đầu thì như bị một cục bướu nổi lên trong họng. Qua quá trình đào tạo và làm việc, O’Grady đã là một người lọc lõi và thoải mái. Đúng là trong con người anh ta có cái chất đểu cáng của dân Ireland, nhưng bất kỳ ai có thể ngang nhiên bước lên tầng 41, thì đó là O’Grady. Vậy thì luân lý của câu chuyện này là gì? Dễ ợt. Không có cách vòng vo nào để đánh bại ai đó trên tầng 41, ngay cả khi bạn tốt nghiệp Trường Luật Harvard, với bằng khen Phi Beta Kappa, là một ngôi sao thể thao và chơi gái tè le. Đâu là bí quyết để đối phó với mấy thằng lỗ thối? “Tập tạ hoặc karate,” O’Grady nói.

Như để xác nhận ấn tượng này, theo gót O’Grady là ban trái phiếu thế chấp. Ngoại trừ John Meriwether, những tay giao dịch trong ban trái phiếu thế chấp đều là Big Swinging Dick của công ty. Ban này là nơi thu nhiều lợi nhuận nhất cho công ty và là nơi mà đám thực tập sinh nóng lòng muốn được làm việc. Nó có đủ điều kiện để được phép dơ bẩn. Và nó đã chấm dứt khóa đào tạo của chúng tôi.

Những chiếc bàn giao dịch trái phiếu thế chấp trên tầng 41 nằm giữa các cầu thang máy và cái góc mà tôi đã chọn để ẩn mình. Tôi đã chọn cái góc đó rất cẩn thận. Cái góc đó gồm một vị giám đốc điều hành thân thiện và một nhóm nhỏ những người bất bạo động của ông. Vị giám đốc này đã hứa cứu giúp tôi ra khỏi Ban cổ phiếu ở Dallas. Ông cũng tạm thời cho tôi chỗ trú chân. Mỗi ngày khi ra khỏi cầu thang máy và hộc tốc chạy, tôi phải quyết định xem có nên đi qua khu giao dịch trái phiếu thế chấp không. Và mỗi ngày tôi đều quyết định không nên qua thì tốt hơn. Những tay giao dịch trái phiếu loại này đã phát ra luồng sóng có hại tới mức mà chiều nào tôi cũng phải tránh họ. Thế rồi sau đó tôi cảm thấy khó chịu. Họ nổi tiếng vì ném điện thoại vào đầu đám thực tập sinh và người ta bảo họ đã đặt dây dài thêm để tăng tầm ném. Về sau tôi thấy họ còn sử dụng những quả lựu đạn điện thoại đó đối với đám chuyên gia dày dạn nhưng làm việc thời vụ cho Salomon. Kể cả những kẻ làm việc ở Salomon Brothers nhiều năm và đã từng trải qua mọi sự lăng mạ vẫn không dám đi qua ban giao dịch trái phiếu thế chấp. Mọi công ty trên Phố Wall đều có những tên đểu giả xấu xa nhất, và đấy là của chúng tôi.

Mặc dù tôi lo sợ trước sự hiện diện của những tay giao dịch thế chấp, nhưng tôi vẫn cứ tò mò về công việc và ông chủ của họ, Lewie Ranieri. Mọi thực tập sinh ở Salomon đều tò mò về Ranieri. Lewie Ranieri là người cuồng nhiệt và có lẽ là một thiên tài, nhân vật truyền thuyết của Salomon, người đã khởi nghiệp từ phòng thư tín và leo lên được sàn giao dịch, sau đó tạo ra một thị trường trái phiếu thế chấp ở Mỹ (và bắt đầu một thị trường tương tự ở Anh). Ranieri là Salomon và Salomon là Ranieri. Ông ta liên tục được đem ra làm gương cho tất cả những gì đặc biệt về công ty chúng tôi. Ông ta là bằng chứng rằng sàn giao dịch là nơi trọng dụng nhân tài. Ở Salomon Brothers, do những gì Ranieri đã đạt được, rất nhiều cái dường như không thể đạt được lại có thể thành công ở Salomon. Tôi chưa bao giờ thấy con người vĩ đại đó. Nhưng tôi đã đọc về ông ta. Chúng tôi đã được báo rằng ông ta sẽ đến nói chuyện với chúng tôi.

Ông ta không xuất hiện. Thay vào đó, ông ta cử ba tay giao dịch cao cấp đại diện cho ban của ông ta đến. Cả ba người này cộng lại dễ lên tới khoảng 400 cân, tất cả cùng nhau đứng ngay trước lớp học, người ở giữa hút điếu xì-gà to nhất mà tôi từng thấy. Rẻ, nhưng to. Hắn là người mà tôi còn nhớ.

Hắn chẳng nói năng gì, chỉ lầm bầm và cười mỗi khi thực tập sinh đặt câu hỏi. Mấy chục thực tập sinh đều muốn giao dịch trái phiếu thế chấp. Do vậy họ đã đặt nhiều câu hỏi, song chẳng có câu trả lời nào. Có một thực tập sinh đã hỏi điều gì đó ngớ ngẩn, hắn chỉ phản ứng một lần duy nhất đó bằng tiếng Anh: “Vậy anh muốn trở thành tay giao dịch thế chấp?” Rồi cả ba bọn họ cùng phá lên cười nắc nẻ như một hạm đội tàu kéo đang ấn còi inh ỏi.

Cậu thực tập sinh xấu số đó muốn trở thành tay giao dịch trái phiếu thế chấp. Và 35 người khác cũng vậy. Đến khi kết thúc khóa đào tạo, có năm người được chọn. Tôi bị loại và như thế lại hay. Tôi được đưa về London để trở thành một nhân viên kinh doanh trái phiếu. Tôi sẽ trả hết vốn sách vở mà tôi học được trên sàn giao dịch London. Nhưng chính đây là lúc để tiếp tục câu chuyện về những tay giao dịch trái phiếu thế chấp, vì họ không chỉ là linh hồn của Salomon Brothers mà còn là thế giới vi mô của Phố Wall trong thập niên 1980. Thị trường trái phiếu thế chấp là một trong ba hay bốn trường hợp kinh điển mà sách giáo khoa sử dụng để minh họa cho sự thay đổi đang diễn ra trong thế giới tài chính. Tôi đã dõi theo những tay giao dịch trái phiếu thế chấp ngay từ vị trí của mình ở London, chủ yếu là vì tôi bị hút hồn bởi ý nghĩ rằng những kẻ đáng sợ và khó gần này đã có thể làm rất tốt cho chính họ. Tôi đã bị Ranieri làm mê hoặc. Trong mấy năm liền, ông ta và những tay giao dịch của mình đã kiếm được nhiều tiền hơn bất kỳ ai trên Phố Wall. Tôi không thích họ chút nào, song đó có thể chính là điểm lợi thế của họ. Sự hiện diện của họ là dấu hiệu sức mạnh của công ty, đúng như tôi là dấu hiệu của sự ốm yếu. Nếu như những tay giao dịch trái phiếu thế chấp này rời Salomon, tôi tính rằng, chúng tôi có lẽ cũng rời khỏi đó. Sẽ chẳng là gì cả ngoài một đám những gã bảnh trai.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.