Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 5

Chương V. Tình anh em cùng hội

Tôi không làm ơn. Tôi tích lũy nợ.

—Ngạn ngữ của người Sicilian

Lúc đó là tháng 1 năm 1985, Matty Oliva vừa tốt nghiệp Đại học Harvard và hoàn thành xong chương trình đào tạo của Salomon Brother. Tin tốt lành là anh ta vừa nhận được công việc tốt nhất ở ban giao dịch thế chấp. Còn tin xấu là trong một năm đầu tiên, anh ta sẽ trở thành một đối tượng phải chịu đựng sự ngược đãi. Những tay giao dịch cấp cao vẫn duy trì sự ngược đãi đó cho đến khi mọi sự sáng tỏ. Nó rửa sạch mọi kỳ vọng của đám thực tập sinh, làm cho họ nhận ra rằng mình là loài hạ đẳng nhất mà Chúa đã tạo nên. Giới giao dịch là những kẻ bị đỗ lỗi cho câu chuyện tệ hại dưới đây đã xảy ra với Matty Oliva.

Vài tay giao dịch thường xuyên nhờ Matty mua thức ăn trưa. Họ hò hét: “Nè, thằng quái gở, lo kiếm vài món ngon cho tụi tao đi!” Trong khoảnh khắc bộc lộ thái độ xấu tính đó, họ tiếp tục, còn chút xíu nữa là lịch sự: “Tới giờ rồi, phải không nào, Matty?” Không cần phải lịch sự với Matty vì Matty là nô lệ. Không cần phải nói chính xác với anh ta mua cái gì bởi vì mỗi thực tập sinh đều biết rằng giới giao dịch thế chấp ăn bất cứ cái gì bất cứ lúc nào.

Giống như những gã say rượu khốn khổ, giới giao dịch thế chấp là những kẻ háu ăn. Không gì làm họ giận dữ hơn là sống mà không có đồ ăn, ngoại trừ bị việc gì đó làm gián đoạn bữa ăn. Nói cách khác, họ không phải là loại người bị béo phì vì bệnh hyperthyroid , chỉ uống Coca dành cho người ăn kiêng và nghe kẻ khác hỏi: “Làm sao anh lại mập vậy trong khi chẳng ăn gì cả?” Họ cũng không phải là loại người mập mạp dễ thương như Ed McMahon, được yêu mến bởi chẳng làm hại đến ai. Giới giao dịch thế chấp là những con heo ủn ỉn, lắc lư cái bụng chướng giống như võ sĩ sumo. Khi bị sai bảo, cậu thực tập sinh chỉ cần mua tất cả thức ăn mà anh ta có thể xách về.

Vào ngày tháng Giêng định mệnh đó, Matty leo năm tầng cầu thang từ sàn giao dịch lên căn tin. Thật xấu hổ nếu để người ta thấy mình là một tên đầy tớ của bọn giao dịch thế chấp khi đi bằng thang máy, trong khi những thực tập sinh khác sung sướng được làm một người tự do. Matty nhanh chóng bỏ đầy khay với khoai tây chiên, hamburger, Coca-Cola, kẹo và bánh sô-cô-la, những thứ được sản xuất từ nhà bếp nổi tiếng ở Phố Wall nhiều lần bị Sở Y tế thành phố New York phạt. Sau đó anh ta chuồn khỏi đám bảo vệ mà không thèm trả tiền. Có thể gọi đó là một chiến thắng nho nhỏ, gọi đó là một sự quyết đoán, gọi đó là một hò reo nho nhỏ của một linh hồn bị ngược đãi thậm tệ. Hoặc đơn giản chỉ gọi đó là tiết kiệm. “Ăn rồi chuồn” không phải là điều hiếm khi xảy ra ở căn tin của Salomon Brothers. Ăn cắp không phải là sai lầm lớn của Matty. Sai lầm lớn là khoe khoang điều đó với một tay giao dịch béo phị.

Chiều hôm đó, Matty nhận được một cuộc điện thoại từ một người tự nhận làm việc cho “phòng điều tra đặc biệt của Ủy ban Giao dịch và Chứng khoán (SEC). Người này nói ông ta có quyền hạn với tất cả các căn tin ở Phố Wall và đang điều tra một báo cáo về ba khay thức ăn bị ăn cắp ở căn tin của Salomon Brothers. Matty có biết gì về việc đó?

“Ha ha ha,” Matty trả lời, “ thực là tức cười.”

“Không,” viên chức đó nói, “việc này rất nghiêm trọng, nguyên tắc đạo đức của Phố Wall phải được giám sát ở mọi cấp độ.”

Matty lại cười thầm và cúp máy.

Sáng hôm sau, Matty vừa đến thì gặp ngay Michael Mortara, một trong những vị giám đốc quản lý của Salomon Brothers, đang chờ anh. Mortara là sếp của phòng giao dịch trái phiếu thế chấp. Mortara có vẻ không vui. Trong phòng làm việc của mình, ông ta hỏi Matty:

“Matty, tôi vừa nhận được một cú điện thoại từ phòng điều tra đặc biệt của SEC và tôi không biết phải làm sao. Có thật là anh đã ăn cắp đồ ăn của căn tin?

Matty gật đầu thú nhận.

“Lúc đó anh đang nghĩ gì vậy? Tôi thực không biết chuyện gì sẽ xảy ra nữa. Thôi, về bàn làm việc của anh và tôi sẽ gọi anh sau. Việc này không phải là nhỏ.” Mortara nói.

Cho đến cuối ngày, Matty phát điên giống như một kẻ trúng số nhưng đánh mất tấm vé số. Mặc dù anh ta còn trẻ, bị ngược đãi nhưng anh ta lại đang tiến rất gần đến thế giới của Big Swinging Dick. Thị trường thế chấp Hoa Kỳ đang phát triển nhanh hơn bất kỳ thị trường nào khác trên thế giới, giao dịch trái phiếu thế chấp là công việc tốt nhất của công ty lúc này, là công việc tốt nhất trên sàn giao dịch vào năm 1985 và có thể là công việc tốt nhất ở Phố Wall kể từ khi sàn giao dịch Salomon Brother thống trị Phố Wall.

Sau hai năm làm việc ở Salomon, một tay giao dịch thế chấp trẻ sẽ nhận được những lời chào mời từ Merrill Lynch, Bear Stearns, Goldman Sachs, Drexel Burnham và Morgan Stanley – tất cả các công ty này đang tuyệt vọng vì những thành công đầy ma thuật về trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers. Những lời chào mời đó được bảo đảm với ít nhất là nửa triệu đô-la tiền lương trong một năm cộng một khoản ăn chia từ tiền lời. Matty còn trẻ, là tay giao dịch năm thứ nhất. Đến năm thứ tư, nếu anh ta thật sự giỏi với công việc, anh ta có thể kiếm được 1 triệu đô-la trước thuế. Thật là một thời điểm tốt ở một nơi tốt đối với một chàng trai 22 tuổi, và Matty – với sự cố gắng và may mắn, đã đặt mình chính xác vào nơi mà anh ta ao ước. Và bây giờ thì – bị SEC tóm ở căn tin. Việc này trầm trọng đến mức nào? Những tay giao dịch thế chấp khác nhìn anh ta gặm nhấm sự việc và dành cho anh ta hẳn một ngày để nghiền ngẫm sự đảo lộn của cuộc đời.

Sáng hôm sau, Matty phải lên trình diện John Gutfreund. Matty chưa bao giờ gặp Gutfreund hoặc chưa bao giờ cần phải gặp. “Gutfreund không thích nói chuyện suông với nhân viên quèn,” một tay giao dịch thế chấp giải thích với Matty. Nếu Gutfreund muốn gặp anh ta, sự việc đã trở thành scandal. Phòng làm việc của Gutfreund chỉ cách khoảng 15 m so với bàn của Matty. Bình thường nó trống trơn. Trong quãng sự nghiệp dài và hạnh phúc với Salamon, ông ta dường như chưa bao giờ bước chân vào đó. Mọi hy vọng của Matty bị dập tắt khi anh ta bước vào và nhìn thấy Mortara ngồi kế bên Gutfreund.

Gutfreund giảng một bài về tính nghiêm trọng của việc ăn cắp đồ ăn trong căn tin. Sau đó, ông ta nói: “Matthew, tôi đã có kết luận sau một cuộc họp dài đáng buồn với ban điều hành của công ty, và chúng tôi quyết định” – im lặng một lúc – “để anh tiếp tục làm việc trong lúc này. Tất cả những điều tôi có thể nói lúc này đó là khi mọi việc rõ ràng hơn với SEC, chúng tôi sẽ cho anh biết sau.”

Tất cả những gì một người đàn ông có trên thị trường là lời nói và danh dự của anh ta. Các khóa đào tạo đều được nghe điều này hàng năm từ John Gutfreund. Và vì Matty là người mới nên anh ta càng tin điều đó hơn. Xét từ mọi góc độ, Matty đoán sự nghiệp của mình đã bị đổ vỡ. Sự việc này sẽ mãi ám ảnh khi mà anh ta còn làm việc ở Phố Wall. Bất cứ lúc nào SEC đến điều tra về giao dịch nội gián hay ăn cắp đồ ăn, Matty sẽ là nghi phạm. Anh ta đã có tiền án. Mọi người sẽ xì xào bàn tán tên anh ta.

Khi Matty quay trở về bàn làm việc, trông anh ta thê thảm như thể đã nhìn thấy điểm tận cùng của thế giới, bởi sự hiện diện của khoảng chừng 20 tay giao dịch thế chấp xung quanh, cảnh tượng đó thật quá sức chịu đựng. Họ cố che giấu điệu cười rúc rích đằng sau những chiếc máy Quotron. Matty chợt chú ý đến xung quanh. Tuy nhiên, anh ta không chỉ nhìn thấy tất cả mọi người đang cười mà còn nhận ra rằng tất cả bọn họ đang cười mình. Anh ta đã bị chọn làm nạn nhân của “trò hề” ở phòng thế chấp. Đó là ý tưởng của Mortara, hơn nữa Mortara đã thuyết phục được Gutfreund cho mượn uy tín để mưu đồ của mình thêm chắc ăn. Matty ngây thơ đã loại bỏ khả năng một người như Gutfreund sẽ không bao giờ chơi mánh lới như vậy. Một lần nữa nó chứng minh sự nhẹ dạ không biên giới của đám thực tập sinh. Chỉ cần nghĩ về một điều này thôi: SEC mà lại đi bắt mấy tên ăn cắp đồ ăn của căn tin!

Nhưng Matty thất bại trong việc nhìn nhận sự hài hước. Gương mặt anh ta trông giống như một kẻ đang bị nhạo báng và anh ta bắt đầu khóc. Sau đó anh ta chạy khỏi sàn giao dịch, rồi đi xuống cầu thang. Anh ta toan tính sẽ không bao giờ quay trở lại đó nữa. Và chẳng ai chặn anh ta lại. Những tay giao dịch ôm bụng cười lăn cười bò. Mortara và Gutfreund cũng cười ha hả trong phòng làm việc của Gutfreund. Và cuối cùng, vì trách nhiệm hơn là lòng thương hại, một tay giao dịch tên là Andy Stone quay ra đi tìm Matty. Anh ta cảm thấy có trách nhiệm bởi vì Matty bị phân công làm nô lệ cho mình. Dù sao thì Stone cũng là một tay giao dịch có nhân tính. Stone mua một chai bia cho Matty ở tiền sảnh của tòa nhà One New York Plaza và cố gắng thuyết phục rằng chuyện xảy ra là dấu hiệu chứng tỏ mọi người thích anh ta. Sau vài tiếng đồng hồ cuốc bộ trên đường phố, Matty quyết định quay trở lại.

Tôi có thể tưởng tượng cái gì đã lướt qua trong đầu Matty khi mà anh ta lang thang xung quanh phía nam Manhattan. Lúc bình tĩnh trở lại, chắc chắn anh ta sẽ nhận ra rằng chẳng còn nơi nào khác để đi. Anh ta bị trói bởi cái còng bằng vàng của phòng giao dịch trái phiếu thế chấp ở Salomon Brothers. Đám giao dịch – những kẻ đã khiến một anh chàng tốt nghiệp Harvard phải khốn khổ, đang hoàn toàn thống trị một phần ba thị trường. Có thể nói rằng họ là những nhân viên làm ra tiền nhiều nhất trên toàn nước Mỹ. Một mình họ có thể dạy Matty cũng như thống trị thị trường. Điều Stone nói không hẳn là sự thật, rằng những tay giao dịch chỉ làm chuyện tàn nhẫn với kẻ mà họ thích. Họ tàn nhẫn với tất cả mọi người. Tuy nhiên, sự tàn nhẫn đó không phải vì lý do cá nhân mà là vì nghi thức. “Trò hề” là lễ kết nạp chính thức. Dù sao thì sau một năm, Matty cũng sẽ ở về phía bên kia của “trò hề”. Anh ta sẽ trở thành một tay giao dịch cười rúc rích sau chiếc máy Quotron khi một cậu thực tập sinh nào khác khóc lóc. Vào năm 1985, thật sự không có nơi nào khác tốt hơn chỗ làm việc của Michael Mortara và đám anh em “nghĩa khí” ở đó – những tay giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers.

1978-1981

Phố Wall đưa người đi vay đến với người cho vay. Cho tới mùa xuân năm 1978, khi Salomon Brothers hình thành ban trái phiếu thế chấp đầu tiên trên Phố Wall thì thuật ngữ người đi vay được dùng để chỉ các doanh nghiệp lớn, chính phủ liên bang, tiểu bang và chính quyền địa phương. Nó không bao gồm khu vực kinh tế cá nhân, chủ sở hữu nhà. Một thành viên của Salomon Brothers tên là Robert Dall nhận ra sự khác lạ này. Nhóm người đi vay phát triển nhanh nhất không phải là các chính phủ hay doanh nghiệp, mà là chủ sở hữu nhà. Từ đầu thập niên 1930, các nhà lập pháp đã tạo ra các quỹ dự trữ khuyến khích người Mỹ vay tiền để mua nhà ở. Điều hiển nhiên nhất trong những khuyến khích này là khả năng khấu trừ thuế của các khoản vay mua nhà. Điều hiển nhiên tiếp theo là ngành tiết kiệm và cho vay.

Ngành tiết kiệm và cho vay chiếm đa số trong các khoản vay mua nhà đối với người Mỹ trung lưu và đã nhận được sự bảo hộ và hậu thuẫn của chính phủ. Những thay đổi như chính sách bảo hiểm tiền gửi và sự nới lỏng về thuế, đã gián tiếp giảm chi phí lãi suất vay mua nhà do chi phí cấp vốn cho các khoản vay và tiết kiệm đã hạ thấp. Những người vận động về tiết kiệm và cho vay tại Washington đã viện dẫn cả nền dân chủ, quốc kỳ và món bánh táo khi đề cập đến một trong những thay đổi nói trên thông qua Quốc hội. Họ đứng về phía giới chủ sở hữu nhà, họ nói rằng quyền sở hữu nhà là một truyền thống của Mỹ. Để đứng lên ở Quốc hội và phát biểu chống lại quyền sở hữu nhà có lẽ về mặt chính trị giống như một chiến dịch chống lại bổn phận làm mẹ vậy. Được một chính sách công mang tính thân thiện thúc đẩy, lượng tiết kiệm và cho vay đã gia tăng, lượng cho vay thế chấp đã tăng từ 55 tỷ đô-la năm 1950 lên 700 tỷ đô-la năm 1976. Vào tháng 1 năm 1980, con số đó lên tới 1,2 nghìn tỷ đô-la và doanh số thị trường thế chấp đã vượt qua tất cả các thị trường cổ phiếu Hoa Kỳ gộp lại, trở thành thị trường vốn lớn nhất thế giới.

Tuy nhiên, vào năm 1978, trên Phố Wall ít người nghĩ rằng thế chấp nhà có thể là việc làm ăn lớn. Mọi thứ về chúng dường như là nhỏ bé và không có ý nghĩa, ít nhất là đối với những người hàng ngày cố vấn cho các CEO và giới đứng đầu chính quyền. Những CEO trong ngành thế chấp nhà cũng là các chủ tịch tổ chức tiết kiệm và cho vay, thường lãnh đạo một cộng đồng nhỏ. Ông ta là người tài trợ cho chiếc xe diễu hành trong cuộc diễu hành trên đường phố, như thế đủ nói lên tất cả rồi phải không? Ông ta mặc bộ vest bằng vải pôliexte, có thu nhập ước tính lên tới năm con số nhưng làm việc với số giờ chỉ tính bằng một con số. Ông ta là thành viên câu lạc bộ Rotary hoặc Lions và cũng thuộc một nhóm người không trịnh trọng trong ngành công nghiệp tiết kiệm kiểu như câu lạc bộ 3-6-3: vay tiền với lãi suất 3%, cho vay tiền với lãi suất 6% và đến sân golf trước 3 giờ chiều.

Mỗi năm bốn nhân viên kinh doanh bán trái phiếu cho các tổ chức tiết kiệm và cho vay biểu diễn một vở kịch trào phúng cho khóa đào tạo của Salomon xem. Hai người đóng vai nhân viên kinh doanh Salomon, hai người còn lại đóng vai nhà quản lý của một tổ chức tiết kiệm và cho vay. Câu chuyện diễn ra như sau: nhân viên kinh doanh Salomon bước vào tổ chức đúng lúc các nhà quản lý tổ chức định đi ra, một tay cầm vợt tennis, tay kia cầm túi gậy chơi golf. Những người này mặc quần dài ca rô và áo khoác nylon cũng kẻ ca rô với ve áo rộng. Hai tay kinh doanh của Salomon bắt đầu nịnh hót hai vị quản lý. Họ tán dương cái ve áo của một vị. Lúc này vị thứ hai trở nên kiêu ngạo: “Các anh thấy những chiếc ve áo tung bay này chứ? Chúng thực uyển chuyển phải không?” Hắn nói với giọng Lone Star (miền Tây). “Những chiếc ve áo không thể nào giống những chiếc ve áo được trừ phi các anh nhìn chúng từ phía sau.” Rồi hắn điệu đà xoay một vòng để những chiếc ve áo phất lên như cánh xòe trên vai.

Sau khi đã đùa giỡn xong, mấy tay kinh doanh Salomon bắt đầu đưa hai vị quản lý vào tròng. Họ mời chào hai vị này mua một tỷ đô-la swap lãi suất (hoán đổi lãi suất đi vay). Hai vị này rõ ràng không biết giao dịch swap lãi suất là cái gì, họ nhìn nhau nhún vai. Một tay nhân viên Salomon cố giải thích, song hai vị này chẳng thiết tha nghe và chỉ muốn chơi golf. Nhưng mấy tay kinh doanh Salomon cố khống chế họ và không để họ đi, cuối cùng hai vị này nói: “Ừ thì bán cho chúng tôi một tỷ cái swap lãi suất đi để bọn tôi còn đi.” Vở kịch kết thúc.

Đó là loại người kinh doanh thế chấp nhà – anh chàng chăn cừu bên cạnh những gã cao bồi trên Phố Wall. Những gã cao bồi buôn bán trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty. Và khi một gã cao bồi buôn bán trái phiếu thì anh ta khống chế chúng. Anh ta đứng dậy và hét toáng lên trên sàn giao dịch: “ Tôi có 10 triệu trái phiếu lãi suất 8,5% của IBM bán với giá một ăn một đây, và tôi muốn đống chết tiệt này biến khỏi đây ngay bây giờ.” Nhưng đến một triệu năm nữa, anh ta cũng không hình dung rằng mình sẽ gào lên: “Tôi có một vụ thế chấp nhà trị giá 62.000 đô-la của Mervin K. Finkleberger, giá một ăn một. Thời hạn còn 20 năm nữa, ông ta đang trả lãi suất 9%, đó là căn nhà với ba phòng ngủ xinh xắn ngay bên ngoài Norwalk. Giá ngon đây.” Một tay giao dịch không thể khống chế được một chủ sở hữu nhà.

Vấn đề ở đây còn cơ bản hơn cả sự khinh thường đối với tầng lớp trung lưu Mỹ. Thế chấp không phải là những tờ giấy có thể buôn bán được, không phải là trái phiếu. Chúng là những khoản vay được các ngân hàng tiết kiệm ký cho vay và không được phép rời khỏi đó. Một khoản thế chấp nhà riêng lẻ là khoản đầu tư tủn mủn và rắc rối đối với Phố Wall – khu phố đã quen với những giao dịch có số lượng lớn hơn rất nhiều. Không một tay giao dịch hay nhà đầu tư nào lại lùng sục quanh các vùng ngoại ô để tìm ra xem chủ nhà vừa mới được vay tiền có đáng tin hay không. Để thế chấp nhà trở thành một trái phiếu, nó phải được loại bỏ tính cá nhân.

Tối thiểu một khoản thế chấp phải được góp chung với các khoản thế chấp của những chủ sở hữu nhà khác. Các tay giao dịch và nhà đầu tư có thể tin tưởng vào những con số thống kê và mua một lô bao gồm vài nghìn khoản vay thế chấp của một ngân hàng tiết kiệm và cho vay, mà theo luật xác suất trong đó chỉ có một phần nhỏ sẽ bị vỡ nợ. Các chứng chỉ có thể được phát hành, cho phép người sở hữu các chứng chỉ này được quyền hưởng lợi từ dòng tiền mặt của lô thế chấp đó, dựa trên tỷ lệ sở hữu giá trị của lô, như là một phần bánh được bảo đảm trong một chiếc bánh cố định. Có thể có hàng triệu lô như vậy, mỗi lô sẽ giữ các khoản thế chấp riêng theo từng chủng loại, mỗi lô chính nó phải đồng nhất. Chẳng hạn, một số lô sẽ là các thế chấp nhà ở trị giá dưới 110.000 đô-la và lãi suất 12%. Người nắm giữ các chứng chỉ từ lô đó sẽ được hưởng lãi suất 12%/năm trên khoản tiền của mình cộng thêm phần trăm anh ta được hưởng từ các khoản trả vốn gốc của chủ sở hữu nhà.

Do được chuẩn hóa, các chứng chỉ đó có thể được bán cho một quỹ hưu trí của Mỹ, một công ty tín thác ở Tokyo, một ngân hàng Thụy Sỹ hay một trùm tư bản tàu biển Hy Lạp trốn thuế đang sống trên chiếc thuyền buồm ở cảng Monte Carlo, hay bất kỳ ai có tiền đầu tư. Do được chuẩn hóa, các chứng chỉ đó có thể được buôn bán. Tất cả những gì mà một tay giao dịch nhìn thấy là trái phiếu đó. Tất cả những gì mà một tay giao dịch muốn xem là trái phiếu đó. Một trái phiếu mà anh ta có thể kiểm soát và khống chế. Một ranh giới không bao giờ được bước qua, đặt ngay giữa trung tâm của thị trường, một bên là chủ sở hữu nhà còn bên kia là các tay giao dịch và nhà đầu tư. Hai nhóm người này không bao giờ gặp nhau. Chủ sở hữu nhà chỉ gặp người quản lý quỹ tiết kiệm và cho vay địa phương của mình – tiền sẽ xuất phát từ két sắt của ông ta và một thời gian sau cũng quay lại đó. Các nhà đầu tư và giao dịch sẽ chỉ thấy các chứng chỉ mà thôi.

Lúc đầu Bob Dall rất tò mò về thế chấp khi làm việc cho một thành viên của Salomon tên là William Simon, người mà về sau trở thành Bộ trưởng Bộ Tài chính Hoa Kỳ dưới thời Gerald Ford (và thậm chí đã kiếm được 1 tỷ đô-la từ việc mua rẻ khoản tiết kiệm và cho vay của chính phủ Mỹ). Simon có nhiệm vụ giám sát những biến động trên thị trường thế chấp. Nhưng Dall cho biết, “có lẽ lúc đó ông ta chẳng tha thiết gì đến nó”. Đầu thập niên 1970, Simon buôn bán trái phiếu Bộ Tài chính Hoa Kỳ cho Salomon Brothers. Ở bên ngoài Salomon, việc hét giá mua, giá bán các trái phiếu lúc đó không phải là một nghề hợp mốt. Về sau ông kể lại với nhà văn L. J. Davis: “Khi tôi mới bước chân vào hoạt động kinh doanh, thì giao dịch không phải là một nghề được kính trọng.” “Trong đời, tôi chưa bao giờ thuê một tên cử nhân nào. Tôi thường bảo các tay giao dịch của mình rằng ‘Nếu các cậu không giao dịch trái phiếu, hẳn các cậu phải đi lái xe tải. Đừng cố đem vẻ trí thức vào chốn thương trường. Chỉ giao dịch thôi!’”

Simon, không phải là sinh viên tốt nghiệp Harvard mà là kẻ bỏ học nửa chừng của Đại học Lafayette, đã vươn lên tới đỉnh cao. Ông không hấp dẫn được đám đông tham vọng trở thành tay giao dịch trong các chuyến đến thăm trường đại học hay trường kinh doanh, bởi vì ở đấy chẳng có đám đông nào tham vọng trở thành tay giao dịch. Những gì ông nói hoặc làm chẳng bao giờ được các tờ báo như New York Times hay Wall Street Journal quan tâm. Ai trong thập niên 1970 thèm quan tâm đến trái phiếu kho bạc? Dù vậy, ông vẫn cảm nhận và hành động. Đối với Salomon, ý tưởng là quan trọng và giới giao dịch trái phiếu kho bạc là vua. Trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ là mốc xác định đối với mọi trái phiếu. Ông là người có thể điều khiển chúng trở thành chuẩn mực cho tất cả các tay giao dịch.

Việc Simon chán ghét thị trường thế chấp nhà xuất phát từ một cuộc tranh cãi với Hiệp hội Thế chấp Quốc gia của Chính phủ (còn gọi là Ginnie Mae) vào năm 1970. Ginnie Mae bảo lãnh cho các khoản thế chấp nhà của công dân thuộc tầng lớp trung lưu, bởi vậy đã làm cho những người này tin tưởng tuyệt đối vào uy tín của Kho bạc Mỹ. Bất kỳ chủ sở hữu nhà nào có đủ tiêu chuẩn được vay một thế chấp của chương trình Federal Housing and Veterans Administration (Hội cựu chiến binh và Sở quản lý nhà đất liên bang), viết tắt là FHA/VA (chiếm khoảng 15% số người mua nhà tại Mỹ) sẽ được Ginnie Mae đóng dấu bảo lãnh. Ginnie Mae đã tìm cách để thu hút các khoản vay và bán chúng như các trái phiếu. Simon là cố vấn cho chính phủ và ông là người am hiểu nhất về trái phiếu, và đương nhiên ủng hộ thị trường thế chấp.

Giống như phần lớn các khoản thế chấp, các khoản vay được Ginnie Mae bảo lãnh đều phải trả phần vay gốc dần dần. Cũng như phần lớn các thế chấp, khoản vay này có thể trả đầy đủ trước hạn vào bất cứ lúc nào. Đây là kẽ hở lớn của những trái phiếu mà Ginnie Mae bán ra và Simon đã phát hiện thấy điều đó. Bất kỳ ai mua trái phiếu loại này đều rơi vào tình trạng tồi tệ hơn so với những người mua trái phiếu kho bạc và trái phiếu công ty, bởi họ không biết chắc thời hạn khoản vay kéo dài bao lâu. Nếu các con nợ đột nhiên trả vốn trước thời hạn thì người sở hữu trái phiếu loại này thay vì cứ nghĩ rằng mình đang cầm trong tay một trái phiếu thời hạn 30 năm lại thấy mình đang ngồi trên một đống tiền mặt.

Có khả năng rất cao nữa là nếu lãi suất hạ, toàn bộ các chủ nhà trong một khu vực dân cư sẽ tái cấp vốn các khoản thế chấp lãi suất cố định thời hạn 30 năm trước đây của mình bằng các khoản thế chấp có lãi suất thấp hơn. Việc này khiến cho người sở hữu trái phiếu thế chấp lại phải ngồi trên đống tiền mặt. Tiền mặt không phải là vấn đề nếu nhà đầu tư có thể tái đầu tư nó với cùng lãi suất của khoản vay ban đầu, hoặc ở mức lãi suất cao hơn. Nhưng vì lãi suất đã hạ, nhà đầu tư bị thua lỗ trên khoản tiền không thể cho vay cùng lãi suất như trước nữa. Và cũng không có gì lạ khi các chủ nhà luôn thích trả trước các khoản thế chấp của họ khi lãi suất hạ, vì lúc đó họ có thể tái cấp vốn cho ngôi nhà của mình ở mức lãi suất thấp hơn. Nói cách khác, đồng tiền được đầu tư vào những trái phiếu có thế chấp thường được hoàn lại vào thời điểm tồi tệ nhất đối với người cho vay.

Bill Simon đã cố thuyết phục Ginnie Mae bảo vệ người mua trái phiếu thế chấp (người cho vay). Thay vì đơn giản chỉ việc chuyển tất cả dòng tiền mặt từ các chủ sở hữu nhà sang cho những người nắm giữ trái phiếu, ông đã tranh luận rằng bằng cách nào đó, các trái phiếu thế chấp phải tạo ra được những đặc tính cơ bản giống như trái phiếu bình thường với kỳ hạn thanh toán xác định. Nếu không, ông đặt ra câu hỏi, liệu ai sẽ mua những trái phiếu đó? Ai muốn sở hữu một trái phiếu mà kỳ hạn không rõ ràng? Ai muốn sống với những điều không chắc chắn để rồi không biết khi nào mình sẽ lấy được tiền lại? Khi Ginnie Mae phớt lờ đi sự phản đối đó thì Bill Simon cũng phớt lờ luôn Ginnie Mae. Ông được bổ nhiệm một chức danh mà Salomon gọi là Grunt (người tiên phong)– một nhà phân tích trong bộ phận tài chính doanh nghiệp, chịu trách nhiệm về các thị trường chứng khoán thế chấp mới. Thực tế thì các Grunt này chẳng giữ trách nhiệm gì. Nói cách khác, làm gì có trách nhiệm nào để mà giữ.

Suốt cả ngày, Bob Dall đi vay tiền để cấp vốn cho các khoản cá cược của Bill Simon trên thị trường trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ. Dall đang chủ động giao dịch tiền mặt. Ngày nào ông ta cũng xoay xở để vay với mức lãi suất thấp nhất và cho vay với mức lãi suất cao nhất. Nhưng ông ta chỉ vay và cho vay trong một ngày. Ngày hôm sau ông ta lại đến văn phòng và bắt đầu lại từ đầu. Giao dịch tiền mặt không giống như giao dịch trái phiếu, không bao giờ là hợp thời cả, kể cả ở Salomon Brothers. Tiền mặt là thứ hàng hóa ít dao động nhất được giao dịch bởi Salomon Brothers và vì thế cũng ít rủi ro nhất.

Dù sao thì giao dịch tiền mặt vẫn là giao dịch. Ít nhất nó cũng đòi hỏi thần kinh thép và tính logic giống như trong giao dịch trái phiếu vậy. Bằng chứng là vào ngày đầu trong nghề của mình, Dall đã mua (vay) 50 triệu đô-la trên thị trường. Ông ta kiểm tra và phát hiện thị trường tiền tệ có lãi suất 4-4,25% nghĩa là ông ta có thể mua (vay) ở mức 4,25% hoặc bán (cho vay) ở mức 4%. Tuy nhiên, khi ông ta cố đặt mua 50 triệu đô-la ở mức 4,25% thì thị trường đã nhanh chóng tăng lên mức 4,25-4,5%. Những người bán thật sự hoảng sợ trước một khách mua lớn. Dall lại đặt giá 4,5% và thị trường tăng lên tới mức 4,5-4,75%. Ông ta tăng giá đặt mua của mình thêm vài lần nữa nhưng vẫn với kết quả ấy, rồi ông chạy đến văn phòng của Bill Simon nói rằng ông ta không thể nào mua được tiền. Tất cả bọn bán đang chạy như vịt.

“Thế thì anh hãy làm kẻ bán,” Simon nói.

Vậy là Dall trở thành kẻ bán, mặc dù thực tế ông ta cần mua. Ông ta bán 50 triệu đô-la với mức 5,5%. Ông lại bán thêm 50 triệu đô-la nữa với mức 5,5%. Sau đó, đúng như Simon dự đoán, thị trường sụp đổ. Mọi người đều muốn bán. Không có người nào mua. “Bây giờ hãy mua lại chúng đi,” Simon nói lúc thị trường đạt mức 4%. Vậy là Dall không chỉ có được 50 triệu đô-la ông ta cần ở mức 4%, mà còn được thêm một món lãi từ số tiền ông ta đã bán với mức lãi suất cao hơn. Đó là cách một tay giao dịch của Salomon tư duy: Trong một phút, ông ta có thể quên đi bất cứ điều gì mà mình đang muốn làm và đặt ngón tay vào mạch đập của thị trường. Nếu thị trường cảm thấy bồn chồn, nếu mọi người hoảng sợ hay tuyệt vọng thì ông ta sẽ dồn họ như bầy cừu vào một góc rồi bắt họ phải trả giá vì tính không quyết đoán. Ông ta ngồi trên thị trường đợi cho đến khi nó nôn ra những đồng tiền vàng mới thôi. Sau đó ông ta mới để tâm tới những điều mình muốn làm.

Bob Dall yêu thích công việc giao dịch. Mặc dù không chịu trách nhiệm chính thức nào đối với Ginnie Mae nhưng ông ta đã bắt đầu giao dịch chứng khoán thế chấp. Ai đó phải làm thôi. Tháng 9 năm 1977, Dall tự đặt mình dưới danh nghĩa của Salomon Brothers đối với các chứng khoán thế chấp. Cùng với Stephen Joseph, anh trai của Fred Joseph – CEO Drexel, lần đầu tiên Dall phát hành các chứng khoán thế chấp với tư cách tư nhân. Họ thuyết phục Ngân hàng Hoa Kỳ bán các khoản vay mua nhà của nó dưới hình thức các trái phiếu. Họ thuyết phục giới đầu tư – chẳng hạn như các công ty bảo hiểm – mua các trái phiếu thế chấp mới này. Sau đó, Ngân hàng Hoa Kỳ sẽ nhận được số tiền mà ban đầu nó đã cho người dân vay để mua nhà, rồi từ đấy có thể cho vay tiếp. Chủ sở hữu nhà tiếp tục viết séc thanh toán các thế chấp của mình cho Ngân hàng Hoa Kỳ, nhưng số tiền đó được chuyển sang cho khách hàng của Salomon Brothers – những người đã mua các trái phiếu của Ngân hàng Hoa Kỳ.

Dall đã dự cảm chắc chắn rằng đó là làn sóng của tương lai. Ông cho rằng sự bùng nổ về nhu cầu nhà ở sẽ mở rộng nguồn tài trợ. Dân số đang già hóa. Ngày càng ít người Mỹ chỉ sử dụng một ngôi nhà. Quốc gia đã giàu có hơn, càng có thêm nhiều người muốn mua ngôi nhà thứ hai. Các quỹ tiết kiệm và cho vay không thể tăng đủ nhanh để đáp ứng nhu cầu vay. Ông ta cũng thấy rõ sự mất cân đối trong hệ thống do sự dịch chuyển dân số từ Rust Belt tới Sun Belt (Bắc xuống Nam) gây nên. Các tổ chức tiết kiệm ở Sun Belt có các khoản tiền gửi nhỏ và có nhiều nhu cầu vay tiền từ những người mua nhà. Các tổ chức tiết kiệm ở Rust Belt lại giữ nhiều khoản tiền lớn trong khi không có nhu cầu vay. Dall đã nhìn thấy một giải pháp. Rust Belt có thể cho những chủ sở hữu nhà ở Sun Belt vay một cách có hiệu quả bằng việc mua trái phiếu thế chấp của các tổ chức tiết kiệm ở Sun Belt.

Theo đề nghị của ủy ban quản trị Salomon Brothers, Dall đã trình một bản báo cáo dài ba trang tóm tắt quan điểm của mình về thị trường, thuyết phục được John Gutfreund dẹp hoạt động giao dịch của Ginnie Mae ra khỏi ban giao dịch trái phiếu chính phủ và thiết lập một ban thế chấp. Đó là vào mùa xuân năm 1978 và Gutfreund vừa được vị tiền nhiệm William Salomon – con trai của một trong ba nhà sáng lập công ty, bổ nhiệm chức chủ tịch. Dall ngừng giao dịch tiền, chuyển sang một chiếc ghế cách bàn làm việc cũ của ông ta vài mét và bắt đầu nghiền ngẫm ý tưởng cho tương lai. Ông ta nhận thấy mình cần có một chuyên gia tài chính để thương lượng với các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm, để thuyết phục họ bán các khoản vay của họ như Ngân hàng Hoa Kỳ đã làm. Các khoản vay này sẽ được chuyển thành trái phiếu thế chấp. Hiển nhiên, người được chọn lựa cho công việc này là Steve Joseph vì Joseph từng làm việc gần gũi với Dall trong thương vụ Ngân hàng Hoa Kỳ.

Dall cũng cần một tay giao dịch để tạo ra thị trường cho những trái phiếu mà Joseph tạo ra, và đó là một vấn đề to lớn hơn. Tay giao dịch đó nhất thiết phải có tính quyết đoán. Tay giao dịch đó mua và bán trái phiếu. Một tay giao dịch tên tuổi để gây được niềm tin cho các nhà đầu tư, chỉ cần sự có mặt của anh ta thôi cũng có thể làm cho thị trường tăng trưởng. Tay giao dịch đó cũng làm ra tiền cho Salomon Brothers. Vì vậy anh ta phải là người được mọi người thán phục, quan tâm và chú ý. Dall luôn là một tay giao dịch thế chấp. Nhưng nay ông ta đã trở thành nhà quản lý. Ông ta phải mượn một nhân vật thành công hoặc từ ban giao dịch trái phiếu chính phủ hoặc từ ban trái phiếu công ty. Việc này làm nảy sinh vấn đề. Ở Salomon Brothers, nếu một phòng cho phép người nào đó chuyển đi thì mọi người sẽ cho rằng phòng đó muốn tống khứ anh ta đi; khi cần nhận người từ các phòng khác, bạn chỉ nhận được những người mà bạn không muốn thôi.

Nhưng với sự giúp đỡ của John Gutfreund, Dall đã có được người theo sự lựa chọn đầu tiên của mình: Lewie Ranieri – một tay giao dịch trái phiếu dân sinh 30 tuổi (utility bond, trái phiếu do các công ty dịch vụ công cộng như công ty cấp điện, cấp nước phát hành). Việc Ranieri chuyển đến ban trái phiếu thế chấp là một sự kiện nổi bật trước thời hoàng kim của một tay giao dịch trái phiếu. Với sự bổ nhiệm này vào giữa năm 1978, câu chuyện về thị trường thế chấp bắt đầu như những gì người ta kể cho nhau nghe bên trong Salomon Brothers.

Dall biết chính xác tại sao ông ta chọn Ranieri: “Tôi cần một tay giao dịch giỏi. Lewie không chỉ là tay giao dịch siêu hạng mà anh ta còn có ý chí và tham vọng kiến tạo thị trường. Anh ta không giấu diếm nhà quản lý về khoản thua lỗ vài triệu đô nếu đó là việc đã rồi. Anh ta đã không đánh mất nhân cách. Đúng, nhân cách không phải là từ chính xác nhưng các bạn hiểu tôi muốn nói gì. Tôi chưa bao giờ gặp người nào có học hay vô học lại có một đầu óc tinh nhanh hơn Ranieri, và hơn hết, anh ta là người mơ mộng.”

Khi John Gutfreund bảo Ranieri sẽ làm việc cùng Dall với tư cách tay giao dịch đứng đầu ban trái phiếu thế chấp còn trong thời kỳ phôi thai thì Lewie hoảng sợ: “Tôi là người tài năng nhất trong ban,” anh ta nói, “tôi không hiểu”. Việc chuyển đi dường như lôi anh ta ra khỏi cuộc đua. Trái phiếu dân sinh đang mang lại những món tiền lớn. Dù thực tế không ai ở đây được trả lương theo hoa hồng, nhưng để leo lên cấp bậc của Salomon Brothers thì cuối năm, mỗi người phải chỉ vào một khoản tiền và nói: “Đó là của tôi, tôi đã làm ra nó.” Doanh thu đồng nghĩa với quyền lực. Theo quan điểm của Lewie, sẽ không có đồng nào vào cuối năm ở ban trái phiếu thế chấp cả. Cũng sẽ không có việc leo lên cấp bậc nữa. Sau này nhìn lại, nỗi sợ hãi của anh ta thực buồn cười. Sáu năm sau, năm 1984, trên mặt sau của một phong bì, Ranieri vẫn tranh luận rằng vào năm đó, ban giao dịch trái phiếu thế chấp của anh đã kiếm được nhiều tiền hơn tất cả phần còn lại của Phố Wall. Anh ta rất mực tự hào khi thảo luận về những thành tựu mà ban giao dịch trái phiếu thế chấp đạt được. Anh ta có thể sẽ được đề bạt làm phó chủ tịch của Salomon Brothers, người thứ hai đứng sau Gutfreund. Gutfreund luôn nói Ranieri là người sẽ kế nhiệm ông ta. Ấy thế mà vào năm 1978, Ranieri chẳng mường tượng được điều gì cả. Tại thời điểm được bổ nhiệm, anh ta đã cảm thấy mình bị lừa.

‘Tôi cảm thấy như thể họ đang nói: ‘Xin chúc mừng, chúng tôi muốn đày cậu đi Siberia’. Tôi đã không cố chặn vụ thuyên chuyển ấy bởi đó không phải là cách xử lý của tôi. Tôi chỉ chăm chăm hỏi John: ‘Tại sao ông muốn tôi làm việc này?’ Thậm chí sau đó, các đồng nghiệp đã ùa đến hỏi tôi đã làm gì để John nổi khùng. Có phải tôi đã giao dịch thua lỗ hay phạm luật, hay vì cái gì đó không?”. Giống như Bill Simon, Ranieri nghĩ rằng trái phiếu thế chấp là đứa con hoang xấu xí của thị trường trái phiếu. Ai sẽ mua những trái phiếu đó chứ? Ai muốn cho một chủ sở hữu nhà vay tiền mà lại muốn trả lúc nào thì trả? Hơn nữa, cũng không có gì nhiều để giao dịch. “Chẳng có gì ngoài vài trái phiếu Ginnie Mae (và một giao dịch với Ngân hàng Hoa Kỳ) và chẳng ai quan tâm về những thứ đó; tôi phải cố tìm ra còn thứ gì khác để làm ở đây hay không.”

Tham vọng thời niên thiếu của Ranieri là trở thành một đầu bếp trong nhà hàng Ý. Tham vọng đó đã chấm dứt khi Ranieri bị tai nạn ôtô trên xa lộ Snake Hill ở Brooklyn, khiến anh ta mắc bệnh hen, không chịu được hơi khói bốc lên trong nhà bếp. Năm 1968, khi đang là sinh viên năm thứ hai ngành Anh văn thuộc Đại học St. John, anh ta làm việc bán thời gian vào ca đêm ở phòng thư tín của Salomon Brothers với đồng lương 70 đô-la/tuần. Làm được vài tháng, anh ta gặp phải vấn đề lớn về tiền bạc. Ranieri không có sự trợ giúp tài chính của bố mẹ (ông bố đã mất lúc anh ta mới 13 tuổi). Vợ anh ta phải nằm viện và hóa đơn viện phí cứ chồng chất lên. Ranieri cần 10.000 đô-la. Khi đó Ranieri mới 19 tuổi và tất cả những gì anh ta có ngoài cái tên của mình là đồng lương ít ỏi hàng tuần.

Cuối cùng, Ranieri buộc phải hỏi một thành viên của Salomon Brothers mà anh quen sơ sơ. “Anh biết đấy, tôi tin chắc, thật sự tin chắc ông ta sẽ sa thải tôi.” Nhưng ngược lại, vị này bảo với Ranieri rằng hóa đơn bệnh viện sẽ được giải quyết ổn thỏa. Ranieri hiểu điều đó nghĩa là tiền lương của anh ta sẽ bị khấu trừ, nếu vậy thì anh ta không kham nổi và bắt đầu phản đối. Vị này nhắc lại: “Nó sẽ được giải quyết ổn thỏa.” Salomon Brothers đã trả hóa đơn 10.000 đô-la cho người vợ của một nhân viên quèn ở phòng thư tín. Không có một cuộc họp ủy ban nào thảo luận liệu điều này có phù hợp không. Vị thành viên mà Ranieri đã đề nghị giúp đỡ thậm chí không bận tâm suy nghĩ trước khi đưa ra câu trả lời của mình. Điều đó nghĩa là hóa đơn được trả không vì lý do nào khác ngoài lý do đó là việc làm đúng đắn cần phải làm.

Khó mà xác định chính xác những lời vị thành viên đó đã nói, nhưng rõ ràng những gì Ranieri nghe được là: Lewie Ranieri sẽ luôn được quan tâm. Hành động đó khiến anh ta vô cùng xúc động. Khi nói về lòng trung thành, về mối “ràng buộc” giữa Salomon Brothers và những người làm việc cho Salomon Brothers, thì đó là hành động hào hiệp mà anh ta luôn ghi nhớ. “Từ đó trở đi,” một trong những tay giao dịch thế chấp của anh ta nói, “Lewie yêu mến công ty. Anh ta không thể hiểu rằng đó là chuyện bình thường trong làm ăn”. “Công ty đã quan tâm đến mọi người,” Ranieri nói. “Ở đây thường có những phát biểu như ‘Một nhân viên tốt còn quan trọng hơn một nhà quản lý tốt.’ Chúng tôi là anh em, như mọi người thường nói, giữa chúng tôi đã có một mối ràng buộc.”

Điều này nghe có vẻ ngọt ngào hơn thực tế. Người ta không thể nào đạt tới vị trí của Ranieri chỉ đơn giản bằng niềm tin và lòng trung thành. “Tôi tin Chúa, nhưng tôi sẽ không bao giờ được làm một ông Thánh.” Đó là câu nói mà Ranieri từng phát biểu với một nhà báo của tạp chí Esquire. Đó không phải là vì anh ta không đủ khả năng, mà ở cuối mỗi giai đoạn, anh ta cũng có ý thức sâu sắc về lợi ích cá nhân của mình không kém. Đã có những dấu hiệu căng thẳng giữa anh ta và ban trái phiếu công ty (ban trái phiếu dân sinh nằm trong ban này). Vào tháng 9 năm 1977, địch thủ của Ranieri – Bill Voute – trở thành thành viên của công ty, trong khi anh ta không được. Steve Joseph nhận xét: “Lewie nổi khùng khi để Bill vượt lên trên.” Một cựu nhân viên kinh doanh trái phiếu công ty của Salomon Brothers từ thập niên 1970 nhớ lại khi Ranieri còn là một tay giao dịch trái phiếu công ty, anh ta “luôn cằn nhằn và than vãn về vấn đề lương bổng. Lewie chắc rằng anh ta không được trả lương xứng đáng với những gì mình cống hiến cho công ty. Anh ta đã nói thế và tôi còn nhớ từng lời nói của anh ta: ’Nếu không phải vì tôi được phép làm bất cứ thứ gì mình muốn ở đây, thì tôi đã bỏ đi.’”

Anh ta vô kỷ luật, hay kêu ca và xấc láo. Những nhân viên văn phòng làm việc cho Ranieri còn nhớ anh ta từng leo lên bàn đứng chỉ tay, căng phổi ra quát tháo họ làm việc. Tuy vậy, anh ta cũng có một chút “duyên dáng” được mọi người yêu quý. Ranieri nói: “Tôi không có kẻ thù”, “Thậm chí kẻ thù cũng yêu quý tôi, và thật là lạ vì tôi không bao giờ để họ xen vào miếng ăn của tôi.”

Khi Ranieri đến Salomon Brothers thì nhân viên phòng thư tín chỉ rặt dân mới nhập cư vào Mỹ và không biết nói tiếng Anh. Một trong những thói quen xấu mà họ gặp phải trong quá trình làm việc là dán quá nhiều tem trên bì thư chuyển đi. Đóng góp đầu tiên của anh ta là cắt giảm chi phí; điều này thực mỉa mai vì thật ra Ranieri (về sau) chẳng bao giờ để ý tới giá cả. Anh ta cũng chẳng có thời gian giám sát chi tiết. “Một hôm tôi nảy ra sáng kiến treo bản đồ nước Mỹ lên tường và đánh dấu các vùng theo quy định bưu phí để dễ nhận biết. Vì thế họ bầu tôi lên làm nhân viên giám sát.” Ranieri đã bỏ học ở trường St. John khi được bầu làm đốc công của phòng thư tín, anh ta chuyển sang làm công việc văn phòng để dễ dàng quan hệ trực tiếp với giới giao dịch và nghiệp vụ kinh doanh. Đến năm 1974, Ranieri đã ngồi đúng nơi mà mình muốn, trong chiếc ghế của giới giao dịch ở ban trái phiếu công ty.

Đến năm 1985, khi Matty Oliva nhảy cóc từ trường Harvard vào chương trình đào tạo, rồi vào ban giao dịch trái phiếu thế chấp, một bức tường đã mọc lên giữa khối văn phòng và sàn giao dịch. Quá trình để một người trở thành một tay giao dịch bị hệ thống hóa khắt khe. Bạn cần có một bản lý lịch. Bạn phải tốt nghiệp đại học. Sẽ có lợi thế hơn nếu bạn tốt nghiệp trường kinh doanh. Bạn cần trông giống như một nhân viên ngân hàng đầu tư. Vào giữa thập niên 1970, đó không phải là mẫu chuẩn của Ranieri vì anh ta chưa tốt nghiệp đại học, không có bản lý lịch và trông có vẻ vừa giống một nhân viên ngân hàng đầu tư, vừa giống một tay đầu bếp người Ý hạng xoàng. Theo lời của một trong những cựu đồng nghiệp của Ranieri, thì anh ta là “tên phì lũ”. Nhưng điều đó quả thực không thành vấn đề. Nếu ai đó thôi việc trên tầng giao dịch, thì người ta nhìn sang người ngồi gần nhất và nói: “Làm đi.” Tom Kendall, người đã bước ra khỏi khối văn phòng sang làm nhân viên giao dịch cho ban trái phiếu thế chấp của Lewie, nhớ lại: “Một tay giao dịch sẽ nói: ‘Ê nhóc, mày nhìn thông minh đó, ngồi xuống đây.’ Và nếu bạn là một người cực kỳ thông minh như Raneri thì bạn sẽ nắm bắt được.”

Cho tới lúc anh ta chuyển sang ban trái phiếu thế chấp, Ranieri luôn là kẻ nổi bật trong tất cả các ban mà anh đã từng kinh qua. Công ty đã khuyến khích sự xông xáo và khả năng, không bao giờ can thiệp bằng sức mạnh tự nhiên. Một tháng sau khi Ranieri được bổ nhiệm, quyền lực ở ban trái phiếu thế chấp đã nằm gọn trong tay anh ta. Nhìn nhận về tham vọng của Ranieri, thậm chí Dall cũng phải thừa nhận rằng “đảo chính” là không thể tránh khỏi. Dall ngã bệnh và luôn vắng mặt. Nhân lúc Dall vắng mặt, Ranieri đã bắt tay thành lập một phòng nghiên cứu (“trái phiếu thế chấp có liên quan đến toán học” – anh ta, một kẻ bỏ học giữa chừng, đã tâm niệm như vậy!) bằng cách đề nghị Michael Waldman, một nhà toán học hàng đầu cùng tham gia với anh ta. Waldman nhớ lại: “Lời đề nghị đấy được đưa ra theo phong cách của Lewie, thật đầy uy lực.”

Rồi Ranieri thuyết phục công ty giao cho anh ta một đội ngũ nhân viên bán hàng để bán những trái phiếu thế chấp ế ẩm mà người ta muốn anh ta giao dịch. Đột nhiên hơn chục tay nhân viên kinh doanh nhận thấy họ phải làm vui lòng Lewie Ranieri hơn bất kỳ ai mà từ trước đến nay họ đã từng làm vui lòng. Rish Shuster, tay kinh doanh của Salomon Brothers tại chi nhánh Chicago, chuyên trách tổ chức tiết kiệm, bỗng dưng lại thấy mình là nhân viên kinh doanh trái phiếu thế chấp cho Lewie Ranieri. “Có lần tôi gọi nhầm số điện thoại vào ban trái phiếu thế chấp, thực ra tôi định gọi cho ban hối phiếu thương mại. Lewie nhấc điện thoại và lập tức nhận ra điều gì đang xảy ra. Anh ta quát tôi ngay tức khắc: “Mẹ kiếp, mày đang làm cái quái gì vậy, bán hối phiếu thương mại hả? Mày lĩnh lương để bán trái phiếu thế chấp, biết chưa?” Vậy là các nhân viên kinh doanh bắt đầu tập trung vào trái phiếu thế chấp.

Steve Joseph là một người nữa có thể thay thế Dall, nhưng ông ta là một nhà tài chính doanh nghiệp chứ không phải tay giao dịch. Steve giải thích: “Vào thời điểm đấy, anh không thể đem một hoạt động giao dịch lớn đặt dưới quyền kiểm soát một nhà tài chính doanh nghiệp.” Ngược lại, người ta đặt một hoạt động tài chính doanh nghiệp lớn dưới danh nghĩa một tay giao dịch. Và thế là Lewie nắm luôn lấy quyền phụ trách tầng trên và đe dọa ban tài chính như là một trò tiêu khiển, rằng thậm chí phụ nữ cũng được thuê làm. (Chính xác, ban trái phiếu thế chấp không phải là pháo đài đối với sự kỳ thị giới tính. Trước đây có một phụ nữ mong muốn kinh doanh trái phiếu thế chấp nhưng đã bị từ chối: “Cô có thể được chấp nhận vào ban giao dịch đó, miễn là da trắng và là nam giới.” Cho đến tận năm 1986, không một phụ nữ nào được giao dịch trái phiếu thế chấp).

Bob Dall đã biến mất, mặc dù năm 1984 ông mới rời khỏi Salomon. Ông nhận ra mình bị mất việc. Ông đã bị Ranieri bóp nghẹt suốt nhiều tháng sau khi ông thuê anh ta. Những sự việc kiểu này xảy ra liên tục tại Salomon Brothers. Kẻ thách đấu đã chiếm lĩnh mọi thứ với lòng nhiệt tình hơn chút ít, nổi tiếng với khách hàng hơn chút ít và sức ảnh hưởng tới đồng sự hơn chút ít cho đến khi nhân vật mà anh thách đấu lặng lẽ biết mất. Dall gần như trở nên lỗi thời giống như chiếc tay quay cửa sổ trên xe ôtô. Ban quản trị không can thiệp, kẻ thua cuộc cuối cùng cũng ra đi. “Gutfreund không bao giờ nói cho tôi biết rằng tôi bị Lewie thay thế,” Dall nói. “Tôi vẫn bị treo ở đó và mất sáu tháng trời để nhận ra rằng đó không còn là thương vụ của mình nữa.”

Cho đến giờ, Ranieri vẫn gọi thị trường trái phiếu thế chấp là “tầm nhìn của Bobby”. Năm 1984, Dall thôi việc, ban đầu về làm cho Morgan Stanley và sau đó cho Steve Joseph – người lúc đó đã rời Salomon đến làm cho Drexel Burnham. “Nếu tôi không tin vào chủ nghĩa tư bản, có thể tôi không bao giờ tha thứ cho những gì đã xảy ra. Nhưng tôi thật sự tin vào nó: người có năng lực nhất tiến lên phía trước.” Dall đã nói với James Sterngold, phóng viên tờ New York Times, người đã cố khám phá những gì xảy ra đối với thành viên cũ của Salomon Brothers.

Tháng 2 năm 1979, Gutfreund đã chính thức giao Ranieri chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động trái phiếu thế chấp. Khoảng hai năm rưỡi sau, đối với mọi người – trừ những người trong ban, thì ban trái phiếu thế chấp mang tính khôi hài hơn tính thực tế. Ranieri đã kiến tạo nên một ban giao dịch với hình ảnh của chính mình: phong cách Ý, tự học, to tiếng và béo ị. Những tay giao dịch đầu tiên có xuất thân giống Lewie, đến từ khối văn phòng. Bọn họ chỉ có một tấm bằng đại học duy nhất là quản trị kinh doanh của Đại học Manhattan. Ngoài Ranieri, những người sáng lập ban giao dịch trái phiếu thế chấp còn lại là John D’Antona, Peter Marro và Manny Alavarcis. Theo gót họ là Bill Esposito và Ron Dipasquale. Họ thường được gọi với cái tên Lewie, Johnny, Peter, Manny, Billy và Ronnie. Họ có vẻ giống như một đội bóng cricket hơn là một nhóm nhân viên ngân hàng đầu tư. “Tất cả những chuyện về tôi ở phòng thư tín đều là sự thật,” Ranieri nói. “Khi điều hành ban trái phiếu thế chấp, tôi đã lấy ra những người ở khối văn phòng một cách cuồng tín. Trước tiên, tôi làm điều đó là vì lý do đạo đức. Nhưng công việc đã trôi chảy. Họ đánh giá cao việc đó. Họ đã không cảm thấy như thế giới đang nợ họ cuộc sống. Họ có lòng trung thành hơn.” Nhưng Ranieri cũng muốn có những bộ óc trẻ tinh nhạy từ chương trình đào tạo của Salomon Brothers. Vì vậy ban giao dịch này đã tiếp nhận thực tập sinh đầu tiên, và là người có bằng cao học quản trị kinh doanh đầu tiên, một người gầy đầu tiên và là người Do Thái đầu tiên: Jeffery Kronthal.

Kronthal nhớ lại rằng anh ta là thực tập sinh duy nhất của khóa đào tạo Salomon Brothers năm 1979 bắt tay vào lĩnh vực chuyên môn của mình với tư cách một thư ký. Những người được bố trí ở các phòng khác được phép tự gọi mình là nhân viên kinh doanh và giao dịch. Kronthal thậm chí không phải là thư ký trưởng. Anh là thư ký dưới quyền Peter. Với tư cách thư ký cấp dưới, trách nhiệm của anh là theo dõi tình trạng trái phiếu mà John D’Antona đang giao dịch.

Kronthal vừa tốt nghiệp chương trình gộp cử nhân và cao học quản trị kinh doanh kéo dài năm năm tại trường Wharton. Đó là chương trình gần nhất tại Mỹ đối với một trường kinh doanh dành cho các chuyên gia tài chính, và anh có nhiều hứng thú cũng như mối quan tâm tới nhiều chuyện khác hơn là tình trạng trái phiếu của Johnny. Điều này khiến Johnny không bằng lòng. Johnny ngả người vào chiếc ghế và hỏi: “Jeffery, tình trạng trái phiếu tới đâu rồi?”

Jeffery đáp: “Tôi không biết.”

Johnny gào lên với Lewie: “Mẹ kiếp, cái quái gì vậy? Thư ký mà đếch biết tình trạng?”

Lewie gào lên với Peter: “Mẹ kiếp, cái quái gì vậy? Thư ký mà đếch biết tình trạng?”

Peter hét với Jeffery: “Tại sao mày không biết tình trạng?”

Và Jeffery nhún vai.

Thực là khó để Kronthal trả lời nghiêm túc việc này vì hai lý do. Thứ nhất, anh biết rằng Lewie khoái anh và Lewie là ông chủ. Kronthal đã nhượng bộ Lewie bằng cách đồng ý tham gia ban trái phiếu thế chấp. Kronthal nhớ rằng các thành viên của khóa đào tạo chẳng hề thích thú gì với ban trái phiếu thế chấp non nớt ấy, “họ không có bằng thạc sỹ quản trị kinh doanh, đó là loại người kiểu Donnie Green.”

Loại người kiểu Donnie Green là những tay giao dịch khiến đám thực tập sinh khổ sở, một lũ người hết sức bẩn thỉu hay cộc cằn đối với bất kỳ ai không kiếm ra tiền cho công ty.

“Một tên Donnie Green thường không chào bạn khi bạn cố ngồi cùng anh ta, không chào tạm biệt khi bạn ra về, không thèm nhìn mặt bạn khi bạn còn ở đó. Không một thực tập sinh nào dám ngồi cạnh Donnie Green,” Kronthal nói. Bản thân Donnie Green là một tay giao dịch ở Salomon Brothers trong những thời kỳ đen tối, khi mà giới giao dịch có lông ngực nhiều hơn tóc. Người ta nhớ Donnie Green là người đã đứng chặn đường một nhân viên kinh doanh trẻ đang vội bước ra cửa để kịp chuyến bay từ New York đến Chicago. Donnie Green ném vào anh chàng kinh doanh một tờ 10 đô-la và nói: “Này nhóc, đi mua bảo hiểm rơi máy bay cho mày dưới tên tao đi.” Anh chàng kinh doanh hỏi: “Tại sao?” Donnie Green đáp: “Vì tao cảm thấy may mắn.”

Hồi đấy không ai muốn tới bất cứ chỗ nào gần ban trái phiếu thế chấp. Thậm chí Ranieri thừa nhận rằng việc Jeffery quyết định gia nhập ban trái phiếu thế chấp là vô cùng ngu xuẩn. Vậy tại sao Kronthal gia nhập? “Thứ nhất, tôi mới 23 tuổi và chẳng có vấn đề gì nếu nó không đi tới đâu, tôi không phải lo bất cứ chuyện gì ngoài việc nhậu nhẹt. Và thứ hai, công ty phải có niềm tin vào trái phiếu thế chấp, nếu không thì đừng để Lewie làm công việc đấy.”

Một lý do khác khiến Kronthal không quan tâm tới việc nhiều vị sếp mất thời gian la hét anh là do Lewie đã không xem công việc thư ký là quan trọng. “Lewie thường nói rằng tôi là thư ký thứ hai dỏm nhất mà ông ta từng gặp. Người thứ nhất chính là ông ta,” Kronthal nói. Nhưng chẳng có nhiều việc cho thư ký làm, và như thế, chẳng có nhiều việc cho bất cứ ai làm. Thị trường trái phiếu thế chấp giống như một thành phố ma. Không có gì chuyển động, không có gì trao đổi. Nó có nghĩa là họ không kiếm ra đồng nào. Để có trái phiếu giao dịch, Lewie thấy rằng ông ta cần phải bước ra đường và thuyết phục khách hàng của Salomon Brothers tham gia. Ông ta phải là người khởi xướng sòng bạc và đưa mọi người vào cuộc. Nhưng để rảnh rang thiết lập quan hệ, Lewie cần tìm được một người giám sát hoạt động giao dịch. Ông ta tìm kiếm vội vã và đến với Mario, một sai lầm nhỏ nhưng công bằng mà nói, quả thực buồn cười, có lẽ không phải sai lầm đầu tiên của ông ta và chắc chắn không phải là sai lầm cuối cùng.

Samuel Sachs, người gia nhập ban trái phiếu thế chấp với tư cách nhân viên kinh doanh năm 1979, nói: “Mario xuất thân từ Merrill Lynch và anh ta chẳng biết gì.” Trong khi tất cả những tay giao dịch khác là đám phì lũ lôi thôi lếch thếch thì Mario mặc bộ vest ba mảnh bằng vải pôliexte, đeo dây đồng hồ vàng lúc lắc thõng phía trước, rất bỏng bẩy, tóc chải thẳng nếp. Sachs nói: “Anh ta nghiêng về phía Lewie và hỏi: ‘Lewie, anh thích chúng (ý là thị trường trái phiếu) thế nào?’ Lewie đáp: ‘Tôi thích chúng lắm.’ Và Mario nói: ‘Ừm, tôi cũng vậy, tôi thích chúng lắm.’ 15 phút sau anh ta lại nghiêng qua Lewie và hỏi: ‘Này Lewie, bây giờ anh thích chúng thế nào?’ Lewie đáp: ‘Không thích chúng chút nào’ Và Mario nói: ‘Tôi cũng không thích.’ Mario trụ được 9 tháng ở Salomon Brothers với tư cách người đứng đầu hoạt động giao dịch trái phiếu thế chấp.

Vẫn còn nhu cầu tìm người đứng đầu hoạt động giao dịch. Tháng 5 năm 1980, Michael Mortara được triệu hồi từ chi nhánh London về, khi đó anh ta đang là một tay giao dịch, để lấp chỗ trống cho sự ra đi của Mario. Một trong những đồng nghiệp ở London nhớ lại vẻ khổ ải của Mortara khi không biết mình bị triệu hồi để làm gì. Mortara phàn nàn rằng bây giờ anh ta đã biết chính xác vì sao anh ta phải quay về. Nhưng có thể anh ta không vui lòng lắm về việc này. Sau một năm không kiếm ra đồng nào và làm trò cười cho các phòng ban khác ở Salomon Brothers, ban giao dịch trái phiếu thế chấp có vẻ sắp đến ngày tận số. Sự rạn nứt đang lớn dần giữa nhóm nhỏ những người Ý vô học này và phần còn lại của công ty. Giới kinh doanh trái phiếu thế chấp mâu thuẫn gay gắt với giới giao dịch trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty.

Một phần nào đó là do vấn đề tiền bạc. Trò trả lương của Salomon Brothers, giống như trò phân công công việc cho thực tập sinh, là con bài chính trị. Các khoản tiền thưởng cuối năm không liên quan trực tiếp đến khả năng kiếm tiền của một người, mà phụ thuộc vào việc ủy ban xét lương của Salomon Brothers đánh giá giá trị của người đó. Vào cuối năm, các khoản tiền thưởng mang tính chủ quan cao và một người bạn tốt ở đúng chỗ có thể giúp ích bằng một năm làm ăn tốt. Ban trái phiếu thế chấp không có ai là bạn mà cũng không có khoản tiền lãi nào. “Tôi đã không làm cho nhân viên của tôi được trả tiền,” Lewie nói. “Họ bị xem như là loại người hạng nhì. Chúng tôi là đội chăn cừu đen.” Tuy nhiên, điều làm cho những người này day dứt không phải là mức lương thuần túy của họ, mà là đồng lương của họ khi so với đồng lương của các tay giao dịch trái phiếu khác. “Bạn đã có được cảm giác rằng công ty đang cho bạn đặc ân (khi trả cho bạn bất cứ thứ gì),” Tom Kendall – một tay từng giao dịch trái phiếu thế chấp cho biết.

Ranieri nói: “Hãy hỏi những gã đó, họ sẽ nói cho anh rằng những tay giao dịch của công ty được trả lương gấp đôi so với họ.” Số tiền thưởng là bí mật của ban quản trị. Một tay giao dịch không được phép biết món tiền thưởng của người bên cạnh mình. Đúng vậy. Trên sàn giao dịch Salomon Brothers, một món tiền thưởng lớn được giấu kín giống như đề bài trước ngày thi. Nhưng một tay giao dịch chỉ cần mất khoảng một tiếng đồng hồ để khám phá ra người khác được trả bao nhiêu.

Nếu nguồn gốc những vết rạn nứt giữa các tay giao dịch trái phiếu thế chấp và các tay giao dịch trái phiếu khác đơn giản chỉ là tiền thì cuối cùng có lẽ nó đã được hàn gắn. Nhưng đã có một chiếc hố ngăn cách về văn hóa ngày càng rộng giữa hai nhóm người này. Vào cuối thập niên 1970, Jim Massey, người xây dựng chính sách tuyển dụng của Salomon, đã quyết định rằng Salomon cần phải cải thiện đội ngũ nhân sự. “Ông ta rút ra kết luận rằng chúng tôi không thể nào có một đống những kẻ thất học trên sàn giao dịch được,” Scott Brittenham nói. Brittenham làm công việc tuyển dụng nhân sự cho Massey năm 1980, trước khi chuyển sang giao dịch trái phiếu thế chấp.

Salomon Brothers có điểm xuất phát giống với các công ty khác ở Phố Wall. Công ty từng chỉ tuyển dụng những người có bằng MBA như Goldman Sachs và Morgan Stanley. Nó có tác dụng cả về mặt xã hội lẫn trình độ nghiệp vụ. Giống như đám Goldman Sachs, Lehman, Kuhn và Loeb đi trước, đám Salomon đang cảm thấy bài học rút ra được về những gì mà nhà văn Stephen Birmingham gọi là “đám tụi mình”, tuy nhiên chúng tôi cũng không hẳn là đi đến giai đoạn lắp đôi cánh mới để bay đến Bảo tàng Thủ đô. Công ty luôn được điều hành bởi những người Do Thái. Công ty đã tiến tới được điều hành bởi một nhóm nhỏ WASP , những kẻ muốn trở thành WASP và những người có tham vọng leo cao trong xã hội. Việc tổ chức lại bộ mặt công ty xảy ra đồng thời với việc bán mình cho nhà cung cấp hàng hóa Phillips Brothers năm 1981. Salomon không còn là một công ty hợp danh nữa mà trở thành tổng công ty. Mỗi đối tác trung bình nhận được một khoản 7-8 triệu đô-la từ thương vụ này. Dường như tất cả họ cùng thốt lên: “Bây giờ chúng ta có tiền và tiếp theo điều gì sẽ xảy ra?” Một đế chế. Một giai cấp. Những ngày nghỉ cuối tuần tại Paris. Những đêm ở Cung điện St. James.

Ban trái phiếu thế chấp đã có một nền văn hóa mạnh mẽ và vững vàng để tự bảo vệ mình vượt xa các ban trái phiếu chính phủ hay trái phiếu công ty trước đây. Trong khi các ban còn lại của công ty dần dần kiếm được nhân sự mới thì ban trái phiếu thế chấp vẫn giữ nguyên như cũ. Ranieri đã cố hàn gắn hai tính cách của hai nhóm người hầu như tách biệt lại với nhau. Gần như tất cả những tay giao dịch đều xuất thân từ một trong hai lý lịch sau: là người Ý – những người gây dựng nên ban đó, hoặc là người Do Thái với bằng MBA mới gia nhập ban sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo. Tôi không chắc rằng có ai trong số họ hội tụ những gì được gọi là tính đồng nhất sắc tộc thực thụ. Nhưng họ là thiểu số những người bị áp bức. Họ là những người ở dãy ghế sau.

Đứng ngoài mọi tiêu chuẩn, ban giao dịch trái phiếu thế chấp có sự phân biệt đối xử cao: chỉ có vài người da đen và người châu Á, không một phụ nữ nào. Ban trái phiếu thế chấp giống như Liên Hợp Quốc vậy. Những bức ảnh từ cuối thập niên 1970 trông giống như quảng cáo về nền hòa bình thế giới. Từ bức ảnh này đến bức ảnh kia, tất cả đều chứa đựng sự pha trộn ép buộc giữa những người da trắng, da vàng và da đen, đàn ông và đàn bà, đang làm việc hòa thuận trên những chiếc bàn họp sáng bóng. Tuy nhiên, vào giữa thập niên 1980, tất cả các màu da đen, da vàng và phụ nữ đã biến mất khỏi những bức ảnh đó. Không còn một vết tích nào về bất kỳ điều gì ngoài những người đàn ông da trắng trong các bản báo cáo hàng năm.

Ban trái phiếu thế chấp đã trở thành một nhóm người da trắng. Sự thỏa hiệp ngầm là Lewie sẽ làm mọi việc sao cho những tay giao dịch của ông được trả tiền và họ trung thành với Lewie. Ràng buộc của họ yếu hơn của Ranieri. Những tay giao dịch xuất thân từ các trường kinh doanh chứ không phải từ phòng thư tín. Nhiều người trong số họ độc lập về tài chính. Thực khó cho Ranieri để ban ơn. Ranieri thích được những người mà ông ta có thể ban ơn vây quanh mình. Ông ta thích mọi người, nhưng đặc biệt thích khái niệm “người của mình”. Lẽ ra ông ta rất thích có được những tay giao dịch mà không thể trả hóa đơn bệnh viện. Khi Bill Esposito thiếu 19.000 đô-la để mua một căn nhà mà anh ta muốn thì Ranieri đã nhờ Salomon lo giúp, Esposito nói: “Ranieri đã lấy làm tiếc rằng mình không thể cho tôi vay khoản đó từ tiền riêng của ông ta được.”

Tuy vậy, mọi người đã hưởng ứng. Năm 1979, từ Wharton, Tom Kendall đã gia nhập ban trái phiếu thế chấp sau một thời gian ngắn dừng lại ở khối văn phòng. Năm 1980, Mason Haupt, một người anh em cùng học với Kronthal tại trường Wharton và Steve Roth tại Stanford đã ký tên tham gia. Năm 1981, Andy Stone và Wolf Nadoolman của trường Harvard cũng gia nhập. Họ nhìn nhận mình trong mối quan hệ với các ban còn lại của công ty đúng như Lewie đã làm. Nadoolman nói: “Trong khi Tom Strauss (trụ cột đang nổi lên của ban trái phiếu chính phủ) và đám nhân viên của ông ta thắt những chiếc cà-vạt hiệu Hermès thì những người của Lewie lại là một gia đình Ý. Trong khi ban trái phiếu chính phủ ăn đậu hũ và mặc những chiếc quần thẳng nuột thì thái độ trong ban trái phiếu thế chấp là ‘Anh nói rằng mình chỉ ăn hai suất thôi, nghĩa là thế nào? Anh không thích ăn à? Anh từng nhìn thấy một tay giao dịch trái phiếu chính phủ to béo chưa? Tất nhiên là chưa. Họ săn và chắc. Họ khinh bỉ những gã béo phì. Nghe đây! Tôi biết mình đang nói gì, tôi là tên phì lũ.’”

“Rõ ràng những người còn lại của công ty kỳ thị chúng tôi vô điều kiện,” Tom Kendall nói. “Họ thường hỏi: ‘Mẹ kiếp, mấy bộ não ở trong cái góc kia làm gì để sống?’” Một trong những kỷ niệm sinh động nhất của Andy Stone thời thực tập sinh là một lần anh ta chỉ về phía “Ranieri và Công ty” rồi hỏi một tay giao dịch trái phiếu công ty: “Họ là ai?” “Chả ai cả,” tay giao dịch đó trả lời. “Thế chấp là ban số không. Không ai muốn ở trong đó,” Craig Coates – người đứng đầu ban giao dịch trái phiếu chính phủ đã hỏi Andy Stone, “Tại sao lại lựa chọn vào ban trái phiếu thế chấp trong khi anh có thể vào ban trái phiếu chính phủ?” Thậm chí ở các cấp cao hơn, những kẻ béo phị vẫn cho rằng những kẻ gầy còm hơn đã chơi khăm họ. Cựu giám đốc điều hành Mortara nói: “Công ty là một lãnh địa rối rắm. Những người trong các ban khác quan tâm tới việc bảo vệ công việc kinh doanh riêng của mình hơn là phát triển việc kinh doanh mới này.”

Mối ác cảm của những người nắm giữ quyền lực trong công ty đối với ban trái phiếu thế chấp ngày càng gia tăng vào đầu thập niên 1980, khi biết rằng những người ở ngoài ban đó muốn nó bị đóng cửa. Ban trái phiếu thế chấp không kiếm ra tiền. Các ban trái phiếu thế chấp khác trên Phố Wall – ở Merrill Lynch, First Boston, Goldman Sachs – vẫn còn trong trứng nước. Và họ đã đóng cửa hầu hết các ban này trước khi chúng đi vào hoạt động. Đương thời có lời khuyên rằng thế chấp không phải là dành cho Phố Wall.

Công việc kinh doanh bị lao đao do một tác động nào đó giống như một cú đấm “nốc ao”. Paul Volcker đọc bài diễn văn lịch sử của ông vào ngày 6 tháng 10 năm 1979. Lãi suất ngắn hạn đã tăng vọt. Nếu một nhà quản lý tổ chức tiết kiệm muốn cho vay tiền mua nhà thời hạn 30 năm thì anh ta phải lấy lãi suất 10%. Trong khi đó, để vay được tiền, anh ta phải trả 12%. Do vậy, anh ta dừng cấp các khoản vay mới, và đó cũng là mục đích của Cục Dự trữ Liên bang, tức là đang cố kìm hãm sức tăng trưởng chóng mặt của nền kinh tế. Số nhà mới được xây bắt đầu giảm tới mức thấp hơn trước chiến tranh. Trước khi có bài diễn văn của Volcker, phòng tài trợ trái phiếu thế chấp của Steve Joseph đã tạo ra khoảng 2 tỷ đô-la trái phiếu thế chấp. Đây là con số nhỏ thật nực cười, ít hơn 0,2% tổng giá trị thế chấp đang lưu hành của Mỹ. Nhưng nó là sự bắt đầu. Sau bài diễn văn của Volcker, các giao dịch đều ngừng lại. Để Ranieri và công ty tạo ra các trái phiếu, thì các tổ chức tiết kiệm cần phải cho vay. Nhưng họ đã không làm được. Ngành tài chính, vốn quản lý phần lớn các khoản vay thế chấp của Mỹ trên sổ sách, đã sụp đổ. Năm 1980, có tới 4.022 tổ chức tiết kiệm và cho vay tại Mỹ. Ba năm sau, 962 tổ chức trong số đó đã sụp đổ, như Tom Kendall nhận xét: “Tất cả họ đều quỵ xuống và liếm những vết thương của mình.”

Tất cả mọi người – ngoại trừ Ranieri. Ranieri khuếch trương. Tại sao? Ai mà biết được. Có lẽ ông ta đoán được tương lai từ một quả cầu pha lê huyền diệu. Có lẽ ông ta đã tính toán rằng ban của ông ta càng lớn mạnh thì nó càng khó sụp đổ. Cho dù là vì lý do nào chăng nữa, Ranieri đã thuê các nhân viên kinh doanh trái phiếu thế chấp bị các công ty khác sa thải, lập ra phòng nghiên cứu, tăng gấp đôi số người giao dịch và đưa phòng tài chính vào hoạt động. Ông ta thuê một hội luật sư và những người vận động hành lang tại Washington để thay đổi các văn bản pháp lý nhằm giúp gia tăng số người mua trái phiếu thế chấp. “Tôi sẽ nói cho anh nghe một sự thật,” Ranieri nói. “Thương vụ với Ngân hàng Hoa Kỳ (Bob Dall là người đầu tiên nghĩ ra) là vụ đầu tư hợp pháp chỉ ở trong ba tiểu bang. Tôi đã có một nhóm luật sư đang nỗ lực làm thay đổi luật pháp trên cơ sở từng bang. Có lẽ nó đã phải mất hai nghìn năm. Đó lý do tại sao tôi đã lên Washington để tiếp xúc thẳng với chính quyền liên bang.”

“Nếu Lewie không ưa một điều luật, ông ta sẽ làm cho nó thay đổi,” một trong số những tay giao dịch của Lewie giải thích. Cho dù Ranieri đã bảo đảm có sự thay đổi trong luật pháp, các nhà đầu tư vẫn dửng dưng với trái phiếu thế chấp. Tom Kendall nhớ lại lần gặp gỡ đầu tiên với nhân viên kinh doanh cao cấp của Ranieri là Rick Borden tại văn phòng chi nhánh của Salomon ở San Francisco năm 1979. Borden đang đọc một cuốn sách bàn về việc tự lập thân. “Tôi nhớ anh ta nói đi nói lại một câu: ’Những trái phiếu Ginnie Mae dở hơi này. Thời hạn của chúng bị kéo dài ra khi lãi suất trên thị trường lên cao, thu hẹp lại khi lãi suất giảm, và không ai muốn chúng cả’,” Kendall nói.

Vấn đề trở nên tồi tệ hơn khi ủy ban tín dụng của Salomon Brothers miễn cưỡng làm ăn với ngành tiết kiệm và vay nợ đang sa sút. Những khách hàng ngu xuẩn (kẻ khờ trên thị trường) là một tài sản tuyệt vời, song tới một mức độ ngu dốt nào đó, nó lại trở thành công nợ: Họ bị phá sản. Và vì lý do nào đó, các tổ chức tiết kiệm và cho vay đã không như những khách hàng ngu dốt bình thường. Một tổ chức tiết kiệm tại California, Beneficial Standard, đã hủy bỏ đơn đặt mua trái phiếu của Salomon Brothers, mặc dù nó đã xác nhận giao dịch theo cách thức đối với mọi giao dịch trái phiếu là qua điện thoại. Trước tòa, tổ chức tiết kiệm này yêu cầu rằng việc giao dịch trái phiếu thế chấp nên xử theo luật thế chấp hơn là luật chứng khoán, và rằng trong luật thế chấp, một hợp đồng bằng miệng không có ý nghĩa ràng buộc. Tổ chức này đã thua kiện. Đây gần như là trường hợp cuối cùng xử theo luật này.

Các ủy viên hội đồng quản trị Salomon Brothers cho rằng thị trường trái phiếu thế chấp là một tin xấu. Họ đã không hiểu thị trường này và cũng không muốn hiểu, họ chỉ muốn thoát ra khỏi nó mà thôi. Họ bắt đầu kế hoạch bằng các mối quan hệ khắt khe với ngành tiết kiệm. Toàn bộ ngành tiết kiệm có vẻ lung lay. Các hạn mức tín dụng bị cắt bỏ. Việc cắt đứt các mối quan hệ với các tổ chức tiết kiệm có nghĩa là đóng cửa các ban trái phiếu thế chấp vì các tổ chức tiết kiệm là đơn vị mua trái phiếu thế chấp duy nhất. “Về cơ bản, tôi đã đặt mình đứng giữa ủy ban tín dụng và các tổ chức tiết kiệm và cho vay,” Lewie nói. Trong tất cả các quyết định của ông ta, Ranieri chỉ có sự ủng hộ của duy nhất một nhân vật trong hội đồng quản trị Salomon Brothers – và sự ủng hộ đó là lá phiếu quan trọng: John Gutfreund. “John đã bảo vệ tôi,” Ranieri nói.

Hệ quả từ mối thù địch giữa ban trái phiếu thế chấp với hai thế lực hùng mạnh của Salomon Brothers – ban trái phiếu chính phủ và ban trái phiếu công ty – là ban trái phiếu thế chấp tách ra hoạt động độc lập với đầy đủ các thành phần: phòng kinh doanh, phòng nghiên cứu, phòng quản lý và phòng giao dịch về trái phiếu thế chấp. “Lý do mà mọi thứ bị tách rời là không có ai giúp đỡ chúng tôi,” Ranieri khẳng định.

Tuy nhiên, nó còn phức tạp hơn thế. Ở một mức độ nào đó, họ bị tách rời theo lựa chọn. Chính xác là Ranieri không từ bỏ đường lối của mình để thiết lập cầu nối với các ban còn lại của công ty. Bob Dall đã bám chắc vào ba trang khuyến nghị gốc mà ông gửi cho hội đồng quản trị Salomon Brothers, rằng ban trái phiếu thế chấp nên đứng độc lập. Ông vẫn còn nhớ đường lối mà vị sếp cũ, Bill Simon, đã từng xử lý với những trái phiếu thế chấp đầu tiên. Nếu ban trái phiếu thế chấp bị buộc phải làm việc cùng với ban trái phiếu chính phủ, ông nói: “Thị trường trái phiếu thế chấp sẽ không bao giờ cất cánh lên được, nó sẽ bị nô lệ hóa.” Nếu mấy nhà tài chính ở Salomon Brothers, với công việc chính là liên hệ với các CEO của những công ty lớn, bị buộc phải làm việc với trái phiếu thế chấp, thì “họ sẽ không hoàn thành được hợp đồng hay dự án nào. Những người thuộc ban tài chính doanh nghiệp cảm thấy trái phiếu thế chấp dưới tầm của họ,” Dall giải thích.

Nhưng trong ý nghĩ của Ranieri, ban trái phiếu thế chấp đứng độc lập vì lý do rất đơn giản, nó đã không có bạn bè. Ông ta đã xây dựng những bức tường cao để bảo vệ người của mình khỏi các thế lực thù địch. Kẻ thù không còn là những kẻ cạnh tranh trên Phố Wall nữa, vì nó hầu như đã biến mất. Kẻ thù chính là Salomon Brothers. “Điều mỉa mai,” Ranieri nói, “là công ty sẽ luôn chỉ vào ban trái phiếu thế chấp và nói: ‘Kìa, hãy xem, chúng ta thật là cách tân và nhiều sáng kiến!’ Nhưng sự thật là công ty phản đối mọi việc mà chúng tôi làm. Ban này đã ra đời bất chấp công ty chứ không phải vì công ty.”

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.