Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 6

Chương VI. Đám phì lũ và cỗ máy kiếm tiền tuyệt vời

1981-1986

Vào tháng 10 năm 1981, những sự kiện sáng tỏ đã bắt đầu lóe lên trong ban giao dịch trái phiếu thế chấp và thoạt đầu không ai biết vì sao. Ở đầu dây điện thoại bên kia là những vị chủ tịch đầy lo âu của các tổ chức tiết kiệm và cho vay trên khắp nước Mỹ đang muốn nói chuyện với một tay giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon. Thật tuyệt vọng, họ muốn bán các khoản vay của mình. Mỗi khoản thế chấp nhà tại Mỹ trị giá 1.000 tỷ đô-la dường như để bán đi. Có tới một nghìn người bán mà không kẻ nào mua. Xin đính chính: có một người mua, Lewie Ranieri và những tay giao dịch của ông ta. Sự mất cân bằng giữa cung và cầu quả thật khiến người ta choáng váng. Nó như thể là chiếc vòi nước cứu hỏa phụt trực tiếp vào một đám nhãi ranh cầu bơ cầu bất đang khát nước. 1.000 tỷ đô-la đang rót qua đường dây điện thoại, và tất cả những gì mà đám giao dịch phải làm là chỉ việc mở toác miệng ra và nuốt càng nhiều càng tốt.

Chuyện gì đã xảy ra? Từ khi Cục Dự trữ Liên bang nâng mức lãi suất vào tháng 10 năm 1979, các tổ chức tiết kiệm bị chảy máu tiền tệ. Toàn bộ cơ cấu cho vay mua nhà đứng bên bờ sụp đổ. Tại thời điểm đó, khi mà dường như nếu chẳng có gì được thực hiện thì tất cả các tổ chức tiết kiệm và cho vay sẽ bị phá sản. Vậy nên vào ngày 30 tháng 9 năm 1981, Quốc hội đã thông qua một chính sách giảm thuế cho ngành tiết kiệm. Nó đã hỗ trợ mạnh mẽ cho các tổ chức tiết kiệm. Tuy nhiên, để tận dụng lợi thế này, các tổ chức tiết kiệm phải bán các khoản vay thế chấp của mình. Và họ đã làm vậy, khiến doanh thu trên Phố Wall đạt hàng trăm tỷ đô-la. Phố Wall không đề xuất ra chính sách giảm thuế đó và quả thực những tay giao dịch của Lewie Ranieri cũng không biết về pháp chế đấy mãi cho tới khi nó được đưa ra. Điều đó nghĩa là Quốc hội đã đem một khoản tiền trợ cấp lớn đến cho Phố Wall. Quyền làm mẹ và quyền sở hữu nhà muôn năm! Quốc hội Hoa Kỳ vừa cứu nguy cho Ranieri và “Công ty”. Ban trái phiếu thế chấp duy nhất này với đầy đủ nhân viên trên Phố Wall chẳng còn lúng túng nữa, nó đã trở thành một tư bản độc quyền thịnh vượng.

Tất cả là một sai lầm nghiêm trọng. Thị trường không phát nổ với hàng triệu tấn thuốc nổ mà Bob Dall đã liệt kê trong bản báo cáo phân tích mà ông gửi cho Gutfreund (sự gia tăng về nhà ở, sự di chuyển từ Rust Belt tới Sun Belt…), mặc dù về sau những thứ đó mới thể hiện là nhân tố gây ảnh hưởng. Thị trường đã cất cánh nhờ một vụ giảm thuế rất đơn giản. Nó như thể việc Steven Jobs mua một văn phòng, thiết lập một dây chuyền sản xuất, thuê 200.000 nhân viên bán hàng và thiết kế catalog quảng cáo trước khi ông ta có thứ gì đó để bán. Và rồi ai đó phát minh ra máy vi tính. Thấy vậy, Jobs lao vào hành động, gọi cơ sở hạ tầng vô dụng trước đây của ông ta là công ty Apple Computer.

Những tay giao dịch trái phiếu có chiều hướng xử lý một ngày giao dịch như thể nó là ngày cuối cùng trong đời họ. Triển vọng ngắn hạn này khiến họ khai thác điểm yếu của khách hàng mà không lo ngại về tác động dài hạn đối với các mối quan hệ khách hàng. Họ có thể thoát khỏi mọi rắc rối nếu có. Một người bán liều mạng là kẻ ở trong thế yếu. Anh ta ít quan tâm tới việc trả bao nhiêu hơn là khi nào thì được trả. Các vị chủ tịch tổ chức tiết kiệm đều tuyệt vọng. Họ tới ban giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers một cách khúm núm với chiếc mũ lật ngửa. Nếu họ định bộc lộ rõ ràng về điểm yếu của mình như vậy, thì có lẽ họ cũng đã chuẩn bị sẵn một tấm séc cho Salomon Brothers rồi.

Tình hình đã bị sự ngu dốt của các tổ chức tiết kiệm và cho vay làm trầm trọng thêm. Những thành viên Câu lạc bộ 3-6-3 chưa bao giờ trải qua các bài kiểm tra thần kinh đối với thị trường trái phiếu, họ không biết chơi Bài Nói dối. Họ không hiểu cách che giấu tâm lý của những người mà họ đang đối mặt. Họ không biết giá trị của những thứ đang bán. Trong một vài trường hợp, thậm chí họ không biết đến các điều khoản (thời hạn, lãi suất) của những khoản vay. Điều duy nhất mà mấy vị quản lý tổ chức tiết kiệm và cho vay biết là họ muốn bán bao nhiêu. Thực không thể tin nổi, tất cả những tay giao dịch Salomon đều nhận thấy dù những người này bị đối xử thô bạo thế nào thì họ vẫn cứ đến. Họ giống như những chú vịt mà tôi từng nhìn thấy trong cuộc săn của công ty, chúng được huấn luyện lượn đi lượn lại trên cùng một khoảnh đất cho đến khi bị bắn chết mới thôi. Bạn không cần phải là Charles Darwin để xem giống này là giống gì mà bị đày đọa đến thế.

Tay giao dịch Tom DiNapoli hứng khởi nhớ lại cú điện thoại của một vị chủ tịch tổ chức tiết kiệm và cho vay: “Ông ta muốn bán các khoản vay trị giá 100 triệu đô-la, thời hạn 30 năm (có cùng lãi suất) và mua 100 triệu đô-la các khoản vay khác, trả bằng tiền mặt. Tôi bảo ông ta rằng tôi sẽ mua các khoản vay của ông ta ở mức 75 xu ăn 1 đô-la và ra giá các khoản vay mới ở mức 85 xu.” Vị chủ tịch này gãi đầu gãi tai với những con số ấy. Ông ta định bán các khoản vay hầu như không khác gì mấy với khoản vay mà ông ta được chào mua, nhưng sự khác biệt về lãi suất sẽ khiến ông ta bị lỗ 10 triệu đô-la vào tay Salomon Brothers ngay lập tức. Ông ta nói: “Như thế không có vẻ là một thương vụ có lợi lắm cho tôi.” Di Napoli đã sẵn sàng cho việc này: “Đúng vậy, nếu nhìn trên khía cạnh kinh tế. Nhưng hãy nhìn theo cách này, nếu không làm vậy thì ông ta sẽ mất việc.” Một tay đồng nghiệp đang nói chuyện với vị chủ tịch tổ chức tiết kiệm khác qua điện thoại đã nghe lỏm Di Napoli và gần như ngất xỉu. Đó là điều nực cười nhất mà anh ta mới nghe được trong ngày. Anh ta có thể hình dung được nhân vật ở đầu dây nói bên kia, đúng là đang tuôn ra những lời tuyệt vọng.

“Tháng 10 năm 1981 là thời kỳ tăm tối nhất trong lịch sử của các thị trường vốn,” Larry Fink, một đối tác của Steven Schwartzman, Peter Peterson và David Stockman thuộc Blackstone Group, cho biết. Tháng 10 năm 1981, Fink là người đứng đầu một ban giao dịch trái phiếu thế chấp nhỏ ở First Boston, dần dần đã lớn mạnh và trở thành đối thủ cạnh tranh của Lewie Ranieri. “Các tổ chức tiết kiệm và cho vay làm được điều tốt nhất cho mình là không làm gì cả. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay tiến hành những giao dịch lớn thì lại bị làm thịt.”

Có lẽ vậy! Tuy nhiên, như mọi vụ giao dịch trên thị trường trái phiếu, đây là những giao dịch được thỏa thuận giữa những người cùng đồng tình, và nguyên tắc duy nhất là: Người mua hãy thận trọng! Nếu đấy là một trận đấu quyền Anh thì có lẽ nó đã được can thiệp giữa chừng để bảo vệ đối thủ yếu hơn khỏi bị giết chết. Nhưng không phải vậy. Trong bất kỳ trường hợp nào, sự lạm dụng còn có thể trở nên tồi tệ hơn. Lewie Ranieri có thể cảm giác được sự sợ hãi, và bất cứ nơi nào có thể, ông ta liền can thiệp để khôi phục thế cân bằng giữa các vị chủ tịch tổ chức tiết kiệm và các tay giao dịch. Andy Stone nhớ lại việc mua các trái phiếu thế chấp trị giá 70 triệu đô-la với giá 80 xu ăn 1 đô-la. Theo yêu cầu của Stone, một nhân viên kinh doanh trái phiếu tại California bán ngay các trái phiếu đó cho Ben Franklin – một chủ tịch tổ chức tiết kiệm và cho vay khác với giá 83 xu ăn 1 đô-la. Trong một vài phút Stone đã kiếm được 2,1 triệu đô-la (3% của 70 triệu). Sau đó là tiếng vỗ tay như thường lệ và lời khen ngợi nhân viên kinh doanh được phát trên loa của công ty, Stone thông báo với Ranieri.

Lúc này 2,1 triệu đô-la là một ngày làm việc tốt đẹp. Stone là một tay giao dịch mới được 8 tháng tuổi nghề, anh ta muốn thể hiện cho sếp thấy rằng mình làm việc rất cừ. Vị sếp không hài lòng lắm. Lewie Ranieri nói: “Nếu không phải vì anh còn trẻ, tôi đã đuổi anh ngay bây giờ. Hãy gọi vị khách hàng đó và nói với ông ta rằng anh là người lột da mặt ông ta. Nói cho ông ta rằng anh đã mua các trái phiếu đó với giá 80 và vì thế giá bán không phải là 83, mà chỉ là 80,25 thôi.” Stone đáp: “Hãy hình dung xem cảm giác thế nào khi gọi cho một người khách hàng và nói: ‘Xin chào, tôi là thằng lỗ thối, tôi đã lột da mặt ông’”.

Không chỉ những tên bù nhìn đã xếp hàng để giao dịch với Salomon Brothers. Thậm chí cả những vị chủ tịch thông minh và hiểu biết của tổ chức tiết kiệm và cho vay cũng cảm thấy họ đang phải đối mặt với sự lựa chọn giữa việc bị làm thịt và tự sát dần dần. Không làm gì – điều đó được đánh vần là “phá sản”. Chi ra 14% cho các khoản tiền gửi trong khi thu vào 5% từ các khoản thế chấp nhà là một cuộc vật lộn sinh tồn trong tuyệt vọng, nhưng đây đúng là tình thế mà các tổ chức tiết kiệm và cho vay đã phải làm. Cuối năm 1982, các tổ chức tiết kiệm và cho vay cố xoay xở để tìm ra lối thoát khỏi cơn thảm họa. Vào thời điểm này, lãi suất ngắn hạn rơi xuống thấp hơn lãi suất dài hạn. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay đã có thể cho vay thế chấp với lãi suất 14% trong khi nhận tiền gửi với lãi suất 12%.

Các tổ chức tiết kiệm và cho vay đã chồng hàng tỷ đô-la khoản vay mới trên khoản cho vay trước đây, gây thua lỗ hàng trăm triệu đô-la với niềm hy vọng rằng những khoản mới sẽ bù đắp những khoản cũ. Mỗi lần mua thêm trái phiếu thế chấp (điều nay giống như cho vay) giống như một hành động cùn đời của kẻ tuyệt vọng. Chiến lược này hết sức vô trách nhiệm, vì vấn đề cơ bản (vay kỳ hạn ngắn để cung cấp các khoản cho vay kỳ hạn dài), đã không được xử lý. Sự leo thang có nghĩa rằng những khủng hoảng tiếp theo của các tổ chức tiết kiệm và cho vay sẽ lớn hơn. Nhưng các nhà quản lý tổ chức tiết kiệm và cho vay không nghĩ trước điều đó. Họ đơn giản chỉ cố giữ cho tổ chức của mình mở cửa. Việc này giải thích tại sao các tổ chức tiết kiệm và cho vay vẫn tiếp tục mua trái phiếu thế chấp ngay khi họ vừa bán các khoản vay của mình.

Những thay đổi về thuế và kế toán được thiết lập để cứu nguy cho ngành tiết kiệm và cho vay, dường như cuối cùng là để giúp ban trái phiếu thế chấp của Lewie Ranieri. Chúa trời đã tuôn mưa vàng lên các tay giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon. Hay ít nhất đó cũng là cách nhìn đầy ghen tỵ của phần còn lại trên Phố Wall. Lewie Ranieri đã để cho những chàng trai của ông ta cứ mua vào rồi tính sau, ngay giữa thời kỳ thay đổi đột ngột của ngành tiết kiệm và cho vay. Và các tay giao dịch Salomon thấy mình đóng một vai trò mới thật kỳ quặc. Họ không còn giao dịch các trái phiếu thế chấp nữa, thay vào đó là nguyên liệu thô làm ra các trái phiếu đó: các khoản vay mua nhà. Salomon Brothers đột nhiên đóng vai trò của một tổ chức tiết kiệm và cho vay. Không có tổ chức nào, không phải Ginne Mae, không phải Ngân hàng Hoa Kỳ đứng làm trung gian giữa nhân viên ngân hàng đầu tư ở Phố Wall và chủ sở hữu nhà, Salomon đứng trước rủi ro đối với khả năng trả nợ trước hạn của chủ sở hữu nhà. Một kẻ thận trọng lẽ ra phải thanh tra số tài sản thế chấp đó, vì chẳng còn thứ gì khác ngoài tài sản đó làm cơ sở cho các khoản vay.

Nhưng nếu bạn định chạy đua với thị trường mới này, bạn sẽ không có thời gian để kiểm tra mọi tài sản trong một lô các khoản vay. Việc mua toàn bộ các khoản vay (giới giao dịch gọi là các khoản vay mua nhà để phân biệt chúng với trái phiếu thế chấp) là một hành động cần đức tin giống như việc ăn xúc xích Bologna vậy. Biến đổi thình lình đức tin là biệt tài của Lewie Ranieri. Một phép tính nhanh nhạy đã cho ông ta thấy rằng cái giá phải trả cho các khoản nợ xấu là bao nhiêu chăng nữa thì nó cũng không thể hơn món lãi mà ông ta sẽ kiếm được bằng cách buôn bán những thứ này. Hóa ra ông ta đã đúng. Có lần ông ta mua được các khoản vay dùng để xây dựng một loạt nhà thờ Baptist ở bang Texas, nhưng nhìn chung các khoản vay này đều là cho việc xây dựng nhà cửa, đúng như các nhà quản lý tổ chức tiết kiệm bán chúng đã xác nhận.

Tuy nhiên, như tôi đã nói, niềm tin vào các tổ chức tiết kiệm đã gây cho giới chóp bu của Salomon Brothers một nối lo sợ. (Và Salomon không đơn độc. Phần lớn những công ty khác ở Phố Wall đều có mối quan hệ với các tổ chức tiết kiệm đó). Lewie Ranieri nhớ lại: “Ban quản trị đã nói rằng tôi không thể giao dịch toàn bộ các khoản vay. Vì thế tôi đã đi ra ngoài và dù thế nào cũng vẫn làm việc ấy. Mọi người khăng khăng là tôi không nên. Họ bảo tôi có thể đi tù. Nhưng toàn bộ các khoản vay đó là 99,9% của toàn bộ thị trường trái phiếu thế chấp, vậy làm sao có thể không giao dịch?” Mặc dù vậy, “Chúng tôi đã mua,” Tom Kendall nói, “và rồi nhận ra rằng cần phải có một đại bàng trước khi mua chúng. Con đại bàng đó chính là sự đồng ý của Federal Housing Administration (Cục Quản lý Nhà ở Liên bang) cho phép buôn bán toàn bộ các khoản vay thế chấp.” “Cho nên, chúng tôi đi tìm và có con đại bàng”

Lewie Ranieri và Công ty có ý định chuyển “toàn bộ các khoản vay” thành trái phiếu càng nhanh càng tốt, bằng cách đưa cho chính phủ liên bang đóng dấu. Rồi họ có thể bán các trái phiếu đó cho các công ty đầu tư của Salomon như là trái phiếu chính phủ. Vì mục đích đó, phần nào cho thấy kết quả của việc Ranieri bền bỉ vận động hành lang, hai cơ quan mới nhảy vào chính quyền liên bang song song với Ginnie Mae. Họ đã bảo lãnh cho các khoản thế chấp không đủ tiêu chuẩn đối với dấu xác nhận của Ginnie Mae. Federal Home Loan Mortgage Corporation (Công ty cho vay thế chấp nhà toàn liên bang) (gọi là Freddie Mac) và Federal Nation Mortgage Association (Hiệp hội liên bang thế chấp nhà quốc gia) ( gọi là Fannie Mae), mà họ có thể chuyển hầu hết các khoản thế chấp nhà thành trái phiếu được chính phủ bảo lãnh. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay đóng cước phí để các thế chấp của họ được bảo lãnh. Các khoản vay càng rủi ro thì cước phí phải trả càng cao để thế chấp của họ được đóng dấu bởi một trong những cơ quan này. Tuy nhiên, một khi chúng đã được đóng dấu thì chẳng còn ai quan tâm về chất lượng của chúng nữa. Những chủ sở hữu nhà vỡ nợ sẽ trở thành vấn đề của chính phủ. Nguyên tắc làm cơ sở của chương trình trên là các cơ quan này có thể đánh giá tài sản tốt hơn và lấy phí cho chất lượng tín dụng tốt hơn so với các nhà đầu tư riêng lẻ.

Ban trái phiếu thế chấp tự phát tuyệt vời trở thành nơi làm việc nếu triết lý sống của bạn là: Sẵn sàng! Nhắm mục tiêu! Bắn! Việc trả lương cho những tay giao dịch du côn ở đây, theo các tiêu chuẩn của lúc bấy giờ, là nhiều đến mức kinh ngạc. Năm 1982, sau khi đã thoát khỏi hai năm rưỡi đói kém, ban trái phiếu thế chấp của Lewie Ranieri đã kiếm được 150 triệu đô-la. Năm 1984, một tay giao dịch thế chấp tên là Steve Baum đã làm cho kỷ lục của Salomon Brothers bị đảo lộn, anh ta kiếm 100 triệu đô-la chỉ trong một năm giao dịch các khoản vay. Mặc dù không có con số chính thức nào, song mọi người đều công nhận những tay giao dịch của Lewie Ranieri đã kiếm được 200 triệu đô-la vào năm 1983, 175 triệu đô-la năm 1984 và 275 triệu đô-la năm 1985.

Lewie Ranieri là người luôn gặp “thiên thời địa lợi nhân hòa”. “Ông ta sẵn sàng nhảy vào những thứ mà mình không thấu hiểu trọn vẹn. Ranieri có một bản năng của một tay giao dịch mà ông ta tin tưởng. Đó là điều quan trọng,” một trong những tay giao dịch cao cấp của ông ta nói: “Thái độ ở Salomon vẫn luôn là: Nếu bạn tin tưởng vào nó, hãy tiến lên; nhưng nếu không thành công, bạn sẽ bị làm thịt.” Và Lewie Ranieri đã hưởng ứng điều này. Ở công ty khác chắc chắn ban quản trị sẽ nói: ‘Ôi lạy Chúa, liệu chúng ta có thật sự muốn đánh cược cả trang trại vào vụ này không?’ Lewie Ranieri không chỉ sẵn sàng đem cả trang trại ra đánh cược. Ông ta còn sẵn sàng thuê mọi người và cho họ cùng đánh cược với trang trại đó nữa. Thái độ của ông ta là: ‘Cái quái gì vậy? Nó chỉ là một cái trang trại!’ Nếu làm việc ở các công ty khác, có lẽ Ranieri phải viết báo cáo tới 200 trang cho một ủy ban muốn biết chắc rằng liệu những việc mà ông ta làm có an toàn không. Có lẽ ông ta cũng phải chứng tỏ rằng biết mình đang làm gì. Ranieri sẽ không làm được chuyện đó. Bởi vì ông ta hiểu mình đang làm gì, nhưng không bao giờ chứng minh được. Nếu Lewie Ranieri đã được bổ nhiệm để giám sát thị trường trái phiếu thế chấp ở công ty khác, thì nó sẽ chẳng đi tới đâu.”

Sàn giao dịch Salomon quả độc nhất vô nhị. Nó chịu sự giám sát ít nhất và không chịu sự giới hạn vị thế. Một tay giao dịch có thể mua hoặc bán nhiều trái phiếu, tới mức anh ta cho là thích hợp mà không xin phép. Nói cách khác, sàn giao dịch Salomon là cơn ác mộng đối với một vị CEO. “Nếu sàn giao dịch Salomon là bài tập ví dụ ở trường kinh doanh,” tay giao dịch trái phiếu thế chấp Wolf Nadoolman nói, “thì nhân vật CEO đó sẽ nói: ‘Thật đáng kinh ngạc!’ Nhưng bạn biết không? Vị CEO đã lầm. Đôi khi anh ta đánh mất một ít bột mì, song có lúc lại kiếm được cả một gia tài. Salomon đã đúng.”

Kiểu quản lý thả lỏng của Salomon cũng có mặt xấu. Salomon Brothers là công ty lớn duy nhất trên Phố Wall trong thập niên 1980 không có hệ thống phân bổ chi phí. Dường như không thể tin được rằng chẳng có một cách thức nào để tính mức tối thiểu, mọi người được đánh giá bởi tổng doanh thu theo sổ sách giao dịch và họ không cần biết mất bao nhiêu chi phí để tạo ra doanh thu đó. Vào thời kỳ còn là công ty hợp danh (1910-1981), các nhà quản lý có khoản tiền riêng trong két thì việc buông lỏng kiểm soát tỏ ra hiệu quả. Nhưng bây giờ, khoản tiền đó không thuộc về họ nữa, mà thuộc về cổ đông. Và những gì có lợi cho một công ty hợp danh trở thành hiểm họa cho công ty cổ phần do công chúng nắm giữ.

Thay vì tập trung vào lợi nhuận, các nhà quản lý kinh doanh tập trung vào doanh thu. Họ được thưởng công vì sự tăng trưởng bừa bãi. Tổng doanh thu của tài sản góp vốn có nghĩa là quyền lực thực chất. Cuối cùng Lewie Ranieri cũng được bầu làm thành viên năm 1978. Sức ảnh hưởng của ông ta đã tàn lụi theo doanh thu cho tới cuối năm 1981, nhưng khi thị trường trái phiếu thế chấp bùng nổ, ông ta lại bắt đầu leo lên tận vị trí cao nhất của Salomon Brothers. Năm 1983, với việc ban trái phiếu thế chấp của ông tạo ra 40% tổng doanh thu của công ty, trong khi không có ban nào kiếm được hơn 10%, ông ta đã được cất nhắc vào hội đồng quản trị Salomon Brothers. Ông ta mở rộng làm ăn bằng cách thuê thêm các tay giao dịch và chuyển sang các khoản thế chấp bất động sản.

Tháng 12 năm 1985, John Gutfreund đã phát biểu với một phóng viên: “Lewie chắc chắn nằm trong danh sách số ít những người ứng cử chức vị chủ tịch tương lai.” Ranieri đã mở rộng làm ăn bằng cách mua lại một ngân hàng cho vay thế chấp – thực hiện các khoản vay trực tiếp đối với người mua nhà – và mang lại cho Lewie Ranieri “nguồn nguyên liệu” tạo ra trái phiếu thế chấp. Năm 1986, Ranieri có tên trong văn phòng chủ tịch trực tiếp dưới quyền Gutfreund. Trong năm đó, Lewie đã mở rộng ra nước ngoài, thành lập một công ty về thế chấp tại London nhằm tái tạo thị trường thế chấp ở Anh theo hình ảnh của thị trường Hoa Kỳ. Ngồi cùng với ông ta ở văn phòng chủ tịch là hai vị đại diện của ban trái phiếu công ty và trái phiếu chính phủ. Đó là Tom Strauss và Bill Voute. Hai người này đều có khả năng trở thành chủ tịch tương lai. Cả hai cũng đang mở rộng ban của họ, nhưng không nhanh bằng Ranieri. Vào giữa năm 1987, mặc dù không thể chứng minh được, nhưng một giám đốc điều hành của Salomon cho rằng 40% trong số 7.000 nhân viên của Salomon, bằng cách này hay cách khác, đã báo cáo cho Lewie Ranieri.

Với hoạt động giao dịch, doanh thu phát đạt và tiến bộ tính ở mọi cấp độ của công ty. Các con số trên sổ sách giao dịch của những tay giao dịch ở Salomon Brothers được khám phá giống như cách khám phá số tiền thưởng vào cuối năm của đồng nghiệp bên cạnh. Mặc dù thực tập sinh là những người cuối cùng nghe được bất kỳ điều gì, nhưng rồi những lời sau đây cũng đến tai họ – khi cơ hội đang ập đến vì sự thay đổi mạnh mẽ của thị trường vốn: “Tất cả những gì các anh phải làm là ngồi trong lớp học, tính xem có bao nhiêu khoản thế chấp lưu hành trong nước, dự đoán điều gì sẽ xảy ra nếu chúng được trái phiếu hóa, chẳng hạn 10% trong số đó, các anh thấy chúng lớn cỡ nào chưa?” – một tay từng làm giao dịch ở Salomon, thực tập sinh khóa 1982 tên là Marc Freed đã cho biết.

Năm 1984, Salomon Brothers đã thành công khi thuyết phục một tiểu ban của Quốc hội Hoa Kỳ rằng nước Mỹ cần có 4.000 tỷ đô-la để xây dựng nhà trước năm 1994. Ranieri, vị anh hùng trong cuộc chinh phạt, huyền thoại của Salomon, hiện thân của khái niệm thành công xuất hiện trước lớp đào tạo để mô tả quang cảnh chuyến bay khứ hồi từ California: Từ trên máy bay, ông ta nhìn xuống và thấy những căn nhà nhỏ bé, tất cả chúng đều được thế chấp ra sao, và tất cả các khoản thế chấp đó cuối cùng cũng sẽ đi tới sàn giao dịch trái phiếu Salomon Brothers ra sao. (Không ai nghi ngờ về khả năng ông ta có thể nhìn thấy những căn nhà đó từ độ cao hơn 3.000 m. Nếu ai đó nghi ngờ, thì đấy chính là Ranieri). Năm 1984, ban giao dịch trái phiếu thế chấp là nơi khao khát được làm việc dưới con mắt của những thạc sỹ quản trị kinh doanh vừa tốt nghiệp chương trình đào tạo của Salomon Brothers. Người ta muốn kinh doanh trái phiếu thế chấp, muốn trở thành người giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers, muốn là một bộ phận trong cỗ máy kiếm tiền mà vào thời điểm đó đang kiếm ra hơn một nửa doanh thu cho công ty.

Những tay giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers đã hà hiếp, áp chế cả thị trường trái phiếu lớn nhất thế giới lẫn công ty của họ – một công ty đã vượt xa những công ty làm ăn sinh lãi nhất trên Phố Wall. Họ cảm thấy may mắn. Một tay thế chấp đã nói: “Một thực tế được thừa nhận là các tay giao dịch thế chấp có những trái tim bằng lửa (ý nói can đảm liều lĩnh). Với tư cách là một tay giao dịch loại này, anh không chỉ kiếm được rất nhiều tiền mà là tất cả số tiền trên thị trường của mình. Anh không chỉ thực hiện một vài thương vụ, cũng không phải là hầu hết – mà là tất cả các thương vụ trên thị trường này.”

Để làm được tất cả các thương vụ trong thị trường của mình, bạn phải có những người mua cũng như người bán, và vào tháng 10 năm 1981, trên thị trường xuất hiện rất ít loại người này. Cùng với Mike Milken của Drexel Burnham, Lewie đã trở thành một trong những “nhà truyền giáo” vĩ đại nhất về trái phiếu trong thập niên 1980. Khi đi khắp đất nước để thuyết phục các tổ chức đầu tư mua trái phiếu thế chấp, Ranieri đã đâm sầm vào Milken. Họ tới thăm cùng một khách hàng trong cùng một ngày. “Sản phẩm của tôi đã cất cánh đầu tiên,” Ranieri nói. “Các nhà đầu tư đã bắt đầu mua cuốn cẩm nang theo nguyên tắc Ranieri.” Cuốn cẩm nang theo nguyên tắc Ranieri, được rút gọn lại là: “Những trái phiếu thế chấp thì rẻ đến tê răng!” Giọng điệu chào hàng khởi đầu của Ranieri là tập trung vào yếu tố lợi nhuận (lãi suất) cao hơn của trái phiếu thế chấp so với trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty với cùng chất lượng tín dụng. Đa số trái phiếu thế chấp được xếp hạng cao nhất, AAA, theo hai cơ quan đánh giá chính là Moody và Standard & Poors Đa số trái phiếu thế chấp được hậu thuẫn bởi chính phủ Hoa Kỳ, hoặc trực tiếp như trong trường hợp của các trái phiếu Ginnie Mae, hoặc gián tiếp như trong trường hợp của Freddie Mac và Fannie Mae.

Không ai nghĩ rằng chính phủ Hoa Kỳ sẽ phá sản. Tuy thế, các nhà đầu tư không muốn dính líu với Ranieri hay đội quân bán hàng hùng mạnh của ông ta. Mặc dù trên thị trường trái phiếu thế chấp có sự biến động đột ngột, sự phản đối đầu tiên được Bill Simon thể hiện với Ginne Mae vẫn còn giá trị: Bạn không thể tiên đoán trước thời hạn thật sự của một trái phiếu thế chấp. Vấn đề ở chỗ không phải thanh toán trước hạn là xấu, mà là bạn không thể dự đoán được khi nào việc trả nợ xảy ra. Và nếu bạn không biết khi nào tiền mặt sẽ trở lại với bạn thì bạn không thể tính toán được lợi nhuận. Tất cả những gì bạn có thể phỏng đoán là trái phiếu đó có xu hướng sẽ vẫn giữ nguyên kỳ hạn thanh toán ấn định khi lãi suất tăng và các chủ sở hữu nhà ngừng việc trả trước, cũng như sẽ rút ngắn kỳ hạn khi lãi suất hạ và các chủ sở hửu nhà sẽ thanh toán và tái cấp vốn. Điều này có tác dụng tiêu cực. Mặc dù các điều kiện của nguồn cung thay đổi chỉ qua một đêm, vào tháng 10 năm 1981, thì các điều kiện của nguồn cầu cho thị trường trái phiếu thế chấp vẫn không thay đổi. Các trái phiếu thế chấp quả thực là rẻ, chúng rất nhiều, ấy thế mà không ai mua chúng.

Tồi tệ hơn là tại một số bang, thị trường trái phiếu thế chấp vẫn còn là đầu tư bất hợp pháp, một điều kiện mà Ranieri hoàn toàn không chấp nhận. Trong một phiên họp, Ranieri đã gào thét vào mặt một luật sư mà ông ta chưa bao giờ gặp: “Tôi không muốn nghe những gì giới luật sư nói, tôi muốn làm những gì tôi muốn.” Ông ta tìm kiếm quyền ưu tiên của liên bang đối với các đạo luật tiểu bang. Và ông ta bắt đầu tìm cách làm cho trái phiếu thế chấp giống như những trái phiếu khác, một cách để trái phiếu thế chấp có một kỳ hạn thanh toán rõ ràng.

Chủ yếu là ông ta muốn thay đổi cách người Mỹ vay tiền để mua nhà. “Ít nhất tôi muốn được quyền,” ông ta nói, “đi đến chỗ khách hàng và nói: đây là hai khoản vay thế chấp giống nhau, một ở mức 13% và một ở mức 12,5%. Anh có thể có một trong hai khoản nếu anh muốn. Với thế chấp lãi suất 13%, anh có thể hoàn vốn bất cứ lúc nào và vì bất kỳ lý do nào. Với thế chấp ở mức 12%, nếu anh chuyển đi hoặc bị chết hoặc bán nhà thì không bị phạt. Nhưng nếu anh chỉ muốn trả nợ trước hạn để thế nợ và tiết kiệm thì anh phải trả phí cho tôi.” Quốc hội cho phép ông ta bán trái phiếu thế chấp tại tất cả các tiểu bang, nhưng mục tiêu căn bản hơn của ông ta lại bị từ chối. Chủ sở hữu nhà vẫn có quyền trả trước khoản nợ thế chấp vào bất cứ lúc nào, Ranieri buộc phải tìm cách khác để thuyết phục các tổ chức đầu tư mua trái phiếu thế chấp khốn khổ của mình.

Và ông ta đã làm được điều đó. “Lewie Ranieri có thể bán tuyết cho người Eskimo,” Scott Brittenham – người đã cùng Ranieri thực hiện nhiều thương vụ, nhận xét. “Ông ta thực là tốt đối với khách hàng đến nỗi bạn không thể giữ ông ta ở sàn giao dịch được,” Bob Dall – người đang trải qua những ngày cuối cùng của mình ở Salomon Brothers nói. Còn theo Ranieri: “Tôi đã thôi không cố tranh luận với khách hàng về việc thanh toán trước hạn nữa và cuối cùng đã bắt đầu nói chuyện về giá cả. Giá nào hấp dẫn hơn? Phải có một vài mức giá nào đó mà khách hàng sẽ mua. 100 điểm cao hơn trái phiếu kho bạc [nghĩa là lợi nhuận sẽ cao hơn trái phiếu kho bạc Mỹ 1%]?” 200 điểm? Tôi muốn nói những thứ này có lợi nhuận cao hơn trái phiếu kho bạc Mỹ tới 350 điểm!”

Tất cả các chủ sở hữu nhà ở Mỹ đều có thể cảm nhận về giá trị của quyền thanh toán trước khoản nợ thế chấp bất cứ lúc nào. Nếu biết rằng họ đã vay tiền khi lãi suất cao thì họ có thể trả nó khi lãi suất thấp, rồi lại vay ở lãi suất thấp hơn. Họ thích sự lựa chọn này. Có thể phỏng chừng rằng họ sẵn sàng trả giá cho sự lựa chọn ấy. Nhưng thậm chí không ai trên Phố Wall có thể đặt ra một cái giá đối với sự lựa chọn của các chủ sở hữu nhà. (Họ vẫn chưa thể, mặc dù đang tiến tới rất gần). Là một tay giao dịch, Ranieri đã tính toán và lập luận rằng vì không có ai đang mua các khoản thế chấp và mọi người lại đang bán chúng đi, vậy là chắc hẳn chúng phải rẻ. Chính xác hơn, ông ta đòi hỏi rằng mức lãi suất trả cho một trái phiếu thế chấp phải cao hơn mức lãi suất trái phiếu chính phủ – loại trái phiếu không có rủi ro, thì khi đó sự chênh lệch lãi suất này sẽ bù đắp cho người sở hữu trái phiếu thế chấp – người đã ban cho chủ sở hữu nhà quyền thanh toán nợ thế chấp trước hạn.

Ranieri đã đóng một vai trò độc đáo với tư cách nhân viên bán hàng trên Phố Wall. Ông ta nhân cách hóa các trái phiếu thế chấp. Khi người ta không mua chúng, trông ông ta như kẻ bị thương vậy. Giống như Ranieri đang bị đem ra bán khống. Ông ta đã nói với vị giám đốc Ngân hàng Hoa Kỳ vào năm 1985: “Những người đứng trong lĩnh vực liên quan đến nhà cửa như chúng tôi cảm thấy rằng thị trường đang đòi chúng tôi phải trả một khoản đền bù cho những rủi ro thanh toán trước hạn nhiều hơn giá trị thực.” Hãy nghĩ tới câu nói đó. “Những người đứng trong lĩnh vực liên quan đến nhà cửa như chúng tôi” là ai? Bản thân Ranieri không phải chịu khoản đền bù đó, chính chủ sở hữu nhà phải chịu. Ranieri từng là nhân viên phòng thư tín của ban giao dịch trái phiếu dân sinh Salomon Brothers, nay đã trở thành nhà vô địch của các chủ sở hữu nhà ở Mỹ. Đúng là một kẻ có sức lôi cuốn vượt xa các tay kinh doanh Phố Wall lịch sự, bóng bẩy. “Ranieri hay diễn thuyết kiểu này về việc xây nhà cho nước Mỹ,” Bob Dall nói. “Khi chúng tôi bước ra khỏi các buổi họp đó, tôi nói: ‘Thôi nào, anh nghĩ là có ai tin mấy thứ nhảm nhí đó à?’” Nhưng nó lại thuyết phục được Ranieri. Ông ta tin tưởng mấy thứ nhảm nhí đó.

Có lẽ Ranieri là người theo phái dân túy đầu tiên trong lịch sử Phố Wall. Chính trị gia nổi tiếng của tiểu bang Louisiana, Huey P. Long, đã tham gia chiến dịch tranh cử với khẩu hiệu “Một con gà trong mỗi cái nồi!”(A chicken in every pot!) , còn Lewie bán trái phiếu trên sổ sách của ông ta với khẩu hiệu “Một thế chấp trên mỗi mái nhà!” (A mortgage on every home!). Như thế, nó giúp Ranieri phần nào mang dáng vẻ của người bình dân. “Đó là vai diễn tuyệt vời,” Kronthal, môn đồ của ông ta nói. Ranieri đi làm với đôi ủng cao gót kiểu Johnny Unitas và thắt cà-vạt to bản. Cứ mỗi thứ Sáu, ông ta lên sàn giao dịch trong chiếc áo khoác pôliexte màu nâu và quần kaki màu đen. Ông ta có đúng bốn bộ vest toàn bằng vải pôliexte.

Khi Ranieri trở nên giàu có, kiếm khoảng từ 2-4 triệu đô-la mỗi năm vào thời kỳ hoàng kim từ giữa 1982 đến 1986, ông ta cũng chỉ có bốn bộ đó. Kronthal nhớ lại: “Chúng tôi thường đùa rằng ông ta đứng xếp hàng ở cửa hiệu bán quần áo nam giới tại Brooklyn để tìm bộ vest cho mình. Ở đó, người ta sẽ bán cho anh một bộ vest, khuyến mãi thêm một chuyến du lịch tới Florida, một chai rượu sâm banh và nhiều loại đồ ăn, chỉ khoảng 90 đô-la.” Với số tiền của mình, Ranieri đã mua năm chiếc ca nô. Ông ta nói: “Tôi có nhiều ca nô hơn áo vest.” Ngoài những thứ đó, ông ta sống hết sức giản dị, chẳng có xe hơi hạng sang hay nhà mới. “Người đẹp vì lụa”, vậy nên người ta luôn để ý đến cách anh ăn mặc. Những bộ vest đấy nói lên rằng “Tôi chưa có quên tôi xuất thân là nhân viên quèn ở phòng thư tín và mẹ kiếp, các anh cũng đừng quên.” Và chúng cũng nói lên rằng “Tôi là Lewie chứ không phải một tay nhân viên ngân hàng đầu tư khờ khạo giàu có nào đó. Không phải giả tạo đâu. Các anh có thể tin tôi, và tôi sẽ chăm sóc các anh.”

Dưới tầm ảnh hưởng của Ranieri và những tay giao dịch của ông ta, mối nghi ngờ của nhà đầu tư dần dần mất đi. Và dần dần nhà đầu tư bắt đầu mua trái phiếu thế chấp. “Andrey Carter của Geneston tại Boston là người đầu tiên mua cuốn cẩm nang của Ranieri,” Lewie nói. Quan trọng hơn, Ranieri là chuyên gia trong ngành tiết kiệm và cho vay. Hàng chục tổ chức tiết kiệm và cho vay lớn nhất Hoa Kỳ sẽ không nhúc nhích nổi nếu trước tiên không tìm đến lời khuyên của Ranieri. Họ tin ông ta. Ông ta trông giống họ, ăn mặc như họ và nói chuyện như họ. Kết quả là các nhà quản lý tổ chức tiết kiệm và cho vay – những người có lẽ đã mua trái phiếu thứ cấp của Mike Milken khi họ bán các khoản vay của mình – lại tập trung mạnh vào trái phiếu thế chấp. Giữa năm 1977 và 1986, trái phiếu thế chấp được nắm giữ bởi các tổ chức tiết kiệm và cho vay của Mỹ đã tăng từ 12,6 lên 150 tỷ đô-la.

Tuy nhiên, con số đó không nói lên hết được tầm quan trọng của các tổ chức tiết kiệm và cho vay đối với sự phát đạt của Ranieri và “Công ty”. Đội ngũ bán hàng của Ranieri đã thuyết phục các nhà quản lý tổ chức tiết kiệm và cho vay tích cực giao dịch trái phiếu của họ. Một nhân viên kinh doanh giỏi có thể biến một vị chủ tịch tổ chức tiết kiệm và cho vay lo sợ và rụt rè thành một con bạc khát nước. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay buồn ngủ trước đây đã trở thành một trong những quỹ hoạt động mạnh nhất thị trường trái phiếu. Mặc dầu số lượng bị thu nhỏ nhưng các tổ chức lại tăng tổng nguồn vốn gần gấp đôi, từ 650 tỷ lên 1.200 tỷ đô-la vào giữa năm 1981 và 1986. Một tay giao dịch của Salomon là Marc Freed nhớ lại chuyến viếng thăm nhà quản lý của một tổ chức tiết kiệm và cho vay lớn ở bang California, người đã chịu ảnh hưởng mạnh từ Phố Wall. Freed thật sự thuyết phục nhà quản lý này bình tĩnh lại để hạn chế đánh bạc trên thị trường, thay vào đó phòng ngừa rủi ro các trạng thái trên thị trường trái phiếu. “Anh biết ông ta nói gì không?” Freed nói. “Ông ta nói phòng ngừa rủi ro là dành cho mấy chị em yếu đuối!”

Nhiều tay giao dịch thế chấp Salomon đã đánh giá rằng khoảng từ 50-90% lợi tức của họ thu được từ hoạt động giao dịch với các tổ chức tiết kiệm và cho vay. Có lẽ bạn sẽ tự hỏi tại sao các vị chủ tịch tổ chức tiết kiệm và cho vay cứ chịu đựng những khoản lợi tức khổng lồ của Salomon? Thật ra, lúc mới khởi đầu, họ đâu biết gì. Tỷ lệ lợi nhuận của Salomon thì không thấy rõ được. Vì không có sự cạnh tranh trên Phố Wall, không có ai chỉ cho họ thấy rằng họ đang làm cho Salomon Brothers giàu có lên. Điều gì đang xảy ra và vẫn còn tiếp tục xảy ra – là nhân vật đã đỡ đầu cho đoàn xe diễu hành trong cuộc diễu hành ngoài phố, thành viên Câu lạc bộ 3-6-3, tay chơi golf đã trở thành tay giao dịch trái phiếu lớn nhất nước Mỹ. Ông ta cũng là tay giao dịch trái phiếu dở nhất nước Mỹ. Ông ta là kẻ khờ của thị trường.

Mặc dù có sự tăng trưởng điên cuồng, ngành tiết kiệm và cho vay – như Bob Dall đã dự đoán, không thể hấp thu được tất cả các khoản vay thế chấp mua nhà được tạo nên trong đầu thập niên 1980. Là một tay giao dịch thế chấp ở Salomon, điều đó thường có nghĩa là người mua thế chấp hơn là người bán thế chấp. “Steve Baum đang điều hành một tổ chức tiết kiệm và cho vay trị giá 2 tỷ đô-la,” một trong những đồng nghiệp của anh ta nói. Giống như một tổ chức tiết kiệm và cho vay, Baum tự thấy mình đang ngồi trên các khoản vay với kỳ hạn dài (điểm khác biệt là anh ta phát đạt hơn họ). Điều này đã kết thúc sự đảo lộn kỳ quặc trong vai trò vốn từng xảy ra đầu thập niên 1980, khi các tổ chức tiết kiệm và cho vay trở thành người giao dịch, còn các tay giao dịch lại làm công việc của các tổ chức tiết kiệm và cho vay. (Điều đang diễn ra là Phố Wall khiến cho toàn bộ ngành tiết kiệm và cho vay trở nên dư thừa. Vào một ngày nọ, có một kẻ mạnh dạn đến hỏi: “Tại sao chúng ta không loại bỏ S và L” [có thể hiểu là Salomon & Lewie hay Saving & Loan). Michael Mortara đã đặt cho Baum biệt hiệu là “Tôi-Mua Baum” (I Buy Baum), vì anh ta dường như chưa bao giờ bán thứ gì cả. Hóa ra, đó là một nước cờ may mắn. “Thị trường trái phiếu đang phát triển đến mức cao kỷ lục,” như Henry Kaufman nhớ lại trên tờ Institutional Investor:

“Vào đầu thập niên 1980, chúng tôi đã kiếm được khoảng 21,5% đối với lãi suất gốc và chúng tôi đạt 17,5% đối với lãi suất hối phiếu. Tháng 10 năm 1981, lãi suất dài hạn đạt mức đỉnh điểm khi lãi suất của trái phiếu chính phủ dài hạn đạt khoảng 15,25%. Tôi cảm thấy vào quý III của năm 1982, nền kinh tế sẽ khó phục hồi nhanh chóng, thế nên cuối cùng, vào tháng 8 năm 1982, tôi dự đoán thị trường sẽ lên giá. Tất nhiên vào ngày mà tôi dự đoán thị trường lên giá, thị trường chứng khoán đã đạt được thu nhập lớn nhất trong lịch sử, cũng vào ngày đấy, trái phiếu cũng lên giá một cách kỳ lạ.

Chúng tôi sắp bước vào một cuộc họp hội đồng quản trị ở Waldorf. Đêm hôm trước tôi đã viết đến hai trang đề cập đến việc giá sẽ giảm đáng kể và đưa ra cơ sở lập luận cho ý kiến ấy. Tôi đã đưa bản viết đó cho người lái xe của tôi để anh ta chuyển cho cô thư ký, cô này sẽ đánh máy và đưa nó vào hệ thống. Các tay giao dịch và kinh doanh của chúng tôi sẽ thấy chúng thông qua màn hình. Lúc đó khoảng 8h45 hay 9h, trước khi thị trường mở cửa. Tôi tới Waldorf – ở đó đã có tám vị trong hội đồng quản trị. Tôi nhận được điện của cô thư ký, cô ta nhờ tôi giải thích điều gì đấy trong bản viết của tôi. Lúc đó John Gutfreund đã hỏi: ‘Anh gọi điện làm gì vậy?’ và tôi đáp: ‘Ồ, tôi sửa chính tả cho một đoạn văn bản.’ Và ai đó nói: ‘Để làm gì?’ Tôi lại đáp: ‘’Tôi vừa thay đổi quan điểm về thị trường (trái phiếu).’ Họ nói: ‘Anh thay đổi về quan điểm về thị trường?’ Ôi, đúng lúc đấy, điều đó hiện lên trên màn hình và thị trường trở nên điên loạn.”

Ranieri và công ty đã bị sự dư thừa dồn vào thế phải giữ các trái phiếu thế chấp trị giá hàng tỷ đô-la. Do các điều kiện cung và cầu trên thị trường, họ không còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải đánh cuộc thị trường trái phiếu sẽ lên. Do vậy họ đã theo dõi sự sôi động trở lại của thị trường trái phiếu lớn nhất lịch sử của Phố Wall với vẻ tin tưởng. Người mà họ phải cảm ơn đầu tiên là Henry Kaufman. Khi Henry nói rằng nó sắp lên thì nó tăng lên thật sự. Sau đó Cục Dự trữ Liên bang đã hạ lãi suất xuống. Chính sách tại Washington, như Kaufman đã dự đoán, đã đem lại vận may thứ hai cho Ranieri và các tay giao dịch của ông ta. “Chúng tôi đang nói tới chuyện bỏ cuộc chạy đua, các hợp đồng tương lai trái phiếu tăng 16 điểm trong một tuần, không thể tưởng tượng nổi,” Worf Nadoolman nhớ lại. Ban trái phiếu thế chấp là nỗi thèm muốn của cả công ty.

Hàng trăm triệu đô-la lợi nhuận được một nhóm các tay giao dịch trái phiếu thế chấp làm ra, phần lớn từ sự kết hợp giữa thị trường đang đi lên và sự ngu ngốc chết tiệt của ngành tiết kiệm và cho vay Mỹ. Ngoài ra còn có nhiều cách khác, những cách kiếm tiền đầy mưu lược của Ranieri.

Những tay giao dịch của Ranieri đã nhận thấy rằng đối thủ cạnh tranh của các công ty khác cũng có thể dễ bị bịp. Ban giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon là nơi duy nhất không có đường dây điện thoại kết nối trực tiếp với các ngân hàng đầu tư khác của Phố Wall. Thay vào đó, họ thích làm việc thông qua trung gian hơn, được gọi là các công ty môi giới. “Chúng tôi thống trị khu phố này,” Andy Stone nói. “Các anh phải mua trái phiếu với giá 12 thậm chí khi chúng chỉ đáng giá có 10, để kiểm soát dòng chảy giao dịch (thanh khoản). Ban nghiên cứu [Salomon Brothers] rồi sẽ đưa ra một thông báo nói rằng những trái phiếu mà các anh vừa mua giá 12 thực ra đáng giá 20. Hoặc là chúng tôi mua thêm 6 tỷ đô-la nữa, loại trái phiếu ở giá 12. Phần còn lại của Phố Wall sẽ thấy nó (trái phiếu) được giao dịch theo phân tích thông báo trên màn hình và các con số. Họ sẽ nghĩ ’Này, tụi nhỏ lẻ cũng mua rồi, chúng ta mua thôi!’ và mua lại các trái phiếu của chúng tôi.” Điều này có nghĩa là Salomon Brothers có thể đề ra luật chơi của trò buôn bán trái phiếu thế chấp ngay trong khi cùng tham gia chơi (vừa đá bóng vừa thổi còi).

Thời gian trôi đi, Ranieri trở nên ít dính líu hơn tới các quyết định hàng ngày được đưa ra trên chiếc bàn giao dịch ấy. “Ranieri là con người của tài năng ở tầm chiến lược,” Andy Stone nói. “Ông ta dự đoán trái phiếu thế chấp sắp có giá hơn trái phiếu kho bạc trong hai tuần tới, và ông ta đúng tới 95%. Mà nếu không đúng, thì ông ta luôn có thể ghé qua 19 tổ chức tiết kiệm và thuyết phục họ mua trái phiếu thế chấp của chúng tôi.” Tuy nhiên, Ranieri không phải là người xuất chúng ở tầm chi tiết, vậy nên các tay giao dịch bắt đầu nghiên cứu sâu vào những chi tiết chính xác của thị trường trái phiếu thế chấp. “Bản chất của một tay giao dịch đã thay đổi,” Samueal Sachs – nhân viên kinh doanh trái phiếu thế chấp lâu năm – nói. “Họ đã biến thành các nhà khoa học tên lửa, bắt tay vào mổ xẻ thị trường trái phiếu thế chấp thành từng mảnh vụn li ti. Thị trường trở thành hơn năm thành phần mà Ranieri có thể nắm trong óc mình vào bất cứ lúc nào.”

Những tay giao dịch trẻ đều có bằng MBA và tiến sỹ. Người đầu tiên trong nhóm này là Kronthal, tiếp sau là Haupt, Roth, Stone, Brittenham, Nadoolman, Baum, Kendall và Howie Rubin. Một mánh lới đã được những tay giao dịch trẻ này khai thác là xu hướng người đi vay thường thanh toán trước các khoản vay của họ, trong khi đáng lẽ họ không nên làm vậy. Một ví dụ thú vị về việc Phố Wall đang lợi dụng sự lộn xộn tại Washington là Steve Roth và Scott Brittenham đã kiếm được hàng chục triệu đô-la từ việc giao dịch các khoản vay của dự án liên bang cho các nhà thầu xây dựng dự án nhà cửa được chính phủ liên bang bảo đảm. Đến năm 1981, chính phủ liên bang vẫn đang ở trong tình trạng thâm hụt. Chính quyền đã bắt tay vào một chương trình bán tài sản. Một nhóm tài sản mà chính quyền bán là các khoản vay mà chính quyền đã ký cho những người làm dự án về nhà cửa giá thấp vào thập niên 1960 và 1970. Trước hết, các khoản vay này đã được ký với mức lãi suất thấp, vì chúng được chính phủ trợ cấp. Trên thị trường mở, vì chúng có lãi suất thấp nên được mua bán thấp hơn mức giá danh nghĩa (100 xu trên 1 đô-la); một khoản vay như vậy trị giá khoảng 60 xu trên 1 đô-la. Do vậy, chẳng hạn một khoản vay 100 triệu đô-la với thời hạn 30 năm, 4% lãi suất (trong khi lãi suất tín phiếu kho bạc Mỹ là 13%) thì trị giá 60 triệu đô-la.

Vào dịp bán một khoản vay của chính quyền, Wall Street Journal đã bố cáo tin đó ở một góc nhỏ xíu trên tạp chí. Dường như chỉ có hai người đọc là Roth và Brittenham. Brittenham nói: “Chúng tôi đã thống trị thị trường nhiều năm nay. Khi tôi tham gia vào năm 1981, chỉ có chúng tôi là những người duy nhất mua chúng.” Thị trường đúng là một trò chơi chứ không phải bất kỳ thứ gì khác. Vấn đề là phải xác định trước cái nào trong các khoản vay dự án của chính quyền là có khả năng được trả trước, và khi điều đó được thực hiện, thì đó là một món “trời cho” khổng lồ đối với chủ nợ, tức là người cho vay. Điều này phát sinh như vậy là vì các khoản vay dự án được giao dịch dưới mức 100 xu trên 1 đô-la. Khi Roth và Brittenham đã mua các khoản vay với giá 60 xu trên 1 đô-la mà lại được trả trước ngay, thì họ đã nhận thấy mức lãi 40 xu trên 1 đô-la. Để kiếm được tiền, bạn phải biết cách xác định tình huống mà trong đó người cho vay có thể thu lại tiền của mình trước hạn. Hóa ra, những vấn đề này có hai loại.

Thứ nhất là bị khốn đốn về mặt tài chính. Nơi nào có sự khốn đốn thì luôn luôn có cơ hội. “Thực quan trọng nếu bạn có thể tìm thấy được một dự án xây dựng nhà cửa của chính quyền mà sắp sửa không trả được món nợ thế chấp của mình,” Brittenham nói. Quan trọng là ở chỗ chính phủ đã bảo đảm khoản vay đó, và khi bị vỡ nợ, chính phủ sẽ thanh toán khoản vay đó đầy đủ. Của trời cho có thể lên tới hàng triệu đô-la.

Loại dự án khác có khả năng trả trước món nợ thế chấp của nó là tài sản dễ bán trên thị trường. Brittenham nhớ lại: “Nếu bạn tìm kiếm một tài sản tốt, không phải một khu nhà ổ chuột mà là nơi có bể bơi đẹp, sân chơi tenis, lò vi sóng, thì khi bạn tìm thấy nó, bạn sẽ tự nhủ: ‘Đó là một sự chuyển đổi thích hợp.’ Để chuyển đổi quyền sở hữu, những người thuê nhà sẽ trả tiền cho chủ nhà, người này sẽ đứng ra trả hết khoản vay cho chính phủ. Một khi chính phủ đã thu lại được tiền, thì chính phủ đã trả lại cho Roth và Brittenham 100 xu trên 1 đô-la cho một trái phiếu mà họ chỉ mua với giá 60 xu. Lối suy nghĩ của hai thanh niên có bằng MBA của Phố Wall là dò theo các dự án xây dựng nhà cửa của quốc gia để tìm kiếm các bể bơi hoặc người thuê nhà bị vỡ nợ. Điều này nghe có vẻ kỳ quặc cho tới khi họ làm được việc đó và kiếm được 10 triệu đô-la. Điều ngạc nhiên là ở Washington, người bán (cho vay) các khoản vay lại không làm thế. Họ không hiểu được giá trị của các khoản vay đó. Thay vì thế, những người cho vay tin rằng thị trường sẽ trả cho họ đúng giá. Tuy nhiên, đó lại là thị trường không hiệu quả.

Thậm chí những món béo bở lớn hơn bắt nguồn từ việc khai thác hành vi thiếu hiệu quả của các chủ sở hữu nhà ở Mỹ. Đối với việc quyết định khi nào thì trả hết nợ của mình, chủ sở hữu nhà không lắm mánh khóe hơn chính quyền liên bang. Vô lý là ở chỗ trên khắp cả nước, những công dân có khoản thế chấp mua nhà ở mức lãi suất 4%, 6% và 8% khăng khăng muốn trả trước hạn các khoản vay của họ, trong khi lãi suất thế chấp hiện hành là 16%; thậm chí vẫn còn nhiều người đơn giản chỉ không thích ở trong tình trạng mắc nợ. Điều này đã tạo nên tình huống giống với lợi nhuận cao của các khoản vay dự án liên bang. Những khoản vay thế chấp mua nhà đã thiết lập nền tảng cho các trái phiếu thế chấp. Các trái phiếu đó được định giá dưới mức giá trị thực của chúng. Mánh khóe ở đây là mua chúng với giá thấp hơn mệnh giá mua, chỉ ngay trước khi chủ sở hữu nhà thanh toán khoản vay của họ. Tay giao dịch trái phiếu thế chấp nào có thể đoán được hành vi của chủ sở hữu nhà thì kiếm được món hời khổng lồ. Mọi khoản trả trước chính là món lãi đối với người sở hữu trái phiếu thế chấp. Anh ta đã mua trái phiếu đó với giá 60 xu và giờ đây được thanh toán với giá 100 xu.

Một tay giao dịch trẻ của Salomon Brothers tên là Howie Rubin bắt đầu tính toán xác suất có thể trả nợ trước hạn của các chủ sở hữu nhà. Anh ta phát hiện ra rằng khả năng đó thay đổi tùy theo nơi mà họ sống, thời gian khoản vay chưa trả và số tiền còn lại của khoản vay đó. Anh ta đã sử dụng dữ liệu lịch sử do phòng nghiên cứu của Ranieri thu thập. Các nhà nghiên cứu được sử dụng như những vị cố vấn khoa học kỹ thuật trong một cuộc họp bàn về vũ khí. Tuy nhiên, họ thường bị đối xử như những chàng trai phục vụ đồ uống của một đội bóng. Song những tay giao dịch giỏi nhất lại biết cách sử dụng tốt nhất các nhà nghiên cứu này. Đối với Rubin và phòng nghiên cứu, các chủ sở hữu nhà ở Mỹ trở thành một loại chuột trong phòng thí nghiệm. Các nhà nghiên cứu vẽ biểu đồ thể hiện phản ứng thường thấy của chủ sở hữu nhà đối với thay đổi mạnh về lãi suất. Khi một nhà nghiên cứu phát hiện ra phản ứng của một nhóm các chủ sở hữu nhà có vẻ bất hợp lý hơn nhóm khác: thanh toán các khoản thế chấp có lãi suất thấp, người này sẽ báo cho Rubin để mua các khoản thế chấp đó. Tất nhiên các chủ sở hữu nhà không bao giờ biết rằng hành vi của họ bị Phố Wall giám sát sát sao đến mức nào.

Khoản tiền kiếm được trong năm đầu tiên dễ dàng như bất kỳ món tiền nào từng được kiếm ở Salomon Brothers. Xét về mặt toán học, các thế chấp có thể vẫn được xem là công cụ chứng khoán phức tạp nhất trên thị trường. Sự phức tạp đó hoàn toàn nảy sinh từ quyền được thanh toán nợ trước hạn của chủ sở hữu nhà. Thực thi vị khi cho rằng hành vi tài chính phức tạp do con người đóng góp vào thị trường lại là vấn đề hóc búa đối với những bộ óc thông thái nhất Phố Wall khi tính toán và kiềm tiền. Thật đúng đắn khi bản năng của Ranieri đã dẫn ông ta tới việc thiết lập một phòng nghiên cứu khổng lồ: Trái phiếu thế chấp là vấn đề toán học.

Vậy nên đồng tiền kiếm được bằng những công cụ phân tích tinh vi hơn. Tuy nhiên, những tay giao dịch đã không trở nên tinh vi hơn trong hành vi của họ – nếu xét một cách tương xứng. Đối với mỗi bước tiến về kỹ thuật thị trường, họ lại lùi một bước trong quá trình phát triển của con người. Khi số lượng tăng từ 6 lên 25 người, họ trở nên lớn tiếng hơn, thô bạo hơn, béo hơn và ít quan tâm đến các mối quan hệ với các phòng còn lại của công ty. Nền văn hóa của họ được dựa trên thức ăn, nghe có vẻ kỳ lạ – và đó vẫn là điều kỳ lạ đối với những ai ngắm nhìn giới giao dịch trái phiếu thế chấp ăn uống. “Bạn không cần ăn kiêng vào lễ Giáng sinh, bạn cũng không ăn kiêng trong ban giao dịch trái phiếu thế chấp. Ngày nào cũng là ngày lễ, chúng tôi đã kiếm tiền, không cần biết chúng tôi giống ai!” – một tay từng làm giao dịch nói. Họ bắt đầu ngày làm việc với một loạt bánh hamburger pho-mát nhân hành do một cậu thực tập sinh mang đến lúc 8h sáng. “Tôi muốn nói thực ra bạn không muốn ăn mấy thứ đó,” Gary Kilberg, người gia nhập ban giao dịch năm 1985, nói. “Bạn còn đang nhức đầu (do đêm hôm trước uống quá chén). Bạn đang nốc cà phê để tỉnh táo lại. Nhưng rồi bạn đánh hơi thấy mùi thơm. Những người khác đều đang ăn, vậy nên bạn thò tay nhón lấy một chiếc.”

Các tay giao dịch trái phiếu thế chấp biểu diễn những ngón điêu luyện về tính háu ăn lạ lùng chưa từng thấy ở Salomon. Mortara ngốn trọn một hộp kẹo sữa mạch nha chỉ với hai cái ngoặm. D’Antona thường gửi các thực tập sinh mua 20 đô-la tiền kẹo cho ông ta hàng chiều. Haupt, Jesselson và Arnold thì ngấu nghiến mấy chiếc bánh pizza nhỏ. Thứ sáu hàng tuần là ngày “ăn uống điên cuồng”, mọi hoạt động giao dịch trong ngày đều ngừng và việc ăn uống bắt đầu. “Chúng tôi đặt mua 400 đô-la cho các món ăn Mexico,” một tay giao dịch thế chấp nói. “Chúng tôi phải dùng tới mấy chiếc thùng lớn để chứa chúng. Một khách hàng gọi đến và đề nghị chúng tôi đặt giá hay chào bán các trái phiếu, và chúng tôi phải nói rằng ‘Rất lấy làm tiếc, chúng tôi đang giữa bữa ăn. Tôi sẽ gọi lại cho anh sau.’”

Càng béo ra, dường như họ lại càng ghét người gầy. “Thực ra đây không phải là đạo đức giả! Chúng tôi tự hào về tướng tá của mình.” Họ đã đùa cợt về chuyện những tay giao dịch trái phiếu chính phủ gầy còm, chơi những môn thể thao kiểu như chạy, bơi, đua xe đạp cả những ngày nghỉ cuối tuần mà vẫn không thể kiếm ra đồng nào. Việc này hoàn toàn không đúng sự thật. Nhưng thực tế là không ai kiếm được nhiều tiền bằng những tay giao dịch thế chấp. Thị trường trái phiếu thế chấp đã thay đổi hẳn. Andy Stone nhớ lại: “Cuối mỗi tháng, chúng tôi có những bữa ăn tối với ban. Chúng tôi dám nói rằng chúng tôi đã kiếm gấp hai lần số tiền mà ban trái phiếu công ty và ban trái phiếu chính phủ gộp lại. Chúng tôi là số một.” Và khi Mike Mortara không được bầu làm thành viên vào cuối năm 1983, trong khi tất cả những vị đứng đầu của các ban giao dịch khác đều được bầu, điều đó làm chúng tôi thật sự đoàn kết với nhau. Chúng tôi nói: ‘Chúng ta không làm việc cho Salomon Brothers, chúng ta làm việc cho ban trái phiếu thế chấp.’”

Ranieri đã gìn giữ nét văn hóa của ban trái phiếu thế chấp, mặc dù nó ngày càng phát triển với nhiều chức năng hơn. Nếu đó không phải bữa dạ tiệc cuối mỗi tháng thì đấy cũng là chuyến đi du lịch tới Atlantic, nơi mà những tay giao dịch trái phiếu công ty và chính phủ hoàn toàn bị loại ra. Những tay giao dịch thế chấp đi bằng trực thăng, cờ bạc thâu đêm và bay về Salomon Brothers để kịp làm việc vào sáng hôm sau. Phong cách sống và làm việc kiểu này chỉ có ở những tay giao dịch trái phiếu thế chấp.

“Trò hề dành cho kẻ ngốc” đã có các bảng phả hệ. Năm 1982 bắt đầu có chuyện kẻ ngốc xách vali, kể về một tay giao dịch xách chiếc túi đi nghỉ cuối tuần của một tay giao dịch khác và thay tất cả quần áo trong đó bằng đồ lót phụ nữ có ren hồng. Có ít nhất bốn kẻ ngốc và những kẻ dở ngốc thuộc loại này từ năm 1982 đến 1985. Kẻ ngốc cuối cùng cũng đã thôi không sinh ra thêm những kẻ ngốc khác khi mà một sáng thứ Sáu, John D’Antona đến muộn với chiếc vali xách trên tay. Ông ta đã có kế hoạch đi nghỉ cuối tuần ở Puerto Rico. Ông ta bắt đầu ra vẻ chảnh chọe với các tay giao dịch khác: “Này, mấy cậu, lấy làm tiếc là mấy cậu không thể đi theo được, ha... ha... ha!”

Rút cục điều đó quá sức chịu đựng đối với Peter Marro và Greg Erardi. Khi D’Antona mất cảnh giác, hai tay giao dịch này đã lẩn đi với chiếc vali của ông ta. Họ đã lấy hết quần áo ra và nhồi vào khoảng 10 cân giấy vệ sinh nhúng nước. Tối hôm đó, khi D’Antona đang ở khách sạn tại Puerto Rico thì mới phát hiện sự việc. Ông ta gọi điện cho kẻ tình nghi đầu tiên là Marro. Marro chối biến. D’Antona nói rằng đây không phải là trò hay ho. Ông ta gọi cho Marro đến bảy lần vào ngày nghỉ cuối tuần để nhắc anh ta nhớ rằng việc đấy thực không hay ho gì. Ông ta mưu tính trả thù. Sáng sớm Chủ nhật, Marro thức giấc vì một trong những cú điện thoại của D’Antona, nó bắt đầu thế này: “Tao không biết sẽ thế nào, khi nào hay ở đâu, nhưng một ngày nào đó, hãy đợi đấy...”

Công cuộc trả thù xảy ra ngay sau đó, mà không phải chĩa vào Marro. Như thường lệ, sự mắng mỏ được trút vào cậu thực tập sinh làm việc cho kẻ có tội. Cậu thực tập sinh làm việc cho Marro là Gary Kilberg, một thành viên trong lớp đào tạo của tôi. Kilberg đã loay hoay với chiếc vali của mình suốt một ngày. Buổi tối hôm đó anh ta sẽ lên chuyến tàu từ miền đông tới Washington để gặp hai vị thượng nghị sỹ Hoa Kỳ. Nghi ngờ mình là mục tiêu trả thù của D’Antona, anh ta giấu chiếc vali trong tủ quần áo tại văn phòng của Henry Kaufman. Đúng lúc anh ta chuẩn bị ra sân bay thì điện thoại reo. Chính là Marro. Marro đang ngồi cách anh ta gần 3 m. Nhưng khi hai tay giao dịch nói chuyện riêng, thậm chí ngồi rất gần nhau, họ cũng dùng đến điện thoại.

Marro cảnh báo cho Kilberg: “Đừng nói cho ai biết tao nói với mày nghen. Tốt hơn hết mày hãy kiểm tra vali trước khi lên đường.” Vậy là sau khi để ý không có ai theo đuôi, Kilberg kiểm tra vali. Tất cả đều ở nguyên vị trí.

Kilberg kịp chuyến bay. Không có chuyện gì xảy ra trong chuyến đi của anh ta. Vào sáng thứ Hai tuần sau, khi anh ta đi lên sàn giao dịch, tất cả các tay giao dịch đều cười, người cười lớn nhất là D’Antona. Kilberg hỏi: “Có chuyện gì vui vậy?”

D’Antona hỏi: “Kilberg, mày có chuyến đi tốt lành chứ?”

Kilberg nói: “Vâng!”

D’Antona hỏi: “ ‘Vâng’ nghĩa là thế nào?”

Vào ngày diễn ra chuyến đi của Kilberg, D’Antona thấy một chiếc vali đầy quần áo đâu đó gần sàn giao dịch Salomon. Chiếc vali đó gắn một mảnh giấy vàng lớn có hình chữ K. K là Kilberg phải không? Nhầm rồi.

Nó không phải là vali của Kilberg. Một tay giao dịch hỏi khi lôi ra một xấp quần áo trông vẻ cực kỳ đắt tiền từ dưới gầm bàn: “Vậy đây là quần áo của ai?” Kilberg nhớ lại: “Bạn có thể thấy mọi người đang suy nghĩ, không phải là nghĩ về một con gà chiên nhỏ mà là một con gà chiên lớn. Họ đang nghĩ về Kaufman (Henry) hoặc Kimmel (Lee), hoặc vì hoảng sợ đến mức vô lý, họ cho rằng đống đồ đó có thể là của Coates (Craig, tay giao dịch đứng đầu ban trái phiếu chính phủ). Tất cả đồng loạt nói: ‘Chết mẹ, giờ phải làm sao?’”

Ồ, khi bạn nghĩ về điều đó, đấy không phải là một câu hỏi tệ. Người nào không có quần áo để mặc thì tất nhiên có giấy vệ sinh ướt. Người nào có giấy vệ sinh để mặc trong ngày nghỉ cuối tuần thì tất nhiên phải nóng sôi mặt. Trong khi “kẻ ngốc” lúc nào cũng ở trong ban trái phiếu thế chấp thì không có cái tên nào bắt đầu bằng chữ K trong ban mà không giải thích được, và biểu hiện cảm xúc của sự cộc cằn, thô lỗ luôn quan trọng ở đây. Ai lại dễ dàng bỏ qua việc chiếc vali biến mất? Không ai cả. Do vậy, một tay giao dịch đã nhét đống quần áo vào trong một chiếc túi ni lông màu xanh, trông như túi đựng xác chết, và ném nó vào đống phế thải xây dựng phía bên kia đường, ngay trước Sở Y tế New York và câu lạc bộ tennis.

Các tay giao dịch đều hiểu rằng không bao giờ được để lộ chuyện gì đã xảy ra. “Cho tới nay,” Kilberg nói: “Họ vẫn không biết đấy là quần áo của ai.”

Nói tóm lại, ban đấy trông giống một ký túc xá sinh viên hơn là một bộ phận của công ty lớn. Trưởng phòng ít nhất phần nào chịu trách nhiệm về tính tự nhiên trẻ trung của phòng mình. Ông ta không chỉ là một thành viên. Ông ta là kẻ đầu sỏ. Đối với Ranieri, chiến thắng không quan trọng bằng việc phải thắng sao cho đẹp. Cái xiên giấy trên bàn làm việc của Ranieri có cắm một đôi quần lót màu cam của diễn viên múa thoát y. Thực là thú vị khi kiếm được nhiều tiền hơn các ban còn lại của công ty, nhưng còn vui thú hơn khi vừa kiếm được nhiều tiền hơn các ban khác của công ty, vừa có thời gian trêu chọc nhân viên và phì phèo những điếu xì-gà mập mạp.

Một tay giao dịch nhớ lại cảnh Ranieri bước ra khỏi phòng để lên sàn và nói chuyện với Andrew Friedwald, một tay giao dịch trẻ: “Ông ta đã ngoác sẵn một nụ cười trên mặt. Ranieri đứng sát Andy và hỏi anh ta về tình hình vụ giao dịch đang thực hiện. Andy bày tỏ hy vọng khả quan rằng anh ta sẽ bán được một số lượng trái phiếu ở Nhật và London như thế nào. Lewie chỉ đứng gật gật đầu và nhe răng cười một cách khó hiểu. Andy chuyển qua đề tài khác, nhưng tất cả những gì Lewie phản ứng vẫn chỉ là đứng đó cười. Rồi Andy đã cảm thấy trò đùa. Lewie cầm một hột quẹt bật ngay dưới đũng quần Andy. Chiếc quần dài bắt lửa. Andy bay vọt lên mái nhà.”

Một Andy nữa, Andy Stone, nhớ lại việc bị Ranieri đổ một chai rượu Bailey vào túi áo vest của anh ta. Khi anh ta phàn nàn đó là chiếc áo vest mà anh ta thích nhất, Ranieri móc ra bốn tờ 100 đô-la nhàu nát và nói: “Thôi đừng khóc, mua bộ mới đi nè.”

Ranieri bốc đồng theo kiểu mà các nghiên cứu trường hợp ở trường kinh doanh hiếm khi có thể giải thích được. Trong ngày đầu tại phòng tài chính của ban trái phiếu thế chấp Salomon, khi được đưa đi một vòng tham quan công ty, Maria Sanchez nhớ lại cuộc gặp Ranieri trên lối đi ở hội trường: “Tôi hoàn toàn không biết Ranieri là ai. Ông ta lạch bạch đi ngược chiều hội trường như một con chim cánh cụt, vung vẩy một thanh kiếm đã sưu tầm được – để ngay trong phòng làm việc. Ông ta đi về phía người hướng dẫn tôi, chĩa mũi kiếm về phía tôi và cất giọng: ’Đây là ai?’ Chúng tôi được giới thiệu với nhau và ông ta hỏi: ‘Cô là người Ý à?’ Tôi trả lời tôi là người Cuba. Lúc đó tôi mặc một chiếc áo bu dông thắt nơ con bướm dài. Lewie rút ra một cái kéo và với nụ cười ngoác sẵn trên mặt, ông ta cắt đứt chiếc nơ của tôi. Ông ta nói rằng ông ta không thích phụ nữ thắt nơ. Rồi ông ta rút ra một tờ 100 đô-la và bảo tôi mua một chiếc áo khác. Tôi nghĩ, lạy Chúa, mình đã làm gì sai?”

Cuối cùng Ranieri đã bị John Gutfreund ép phải sửa đổi, mặc dù chính John Gutfreund cũng cảm thấy thú vị, nhưng rút cuộc thì ông vẫn đang điều hành cả một công ty lớn. Vị phó chủ tịch của ông đang ngày càng trông giống “chủ tịch của đám phó” hơn. Nếu ông định đề bạt Lewie thì ít nhất Lewie sẽ phải thấy vai trò đó. Andy nói: “Tôi nhớ một hôm Lewie đến và quăng tấm thẻ tín dụng American Express của ông ta vào cô thư ký Liz Abrams và bảo cô ghé qua tiệm Brooks Brothers mua cho ông ta một tủ quần áo vì John Gutfreund nói rằng ông ta phải thay đổi hình ảnh của mình.”

Mối quan tâm của John Gutfreund đã đi từ quần áo đến con người. Gutfreund theo dõi luôn cả tình trạng trọng lượng của Lewie hộ ông ta. Một tay giao dịch khác nói: “Tôi nhớ một lần chúng tôi đặt bánh pizza thì Gutfreund đến, Lewie chẳng ăn miếng nào cho tới lúc Gutfreund ra về. Mọi người đều biết chiếc bánh nào là của Lewie. Nét mặt ông ta hiện rõ: “Thằng nào đụng vào chiếc bánh, thằng đó sẽ chết!”

Kỷ niệm của Ranieri về sự biến đổi của mình thì hơi khác. Ông nhớ lại một hôm “bị” Peg – bà vợ của mình và Liz Abrams dẫn đến cửa hàng quần áo Barney. Ông ta nói: “Tôi đồng ý mua một bộ vest mới. Chúng tôi đi dạo quanh và người hướng dẫn chúng tôi hỏi tôi nghĩ gì về mấy bộ này. Mỗi lần tôi nói là thích bộ đó, người hướng dẫn nhấc nó ra khỏi giá treo. Lizzie đã nói với người bán hàng rằng tôi sẽ mua tất cả những bộ mà tôi thích, nhưng cô ta lại không cho tôi hay rằng tôi đã nhặt ra 9 bộ. Bây giờ tôi phải làm chuyện mà tôi ghét nhất trên đời, đứng xoay qua xoay lại thử hết 9 bộ đồ chết tiệt đó. Trong lúc tôi thử, Lizzie lấy tấm thẻ tín dụng của tôi và bảo cô ta sẽ trả tiền. Nhưng cô ta quay lại cầm theo ba tờ giấy nhỏ (hóa đơn). Tôi hỏi: ‘Đây là cái gì?’ Cô ta mua 9 bộ vest, 15 chiếc cà-vạt, 24 áo sơ mi và một đống những thứ linh tinh ở đây (ông ta chỉ vào chiếc khăn tay). Tôi đã bị lừa!”

Không hoàn toàn thế. Ông ta đã tìm ra cách để đẩy lùi vẻ bề ngoài trông giống như một vị cố vấn. Phần lớn những bộ vest mới của ông ta đều là vest ba mảnh và nhờ điều kỳ diệu của công lý, chúng bị lạc mốt ngay lập tức sau khi ông ta mua. Dù thế nào, ông ta vẫn phải mặc quần áo mới, song lại như không mặc vậy. Một tay giao dịch nhớ lại:“Sáng sáng ông ta bước vào với chiếc áo vest vắt một bên vai và chiếc cà-vạt vắt trên vai kia.” Dù thế nào Ranieri vẫn không cho phép vẻ mới mẻ làm đảo ngược hình ảnh của mình trong mắt khách hàng. Những bộ quần áo mới đã trở thành cái nền thông minh, làm nổi bật chính nét cũ kĩ của ông ta.

Jeff Kronthal nhớ lại bữa tối tại nhà hàng cùng Ranieri và một khách hàng của Salomon Brothers. Ranieri đã đánh đổ một ít súp lên chiếc cà-vạt mới và chiếc áo sơ mi. Ông ta càu nhàu chửi rủa và nói giá như người ta để cho ông thắt cà-vạt rộng thì có lẽ nó chỉ dính vào chiếc cà-vạt thôi. Trước khi đi gặp một khách hàng khác ở bang Alaska, Ranieri cần một chiếc áo choàng vì tiết trời tháng Ba rất lạnh. Ông ta đưa cho Liz Abrams chiếc thẻ Emerican Express và cô thư ký đã mua một chiếc áo bành tô giá 800 đô-la ở Brooks Brothers. Khi Ranieri lên đường đi Alaska, trông ông ta không chỉ bảnh bao trông bộ vest mà còn cả chiếc áo choàng mới toanh nữa. Tuy nhiên, mới giữa đường từ tầng 41 tới Alaska, ông ta đã làm mất đôi giày của mình. Ông ta thay đôi mới, hiển nhiên ở cửa hàng miễn thuế tại sân bay. Ranieri gặp vị khách hàng lạ mặt trong chiếc áo trị giá 800 đô-la và đi một đôi ủng có đế cao gần 13cm màu da cam tươi rói trị giá 19 đô-la. Thực là một lối chơi trội, có lẽ gây sốc nhất Phố Wall.

Bạn không thể vạch ra lý do tại sao hai người dường như giống nhau ngồi cùng một vị trí như nhau, một người kiếm được 20 triệu đô-la trong khi người kia thua lỗ 20 triệu đô-la. John Meriwether, nhà vô địch Bài Nói dối, người quản lý hoạt động giao dịch của Salomon Brothers đã đạt tới mức siêu việt trong việc dùng người và xét đoán tài năng, ấy thế mà ông ta vẫn vấp phải sai lầm. Có lần ông ta thuê một người mà lúc nào cũng hoảng sợ mỗi khi thua lỗ. Một hôm người này bị sập bẫy và đánh mất hết tiền. “Họ sẽ kiếm ra tôi, họ sẽ mò ra tôi,” anh ta cứ gào đi gào lại cho đến lúc một người nào đó ép anh ta ra khỏi tầng giao dịch thì mới thôi.

Bạn không thể luôn vạch ra sai lầm của những kẻ thua lỗ, nhưng bạn có thể nhận ra tài năng của người đó. Howie Rubin có thứ đó. Trong giới giao dịch, Rubin đã bộc lộ bản năng của một tay giao dịch thật sự. Ranieri gọi Rubin là “tay giao dịch trẻ có tài năng bẩm sinh mà tôi từng thấy”. Những tay giao dịch khác nói anh ta là kẻ giống hệt Ranieri. Một người nhớ lại: “Có lần Lewie dự đoán thị trường sẽ đi lên và khuyên mua ngay 100 triệu đô-la trái phiếu. Ngay sau đó thị trường bắt đầu đi xuống. Do vậy Lewie mua thêm 2 tỷ đô-la trái phiếu và tất nhiên thị trường quay đầu đi lên. Sau khi đã điều khiển được thị trường đi lên, ông ta liền quay sang phía tôi và nói: ‘Thấy chưa, tôi đã nói lên là lên mà!’ Howie cũng có một chút tính cách đó trong người.”

Rubin gia nhập Salomon Brothers vào mùa thu năm 1982 sau khi tốt nghiệp Harvard. Những gì khiến mọi người quan tâm nhất về Rubin, từ Ranieri trở xuống, là những năm tháng anh ta ngồi đếm bài ở bàn xì dách tại Las Vegas (việc nhớ các lá bài đã chia và tính toán xác suất chúng có ảnh hưởng đến tỷ lệ cá cược). Một sinh viên tốt nghiệp đại học Harvard mà tính được các lá bài đó là một điều hiếm có: một sự tổng hợp của Salomon Brothers cũ và mới.

Năm 1977, Rubin là kỹ sư hóa học vừa tốt nghiệp Đại học Lafayette và đang làm việc cho một nhà máy lọc dầu của Exxon ở Linden, bang New Jersey. Anh ta nhận mức lương 17.500 đô-la/ năm, tại thời điểm đó, với anh ta đấy là một khoản thu nhập rất khá. “Sau sáu tháng tôi cảm thấy chán,” anh ta nói. “Sau một năm rưỡi tôi thật sự chán nản. Bạn sẽ làm gì nếu bạn là một kỹ sư hóa chán nản ở Linden, New Jersey? Bạn xem tivi, uống bia suốt ngày chứ gì nữa.” Một đêm, khi ngồi dò kênh tivi, Rubin và một anh bạn cùng trường đại học tình cờ xem chương trình “Sixty Minutes” (60 phút) nói về một người kiếm sống bằng cách tính toán các lá bài xì dách. “Mẹ kiếp, nếu thằng đó mà làm được thì trò này đâu có gì khó,” Rubin nói. Anh ta đọc ba cuốn sách chuyên về vấn đề này rồi dọn đến Las Vegas. Trong hai năm tại đây, anh ta đã biến 3.000 đô-la thành 80.000 đô-la. “Cái khó không phải là bẻ gãy được hệ thống (ý nói thắng được trò chơi), mà là làm thế nào không bị đuổi khỏi sòng bài,” anh ta nói. Lúc Rubin rời Las Vegas, mọi sòng bạc trong thành phố đều treo hình anh ta trước cửa; anh ta thường phải cải trang để lọt qua vòng gác bảo vệ. Rồi cuối cùng anh cũng chán với trò đếm bài này, Rubin theo học tại trường Harvard. Anh ta đã học được một điều từ các bạn cùng lớp thức thời rằng trên đời này còn có một công việc gọi là giao dịch trái phiếu. Rubin hiểu ngay rằng nghề này đang kêu gọi mình.

Rubin thấy rằng trò thanh toán trước mà anh ta đã chơi với các trái phiếu thế chấp bán theo giá chiết khấu cũng tương tự như việc đếm lá bài. “Xì dách là trò chơi không phụ thuộc vào may rủi duy nhất trong sòng bài. Những gì xảy ra trong quá khứ ảnh hưởng đến những gì sẽ xảy ra trong tương lai. Thật sự có những lúc bạn phải tận dụng ưu thế thống kê, và đó là khi bạn đặt tiền cược lớn,” anh ta nói. Ở Salomon anh ta đã tận dụng các nguồn tin chính xác về hành vi trước đây của chủ sở hữu nhà, và chỉ khi nào có được nó thì anh ta mới đặt cược. “Còn gì nữa,” anh ta nói, “sàn giao dịch Salomon Brothers cảm giác như một sòng bài Las Vegas. Bạn đặt cược, quản lý rủi ro giữa muôn vàn quấy nhiễu.” Để giả bộ là con bạc bình thường trước người chia bài trong sòng bạc, khi bạn đang đếm bài được chia, Rubin xoay sang người bên cạnh nói chuyện và uống rượu gin. Còn ở Salomon Brothers, anh ta giao dịch trái phiếu trong lúc đùa giỡn với sáu tay kinh doanh khác, ăn bánh hamburger pho-mát và nhìn Ranieri cầm chiếc bật lửa đốt đũng quần của một tay giao dịch.

Trong năm đầu sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo, năm 1983, Rubin đã kiếm được 25 triệu đô-la. Vấn đề liên quan tới vài trăm triệu đô-la mà chẳng bao giờ được ban quản trị Salomon Brothers trả lời đã được Howie Rubin nêu lên lần đầu: Thực tế ai kiếm được món tiền đó, Howie Rubin hay Salomon Brothers? Theo quan điểm của Rubin, thì chính là Howie Rubin. Theo quan điểm của John Gutfreund, thì chính là Salomon Brothers. Gutfreund cảm thấy công ty tạo cơ hội cho Howie Rubin và vì thế xứng đáng với phần lớn số tiền thưởng ấy. Tất nhiên, quan điểm của Gutfreund chiếm ưu thế hơn. Hai năm đầu sau khi tốt nghiệp chương trình đào tạo, giống như những thực tập sinh khác, Howie Rubin được trả theo mức lương thưởng riêng. Trong năm đầu, anh ta được trả 90.000 đô-la, mức cao nhất cho phép trả đối với một tay giao dịch năm nhất. Năm 1984, năm thứ hai trong nghề, Rubin kiếm được 30 triệu đô-la từ hoạt động giao dịch. Rồi anh ta được trả 175.000 đô-la, mức cao nhất cho phép trả đối với tay giao dịch năm thứ hai. Anh ta nhớ lại: “Quy tắc kinh nghiệm ở Harvard là nếu bạn thật sự giỏi, bạn sẽ kiếm được khoảng 100.000 đô-la/năm trong ba năm đầu tiên.” Quy tắc này đã bị bẽ gãy. Đầu năm 1985, anh ta nghỉ việc ở Salomon và chuyển sang làm cho Merrill Lynch – với mức đảm bảo ba năm rằng anh ta sẽ nhận được mức lương tối thiểu 1 triệu đô-la/năm, cộng thêm phần trăm từ các khoản lãi mà anh mang lại.

Ai có thể trách được anh ta? Chắc chắn không phải là những đồng nghiệp của anh ta. Họ thông cảm điều đó. Bạn không thể đòi hỏi một tay giao dịch bòn mót đến đồng xu cuối cùng từ thị trường cho Salomon Brothers, đào tạo anh ta để khai thác được điểm yếu của kẻ khác và rồi mong đợi anh ta lăn mình ra và hoan hỉ khi nhận khoản tiền thưởng ít ỏi. Vào cuối mỗi năm, những tay cờ bạc trên sàn giao dịch Salomon Brothers đều dừng hoạt động giao dịch của họ trong vài tuần và bắt đầu “giao dịch” sự nghiệp của mình. Họ đã trả cho tôi những gì? Họ sẽ nói gì về viễn cảnh của tôi? Tôi có thể lĩnh được bao nhiêu tiền ở một công ty khác? Thậm chí đó là một trò chơi giống y như Bài Nói dối, do các tay giao dịch chơi lại công ty. Wolf Nadoolman gọi điều đó là “làm thế nào được trả 350.000 đô-la/năm mà vẫn giả vờ là khó chịu về khoản lương đó (nhân đây, tôi rất giỏi về việc này, cực kỳ xuất sắc)”. Điểm chủ yếu của đòn đó là báo cho công ty biết là có lẽ, đúng là có lẽ 350.000 đô-la mới đủ cho năm nay. Nhưng sang năm nếu công ty không trả một mức hợp lý, bạn sẽ chạy sang nơi khác. Có lẽ bạn đang tháu cáy, nhưng cũng có thể là không.

Mặc dù bản thân là một tay giao dịch qua đào tạo, John Gutfreund cũng không nắm chắc những mâu thuẫn vốn có đấy trong chế độ lương thưởng của mình. Lợi nhuận trên thị trường thế chấp chưa hề thấy trước đây đã làm cho chế độ ưu tiên chức vị của Salomon trở nên căng thẳng, vì từ trước đến nay nó chưa từng bị căng thẳng như lúc này. Thái độ của Gutfreund đã thể hiện cụ thể trong giai đoạn công ty theo hình thức hợp danh. Tính chất của lòng trung thành chiểm tỷ lệ quan trọng và tất yếu. Với tư cách thành viên, một tay giao dịch buộc phải có một phần tài sản trong công ty. Nếu rời bỏ công ty, anh ta sẽ mất phần quyền lợi đó.

Chế độ này đã chấm dứt khi Gutfreund bán công ty cho Phillips Brothers – một công ty chuyên buôn bán hàng hóa vào năm 1981. Bây giờ, một thanh niên khỏe mạnh tóc xoăn (trong tưởng tượng của Gutfreund) sẽ nổi lên từ chương trình đào tạo của công ty, được cử đi nắm bắt cơ hội mới trên thị trường thế chấp để thu về hàng chục triệu đô-la lợi nhuận, và rồi đòi hỏi cắt ra một khoản từ những món anh ta đã làm ra. Gutfreund không có ý định để cho bất kỳ ai có được “miếng cắt” đó. Ông ta vẫn thích thú với khái niệm cho rằng một khoản X nào đó đã là đủ rồi, và cách tư duy của ông ta bắt rễ từ thời mà việc trả 1 triệu đô-la cho một tay giao dịch năm thứ hai là không thể tưởng tượng nổi. Và dù thế nào thì Salomon Brothers – chứ không phải là Howie Rubin – đã kiếm được 25 triệu đô-la đó từ hoạt động giao dịch.

Gutfreund công khai chỉ trích những gì mà ông ta cho là lòng tham lam quá đỗi của thế hệ trẻ. Năm 1985, ông ta đã phát biểu với một phóng viên của tờ Business Week khi đang chỉ tay một cách uy quyền với nhân viên trên sàn giao dịch: “Tôi không hiểu điều gì diễn ra bên trong những cái đầu nhỏ bé này.” Hành động đạo đức giả của ông ta bị những tay giao dịch trái phiếu thế chấp phát hiện và tức giận. Thực là dễ đối với Gutfreund để nói rằng tiền chẳng là cái quái gì. Ông ta trả lương cho mình nhiều hơn bất kỳ vị chủ tịch hội đồng quản trị nào trên Phố Wall. Và ông ta đã tạo được cơ đồ bằng cách nhận 40 triệu đô-la từ vụ chuyển nhượng công ty cho Phillips Brothers. Thái độ của Gutfreund, cũng như là thái độ của các thành viên cũ khác đối với công ty, đã thay đổi một khi ông ta kiếm được đủ tiền. Ông ta và những kẻ khác thôi không xem Salomon Brothers như công cụ làm giàu nữa và bắt đầu dùng nó như công cụ quyền lực và vinh quang, một sân chơi rộng lớn mà trong đó họ là những tay côn đồ.

Đặc biệt, Gutfreund dường như say sưa với sự phát triển của sân chơi đó. Ông ta thích chỉ ra rằng Salomon là ngân hàng đầu tư có sức mạnh nhất trên thế giới, với 3 tỷ đô-la tiền vốn. Ông ta thật sự thích thú với khái niệm là một ngân hàng đầu tư “toàn cầu”. Các văn phòng chi nhánh đã được mở và phát triển tại London, Tokyo, Frankfurt và Zurich. Năm 1982, công ty có 2.000 nhân viên, tới năm 1987 có 6.000 nhân viên.

Có người cho rằng tất cả điều đó xuất phát từ khát khao làm giàu và luôn cạnh tranh. Tuy nhiên, nhiều tay giao dịch trái phiếu thế chấp tranh luận rằng sự tăng trưởng vì lợi ích tăng trưởng đã mang lại vinh quang cho John Gutfreund. Ông ta vẫn luôn chỉ ra rằng Salomon Brothers kinh doanh 80 tỷ đô-la các công cụ tài chính trên sổ sách trong một đêm và đêm nào cũng vậy. Ông ta vẫn duy trì quan điểm này bằng cách nói rằng, với tầm cỡ tài sản của mình, Salomon Brothers là “ngân hàng thương mại lớn nhất thế giới” và “là một trong 40 đế quốc trên thế giới”. Một tay giao dịch trái phiếu thế chấp (người Do Thái) đáp lại: “Thôi đi, John, chắc không phải là tụi Hà Lan rồi. Ông ám chỉ về một đám Do Thái đang xài đòn bẩy (tài chính) thì có.”

Cái ý tưởng cho rằng Gutfreund đang chỉ huy một nhóm người Do Thái nhỏ bé dùng đòn bẩy hoàn toàn xa lạ với bản thân ông ta chẳng kém gì khái niệm về những người Hà Lan. Salomon Brothers, nơi ông ta là chủ, còn lớn hơn thế. Về quyền điều hành, John Gutfreund có thực quyền. Mặt khác, Howie Rubin không thật sự nổi bật, anh ta chỉ là một người giữ cương vị bình thường. Anh ta có thể bị thay thế bởi một thực tập sinh khác. Các tay giao dịch cho rằng chế độ của Gutfreund như là một vụ giao dịch tồi tệ. Mặc tích cực của việc ở lại Salomon là nếu công ty tiếp tục phát đạt thì các tay giao dịch hy vọng về lâu về dài họ có thể được bù đắp phần đóng góp trước đây. Mặt tiêu cực là nếu công ty không có lợi nhuận thì những năm làm ăn tốt nhất của họ sẽ bị vứt sọt rác.

Vì thế Howie Rubin đã nhận hợp đồng 3 triệu đô-la của Merrill Lynch vào tháng 3 năm 1985 và trở thành một truyền thuyết trong thời đại của anh ta. Lời đồn về hành động táo bạo của Rubin đã len lỏi vào chương trình đào tạo của chúng tôi, và Rubin đã được truyền miệng từ những người chưa bao giờ gặp anh ta. “Anh biết Howie Rubin được trả bao nhiêu ở Merrill chưa?” – mọi người hùng hồn hỏi, tất nhiên, ai chẳng biết chuyện đó. Truyền thuyết của Howie Rubin đã lôi cuốn những tay giao dịch thế chấp khác nảy sinh ý định thôi việc ngay sau khi họ đạt được hợp đồng 3 triệu đô-la ở nơi nào khác. Một thái độ hoàn toàn mới đối với công việc tại Salomon Brothers đã ra đời, đó là “Đánh rồi chạy”.

Và đó là cách mà Salomon Brothers, đặc biệt là ban giao dịch trái phiếu thế chấp, đã trở thành trung tâm đào tạo cho các công ty còn lại trên Phố Wall. Giới giao dịch trái phiếu chính phủ, trái phiếu công ty và trái phiếu thế chấp đã rồng rắn nối đuôi nhau rời khỏi nơi đó với số lượng ngày càng tăng, tới mức mà có một hôm, một tay kinh doanh trái phiếu công ty cao cấp nói rằng anh ta nghĩ mình nên chuyển tới Merrill Lynch bởi vì anh ta quen biết nhiều người ở đó hơn ở đây. Ban trái phiếu thế chấp phải hứng một đòn nặng nề nhất từ hiện tượng này. Theo quan điểm của các công ty khác thì những tay giao dịch của Salomon Brothers với mức lương nào cũng vẫn là rẻ. Họ mang lại một cánh cửa để bước vào một thị trường lớn, nơi mà nếu thiếu nó các công ty sẽ bị loại ra. Vì thế, họ thường được trả lương cao hơn nhiều so với mức mong đợi.

Tính vô lý của hiện tượng đó là Ron Dipasquale. Năm 1984, Dipasquale là một tay giao dịch trái phiếu thế chấp hạng ba. Anh chàng này mới chuyển từ khối văn phòng sang ban giao dịch và không có chút kinh nghiệm gì về giao dịch. Khi Merrill Lynch chào mời và trả cho anh ta mức lương 1 triệu đô-la/năm được bảo đảm trên hai năm, anh ta đã trở thành giám đốc phụ trách ban giao dịch (thực ra là đứng sau Howie Rubin). Dù sao thật sự là sau này, Dipasquale dần dần vươn lên trở thành tay giao dịch giỏi, nhưng lúc đó anh ta hầu như chẳng biết gì. Merrill Lynch nhận ra sai lầm của mình vào khoảng một tuần sau thì đã quá muộn. Dipasquale đã cầm bản hợp đồng trong tay. Anh ta được giao cho một công việc ở khối văn phòng của Merrill Lynch cho tới khi hợp đồng của anh ta hết hạn. Ngay khi đó, anh ta trở lại với sự hoan nghênh đang chờ đợi ở Salomon. Xin chúc mừng người anh hùng chinh phạt! Thực quý trọng, chỉ một vài tay kinh doanh được mời trở lại Salomon sau khi họ đã nhảy đi nơi khác, nhưng Dipasquale là ngoại lệ. Chuyến đi của anh ta, theo những nhân vật tiền bối, thực tế một trò cười đến ê mặt dành cho Merrill Lynch.

Howie Rubin không phải là một trò đùa. Điều kỳ lạ nhất về sự ra đi của anh ta là sự miễn cưỡng. Anh ta cho rằng suýt nữa mình đã từ chối lời mời của Merrill Lynch. Nhưng một khi đã quyết định chấp nhận, anh ta không dám hé ra một lời về kế hoạch của mình với Salomon Brothers, vì anh ta biết rằng mình sẽ dễ dàng bị thuyết phục ở lại. Anh ta muốn ở lại. Anh ta đã hy vọng có một sự nghiệp tại Salomon Brothers. “Tôi không thể vui sướng hơn nếu ở Merrill,” anh ta nói. Anh ta yêu thích nhất ở nơi đây (Salomon) là “Tất cả những gì bạn phải làm là chỉ giao dịch.” Vì vậy, anh ta đã gọi điện cho Michael Mortara. Mortara gợi ý họ gặp nhau trong bữa ăn trưa ở khu South Street Seaport.

Thậm chí những tay giao dịch trái phiếu thế chấp không thể chọn được thời điểm bộc lộ bản thân. Rubin nhớ là anh ta đã khóc khi nói chuyện với Mortara và Kronthal, trong lúc họ ngồi trên lan can ngoài hải cảng. “Nó giống như khi phải rời xa gia đình,” anh ta nói. Thuyết phục Howie Rubin ở lại Salomon là điều không thể. Các cấp trên của anh ta tỏ rõ rằng họ đã hiểu: Howie Rubin, rất đơn giản, là đã được mua. Không có tay giao dịch nào tránh được số phận đó. Điều này có lẽ đã xảy ra với Mortara và Kronthal dễ dàng hơn (mặc dù cái giá của họ có lẽ phải cao hơn). Mortara nhớ lại: “Hãy xem đây, tôi cố gắng là người tốt cho công ty trong lúc còn ở đó, nhưng tôi nghĩ rằng những người đã tham gia giao dịch trong thị trường trái phiếu thế chấp là nạn nhân hay ít nhất đã bị phạt nặng vì chế độ lương bổng của Salomon Brothers. Đồng lương của họ không xứng đáng với công sức bỏ ra.”

Đó là một thảm kịch. Mỗi bên đều phải gánh chịu, ấy thế nhưng thực khó nảy sinh lòng thương đối với bất cứ ai trong số họ. Ban trái phiếu thế chấp đã kiếm được một khoản lớn vào năm 1984, trong khi cả công ty hầu như không khá khẩm lắm. Do vậy các tay giao dịch không được trả lương theo như những gì họ đã làm ra. Xét đến tình cảm của họ đối với các phòng ban còn lại của công ty (kệ mẹ tụi nó!), quan điểm phải nuôi dưỡng các phòng ban khác trong những năm thất thu đã không còn phù hợp nữa. Sau khi Rubin ra đi, Tom Kendall, Steve Baum và nhân viên kinh doanh cao cấp Rick Borden được Farmers Savings Bank (Ngân hàng Nông nghiệp) tại Davis, bang California mời chào tới hàng triệu đô-la. Steve Roth và một tay giao dịch mới tên là Andy Astrachan đã nhận hàng triệu đô-la và có thể nhiều hơn thế, từ lời mời của Mike Milken thuộc Drexel Burnham.

Rồi đột nhiên, ba trong số bốn tay giao dịch trái phiếu thế chấp làm ra nhiều tiền nhất đã từ bỏ công ty (Roth, Baum và Rubin). Người thứ tư là Andy Stone, vào năm 1984 người này đã kiếm được 70 triệu đô-la nhờ giao dịch các loại trái phiếu thế chấp ngắn hạn 15 năm bao gồm Midgets, Gonomes và Dwarfs. Giữa năm 1985, Stone nhận được một cú điện thoại của Merrill Lynch, công ty này đồng ý trả gấp đôi lương cho anh. Stone đã từ chối: “Tôi nghĩ rằng tôi sẽ ở lại Salomon cho đến lúc 50 tuổi.” Cũng như Howie Rubin, anh không muốn rời bỏ gia đình ở ban trái phiếu thế chấp. “Rồi Merrill Lynch hỏi tôi bao nhiêu thì đủ. Họ nói mỗi người đều có một cái giá,” anh kể. Giả thiết rằng Merrill sẽ bỏ qua, Stone nói cái giá đó gấp bốn lần số lương mà anh nhận được năm 1984. Thay vào đó, họ lại đồng ý. Vậy là công việc đã được thực hiện. Stone đã chấp nhận sự đảm bảo ngọt ngào hơn Rubin, cùng người bạn này gia nhập với tư cách đồng giám đốc ban giao dịch trái phiếu thế chấp của Merrill Lynch. Tới lúc đó, Salomon Brothers hoảng sợ. Mortara và Ranieri đã đề nghị xem xét lại sự ra đi của anh vào cuối tuần. Vì họ như là một gia đình nên Stone đồng ý.

Chuyện gì xảy ra sắp tới đều là số phận – của bất kỳ nhân viên nào kiếm ra nhiều tiền, trước khi rời khỏi Salomon để đến với công ty đối thủ cạnh tranh. Người đó bị dằn vặt bởi một loạt nhân vật tai to mặt lớn. Mấy nhân vật chóp bu đó sẽ cố tìm cách thuyết phục anh ta, dùng mọi lập luận rằng anh ta sẽ mắc sai lầm trong đời mình. Kiểu thuyết phục đầu tiên thường là nếu không có Salomon Brothers thì anh đã chấm dứt những ngày tháng của mình trong quên lãng. “Người ta buộc anh phải cho rằng những người ra đi để làm việc ở một công ty khác chắc phải là một tên ngốc hay một thằng lỗ thối. Do vậy, nếu anh tới làm cho công ty khác thì chắc chắn anh phải là một tên ngốc hay một thằng lỗ thối.” Các thành viên trong hội đồng quản trị chắc hẳn đã nhận ra điều đó, bởi vì những tay giao dịch ra đi đều rất xuất chúng. Và họ còn là những người bạn của Stone, do vậy anh ta sẽ phản lại ý kiến cho rằng họ là những tên ngốc hoặc thằng lỗ thối… Như một tay giao dịch trái phiếu thế chấp kể: “Một đồng nghiệp tới làm cho Merrill Lynch nói: ‘Đợi một lát, anh ta đâu phải là tên ngốc hay thằng lỗ thối’. Một người bạn nữa lại ra đi. Rồi việc đó chợt lóe lên trong ý nghĩ của bạn…”

Vào buổi sáng thứ Hai, Stone đã nhìn thấy cũng ba người ấy, cũng theo thứ tự ấy, như đã xuất hiện trước lớp đào tạo của chúng tôi: Jim Massey, Dale Horowitz và John Gutfreund. Massey đến đầu tiên. Massey, như ông ta từng thể hiện rõ trước chương trình đào tạo của chúng tôi, với kiểu hành động gây sợ sệt và hăm dọa. “Massey đã đổ lỗi cho tôi,” Stone nói. “Ông ta nói, anh nợ ơn chúng tôi, chúng tôi đã đào tạo anh, anh không thể bỏ đi được.” Stone đã không còn tin bất kỳ ai ngoài ban trái phiếu thế chấp. Anh đã nhanh chóng quên luôn Massey. Anh chỉ vào con số 70 triệu đô-la đã kiếm được cho công ty và nói: “Ít nhất, tôi nghĩ là chúng ta bình đẳng.” Massey chuyển Stone cho Horowitz.

Dale Horowitz là thành viên trong hội đồng quản trị, đóng vai người nhân từ “Bác Dale”. Stone nói: “Ông ta bắt đầu lên tiếng: ‘Tôi đã quan sát kỹ từ khi anh tham gia cùng với chúng tôi. Tôi đã và đang dõi theo sự nghiệp của anh. Có lẽ anh không nhận ra điều đó, nhưng tôi đã quan tâm đặc biệt đến sự phát triển của anh.’” Đó là việc bình thường. Nhưng nó không còn bình thường và trở nên đáng thương khi Horowizt nói: “Tôi đã giúp anh một tay trong việc chuyển từ công việc kinh doanh trái phiếu thứ cấp sang trái phiếu công ty, rồi từ trái phiếu công ty sang trái phiếu thế chấp…” Hãy đợi một chút, Stone chưa bao giờ kinh doanh trái phiếu thứ cấp hay trái phiếu công ty. Stone đã nhận thấy rằng Horowitz đang mô tả Andy Astrachan chứ không phải anh. Stone đã ở ban giao dịch trái phiếu thế chấp ngay từ đầu. “Chắc hẳn ông ta đã bảo cô thư ký lấy hồ sơ về Andy, song cô ta đã lấy nhầm hồ sơ. Tôi thật sự ngượng ngùng thay cho ông ta, chút xíu nữa thì tôi đã không nói cho ông ta biết”. Chút xíu nữa. Horowizt chuyển Andy Stone cho John Gutfreund.

“John Gutfreund và tôi chính xác không phải là những người bạn tốt và thân thiết,” Andy Stone nói. “Tôi bước vào văn phòng và ông ta nói, điều đầu tiên, ‘Tôi đoán anh có mặt ở đây để thảo luận những vấn đề nhỏ nhặt. Có lẽ anh muốn bàn về anh và vấn đề được trả bao nhiêu, thay vì hỏi những câu hỏi quan trọng như hướng đi của công ty.’” Chính xác cách tiếp cận này cần đạt tới điều gì thì không rõ. Andy Stone trở nên cứng rắn. Anh hỏi John Gutfreund rằng ông ta có muốn bán ban trái phiếu thế chấp với giá 10 triệu đô-la hay không và John Gutfreund đáp lại: “Tất nhiên là không”, Andy Stone nói: “Có lẽ ông nên bán, bởi vì tất cả chúng tôi sẽ nghỉ việc cả thôi.” John Gutfreund nói: “Các anh thật khó hiểu như danh tiếng của các anh vậy.” Nhưng trước khi Andy Stone rời khỏi văn phòng, John Gutfreund đã hỏi anh yêu cầu bao nhiêu tiền để ở lại. Andy Stone đáp: “Tôi sẽ ở lại đây dù tiền ít hơn nhiều, song tôi không để cho ông cướp đoạt tôi.” John Gutfreund đã đồng ý trả Andy Stone 80% số tiền mà Merrill Lynch đã mời chào.

Đó là lần đầu tiên và là lần cuối cùng hội đồng quản trị đầu hàng có điều kiện trước một tay giao dịch thế chấp muốn ra đi. Khi tin tức loan đi vào cuối năm 1985 rằng Andy Stone được trả 900.000 đô-la – điều chưa từng có đối với một tay giao dịch Salomon năm thứ tư – các phòng ban trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty không bằng lòng. Các tay giao dịch trái phiếu thế chấp khác phải được trả thêm hàng trăm nghìn đô-la so với trước đây, để họ có thể ngang hàng với Andy Stone. Nhưng các tay giao dịch trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty lại bị loại khỏi danh sách tăng lương. Quy ước tự nhiên của Salomon đã bị vi phạm. Những điều như vậy đúng ra không được phép có. “Từ đó trở đi,” Andy Stone nói, “tôi không bao giờ được đối xử tử tế ở công ty. Bất cứ lúc nào tôi giao dịch thua, họ đều nói: ‘Lẽ ra chúng ta nên để hắn ra đi!’”

Công ty nhanh chóng quyết định đó là một sai lầm khi đáp ứng những yêu cầu của Andy Stone. Một khoản tiền lương lớn trả cho một người đã khiến chế độ tiền lương lẫn chế độ trợ cấp đã tồn tại từ lâu ở Salomon Brothers trở nên không đáng tin cậy. Tiền là thước đo tuyệt đối về giá trị của một con người trong công ty. Việc trả lương cho một tay giao dịch trái phiếu thế chấp nhiều hơn tay giao dịch trái phiếu kho bạc khiến cho tay giao dịch trái phiếu kho bạc cảm thấy bị ruồng bỏ. Điều đó sẽ không xảy ra nữa. Để ngăn chặn nạn chảy máu tài năng giao dịch trái phiếu thế chấp trẻ tuổi, Mike Mortara buộc phải dùng đến thuật ngoại giao mặc dù nó không bao giờ hiệu quả như tiền mặt, đặc biệt đối với giới giao dịch. Ông đã thu xếp hai bữa tiệc tối vào cuối năm 1985 giữa các tay giao dịch của ông và John Gutfreund.

Bữa tiệc thứ nhất được tổ chức tại nhà hàng mà Gutfreund ưa thích – Le Périgord thuộc khu Manhattan, nơi mà theo giới sành ăn thì “người đầu bếp có cách chế biến các món chim ngon tuyệt”. Những người có mặt là Mortara, Kronthal, Andy Stone và tay giao dịch Nathan Cornfeld. “John Gutfreund oai vệ, hoàn toàn chiếm lĩnh tất cả,” một trong những người có mặt nói. “Tôi ra về với ý nghĩ thực là tốt khi có ông ta điều hành công ty.” Nếu không thì bữa tiệc đó là một thảm họa. Thực không dám chắc ai đã thưởng thức được các món ăn. John Gutfreund chủ động, theo cách mà chỉ có ông ta mới có thể. Gutfreund đã làm cho Mortara, lúc đấy đang đảm nhận chức giám đốc điều hành, phải xấu hổ và lúng túng khi ông ta xoay sang hỏi Mortara đã kiếm được bao nhiêu tiền từ cổ phiếu Salomon Brothers khi công ty chào bán cổ phiếu ra công chúng. Không nghi ngờ gì, John Gutfreund đã đào bới số liệu đó từ một hồ sơ đặc biệt dành cho bữa tối hôm đấy. “Mike đỏ mặt phừng phừng,” một người tham dự nói. Rồi John Gutfreund đưa ra vấn đề lương bổng. Như thường lệ, Andy Stone phát biểu những gì có trong đầu mình. Anh ta nói với John Gutfreund vì ban giao dịch trái phiếu thế chấp là khu vực sinh lời nhiều nhất của công ty nên các tay giao dịch phải được trả nhiều hơn những người còn lại của công ty. “Đó là khi John Gutfreund bắt đầu nổ tung,” một người nhớ lại. “Ông ta tiếp tục nói về niềm vinh hạnh khi được làm việc ở Salomon Brothers, chính công ty chứ không phải nhân viên đã tạo nên sự giàu có ra sao.” Dù thế nào, John Gutfreund nói, ban trái phiếu thế chấp đã tự đánh giá quá cao tầm quan trọng của mình, thậm chí nó không sinh lãi bằng ban giao dịch trái phiếu chính phủ.

Các tay giao dịch biết đây là một lời nói dối trơ tráo, nhưng không ai phản đối ông ta. “Không ai muốn John Gutfreund nổi giận hơn,” Andy Stone nói. Buổi tối đã kết thúc trong căng thẳng. Bữa ăn tối thứ hai giữa Gutfreund và các tay giao dịch đã bị hủy bỏ. Thực rõ ràng đối với mọi người rằng nó chỉ làm cho vết thương đang mưng mủ nặng thêm mà thôi. Các tay giao dịch trẻ vẫn tiếp tục rời khỏi Salomon Brothers. Cuối năm 1986, Andy Stone đã gia nhập Prudential-Bache với chức vụ trưởng ban giao dịch thế chấp.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.