Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 7
Chương VII. Salomon ăn kiêng
1986 – 1988
Thị trường trái phiếu và thị trường lao động đã tìm thấy sự cân bằng riêng của mình và trong hai năm sau bữa ăn tối ở nhà hàng Le Périgord, ban trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers đã bị rạn nứt. Một tay giao dịch ra đi có thể được thay thế bởi những chàng trai thông minh khác của các trường kinh doanh hàng đầu nước Mỹ. Với số tiền hàng triệu đô-la mà Salomon đã tiết kiệm khi không đáp ứng những đòi hỏi của Howie Rubin, công ty đã mua hơn chục Rubin mới. Những người thay thế đó trông giống hệt các bậc tiền bối. Tuy nhiên, họ không kiếm ra nhiều tiền như các bậc tiền bối. Vì, không như người tiền nhiệm của mình, họ phải ganh đua với những người giỏi nhất. Shearson Lehman, Goldman Sachs, Morgan Stanley, Drexel Burnham, First Boston và Merrill Lynch đã thuê những tay giao dịch trước đây của Salomon. Có một hội ở Phố Wall đã mỉm cười nói rằng Salomon Brothers là một nơi đào tạo tuyệt vời. Bằng cách cho phép hàng chục tay giao dịch thế chấp tài năng vun xới cho mảnh đất của ban trái phiếu thế chấp của các công ty khác, Salomon Brothers đã để sểnh tay tài sản quý giá và hiếm có nhất mà một công ty trên Phố Wall có thể có được: một tư bản độc quyền.
Ranieri và Công ty đã là một tư bản độc quyền kín hơi hơn cả những người ở Salomon Brothers biết được. Giữa năm 1981 và 1985, đối thủ cạnh tranh có thể nhận thấy duy nhất là First Boston, và thậm chí ban đầu nó không phải là một mối đe dọa lớn lắm. Marvin Williamson, một nhân viên kinh doanh trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers chuyển đến làm cho First Boston vào cuối năm 1982, nhớ lại: “Vào khoảng thời gian ở Salomon, chúng tôi đã nghĩ rằng Frist Boston bị khuất sau mọi tảng đá. Họ không chỉ bị khuất sau mọi tảng đá mà họ thậm chí không biết những tảng đó ở đâu nữa.” Ấy thế nhưng vào giữa năm 1986, First Boston đã có thể tự kiêu về thị phần của mình trong thị trường trái phiếu thế chấp bằng với Salomon Brothers. Ranieri không thích những gì mình đang thấy và ông đã báo cho John Gutfreund biết. Ranieri nói: “Tôi cứ phải nói cho ông ta: ‘Này John, anh đã bán kỹ thuật cho một quả đồi toàn những hạt đậu thần kỳ.’”
Các công ty khác của Phố Wall không cho phép Salomon Brothers có dịp nào giữ miếng khóa chặt tay đối phương trên thị trường trái phiếu thế chấp nữa. Cuối cùng có lẽ các công ty khác đã nắm được những ngón đó của chúng tôi bởi vì trái phiếu thế chấp là món hàng quá lãi và không thể bỏ qua được, nhưng quá trình đó được gia tốc bởi những chính sách của chúng tôi. Các tay giao dịch bỏ việc ở Salomon Brothers đã cung cấp cho Phố Wall không chỉ kỹ xảo buôn bán và vốn hiểu biết thị trường mà còn cả một bảng danh sách trọn vẹn về khách hàng của Salomon Brothers nữa. Bây giờ các tay giao dịch đã có động cơ ngắn hạn là để giáo dục cho kẻ khờ (của thị trường), chỉ cho kẻ khờ đó thấy mình đang trả cho Salomon Brothers bao nhiêu tiền, và có lẽ rồi kẻ đó sẽ quay sang làm ăn với bạn.
Sự chuyển giao kỹ xảo và thông tin có lẽ khiến Salomon Brothers tổn thất hàng trăm triệu đô-la. Trong những ngày đầu, hoạt động giao dịch trái phiếu thế chấp sinh lãi vì các tay giao dịch có thể mua chúng với một mức giá nhất định và bán chúng ngay lập tức với mức giá cao hơn nhiều. Một tay giao dịch trả giá 94 cho trái phiếu của một tổ chức tiết kiệm và cho vay tại Kansas, rồi bán nó cho một tổ chức khác tại Texas với giá 95. Đến đầu năm 1986, lợi nhuận thu hẹp lại. Một tay giao dịch mua trái phiếu với giá 94,5 và vào một ngày đẹp trời, anh ta cũng chỉ có thể bán với giá 94,55. Michael Mortara nói: “Chúng tôi có thể thấy họ (những tay giao dịch trước đây của Salomon) đang hoạt động ngoài đó từ các màn hình. Nếu không thì khách hàng cũng sẽ nói với chúng tôi rằng họ đang làm ăn với những người đó. Salomon đã bắt đầu bỏ lỡ các thương vụ, và cuối cùng chúng tôi đã phải cắt đi những phần lãi chênh lệch của mình.”
Đến cuối năm 1985, ban giao dịch trái phiếu thế chấp của các công ty khác đã bắt đầu quảng cáo trên Wall Street Journal. Drexel Burnham đã tiến hành một quảng cáo với hai người đàn ông trên một chiếc xe đạp đôi. Người phía trước to béo và sụp xuống hì hục đạp. Người đằng sau vươn lên trên vai của người trước và đạp điên cuồng. Có thể nào như vậy? “Có chứ,” Steve Joseph dán bản chụp tờ quảng cáo trên tường trong văn phòng của anh ta ở Drexel và nói. “Đúng, gã to béo phải là Lewie.” Còn tờ quảng cáo của Merrill Lynch lại là hai đội chèo thuyền, một đội béo phị lỏng lẻo, còn đội kia khỏe mạnh, vạm vỡ. Đội khỏe mạnh chỉ cách sau đội béo phị vài mét và trông có vẻ sắp vượt lên. Hẳn đội khỏe mạnh ngụ ý là Merrill Lynch. Đội béo phị, như mọi người trên Phố Wall đều hiểu, tức là ban giao dịch trái phiếu thế chấp của Salomon Brothers. Khi nhìn lại thời hoàng kim ở Salomon Brothers từ văn phòng của mình tại Goldman Sachs, Mortara nói “Đỉnh điểm của lợi nhuận là năm 1985.”
Sự sa sút của Ranieri và Công ty diễn ra nhanh và trên diện rộng đến nỗi người ta miễn cưỡng cho rằng nó không phải xuất phát từ một nhân tố đơn phương, chẳng hạn như sự đào ngũ của các tay giao dịch. Rõ ràng có một số lực lượng đồng thời ăn mòn ưu thế của nó. Một trong những lực lượng này chính là thị trường; thị trường đã bắt đầu lấy lại sự cân bằng giữa “Ranieri và Công ty” đối với những công ty còn lại của giới giao dịch trái phiếu. Sự thiếu hiệu quả (một cách tuyệt vời) của trái phiếu thế chấp đã phá hoại Salomon bởi một trong những ý tưởng sáng tạo của chính Salomon Brothers được gọi là Colateral Mortgage Obligation (CMO/Chứng chỉ nợ thế chấp được bảo đảm). Nó được phát minh vào tháng 6 năm 1983, nhưng cho tới năm 1986 mới chiếm ưu thế trên thị trường trái phiếu thế chấp. Sự mỉa mai là nó đã đạt được đúng những gì mà Ranieri hy vọng: Nó đã làm cho trái phiếu thế chấp trông giống các loại trái phiếu khác hơn. Nhưng việc làm cho trái phiếu thế chấp hợp với diện mạo trái phiếu cuối cùng đã khiến chúng sinh lãi bằng các loại trái phiếu khác.
Larry Fink, nhân vật đứng đầu ban trái phiếu thế chấp của First Boston, người đã giúp tạo nên CMO đầu tiên, đã liệt kê trái phiếu loại này cùng với các trái phiếu thứ cấp được xem như là sáng kiến tài chính quan trọng nhất của thập niên 1980. CMO đã phá vỡ vách ngăn giữa vài nghìn tỷ đô-la có thể đầu tư đang tìm kiếm nhà và gần 2.000 tỷ đô-la các khoản thế chấp bất động sản đang tìm kiếm nhà đầu tư. CMO đã đáp lại sự phản đối chủ yếu dành cho việc mua trái phiếu thế chấp, vẫn còn gây tranh cãi đối với tất cả mọi người – trừ các tổ chức tiết kiệm và cho vay ưa mạo hiểm. Ai muốn cho vay mà lại không muốn biết khi nào khoản tiền đó quay lại với mình?
Để tạo nên một CMO, người ta đã thu gom hàng trăm triệu đô-la trái phiếu thế chấp bình thường, đó là Ginnie Mae, Fannie Mae và Freddie Mac. Các trái phiếu này được đặt tại một ngân hàng tín thác, ngân hàng này trả lãi suất cho các chủ sở hữu trái phiếu. Các chủ sở hữu có chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu của họ. Chúng là chứng chỉ nợ có thế chấp được bảo đảm – CMO. Tuy nhiên, các chứng chỉ đó không hoàn toàn giống nhau. Hãy lấy một CMO trị giá 300 triệu đô-la làm ví dụ. Nó sẽ được chia thành ba phần, mỗi phần chia có trị giá 100 triệu đô-la. Các nhà đầu tư vào mỗi phần được nhận tiền lãi thanh toán cho từng phần. Nhưng chủ sở hữu của phần thứ nhất nhận được toàn bộ tiền gốc của mình trong số 300 triệu đô-la của trái phiếu thế chấp gửi tại ngân hàng tín thác. Cho tới khi các nhà đầu tư giữ phần thứ nhất được thanh toán hoàn toàn phần gốc thì mới đến lượt các nhà đầu tư vào phần thứ hai. Cho tới khi cả các nhà đầu tư vào phần thứ nhất lẫn phần thứ hai được thanh toán hoàn toàn thì người giữ chứng chỉ đầu tư phần chia thứ ba mới được nhận các khoản thanh toán phần gốc.
Mục đích của việc này là nhằm giảm bớt thời gian của phần đầu tư thứ nhất và kéo dài thời gian của phần đầu tư thứ ba một cách tương đối so với trái phiếu thế chấp kiểu cũ. Người ta có thể phần nào đảm bảo rằng kỳ hạn phải thanh toán cho phần đầu tư thứ hai sẽ rút xuống từ 7-15 năm và kỳ hạn phần đầu tư thứ ba từ 15-30 năm.
Cuối cùng, lúc này nhà đầu tư đã có thể chắc chắn phần nào về khoảng thời gian của các khoản vay. Kết quả của các CMO là đã có một sự gia tăng kỳ lạ về số lượng nhà đầu tư và khối lượng giao dịch trên thị trường. Mặc dù không còn cơ hội nào để thuyết phục một nhà quản lý quỹ hưu trí đang mong thiết kế một khoản vay với kỳ hạn dài để mua một trái phiếu Freddie Mac mà có thể ngay ngày mai sẽ biến mất vì được trả trước hạn, thì người ta vẫn dễ dàng bán cho anh ta phần thứ ba của một CMO. Anh ta sẽ ngủ ngon hơn khi biết rằng trước khi khoản tiền gốc của mình được thanh toán thì 200 triệu đô-la của khoản vay thế chấp mua nhà đã phải được trả trước cho các nhà đầu tư vào phần thứ nhất và thứ hai. Hiệu quả thật đáng kinh ngạc. Các quỹ hưu trí Hoa Kỳ đã kiểm soát khoảng 600 tỷ đô-la trị giá tài sản năm 1983, năm mà CMO đầu tiên của Freddie Mac được phát hành. Không một đồng xu nào trong khoản tiền đó được đầu tư vào các khoản vay thế chấp mua nhà. Đúng vào giữa năm 1986, các quỹ đó đã nắm giữ khoảng 30 tỷ đô-la trị giá của các CMO, và con số đó đang tăng nhanh.
Các CMO cũng đã mở ra cho các nhà đầu tư quốc tế – những người nghĩ rằng đặt cược vào các chủ sở hữu nhà của Mỹ là một keo ngon ăn. Năm 1987, văn phòng tại London của Salomon Brothers đã bán 2 tỷ đô-la phần đầu tư thứ nhất của CMO cho các ngân hàng quốc tế đang tìm kiếm vốn đầu tư kỳ hạn ngắn có lãi suất cao hơn. Dòng tiền đổ vào các CMO xuất phát từ các nhà đầu tư hoàn toàn mới đối với trái phiếu thế chấp, mà lẽ ra bình thường họ đã đặt mua trái phiếu kho bạc hay trái phiếu công ty. 60 tỷ đô-la CMO được các ngân hàng đầu tư Phố Wall bán vào khoảng từ tháng 6 năm 1983 đến tháng 1 năm 1988. Điều này có nghĩa là 60 tỷ đô-la là khoản tiền mới được chuyển thành nguồn tài chính để xây dựng nhà cửa từ giữa tháng 6 năm 1983 đến tháng 1 năm 1988.
Như bất kỳ sáng kiến mới nào, CMO đã sinh ra các khoản lợi nhận lớn cho những người sáng tạo nên nó, Salomon Brothers và First Boston. Nhưng đồng thời các CMO đã khôi phục được thế mất cân bằng về cung và cầu đối với các thế chấp vốn tạo nên quá nhiều cơ hội cho các tay giao dịch trái phiếu. Một tay giao dịch không thể nào lợi dụng tình trạng giá rẻ do có ít người mua chúng. Năm 1986, nhờ có các CMO mà đã có nhiều người mua các khoản vay này hơn. Những người mua mới này đã kéo lãi suất của các nhà đầu tư vào trái phiếu thế chấp xuống. Lần đầu tiên, các khoản thế chấp đã trở nên đắt giá.
Thị trường đã xác định một giá trị công bằng cho các CMO bằng việc so sánh chúng với trái phiếu kho bạc và trái phiếu công ty. Mặc dù đây không phải hoàn toàn hợp lý, bởi vì vẫn không có cơ sở lý thuyết nào cho việc định giá quyền thanh toán trước hạn của các chủ sở hữu nhà đối với món nợ thế chấp của anh ta, nhưng thị trường đang lớn dần và đủ để có được sự nhìn nhận công bằng riêng của nó. Giá của các trái phiếu thế chấp bình thường không còn được phép lên xuống một cách vô hiệu quả nữa, vì chúng đã được gắn liền vào thị trường CMO, đúng như một kiểu bột mì được gắn liền với thị trường bánh mì. Giá cả cạnh tranh của CMO (thành phẩm) phản ánh đúng giá cả cạnh tranh của các trái phiếu thế chấp thông thường (nguyên liệu). Bây giờ các nhà đầu tư đã có một khái niệm mới, vững chắc về việc giá cả của một trái phiếu thế chấp là gì. Điều này đã giảm bớt số lượng tiền được tạo ra từ việc khai thác sự thiếu hiểu biết của họ. Thế giới đã thay đổi. Các tay giao dịch của Salomon Brothers không còn mua với giá 12 và rồi làm cho thị trường tin rằng chúng đáng giá 20 nữa. Thị trường đã điều chỉnh giá cả và các tay giao dịch của Salomon Brothers phải học cách để đối phó với nó.
Sau các CMO đầu tiên, dường như những gã hung hăng trong việc nghiên cứu và giao dịch trái phiếu thế chấp đã tìm ra vô số cách thức để cắt các khoản vay thế chấp mua nhà ra từng miếng mỏng. Họ đã tạo ra các CMO năm phần và các CMO mười phần. Họ đã chia một lô các khoản thế chấp thành một lô của phần trả lãi và một lô của phần trả gốc, rồi bán theo từng phần (gọi là thanh toán lãi và thanh toán gốc) như là các khoản đầu tư riêng biệt. Chủ sở hữu nhà không biết điều đó, nhưng các khoản thanh toán lãi suất của anh ta có lẽ để dành cho một nhà đầu cơ người Pháp, còn các khoản trả lãi gốc của anh ta là cho một công ty bảo hiểm tại Milwaukee. Có lẽ đúng là thuật giả kim kỳ lạ nhất Phố Wall đã xáo trộn các khoản thanh toán lãi và gốc rồi sau đó gắn chúng lại với nhau để tạo nên các khoản vay thế chấp mua nhà có thể chưa bao giờ tồn tại trên thế giới. Do vậy, việc những người sở hữu chung cư ở California thanh toán lãi với mức 11% có thể được gắn vào phần thanh toán tiền gốc của các chủ sở hữu nhà từ một khu ổ chuột ở bang Louisiana, và một loại trái phiếu mới – một người da đen thế hệ mới được sinh ra.
Ban giao dịch trái phiếu thế chấp đã trở mình từ tiệm tạp hóa ở góc phố thành siêu thị. Bằng cách tăng số lượng sản phẩm, họ đã tăng số lượng người mua sắm. Những người mua sắm lớn nhất – các tổ chức tiết kiệm và cho vay – thường có một nhu cầu hết sức riêng biệt. Họ muốn phát triển vượt những giới hạn bị Federal Home Loan Bank Board (Ủy ban ngân hàng cho vay mua nhà liên bang) tại Washington áp đặt. Đó là một cuộc đấu tranh liên tục để tiến bước lên trước các nhà hoạch định chính sách về tổ chức tiết kiệm tại Washington. Nhiều “sản phẩm mới” do Salomon Brothers phát minh nằm ngoài nguyên tắc của trò chơi về quy định, chúng không buộc phải lên danh sách trên bảng cân đối tài chính của tổ chức tiết kiệm và cho vay, do vậy đã tạo ra một con đường cho các tổ chức tiết kiệm và cho vay phát triển. Trong một vài trường hợp, tác dụng duy nhất của một sản phẩm mới là việc phân loại chúng thành “tài khoản ngoại bảng”.
Để thu hút các nhà đầu tư mới cũng như tránh các quy định mới, thị trường trở nên phức tạp hơn bao giờ hết. Luôn có điều gì đó mới mẻ để tìm hiểu và rõ ràng là Ranieri không nắm bắt kịp. Những người còn lại trong ban quản trị Salomon Brothers thực ra chưa bao giờ cập nhật được những yếu tố đó. Do vậy, các thương vụ liều lĩnh được điều hành bởi những tay làng nhàng mới kết thúc chương trình đào tạo được vài tháng. Một người mới đến Phố Wall đột nhiên trở thành chuyên gia không có gì là đáng ngạc nhiên nữa, vì các trái phiếu đang giao dịch cũng vừa được phát minh chỉ một tháng trước đó. Trong một giai đoạn liên tục xuất hiện các phát minh về tài chính, những người trẻ nhất đã nắm quyền lực (và một lý do lý giải tại sao những thanh niên lại trở nên giàu có: thập niên 1980 là thời kỳ thay đổi liên tục). Một bộ óc trẻ nhạy bén nắm bắt đúng cơ hội hiểu một điều gì đó mà những người tiền nhiệm đã không biết. Những người già cỗi vẫn còn quá bận rộn dọn dẹp chiếc bàn làm việc của mình để có thể trụ lại được ở ranh giới của sự đổi mới.
Năm 1986, thậm chí Ranieri không còn ngồi ở ban giao dịch. Ông ta bận rộn với công việc chính sách của công ty. Hơn nữa sự vắng mặt của Ranieri khiến các tay giao dịch vui vẻ. Đúng ra không phải họ không thích Lewie. Nhưng khi các nhà quản lý – Lewie và Michael Mortara – được thăng cấp, họ vẫn cứ nhúng tay vào công việc của các tay giao dịch. Họ bảo các tay giao dịch nên làm gì và không nên làm gì. Họ muốn biết chính xác tại sao các tay giao dịch mua trái phiếu này hay trái phiếu kia. Một tay giao dịch nói: “Anh không cần thiết phải có một lý do thích đáng để thiết lập một trạng thái giao dịch. Đôi khi anh mua các trái phiếu chỉ để tìm được những gì đang diễn ra trên phố. Anh không muốn có ai đó loanh quanh hỏi lý do tại sao anh đã làm cái này cái nọ.”
Không có gì ngạc nhiên khi tay giao dịch đã tìm ra nhiều cách để khiến cho các nhà quản lý nản lòng với hoạt động quản lý. Vào một tuần nọ, tháng 4 năm 1986, khi Ranieri quyết định ông sẽ dành ít thời gian làm việc trên sàn giao dịch thì âm mưu đầu tiên của các tay giao dịch đã bại lộ. Mỗi sáng Ranieri đến sớm, nhưng các tay giao dịch đã đẩy ông vào bàn của mình. Ngày thứ nhất, họ xếp hàng chồng giấy tờ dày cộp lên bàn của ông. Ranieri đến lúc 7h sáng, nhìn thấy tình trạng bừa bộn và ông tức xì khói: “Ai đã làm trò này?” Ông không hỏi một ai cụ thể. Các tay giao dịch nhún vai cười rúc rích.
Ngày thứ hai, các tay giao dịch tháo chốt đỡ của chiếc ghế quay tại bàn làm việc của Ranieri. Khi ông ngồi xuống thì bổ nhào xuống sàn nhà và suýt nữa rạn xương sống. Phải mất vài phút mọi người mới nhấc ông đứng dậy được, trong lúc đó ông luôn miệng chửi rủa và hét. Lần này ông đã hỏi D’Antona ai chịu trách nhiệm về trò chơi khăm này. D’Antona thề không biết.
Ngày thứ ba, các tay giao dịch dựng chiếc ghế quay của Ranieri lên để ông có thể ngồi an toàn, song lúc ông chồm người về phía bàn làm việc thì ông đã va mạnh xương bánh chè vào ngăn kéo giữa. Ông cáu điên lên: “Mẹ kiếp, Johnny, tôi muốn biết ai đã làm trò này,” ông cáu tiết. D’Antona đáp: “Tôi đoán có lẽ Mike (Mortara) không thích ông ngồi ở chiếc bàn này thôi.” (Đây là một lời nói dối, Ranieri đáng lẽ phải phát hiện được điều này vì Mortara không bao giờ đến trước 8h sáng, vì vậy ông ta không thể nào là thủ phạm).
“Mẹ kiếp, nó nghĩ nó là thằng nào vậy?” Ranieri nói. Rồi ông thu hết các thùng rác trong phòng và quăng chúng lên chiếc bàn của Mortara – nào là giấy in, khoanh khoai tây, bánh hamburger và đồ thải của người khác.
Các tay giao dịch hùa vào cùng ông, thể hiện sự giúp đỡ, thu lượm các thùng rác từ khắp tầng giao dịch. Khi họ làm xong thì chiếc bàn giao dịch của Mortara bị vùi trong một bãi rác. “Nó còn khớp đúng thời gian hơn cả buổi diễn trên sân khấu,” một tay giao dịch nói. “Đúng lúc Lewie đang ầm ầm đi ra khỏi sàn giao dịch theo phía này thì Mortara đang bước vào từ phía kia.”
Khi Mortara nhìn thấy chiếc bàn của mình, ông ta phản ứng đúng như Ranieri đã phản ứng. Ý nghĩ đầu tiên duy nhất của ông ta là trả thù. Ông ta cũng quay sang D’Antona và hỏi: “Này Leroy (tên riêng của D’Antona), tôi không giỡn đâu, ai đã làm cái trò này với chiếc bàn của tôi?”
“Michael, Chúa chứng giám cho tôi,” D’Antona đáp. “Chính là Lewie đấy.”
Mortara lúng túng, Ranieri là gã mà ông ta không thể bắt bẻ được. Ông ta làu bàu trong nỗi thất vọng, đi thẳng lên văn phòng của mình trên tầng 42 và suốt này hôm đó không thấy xuất hiện lại nữa.
“Cuối cùng chúng tôi có chút yên tĩnh quanh đây,” một tay giao dịch nói. Sau đó, Mortara đã quay lại (khi tay giao dịch thế chấp Mason Haupt đã dọn sạch sẽ mớ lộn xộn đó). Còn Ranieri thì không. Đó là việc bình thường đối với các tay giao dịch, có khi vậy lại tốt. Vào tháng 4 năm 1986, ban giao dịch trái phiếu thế chấp thua lỗ nhiều hơn bao giờ hết. Các tay giao dịch ước tính khoảng 35-65 triệu đô-la. Các tay giao dịch thế chấp đã bù đắp vào khoản thua lỗ bằng những món lợi nhuận dành dụm phòng hờ ngày mưa bão. Họ đã làm việc này bằng cách ngụy tạo giá trị các trái phiếu trên sổ sách của mình. Hội đồng quản trị cấp cao của Salomon Brothers không bao giờ biết được.
Những khoảng thời gian tồi tệ bao trùm lên ban trái phiếu thế chấp là đặc tính công việc xuyên suốt công ty. Năm 1986 là một năm đói kém đối với Salomon Brothers, và năm 1987 còn tồi tệ hơn, vì doanh thu đã ngừng tăng trưởng trong khi chi phí gia tăng đến mức mất kiểm soát. Trong một nỗ lực để lập lại sự kiểm soát, Gutfreund đã tạo ra vô số danh hiệu mới. Một ban giám đốc của Salomon Brother đã ra đời, chủ yếu bao gồm các tay giao dịch trước đây. Trên ban giám đốc là một cấp quản lý mới gọi là văn phòng chủ tịch. Với văn phòng này, Gutfreund bổ nhiệm hai người từng làm giao dịch và một người từng kinh doanh – Lewie Ranieri, Bill Voute và Tom Strauss. Mỗi người được đề nghị phải tự tách mình ra khỏi những trận chiến cục bộ nhỏ mà họ từng làm trước đây và tự thấy mình có liên quan tới toàn bộ phúc lợi của công ty. Đó là một ý kiến hay.
“Tôi có học thuyết này,” Andy Stone nói khi ngồi trong văn phòng của mình ở Prudential-Bache: “Phố Wall biến những tay giao dịch giỏi nhất thành những nhà quản lý. Phần thưởng của một tay giao dịch giỏi là được biến thành một nhà quản lý. Những tay giao dịch giỏi nhất thường cắt cổ, cạnh tranh, hay gay gắt và dễ nổi điên. Bạn biến những con người đó thành nhà quản lý và họ sẽ khiêu khích lẫn nhau. Những người này không còn có nơi phát huy bản năng mà công việc giao dịch đã tạo ra cho họ. Họ thường không được trang bị đầy đủ để làm nhà quản lý. Một nửa trong số họ bị loại ra vì trình độ kém. Một phần tư bị gạt ra vì tính mưu mô chính trị xảo quyệt. Những gã còn lại chỉ là những kẻ tàn nhẫn nhất trong đám người đó. Đó là lý do tại sao có các chu kỳ trên Phố Wall – tại sao Salomon Brothers hiện nay bị thanh lọc – bởi vì những kẻ tàn bạo thì không tốt cho sự phát triển hoạt động kinh doanh của công ty, chúng chỉ có thể bị tẩy sạch bởi những thất bại thực tế mà thôi.”
Đối với Salomon Brothers, việc văn phòng chủ tịch chia rẽ không phải là điều bí mật. Nó đơn giản chỉ là một sự chuyển hướng của trận chiến giữa ba trụ cột trên mặt trận kinh doanh nợ: Strauss đại diện cho ban trái phiếu chính phủ, Voute đại diện cho ban trái phiếu công ty và Ranieri đại diện cho ban trái phiếu thế chấp. Theo một thành viên của ban trái phiếu chính phủ thì: “Ở đây bạn nằm trong gia đình Strauss, gia đình Ranieri hoặc gia đình Voute. Không mấy người ở trong nhiều gia đình.”
Vấn đề không chỉ là sự xung đột tinh thần đồng đội. Văn phòng chủ tịch có tiếng về những mối hận thù sâu sắc. Ranieri gọi Tom Strauss là “một người sai lầm ngu xuẩn, giả dối”. Ông gọi Bill Voute là “con người chính trị nhất mà tôi từng gặp. Ông ta chưa bao giờ nói điều gì mà không có một chương trình nghị sự về chính trị cả. Ông ta quả nham hiểm.” Nhưng những lời phàn nàn của ông về hai người đương nhiệm mới này có vẻ nhẹ nhàng hơn so với những lời phàn nàn của họ về ông. Ranieri sẵn sàng làm việc chung với họ, nhưng cuối cùng họ đã làm cho ông bị sa thải. Mặt khác là vì cả ba người này đều sống bằng luật rừng, có lẽ đó là vấn đề phải đánh người này trước khi bị đánh. Dù sao chăng nữa, văn phòng chủ tịch đã trở thành biểu tượng cho sức mạnh của Salomon Brothers trong việc có thể tiến hành giải thể ban trái phiếu thế chấp.
Ban trái phiếu chính phủ là một sự đối lập với thói phàm ăn và tính sắc tộc của ban trái phiếu thế chấp. Theo tiêu chuẩn của Salomon, nó gần như đã được chắt lọc, đúng hơn phải nói rằng họ nuốt miếng thịt tái hơn là sống. Các tay giao dịch trái phiếu chính phủ có thể bị nhầm lẫn là dân WASP thuộc vùng bờ biển phía Đông. Tom Strauss, vị lãnh đạo của họ, là người cao gầy và có nước da rám nắng. Ông ta thường chơi tennis.
Các tay giao dịch thế chấp phật ý về điều này. Họ không thích những gì mà họ hiểu theo ý nghĩ của Strauss về nền văn minh Do Thái của Salomon. Khi nói chuyện về Strauss, hiếm khi họ không hình dung về trò tennis của ông ta. Họ tưởng tượng ông ta mặc bộ quần áo màu trắng xuất hiện tại các sân quần vợt của câu lạc bộ dành riêng cho giới thượng lưu. Hai tật xấu mà ban trái phiếu thế chấp không có đó là đạo đức giả và tính làm bộ làm tịch, đây là những tật xấu mà họ ít ra đã khoan dung cho những kẻ khác. “Sự khác nhau giữa Strauss và Ranieri ư?” – một tay giao dịch hiện vẫn ở Salomon nói. “Điều đó thì dễ ợt. Strauss sẽ không khom người trong phòng vệ sinh nam ở sàn giao dịch mà lên tầng trên, còn Lewie sẽ tè ngay trên chiếc bàn của mình.”
Ranieri nói: “Tom Strauss mong ước mình không phải là người Do Thái hơn bất cứ điều gì. Từ khi ông ta vào công ty đã có một câu chuyện cười rằng đôi vợ chồng Do Thái ghê gớm nào đó đã đánh cắp Tommy từ cái máng.” (Và do vậy điều ấy khiến một người Thiên Chúa giáo La Mã như Ranieri phải bảo vệ di sản Do Thái của Salomon Brothers).
“Những gì mà Strauss ghét Lewie là ông ta béo phị, vô học và thiếu tế nhị,” một tay giao dịch cao cấp của Lewie nói. “Strauss không quan tâm tới những món lãi của Lewie. Thậm chí ông ta cũng chẳng quan tâm về tầm nhìn của Lewie. Ông ta không thích vẻ lôi thôi của Lewie. Nhưng Lewie là người ngồi cạnh Strauss. Strauss đã tới đỉnh cao và nhìn vào quyền lực của mình rồi nói: ‘Hãy đợi một phút, tôi tưởng tôi đã tiến đến đỉnh cao của thế giới này rồi.’”
Gia đình Strauss (mà tôi là một thành viên) đã chống đối mạnh mẽ ban trái phiếu thế chấp về vấn đề chuyên môn. Họ không bằng lòng về những gì bị cho là vượt quá giới hạn của ban trái phiếu thế chấp. Những bữa ăn uống nhậu nhẹt tưng bừng và chứng béo phì đã chỉ ra vấn đề căn bản hơn. Trong ban trái phiếu thế chấp, chi phí hầu như vượt tầm kiểm soát.
Ai thèm quan tâm? Doanh thu luôn là vấn đề chính. “Anh sẽ đến đây và thay đổi những nguyên tắc áp dụng với chúng tôi bây giờ à?” là phản ứng của một số tay giao dịch. Từ năm 1981-1986, ban trái phiếu thế chấp đã đạt được doanh thu vô cùng lớn mà chi phí là thứ không đáng kể. Nhưng khi doanh thu bắt đầu giảm, đột nhiên chi phí lại (cũng) trở thành vấn đề. Một giám đốc điều hành ban trái phiếu chính phủ được chuyển sang ban trái phiếu thế chấp vào cuối năm 1985 và đồng thời phải chịu trách nhiệm về ủy ban chuẩn chi của Salomon. Đó không chỉ là một sự trùng hợp ngẫu nghiên. Một ai đó phải kiểm soát những người này!
Nhiều tay giao dịch trái phiếu thế chấp cảm thấy rằng mới đầu họ bị trả lương thấp, và ông chủ của họ đồng ý rằng họ đã bị trả lương thấp, nên tài khoản chi phí của Salomon Brothers có thể được sử dụng như một chế độ trợ cấp hậu hĩnh. Họ đã phát triển những thói quen xấu. “Chúng tôi thường cho những chiếc xe sang trọng của công ty đi đón bạn bè ở sân bay. Chúng tôi còn cho bạn bè mượn thẻ gọi điện thoại của chúng tôi. Lạy Chúa, mọi người dùng chiếc Limousine của Salomon để đưa các bà vợ đi mua sắm vào ngày nghỉ cuối tuần,” một tay giao dịch nói. “ Tôi có câu chuyện về chi tiêu tối đa,” một phụ nữ làm việc ở ban tài chính trái phiếu thế chấp kể, “một người trong ban đã báo cáo hàng loạt chi tiêu ảo từ những chuyến đi thăm khách hàng không có thực để mua cho mình một chiếc Saab mới.” Việc này đã làm cho gia đình Strauss khó chịu.
Cảm nghĩ của Voute về Ranieri có vẻ bí ẩn hơn so với cảm nghĩ của Strauss. Nhưng bản thân Voute đã là một bí ẩn. Trong lúc các giám đốc điều hành khác hội họp trên sàn giao dịch tầng 41 thì Voute là một mắt xích vô hình trong chuỗi quyền lực. Ông ta có một văn phòng ở tầng 40, thỉnh thoảng xuất hiện trên báo chí, nhưng thực tế người ta chưa bao giờ gặp ông ta. Một lần tôi thấy ông ta trong bức ảnh chụp đang đứng cạnh chiếc Limousine của mình trên tuần báo Business Week năm 1987. Bài báo ngắn bên dưới nói rằng Bill Voute chắc chắn trở thành chủ tịch của Salomon Brothers. Mặc dù ông ta có cách sống ẩn dật, song biện pháp khởi đầu để dẹp ban trái phiếu thế chấp lại xuất phát từ ban giao dịch trái phiếu công ty của Voute.
Với yêu cầu khăng khăng của Voute và Strauss, một giám đốc điều hành trái phiếu công ty tên là Mark Smith đã gia nhập ban trái phiếu thế chấp cuối năm 1985. “Bạn có thể gọi ông ta là một tên gián điệp,” một tay giao dịch trái phiếu thế chấp nói. “Bạn cũng có thể gọi ông ta là một con ngựa thành Tơroa,” một người khác nói. “Không thể gọi ông ta là con ngựa thành Tơroa được vì tất cả chúng ta đều biết có những gì ở bên trong, song Michael đã không nghe,” người thứ ba nói. Công bằng mà nói, Mortara đã không có nhiều chọn lựa ngoài việc để cho con ngựa đó qua lại các cổng thành. Mortara không thể nào cản trở nổi Voute và Strauss. Chỉ có Ranieri mới có thể làm được điều đó. Câu hỏi nằm trên đầu lưỡi của ban trái phiếu thế chấp đã được vọng lên lần đầu tiên: Lewie đâu rồi?
Mark Smith là Big Swinging Dick đầu tiên được bổ nhiệm lần hai vào ban trái phiếu thế chấp từ một bộ phận nào đó của công ty (trừ Ranieri). Ban này luôn là một gia đình mang tính đặc trưng bởi tình đoàn kết cục bộ. Sáu tháng sau khi Smith gia nhập, những cuộc cãi vã vặt vãnh trong nội bộ đầu tiên đã xảy ra. Smith thuyết phục Mortara chuyển Jeff Kronthal ra khỏi ban trái phiếu thế chấp (đệ tử của Ranieri ra khỏi ban thế chấp!) và chuyển sang ban trái phiếu công ty. Rồi Smith lại đòi đưa Larry Stein – một tay giao dịch trái phiếu chính phủ – sang nhóm kinh doanh chênh lệch thế chấp, gồm có Nathan Cornfeld, Wolf Nadoolman và Greg Hawkins. Stein đã đồng ý chuyển với điều kiện Nadoolman phải bị đuổi đi. Nadoolman là một tay giao dịch có khả năng sinh lợi, nhưng quan trọng hơn, anh ta là một nhân viên trung thành của gia đình Ranieri. Stein lại thuộc gia đình Strauss. Tuy nhiên, cuối năm 1986, Mortara đã đuổi Nadoolman. Bầu không khí đã bị nhiễm độc.
MERRILL LYNCH MẤT 250 TRIỆU ĐÔ-LA TRONG THƯƠNG VỤ TRÁI PHÉP, thông tin này được công bố trên tít đầu tờ Wall Street Journal ngày 29 tháng 5 năm 1987. Rồi tiếp đó là dòng chữ in nhỏ: “Ban quản trị của Merrill Lynch đã xác nhận với tư cách cá nhân đó là Howard A. Rubin, 36 tuổi, tay giao dịch trái phiếu thế chấp hàng đầu của công ty. Họ nói anh ta đã vượt quá giới hạn của mình trong việc đóng gói các khoản thế chấp. Việc đóng gói bao gồm chia các khoản thế chấp thành các khoản trả lãi và trả gốc rồi bán từng phần riêng biệt. Chúng được biết đến với cái tên ‘Trái phiếu chỉ trả lãi suất/Trái phiếu chỉ trả vốn gốc, hay IO/PO (interst-only/principal-only)’.”
Các phóng viên Phố Wall đang ráo riết cố gắng tìm ra cả hai điều, Howie Rubin là ai và IO, PO là gì. Rồi cuối cùng họ cũng hiểu vì sao Howie vấp phải một vụ giao dịch thua lỗ nhiều hơn bất kỳ ai trong lịch sử Phố Wall lại là một trong những bí ẩn gây tò mò nhất trên khu phố này. Cho tới lúc đó dường như anh ta không chỉ là một trong những người luôn đứng vững trên đôi chân mà còn là một tài năng. Lewie Ranieri đã nhận xét: “Howie Rubin là tay giao dịch có tài nhất mà tôi từng thấy.” Câu chuyện mà Merrill Lynch cho giới báo chí biết là Rubin đã lừa họ. Một ủy viên ban quản trị của Merrill Lynch đã nói với Wall Street Journal rằng Rubin “chỉ đặt chúng (các trái phiếu và IO/PO) trong ngăn kéo của anh ta. Chúng tôi không biết anh ta có chúng”. Chỉ đặt chúng trong ngăn kéo của anh ta thôi ư? Ban quản trị cấp cao của một công ty lớn như Merrill Lynch có thể hoàn toàn mất cảnh giác đến thế ư?
Hai tuần trước khi vụ thua lỗ được công bố, Rubin đã có bữa ăn trưa với một vị khách hàng cỡ lớn về trái phiếu thế chấp là Ernie Fleischer của tổ chức tiết kiệm và cho vay Franklin tại Ottawa, bang Kansas. Nhìn chung, việc quản lý tổ chức này tiến triển chậm chạp và Fleischer là người tiên phong của sự thay đổi. Ông ta tự hào về việc hạ gục Phố Wall trong trò chơi của chính nó. Rubin đã giải thích về các IO và PO (cần nhớ rằng chính chúng là các trái phiếu thế chấp được tách riêng phần lãi và gốc để bán cho các nhà đầu tư khác nhau). Fleischer thích những gì mà ông ta nghe thấy. Và trong lúc họ vẫn còn ngồi ở bàn ăn trưa, Fleischer đã bảo Rubin bán cho ông ta 500 triệu đô-la IO.
Rubin đồng ý và nhanh chóng hoàn tất thương vụ. Anh ta bán cho Fleischer phần thanh toán lãi của các trái phiếu với trị giá 500 triệu đô-la, do đó các trái phiếu này để lại cho anh ta phần nợ gốc. Thương vụ này đã được thực hiện xong xuôi khi mọi người thưởng thức món tráng miệng. Fleischer trở về Ottawa. Về sau ông ta khoe khoang ông ta đã kiếm được 10 triệu đô-la như thế nào trong một thương vụ khiến những tay bợm già nhất Phố Wall mất một mẻ trắng tay.
Vấn đề đối với Howie Rubin là làm cách nào giải quyết 500 triệu đô-la PO của anh ta. Không trái phiếu nào xuống giá nhanh hơn khi lãi suất tăng lên nhanh hơn là PO (có nhiều lý do để bạn đừng nên mua chúng, hãy tin tôi). Vậy nên rủi ro của Rubin là ở chỗ thị trường trái phiếu sẽ hạ trước khi anh ta có cơ hội bán các PO. Khi trở về từ bữa ăn trưa, Rubin cảm thấy bồn chồn và cố phân tán các PO của mình qua các kênh bán hàng của Merrill Lynch, nhưng lại không thể bán được PO. Rồi thị trường sụp đổ. Sau vài ngày, Rubin nhận ra mình thua lỗ một khoản quá lớn tới mức không thể chấp nhận được. Một số còn đồn rằng lúc đó anh ta đã mua thêm các PO để tăng gấp đôi số tiền mình đặt cược. Mặc dù hành động có lẽ rất đặc biệt, song không có bằng chứng nào cho thấy anh ta đã làm. Dường như không ai hiểu tại sao việc đó lại vượt quá kiểm soát. Ấy thế mà mọi người đều có một quan điểm. Và những gì mà tất cả đồng nghiệp trước đây ở Salomon của Rubin thề, từ Lewie Ranieri trở xuống, là Howie Rubin không giấu các trái phiếu đó trong ngăn kéo nào. Lời giải thích duy nhất về câu chuyện được chấp nhận là ban quản trị Merrill Lynch đã không hiểu PO là cái gì, do vậy không thiết lập được bất cứ nguyên tắc nào cho việc sử dụng nó và đã cho phép Rubin chấp nhận mạo hiểm lớn, và rồi sử dụng anh ta như con tốt thí cho sự ngu dốt của Merrill. Trong những câu chuyện đăng trên báo chí tiếp theo sự vụ đó, các tay giao dịch giấu tên của Salomon Brothers đã được trích dẫn để bào chữa cho Howie Rubin. Đúng y như thể anh ta vẫn là một phần trong gia đình Ranieri.
Để chia một trái phiếu thế chấp thành các phần gốc và lãi, thứ nhất trái phiếu đó phải được đăng ký với SEC. Việc đăng ký trái phiếu với SEC là một sự kiện phải được công khai. Thế nên phần còn lại của Phố Wall đã thấy Howie Rubin của Merrill Lynch đăng ký phát hành 500 triệu đô-la IO và PO. Mark Smith, người của Voute và Strauss ở ban trái phiếu thế chấp, nhận xét rằng Salomon Brothers nên theo vụ này.
Xét trên bề mặt của vấn đề, lời nhận xét của anh ta rất có lý. Các gói IO và PO của Merrill Lynch được đặt bán với giá quá cao. Smith tính toán rằng nếu Merrill có thể bán các phần của trái phiếu thế chấp với những mức giá cao như vậy thì Salomon – với sức bán mạnh hơn – sẽ không gặp vấn đề gì khi bán một số lượng tương tự với giá rẻ hơn. Tất nhiên những gì mà anh ta không biết là thực chất Howie Rubin đã bán toàn bộ số lượng của mình hay chưa. Nhưng các ngân hàng đầu tư chẳng yêu cầu gì hơn việc đưa ra giá rẻ hơn đối thủ. Do vậy, Salomon quyết định cũng làm như vậy. Salomon đã phát hành các IO và PO trị giá 250 triệu đô-la.
Nhờ chỉ ra rằng các PO của Salomon rẻ hơn các PO của Merrill Lynch, lực lượng bán hàng của Salomon đã xoay xở thành công để chuyển những thứ đáng sợ ra khỏi cửa cho các nhà đầu tư trước khi thị trường sụp đổ. Tất nhiên, điều này đã đục khoét hoàn toàn những nỗ lực của Howie Rubin để thoát khỏi thảm họa. Điều đó đã đặt Salomon Brothers vào một vị trí tương tự như Ernie Fleischer, nó giữ các IO sẽ lên giá khi thị trường trái phiếu xuống giá. Điều đó không hề gì, tất cả mọi thành viên của Salomon đều mong đợi thị trường sụp đổ. Và thay vì chào bán các IO đó cho công chúng, nó đã giữ chúng lại như là sự đặt cược. Nhóm kinh doanh chênh lệch thế chấp – gồm Greg Hawkins, Nathan Cornfeld và Nathan Low – đã mua 125 triệu đô-la những thứ đó. Còn nhóm giao dịch do nhà vô địch Bài Nói dối John Meriwether điều hành đã mua phần còn lại. Duy nhất một tay giao dịch trên tầng 41 của Salomon Brothers dường như có một cách nhìn khác hẳn với những người còn lại: Mark Smith. Trong tài khoản giao dịch của anh ta, giống như Howie Rubin, giữ hàng trăm triệu đô-la PO (đã mua vào từ mấy tuần lễ trước).
Ở Salomon, người ta biết Smith là một tay giao dịch đầu cơ có tài. Cái mũi thính đã báo cho anh ta rằng thị trường trái phiếu đang chuẩn bị cho một đợt lên giá. Anh ta cảm thấy chắc chắn về món tiền đặt cược của mình đến nỗi đã nói rằng Hawkins, Cornfeld và Low thật ngu ngốc khi đánh cuộc với anh ta. Thỉnh thoảng anh ta lại lang thang qua mấy anh chàng của John Meriwether để nói cho họ rằng anh ta, chứ không phải họ, đã đánh một canh bạc đúng. Thị trường trái phiếu cảm thấy tốt, nó đang đi lên.
Khi thị trường bắt đầu xuống thì nó xuống từ từ. Nhưng nó cũng đủ sức tàn phá Merrill Lynch như đã đăng trên trang đầu của Wall Street Journal. Một vài ngày trước khi câu chuyện xảy ra, lời đồn đại trên thị trường đã báo động cho Salomon Brothers rằng Merrill Lynch đang ngồi trên các PO cần phải bán trị giá tới hàng trăm triệu đô-la. Sau ít ngày sụt giá, Smith – người đã thua lỗ một ít nhưng vẫn còn tồn tại trên thị trường – nhẩm tính và quyết định rằng đã đến lúc mua thêm một số PO. Rút cục, Merrill Lynch đang hoang mang và điều đó, như chúng ta đều biết, đã mở ra một cơ hội để mua rẻ. Vậy là anh ta mua thêm PO, mặc dù chúng không phải là các khoản mà Howie nắm giữ, nhưng trạng thái giao dịch của anh ta thì giống với Rubin. Sau đó một ngày, thị trường chững lại.
Lúc thị trường tiếp tục sụt giá, nó sụt một cách ghê gớm tựa như quả táo rụng khỏi cây. Các chàng trai của Meriwether lẫn ban trái phiếu thế chấp nhanh chóng kiếm được hàng chục triệu đô-la. Tuy nhiên, Smith bắt đầu lỗ thậm chí còn nhiều hơn hàng triệu đô-la. Một số người ước tính khoản thua lỗ của anh ta lên tới 35-75 triệu đô-la. Nhưng điều đó không thành vấn đề. Trong lúc đó, các ty giao dịch trái phiếu thế chấp giữ lại IO của họ, lợi nhuận của họ đang tăng dần lên. Điều đó đã khiến Smith – từng là một nhà hoạch định kế hoạch – nảy sinh ý nghĩ về việc làm thế nào lấy lại được tiền của mình.
Anh ta bắt đầu bằng cách nói cho những người ở vị trí cấp cao rằng mọi trái phiếu của anh ta đã được gắn cùng với trái phiếu do nhóm kinh doanh chênh lệch thế chấp khác nắm giữ – đó là Hawkins, Cornfeld và Low. Anh ta nói đi nói lại việc đó và anh ta đủ lão luyện (vốn là một tay giám đốc điều hành) để thuyết phục mọi người tin vào anh ta. Rốt cục, anh ta là sếp của ban trái phiếu thế chấp. Rồi anh ta báo cho các tay giao dịch trái phiếu thế chấp biết rằng các IO sinh lời của họ thực chất nằm trong tài khoản giao dịch của anh ta. Anh ta nói rằng anh ta đã lập kế hoạch để gộp các PO của anh ta theo giá mua của anh ta với các IO của họ theo giá mua của họ và bán tất cả chúng cho giới đầu tư. Do vậy, các khoản lãi kinh doanh chênh lệch thế chấp đã bù được số thua lỗ của Smith một cách thừa thãi!
Smith đang đánh cắp tiền lãi từ các tay giao dịch khác. Điều còn tệ hơn trong cách nhìn của các tay giao dịch trái phiếu thế chấp, rằng Smith là một tay giao dịch trái phiếu công ty. Đó là dấu hiệu cho mọi người thấy một điều gì đó rất đồi bại trong Salomon Brothers. Một thành viên của nhóm giao dịch trái phiếu thế chấp nhớ lại: “Mọi việc tồi tệ đến mức mà mỗi buổi sáng, khi bước vào công ty, chúng tôi nói: ‘Ồ, chúng ta kiếm được 2 triệu đô-la nữa từ các IO. Hãy đoán xem Smith cũng sẽ lấy đi số đó hay không?’” Về sau, mãi về sau, trong văn phòng của Gutfreund, Smith bị khiển trách nặng nề vì những gì anh ta đã làm. Nhưng điều đó có lẽ là hơi quá muộn. Cornfeld đã ra đi và gia nhập Shearson Lehman. Low ra đi và làm việc cho Bear Stearns. Thậm chí Larry Stein – người được Smith giới thiệu vào ban trái phiếu thế chấp – cũng ra đi trong sự ghê tởm. Trong một thời gian ngắn, rất nhiều cuộc điện thoại từ nội bộ công ty muốn lấy cái đầu của Smith, nhưng điều đó đã chấm dứt khi những người còn lại của ban giao dịch trái phiếu thế chấp bị sa thải. Lewie đã ở đâu?
Mặc dù không phải ai cũng biết chuyện đó, trong khi Smith đang “săn trộm” tiền lãi từ sổ sách của nhóm kinh doanh chênh lệch thế chấp, thì trong thâm tâm Ranieri cho rằng mình không còn chính thức chịu trách nhiệm về việc kinh doanh trái phiếu thế chấp nữa. Ông nói: “Tháng 12 năm 1986, John lại chỗ tôi và nói: ‘Tôi muốn lột trần ban trái phiếu thế chấp đó. Tôi muốn anh giúp quản lý toàn bộ công ty.’ Ban đó không còn tồn tại như một thực thể riêng biệt nữa. Nó là một bộ phận của hoạt động giao dịch với thu nhập cố định.”
Tháng 5 năm 1987, Gutfreund nói với 112 vị giám đốc điều hành Salomon vào ngày nghỉ cuối tuần hàng năm của những vị này, diễn ra tại New York: “Chúng ta đã thiết lập nên văn phòng chủ tịch vì hoạt động điều hành Salomon Brothers vượt quá phạm vi của bất cứ người nào. Xét theo bất cứ nhóm nào, sự thách thức là phải chia sẻ nhiệm vụ, có quan điểm và cách nhìn nhận sự việc đa dạng, công việc cùng hướng tới mục đích chung. Tôi rất vui mừng khi thấy nhóm đó đang hình thành ra sao. Rồi sẽ đến lúc ba thành viên của một tập thể cùng hướng tới trách nhiệm ít hơn để có thêm thời gian dành cho hoạt động điều hành công ty.”
Hai tháng sau, ngày 16 tháng 7 năm 1987, Gutfreund sa thải Ranieri. Khi đang làm ăn ở vùng bờ biển miền Tây, Ranieri được thư ký của Gutfreund thông báo rằng Gutfreund muốn gặp ông – tại trung tâm thành phố Wachtell, văn phòng Lipton – công ty luật tài chính nổi tiếng. “Chúng tôi đã gặp nhau tại văn phòng của Marty (luật sư, đồng sáng lập Martin Lipton) – một nơi lý tưởng khi chúng tôi không muốn tạo nên một cuộc om sòm ầm ĩ và cần phải khẩn trương,” Ranieri nói. “Tôi cho rằng những người Nam Phi (có nghĩa là Minorco) – muốn tách các cổ phần của họ. Tôi không hề biết điều gì sẽ xảy đến.”
Cuộc gặp mặt kéo dài khoảng 10 phút và đã khiến Ranieri choáng váng. Khi được hỏi tại sao bị sa thải, Ranieri nói: “Tôi vẫn không biết.” Gutfreund đã đưa ra cho Ranieri ba lý do, Ranieri (và những người khác) đều thấy tất cả chúng thật lố bịch. Ông ta bắt đầu bằng cách báo cho Ranieri: “Không có ai ưa anh nữa.” Rồi ông ta nói rằng Ranieri là “lực lượng bại hoại” và rằng ông đã trở nên “quá lớn” đối với Salomon Brothers. Khi Ranieri chuyển sang hoãn cuộc gặp mặt và đánh xe về trung tâm thành phố để thu vén đồ đạc của mình thì Gutfreund bảo rằng ông không được phép ở trong tòa nhà cao tầng đó nữa. Rõ ràng ý nghĩa về một hành động phi thường hay một cuộc tổng bãi công đã lướt qua tâm trí của Gutfreund, bởi có một số lượng lớn nhân viên trung thành với Ranieri. Cô thư ký của Ranieri được phép đến thu vén sắp xếp vật dụng cá nhân của ông, đi kèm là một tay bảo vệ của Salomon. “Khi tin Lewie bị sa thải loan tới ban trái phiếu thế chấp, rõ ràng D’Antona đã run rẩy,” một tay giao dịch thế chấp nói. Thực rõ ràng đối với mọi người, với Lewie, với Wolf Nadoolman hiện ở Dillon Reed, với Nate Cornfeld hiện ở Shearson Lehman, với Andy Stone hiện ở Prudential-Bache, đối với những người còn lại trong ban trái phiếu thế chấp rằng chuyện gì sẽ xảy ra sắp tới. Gia đình Ranieri sẽ bị thanh trừng. Trong thời gian vài tháng, Salomon đã sa thải những bộ hạ cũ còn lại trong ban giao dịch trái phiếu thế chấp. Bắt đầu ngay ngày hôm sau là vị trưởng phòng Michael Mortara. Rồi John D’Antona, Ron Dipasquale, Peter Marro và Tom Gonella. Tay giao dịch gốc Ý duy nhất còn lại trong ban là Paul Longenotti, người một ngày kia xuất hiện nơi làm việc với tấm bảng treo trước ngực: “Hãy đuổi tôi đi, tôi là người Ý.”
Dấu tích duy nhất về nguồn gốc của một trong những công việc làm ăn sinh lãi và bất thường nhất lịch sử Phố Wall là một bức ảnh. Nó được treo trong văn phòng của Jim Massey, với hình ảnh Gutfreund, Ranieri và Bob Dall đang bắt chéo tay nhau, thể hiện việc thiết lập mối liên doanh của họ vào năm 1978. Jeff Kronthal và Mason Haupt được phép ở lại với cương vị đồng trưởng ban giao dịch trái phiếu thế chấp, có lẽ là hợp lý bởi không còn ai khác ở Salomon Brothers đủ trình độ đảm đương công việc đó. Tuy nhiên, vào năm sau, Kronthal ra đi và trở thành phó chủ tịch của L. F. Rothschild, một ngân hàng đầu tư ở New York gần đây được nhà quản lý tổ chức tiết kiệm và cho vay Ernie Fleischer mua lại. Điều đó đã làm cho Mason Haupt trở thành người duy nhất ở Salomon có chuyên môn về trái phiếu thế chấp. Sự ngu dốt về trái phiếu thế chấp của bộ phận cấp trên rất đáng để ý. Sau vụ thanh trừng, Gutfreund, Voute và Strauss đã thu xếp tổ chức một cuộc hội thảo riêng do vị trưởng ban nghiên cứu trái phiếu Salomon Marty Leibowitz trình bày. Chủ đề là giới thiệu về trái phiếu thế chấp. Cuối cùng, Voute đã được đề cử làm trưởng ban giao dịch trái phiếu thế chấp.
Ranieri đã hoàn thành những gì ông dự định làm, đặt ban trái phiếu thế chấp trên thế đứng cân bằng với các ban giao dịch trái phiếu chính phủ và trái phiếu công ty. Thị trường thế chấp Mỹ hiện nay là thị trường tín dụng lớn nhất thế giới, và một ngày nào đó sẽ là thị trường trái phiếu lớn nhất thế giới. Sự sáng tạo của Ranieri đã báo hiệu sự thay đổi vị trí về trọng tâm của Phố Wall. Phố Wall, nói theo tính chất lịch sử, chỉ mới giải quyết một mặt của bảng cân đối tài chính: tài sản nợ (liability). Còn thế chấp là tài sản có (asset). Nếu các khoản vay có thế chấp có thể bán trọn gói thì thẻ tín dụng, các khoản vay mua ôtô và bất kỳ loại vay nợ nào khác mà bạn có thể hình dung đều có thể trái phiếu hóa như vậy.
Chuyên môn của Salomon Brothers đã thúc đẩy sự phát triển của các công ty còn lại trên Phố Wall. Michael Mortara trở thành trưởng ban giao dịch trái phiếu thế chấp của Goldman Sachs, người dẫn đầu về giao dịch trái phiếu thế chấp trong nửa đầu năm 1988. Peter Marro đứng đầu ban giao dịch trái phiếu thế chấp của Morgan Guaranty. Andy Stone đứng đầu ban giao dịch thế chấp của Prudential-Bache. Steve Baurn đứng đầu ban giao dịch thế chấp của Kidder Peabody. Tom Kendall đứng đầu ban giao dịch thế chấp của Greenwich Capital Markets. Steve Joseph đứng đầu ban giao dịch thế chấp của Drexel Bum-ham Lambert. Jeff Kronthal đứng đầu ban giao dịch thế chấp của L. F. Rothschild. Wolf Nadoolman, Nathan Cornfeld, Nathan Low, Bill Esposito, Eric Bibler và Ravi Joseph là các tay giao dịch thế chấp cao cấp cho các công ty lần lượt là Security Pacific, Shearson Lehman, Bear Stearns, Greenwich Capital Markets, Merrill Lynch và Morgan Stanley. Đó là một nhóm các tay giao dịch thế chấp của Salomon thường thấy nhất trên Phố Wall. Trong các công ty, dưới họ là hàng nghìn người hiện đang kiếm sống bằng trái phiếu thế chấp.
Tất nhiên, kẻ kỳ cục nhất trong tất cả các tay giao dịch thế chấp của Salomon là Howie Rubin. Ngay sau khi bị Merrill Lynch sa thải, Rubin đã được Bear Stearns thuê. Người ta đồn đại rằng Bear Stearns đã mời anh ta ngay buổi sáng mà tin tức về vụ thua lỗ 250 triệu đô-la được đăng trên tờ Wall Street Journal. Ngoài Merrill Lynch, sự thua lỗ của Rubin là có thể chấp nhận, thậm chí còn hài hước. Hai tay giao dịch trái phiếu thế chấp của Bear Stearns đã đóng đinh ngăn kéo bàn làm việc mới của Rubin để anh ta không thể nào lại “đặt chúng vào ngăn kéo” nữa. Một tay giao dịch của Salomon đã gọi điện gợi ý Rubin nên tự nguyện đóng quảng cáo cho thẻ tín dụng American Express với khẩu hiệu: “Xin chào, bạn không biết tôi, nhưng tôi đã bị thua lỗ nhiều tiền hơn bất kỳ ai trong lịch sử Phố Wall. Vì thế tôi hiểu ý nghĩa của thẻ tín dụng. Và khi tôi gặp rắc rối… tôi rút chiếc thẻ nhỏ này ra…”
Lewie Ranieri mở công ty riêng cách Salomon Brothers nửa dặm về phía bắc, lần này thì nó chính thức được gọi là Ranieri và Công ty (Ranieri & Co.). Ngay sau khi bị buộc thôi việc, trong tâm trạng bối rối, Ranieri đã đi ăn trưa với người từng lôi kéo ông vào trái phiếu thế chấp, Bob Dall. Dall nói: “Tôi có hai giả thuyết tại sao John đuổi Lewie ngay sau khi ông ta đề bạt anh ấy. Một là đột nhiên John nhận ra rằng ông ta đã phạm một sai lầm lớn là Lewie quá hạn chế về phạm vi công việc và có thể đặt ban của mình lên trước tiên, cho dù anh ấy là phó chủ tịch của công ty. Giả thuyết thứ hai là văn phòng chủ tịch đã quá chán khi phải nghe theo Lewie. Lewie chi phối các cuộc họp. Lewie không phải là loại người đó, nhưng anh ấy có tất cả những niềm tin mãnh liệt như vậy. Thực quá tệ khi Strauss, Voute và Gutfreund đã không thể chấp nhận điều đó, bởi lẽ họ có thể được lợi từ việc nghe theo Lewie.”
Chính bản thân Ranieri không muốn tin rằng ông đã bị đo ván bởi chính người đã bảo hộ ông trong những thời điểm gay go, người mà ông gọi là “giáo sỹ Do Thái của tôi”. Ông tin rằng Tom Strauss đã tìm cách nắm quyền kiểm soát và Voute sẵn sàng đợi thời cơ, trong khi cho Strauss đủ dây thừng để tự treo cổ (như nó đã xảy ra, sự thật – nếu có – là ngược lại. Voute đã rời khỏi Salomon vào tháng 12 năm 1988, để lại Tom Strauss như là trụ cột dưới Gutfreund chơi bập bênh một mình). Ranieri chưa bao giờ từ bỏ khái niệm của ông về công ty, khái niệm đã hình thành khi một thành viên không tiếng tăm thanh toán hóa đơn viện phí của vợ ông với lý do duy nhất – đó là việc phải làm, khi mà công ty được điều hành bởi những người luôn tâm niệm: “Thực quan trọng để trở thành một người tốt, thay vì là một nhà quản lý tốt”, và họ thật sự chú trọng điều đó. Ranieri thích nghĩ rằng Salomon Brothers đang tạm thời nằm trong tay của những kẻ xa lạ với văn hóa công ty. “Cách duy nhất mà bạn có thể hiểu được những gì đã xảy ra,” Ranieri nói, “là John Gutfreund không nắm quyền kiểm soát. Strauss nắm quyền kiểm soát. Tommy muốn có toàn quyền. Họ đã tìm cách hủy diệt một người khổng lồ trong một năm. Lẽ ra John không bao giờ làm thế một mình nếu ông ta ra quyết định. Tôi không thể hình dung được những gì họ (Strauss và Voute) đã nói với John để buộc ông ta làm những gì mà ông ta đã làm. Họ không bao giờ hiểu được rằng sự vĩ đại của công ty là nền văn hóa của nó. Họ đã làm tiêu tan nền văn hóa đó. Hay như người ta nói, họ phá vỡ thỏa ước. Họ đã tự làm ô danh mình hơn bao giờ hết.” Và với sự kiện này, cuộc hành trình 19 năm từ một phòng thư tín đến văn phòng chủ tịch ở Phố Wall đã kết thúc.

