Nền Kinh Tế Cám Ơn - Chương 8

Chương VIII. Từ một thằng “Geek” trở thành con người

Con người ta nói chung hay đánh giá dựa trên quan sát hơn là tiếp xúc. Bởi vì tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy nhưng chỉ một số ít có thể kiểm tra lại bằng cảm nhận. Tất cả mọi người đều thấy bạn sẽ trở thành thứ gì, nhưng chỉ một số ít biết bạn thật sự là ai; và số ít đó không dám chống lại ý kiến của đám đông.

—Niccolo Machiavelii, The Prince (Quân Vương)

BÂY GIỜ TÔI TIN rằng điều xấu xa nhất một người có thể làm với một chiếc điện thoại mà không vi phạm pháp luật là dùng để gọi cho ai đó không quen biết rồi cố bán cho người ta những thứ mà họ không muốn. Trong những ngày mới bước vào nghề bán hàng tại London, trên đùi tôi luôn là một chồng sách với những cái tên tiếng Pháp không thể phát âm nổi, nghĩ thật nực cười. Ông chủ, người hướng dẫn dày dạn của tôi, dân gốc Bald Knob, bang Arkansas tên là Stu WLllicker, đã bảo tôi nhấc chiếc điện thoại lên và bắt đầu tìm cách kiếm sống – ông ta nói: “Hãy gọi cho tất cả mọi người ở Paris và cười tươi.”

Thực chất ông ta không ngụ ý là tất cả mọi người ở Paris, mà chỉ là cách nói nhấn mạnh. Điều đó có nghĩa là tôi chỉ gọi cho các nhà quản lý quỹ người Pháp với số vốn trong tay tầm 50 triệu đô-la hoặc hơn. Như vậy danh sách từ cuốn niên giám điện thoại của Paris sẽ được rút ngắn lại. Nhưng tôi đã tìm được một danh sách khác phục vụ cho mục đích này, nó được gọi là The Euromoney Guide (Chỉ dẫn về đồng tiền châu Âu). Để có tên trong cuốn sách, theo tính toán của tôi, bạn cần phải có một ít tiền. Cái tên đầu tiên nằm trong danh sách đó là F. Diderognon. Cái quái gì vậy nhỉ? Đàn ông hay đàn bà? Và tôi hỏi vị quản lý dày dạn người Mỹ của mình từ đó phát âm như thế nào.

Ông ta nói: “Làm sao tôi biết được, tôi tưởng anh cũng biết tiếng Pháp chứ?”

Tôi đáp: “Không, đó chỉ là trên sơ yếu lý lịch của tôi thôi.”

Ông ta gãi đầu gãi tai một lát rồi nói bóng gió: “Thôi không sao, dù gì thì mấy con ếch đó đều nói được tiếng Anh mà.”

Tôi như bị thách đố, song cũng chẳng còn lựa chọn nào ngoài việc cứ quay số điện thoại gọi. Nhưng như thế cũng chẳng giải quyết được gì với cái tên F. Diderognon. Nó có thể ăn vần với từ “onion” (hành) không? Có phải phần đầu hình như là tên của một nhà triết học không? Rồi tôi quyết định ngay là cứ đọc “Diderot’s Onion” (củ hành của Diderot). Vị quản lý của tôi đang trừng trừng nhìn tôi, y như thể tôi phạm lỗi lầm nào đó. Tôi quay số gọi:

“Qui,” con ếch đực nói.

“Uh, puis-jeparle a F. Diderognon?” tôi hỏi.

“Quoi? Qui?” con ếch đó nói.

“F. Diderognon, Dider-o-onion,” tôi đánh vần.

Người ở đầu dây bên kia che tay ống nghe. Tôi chỉ nghe thấy cuộc đối thoại một cách đầy ngờ ngợ qua những tiếng nghẹt nghẹt như là “Frank, có tên môi giới người Mỹ nào đó không thể phát âm tên của ông trong điện thoại được. Ông có muốn nói chuyện với hắn ta không?”

Rồi lại một giọng khác nói: “Hãy xem hắn là ai?”

“Hê, anh là ai hả?” người đó hỏi.

“Tôi là Michael Lewis, tôi làm việc cho Salomon Brothers tại London,” tôi đáp.

Vẫn mấy tiếng nghẹt nghẹt trên máy: “Frank, thằng lính mới nào đó của Salomon.”

Frank Diderognon nói: “Tôi không nói chuyện với Salomon. Mấy thằng chó đẻ đó. Nói nó cút xéo đi.”

“Frank nói rằng ông ta sẽ gọi lại cho anh.”

Mẹ kiếp! Sao tôi lại phải làm cái nghề này chứ?

“Geek” là người biểu diễn trong ngày lễ hội, kẻ cắn đứt đầu những con gà con và rắn. Ít nhất cuốn từ điển American Heritage cũng giải thích như vậy. Ở Salomon Brothers đóng tại London, nó có nghĩa là bất cứ thứ gì mà các tay giao dịch muốn nói tới và họ có hai định nghĩa, song chẳng cái nào giống với nghĩa của từ điển cả. Khi tôi tới đó, một tay giao dịch nói tôi là một thằng “Geek”, vừa mang nghĩa (a) “những kẻ mới học đòi mà đã ra vẻ ta đây”, lại vừa mang nghĩa (b) “kẻ mới ra khỏi chương trình đào tạo và ở trong một trạng thái ghê tởm, giai đoạn giữa thực tập sinh và con người”. Anh nói tôi là một thằng Geek.

Tháng 12 năm 1985, sau khi hoàn thành thời gian nghĩa vụ làm tên bồi bàn và làm bao cát tập đấm của võ sỹ quyền Anh cho các tay giao dịch ở New York, tôi vui sướng thoát khỏi cuộc đời một thực tập sinh, cho dù có trở thành một thằng Geek. Tôi dự định tránh xa tầng 41, tránh xa Ranieri, Strass, Voute và cuộc chiến tranh giữa họ. Đừng cho rằng tôi sai lầm. Tôi cũng thích sự sôi động như bao người, nhưng tại New York, khi bạn sắp bắt tay vào công việc, thì sự sôi động đó phải trả giá bằng tự do. Tôi không thể chịu đựng được việc phải ngồi gò bó kế bên những tay giao dịch thế chấp béo phị cho tới lúc học việc xong. Như thế còn gì là đời!

Nếu bạn muốn tách mình khỏi tinh thần của Salomon Brothers, thì London là nơi duy nhất để tới. Ở tất cả những nơi khác, các tiêu chuẩn đều do tầng 41 áp đặt – các chi nhánh tại Mỹ và cả Tokyo nữa. Nhưng những người châu Âu già nua được bổ nhiệm vào văn phòng London của Salomon đều là những chiến sỹ tự do. Sáu chức vụ cao cấp trong ban quản trị đều được bố trí cho những người Mỹ từng làm việc tại tầng 41. Tuy thế những người châu Âu đã thành công vượt bậc. Bạn hãy so sánh phản ứng của văn phòng chúng tôi khi Gutfreund đến thăm với phản ứng của các văn phòng khác xem có sự khác nhau giữa chúng tôi và họ không.

Khi Gutfreund xuất hiện tại bất cứ văn phòng chi nhánh nào ở Mỹ, thì tất cả nhân viên đều phải trình diện. Họ giả bộ điềm tĩnh và tự tin. Mặc dù bụng họ rối bời và tè ra đũng quần, nhưng mấy thanh niên Mỹ vẫn đùa bỡn với Gutfreund. Họ bảo: “Anh biết đấy, có gì ghê gớm lắm đâu?” Nào là lời nói đùa về vấn đề cổ phiếu gần đây. Nào là lời nói đùa về bà vợ của Gutfreund. Chừng nào mà các nguyên tắc cơ bản được đánh giá đúng, Gutfreund sẽ áp dụng lại ngay.

Khi Gutfreund tới thăm văn phòng ở Tokyo, những người làm công Nhật Bản cúi đầu chào tại bàn làm việc và miệt mài với mấy chiếc điện thoại như thể đang chơi trò đố chữ và đang liên lạc với chương trình “Man at Work” (Con người của công việc). Trong chương trình đào tạo, người Nhật luôn ngủ gà ngủ gật, hiển nhiên khái niệm đi chơi nghỉ mát không thể tồn tại ở Nhật Bản. Chẳng thanh niên Nhật nào thèm ngẩng đầu lên trò chuyện với Gutfreund hiền hậu. Một anh bạn người Mỹ của tôi tình cờ có mặt trong văn phòng Tokyo khi Gutfreund viếng thăm nơi này và đã được ông chủ gọi ra một bên để thảo luận. Khi anh bạn tôi trở về sàn giao dịch, anh ta kể lại: “Tất cả những người Nhật cứ chăm chăm nhìn tôi như thể tôi mới có một cuộc chuyện trò riêng với Chúa vậy và ông ta (Gutfreund) đã tôn tôi lên thành một vị thánh.”

Tại London, Gutfreund được đối xử đơn giản như một vị khách du lịch Mỹ vụng về. Chỉ thiếu điều là phải xem ông ta có mặc áo sơ mi kiểu Bermuda và áo choàng cùng một chiếc máy ảnh quàng cổ không thôi. Người ta cười sau lưng ông ta như thể công ty đang đà xuống dốc vậy.

“Ông ta ở đây làm gì nhỉ?” – một tay người châu Âu hỏi kẻ bên cạnh.

“Chắc chắn là đang trên đường tới Paris mua sắm.” Nhận xét này rõ ràng là đúng, và quả thật nó thường là như vậy.

Và câu hỏi tiếp theo là: “Bà Susan có cùng đi với ông ta không?” (Thực tế bà vợ Susan cũng ở bên ông ta thường xuyên như điểm dừng cuối thường xuyên là Paris vậy).

Tóm lại, tại Salomon, không hề có chuyện những người châu Âu này có ít quyền lực hơn những người Nhật và Mỹ. Những tinh thần tự do này trung bình có thâm niên tài chính cao, từ 10 tới 15 năm. Họ ít quan tâm tới các công cụ tài chính gần đây đã vượt khỏi biên giới nước Mỹ hơn là việc thiết lập các mối quan hệ khách hàng. Một số người châu Âu, đặc biệt là người Anh, thực hiện công việc tài chính khéo léo đến mức hết sức tự nhiên. Trên các thị trường châu Âu, có một cụm từ dùng để chỉ họ, đó là “dân chợ đen”. Thật kỳ quặc, chúng tôi không có từ “dân chợ đen”. Những người châu Âu của chúng tôi – đặc biệt là người Anh – có vẻ là sản phẩm tinh lọc về mọi trường phái đúng đắn. Đối với họ, công việc không có vẻ chỉ là một sự ám ảnh – mà đúng hơn, đó là một sự quan tâm. Và theo họ, các quan niệm cho rằng một người nên gắn mình với một công ty, đặc biệt là công ty Hoa Kỳ, nghe thật nực cười.

Có thể nói quá, rằng người châu Âu có tiếng ngủ dậy muộn, ăn các bữa trưa nhẹ và lần chần, lưỡng lự suốt cả buổi chiều. Tất nhiên nguồn gốc về tiếng tăm này xuất phát từ tầng 41 tại New York. Một tay giao dịch ở New York nói đến họ như là “các nhân viên ngân hàng đầu tư của nhóm hề Monty Python’s Flying”. Cuộc va chạm ầm ĩ đầy màu sắc giữa văn hóa của họ và văn hóa của ban quản trị người Mỹ nhập cảnh là một đám mây bụi mà đằng sau có thể là một thằng Geek đang ẩn náu và tự do hoành hành.

Trong khoảng thời gian tôi tới Salomon tại London vào tháng 12 năm 1985 và rời đi vào tháng 2 năm 1988 có rất nhiều thay đổi. Khối nhân sự phát triển từ 150 lên 900 người. Chúng tôi trau chuốt lại hình ảnh của mình và đã chuyển tới các văn phòng mới. Hàng chục triệu đô-la được đổ vào hoạt động của chúng tôi, vì những người trên tầng 41 ở New York có ý định biến Salomon Brothers thành một ngân hàng đầu tư “toàn cầu”.

John Gutfreund và Tom Strauss (chịu trách nhiệm giám sát các hoạt động quốc tế của chúng tôi) cũng chia sẻ lẽ phải thông thường về Phố Wall, rằng một ngày nào đó sẽ chỉ có một vài ngân hàng đầu tư toàn cầu và rằng những kẻ bại trận phải ở lại quê nhà. Số ít các ngân hàng toàn cầu đó sẽ hình thành một điều kiện thị trường tương đối độc quyền để có thể nâng giá các dịch vụ huy động vốn và đầu tư. Xét về khả năng hình thành một câu lạc bộ toàn cầu, các công ty thường được kể tới là Nomura – ngân hàng đầu tư của Nhật, Citicorp – ngân hàng thương mại của Hoa Kỳ và các ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ như First Boston, Goldman Sachs và Salomon Brothers. Vậy còn các ngân hàng châu Âu thì sao? Tôi nghĩ rằng thậm chí chúng tôi còn không biết tên chúng.

Tokyo là vị trí hiển nhiên cho sự mở rộng nhanh chóng của chúng tôi bởi vì thặng dư mậu dịch của Nhật Bản đã làm cho đồng đô-la mà họ nắm giữ thừa mứa đến mức phải bán đi hoặc đầu tư. Người Nhật chính là những người Ả-rập của thập niên 1980. Nhưng bởi vì cơ cấu thiết lập tài chính của Nhật không hấp dẫn các công ty Hoa Kỳ và vì nguyên tắc tài chính ở Nhật hết sức phức tạp, các văn phòng ở Nhật của các công ty Phố Wall có khuynh hướng thu nhỏ và mang tính tạm thời.

Trong khi đó, chẳng có cản trở nào khi thâm nhập vào châu Âu. Không có mấy nguyên tắc tài chính. Và dường như văn hóa vùng Đại Tây Dương ít làm nản lòng người New York hơn là nền văn hóa vùng Thái Bình Dương. Khi một gã từ Brooklyn tới sân bay Heathrow, hắn ta không cần người phiên dịch để thuê một chiếc Limousine. Khi ngồi ăn trong khách sạn Claridges & Berkeley, hắn ta không “bị phục vụ” món sushi (ở Salomon có giai thoại về một vị giám đốc điều hành Mỹ tại Nhật phải ngồi lật món cá nướng trên ngọn lửa nhỏ đặt ngay trên bàn), song các món ăn khác thì rất giống của Mỹ. Thật dễ dàng để gã này tự dối mình rằng châu Âu giống hệt New York, xét mức 2.000 đô-la một ngày thì đúng là như vậy. Do đó, London đã trở thành đầu mối chính trong tiến trình thống trị thế giới; chính múi giờ, lịch sử, ngôn ngữ, sự ổn định chính trị, thiếu vốn đồng đô-la và chuỗi siêu thị Harrods (đừng đánh giá thấp tầm quan trọng về cơ hội đi mua sắm trong những thứ trên) đã khiến London trở thành trung tâm trong kế hoạch của các giám đốc ngân hàng đầu tư Hoa Kỳ. Và những khát vọng toàn cầu của Salomon Brothers đã cập bến tại London.

Tôi là tay kinh doanh “Geek”, một trong 12 người cùng lớp đào tạo được chuyển phát nhanh bằng dịch vụ bưu chính hàng không sang London. Ban đầu, các văn phòng của chúng tôi chiếm hai tầng nhỏ hình vòng cung của tòa nhà do Morgan Guaranty sở hữu, nằm ngay trong thành phố. Hoạt động giao dịch chỉ cần đến một nhà kho chứa máy bay thật rộng mà mọi người có thể nhìn thấy và gọi nhau. Tòa nhà của chúng tôi rất thuận tiện, vì ở giữa có nhiều cầu thang máy và cầu thang bộ. Tầng giao dịch quấn quanh góc giữa ấy. Hoàn toàn thẳng tuốt, có lẽ trải dài đến hơn 45 m, nhưng khi ngồi trong đó, bạn chỉ có thể nhìn thấy một lối đi ngắn, vẫn có cảm giác chật hẹp tù túng. Chúng tôi ngồi sát nhau, tất cả đều biết mọi người đang làm gì. Nó ầm ĩ và không hề thoải mái, ngoại trừ khung cảnh dòng sông Themes và tòa nhà nguy nga của nhà thờ St.Paul.

Đơn vị kinh doanh gồm 12 người này tại văn phòng London đơn thuần là sự mở rộng hoạt động của công ty mẹ ở New York. Một đơn vị bán trái phiếu công ty, đơn vị thứ hai bán trái phiếu thế chấp, thứ ba bán trái phiếu chính phủ và thứ tư bán vốn cổ phần Mỹ, v.v... Những gì tôi sẽ bán đã được quyết định cho tôi trong thời gian tôi đang tham gia chương trình đào tạo. Nhân vật mà tôi bị giao phó, để khá hơn hay tồi đi, để giàu hơn hay nghèo đi, có tên là Dick Leahy. Ông điều hành các quyền mua bán trái phiếu của Salomon Brothers và ban giao dịch bán đấu giá hợp đồng kỳ hạn – một chi nhánh của ban trái phiếu chính phủ. Ngay từ đầu, điều đó đã khiến tôi trở thành một thành viên gia đình Strauss.

Leahy và một phụ nữ là “cánh tay phải” của ông, Leslie Christian, chính thức đặc trách tôi trong những ngày cuối chương trình đào tạo, vậy là tôi ở trong thế bị kẹp như bánh sandwich vậy. Đây là một kẽ hở may mắn, thứ nhất vì không ai cần tôi ngoại trừ ban cổ phiếu và thứ hai vì tôi cũng yêu mến họ. Là “Geek” của họ quả rất đặc biệt. Không như các nhà quản lý luôn ngay ngáy với việc chuyển các sản phẩm của họ ra ngoài, hai vị giáo sỹ Do Thái Christian và Leahy bảo tôi xem liệu tôi cách nào kiếm được tiền và không quá băn khoăn nhiều về việc bán các quyền chọn cũng như các hợp đồng tương lai. Đúng vậy, họ luôn chia tư lợi của họ với lợi ích của công ty. Việc này làm cho họ hết sức không bình thường trong một công ty chỉ toàn đám chuyên gia đang tìm cách làm hài lòng sếp. Việc đó đã biến tôi trở thành một kẻ chung chung không chính thức với một tờ giấy phép được chơi rong khắp công ty.

Ngay ngày đầu ở London, tôi đã tự giới thiệu mình với vị quản lý ở London của Leahy, đó là Stu Willicker. Trước khi tôi đến, bộ phận của ông chỉ có ba nhân viên bán hàng khác. Willicker lại là một kẽ hở may mắn nữa. Ông đã không bị nhiễm căn bệnh của Salomon. Ông từng sống ở London suốt bốn năm, song không quên rằng Bald Knob là nơi chôn rau cắt rốn. Thật dễ chịu làm sao! Thêm vào đó, ông có cái nhìn tổng quát đối với các nguyên tắc thành văn và bất thành văn đang chế ngự cách cư xử của phần lớn người làm công ở Salomon và chẳng áp dụng nguyên tắc nào. Ông quý trọng tự do của mình. Ông gần như không thèm chú ý tới những gì mà người khác bảo ông phải làm và đề cao tính không khoan nhượng của mình.

Thật nghịch lý, ông ghê sợ sự chuyên quyền. Ông thường đưa ra yêu cầu kiểu như: “Gọi điện thoại cho tất cả mọi người ở Paris đi!” Nhưng điều đó cũng hiếm và khi nó xảy ra thì ông luôn được đáp trả bằng sự quý trọng. Ông cho phép chúng tôi cắt bớt các cuộc họp văn phòng và dùng thời gian đó cho việc riêng. Ông nêu gương bằng cách đến làm việc một tiếng đồng hồ vào mỗi sáng, sau khi tất cả các nhân viên đã thực hiện xong cuộc gọi đầu tiên. Tôi nghĩ đây là một hành động truyền cảm hứng. Bộ phận của ông có khả năng sinh lãi nhất trong văn phòng đó, hết năm này qua năm khác, và tôi chắc rằng đó là vì các thành viên của bộ phận đó đều được phép độc lập giải quyết mọi vấn đề.

Quả thực cách nghĩ đó là một chiến công tuyệt vời vượt quá mong muốn của tôi. Tôi không có cơ sở hay nền tảng nào. Hy vọng duy nhất của tôi là phải bám sát các tay kinh doanh quanh tôi và thu lượm những gì mà tôi có thể. Học hỏi việc gì phải làm cũng có nghĩa là học hỏi thái độ: cách nói trên điện thoại ra sao, cách giao dịch với các tay giao dịch thế nào, và quan trọng nhất là làm thế nào đánh giá sự khác nhau giữa một cơ hội tài chính và một lời nói thách quá giá.

Hai ngày sau khi kiếm được một chiếc ghế trên sàn giao dịch London, cùng mấy chiếc điện thoại dùng để giao dịch với mấy tay người Anh và Pháp muốn mạo hiểm đầu tư vào thị trường giá lên to lớn Mỹ, tôi đã có được lời khuyên đầu tiên. Anh chàng đó đi ngang qua tôi, một thành viên trong đơn vị mà sau đó tôi đã mất tới hai năm chú ý và tìm hiểu với vẻ đầy ngạc nhiên, cúi đầu xuống và thì thầm: “Có muốn nghe kèo thơm không? Hãy bán khống cổ phiếu của Salomon Brothers.” “Kèo thơm” là biệt ngữ cho một thương vụ béo bở mà chắc chắn thành công. Bán khống là bán chứng khoán mà bạn không sở hữu, rồi hy vọng giá sẽ hạ và về sau bạn có thể mua lại với giá thấp hơn. Bán khống cổ phiếu của chúng tôi là đánh cược rằng công ty chúng tôi sẽ tụt giá đột ngột.

Tôi đã phải há hốc miệng và chùn lại vì kinh ngạc. Thứ nhất, việc bán khống cổ phiếu công ty của mình là bất hợp pháp. Thứ hai, dường như nó không phải là một sáng kiến hay, mặc dù có lẽ nó cũng không hoàn toàn là một cách phòng ngừa rủi ro tồi, để đánh cược với Salomon Brothers. Công ty đang trong năm thứ hai làm ăn sinh lãi nhất lịch sử của nó và của Phố Wall. Một anh bạn của tôi, mà tới đây sẽ được gọi với biệt hiệu Dash Riprock, không muốn nói rằng tôi sẽ làm nên kỳ tích đó. Anh ta chỉ đơn thuần đưa ra một quan điểm, nêu lên một sự việc theo kiểu cô đọng mà không ai có thể bắt chước. Anh ta đã đánh giá khả năng của tôi, về sau anh ta giải thích vậy và quyết định bảo trợ tôi. Điều này có nghĩa là thỉnh thoảng anh ta sẽ xem hướng đi của tôi qua kinh nghiệm mà anh ta đã tích lũy được trong 9 tháng làm việc. Anh ta là một người Mỹ, mới chỉ 23 tuổi – trẻ hơn tôi tới hai tuổi. Nhưng về kinh nghiệm, anh ta lại hơn tôi nhiều năm. Dash Riprock là một tay hái ra tiền đã được kiểm chứng.

Ngay lập tức tôi thích nghi với anh ta. Dash thường lưu ý những điều tôi không hiểu, chẳng hạn như: “Hãy mua hối phiếu thời hạn hai năm và bán khống hối phiếu cũ mười năm trước”, “Bán khống cổ phần của Salomon”, hay “Hãy bắn chết một thằng Geek để cứu giúp một khách hàng” và thường chờ tôi tìm hiểu chúng. Thường thường tôi chẳng hiểu anh ta muốn nói gì. Nhưng Dash rất tử tế và cuối cùng dù đã bán cho bốn tay quản lý quỹ thuộc ba quốc gia khác nhau, anh ta thường giải thích cho họ rất cụ thể. Bằng cách này tôi đã học hỏi được nhiều về hoạt động giao dịch, kinh doanh và cuộc sống.

Về việc này, theo quan điểm của Dash, Salomon Brothers là một sự đầu tư tồi mặc dù có những dấu hiệu thể hiện công ty đang khỏe mạnh. Điều tôi cần phải học hỏi rằng đây là lúc tốt nhất để bán khống – vào lúc mà trước khi hoạt động kinh doanh trở nên tồi tệ. Nhưng làm thế nào anh ta biết được rằng thời điểm đó đã đến với Salomon?

Một Geek, như bạn thấy đấy, tôi giống như một vị tổng thống mới được bầu cử. Tôi không mong muốn biết được điều gì, ngoại trừ một điều là tôi chẳng biết gì. Không biết và đó không phải là lỗi của tôi. Do vậy tôi đã hỏi: “Tại sao?”

Tất nhiên tôi cũng không mong anh ta giải thích ngay. Điều đó có lẽ là quá dễ. Dash nói những câu rất khó hiểu. Anh ta chỉ ra hiệu vẫy tay về hướng còn lại của tầng giao dịch và nói: “Nó là một tập đoàn cổ phần.”

Nói một cách nghiêm túc, đây là một lẽ hiển nhiên. Salomon Brothers là một tập đoàn: Phibro Salomon Incorporated. Song tôi hiểu anh ta muốn nói gì. Chúng tôi thích nghĩ rằng chúng tôi được tự do thoát khỏi những gì mà thế giới ghê tởm – như cụm từ đó ngụ ý: những cuộc họp liên miên, những trang giấy rỗng tuếch và sự lố bịch. Một hôm, Dash nhìn vào chiếc điện thoại và thấy tệ quan liêu đang phát triển và quấy nhiễu anh ta. Dash giơ ngón tay trỏ như một nhà hùng biện La Mã và nói: “Hãy xem cuốn sách và chiếc bát đi.”

Nói xong, anh ta xoay quanh chiếc ghế quay của mình và nhấc chiếc điện thoại có đèn nhấp nháy lên. Rất nhanh, bài ca rao hàng của anh ta cất lên... “Fed đang làm điều đảo ngược, tôi không biết, thị trường có lẽ sẽ dịu đi qua đêm. Chúng ta có thể thấy nhiều nguồn cung, anh có thể nhảy vào từ 2 đến 10 (trái phiếu kỳ hạn 2 năm, 10 năm)…” Tất cả những điều đó chẳng có nghĩa lý gì với tôi. Tôi viết nguệch ngoạc lên một tờ giấy để về sau có thể hỏi lại.

Cuốn sách và chiếc bát. Salomon đang tổ chức lễ kỷ niệm lần thứ 75 ngày thành lập. Để kỷ niệm ngày trọng đại này, tất cả các nhân viên đều nhận được hai món quà: một chiếc bát lớn hình tròn bằng bạc, có khắc tên công ty trên mặt và một cuốn sách. Chiếc bát thì tiện lợi để đựng Doritos (một loại bánh của Mexico). Còn cuốn sách có tên Salomon Brothers: Advance to Leadership (Salomon Brothers: Xây dựng hệ thống lãnh đạo) là một tuyển tập lịch sử của công ty, mục đích duy nhất của nó là ca ngợi vinh quang của các vị lãnh đạo chóp bu. Cuốn sách hoàn thành nhiệm vụ một cách hay ho. Gutfreund, Ranieri, Horowitz, Voute, Strauss và Massey được trích dẫn với kiểu chữ đậm in nghiêng. Họ khiêm tốn về mình và hiểu biết về thế giới. Tác giả đã lấp đầy các chỗ trống để nói lên họ có tinh thần đồng đội, can đảm, điển trai và khôn ngoan thế nào. Cuốn sách là một ví dụ nhỏ thú vị tuyên truyền chủ nghĩa phát xít vụng về. Những nội dung này sẽ được soạn thảo cho các chương trình đào tạo tương lai để thực tập sinh ghi nhớ.

Thậm chí đối với một thực tập sinh, cuốn sách đó là một kỳ công tô điểm đến nực cười. Công ty đang xây dựng hệ thống lãnh đạo nhưng xem ra không có vẻ như một gia đình lớn hạnh phúc. Về điểm này, trong công ty có nhiều bộ xương hơn là chỗ riêng để giữ chúng. Con trai của nhà sáng lập, William Salomon, một tay bảo thủ và tự cao tự đại, đã đi quanh khu phố và gọi Gutfreund là sự ô nhục để giới phóng viên có thể nghe thấy. Những bông hoa vẫn còn tươi nguyên trên nấm mồ của cố chủ tịch David Tendler, người mà Gutfreund luôn kèn cựa trong việc leo lên chức chủ tịch của Phibro Salomon Inc. Cuộc tranh giành giữa Ranieri, Strauss và Voute suýt lên đến đỉnh điểm của vụ đổ máu. Các tay giao dịch trái phiếu đang ào ào đi tìm những chỗ tốt hơn ở nơi khác. Tất nhiên, rất ít quá khứ và hiện tại đen tối của công ty được thể hiện trong lịch sử chính thức được tô màu của nó.

Chẳng hạn trong việc giải thích sự ra đời của ban trái phiếu thế chấp, tác giả đã trích dẫn lời tờ báo cũ từ những bậc cao sang như Bob Dall: “Thứ Salomon Brothers có mà không một công ty lớn nào có được là tính linh hoạt rất vĩ đại, tài năng của bạn sẽ đến được đúng nơi mà chúng có thể trở nên hữu ích nhất.” Điều lý thú nhất về lời nói này chính là ẩn ý của nó. Đoạn trích dẫn được ghi lại sáu tháng trước khi Dall bị Ranieri gạt sang một bên, xoay vòng trong cơn lốc của Gutfreund.

Gutfreund là vị anh hùng của cuốn sách này. Ông ta được đặc tả như là một loại nhân vật Isaiah, một bầy tôi trung thành trần tục của Salomon. Ông ta mô tả bước quá độ từ một tay giao dịch thành nhà quản lý bằng đoạn văn sau: “Tôi thích thú với vai trò lãnh đạo. Chính vì tôi cảm thấy sự thách thức chứ không phải vì tôi nghĩ rằng đó là công việc hài lòng nhất trên thế giới. Đôi lúc giới tài chính có thể hút chúng tôi vào những sự nghiệp cao cả. Thỉnh thoảng chúng tôi đã có cơ hội để gây ảnh hưởng có lợi cho xã hội.”

“Ông có vẻ giống một nhà phát ngôn già đời” – đoạn xen bài viết đã mô tả như vậy. Nhưng những tin đồn thất thiệt không phải là điều khiến Dash phiền muộn về cuốn sách và chiếc bát ấy. Một khi bạn biết sự thật về công ty, bạn sẽ nhận thấy rằng tung tin thất thiệt còn hơn là thông tin chính xác. Và việc các vị lãnh đạo của chúng tôi định nói dối không ngượng mồm. Điều khiến Dash bực mình là thực tế Salomon Brothers đã chi tiêu tiền để làm những việc này. Một cuốn sách và một chiếc bát? Anh ta thà có tiền còn hơn. Hơn nữa, anh ta nói thêm, những người trước đây từng làm việc ở Salomon có lẽ chưa bao giờ làm một điều như vậy; họ cũng thà có tiền còn hơn. Cuốn sách và chiếc bát ấy phạm vào điều mà Dash xem như là luân thường đạo lý của Salomon. Và đó là lý do tại sao anh ta bảo tôi bán khống cổ phiếu Salomon.

Tôi đã ghi chép cẩn thận về sự biến đổi này trong tập giấy mỏng mà ở đó tôi cất giấu bất cứ điều gì có vẻ là khôn ngoan. Thoạt đầu xem bản ghi chép của tôi, người ta có thể thấy tôi biết về tình trạng ông chủ Salomon có vẻ cường tráng thực tế đang trong tình trạng rệu rã. Mặt khác, tôi không tự tin khi mô tả mấy tháng đầu làm việc, bởi những dòng hồi tưởng về việc tôi đến ra sao đã bị che lấp nhanh bởi việc tôi trở thành thế nào.

Để đánh giá chân thực bản thân mình trong giai đoạn đầu, ở một chừng mực nào đó, tôi phải dựa vào những người khác. Rất nhiều người ở Salomon Brothers có sở thích tự tạo cho mình dáng vẻ một nhà phân tích sắc sảo và trung thực. Chẳng hạn, về sau Dash thường thích thú hồi tưởng về công việc của tôi trong thời gian đầu, khi tôi bị chìm ngập giữa hàng loạt cú điện thoại cùng cây bút kẹp ở góc miệng. Anh ta cũng thích nói rằng với tư cách là một thằng Geek, tôi mang dấu ấn của bất kỳ ai mà tôi nói chuyện gần đây nhất. Anh ta cảm thấy khi mới đến, trông tôi khờ khạo đến mức lạ lùng. Nếu tôi vừa mới nói chuyện với tay giao dịch thế chấp thì tôi sẽ kể cho mọi người về việc các trái phiếu thế chấp được giao dịch tốt ra sao. Nếu gần đây tôi nói chuyện với một tay giao dịch trái phiếu công ty, tôi sẽ cho rằng vụ phát hành trái phiếu công ty điện toán IBM mới nhất là một mỏ vàng.

Thực không may, những lúc đó Dash lại giám sát tính cách của tôi. Anh ta chỉ cho tôi thấy sai sót của mình ngay sau khi chúng đã gây ra rất nhiều thiệt hại. Xét công bằng, anh ta không có lựa chọn nào. Như tất cả chúng tôi, anh ta sống bằng luật rừng, và theo luật rừng thì đám kinh doanh Geek là miếng thịt béo bở cho các tay giao dịch. Chẳng có sự loại trừ nào. Nếu một tay giao dịch trái phiếu công ty tìm cách bịp tôi để tôi cho rằng cổ phiếu IBM là nóng sốt, thì đó là chuyện của tôi. Giá như Dash đã giúp tôi tỉnh ngộ về điều đó thì có lẽ tay giao dịch trái phiếu công ty ấy đã cố gắng để thực hiện dù nó phải trả giá bằng số tiền thưởng sắp tới của Dash. Dash mến tôi, song cũng không nhiều đến vậy.

Dù sao, tôi vẫn còn dựa nhiều vào Dash và các thành viên khác trong bộ phận chúng tôi, một phụ nữ và hai đàn ông. Chúng tôi ngồi ở một chiếc bàn đơn, chứa được tới năm người. Chúng tôi có 100 đường dây điện thoại; mỗi đường dây là một kênh mà từ đó tiền, những lời đồn đại và những trò đùa nhạt nhẽo tuôn vào. Nếu bạn từng quan tâm đến việc những lời đùa giỡn kinh khủng nhất của thế giới lan truyền như thế nào, hãy dành một ngày ngồi tại chiếc bàn giao dịch trái phiếu. Khi tàu vũ trụ con thoi Challenger bị nổ, sáu người sẽ gọi điện cho tôi từ sáu điểm khác nhau trên toàn cầu để giải thích rằng NASA nghĩa là “cần thêm bảy nhà du hành vũ trụ nữa” (Need Another Seven Astronauts).

Những lời đồn đại còn thích đáng hơn nhiều những trò đùa giỡn, bởi lời đồn đại sẽ làm xoay chuyển các thị trường. Nhiều người tin rằng một nhân vật nhỏ bé, đầu hói, ngồi trong một căn phòng hôi hám ở Moscow tung ra những lời đồn đại để phá hoại nền kinh tế thị trường phương Tây của chúng tôi. Những lời đồn đại đó mang một nét huyền bí giống hệt những gì mà người ta sợ hãi nhất. Thông thường lời đồn đại không có thực nhất lại gây nên cơn hoảng loạn nhất trên các thị trường. Chẳng hạn, chỉ trong hai năm, Paul Volcker có đến bảy lần từ chức chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang.

Trên bàn của chúng tôi có ba chiếc điện thoại. Hai máy chính, chiếc thứ ba cho phép bạn trực tiếp liên lạc với bất cứ người nào ở bất cứ văn phòng nào trong đế chế Salomon. Vài chục đèn báo điện thoại liên tục nhấp nháy trên các bảng báo điện tử. Các nhà đầu tư châu Âu (tôi sẽ quy chung họ là “nhà đầu tư” hoặc “khách hàng”, cho dù phần lớn chỉ là nhà đầu cơ và số còn lại thực ra không phải là nhà đầu tư) muốn đặt tiền cược của họ vào thị trường trái phiếu Mỹ từ 8 giờ sáng cho tới tận 8 giờ tối.

Có một lý do hợp lý cho sự hăng hái của họ. Thị trường trái phiếu Mỹ đang bắn vọt khỏi mái nhà. Vào những ngày đó, đơn vị chúng tôi có thể hình dung như một sòng bạc chật ních người, mà tất cả đều thắng lớn. Sức hấp dẫn của các hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai – món hàng đặc biệt của chúng tôi – chính là việc chúng vừa mang lại nguồn vốn luân chuyển, vừa có tính hiệu quả cao. Chúng là một cơ cấu cho việc chơi bạc trên thị trường trái phiếu, như một chiếc bàn đánh bạc trong sòng bạc, đại diện cho 1.000 đô nhưng chỉ tốn có 3 đô-la. Thực tế, chẳng có bàn đánh bạc trong một sòng bạc nào. Mua bán hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai không giống với đánh bạc chuyên nghiệp bởi vì thực tế các sòng bạc luôn cân nhắc kỹ lưỡng mức rủi ro mà họ có thể chấp nhận. Còn với một khoản trả ngay một lần tương đối nhỏ, một người mua hợp đồng tương lai cũng liều mạng như việc ôm một lượng lớn trái phiếu, chỉ qua một tích tắc, anh ta có thể kiếm gấp đôi hoặc có thể mất sạch.

Khi sự việc dẫn đến đầu cơ, các nhà đầu tư châu Âu không đòi hỏi quá nhiều sự khích lệ hay cung cấp thông tin. Họ đã và đang làm những chuyện rồ dại với đồng tiền trong mấy thập kỷ qua. Đặc biệt, người Anh và Pháp cùng có một điểm chung là muốn trở nên giàu có nhanh chóng. Và như một tay bạc chuyên nghiệp luôn có một quý bà xinh đẹp nào đó thổi lấy may vào con xúc xắc của anh ta, các nhà đầu cơ thuộc hai quốc gia này cũng luôn có một kiểu bày binh bố trận lạ lùng theo một hệ thống bất hợp lý để giành lấy tiền bạc. Họ phải phỏng đoán thị trường trái phiếu Mỹ theo chiều hướng nào, lên hay xuống. Các hệ thống khiến họ phải mất hàng giờ theo dõi các biểu đồ biểu diễn biến giá trái phiếu. Theo những nét mực phác họa hình mẫu – chẳng hạn một đầu và hai vai người, thì mỗi người xem có cảm nhận riêng. Người vẽ biểu đồ sẽ sử dụng thước kẻ và bút chì phác họa giá trái phiếu tương lai trên cơ sở giả thiết là các yếu tố liên quan tới tình hình đầu cơ giá lên, sự dự đoán kết quả thường là thị trường đang lên giá.

Thực tế, có một lý do để sử dụng các biểu đồ: những người khác đều đã dùng. Nếu bạn tin rằng những món tiền lớn sắp được đầu tư dựa trên cơ sở của một biểu đồ, nhưng khi nhìn vào biểu đồ đó bạn có cảm giác nó thực lặng câm, có lẽ nó sẽ còn khiến bạn đặt món tiền đặt cược và cưỡi lên đầu ngọn sóng sắp ập tới. Tuy nhiên, nhiều người trong số các nhà đầu cơ Anh và Pháp tin rằng các biểu đồ đó bao hàm những điều bí ẩn của thị trường. Họ là những nhà vẽ biểu đồ đầu tiên. Có lẽ họ đã sử dụng các biểu đồ của mình như thể chúng là bàn cầu cơ vậy. Các biểu đồ đó đang chuyện trò với họ.

Bây giờ thì tôi thừa nhận, thậm chí đối với một thằng Geek, rằng thật rắc rối khi muốn để cho các nhà đầu tư tin vào ma thuật màu trắng của họ. Nhưng người hướng dẫn dày dạn của tôi giảng giải rằng chừng nào các nhà vẽ biểu đồ còn đặt cược với tôi thì lý do dẫn tới khách hàng của tôi đánh bạc không phải là điều tôi quan tâm. Chỉ vài ngày sau khi bắt tay vào công việc mới, tôi tự thấy mình đang tán dương những lời nói của các nhà đầu tư, như: “Đêm qua tôi theo dõi mức biến động trung bình trong 10 ngày, và nó là một cái đuôi con vịt lộn ngược và con gà lôi đỏ thật hoàn hảo”, “Chúng ta hãy cược trang trại ấy đi”. Vào lúc này, vai trò của tôi chỉ là để la hét cổ vũ: “Ê hê! Hãy chơi nó đi!”

Với sự cần thiết phải dùng một chuyển ngữ đối với việc mà chúng tôi làm với đồng tiền của người khác, chúng tôi gọi nó là kinh doanh chênh lệch, mà thật ra nó hoàn toàn là sự ngu muội. Kinh doanh chênh lệch có nghĩa là “buôn bán không có rủi ro”. Các nhà đầu tư của chúng tôi luôn luôn liều mạng, cụm từ “hành động cao hứng” có lẽ là chính xác hơn với trách nhiệm công việc của tôi, tôi là kẻ ngu dốt và mềm yếu khi khuyên khách hàng của mình. Tôi là một dược sĩ nghiệp dư, kê đơn thuốc mà không có lấy một tấm bằng. Những người phải chịu hậu quả dĩ nhiên là khách hàng của tôi.

Tôi không thể không nhận ra rằng họ khác với khách hàng của các tay kinh doanh uy tín. Khách hàng của tôi là những nhà đầu tư nhỏ, xác định rõ mỗi nhà đầu tư quản lý chưa tới 100 triệu đô-la, mà tính theo mỗi vụ giao dịch, sẽ chỉ ủy thác một vài triệu. Ba tay kinh doanh khác trong đơn vị của tôi hầu như đang độc quyền nói chuyện với các công ty bảo hiểm, nhà quản lý quỹ và ngân hàng trung ương châu Âu (kể cả các ngân hàng Nga. Thực tế những ông hói đầu bé nhỏ ngồi trong văn phòng tại Moscow vờ tung ra những lời đồn đại trên thị trường không phải để phá hoại chủ nghĩa tư bản mà chỉ để món tiền cược của mình có thể sinh lời thôi) – những cơ sở mà nếu muốn kinh doanh họ có thể ủy thác 50-100 triệu đô-la trong một vài giây. Món tiền lớn nhất trong số được kiểm soát này có lẽ là 20 tỷ đô-la trong các quỹ có thể đầu tư.

Có một lý do tuyệt vời mà vị quản lý – người hướng dẫn dày dạn của tôi – không để cho tôi nhúng tay vào các nhà đầu tư lớn. Anh ta biết rằng kinh nghiệm non yếu như tôi rất nguy hiểm. Kế hoạch là anh ta để cho tôi thực tập với các khách hàng nhỏ, để nếu thảm họa xảy ra thì hậu quả đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh của Salomon Brothers sẽ không đáng kể. Người ta cho rằng rất có thể tôi sẽ để sểnh mất một hoặc hai vị khách hàng. Đó cũng là một phần trong việc là một thằng Geek. Có một biểu hiện kỳ quặc khi một khách hàng phá sản. Người ta bảo hắn đã bị “hạ gục”. Một khi tôi đã hiểu cách thực thi công việc của mình, một khi tôi đã thôi không hạ gục những khách hàng, thì tôi được phép cố vấn cho các nhà đầu tư lớn.

Một vài ngày sau khi tôi vừa đến, người hướng dẫn dày dạn bảo tôi hãy bắt đầu mỉm cười và quay số điện thoại. Một cuộc gọi nhạt nhẽo, như tôi đã nói, không phải là trò đùa. Tôi phát hiện ngay rằng tính cách tôi không phù hợp với việc đó, nó làm cho tôi cảm thấy như có quá nhiều cản trở khiến tôi không thể thực hiện tốt việc đó. Và khi nhìn thấy rằng tôi đã không thành công thì cuối cùng người hướng dẫn của tôi đã từ bỏ bóng ma ấy và bảo tôi gọi điện cho một người tên là Herman tại chi nhánh London thuộc một ngân hàng Áo. Điều này tiện lợi đối với tất cả mọi người. Herman muốn được Salomon Brothers bán cho bởi vì anh chỉ có một vài triệu đô để tham gia, không ai khác ở Salomon Brothers muốn bán cho Herman. Để có cái ăn thì tôi cần khách hàng.

Herman tội nghiệp không bao giờ biết được điều gì đã hạ gục anh ta. Tôi ngỏ lời mời đi ăn trưa, anh ta nhận lời. Đó là một người Đức cao, cục cằn, có giọng nói trầm trầm lạ thường và có cảm nhận bẩm sinh về hoạt động giao dịch. Anh ta cho rằng mình rất giỏi và tinh khôn. Chính công việc của tôi khiến anh ta có cảm nhận này, bởi vì càng cảm giác mình tinh khôn thì anh ta càng giao dịch mạnh, và càng giao dịch mạnh thì anh ta càng cho tôi cơ hội kinh doanh nhiều hơn. Ngân hàng của anh ta đã ủy thác cho anh ta 20 triệu đô-la.

Mặc dù láu cá thực, song Herman không hiểu thằng Geek mà anh ta gặp. Tôi giảng giải cho anh ta rằng với 20 triệu đô-la, cả hai chúng tôi có thể trở nên giàu có thế nào. Tôi nói rằng Salomon chỉ rặt những kẻ am hiểu và khôn ngoan và chúng ta sẽ khai thác nguồn ý tưởng vô tận của họ, rằng tôi rất thông thạo trong việc để có được một hoặc hai kế hoạch hành động, và rằng lời khuyên của tôi được giới đầu tư châu Âu đánh giá rất cao. Khi ăn bữa trưa xong, sau một quá trình chúng tôi nghiên cứu hàng chục đồ thị phân tích kỹ thuật về trái phiếu, bàn qua về mẫu vai đầu vai và uống hết một chai rượu vang, anh ta quyết định có thể kinh doanh với tôi. “Nhưng mà, Michael, hãy nhớ đấy,” anh nhắc đến mấy lần, “chúng ta cần những ý kiến mấu chốt”.

Một tay giao dịch trái phiếu công ty hào phóng đang đợi tôi, như một con vật nuôi chưa được cho ăn, khi tôi trở về văn phòng. Gã thực vui vẻ khi nghe thấy bữa ăn trưa ấy diễn ra tốt đẹp. Và như vô tình, gã cho tôi và vị khách hàng mới của tôi một ý kiến hay. Suốt ngày gã theo dõi thị trường trái phiếu châu Âu và nhận thấy rằng các trái phiếu thời hạn 30 năm của AT&T thực ra rẻ so với trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ tiêu chuẩn thời hạn 30 năm. Người ta cho rằng thị trường trái phiếu châu Âu trị giá 650 tỷ đô-la là một trong những lý do chính đối với sự có mặt của Salomon Brothers ở nước ngoài. Trái phiếu châu Âu là trái phiếu được phát hành tại châu Âu và chủ yếu được mua bởi người châu Âu. Nhiều công ty lớn của Mỹ đã lưu hành các trái phiếu châu Âu, thường bởi vì họ có thể vay tiền của người châu Âu với mức lãi suất rẻ hơn so với người Mỹ, nhưng thỉnh thoảng mới quảng cáo tên của chúng ở nước ngoài. Với mạng lưới liên lạc của mình, Salomon là kẻ dẫn đầu trên thị trường.

Dù thế nào, tay giao dịch đó nói rằng “the Street”, nghĩa là Phố Walll khác và các tay giao dịch London, đã đánh giá thấp trái phiếu AT&T. Gã biết có thể nhúng tay ở đâu đối với một số trái phiếu AT&T. Gã nói, điều mà tôi nên khuyên khách hàng mới của mình phải làm là mua trái phiếu AT&T, đồng thời bán khống các trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ thời hạn 30 năm. Gã giải thích rằng mánh lới ấy cốt nhằm tránh tình trạng đầu cơ giá lên hay bán khống trên thị trường trái phiếu. Thay vào đó, chúng tôi có thể đặt cược rằng trái phiếu AT&T sẽ tốt hơn trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ. Điều đó nghe có vẻ phức tạp. Tôi muốn thận trọng và hỏi rằng liệu chiến lược đó có rủi ro không.

“Đừng lo,” gã nói, “tay khách hàng của anh sẽ kiếm được tiền”.

Khi tôi bảo Herman, anh ta vẫn còn ngà ngà say, anh ta nói: “Từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ hành động táo bạo đến thế, nhưng nó có vẻ là một ý kiến hay đấy. Tôi chơi 3 triệu.”

Lệnh đầu tiên của tôi. Tôi cảm thấy thật hồi hộp, gọi ngay cho tay giao dịch trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ tại New York và bán cho anh ta một lượng trái phiếu kho bạc trị giá 3 triệu đô-la. Sau đó, tôi hét vang với tay giao dịch trái phiếu công ty ở London: “Anh có thể chơi 3 triệu đô-la các trái phiếu AT&T” và cố gắng giữ giọng thật bình thản như thể đây không phải là một thương vụ lớn đến thế, và rằng nó chỉ như mọi thương vụ khác, hay chỉ như đi dạo chơi trong công viên thôi.

Trong tất cả các văn phòng của Salomon đều có một chiếc loa được mắc theo hệ thống và luôn hò hét mời chào. Ngoài vấn đề về tiền, thành công ở Salomon có nghĩa là khi tên bạn được phát lên ầm ĩ. Giọng tay giao dịch trái phiếu AT&T vang vang: “Mike Lewis vừa mới bán 3 triệu đô-la cổ phiếu AT&T của chúng ta, một vụ giao dịch lớn, xin cảm ơn Mike rất nhiều!”

Bạn hiểu đấy, lòng tôi tràn đầy tự hào, thực rất tự hào. Song điều gì đó có vẻ hoàn toàn không vừa ý lắm. Gã nói “trái phiếu AT&T của chúng ta” nghĩa là sao? Tôi không nhận ra rằng các trái phiếu đó đã nằm trên sổ sách giao dịch của Salomon rồi. Tôi cho rằng gã đồng nghiệp của tôi đã chộp lấy chúng từ các tay giao dịch ngu dốt ở các công ty khác. Nếu các trái phiếu đó là của chúng tôi để khởi sự thì…

Dash đang liếc nhìn tôi với vẻ không tin tưởng lắm. “Anh bán các trái phiếu đó rồi sao? Tại sao?”

Tôi trả lời: “Bởi vì tay giao dịch đó nói rằng đấy là một thương vụ lớn.”

“Ôi, không…” Dash ôm đầu như thể lên cơn đau. Tôi có thể thấy anh ta đang mỉm cười. Không, cười to thì đúng hơn: “Một tay giao dịch sẽ nói cái quái gì nữa?” Anh ta nói: “Hắn đã giẫm chân tại chỗ với món này hàng tháng rồi. Nó đang bị rớt giá. Hắn đã muốn tống khứ thứ đó đến chết đi được. Đừng bảo hắn là tôi nói với anh điều này nhé, nhưng anh sẽ bị làm thịt đấy.”

Tôi nói: “Tôi sẽ bị làm thịt là thế nào? Tay giao dịch đó đã hứa với tôi.”

Dash lại nói: “Anh sẽ bị làm thịt, đúng rồi, bởi vì anh là một thằng Geek. Mọi thằng Geek đều được sinh ra để bị làm thịt.” Có thể cho là anh ta nói theo lối bóng bẩy để xá tội cho tôi. Rồi anh ta đẩy chiếc bút của mình sang góc miệng và nhai nhai suy nghĩ, rồi bắt đầu sử dụng chiếc điện thoại như một tay nài ngựa chính cống.

Một giọng nói quen quen gọi tôi vào buổi sáng hôm sau: “Giá trái phiếu AT&T lúc này là bao nhiêu rồi?” Đúng là anh ta không còn thoải mái và tự tin nữa. Rõ ràng Herman đã được một tay giao dịch nào đó ở London làm cho sáng mắt rồi. Tất cả mọi người ở London, ngoại trừ Herman và tôi, dường như đều biết rằng Salomon Brothers nắm các trái phiếu AT&T và liền bán tống hết chúng đi. Herman có vẻ cảm nhận rằng anh ta sẽ bị làm thịt.

Tôi vẫn hy vọng, nhưng không nhiều lắm. Nhưng nếu tôi đến gặp giao dịch đó, bảo cho gã biết khách hàng mới của tôi bối rối như thế nào, bảo cho gã hay rằng việc này không báo trước điềm lành cho mối quan hệ mới của chúng tôi, cho gã thấy tôi cảm giác lạ lùng ra sao nếu gã có thể mua lại các trái phiếu AT&T từ khách hàng của tôi với cùng một giá mà hôm trước gã đã bán chúng.

Khi tôi hỏi tay giao dịch đó về giá cả, gã đáp: “Các trái phiếu này hiện không được cao giá lắm. Nhưng rồi giá sẽ lại lên thôi.”

Tôi hỏi lại: “Bao nhiêu?”

“Tôi sẽ phải gọi lại cho anh về cái giá đó.”

Tôi nói: “Không thể, tôi có một tay người Đức đang sôi sùng sục vì phải ôm một đống trái phiếu đó đây, tôi cần phải biết.”

Tay giao dịch đó vờ xáo trộn mấy tờ giấy trông có vẻ phức tạp để nhét mấy con số vào chiếc máy Quotron. Tôi cho đây là thao tác chuẩn mực khi một khách hàng sắp bị biến thành vật hy sinh cho món hàng của Salomon. Tay giao dịch đó cố đổ lỗi cho kỹ thuật hay lỗi khách quan nào đó. Anh không thấy sao, đúng những con số ấy, tôi chẳng làm gì được cho anh nữa. Thực đau lòng rằng tay giao dịch đó đang cố lảng tránh. Một điều gì đấy rất sai lầm.

Cuối cùng gã nói: “Tôi có thể đặt giá mua các trái phiếu đó với anh là 95.”

“Anh không thể làm thế được, hôm qua anh đã bán những thứ ấy cho tôi với giá 97, thị trường thì không biến động. Các trái phiếu kho bạc đều cùng giá ấy, tôi không thể cứ nói với khách hàng rằng trái phiếu AT&T đã rơi tự do mất 2 điểm qua một đêm. Anh ta dốc túi mất 60.000 đô-la.”

Tay giao dịch nói: “Tôi đã bảo anh rằng đợt này chúng không được cao giá rồi.”

Tôi quát to: “Anh muốn nói sao?... Anh đã bịp tôi!”

Gã không còn kiên nhẫn nữa và nói: “Hãy xem, anh làm việc cho ai, cho gã đó hay cho Salomon Brothers?”

Anh làm việc cho ai? Câu hỏi đó cứ ám ảnh đám nhân viên kinh doanh. Bất cứ khi nào một tay giao dịch lừa dối một khách hàng và làm cho đám kinh doanh bực mình, hắn sẽ hỏi: “Cuối cùng thì anh làm việc cho ai?” Đoạn điệp khúc rất rõ ràng: Anh làm việc cho Salomon Brothers. Anh làm việc cho tôi. Tôi trả tiền thưởng vào cuối năm. Vậy nên hãy ngậm miệng lại, anh chỉ là một thằng Geek. Đến một chừng mực mà mọi cái trong đó đều đúng. Nhưng nếu bạn đứng lùi lại một bước và nhìn vào hoạt động kinh doanh của chúng tôi, thì đây là một thái độ thật nực cười. Một chính sách về việc bắt ép các nhà đầu tư có thể dẫn đến sự lụn bại. Nếu họ từng hiểu được, thì chúng tôi sẽ chẳng có nhà đầu tư nào, mà không có các nhà đầu tư, chúng tôi sẽ không có hoạt động kinh doanh nào hái ra tiền nữa.

Sự biện hộ duy nhất – nếu bạn có thể gọi nó là như thế – mà tôi từng nghe về chính sách của chúng tôi, đó là lời tuyên bố bất thành văn từ vị chủ tịch Tom Strauss, bản thân ông ta là một cựu nhân viên kinh doanh trái phiếu chính phủ. Tại một bữa ăn trưa với khách hàng của tôi, chẳng về vấn đề gì hay về mọi vấn đề, ông ta đã đưa ra quan điểm như thế này: “Các khách hàng có trí nhớ rất tồi.” Nếu đó là nguyên tắc chủ đạo của Salomon Brothers trong ban đặc trách về quan hệ khách hàng, thì tất cả đều rõ ràng hiển nhiên. Cứ bóp nặn họ đi, cuối cùng họ sẽ quên điều đó thôi! Đúng vậy!

Tuy nhiên, bạn phải thán phục tính ngay thẳng của Strauss. Bóp nặn khách hàng là một chuyện mà nói với họ rằng mình sắp làm lại là chuyện khác. Sự khác nhau về kiểu cách giữa tay giao dịch trái phiếu AT&T và Strauss cũng như giữa lực hút và lực đẩy. Chẳng cái nào quan trọng đối với việc kinh doanh cả. Một điều mà khách hàng của tôi không bao giờ quên là Salomon Brothers đã cho rằng anh ta có một trí nhớ kém.

Tôi đã mắc phải sai lầm là tin tưởng một tay giao dịch Salomon Brothers. Gã đã xoáy vào sự ngu dốt của tôi và vị khách hàng đầu tiên của tôi để trút một trong những sai lầm của mình. Gã đã tự cứu lấy mình và công ty chúng tôi, 60.000 đô-la. Ngay lập tức tôi cảm thấy điên tiết và bị vỡ mộng. Nhưng điều đó không giải quyết được vấn đề. Việc than vãn sẽ khiến tôi trông giống hệt như một kẻ bị lừa phỉnh, như thể thực tế tôi đã cho rằng vị khách hàng đó sắp kiếm được tiền từ khoản trái phiếu AT&T. Còn ai có thể ngu xuẩn hơn việc tin một tay giao dịch? Điều tốt nhất tôi có thể làm là cứ giả đò với những người khác ở Salomon rằng tôi rắp tâm chơi khăm vị khách hàng đó. Mọi người sẽ lưu tâm đến chuyện đó. Nó được gọi là bội thực. Lần đầu tiên tôi bị bội thực trái phiếu. Tôi đã đánh mất tính ngây thơ của mình.

Nhưng tôi phải nói gì với Herman – tay người Đức ấy? “Đừng để việc thua lỗ 60.000 đô-la làm anh phiền muộn quá nhiều, anh có một trí nhớ kém, và anh sẽ quên chứ?... Thật đáng tiếc, tôi là tên lính mới về việc này và hãy đoán xem, ha ha ha, anh vừa mới bị chơi khăm!”

Tôi nói: “Xin chào, xin lỗi đã làm mất thì giờ quá, thực ra ở đây bận rộn!” Sau khi rà soát đủ mọi phong thái mà tôi có thể chấp nhận được, tôi vẫn không tài nào tìm được thứ gì thích hợp với tình huống đó và cố giữ vẻ tươi cười. Tôi chắc đã có một lối bộc lộ được phân nửa nụ cười một cách can đảm và phân nửa toe tét của tên ngốc. Dash đang xem trò đố chữ và cười. Giờ chuyện ấy chẳng cần thiết. Tôi giơ ngón tay giữa vào anh ta, chính tôi còn cảm thấy khó xử cho bản thân mình hơn là lo lắng cho Herman.

Tôi nói với vị khách hàng mới của mình: “Tôi vừa nói chuyện với tay giao dịch đó và hắn nói rằng các trái phiếu AT&T không thể một sớm một chiều kiếm được khoản khá, nhưng chúng sẽ sớm lên giá lại thôi.”

Anh ta hỏi lại: “Giá cả bao nhiêu?”

Tôi nói và cảm giác mặt mình cau lại: “Ồ… để tôi xem... liệu chừng... khoảng... 95.”

“Aaaaaaaahhhhhhhhhhhhhhhhh,” anh ta thét lên như bị dao đâm, như thể anh ta không còn khả năng thể hiện rõ những cảm giác của mình nữa. Tiếng thét nguyên thủy của người Teutonic luôn thể hiện nỗi đau đớn chung của các khách hàng ưa chuộng của Salomon Brothers. Điều mà tôi không biết nhưng lại sớm hiểu ra là cả đời anh ta chưa bao giờ hình dung nổi việc mất đến 60.000 đô-la. Ngân hàng của anh ta cho anh ta quản lý 20 triệu đô-la, nhưng không cho phép thua lỗ 60.000 đô-la trong số đó. Nếu ngân hàng biết rằng anh ta thua lỗ nhiều tiền đến vậy thì họ sẽ đuổi việc anh ta. Thực tế câu chuyện về anh ta còn khủng khiếp hơn thế. Anh ta có một đứa con nhỏ, vợ lại đang mang bầu và một căn nhà mới tại London – mua theo hình thức vay trả góp. Tuy vậy về sau tôi mới biết việc này. Vào những lúc bị tác động thì mọi cách anh ta có thể làm là gây ầm ĩ đau đớn quằn quại và khiếp sợ.

“Uuuuuhhhhhhhhh,” anh ta lại tiếp tục, với một giọng yếu ớt. Anh ta bắt đầu phù phù mạnh vào ống điện thoại.

Và bạn muốn biết tôi đã có cảm giác ra sao không? Có lẽ tôi đã cảm thấy có tội, dĩ nhiên vậy, song cái tội ấy không phải là cảm giác được xác định, bung ra từ bộ óc đã muốn nổ tung của tôi. Mà là cảm giác nhẹ nhõm. Tôi đã nói cho anh ta một tin tức cần phải nói và anh ta gào lên, rên rỉ. Và tất cả chỉ có như vậy, đó là những gì mà anh ta có thể làm. Gào lên rồi rên rỉ. Đó là vẻ đẹp của việc làm một tay môi giới, mà đến lúc ấy tôi mới đánh giá được. Vị khách hàng đó đã phải chịu đau đớn. Còn tôi thì không. Anh ta cũng sẽ không kiện tôi và tôi cũng chẳng bị mất việc. Trái lại, tôi là một người hùng bé nhỏ ở Salomon vì đã trút khoản thua lỗ 60.000 đô-la vào túi của kẻ khác.

Có một cách tiện lợi để nhìn vào tình huống này. Vị khách hàng của tôi không thích việc thua lỗ, nhưng nỗi mất mát ấy đúng là sai lầm của cả tôi lẫn anh ta. Theo tiếng Latinh, luật của thị trường trái phiếu là “Caveat emptor”, nghĩa là “Người mua thận trọng”. (Các thị trường trái phiếu chìm vào tiếng Latinh sau một vài cốc rượu Meum dictum pactum – một cụm từ tiếng Latinh khác mà tôi thường nghe, nhưng đó chỉ là một trò đùa. Nó có nghĩa là “Lời nói của tôi là lời cam kết của tôi”). Ý tôi muốn nói, anh ta không cứ phải tin tôi khi tôi nói với anh ta rằng các trái phiếu AT&T là một ý kiến hay.

Dù thế nào chăng nữa, ai bị tổn thương ngoài tay người Đức của tôi? Đó là một vấn đề quan trọng, bởi vì nó giải thích sự suy xét độc lập với những thảm họa nhìn thấy ở Salomon. Ngân hàng của tay người Đức ấy đã mất 60.000 đô-la. Do vậy, những người có cổ phần trong ngân hàng và chính phủ Áo là đối tượng bị mất thêm một bước nữa, và người đóng thuế của Áo cũng là đối tượng bị mất. Nhưng xét tổng thể, so với tài sản quốc gia thì 60.000 đô-la là một món tiền nhỏ đến nực cười. Nói cách khác, thực khó có được lòng cảm thông đối với bất cứ ai ngoài kẻ đã thực hiện thương vụ đó. Và phần nào anh ta cũng chịu trách nhiệm.

Anh ta không nên trách tôi hoàn toàn, có lẽ tôi đã nghĩ rằng khả năng hợp lý hóa của tôi giống mọi người hơn là một thằng Geek. Nhưng ôi thôi, anh ta đã làm gì nhỉ? Vì đó là đặc quyền của khách hàng và gánh nặng của nhân viên kinh doanh trái phiếu. Và anh ta không chỉ trách tôi một lần, mà anh ta đã trách tôi đến hàng trăm lần. Vì khi đã phạm sai lầm thứ nhất, ngay lập tức sai lầm thứ hai cứ bám vào vụ ấy. Cứ mỗi buổi sáng và chiều trong suốt mấy tuần lễ sau, tôi luôn chờ đợi những cú điện thoại cay đắng mỉa mai của anh ta gọi đến trong trạng thái chết cứng. Một giọng nói cồm cộm của người Đức đầu dây bên kia: “Trái phiếu này là một ý kiến thực hay đấy, Michael. Thế anh còn sáng kiến nào nữa cho món ăn của mình không?” Thực tế là… Herman đã từ bỏ hy vọng rằng anh ta vẫn còn nguyên vẹn, anh ta cũng từ bỏ hy vọng rằng Salomon sẽ bù đắp lại khoản thua lỗ của mình, lý do duy nhất anh ta gọi điện là trút giận lên đầu tôi.

Chỉ đến khi chết, vị khách hàng của tôi và các trái phiếu của anh ta mới chia lìa được. Trái phiếu AT&T ngày càng trở nên rẻ hơn. Cuối cùng, khoảng một tháng sau khi sự việc đó xảy ra, sếp của vị khách hàng đó mới chất vấn về những hoạt động của anh ta. Trách nhiệm về khoản thua lỗ 140.000 đô-la khiến người ta bạc cả đầu, và tay người Đức của tôi đã bị đuổi việc. Bèm! Thật may mắn! Anh ta kiếm được một công việc khác, và những gì mà tôi biết được, là con cái của anh ta được chu cấp kha khá.

Quả thực đấy không phải là một sự khởi đầu thuận lợi cho nghề nghiệp của tôi. Trong vòng một tháng, tôi đã hạ gục khách hàng duy nhất và đầu tiên của tôi. Xin cảm ơn, những người như vậy có rất nhiều ở nơi này. Tất cả họ đều đáp ứng đủ hai yêu cầu để được nói chuyện với một thằng Geek, thứ nhất họ là nhà đầu tư nhỏ và thứ hai họ bị Salomon Brothers làm sợ hãi đến mức luôn tin bất cứ điều gì mà người ta nói với họ đều là lời khuyên có lợi. Tôi đã trải qua mấy tháng trời với chiếc điện thoại liên lạc tới hàng chục khách hàng ít được kỳ vọng nhất ở châu Âu. Trong số họ có một tay giao dịch bông tại Beirut, một công ty bảo hiểm Ailen thích khẩu vị của việc đầu cơ hợp đồng quyền chọn tiền tệ và một gã người Mỹ có thế lực về hoạt động kinh doanh pizza hiện sống ở Monte Carlo. Tôi đã hạ gục công ty bảo hiểm đó, lần này là trong một hành động ngu xuẩn vì không được trợ giúp bởi các tay giao dịch. Ủy ban tín dụng Salomon Brothers bảo tôi không nên làm ăn với tay đến từ Beirut, vì sợ rằng hắn có thể hạ gục tôi trước khi tôi hạ gục hắn. Và tôi cũng đã đánh mất một khách hàng kinh doanh pizza ở Monte Carlo khi anh ta quyết định từ bỏ trái phiếu và trở về với chiếc bánh pizza, nhưng không phải trước khi anh ta truyền cho hậu thế câu nói đáng nhớ rằng “Các sòng bạc ở đây còn hắc ám hơn cả cái nghề khốn nạn của chúng ta.” Điều đó quả thật là đúng.

Có lẽ cuộc chạm trán ưa thích nhất của tôi trong khoảng thời gian vài tháng đầu này là với vị đứng đầu của một hãng môi giới Anh. Con người có chút xuất chúng này trong thành phố London không biết làm sao có tên tôi và gọi điện cho tôi ở Salomon. Ông ta nói rằng ông ta muốn nghe tất cả về các hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai, vậy là tôi được mời đến thăm văn phòng của ông ta. Hãng mà ông ta quản lý là một trong hàng trăm tổ chức tài chính nhỏ ở châu Âu đang cạnh tranh với Salomon, nhưng đồng thời cũng có tiền để tham gia. Họ thường giả dạng là khách hàng có tiềm lực để lấy thông tin. Họ cho rằng Salomon Brothers biết điều gì đó mà các công ty khác không biết. Tôi có quyền từ chối cuộc gặp gỡ mà ông ta có thể sẽ sử dụng thông tin lấy được từ tôi để mở mang hoạt động kinh doanh của mình, mà chi phi do tôi chịu. Song ông ta thật sự có chút tiền của để đầu tư và tôi cũng tò mò muốn tìm hiểu về các nhà quản lý quỹ của nước Anh. Và dù sao chăng nữa, cho đến thời điểm này, những gì tôi biết về hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai là chúng dễ khiến ông ta phá sản hơn là đem lại lợi ích.

Ông ta đang ở độ tuổi trung niên, dáng đẫy đà, mặc bộ vest không được vừa vặn lắm, chân kéo lê đôi giày màu đen và đi loại tất đen mỏng, chúng khiến tôi cảm nhận như là biểu tượng của nền kinh tế Anh quốc xuống dốc lâu dài. Có những nét đặc trưng khác không hợp với địa vị của ông ta. Những nhúm tóc còn sót lại trụ tít phía sau đầu, quần áo nhàu nhĩ như thể ông ta đã mặc chúng để ngủ. Ông ta là vị sếp điều hành vài trăm người, song lại trông giống một kẻ ăn mày, hoặc một người vừa mới tỉnh dậy sau một giấc ngủ dài.

Chúng tôi ngồi trong một văn phòng ánh sáng mờ mờ và ngổn ngang. Chúng tôi nói chuyện suốt một tiếng đồng hồ. Chính xác hơn, suốt một tiếng đồng hồ ông ta nói chuyện về những sự kiện thế giới còn tôi chỉ ngồi nghe. Cuối cùng ông ta mệt phờ và gọi một chiếc xe con đưa chúng tôi đi ăn trưa. Nhưng trước khi rời văn phòng, ông ta lật mấy trang tạp chí Times, tay cầm một chiếc bút chì nhọn đầu và nói: “Tôi cần phải đặt cược.” Ông ta quay số hỏi, và theo những gì tôi hiểu, đó là tay đánh cá ngựa thuê của ông ta và đặt hai món cược – mỗi món 5 bảng Anh về cuộc đua ngựa ngày hôm đó. Khi ông ta đặt điện thoại xuống và nói: “Anh biết không, tôi coi thị trường trái phiếu như một cuộc đua ngựa mở rộng vậy.” Dĩ nhiên tôi không biết, tôi luôn cảm giác rằng ông ta định gây ấn tượng với tôi. Tôi không dám nói với ông ta rằng đám dân chơi trên tầng giao dịch của tôi sẽ cười vào mặt ông ta vì cái sòng bạc chỉ cần có 5 bảng Anh để chơi. Và tôi không thể không nhớ tới lời nhận xét ác ý do một tay giao dịch dày dạn đưa ra cho một trong những cậu bạn thực tập của tôi khi chúng tôi đang trong lớp học. Cậu thực tập sinh đã cố gây ấn tượng với tay giao dịch đó và thất bại. Tay giao dịch đó nói: “Anh là minh chứng rằng một số người sinh ra để trở thành khách hàng.” Sinh ra để làm khách hàng, dãy ghế sau cho rằng nó là điều buồn cười nhất mà cả ngày họ mới nghe thấy.

Dù sao chăng nữa, chúng tôi lại có thêm một bữa ăn trưa hai tiếng đồng hồ mà các văn phòng London bắt chước New York. Rồi ông ta lại nói chuyện. Tôi lại là người nghe. Ông ta nói về việc cơn bùng nổ của thị trường trái phiếu đã quá bị lạm dụng như thế nào, ông ta có cảm giác các giám đốc ngân hàng Hoa Kỳ cần cù ngu xuẩn ra làm sao, hay công ty nhỏ bé của ông ta sắp phải đối phó với các công ty lớn như Salomon đang thâm nhập thành phố London như thế nào. Ông ta phản đối ngày làm việc dài hơn 8 tiếng đồng hồ bởi vì theo ông ta thì “sau đó anh lại đến văn phòng vào buổi sáng cùng với những suy nghĩ mà anh còn bỏ lại từ đêm khuya hôm trước”.

Sau một vài ly rượu, thật thông minh để ghi chú lại những điều trên lên một tờ khăn giấy. Chúng tôi gọi chai vang trắng thứ hai để nhâm nhi kèm món cá. Đến cuối bữa trưa, khi lời nói của chúng tôi đã bị méo mó, mình mẩy đỏ gay đỏ gắt, ông ta nhớ lại tại sao ông ta đã bảo tôi đến. Ông ta nói: “Chúng ta chưa có dịp thảo luận về hợp đồng quyền chọn và hợp đồng tương lai, lúc nào đó chúng ta sẽ phải bàn về chuyện này.” Tuy nhiên, trước khi chuyện đó xảy ra như bao nhiêu công ty tài chính nhỏ của Anh, công ty của ông ta đã bị một ngân hàng Mỹ mua với số tiền rất lớn. Ông ta đã kịp nhảy ra đúng thời điểm và hạ xuống mặt đất một quãng ngắn với chiếc dù màu vàng. Sau đó, tôi không bao giờ nghe thấy về ông ta nữa.

Hoàn toàn mới mẻ, tươi vui. Trước đó, tôi thực hiện chuyến công vụ đầu tiên sang Paris. Khi tôi đã trốn được khỏi tầng giao dịch, tôi không còn là một thằng Greek nữa, hay ít nhất chẳng có ai cần phải biết rằng tôi là một Geek. Tôi là một nhân viên ngân hàng đầu tư với một tài khoản chi tiêu của một nhân viên ngân hàng đầu tư. Tôi lưu lại khách sạn sang nhất tại Paris, khách sạn Bristol giá 400 đô-la một đêm. Theo tôi, đây không phải là một sự tiêu pha phung phí đặc biệt. Tất cả các nhân viên kinh doanh của Salomon đi công vụ đều ở khách sạn Bristol. Có lẽ tôi phải xin các vị thư ký của Salomon cho chỗ tạm trú rẻ tiền hơn để giảm bớt chi phí. Và khi lần đầu tiên đi qua các cửa sơn vàng của khách sạn Bristol, bước lên tầng nhà lát đá bằng cẩm thạch, lướt nhìn bức tranh phong cảnh đồng quê Pater và tấm thảm Gobelin, nhìn thấy nước tắm trong phòng tắm, tôi hân hoan thụ hưởng những gì thuộc về quyền được hưởng của tôi.

Chẳng hành động nào của tôi trong hai tháng đầu đủ lớn để có thể tạo ra một vết xước nhỏ dưới đáy của Salomon Brothers, nhưng mọi điều đều rất thú vị. Tôi cho rằng điều quan trọng hơn các kết quả trước mắt là kiến thức của tôi. Suốt mấy tháng đầu tôi có cảm giác mình là một kẻ bất tài. Tôi liên tục hạ gục mọi người. Tôi chẳng biết điều gì cả. Tôi chưa bao giờ quản lý tiền. Tôi chưa bao giờ kiếm được đồng tiền thật sự nào. Thậm chí tôi không hề biết những ai đã kiếm ra tiền thật sự ngoài một vài người thừa kế. Vậy mà tôi tự thủ vai một chuyên gia tầm cỡ về những vấn đề tài chính. Tôi đang nói cho mọi người biết phải làm gì với hàng triệu đô-la khi sự rắc rối tài chính lớn nhất mà tôi từng làm là rút khống 325 đô-la trong tài khoản gửi của tôi ở ngân hàng Chase Manhattan. Điều duy nhất cứu tôi từ cuộc gặp này đến cuộc gặp nọ trong những ngày đầu tại Salomon là ở chỗ những người mà tôi đã kinh doanh cùng còn dốt hơn tôi. London là – hay từng là nơi ẩn náu tuyệt vời cho những kẻ phá hoại.

Chỉ là vấn đề thời gian trước khi tôi tự đẩy mình vào cảnh bối rối ghê gớm. Tôi cố tìm hiểu thêm và tìm cách cố giữ khỏi bị làm bẽ mặt. Như Dash đã vui lòng cho tôi biết, tôi là người dễ bị gây ấn tượng và đó là một điểm yếu khi rơi vào tay của các tay giao dịch xảo trá. Nhưng trong quá trình tôi tự đào tạo chính mình, điểm yếu đó lại chứng tỏ một sức mạnh. Tôi có khả năng bắt chước, nó khiến tôi có thể thâm nhập vào bên trong bộ não của một kẻ khác. Để học phương pháp tạo ra sự huyên náo về tiền bạc, tôi nghiên cứu hai tay kinh doanh giỏi nhất của Salomon mà mình biết: Dash Riprock, và một người trên tầng 41 của Salomon đóng tại New York mà tôi sẽ gọi theo yêu cầu của anh ta là Alexander. Việc đào tạo của tôi có nghĩa là tiếp thu và tổng hợp những thái độ và kỹ năng của họ. Thật may mắn cho tôi, hóa ra họ là hai trong số những tay kinh doanh trái phiếu giỏi nhất ngành.

Cá nhân Dash và Alexander rất đối lập nhau, việc lựa chọn đưa ra bút danh riêng và những kỹ năng riêng của họ cũng khác nhau. Dash làm những việc mà các tay kinh doanh làm, nhưng chỉ có tốt hơn. Anh ta luôn chạm mũi sát màn hình màu xanh hiển thị thị trường về trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ đang được giao dịch và tìm kiếm sự chênh lệch nhỏ về giá cả. Đối với bất cứ ai ngoài những kẻ sinh ra để kinh doanh trái phiếu (họ vẫn tồn tại), thì công việc thường ngày hết sức buồn tẻ. Có vài trăm loại trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ khác nhau, xếp theo kỳ hạn phải thanh toán từ một vài tháng đến 30 năm. Dash biết giá của chúng sẽ là bao nhiêu, nhà đầu tư lớn nào có trái phiếu nào và ai là đối tượng yếu thế trong thị trường. Nếu giá chênh khoảng 0,125% thì anh ta sẽ lôi theo đến nửa chục nhà đầu tư tổ chức vào một thương vụ để kiếm khoản 0,125% đó. Anh ta gọi đó là “nips for blips”, blips là con số màu xanh thể hiện giá trái phiếu nhấp nháy trên màn hình. Tôi chưa bao giờ hiểu được blip nghĩa là gì, nhưng khái niệm đó là một kiểu chơi chữ thể hiện một số khách hàng đang gia tăng của Dash ở Nhật Bản. Sẽ có 10 tỷ đô-la truyền qua chiếc điện thoại của anh ta mỗi năm, bắt đầu từ chính phủ Hoa Kỳ và kết thúc tại Nhật Bản. Dash đang thực hiện một hành động yêu nước để bù đắp sự thâm hụt mậu dịch của Hoa Kỳ. Salomon lấy một phần tí xíu trong mỗi thương vụ. Dash hy vọng cuối mỗi năm sẽ được trả một phần cắt tí xíu trong phần bánh tí xíu của Salomon.

Alexander quả thật độc nhất vô nhị, một người gần giống nhất với chúa tể của các thị trường, không có những người thật sự như vậy. Anh mới 27 tuổi, hơn tôi hai tuổi. Và khi tôi đến, anh đã làm tại Salomon Brothers được hai năm. Anh vươn lên bằng việc giao dịch một danh mục chứng khoán, kiếm được một món lãi vớ bở trên thị trường chứng khoán ngay khi đang học lớp 7. Năm 19 tuổi, Alexander thua lỗ tới 97.000 đô-la về hợp đồng tương lai trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ, nói cách khác, anh không phải là một người bình thường. Một khi học được cách cưỡi trên lợi nhuận và cắt lỗ, anh không bao giờ nhìn lại nữa. Những gì thua lỗ trong trái phiếu kho bạc lập tức được bù lại bằng số lãi hơn gấp vài lần trong hợp đồng tương lai về vàng.

Alexander biết cách khai thác thị trường tài chính của thế giới. Hơn thế nữa, là một nhân viên kinh doanh, anh có thể phát ngôn như thể anh biết cách khai thác thị trường tài chính thế giới, đồng thời biết có thể ảnh hưởng tới những gã trai khác trong cái thế giới nhỏ bé của chúng tôi – giống như mỹ nhân ngư quyến rũ những anh chàng thủy thủ. Trong vòng mấy tháng sau khi chuyển từ London lên tầng 41 tại New York, anh đã được một nhóm giám đốc điều hành phát hiện – những người muốn biết phải làm gì với tiền riêng của mình. Bạn cứ nghĩ rằng loại người này hoàn toàn có thể thoải mái đưa ra các quyết định đầu tư cho riêng mình, nhưng không phải vậy. Mỗi ngày họ lại phải hỏi xin lời khuyên của Alexander. Tuy nhiên, để có được lời khuyên ấy, họ phải xếp hàng sau các khách hàng của Alexander và tôi. Alexander là một tay kinh doanh, nhưng giống như tất cả những tay kinh doanh giỏi nhất, anh có bản năng của một tay giao dịch. Xét mọi ý định và mục đích, anh là một tay giao dịch. Đơn giản là khách hàng và cả các ông chủ của anh đều làm đúng theo những gì mà anh bảo họ.

Alexander có một “tài sản” riêng đối với việc diễn giải những sự kiện quanh mình. Khía cạnh ấn tượng nhất về điều này là tốc độ của nó. Khi tin tức phát ra, anh dường như đã có phương án đối ứng. Anh hoàn toàn tin tưởng vào sự nhạy cảm của mình. Nếu anh có một sai lầm thì đó chính là anh thiếu khả năng để thẩm định những phản ứng tức thì của mình. Anh nhìn thị trường như một tấm vải dệt. Nếu kéo mạnh một sợi nhỏ trong tấm vải dệt thì những sợi khác cũng phải chuyển động theo. Do vậy anh giao dịch với tất cả các thị trường: thị trường trái phiếu, tiền tệ và cổ phiếu của Pháp , Đức, Mỹ, Nhật Bản, Canada và Anh, các thị trường về dầu lửa, kim loại quý hiếm và mọi hàng hóa – tất cả đều khiến anh quan tâm.

Điều may mắn nhất đến với tôi trong suốt quãng thời gian ở Salomon Brothers là có Alexander và được anh tin cậy. Chúng tôi gặp nhau khi tôi thay thế anh tại London. Khoảng hai năm trước khi tôi đến, anh làm việc cho Stu Willicker và bên cạnh Dash Riprock. Khi chúng tôi gặp nhau, anh chuẩn bị trở về New York, trở thành nhân viên kinh doanh trái phiếu trên tầng 41. Không còn lý do nào nữa để anh chăm sóc tôi. Ngoại trừ việc anh nhờ tôi buôn lậu một lượng lớn chè xoài từ Paris sang cho anh, đối với anh không có gì trong vụ đó cả. Nó là hành động thực thụ không tư lợi, tôi kể ra chuyện này chỉ bởi vì vào thời điểm ấy thì chuyện này quả thật không thể nào tưởng tượng nổi. Cứ như thể anh đã mua các cổ phần trong tương lai của tôi và quyết tâm tìm cách thức đẩy việc đầu tư này trôi chảy. Mỗi ngày ít nhất chúng tôi nói chuyện ba lần và thường tới 20 lần. Các cuộc nói chuyện trong suốt mấy tháng đầu chủ yếu là anh nói và tôi đặt câu hỏi.

Công việc của tôi là học hỏi lối tư duy và cách nói năng như thứ hái ra tiền. Thêm nữa, lối tư duy và cách nói năng giống Alexander là điều tốt nhất để trở thành tài năng thật sự, thứ mà tôi không có. Do vậy tôi lắng nghe người thầy uyên thâm đó và nhắc lại những điều nghe được giống như cách học võ Kung fu. Nó gợi tôi nhớ tới việc học ngoại ngữ. Thoạt đầu mọi thứ dường như lạ lẫm. Rồi một ngày, bạn tự mình tư duy theo ngôn ngữ ấy. Bỗng nhiên bạn có thể sử dụng những từ ngữ mà bạn chưa bao giờ nghĩ rằng mình biết. Cuối cùng bạn nằm mơ cũng bằng ngôn ngữ ấy. Lúc này có vẻ thật kỳ quặc khi mơ mộng về những phương án kiếm tiền. Nhưng nó dường như không ghê gớm khác thường lắm khi vào một buổi sáng nọ, tôi thức dậy và nghĩ rằng có một khoản chênh lệch giá đáng kể trong các hợp đồng tương lai của Nhật. Buổi sáng hôm ấy tôi nhìn thị trường Nhật và thấy rằng nó quả thật đúng như vậy, và băn khoăn tại sao tôi lại nằm mơ thấy điều đó, bởi tôi không thể nào nhớ nổi mình từng nói về đề tài đó hay chưa. Có lẽ với bạn thật vô nghĩa, song đấy lại là một ngôn ngữ thứ hai đối với tôi.

Nhiều vụ giao dịch mà Alexnder gợi ý nên thực hiện đều theo một trong hai hình thức sau đây. Thứ nhất, khi tất cả các nhà đầu tư đang cùng làm một thứ, anh lại tích cực tìm cách làm trái lại. Theo ngôn từ của những tay môi giới chứng khoán thì đó được gọi là người đi ngược trào lưu. Mọi người đều muốn làm loại người này, nhưng không ai có thể trở thành, vì một lý do đáng buồn là phần lớn các nhà đầu tư sợ mình trông có vẻ ngu xuẩn. Các nhà đầu tư không sợ mất tiền nhiều bằng tình trạng cô độc, tôi muốn nói là việc đánh liều với những rủi ro mà người khác né tránh. Khi chỉ bản thân họ làm mất tiền, họ không có cớ nào để ngụy biện cho sai lầm của mình, và hầu hết các nhà đầu tư – cũng như hầu hết mọi người, đều cần những nguyên do để bào chữa. Thật lạ lùng, họ sẵn sàng vui vẻ đứng trên mép vách núi đá miễn là có vài nghìn người khác cùng tham gia. Nhưng khi mọi người cho rằng một thị trường đang trong tình trạng tồi tệ, ngay cho dù những vấn đề khó khăn đó chỉ mang tính ảo tưởng chăng nữa, thì nhiều nhà đầu tư lại nhảy ra.

Một ví dụ thú vị cho việc này là cuộc khủng hoảng tại U.S. Farm Credit Corporation. Có lúc dường như nó sẽ phá sản. Các nhà đầu tư chạy tán loạn khỏi các trái phiếu của Farm Credit vì họ đã được cảnh báo có khả năng xảy ra tai họa, họ không thể để nguy cơ ấy làm ảnh hưởng tới tiếng tăm của mình. Trong một thời đại mà sự thất bại không được phép xảy ra, khi chính phủ Hoa Kỳ đã cứu vớt nhiều công ty vì lợi ích quốc gia, như Chrysler và Continental Illinois Bank, không có lẽ gì mà chính phủ lại cho phép ngân hàng Farm Credit đó phá sản. Ý định không cứu vớt một tổ chức tài chính có số vốn tới 80 tỷ đô-la cho những nông dân bị khốn đốn của Mỹ vay tiền là ngu xuẩn. Các nhà đầu tư tổ chức hiểu điều này, đó là vấn đề cốt lõi. Những người bán trái phiếu Farm Credit thấp hơn giá trị thực của chúng không hẳn là ngu dốt. Đơn giản họ không thể để người khác thấy mình đang nắm các trái phiếu ấy. Vì Alexander không bị vẻ ngoài trói buộc nên anh đã tìm cách khai thác những người nào như vậy. (Mặt trái trong việc đóng vai trò này của anh là khá xấu, bạn bắt đầu cho rằng mọi người khác đều ngu dốt).

Đối với suy nghĩ của Alexander, hình thức thứ hai là trong trường hợp có trục trặc lớn, chẳng hạn như thị trường chứng khoán sụp đổ, thiên tai, hiệp định sản xuất của khối OPEC (tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa) bị phá vỡ, anh sẽ bỏ qua sự tập trung đầu tiên vào lợi ích của nhà đầu tư và tìm hiểu những tác động thứ hai và thứ ba.

Hẳn bạn còn nhớ Chernobyl chứ? Khi có tin tức phát ra rằng lò phản ứng hạt nhân của Liên Xô nổ, Alexander đã gọi điện ngay. Chỉ vài phút trước đó, thảm họa được xác định đang nhấp nháy trên những chiếc máy Quotron của chúng tôi, vậy mà Alexander vừa mua xong một lượng tương đương hai chiếc tàu lớn dầu thô rồi. Sự tập trung chú ý của các nhà đầu tư là về thị trường chứng khoán New York, anh nói, đặc biệt đối với bất cứ công ty nào liên quan đến năng lượng hạt nhân. Cổ phần của các công ty đó đang rơi thẳng đứng. Theo Alexander, đừng để ý đến điều đó, anh vừa mới mua hợp đồng tương lai dầu thô nhân danh các khách hàng của mình. Ngay lập tức, suy nghĩ trong đầu anh là: cung cấp năng lượng hạt nhân sẽ ít hơn, nhu cầu về dầu lửa sẽ nhiều hơn và anh đã đúng. Các nhà đầu tư của anh kiếm được một món lớn, còn các nhà đầu tư của tôi kiếm được món nhỏ. Mấy phút sau khi tôi thuyết phục một số khách hàng mua dầu lửa thì Alexander gọi điện lại.

“Mua khoai tây đi,” anh nói, “Phải biến đây!”, rồi anh treo máy.

Tất nhiên, một đám mây bụi phóng xạ nguyên tử sẽ đe dọa việc cấp thoát nước và thực phẩm châu Âu, kể cả vụ mùa khoai tây, do vậy các sản phẩm của Mỹ không bị nhiễm xạ sẽ lên giá mạnh. Có lẽ chỉ có một số ít người chứ không phải những nông dân trồng khoai tây nghĩ tới giá khoai tây tại Mỹ sau mấy phút xảy ra vụ nổ lò phản ứng hạt nhân tại Liên Xô, nhưng tôi chưa bao giờ gặp họ cả.

Nhưng Chernobyl và dầu lửa là một ví dụ so sánh khá trực tiếp. Có một trò mà chúng tôi chơi được gọi là “Nếu rủi như?”. Tất cả mọi biến cố phức tạp có thể được đưa ra thành “Nếu rủi như?”. Chẳng hạn, hãy tưởng tượng bạn là một nhà đầu tư tổ chức đang quản lý vài tỷ đô-la. Hãy đoán điều gì sẽ xảy ra nếu có một vụ động đất lớn tại Tokyo. Tokyo bị biến thành đống gạch vụn. Các nhà đầu tư tại Nhật hoảng sợ. Họ đang bán đồng yên và cố đưa tiền của mình ra khỏi thị trường chứng khoán Nhật. Bạn sẽ làm gì?

Bây giờ, trên phương diện hình thức thứ nhất, những gì mà Alexander sẽ làm là đổ tiền vào Nhật theo giả thiết rằng vì mọi người đang cố đưa tiền ra, chắc phải có một số món hời nào đó. Anh sẽ mua một số loại chứng khoán tại Nhật mà đối với những người khác có vẻ ít hợp thời nhất. Đầu tiên là cổ phần của các công ty bảo hiểm Nhật. Cả thế giới có thể cho rằng các công ty bảo hiểm bình thường hay phải chịu rủi ro lớn. Tuy nhiên, trên thực tế rủi ro loại này chỉ ảnh hưởng tới các công ty bảo hiểm phương Tây và các công ty chuyên bảo hiểm động đất của Nhật đã mất hết phí bảo hiểm từ hàng chục năm nay, bởi vậy cổ phiếu của các công ty bảo hiểm bình thường sẽ trở nên rẻ.

Vậy là Alexander mua trái phiếu chính phủ Nhật Bản trị giá 200 triệu đô-la. Với nền kinh tế trong tình trạng hoảng loạn tạm thời, chính phủ sẽ hạ thấp lãi suất để khuyến khích tái xây dựng và chỉ việc ra lệnh các ngân hàng cho vay theo lãi suất đó. Như thường lệ, các ngân hàng Nhật sẽ tuân theo yêu cầu của chính phủ. Lãi suất thấp có nghĩa là giá trái phiếu tăng cao.

Hơn nữa, cơn hoảng loạn trong thời gian ngắn sẽ bị lu mờ khi Nhật gọi vốn dài hạn về nước. Các công ty Nhật có nguồn tài chính đầu tư vô cùng to lớn ở châu Âu và Hoa Kỳ. Dần dần, họ sẽ rút vốn đó ra và chuyển về nước, hàn gắn những vết thương của họ, sửa chữa nhà máy và bảo vệ cổ phiếu của họ. Điều đó sẽ có nghĩa thế nào?

Đối với Alexander, điều đó có nghĩa là mua đồng yên. Người Nhật sẽ mua đồng yên và bán đồng đô-la, đồng frăng, đồng mác Đức và đồng bảng Anh để làm điều đó. Đồng Yên sẽ lên giá, không chỉ vì người Nhật đang mua nó mà còn vì các nhà đầu cơ nước ngoài cuối cùng sẽ thấy người Nhật đang mua và họ sẽ đổ xô nhảy vào cùng tham gia. Nếu đồng yên đột ngột sụt giá sau trận động đất thì nó sẽ cổ vũ thêm cho Alexander, người luôn tìm cách để làm điều không mong đợi, rằng quan điểm của anh là một quan điểm có lợi. Mặt khác nếu đồng yên lên, anh có thể bán nó.

Mỗi ngày Alexander gọi điện và giải thích một điều gì đó mới mẻ. Sau vài tháng vật lộn tôi bắt đầu nắm được vấn đề. Khi Alexander treo máy, tôi lại gọi điện cho ba hay bốn nhà đầu tư và đơn thuần lặp lại như con vẹt những điều mà Alexander vừa nói. Họ sẽ nghĩ đến tôi, nếu không phải thiên tài thì ít nhất cũng phải xuất sắc. Căn cứ vào những điều tôi nói cho họ, họ đầu tư theo cách ấy. Họ kiếm được những món lãi hậu hĩnh, giống như các nhà đầu tư mà Alexander khuyên. Họ tiếp tục gọi điện lại cho tôi. Chẳng bao lâu sau, họ không còn nói với bất cứ ai ngoài tôi, thực hiện đúng theo những gì mà tôi, có nghĩa là Alexander, bảo họ làm. Điều này sớm chứng tỏ là vô vùng giá trị.

Trong khi Alexander dạy cho tôi có một thái độ nhìn nhận về thị trường thì Dash cho tôi thấy phong cách. Phần nhiều thời gian của tôi dành cho việc sử dụng điện thoại đúng phong cách, tôi muốn nói là kỹ xảo chào hàng qua điện thoại. Dash có rất nhiều kỹ xảo qua điện thoại. Khi anh ta gọi nói chuyện xã hội với khách hàng thì ngồi thẳng, còn khi gọi điện chào bán thì ngồi gập người xuống, đầu ở dưới gầm bàn. Anh ta sử dụng khoảng trống bên dưới chiếc bàn như một phòng điện thoại công cộng cách âm. Anh ta bắt đầu dùng cách kín đáo này từ thuở còn là một thằng Geek, khi anh ta không muốn đám kinh doanh dày dạn xung quanh nghe lỏm được những điều ngu xuẩn mà anh ta đang nói với khách hàng của mình.

Bây giờ thì chuyện đó đã trở thành thói quen. Tôi có thể nói khi nào Dash sắp bán một vài trăm triệu đô-la trái phiếu chính phủ, vì lúc đó nửa người trên của anh ta trông sẽ như con dao xếp trong chiếc ghế, ngực áp vào đùi, đầu rúc vào trong buồng cách âm đấy. Ngay trước khi hoàn thành vụ giao dịch đó, anh ta dùng một ngón tay của bàn tay rảnh rỗi còn lại bịt lỗ tai và nói thật nhanh với giọng trầm trầm nhỏ nhỏ. (Một trong những khách hàng của anh ta đặt cho anh ta biệt danh là Dash “Thì thầm”). Rồi đột nhiên, anh ta bật lên, ấn vào cái nút tạm cắt âm trên ống nghe và thét lớn: “Hê, New York… New York... Giải quyết xong rồi… từ tháng Mười 92 đến tháng Chín 93, một trăm trên một trăm mười… Ừ… một trăm triệu trên một trăm mười triệu.” Bất cứ lúc nào anh ta chui ra khỏi chỗ ẩn náu đó mà không bán được trái phiếu thì tôi hiểu rằng anh ta vừa nói chuyện với bà mẹ. Nói chuyện với bà mẹ không phải là điều hay ho trên tầng giao dịch.

Tôi học điệu bộ di chuyển của Dash trên điện thoại và ở tầng giao dịch như một đứa bé bị nhiễm thói cầu kỳ của một bà mẹ. Tôi không có mốc nào khác để so sánh nữa. Tôi sớm thấy chính mình rồi cũng trông như con dao xếp trong chiếc ghế, nhai bút chì ở góc miệng, ngón tay nút tai, nói chuyện quá nhanh và khẽ khiến khách hàng không theo nổi, nhìn chung trông tôi giống hệt Dash. Thực tế đó là một hiện tượng diễn ra khắp tầng giao dịch khi càng ngày càng có nhiều thằng Geek hơn: các toán nhỏ gồm những người không có kinh nghiệm bắt chước những nhân vật thành công nhất. Khi bộ phận chúng tôi tăng từ 5 lên 10 người, nó càng ngày càng giống Dash Riprock.

Dash là Dash, Alexander là Alexander. Tôi là đồ dởm, một sự kết hợp những nét mà tôi cảm thấy đúng là thuộc cả hai nhân vật này. Và lời tôi muốn biện hộ, chỉ có thể nói rằng tôi đúng là một đồ dởm rất ngon lành. Rằng tôi cũng có một phẩm chất hữu ích mà không ai trong hai giáo viên của tôi có được: độc lập khỏi công việc và công ty. Tôi cho rằng nó xuất phát từ việc kiếm được chỗ làm nhờ một người gây quỹ ở Cung điện St. James hoặc có lẽ từ việc có một nguồn thu nhập khác (khi đang ở Salomon Brothers, tôi còn là một nhà báo vào ban đêm và những ngày nghỉ cuối tuần). Dù thế nào thì nó cũng hết sức hữu ích trong nghề nghiệp non trẻ của tôi, bởi nó khiến tôi không bị sợ hãi. Lợi thế của tôi cũng giống như sự liều lĩnh táo bạo của một người khi đang lái một chiếc xe thuê trên đường phố tắc nghẽn. Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra chỉ là bị mất chiếc xe thuê mà thôi, và mặc dù tôi không săn đón số phận đó, nhưng suy nghĩ về tình huống mất việc không khiến tôi lo lắng nhiều bằng “những kẻ bị tù chung thân” như Dash Riprock. Không thể nói rằng tôi không thận trọng, tôi hết sức cẩn thận. Tôi cố gắng hơn hầu hết mọi người và do vậy đạt được sự hài lòng. Nhưng tôi sẵn sàng liều lĩnh nhiều hơn nếu tôi đã cảm thấy sự độc lập về nghề nghiệp. Chẳng hạn, tôi sẵn sàng không tuân lệnh cấp trên của mình, điều đó khiến họ ngạc nhiên và nhanh chóng để ý đến tôi hơn so với khi tôi là một tên lính ngoan ngoãn tuân lệnh.

Nhờ định hướng của Dash và Alexander, tôi được trang bị các phương pháp kiếm tiền hợp lý, một giọng chào hàng thuyết phục, một vẻ ngoài đúng phong cách của tầng giao dịch, công việc tiến triển nhanh chóng – nếu không nói là rất trôi chảy. Một số nhà đầu tư nhỏ đến chỗ tôi theo cách giống tay người Đức không may mắn trước đây. Tôi đã có thể thuyết phục họ nên vay những món tiền lớn và hãy đầu cơ.

Với mọi âm điệu ầm ĩ mà người ta nói về sự nguy hiểm của trái phiếu thứ cấp và việc đòn bẩy tài chính quá cao của nền công nghiệp Hoa Kỳ, một điều kỳ lạ là người ta không chú ý nhiều tới sự đòn bẫy hàng ngày diễn ra trong phạm vi danh mục đầu tư của các nhà đầu tư. Chẳng hạn, tôi muốn khách hàng mua trái phiếu AT&T với trị giá 30 triệu đô-la. Cho dù vị khách hàng đó không có tiền mặt, anh ta có thể dùng trái phiếu AT&T để thế chấp và vay tiền của Salomon Brothers rồi mua chính các trái phiếu ấy. Chúng tôi là một sòng bạc với đủ mọi dịch vụ – thậm chí một khách hàng không cần đến tiền để đánh bạc trong ngôi nhà của chúng tôi. Điều này có nghĩa rằng thậm chí những khách hàng với món tiền nhỏ cũng có thể được chấp nhận để tiến hành các thương vụ lớn. Vì tôi chưa có các nhà đầu tư lớn muốn làm ăn lớn và tên tôi chưa được réo rắt trên sàn giao dịch, tôi đã phải trở nên thành thạo với trò đòn bẫy hóa.

Thành công nối tiếp thành công. Rất nhanh chóng, ban quản trị Salomon hướng tôi đến khách hàng của các tay kinh doanh khác, hy vọng rằng với khách hàng lớn hơn, tôi có thể thực hiện những thương vụ khổng lồ. Đến tháng 6 năm 1986, sáu tháng sau khi bước vào nghề kinh doanh, tôi đã được kết nối tới vũng tiền lớn nhất châu Âu. Ở đầu dây điện thoại bên kia, vào lúc đỉnh điểm của tôi (khi tôi rời Salomon), các nhà đầu tư này đang quản lý khoảng 50 tỷ đô-la. Họ nhanh, nhạy cảm, linh hoạt và giàu có. Tôi đã dựng được sòng bạc nhỏ với đầy đủ dịch vụ của riêng mình và hoạt động rất sôi nổi; vào thời điểm tốt đẹp nhất, nó kiếm được khoảng 10 triệu đô-la/năm trong doanh thu không có rủi ro cho Salomon Brothers. Người ta bảo chúng tôi rằng mỗi một ghế trên tầng giao dịch đáng giá 600.000 đô-la. Nếu điều đó đúng, thì hoạt động kinh doanh độc lập của tôi đang sinh lãi hơn 9 triệu đô-la/năm. Dần dần tôi không còn băn khoăn về việc tôi sẽ kinh doanh ra sao vì tôi đang kiếm nhiều hơn số tiền lương tôi được trả.

Tôi sớm có được khách hàng tại London, Paris, Geneva, Zurich, Monte Carlo, Madrid, Sydney, Minneapolis và Palm Beach. Trong giới Salomon Brothers, người ta cho rằng tôi đang nói chuyện với những đồng tiền khôn khéo nhất trên thị trường, nếu không tính tới các nhà quản lý quỹ ở New York. Với một ý tưởng quay vòng đồng tiền tốt, tôi có thể luôn luôn luân chuyển nửa tỷ đô-la, chẳng hạn bằng cách chuyển nó ra khỏi thị trường chứng khoán Mỹ và đổ vào thị trường trái phiếu Đức. Về dài hạn, không nghi ngờ gì, các thị trường đều sẽ tuân theo các quy luật kinh tế căn bản. Nếu Mỹ cứ để thâm hụt mậu dịch kéo dài thì đồng đô-la cuối cùng sẽ tụt giá, nhưng về ngắn hạn đồng đô-la chuyển động kém hợp lý hơn. Nỗi sợ hãi và, trong chừng mực nào đó, cùng lòng tham lam là những thứ làm cho đồng tiền xoay chuyển. Khi theo dõi dòng tiền, tôi bắt đầu phải suy đoán trước vòng quay tiếp theo của nó và quản lý một số trong khoản 50 tỷ đô-la của tôi trước ngọn sóng sắp tới.

Tóm lại, tôi đang làm ăn rất khá. Tôi không còn cảm giác như một thằng Geek nữa khi các tay giao dịch Salomon bắt đầu hỏi xin lời khuyên. Vào thời gian đó, giữa năm 1986, do may mắn nhiều hơn là tài năng, tôi đã trút khỏi cái xác của một thằng Geek. Tôi trở thành nhân viên kinh doanh chính thức và bình thường của Salomon. Không có sự kiện nào đánh dấu sự thay đổi ấy. Tôi hiểu rằng tôi không còn là một thằng Geek nữa chỉ bởi vì mọi người không còn gọi tôi là “thằng Geek” và bắt đầu thay vào đó là Michael, tôi thích vậy hơn. Dù sao chăng nữa, vẫn có sự khác biệt giữa chuyện này với chuyện được gọi là một Big Swinging Dick. Tôi thì không phải là một Big Swinging Dick. Cuộc hành trình từ một thằng Geek vô dụng đến Michael mất khoảng sáu tháng trời. Còn cuộc hành trình từ Michael đến Big Swinging Dick gần như xảy ra ngay sau đó và thực hiện chỉ qua một giao dịch mà thôi.

Có một hiện tượng được biết đến ở Salomon Brothers gọi là ưu tiên. Một ưu tiên nghĩa là một số lượng khổng lồ các trái phiếu và cổ phiếu phải được bán đi bởi vì hoặc bán chúng sẽ làm cho chúng tôi giàu hơn hoặc không bán chúng sẽ khiến chúng tôi nghèo đi. Chẳng hạn, khi Texaco đang trên bờ phá sản, Salomon Brothers sở hữu các trái phiếu của công ty này với trị giá khoảng 100 triệu đô-la. Có một mối nguy hiểm thật sự là các trái phiếu này sẽ trở thành vô giá trị. Trừ phi được bán cho khách hàng, nếu không chúng sẽ là một khoản lỗ nặng đối với Salomon. Tất nhiên khi bán cho khách hàng thì khách hàng sẽ lỗ nặng. Người ta đã quyết định rằng đó là cách tốt nhất phải làm đối với các trái phiếu Texaco, vì thế nó trở nên được ưu tiên trong lực lượng kinh doanh của Salomon.

Một trong những ưu tiên lớn nhất trong thời gian tôi ở Salomon là các trái phiếu trị giá 86 triệu đô-la của một công ty phát triển bất động sản tên là Olympia & York. Từ giữa tháng 3 đến giữa tháng 6 năm 1986, các Big Swinging Dick trong hệ thống Salomon Brothers đã làm hết sức mình để bán các trái phiếu này và thất bại. Sự thất bại của chúng tôi đã khiến mọi người sửng sốt, từ vị chủ tịch Tom Strauss đến thằng Geek thấp hèn nhất tại London.

Một hôm Alexander và tôi nói chuyện với nhau qua điện thoại. Anh đang cố gắng bán các trái phiếu O&Y và rồi thất bại. Song anh lại rất tin rằng chúng vẫn có giá trị. Các trái phiếu O&Y là một ưu tiên bất thường vì không phải chúng được sở hữu bởi một tay giao dịch của Salomon Brothers, mà bởi một nhà đầu tư lớn người Ả-rập – người đã bỏ qua bản danh sách đen và giao dịch với chúng tôi. Tay Ả-rập đó đang muốn bán các cổ phiếu O&Y một cách tuyệt vọng, song lại không biết rõ về chúng lắm, và có lẽ sẽ phải bán chúng với giá rẻ.

Thứ hai là, quan điểm về trái phiếu thường dễ bị thay đổi, mà thực chất lý do cũng chẳng quan trọng hơn quan điểm về chiều dài của những chiếc váy đàn bà. Đơn giản bởi vì lúc này không ai muốn các trái phiếu O&Y, nhưng không có nghĩa rằng ba tháng sau lại chẳng ai cần chúng. Các trái phiếu O&Y là một trường hợp đặc biệt, vì chúng được thế chấp bởi một tòa nhà chọc trời ở Manhattan, thuộc sở hữu của O&Y, chứ không phải bằng uy tín của công ty đó. Nhiều nhà đầu tư tổ chức không có đủ chuyên môn để định giá giá trị bất động sản. Nhưng khi ngày càng có thêm nhiều trái phiếu được thế chấp bởi bất động sản thì các nhà đầu tư không ngừng tìm hiểu chúng.

Tất nhiên Salomon Brothers có thể mua các trái phiếu Olumpia & York cho chính mình. Nhưng Salomon không phải là một nhà đầu tư dài hạn và ý nghĩ có 86 triệu đô-la luôn nằm trên sổ sách hàng tháng, thậm chí hàng năm nếu trường hợp xấu nhất xảy ra và chẳng ai mua trái phiếu đó của chúng tôi, đã không làm cho ban quản trị của chúng tôi thích thú. Do vậy, đám nhân viên kinh doanh chúng tôi lùng sục tìm kiếm người mua, và lợi tức rất cao. Nhà đầu tư Ả-rập đó đã chào mua một khối lượng lớn trái phiếu khác với chúng tôi khi nào chúng tôi giải thoát cho ông ta khỏi trái phiếu O&Y. Sự kết hợp đó và việc chuyển được khoản trái phiếu O&Y từ tay Ả-rập sang một người chủ khác có thể mang lại lãi thực cho công ty tới 2 triệu đô-la.

Lúc này chẳng có ai mà tôi tin tưởng hoàn toàn như cách tôi tin Alexander, vì vậy tôi quyết định chia sẻ điều bí mật của tôi với anh, đó là tôi biết một người sẽ mua các trái phiếu O&Y. Tôi đã biết cách bán các trái phiếu O&Y, nhưng do còn ám ảnh bởi các trái phiếu AT&T, tôi vẫn giữ kín thông tin ấy. Nhà đầu tư mà tôi có trong đầu, một tay người Pháp, sẽ không muốn giữ chúng lâu, mà chỉ trong một thời gian đủ để các nhà đầu tư khác quên đi rằng chúng từng làm cho họ liêu xiêu. Rồi ông ta sẽ bán chúng đi.

Alexander đã giúp tôi thuyết phục chính mình rằng nếu tôi xúc tiến bán các trái phiếu này theo đúng cách, nếu tôi moi được những lời hứa của ban quản trị cấp cao rằng khách hàng của tôi sẽ không bị lừa bịp, rồi mọi người ai cũng có thể thắng, Salomon sẽ kiếm được nhiều tiền. Khách hàng của tôi cũng sẽ kiếm được chút ít tiền (đối với khách hàng, nó là rất lớn). Và tôi sẽ trở thành người hùng. Nếu có một bài học và tôi học được từ Salomon Brothers thì đó là khó có trường hợp tất cả các bên đều chiến thắng. Bản chất trò chơi là tổng lượng tiền không thay đổi. Một đô-la chạy ra khỏi túi khách hàng tức là một đô-la rơi vào túi chúng tôi và ngược lại. Nhưng đây là một trường hợp không bình thường (tôi phải tự kiểm lại mình ngay cả khi chính tôi bán các trái phiếu ấy. Bạn thấy đấy, một phần của việc bán trái phiếu cho Salomon là tự thuyết phục mình rằng một ý kiến tồi đối với Salomon lại là một ý kiến tốt đối với khách hàng). Nếu ban quản trị hứa tiến hành trái phiếu O&Y như là một sự ưu tiên rao bán trong vài tháng và chuyển chúng ra khỏi danh mục đầu tư của vị khách hàng của tôi một cách sinh lãi (nghĩa là gán chúng cho khách hàng của một ai khác), thì có thể chúng tôi – những người dũng cảm – sẽ thắng. Alexander làm những điều tưởng chừng như không thể hàng ngày, và thỉnh thoảng các cuộc nói chuyện với anh lại khiến tôi cảm thấy mình cũng có thể làm được những điều tưởng chừng như không thể: bán khoản trái phiếu ưu tiên đó, đồng thời làm cho vị khách hàng của tôi hài lòng.

Tôi đi dạo khắp sàn giao dịch London và nói chuyện với tay giao dịch chịu trách nhiệm về trái phiếu O&Y. Ông ta ngồi ngay cạnh nhân vật đặc trách về trái phiếu AT&T. Dĩ nhiên ông ta nói rằng ông ta hứa sẽ làm cho khách hàng của tôi hài lòng. “Thật tình anh có thể bán chúng được không vậy?” – ông ta nói. “Thực không? Có thực không?” Trong cặp mắt gian giảo của ông ta có một sự pha trộn giữa việc không tin tưởng các trái phiếu đó có thể bán được và lòng tham thoáng hiện lên về món lãi nếu chúng thật sự được bán. Ông ta đang hứa, ông ta đang nghĩ về món lãi. Tôi không tin ông ta. Tôi thay đổi quan điểm và tôi quyết định không bán các trái phiếu đó.

Nhưng đã quá muộn rồi. Chỉ với thái độ quan tâm đơn giản của tôi về các trái phiếu đó cũng đã làm cho cả đế chế Salomon phải nhảy vào cuộc. Các tay giao dịch xúm quanh chiếc bàn của tôi như là đang làm theo bản năng, như những chú chó đang cố giành được một nàng chó. Độ 24 giờ sau, tôi nhận được các cuộc gọi của hơn nửa chục nhân viên kinh doanh từ New York, Chicago và Tokyo. Tất cả họ đều nói một điều giống hệt các tay giao dịch: “Nào, làm ơn đi mà… Hãy giải quyết nó đi và anh sẽ là người hùng.” Cả Salomon Brothers đều cùng chung một lời và nói rất to. Chẳng ai trong số những người này, ở một cương vị, có thể làm cho tôi có được sự đảm bảo mà tôi cảm thấy mình cần phải có. Rồi chuông điện thoại lại reo, tôi nhấc lên nghe. Giọng nói ở đầu dây bên kia nghe quen quen: “Hê, thằng võ sỹ nhà nghề kia, đ. mẹ mày khỏe không vậy? Mày tưởng là mày nắm được cái cơ hội đ. mẹ này với những trái phiếu đ. mẹ này à?” Đó chính là tổ sư của ngôn ngữ “đ.mẹ” – Human Piranha.

Đấy là lần đầu tiên chúng tôi nói chuyện, và hóa ra trách nhiệm tống khứ các trái phiếu O&Y cuối cùng lại đổ lên đầu anh ta. Anh ta hứa rằng anh ta sẽ đảm bảo khách hàng của tôi không bị tổn hại và có vẻ như vô nghĩa nếu lời đó xuất phát từ kẻ khác, nhưng từ anh ta lại là vấn đề khác. Tôi biết Piranha qua việc theo dõi công việc của anh ta và qua uy tín của anh ta. Anh ta am hiểu thị trường trái phiếu rõ hơn bất cứ người nào ở Salomon Brothers. Tôi tin anh ta, tôi đã gọi điện cho Alexander và bảo anh rằng tôi sắp bán các trái phiếu đó. Anh nhanh chóng đặt tiền cược với các giám đốc điều hành trên tầng 41 rằng tôi sẽ bán các trái phiếu đó. Anh được kèo tỷ lệ 10:1. Thực là một trò giao dịch nội gián đáng nể nhất.

Rồi tôi gọi điện cho tay người Pháp của mình và bảo anh ta rằng tay Ả-rập đang hoảng sợ muốn bán tháo các trái phiếu trị giá 86 triệu đô-la này rẻ ra sao (Human Piranha gán cho tay Ả-rập đó cái tên “Kỵ sĩ cưỡi lạc đà”), chúng bị lạc mốt và bị định giá thấp hơn nhiều so với các trái phiếu tương tự khác trên thị trường thế nào, rằng nếu anh ta mua chúng và giữ chúng chừng vài tháng, khả năng sẽ xuất hiện một người mua tại Mỹ. Không có gì đặc biệt trong giọng điệu chào hàng của tôi, ngoại trừ những từ ngữ mà tôi dùng. Tôi sử dụng ngôn ngữ của nhà đầu cơ. Hầu hết các tay kinh doanh đều sử dụng ngôn ngữ của giới đầu tư, họ phân tích công ty và triển vọng của nó. Tôi chỉ nói mập mờ rằng O&Y làm ăn trong lĩnh vực bất động sản. Tôi thiết tha nhận thấy rằng cả thế giới đang đứng xếp hàng chống lại trái phiếu công ty đó. Tôi lập luận rằng chúng bị lạc mốt như vậy, chúng bắt buộc phải rẻ.

Đó là thứ ngôn ngữ mà tay người Pháp của tôi hiểu. Không như phần lớn các nhà đầu tư, tôi biết rằng anh ta sẽ mường tượng các trái phiếu trị giá 86 triệu đô-la đó như là một vụ giao dịch chớp nhoáng. Tôi coi anh ta là khách hàng tốt nhất của mình. Anh ta đã dễ trở thành khách hàng ưa thích nhất của tôi. Tôi nghĩ rằng anh ta cũng tin tôi, cho dù chúng tôi mới chỉ quen biết nhau độ bốn tháng. Và bây giờ tôi ở đây, đang bán cho anh ta một thứ mà có lẽ tôi không dám đụng vào nếu không có sự vinh quang của tôi cùng ở trong đó. Tôi hiểu rằng nó dễ sợ. Nhưng hiện tại tôi cảm thấy việc này tồi tệ hơn nhiều so với thời điểm lúc đó. Sau khi suy nghĩ kỹ càng chừng một phút, anh ta đã mua các trái phiếu O&Y trị giá 86 triệu đô-la.

Hai ngày sau, hàng loạt lá thư chúc mừng từ những điểm xa xôi trong hệ thống Salomon Brothers được gửi tới tấp đến. Đa phần các nhân vật quan trọng trong công ty gọi điện tới bày tỏ rằng họ thật vui sướng khi tay người Pháp của tôi đã mua các trái phiếu O&Y trị giá 86 triệu đô-la đó, rằng tương lai của tôi xán lạn như thế nào ở Salomon Brothers. Strauss, Massey, Ranieri, Meriwether và Voute – mỗi người đều lần lượt gọi điện cho tôi. Thật không may lúc đó tôi không ở chỗ của mình và Dash Riprock đã phải trả lời điện thoại, mặc dù chúng không phải là dành cho anh ta.

Nhưng trong cách phản ứng của Dash có điều gì đó trầm trọng. Tôi đang được đức Chúa trời ban phước. Dash đã làm tốt, song anh ta chưa bao giờ được Chúa ban phước. Tôi được thấy điều này diễn ra vài lần trong thời gian làm ở Salomon Brothers, song chưa bao giờ bị đưa vào tình trạng khùng điên đến như vậy khi tôi bán những trái phiếu chết tiệt đó. Như một định luật, lời tán dương càng nhiều cho một tay kinh doanh Salomon thì hậu quả gánh chịu của một khách hàng càng lớn. Tôi khoái chí đọc qua những đoạn viết trên tờ giấy ghi chú màu vàng dán trên bàn mình: “Tom Strauss gọi đến khen làm xuất sắc lắm”, song đằng sau đó, tôi lại e ngại cho tay người Pháp.

Cuối cùng, mùi vị ngọt ngào của giây phút ấy đã làm giảm đi nỗi quằn quại biết rằng tôi vừa mới đặt vị khách hàng yêu quý nhất của mình vào tình trạng nguy hiểm. Cú điện thoại quan trọng nhất đã đến. Nó từ Human Piranha: “Tao nghe nói rằng mày vừa bán một số trái phiếu”, tôi cố làm ra vẻ bình tĩnh về toàn bộ điều đó. Anh ta thì không. Anh ta quát vào điện thoại: “Đ.mẹ nó, quá xá khủng khiếp. Tao muốn nói rằng đ.mẹ quá xá khủng khiếp. Tao muốn nói đ.mẹ quá xá đ.mẹ khủng khiếp. Mày là một thằng Big Swinging Dick, đừng có để cho ai đó nói mày không phải.” Được gọi là một Big Swinging Dick, điều ấy khiến tôi trào nước mắt, bởi chính con người mà nhiều năm trước đây đã cho ra đời tước hiệu ấy và trong thâm tâm tôi, là người có quyền lớn nhất để phong tước đó cho tôi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.