Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 1

SỰ TRỖI DẬY CỦA HOMO PUPPY

01

Muốn hiểu về chủng người, trước tiên chúng ta cần biết mình ở đâu trong bậc thang tiến hóa, chúng ta chỉ là một loài sơ sinh, một giống loài vừa mới xuất hiện. Hãy giả định toàn bộ lịch sử sự sống trên trái đất là 1 năm thay vì 4 tỉ năm như chúng ta vẫn biết, thì mãi cho tới giữa tháng 10, vi khuẩn mới có chỗ đứng. Tận tháng 11 thì những loài động vật giống như chúng ta biết mới xuất hiện, với các mầm và cành, xương và não.

Còn loài người thì sao? Chúng ta xuất hiện vào khoảng 11 giờ đêm ngày 31 tháng 12. Sau đó, chúng ta mất một tiếng loanh quanh ở vị trí là những cư dân săn bắt, hái lượm; rồi bắt đầu phát minh ra nông nghiệp lúc 11 giờ 58 phút đêm. Còn những thứ mà chúng ta cho là “lịch sử”: kim tự tháp, lâu đài, các hiệp sĩ, công nương, máy hơi nước và tên lửa… diễn ra vào 60 giây cuối cùng trước nửa đêm.

Trong chớp mắt, Homo sapiens (người tinh khôn) cư trú trên khắp mặt đất, từ những lãnh nguyên lạnh lẽo nhất tới những sa mạc nóng nhất. Thậm chí, chúng ta trở thành giống loài đầu tiên vượt ra khỏi hành tinh để đặt chân lên mặt trăng.

Nhưng tại sao lại là chúng ta? Tại sao phi hành gia đầu tiên lại không phải là một quả chuối? Một con bò? Hay một con tinh tinh?

Những câu hỏi trên nghe có vẻ thật ngớ ngẩn. Tuy nhiên, có một điều mà chúng ta cần lưu ý đó là, chúng ta giống quả chuối tới 60%, giống bò tới 80% và giống tinh tinh tới 99%. Tại sao chúng ta uống sữa bò thay vì chúng uống sữa của chúng ta? Tại sao chúng ta lại nhốt tinh tinh vào lồng thay vì ngược lại? Tại sao chỉ 1% lại tạo ra sự khác biệt lớn như vậy?

Suốt một thời gian dài, chúng ta tự cho mình đặc quyền là đứa con của Thượng Đế. Loài người giỏi hơn, khôn ngoan hơn và ưu việt hơn so với mọi giống loài khác – là đỉnh cao trong công trình sáng tạo của Thượng Đế.

Chúng ta hãy hình dung khoảng 10 tỉ năm trước (khoảng ngày 30 tháng 12), một sinh vật lạ ghé thăm Trái đất. Liệu chúng có dự đoán được sự lớn mạnh của Homo sapiens không? Không thể. Loài Homo còn chưa xuất hiện. Trái đất là một hành tinh của loài vượn theo đúng nghĩa đen, và chắc chắn không có ai xây dựng các thành phố, viết sách hay phóng tên lửa.

Sự thật không mấy dễ chịu là chúng ta – những sinh vật tự cho mình là giống loài thượng đẳng – lại là sản phẩm của một quá trình khó mà gọi là tiến hóa. Chúng ta thuộc về một đại gia đình của những sinh vật đầy lông lá, hay còn được gọi là động vật linh trưởng. Thậm chí, vào mười phút trước lúc nửa đêm, vẫn có những loài người khác gần giống chúng ta tồn tại.[1] Và rồi những giây cuối cùng họ đã biến mất một cách đầy bí ẩn.

Tôi nhớ rất rõ lần đầu tiên khi tôi bắt đầu hiểu được ý nghĩa của sự tiến hóa. Khi đó tôi 19 tuổi và đang nghe bài giảng của Charles Darwin trên iPod của mình. Suốt tuần sau đó, tôi cảm thấy cực kì chán nản. Chắc chắn, tôi đã được học về nhà khoa học người Anh này khi còn bé, nhưng tôi theo học một trường Kitô giáo và ở đó các giáo viên sinh học trình bày về thuyết tiến hóa như một lý thuyết lập dị. Tuy không hẳn là thế, nhưng sau này tôi đã hiểu được như vậy.

Những thành tố cơ bản cho quá trình tiến hóa bao gồm:

Rất nhiều khổ ải.

Rất nhiều đấu tranh.

Rất nhiều thời gian.

Tóm lại, quá trình tiến hóa diễn ra như sau: các loài động vật sinh đẻ nhiều hơn khả năng mà chúng có thể nuôi được. Những loài thích nghi tốt hơn với môi trường (lông dày hơn hoặc ngụy trang tốt hơn) thường có cơ hội sống sót và sinh sản cao hơn. Bạn hãy thử hình dung một trò chơi nghe thì có vẻ rất nhân đạo là chạy tiếp sức cho tới chết, trong đó hàng tỉ sinh vật kiệt sức, một số chết trước khi chúng có thể truyền cây gậy cho hậu duệ của chúng. Việc duy trì cuộc thi này đủ dài – tức là 4 tỉ năm – và những thay đổi rất nhỏ giữa cha mẹ và con cái, đã tạo ra một cây sự sống khổng lồ, đa dạng.

Vậy đấy. Đơn giản, nhưng đủ nổi bật.

Nhà sinh vật học Darwin – người từng có ý định trở thành một tu sĩ – không có khả năng dung hòa sự tàn khốc của tự nhiên với câu chuyện Sáng thế trong Kinh Thánh, cuối cùng đã hủy hoại niềm tin của ông vào Chúa. Hãy xem những tài liệu ông để lại, chẳng hạn ông viết: loài ong bắp cày kí sinh là loài côn trùng đẻ trứng lên một con sâu còn sống. Khi nở ra, ấu trùng ong đã ăn con sâu từ bên trong, gây ra một cái chết đau đớn kéo dài và kinh khủng cho con sâu đó.

Liệu có loại tư duy nào nghĩ ra được những điều khủng khiếp như điều mà Darwin mô tả trên đây không?

Không ai cả. Không có kẻ chủ mưu, không có một bản thiết kế xuất chúng. Đau đớn, khổ ải và đấu tranh đơn thuần là những cỗ máy của tiến hóa. Liệu bạn có thể trách Darwin vì đã trì hoãn việc công bố công trình nghiên cứu của mình suốt nhiều năm không? Khi viết thư cho một người bạn về những nghiên cứu của mình, Darwin giống như đang “thú nhận một vụ giết người”.[2]

Kể từ đó, thuyết tiến hóa dường như không có gì thú vị hơn. Năm 1976, nhà sinh vật người Anh là Richard Dawkins đã công bố kiệt tác của mình về vai trò của bộ gen trong quá trình tiến hóa của sự sống với tiêu đề hết sức ấn tượng Gen vị kỉ. Tuy nhiên, đó lại là một tác phẩm đáng thất vọng. Có phải bạn giao phó cho Mẹ Thiên nhiên và phó mặc để bà ấy làm cho thế giới này trở thành nơi tốt đẹp hơn? Dawkins nói rõ: Đừng cố nín thở, “chúng ta hãy cố gắng dạy về sự rộng lượng và lòng vị tha, vì chúng ta vốn ích kỉ ngay từ khi mới sinh ra”.[3]

Bốn mươi năm sau khi xuất bản, độc giả Anh bình chọn Gen vị kỉ là cuốn sách khoa học có ảnh hưởng nhất từng được viết ra.[4] Tuy nhiên, rất nhiều độc giả cảm thấy thất vọng khi đọc những dòng cuối. Một độc giả nhận xét: “Nó thể hiện quan điểm bi quan nhất về bản chất con người… tuy nhiên tôi không thể đưa ra bất kì luận điểm nào để bác lại quan điểm mà cuốn sách đưa ra”. Hoặc một độc giả khác lại viết: “Tôi ước gì mình chưa bao giờ đọc nó”.[5]

Vậy là chúng ta, loài Homo sapiens, là sản phẩm của một quá trình tàn khốc và kéo dài. Trong khi 99,9% các giống loài khác đã tuyệt chủng thì chúng ta vẫn đang đứng đây. Chúng ta chinh phục hành tinh và – ai mà biết được chứ – tiếp theo là chinh phục cả dải Ngân hà thì sao!

Nhưng tại sao lại là chúng ta?

Có thể bạn cho rằng, vì bộ gen của chúng ta là bộ gen ích kỉ nhất trong số tất cả giống loài trên mặt đất hoặc vì chúng ta mạnh mẽ và khôn ngoan, tinh gọn và xấu xa. Nhưng có phải vậy không? Chúng ta mạnh mẽ ư? Không, không hẳn vì một con tinh tinh có thể hạ gục chúng ta mà chẳng toát một giọt mồ hôi nào; một con bò dễ dàng húc ngã chúng ta chỉ với cặp sừng nhọn. Khi mới sinh, chúng ta hoàn toàn vô lực, thậm chí khi trưởng thành chúng ta vẫn là những kẻ yếu đuối, chậm chạp, còn không giỏi cả một việc rất đơn giản là trèo cây.

Vậy lý do là chúng ta thông minh hơn chăng? Xét theo bề ngoài, bạn có thể nghĩ vậy. Homo sapiens có một bộ não lớn, tiêu tốn năng lượng giống như một phòng tắm hơi ở Bắc Cực. Bộ não chỉ chiếm 2% trọng lượng cơ thể chúng ta nhưng lại tiêu tốn đến 20% lượng calo mỗi ngày.[6]

Quay lại với câu hỏi: Loài người có thực sự vượt trội? Để làm một phép tính khó hay vẽ một bức tranh đẹp, trước đó chúng ta phải học được kĩ năng đó từ một người khác. Chẳng hạn cá nhân tôi có thể đếm tới 10. Rất ấn tượng đúng không?! Chắc chắn rồi, nhưng liệu tôi có thể tự mình học được hệ thống những con số?

Suốt nhiều năm, các nhà khoa học đã cố gắng nghiên cứu xem trong tự nhiên loài động vật nào có trí thông minh cao nhất. Quy trình chuẩn là so sánh trí thông minh của chúng ta với các loài linh trưởng khác như đười ươi hoặc tinh tinh. Thường thì, đối tượng nghiên cứu sẽ là trẻ nhỏ, vì chúng ít biết đến “đạo văn” hơn người lớn. Một nhóm học giả người Đức đã thiết kế ra bài nghiên cứu thú vị gồm chuỗi 38 bài kiểm tra, nhằm đánh giá các chủ thể về: nhận thức không gian, làm toán và quan hệ nhân quả.[7] Biểu đồ dưới dưới đây là kết quả nghiên cứu đã thu được.

Thật sự loài người thông minh đến mức nào?

Điểm số của ba bài kiểm tra trí thông minh

Thật bất ngờ, trẻ em có số điểm giống như các loài động vật khác trong vườn thú, thậm chí còn tệ hơn thế. Hóa ra bộ não làm việc cũng như xử lý thông tin của chúng ta – vốn dĩ được coi như một trong những viên đá nền móng cho trí thông minh loài người – lại không giúp chúng ta giành được bất kì giải thưởng nào.

Một nhóm các nhà nghiên cứu tại Nhật Bản đã chứng minh được điều này khi họ xây dựng một bài kiểm tra nhằm so sánh trí thông minh giữa người trưởng thành với tinh tinh. Các đối tượng thử nghiệm được bố trí ngồi trước một màn hình hiện lên một dãy số (từ 1 đến 9). Sau một thời gian nhất định – chưa đầy một giây – các con số được thay bằng những ô vuông màu trắng. Các đối tượng được hướng dẫn gõ vào các ô những số đã xuất hiện trước đó, theo trật tự từ thấp đến cao.

Trong bài kiểm tra này Đội người trưởng thành đã đánh bại Đội tinh tinh. Tuy nhiên khi các nhà khoa học nâng bài kiểm tra lên mức khó hơn – để các con số biến mất nhanh hơn – thì bất ngờ đội tinh tinh đã vượt lên. Kẻ được mệnh danh Einstein của Đội tinh tinh, Ayuma, nhanh hơn hẳn những đối tượng tham gia khác và cũng mắc lỗi ít hơn.[8]

Kết quả trên giúp chúng ta dễ dàng nhận ra sức mạnh tự nhiên của bộ não con người cũng không hơn gì những người anh em họ hàng lông lá của chúng ta. Vậy chúng ta sử dụng bộ não to lớn của mình vào việc gì?

Có thể do chúng ta tinh quái hơn chăng? Đó chính là điểm mấu chốt của giả thuyết “trí thông minh Machiavelli”✻, được đặt theo tên của triết gia người Ý sống ở thời kì Phục Hưng, Niccolò Machiavelli, đồng thời là tác giả cuốn The Prince✻. Trong cuốn cẩm nang dành cho các nhà chính trị, Machiavelli khuyên họ cần thêu dệt những lời dối trá và lừa phỉnh thì mới có thể duy trì được quyền lực. Những người ủng hộ thuyết này cho rằng đó chính xác là những gì chúng ta vẫn làm trong hàng triệu năm qua: nghĩ ra những cách ngày càng sáng tạo để lừa gạt nhau. Vì việc nói dối tiêu tốn nhiều năng lượng nhận thức hơn là trung thực, nên bộ não của chúng ta phình ra như những kho vũ khí hạt nhân của Nga và Hoa Kỳ thời Chiến tranh Lạnh. Kết quả của cuộc chạy đua vũ trang về tinh thần này là bộ não chúng ta trở nên siêu đẳng và khôn ngoan hơn.

Nếu giả thuyết này là đúng, bạn nghĩ con người dễ dàng đánh bại các loài linh trưởng khác trong những trò chơi đánh lừa đối thủ đến thế ư? Tuy nhiên chúng ta đâu may mắn đến vậy. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy loài tinh tinh có số điểm vượt chúng ta trong những bài kiểm tra này và con người thường là những kẻ nói dối rất vụng về.[9] Không chỉ vậy, chúng ta còn bị dắt mũi để tin nhau, điều này giải thích làm thế nào những kẻ lừa gạt có thể ăn lận điểm số.[10]

Điều này giúp tôi nhận ra một điểm kì quặc khác của loài Homo sapiens. Machiavelli, trong tác phẩm kinh điển của ông, đã khuyên rằng đừng bao giờ để người khác nhìn thấy cảm xúc của bạn, hãy tạo ra một khuôn mặt lạnh như tiền; xấu hổ chẳng giúp ích được gì cho mục đích. Mục đích ở đây là chiến thắng, và chiến thắng bằng phương tiện công bằng hoặc ăn gian thì tùy bạn. Nhưng nếu chỉ có kẻ trơ tráo mới chiến thắng thì tại sao loài người lại là giống loài duy nhất trong cả vương quốc động vật biết đỏ mặt?

Theo Charles Darwin thì đỏ mặt chính là “biểu hiện đặc biệt và thể hiện tính con người nhất”. Để biết liệu hiện tượng này có phổ biến không, ông đã gửi thư hỏi tất cả bạn bè trong và ngoài nước, các nhà truyền giáo, thương nhân, và quan chức thuộc địa.[11] Và tất cả họ đều trả lời rằng họ cũng như những người quanh họ đều biết đỏ mặt.

Nhưng tại sao? Tại sao đỏ mặt lại không bị biến mất trong quá trình tiến hóa?

02

Tháng 8 năm 1856, tại một mỏ đá vôi phía bắc Cologne, hai công nhân đã có một phát hiện hiếm có. Họ tìm thấy bộ xương của một trong những sinh vật gây tranh cãi nhất từng dạo chơi trên Trái đất.

Thực ra hai người công nhân đó đã không nhận ra điều gì khác lạ. Trong quá trình làm việc, những công nhân vẫn thường tìm thấy xương của gấu hoặc linh cẩu và họ chỉ việc quẳng chúng đi. Nhưng lần này, người đốc công đã chú ý đến chỗ xương nằm trong đống phế thải và ông cho rằng đó có thể là xương của một con gấu hang, vậy là ông ấy quyết định sẽ tặng bộ xương đó như một món quà thú vị cho Johann Carl Fuhlrott, một giáo viên khoa học ở trường trung học địa phương. Giống như nhiều người khác ở thời trước khi có Netflix, Fuhlrott cũng say mê sưu tầm các hóa thạch.

Khi quan sát chỗ xương, Fuhlrott nhận ra đây không phải là xương bình thường. Ban đầu ông nghĩ đó là xương của con người, nhưng có gì đó không đúng. Hộp sọ của nó trông rất lạ, nghiêng và thuôn dài, gờ lông mày nhô ra và mũi khá lớn.

Cũng trong tuần đó, báo chí địa phương đưa tin một phát hiện đáng kinh ngạc về “chủng người đầu phẳng” trong thung lũng Neander. Một giáo sư ở Đại học Bonn, Hermann Schaaffhausen, đọc được báo cáo của Fuhlrott và đã liên hệ với ông. Họ sắp xếp một cuộc gặp – một người là dân nghiệp dư còn người kia là dân chuyên nghiệp – và trao đổi những ghi chép cũng như phát hiện của mình. Một vài tiếng sau hai người đi đến thống nhất: Bộ xương thuộc về một loài người hoàn toàn khác.

“Chỗ xương này là của người antediluvian✻ (trước thời kì hồng thủy),” Fuhlrott tuyên bố.[12] Tức là, họ sống trước trận Đại Hồng thủy, điều này khiến hai nhà khoa học cho rằng đó là xương của một sinh vật sống trước cả khi Chúa nhấn chìm trái đất.

Thờ điểm đó, kết luận này đã gây ra chấn động vô cùng lớn. Nó bị coi là hoàn toàn dị giáo. Khi Fuhlrott và Schaaffhausen công bố phát hiện của họ tại một cuộc họp của Hiệp hội Khoa học và Y khoa Lower Rhine, vốn rất uy tín, thì thái độ của các nhà khoa học có mặt tại cuộc họp đó đi từ không tin đến sững sờ.[13] “Lố bịch!” một giáo sư giải phẫu học hét lớn và cho rằng đó là xương của một người Cossack Nga đã chết trong cuộc chiến tranh thời Napoleon. Người khác lại nói coi đó là vớ vẩn, chỉ là “một gã khờ hay ẩn sĩ tội nghiệp nào đó” có phần đầu bị biến dạng do bệnh tật.[14]

Nhưng sau đó, nhiều bộ xương tương tự như vậy được tìm thấy, ở châu Âu, các bảo tàng chạy đua sưu tầm và khai quật chúng, họ đã phát hiện thêm nhiều hộp sọ thuôn dài. Mới đầu, khi xem xét xương sọ một cách qua loa, các nhà khoa học cho rằng đó là những kiểu dị dạng, sau khi nghiên cứu kĩ hơn họ nhận ra đây có thể là xương của một giống người hoàn toàn khác. Ngay lập tức, đã có người đặt cho giống loài cái tên: Homo stupidus.[15] Một nhà giải phẫu học đáng kính đã giải thích: “Suy nghĩ và ước muốn của giống loài đó chưa bao giờ vượt quá những suy nghĩa và ước muốn của một kẻ hung bạo.”[16] Cách phân loại được ghi lại chi tiết trong các tài liệu lịch sử khoa học, và nhắc đến cả địa điểm tìm thấy xương là một thung lũng.

Homo neanderthalensis (Người đến từ thung lũng Neander).

Đến giờ, hình ảnh phổ biến của người Neanderthal là người cục mịch đần độn, và không khó để hiểu tại sao các nhà khoa học lại cho rằng họ có dáng vẻ như vậy. Chúng ta phải đối diện với sự thật không lấy làm thoải mái rằng, cho tới cách đây không lâu, giống loài sapien chúng ta đã phải chia sẻ hành tinh này với những giống người khác.

So sánh sọ của Homo sapiens và Homo neanderthalensis

Các nhà khoa học quả quyết rằng 50.000 năm trước, ngoài chúng ta còn có ít nhất năm chủng người khác: Homo erectus, Homo floresiensis, Homo luzonensis, Homo denisova và Homo neanderthalensis, tất cả đều là người; cũng giống như sẻ vàng, sẻ nhà và sẻ ức đỏ đều là sẻ. Vì thế bên cạnh câu hỏi tại sao chúng ta lại bắt tinh tinh vào vườn thú thay vì đối xử với nó bằng cách khác, có một bí ẩn khác: Chuyện gì đã xảy ra với “Chủng người đầu phẳng”? Chúng ta đã làm gì với các anh chị em Homo khác? Tại sao tất cả bọn họ đều biến mất?

Liệu có phải người Neanderthal yếu hơn chúng ta không? Ngược lại, họ là giống người cơ bắp cuồn cuộn, với bắp tay hệt như Popeye sau khi ăn một hộp rau chân vịt. Quan trọng hơn cả là họ mạnh mẽ. Đó là kết luận mà hai nhà khảo cổ người Mỹ đã đưa ra vào những năm 1990, sau khi phân tích một cách chi tiết các mảnh xương người Neanderthal. Việc này dẫn họ tới chỗ so sánh với một nhóm nghề nghiệp hiện đại cũng phải chịu một tỉ lệ “chạm trán đầy bạo lực” với những loài động vật lớn. Những cao bồi Rodeo.

Hai nhà khảo cổ liên hệ với Hiệp hội Cao bồi Rodeo Chuyên nghiệp – tôi không hề giỡn đâu – và nhận được một bản số liệu trong những năm 80 của thế kỉ trước ghi nhận 2.593 ca bị thương của các thành viên.[17] Khi so sánh dữ liệu này với người Neanderthal, họ phát hiện ra những điểm tương đồng đáng kinh ngạc. Sự khác biệt duy nhất ư? Người Neanderthal không cưỡi những chú ngựa bảnh bao và quăng dây để bắt các loài động vật, thay vào đó họ dùng giáo săn voi ma mút và hổ răng kiếm.[18]

Vậy nếu người Neanderthal không yếu hơn thì có lẽ họ đần độn hơn chúng ta chăng?

Tuy nhiên, sự thật còn phũ phàng hơn. Trung bình, não người Neanderthal lớn hơn 15% so với não chúng ta bây giờ: 1.500 cm³ so với 1.300 cm³. Chúng ta có thể tự hào về một bộ não cỡ đại, nhưng họ lại sở hữu bộ não siêu hạng. Nếu bộ não chúng ta là một chiếc Macbook Air thì bộ não của họ là chiếc Macbook Pro.

Khi các nhà khoa học càng tìm hiểu kĩ về người Neanderthal, họ càng tin rằng giống loài này thông minh một cách đáng kinh ngạc.[19] Họ biết nhóm lửa và nấu thức ăn. Họ chế tạo quần áo, nhạc cụ, đồ trang sức và những bức tranh vẽ trong hang động. Thậm chí có những dấu hiệu cho thấy chúng ta đã vay mượn một số sáng chế từ người Neanderthal, chẳng hạn như một số công cụ lao động bằng đá, và thậm chí cả tập quán chôn cất người chết.

Vậy tại sao người Neanderthal, với sức mạnh cơ bắp, bộ não lớn, khả năng sống sót qua cả hai kỉ băng hà lại kết thúc bằng việc bị loại khỏi Trái đất? Họ đã tìm cách tồn tại được hơn 200.000 năm, vậy tại sao cuộc chơi của người Neanderthal lại kết thúc ngay khi người Homo sapien xuất hiện trên sân khấu?

Một giả thuyết cuối nghe có vẻ xấu xa hơn nhiều.

Nếu chúng ta không khỏe hơn, can đảm hơn, khôn ngoan hơn người Neanderthal, thì có lẽ chúng ta thấp kém hơn họ chăng? Sử gia người Israel, Yuval Noah Harari suy luận rằng: “Có thể đúng là khi người Sapien chạm trán người Neanderthal, kết quả là chiến dịch thanh lọc sắc tộc đầu tiên và ý nghĩa nhất trong lịch sử đã diễn ra.”[20] Nhà địa lý đoạt giải Pulitzer, Jared Diamond đồng tình với quan điểm đó: “Những kẻ sát nhân bị kết án dựa trên bằng chứng gián tiếp cho thấy là họ yếu hơn.”[21]

03

Liệu đó có phải là sự thật? Phải chăng chính chúng ta đã loại bỏ những người anh em họ hàng của chúng ta?

Mùa xuân năm 1958, Lyudmila Trut, một nữ sinh chuyên ngành sinh vật học tại Đại học Quốc gia Moscow đã đến gõ cửa văn phòng giáo sư Dmitri Belyaev, ông là một nhà động vật học và di truyền học đang tìm kiếm người thực hiện một chương trình nghiên cứu mới đầy tham vọng. Tuy Lyudmila vẫn còn là một sinh viên nhưng đã quyết tâm tham gia vào nhóm nghiên cứu của ông.[22]

Vị giáo sư rất tốt bụng và hào hiệp. Vào thời mà thiết chế khoa học Xô Viết có thái độ kẻ cả với phụ nữ thì Dmitri lại đối xử với Lyudmila như một cộng sự ngang hàng. Và ông quyết định để cô tham gia kế hoạch bí mật của mình. Kế hoạch này buộc cô phải tới Siberia, một khu vực xa xôi gần biên giới với Kazakhstan và Mông Cổ, nơi vị giáo sư đang tiến hành thí nghiệm.

Ông nhắc nhở Lyudmila suy nghĩ kĩ càng trước khi nhận lời, bởi vì dự án này rất nguy hiểm. Thời đó, nghiên cứu di truyền bị cấm tiến hành dưới mọi hình thức ở nước Nga. Nhóm sẽ trình bày thí nghiệm với thế giới bên ngoài như là một nghiên cứu về những tấm da cáo quý giá.

Thực tế, nghiên cứu này liên quan đến một việc hoàn toàn khác. Nhiều năm sau, Lyudmila kể lại: “Thầy bảo tôi rằng ông muốn tạo ra một con chó từ một con cáo.”[23]

Điều mà nhà khoa học trẻ này không hề nhận ra là cô vừa đồng ý tham gia một cuộc tìm kiếm mang đậm chất sử thi. Cùng với nhóm nghiên cứu của mình, Dmitri Belyaev và Lyudmila Trut sẽ làm sáng tỏ nguồn gốc của nhân loại.

Họ bắt đầu bằng một câu hỏi rất khác: Làm thế nào để bạn biến một con thú săn mồi hung dữ thành vật nuôi thân thiện? Một trăm năm trước, Charles Darwin đã nhận xét rằng các loài động vật đã được con người thuần dưỡng – lợn, thỏ, cừu – có nhiều điểm tương đồng với nhau. Những loài đã được con hgười thuần dưỡng, chúng có kích thước nhỏ hơn so với tổ tiên hoang dã của chúng. Chúng có não và răng nhỏ hơn, tai cụp, đuôi quăn hoặc có lông đốm trắng. Có lẽ, điều thú vị nhất là tất cả chúng vẫn giữ được một vài đặc điểm chưa trưởng thành đến trọn đời.

Đây là một ẩn số khiến Dmitri phải băn khoăn suốt nhiều năm. Tại sao những vật nuôi tại nhà lại có vẻ bề ngoài như vậy? Tại sao rất nhiều nông dân, từ hàng trăm nghìn năm trước lại thích những con chó và lợn với cái đuôi xoăn tít, tai cụp, gương mặt non nớt và quyết định nuôi chúng vì những đặc điểm riêng này?

Một nhà di truyền học người Nga đã đưa ra một giả thuyết được cho là thuyết phục hơn. Ông nghi ngờ những đặc điểm dễ thương này đơn thuần là sản phẩm phụ của một điều gì đó khác, một sự tiến hóa xảy ra về mặt sinh học nếu sau một giai đoạn đủ dài, người nông dân kiên trì chọn các loài động vật để thuần hóa vì một phẩm chất cụ thể:

Thân thiện.

Vì thế, Dmitri đã lập ra một kế hoạch. Ông muốn mô phỏng lại trong vài thập kỉ những gì mà tự nhiên phải mất hàng thiên niên kỉ mới tạo ra được. Ông muốn biến những loài động vật hoang dã thành vật nuôi tại nhà bằng cách nuôi những cá thể dễ thương nhất. Trong nghiên cứu của mình, Dmitri chọn loài cáo bạc, một loài động vật chưa bao giờ được thuần dưỡng, hung hãn đến mức các nhà nghiên cứu chỉ có thể đụng vào chúng khi đã đeo găng dày 5 cm dài tới khuỷu tay.

Dmitri cảnh báo Lyudmila đừng quá hi vọng. Thí nghiệm sẽ mất nhiều năm, có khi cả đời nhưng chưa chắc đã thu được kết quả. Tuy nhiên Lyudmila không nghĩ ngợi gì nhiều. Vài tuần sau, cô lên chuyến tàu tốc hành xuyên Siberia.

Trại nuôi cáo mà Dmitri chọn để tiến hành nghiên cứu là một khu phức hợp rộng lớn, hàng nghìn chiếc chuồng phát ra một bản tạp âm gồm những âm thanh khác nhau. Thậm chí với tất cả những điều cô đã đọc về hành vi của loài cáo bạc, Lyudmila vẫn chưa thực sự sẵn sàng để tiếp xúc trực tiếp với những con cáo hung hãn được nuôi ở đây. Tuần đầu tiên, cô bắt đầu đi một lượt tất cả các chuồng. Đeo găng tay bảo vệ, cô thò tay vào trong để xem những con vật này phản ứng thế nào. Nếu cô cảm thấy sự ngập ngừng dù là nhỏ nhất, Lyudmila sẽ chọn con cáo đó để phối giống.

Khi hồi tưởng lại, cô nhận ra mọi việc diễn ra thật nhanh chóng!

Năm 1964, thí nghiệm phối giống đã tạo ra thế hệ thứ tư, Lyudmila phát hiện con cáo đầu tiên đã vẫy đuôi khi gặp cô. Để chắc chắn rằng bất kì hành vi nào tương tự như vậy đều là kết quả của quá trình chọn lọc tự nhiên, Lyudmila và nhóm của cô duy trì việc tiếp xúc với những con vật ở mức tối thiểu. Tuy nhiên điều đó ngày càng trở nên khó khăn: Chỉ qua vài thế hệ, lũ cáo đã cầu xin sự chú ý. Và ai nỡ xua đuổi một con cáo con khụt khịt, vẫy đuôi cơ chứ?

Trong tự nhiên, cáo sẽ trở nên hung hãn hơn khi chúng được tám tuần tuổi, nhưng những con cáo do Lyudmila chọn lọc giống thì vĩnh viễn non nớt, chúng chỉ khoái chơi đùa cả ngày. Cô đã viết: “Những con cáo được thuần dưỡng này dường như đang cưỡng lại nhiệm vụ trưởng thành.”[24]

Bên cạnh đó, loài cáo cũng có những thay đổi thể chất đáng chú ý. Tai cụp xuống. Đuôi cong lên và xuất hiện các đốm trên người. Mõm chúng ngắn hơn, xương mỏng hơn và các con đực ngày càng giống con cái. Thậm chí, lũ cáo còn bắt đầu sủa hệt như chó. Và không lâu sau, chúng đã biết phản ứng lại khi có người gọi tên chúng – một hành vi chưa bao giờ thấy ở cáo.

Xin nhớ rằng, Lyudmila không hề có ý định lựa chọn bất kì đặc điểm nào trong số chúng. Tiêu chí duy nhất của cô là sự thân thiện – tất cả những đặc tính khác chỉ là sản phẩm phụ.

Đến năm 1978, hai mươi năm sau khi thí nghiêm này bắt đầu, có nhiều thay đổi diễn ra ở Nga. Các nhà sinh vật học không còn phải che giấu nghiên cứu của họ nữa. Thuyết tiến hóa không còn mang âm mưu của giới tư bản nữa, và Bộ Chính trị Nga đã quyết tâm thúc đẩy nền khoa học của nước nhà.

Vào tháng 8 năm đó, Dmitri đã tìm cách sắp xếp để Đại hội Quốc tế Di truyền học được tổ chức tại Moscow. Khách mời được tiếp đón tại Điện Kremlin – với sức chứa lên đến 6.000 người – với sâm panh miễn phí cùng món trứng cá muối.

Tuy nhiên, những điều đó không gây ấn tượng cho các nhà khoa học bằng bài phát biểu của Dmitri. Sau phần giới thiệu ngắn gọn, ánh đèn mờ đi và một đoạn phim bắt đầu được chiếu. Trên màn hình nhảy ra một sinh vật khác thường: một con cáo bạc đang vẫy đuôi. Cả khán phòng không ngớt tiếng ồ lên đầy kinh ngạc, tiếng lầm rầm đầy phấn khích vẫn tiếp tục vang lên ngay cả sau khi đèn sáng trở lại.

Nhưng Dmitri vẫn chưa kết thúc bài phát biểu của mình. Trong vòng một tiếng tiếp theo, ông trình bày ra ý tưởng mang tính cách mạng của mình. Ông nghi ngờ rằng, những thay đổi ở lũ cáo có liên quan đến vấn đề hoóc-môn. Những con cáo càng thân thiện, sản xuất ra càng ít hoóc-môn căng thẳng và nhiều serotonin (hoóc-môn hạnh phúc) và oxytocin (hoóc-môn yêu thương).

Điều cuối cùng Dmitri nói trước khi kết thúc bài phát biểu đó là điều này không chỉ xảy ra ở loài cáo, mà “dĩ nhiên, có thể xảy ra ở cả loài người.”[25]

Dmitri Belyaev cùng những con cáo bạc của mình tại Novosibirsk, năm 1984. Dmitri qua đời một năm sau đó, nhưng chương trình nghiên cứu của ông vẫn được tiếp tục duy trì cho tới nay. Nguồn ảnh: Alamy.

Khi nhìn lại, đó quả là một tuyên bố có tính lịch sử.

Hai năm sau khi Richard Dawkins xuất bản cuốn sách bán chạy về các gen vị kỉ và đưa ra kết luận rằng con người “sinh ra vốn ích kỉ”, giờ đây một nhà di truyền học vô danh của Nga phản biện lại lập luận này với những bằng chứng đanh thép. Lý thuyết của Dmitri Belyaev cho rằng con người là loài vượn thuần hóa. Trong hàng vạn năm, những con người dễ chịu nhất sinh ra nhiều con nhất. Quá trình tiến hóa của giống loài chúng ta, tóm lại là dựa vào “sự tồn tại của những cá thể thân thiện nhất”.

Nếu lý thuyết của Dmitri là đúng thì cơ thể của chúng ta chắc chắn vẫn còn những manh mối để chứng minh lý thuyết này là đúng. Giống như lợn, thỏ và giờ là cáo bạc, con người trở nên nhỏ nhắn và dễ thương hơn.

Dmitri không có cách gì thử nghiệm giả thuyết của ông, nhưng kể từ đó khoa học đã có thêm nhiều hướng nghiên cứu mới. Vào năm 2014, khi một nhóm các nhà khoa học Mỹ bắt đầu nghiên cứu hộp sọ người qua các thời kì trong hơn 200.000 năm qua, họ đã phát hiện ra một mẫu thức.[26] Họ thấy rằng khuôn mặt và cơ thể con người mềm mại, trẻ trung và nữ tính hơn. Bộ não của chúng ta thu gọn lại ít nhất 10%, răng cũng như xương hàm của chúng ta – theo thuật ngữ giải phẫu học – trở nên paedomorphic (thiếu niên), nói một cách đơn giản là giống trẻ con hơn.

Thậm chí, nếu bạn so sánh đầu mình với đầu người Neanderthal thì sự khác biệt còn trở nên rõ ràng hơn. Sọ của chúng ta ngắn và tròn hơn, với gờ lông mày nhỏ và thấp hơn. Chó giống với chó sói thế nào thì chúng ta với người Neanderthal cũng như thế.[27] Và cũng như loài chó trưởng thành trông giống với sói con thế nào thì con người tiến hóa trông cũng giống như khỉ con vậy.

Sau đây chúng ta hãy gặp giống Homo puppy.

Khoảng năm vạn năm trước, sự biến đổi về hình thức bên ngoài của chúng ta bắt đầu tăng tốc. Thật hấp dẫn, đó cũng là quãng thời gian người Neanderthal biến mất và chúng ta tiến tới một bước chuyển quan trọng trong việc phát minh ra những công cụ lao động mới – như đồ đá sắc bén hơn, dây câu, cung và tên, thuyền độc mộc và những bức tranh hang động. Tuy nhiên, những phát minh đó không có ý nghĩa về mặt tiến hóa. Con người yếu đuối, dễ tổn thương và trẻ con hơn. Bộ não của chúng ta dần nhỏ đi, nhưng thế giới của chúng ta lại phức tạp hơn.

Với những đặc điểm đó thì như thế nào và làm thế nào mà giống Homo puppy lại có thể chinh phục được thế giới?

04

Còn ai trả lời câu hỏi này tốt hơn một chuyên gia về chó? Lớn lên ở Atlanta trong những năm 1980, Brian Hare rất mê chó. Ông quyết định theo đuổi ngành sinh vật học, chỉ để phát hiện rằng các nhà sinh vật học không mấy hứng thú đến loài chó. Suy cho cùng, loài chó có thể dễ thương đấy, nhưng chúng không quá thông minh.

Tại trường đại học, Brian tham dự lớp học của Michael Tomasello, một giáo sư ngành tâm lý học phát triển sau này trở thành người hướng dẫn và đồng nghiệp của ông. Nghiên cứu của Tomasello tập trung vào tinh tinh, một loài được cho là thú vị hơn chó. Vào năm hai đại học, khi Brian 19 tuổi, anh làm ở vị trí hỗ trợ quản lý trong một dự án về trí thông minh của giáo sư Tomasello.

Đó là bài kiểm tra tìm kiếm đồ vật kinh điển, trong đó một món khoái khẩu được giấu đi và các đối tượng tham gia nghiên cứu được cung cấp gợi ý về nơi cất giấu. Những đứa trẻ lẫm chẫm biết đi đã vượt được qua bài kiểm tra này, nhưng tinh tinh thì lúng túng. Cho dù giáo sư Tomasello và các sinh viên của ông có chỉ rõ chỗ họ giấu một quả chuối thì những con tinh tinh vẫn không thể tìm thấy.

Sau khi mất thêm một ngày dài khoa chân múa tay, Brian thốt lên, “Em nghĩ con chó của em có thể làm được.”

“Chắc chắn”, giáo sư Tomasello cười khan.

Brian khăng khăng: “Không! Em nói thật đấy. Em cược là nó có thể qua được các bài kiểm tra dạng này.”[28]

Hai mươi năm sau, khi Brian Hare trở thành một giáo sư về nhân chủng học tiến hóa, ông đã tiến hành một loạt thí nghiệm tỉ mỉ, và chứng minh rằng loài chó đặc biệt thông minh. Thậm chí, trong một số trường hợp chúng còn khôn hơn cả tinh tinh (bất chấp bộ não của chó nhỏ hơn tinh tinh).

Mới đầu, các nhà khoa học không hiểu điều này. Làm thế nào chó lại có đủ trí thông minh để vượt qua bài kiểm tra tìm kiếm đồ vật cơ chứ? Chắc chắn chúng không thừa hưởng bộ não từ tổ tiên sói của mình, bởi vì sói đạt điểm số rất kém trong bài kiểm tra của Brian, chỉ ngang đười ươi và tinh tinh. Và chúng cũng không thể học được sự thông minh từ chủ nhân của mình, bởi vì chó con có thể vượt qua bài kiểm tra khi mới 9 tuần tuổi.

Nhà linh trưởng học Richard Wrangham, đồng nghiệp và cố vấn của Brian, gợi ý rằng trí thông minh của chó có thể tự gia tăng, như một sản phẩm phụ tình cờ như các đặc điểm đuôi xoăn và tai cụp. Nhưng Brian không chấp nhận điều đó; làm sao một đặc điểm mang tính chất công cụ như trí thông minh xã hội, lại có thể là một sự tình cờ được? Thay vào đó, nhà sinh vật học ngờ rằng tổ tiên của chúng ta đã chọn lọc lai tạo những con chó khôn nhất.

Chỉ có một cách để Brian kiểm chứng nghi ngờ của mình. Đã đến lúc thực hiện một chuyến tới Siberia. Nhiều năm trước, Brian đã đọc được một báo cáo khó hiểu của một nhà di truyền học người Nga công khai nghiên cứu biến cáo thành chó. Lúc Brian bước chân khỏi tàu tốc hành xuyên Siberia, năm 2003, Lyudmila và nhóm của bà đã phối giống được 45 thế hệ cáo bạc. Brian là nhà khoa học nước ngoài đầu tiên nghiên cứu cáo bạc, và ông bắt đầu với bài kiểm tra tìm kiếm đồ vật.

Nếu giả thuyết của ông là đúng thì những con cáo thân thiện và những con hung hăng sẽ trượt bài kiểm tra với mức điểm ngang nhau, bởi vì Dmitri và Lyudmila phối giống chúng dựa trên sự thân thiện, không phải trí thông minh. Nếu nhà linh trưởng học Richard đúng, và trí thông minh là một sản phẩm phụ ngẫu nhiên tình cờ của sự thân thiện, thì có nghĩa là những con cáo được lựa chọn phối giống sẽ vượt qua bài kiểm tra với kết quả cao.

Đó là một câu chuyện dài nhưng tóm gọn lại là: kết quả ủng hộ thuyết sản phẩm phụ và cho thấy dự đoán của Brian là sai. Thế hệ gần nhất của những con cáo thân thiện không chỉ vô cùng tinh khôn, mà còn khôn hơn những đồng loại hung hăng của chúng. Như Brian chia sẻ: “Lũ cáo đã làm thế giới của tôi hoàn toàn chao đảo.”[29]

Cho tới tận khi Brian tiến hành thí nghiệm, chúng ta vẫn cho rằng sự thuần hóa khiến trí thông minh bị giảm đi đáng kể, hiểu đúng theo nghĩa đen là làm giảm chất xám, và quá trình ấy đồng thời triệt tiêu cả những kĩ năng cần thiết để sống sót trong thế giới hoang dã. “Ranh như cáo” hay “ngu như bò” hoàn toàn là những câu sáo rỗng. Sau chuyến đi đó, Brian đã đưa ra một kết luận hoàn toàn khác: “Nếu bạn muốn một con cáo khôn ngoan thì đừng chọn những con khôn ranh mà hãy chọn những con thân thiện.”[30]

05

Câu chuyện này đưa chúng ta trở lại câu hỏi tôi nêu ở đầu chương. Điều gì làm cho loài người độc nhất vô nhị? Tại sao chúng ta lại xây dựng các bảo tàng trong khi người Neanderthal thì bị đặt trong những tủ trưng bày?

Hãy xem kết quả của 38 bài kiểm tra được thực hiện với động vật linh trưởng và trẻ nhỏ. Những gì tôi không chú ý đề cập trước đó là các chủ thể cũng được đánh giá dựa trên kĩ năng thứ tư: học hỏi xã hội. Nghĩa là, kĩ năng học từ những chủ thể khác. Và kết quả của bài kiểm tra này tiết lộ một điều khá thú vị.

Kết quả này đã chứng minh một cách hoàn hảo là năng giúp con người trở nên vượt trội. Tinh tinh và đười ươi đạt kết quả ngang bằng với đứa trẻ hai tuổi ở gần như tất cả các bài kiểm tra nhận thức. Nhưng khi đến bài kiểm tra kĩ năng học hỏi xã hội thì trẻ em đã giành chiến thắng. Hầu hết bọn trẻ đều đạt 100% điểm tối đa còn tinh tinh và đười ươi là 0 điểm.

Hóa ra, con người lại là những cỗ máy học hỏi siêu xã hội. Chúng ta sinh ra để học, gắn kết và chơi. Có lẽ không có gì làm lạ rằng đỏ mặt là biểu hiện chỉ có ở loài người, của riêng loài người mà thôi. Nói cho cùng, đỏ mặt là biểu hiện mang tính xã hội – chỉ có con người mới thể hiện họ quan tâm đến những điều người khác nghĩ, điều này giúp nuôi dưỡng niềm tin và thúc đẩy hợp tác.

Điều tương tự cũng xảy ra khi chúng ta nhìn thẳng vào mắt nhau, vì con người có một đặc điểm kì lạ khác: mắt chúng ta có lòng trắng. Đặc điểm này giúp chúng ta nhận biết người khác đang nhìn theo hướng nào. Tất cả những loài động vật linh trưởng khác, tổng cộng hơn 200 loài, sản sinh ra melanin nhuộm màu mắt chúng. Đó là lý do tại sao những người chơi bài thường đội mũ lưỡi trai, phần lưỡi trai sẽ che khuất hướng ánh nhìn của họ.

Chúng ta không chỉ là con người, chúng ta còn là những cuốn sách mở; đối tượng chú ý của chúng ta dễ đoán đến mức ai cũng nhận thấy. Bạn hãy thử hình dung tình bạn và tình yêu của con người sẽ trở nên thế nào nếu chúng ta không thể nhìn vào mắt nhau. Chúng ta có thể thấy tin tưởng người khác bằng cách nào? Brian Hare cũng nghi ngờ rằng đôi mắt khác thường của chúng ta cũng là một sản phẩm nữa của quá trình thuần hóa con người. Khi chúng ta tiến hóa để mang tính xã hội hơn, chúng ta cũng bắt đầu bộc lộ những suy nghĩ và cảm xúc bên trong của mình nhiều hơn.[31]

Thêm một điều nữa là gờ lông mày, torus supraorbitalis, của loài sapien chúng ta phẳng hơn người Neanderthal hay tinh tinh và đười ươi. Các nhà khoa học cho rằng việc gờ lông mày nhô ra có thể gây trở ngại cho việc giao tiếp, bởi vì chúng ta sử dụng lông mày của mình để thể hiện cảm xúc theo những cách tinh vi nhất.[32] Hãy thử thể hiện sự ngạc nghiên, cảm thông hay chán ghét và chú ý xem lông mày của bạn thể hiện được bao nhiêu phần cảm xúc đó.

Tóm lại, con người là bất kì điều gì ngoại trừ khuôn mặt lạnh như tiền. Chúng ta liên tục bộc lộ cảm xúc và được lập trình để luôn tương tác với những người xung quanh. Nhưng thay vì là một điều bất lợi, thì nó lại trở thành siêu sức mạnh cho chúng ta, bởi vì những người quảng giao không chỉ hài hước hơn mà còn thông minh hơn.

Cách tốt nhất để định nghĩa điều này là hình dung một hành tinh chỉ có hai bộ tộc cư ngụ: Thiên tài và Bắt chước. Tộc Thiên tài gồm những người giỏi giang, cứ 10 người lại có một người sáng chế ra thứ gì đó thật sự đáng kinh ngạc (chẳng hạn cần câu) ở một thời điểm trong đời họ. Tộc Bắt chước kém thông minh hơn, cho nên chỉ một trong số 1000 người mới học được cách câu cá. Điều đó làm cho tộc Thiên tài khôn ngoan gấp trăm lần tộc Bắt chước.

Nhưng tộc Thiên tài có một vấn đề. Họ không hề hòa đồng. Trung bình, một người Thiên tài sáng chế ra được cần câu thì chỉ có một người bạn để anh ta có thể dạy cách câu cá. Trung bình người Bắt chước có mười bạn, điều này làm cho họ hòa đồng gấp mười lần.

Giờ chúng ta cứ cho rằng dạy ai đó câu cá rất khó khăn và chỉ thành công một nửa. Câu hỏi là: Vậy nhóm nào hưởng lợi nhiều nhất từ những phát minh kia? Theo tính toán của nhà nhân chủng học Joseph Henrich, chỉ một trong năm người Thiên tài học được cách câu cá, một nửa là do tự thân nghĩ ra và nửa kia là học từ người khác. Ngược lại, mặc dù chỉ 0,1% người Bắt chước tự hình dung ra kĩ thuật này, nhưng 99,9% số họ đều có thể câu được cá, bởi vì họ học hỏi từ người Bắt chước khác.[33]

Người Neanderthal cũng hơi giống người Thiên tài. Về cá nhân, bộ não của họ lớn hơn nhưng tập hợp lại thì họ lại không xuất sắc. Tự thân, một người Homo neanderthalensis có thể tinh khôn hơn bất kì người Homo sapiens nào, nhưng người sapien sinh sống thành các nhóm lớn, di trú từ nhóm này sang nhóm khác thường xuyên hơn và còn có thể là những người bắt chước giỏi hơn. Nếu người Neanderthal là cỗ máy tính siêu nhanh, thì chúng ta là một chiếc PC đời cũ nhưng có wi-fi. Chúng ta chậm hơn, nhưng kết nối tốt hơn.

Một số nhà khoa học cho rằng: sự phát triển của ngôn ngữ con người cũng là một sản phẩm từ khả năng hòa đồng của chúng ta.[34] Ngôn ngữ là ví dụ tuyệt vời về một hệ thống mà người Bắt chước có thể không tự nghĩ ra nhưng lại học được từ nhau, theo thời gian xuất hiện những người biết nói rất giống như cách những con cáo của Lyudmila bắt đầu biết sủa.

Vậy điều gì xảy ra với người Neanderthal? Có phải giống loài Homo puppy đã tiêu diệt họ hoàn toàn?

Quan điểm này có thể trình bày thành một cuốn sách hay một tài liệu tuyệt vời, nhưng không hề có manh mối khảo cổ để củng cố quan điểm đó. Giả thuyết hợp lý hơn là con người chúng ta có thể thích ứng tốt hơn với các điều kiện khí hậu khắc nghiệt ở kỉ Băng Hà cuối cùng (115.000-15.000 năm trước) vì chúng ta phát triển khả năng làm việc nhóm và đoàn kết hơn.

Vậy những nghiên cứu, phân tích trong cuốn sách Gen vị kỉ đáng buồn kia thì sao? Nó rất hợp với lối suy luận của những năm 1970 – một thời kì được tạp chí New York tung hô như là “thập niên của cái tôi”. Cuối những năm 1990, một người hâm mộ Richard Dawkins quyết định đem những ý tưởng của ông áp dụng vào thực tiễn. Cuốn sách không mang lại sự bi quan, mà ngược lại, còn truyền cảm hứng cho CEO Jeffrey Skilling điều hành cả một tập đoàn – gã khổng lồ năng lượng Enron – dựa trên cơ chế lòng tham. Skilling thiết lập hệ thống “Rank & Yank” (xếp hạng để loại bỏ) nhằm đánh giá thành tích làm việc ở Enron. Điểm 1 đặt bạn vào danh sách những nhân viên đứng đầu của công ty và cho bạn tiền thưởng hậu hĩnh. Điểm 5 đẩy bạn vào nhóm đáy, nhóm “bị gửi tới Siberia” – bên cạnh việc bị bẽ mặt, nếu bạn không tìm được một vị thế khác trong vòng hai tuần, bạn sẽ bị sa thải. Kết quả của cơ chế này là việc hình thành văn hóa kinh doanh Hobbes với sự cạnh tranh khốc liệt giữa các nhân viên. Đến cuối năm 2001 tin tức lộ ra rằng Enron có liên quan đến vụ gian lận kế toán quy mô lớn. Cuối cùng khi mọi việc lắng xuống, Skilling phải ngồi tù.

Ngày nay, 60% các công ty lớn nhất ở Mỹ vẫn áp dụng một hình thức biến thể nào đó của hệ thống Rank & Yank.[35] Sau cuộc khủng hoảng tín dụng 2008, nhà báo Joris Luyendijk nói về khu vực dịch vụ tài chính London như sau: “Đó là một vũ trụ Hobbes, tất cả chống lại tất cả, với những mối quan hệ có cùng đặc điểm: tởm lợm, hung bạo và ngắn ngủi.”[36] Những công ty như Amazon và Uber giống hệt nhau, để nhân viên chống lại nhau một cách rất hệ thống và bài bản. Uber, theo lời một nhân viên giấu tên, là một “khu rừng Hobbes, nơi bạn sẽ không bao giờ vượt lên trừ phi có ai đó chết”.[37]

Khoa học tiến bộ rất nhiều kể từ thập niên 1970. Trong các ấn bản tái bản của Gen vị kỉ, Richard Dawkins loại bỏ những khẳng định của mình về tính ích kỉ bẩm sinh của con người, và giới sinh vật học không còn tin vào lý thuyết này. Mặc dù đấu tranh và cạnh tranh là điều hiển hiện trong quá trình tiến hóa của cuộc sống, nhưng mọi sinh viên ngành sinh vật học năm thứ nhất đều được dạy rằng hợp tác là điều quan trọng hơn nhiều.

Đây là chân lý xưa như trái đất. Tổ tiên của chúng ta biết tầm quan trọng cũng như sức mạnh của tập thể và hiếm khi tôn sùng các cá nhân. Các cư dân săn bắt hái lượm trên thế giới, từ những lãnh nguyên lạnh nhất tới những sa mạc nóng nhất tin rằng mọi thứ đều được gắn kết với nhau. Họ xem mình như một phần của một cộng đồng lớn hơn, cộng đồng đó lại kết nối với tất cả động thực vật và Mẹ Thiên nhiên. Có lẽ họ hiểu về môi trường sống của con người nhiều hơn chúng ta ngày nay.[38]

Có khi nào bạn tự hỏi: Liệu sự cô độc có thể làm chúng ta phát ốm không? Hoặc việc thiếu những mối tương tác với con người có thể so sánh với chuyện hút 15 điếu thuốc một ngày không?[39] Hay nuôi thêm một con vật sẽ giảm bớt rủi ro mắc trầm cảm của chúng ta chăng?[40] Loài người khao khát gắn kết và tương tác.[41] Tinh thần của chúng ta mong được kết nối giống như cơ thể chúng ta cần thức ăn. Chính mong ước đó, hơn bất kì điều gì khác, đã giúp loài Homo puppy bay lên mặt trăng.

Khi hiểu ra điều này, tôi nhận ra quan niệm tiến hóa không còn là một liều thuốc giảm đau nữa. Có lẽ không hề có đấng sáng tạo và cũng chẳng có kế hoạch lớn lao nào. Có lẽ sự tồn tại của chúng ta chỉ là một sự may mắn sau hàng triệu năm mò mẫm. Nhưng ít nhất chúng ta không đơn độc. Chúng ta có nhau.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.