Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 2

ĐẠI TÁ MARSHALL VÀ NHỮNG NGƯỜI LÍNH KHÔNG NỔ SÚNG

01

Và giờ con voi đang ở trong phòng✻

Loài người chúng ta cũng có những mặt tối. Nhiều khi, giống loài Homo puppy làm những điều kinh khủng chưa từng có tiền lệ trong vương quốc động vật. Chim hoàng yến không xây dựng nhà tù. Cá sấu không tạo ra các phòng hơi ngạt. Chưa bao giờ trong lịch sử có một con gấu túi cảm thấy nó phải phán xét, giam cầm và giết hại đồng loại. Những tội ác này chỉ có ở con người. Cho nên bên cạnh việc đặc biệt có xu hưởng hòa đồng, giống loài Homo puppy cũng có thể vô cùng tàn ác. Tại sao?

Dường như chúng ta phải đối mặt với một sự thật đau lòng. Chuyên gia về chó Brian Hare từng nói: “Cơ chế giúp chúng ta trở thành giống loài tử tế nhất cũng đồng thời biến chúng ta thành giống loài tàn bạo nhất hành tinh.”[1] Con người là động vật hòa đồng, nhưng chúng ta có một khiếm khuyết chết người: chúng ta cảm thấy đồng cảm với những ai giống hoặc gần gũi với chúng ta nhất.

Bản năng này dường như đã được mã hóa trong từng DNA của chúng ta. Hãy xem oxytocin, loại hoóc-môn đóng vai trò then chốt trong việc sinh con và nuôi con bằng sữa mẹ. Khi các nhà khoa học lần đầu phát hiện ra rằng hoóc-môn này đóng vai trò quan trọng trong tình yêu, điều này đã thổi bùng lên ngọn lửa phấn khích trong giới khoa học. Một số người phỏng đoán, chỉ cần xịt một chút oxytocin lên mũi bạn, bạn sẽ có ngay một buổi hẹn hò tuyệt vời nhất.

Thực tế, tại sao chúng ta lại không rải hoóc-môn oxytocin này lên toàn nhân loại? Oxytocin – loại hoóc-môn có nồng độ cao trong những con cáo Siberia đáng yêu của Lyudmila Trut – làm cho chúng ta tử tế, lịch thiệp, thoải mái và bình thản hơn. Thậm chí nó có thể biến một con chó hung dữ thành chú cún đầy thân thiện. Đó cũng là lý do nó thường được gọi bằng những cái tên đầy mỹ miều như “chất sữa tử tế của con người” hay “hoóc-môn ôm ấp”.

Nhưng lại có một nguồn thông tin khác. Năm 2010, các nhà nghiên cứu ở Đại học Amsterdam phát hiện ra rằng oxytocin dường như chỉ có thể tạo ra tác động trong một nhóm nhỏ.[2] Hoóc-môn này, bên cạnh việc làm tình cảm bạn bè khăng khít hơn, cũng làm gia tăng ác cảm với người lạ. Hóa ra oxytocin không “thúc đẩy” tình huynh đệ dành cho tất cả mọi người. Nó chỉ tăng cường những cảm giác về “người gần gũi với tôi trước”.

02

Vậy có lẽ Thomas Hobbes đã đúng.

Có thể lịch sử của chúng ta là “một cuộc chiến tranh mà tất cả chống lại tất cả”. Không phải giữa những người bạn, mà là giữa những kẻ thù. Không phải với những người chúng ta biết, mà là với những kẻ xa lạ. Nếu đó là sự thật thì lúc này các nhà khảo cổ học đáng ra đã tìm thấy vô vàn hiện vật chứng minh rằng chúng ta hung hãn, và những cuộc khai quật đó chắc chắn sẽ phát hiện ra bằng chứng về việc chúng ta được lập trình cho chiến tranh.

Tôi e là họ đã tìm được. Những manh mối đầu tiên được khai quật vào năm 1924, một người thợ mỏ tìm được hộp sọ của một cá thể giống vượn, nhỏ bé ở vùng Tây Bắc của Nam Phi, bên ngoài ngôi làng Taung. Hộp sọ này được chuyển đến tay nhà giải phẫu học Raymond Dart. Ông xác định nó là của Australopithecus africanus, một trong những loài vượn người đầu tiên đi bằng hai chân – sống vào khoảng hai hoặc ba triệu năm trước.

Ngay từ đầu, Dart rất lo lắng về những phát hiện của mình. Trong quá trình nghiên cứu hộp sọ và xương của những tổ tiên khác của chúng ta, ông phát hiện ra những bộ xương này từng phải chịu nhiều tổn thương. Điều gì gây ra những tổn thương đó? Những phát hiện của ông không mấy vui vẻ. Loài vượn người sơ khai này có thể đã sử dụng đồ đá, ngà voi và sừng để giết con mồi, Dart nói. Và khi quan sát các mẩu xương, ông nhận ra các loài động vật không phải là nạn nhân duy nhất của họ. Họ còn giết hại lẫn nhau.

Sau phát hiện đó, Raymond Dart đã trở thành một trong những nhà khoa học đầu tiên mô tả loài người như những động vật ăn thịt đồng loại khát máu bẩm sinh, và “lý thuyết vượn sát thủ” của ông trở nên nổi tiếng khắp thế giới. Ông nhận thấy rằng: chỉ khi nông nghiệp ra đời vào khoảng 10.000 năm trước, loài người mới chuyển sang một chế độ dinh dưỡng nhân văn hơn. Có thể giai đoạn phôi thai trong nền văn minh của chúng ta là lý do khiến tất cả mọi người đều miễn cưỡng thừa nhận rằng, trong sâu thẳm, chúng ta thực sự là gì.[3]

Bản thân Dart không có những băn khoăn như vậy. Ông viết, tổ tiên xa xưa nhất của chúng ta “thừa nhận họ là những kẻ giết người: những sinh vật ăn thịt, chuyên tóm sống những con mồi, dùng vũ lực đập chúng tới chết, xé xác con mồi, chặt từng chi của chúng thành nhiều mảnh, rồi thỏa mãn cơn khát cồn cào bằng dòng máu nóng của con mồi và ngấu nghiên chất thịt thâm tím đó.”[4]

Dart chính là người đặt nền tảng cho “mùa săn bắn” mới của giới khoa học. Hiện tại, các nhà khoa học đang tiếp bước chân ông. Và người đầu tiên phải kể đến là Jane Goodall, chuyên nghiên cứu những anh em họ tinh tinh của chúng ta ở Tanzania. Từ lâu, tinh tinh vốn được xem là những sinh vật ăn cỏ thích yên tĩnh, tuy nhiên đến năm 1974, bà cảm thấy choáng váng khi chứng kiến một cuộc chiến giữa hai đàn tinh tinh.

Suốt bốn năm, hai đàn tinh tinh đã tiến hành những cuộc chiến tàn bạo. Quá kinh hoàng, Goodall đã giữ kín phát hiện của mình khá lâu, và khi bà chia sẻ những phát hiện đó cho thế giới, nhiều người không tin bà. Bà miêu tả cảnh những con tinh tinh “khum tay hứng máu trào ra từ mũi nạn nhân đang chảy máu, chúng uống máu, vặn đứt từng chi, dùng răng xé từng mảnh da.”[5]

Một sinh viên của Goodall, một nhà linh trưởng học có tên Richard Wrangham (và là cố vấn của Brian Hare ở Chương 3), vào những năm 1990 đã đưa ra lập luận rằng tổ tiên của chúng ta hẳn là một loài tính tinh. Khi Wrangham lần theo gia phả trực hệ bắt đầu từ những linh trưởng ăn thịt này tới những cuộc chiến tranh xảy ra trong thế kỉ 20, ông phỏng đoán rằng chiến tranh đơn giản là ăn sâu vào máu chúng ta, và “con người hiện đại là những kẻ sống sót đáng ngạc nhiên sau một thói quen hung hãn chết người liên tục suốt năm triệu năm.”[6]

Điều gì khiến ông đưa ra kết luận này? Rất đơn giản: Kẻ nào mạnh thì sống sót, kẻ yếu ớt sẽ phải chết. Tinh tinh có thiên hướng hợp thành bầy và phục kích những đồng loại đơn độc, rất giống một nhóm du côn phát huy bản năng cơ bản của chúng trên sân trường.

Các bạn có thể đang nghĩ: thế cũng ổn và tốt, nhưng các nhà khoa học đang nói về tinh tinh và những loài vượn khác. Còn Homo puppy không phải là loài độc nhất vô nhị hay sao? Lẽ nào chúng ta đã không chinh phục thế giới vì chúng ta rất hòa nhã? Các dấu vết khảo cổ đã thực sự cho thấy gì về những ngày khi chúng ta vẫn còn đang săn bắt và hái lượm?

Những nghiên cứu ban đầu dường như mang đến góc nhìn rõ ràng. Năm 1959, nhà nhân chủng học Elizabeth Marshall Thomas xuất bản một cuốn sách về người !Kung, hiện vẫn sống ở sa mạc Kalahari.[7] Tên sách là gì ư? The Harmless People (tạm dịch: Người vô hại). Thông điệp của cuốn sách rất phù hợp với tinh thần những năm 1960, khi một thế hệ mới các nhà khoa học thiên tả xuất hiện trong giới nhân chủng, hăng hái dành cho tổ tiên của chúng ta một sự thay đổi lột xác kiểu Rousseau. Họ khẳng định: bất kì ai muốn biết trong quá khứ chúng ta sống thế nào, chỉ cần nhìn những cư dân du mục vẫn lang thang ngày nay thì sẽ rõ.

Thomas và các đồng nghiệp của bà đã cho chúng ta thấy rằng, mặc dù thỉnh thoảng vẫn xảy ra tình trạng ẩu đả trong rừng hay trên thảo nguyên, nhưng “những cuộc chiến tranh” bộ lạc này chẳng khác gì việc chửi bới nhau. Đôi lúc, sẽ có kẻ để vuột một mũi tên, nhưng nếu một hay hai chiến binh bị thương thì các bộ lạc thường kêu réo cả ngày. Thấy không? Các học giả cấp tiến nói Rousseau đã đúng; người thượng cổ thật sự là những người nguyên thủy cao thượng.

Tuy nhiên, thật buồn cho những người theo quan điểm của Rousseau, bằng chứng để phản bác quan điểm của họ nhanh chóng chất thành đống.

Các nghiên cứu quan trọng của những nhà nhân chủng sau này đã chỉ ra rằng, lý thuyết vượn sát thủ cũng đúng với cư dân săn bắt hái lượm. Những trận chiến mang tính nghi thức của họ trông thì có vẻ vô hại, nhưng những cuộc tấn công đẫm máu được thực hiện vào ban đêm cùng các vụ tàn sát đàn ông, đàn bà và trẻ con thì không dễ giải thích chút nào. Ngay cả với người !Kung, khi xem xét một cách kĩ hơn thì chúng ta cũng sẽ nhận ra họ khát máu như thế nào. (Và tỉ lệ giết người tăng vọt sau khi lãnh thổ !Kung thuộc quản lý của nhà nước vào những năm 1960. Tức là, khi cuốn Leviathan của Hobbes đề xuất áp đặt chế độ pháp trị.)[8]

Và đó chỉ mới là sự kiện mở màn. Năm 1968, nhà nhân chủng học Napoleon Chagnon đã công bố nghiên cứu gây chấn động về người Yanomami ở Venezuela và Brazil. Tên sách là gì ư? The Fierce People (tạm dịch: Người hung bạo). Nội dung cuốn sách mô tả một xã hội “trong trạng thái chiến tranh triền miên”. Tệ hơn, nó tiết lộ rằng những kẻ giết người cũng có thêm vợ và con – có nghĩa là bạo lực đã nằm trong máu chúng ta.

Nhưng luận điểm này không thật sự được chứng minh cho tới năm 2011, qua việc xuất bản cuốn sách đồ sộ The Better Angels of Our Nature (tạm dịch: Những thiên thần tốt đẹp trong bản chất chúng ta) của Steven Pinker. Đó là kiệt tác của một nhà tâm lý được xếp vào hàng những trí thức có tầm ảnh hưởng nhất thế giới: một công trình nghiên cứu đồ sộ với 802 trang sách, với cỡ chữ cực nhỏ và dày đặc biểu đồ cùng bảng biểu. Cuốn sách là vũ khí hoàn hảo để đánh gục kẻ thù của bạn.

Pinker viết: “Ngày nay, chúng ta có thể chuyển từ việc kể những câu chuyện sang các con số.”[9] Và những con số ấy tự nói lên tất cả. Tỉ lệ trung bình các bộ xương khai quật tại 21 địa điểm khảo cổ cho thấy dấu hiệu của một cái chết dữ dội? 15%. Tỉ lệ trung bình những cái chết do bạo lực ở tám bộ lạc vẫn lang thang ngày nay? 14%. Tỉ lệ tử vong vì bạo lực trung bình trong thế kỉ 20, kể cả hai cuộc thế chiến? 3%. Còn tỉ lệ trung bình hiện nay?

Một phần trăm.

“Chúng ta có một khởi đầu hết sức ghê rợn.” Pinker đồng tình với Hobbes trong quan điểm bạo lực ăn vào máu chúng ta.[10] Sinh học, nhân chủng học và khảo cổ học đều có mũi tên chỉ về một hướng: con người có thể tử tế với bạn bè của họ, nhưng lại máu lạnh khi đối xử với người ngoài. Thực tế, chúng ta là những sinh vật hiếu chiến nhất trên hành tinh. May thay, Pinker đã có những trấn an đối với độc giả của mình, chúng ta cao thượng nhờ “những ngón nghề của nền văn minh”.[11] Việc phát minh ra nông nghiệp, chữ viết và nhà nước đã giúp chúng ta chế ngự những bản năng hung bạo của mình, khoác một tấm áo dày của văn minh lên bản chất tàn bạo, xấu xa của chúng ta.

Dưới sức nặng của toàn bộ số liệu thống kê được đưa ra trong bộ sách đồ sộ này, vụ việc dường như khép lại. Suốt nhiều năm, tôi nghĩ quan điểm của Steven Pinker và Hobbes đã đúng, còn quan điểm Rousseau thật dở hơi. Suy cho cùng, các kết quả đã rõ ràng và số liệu thì không biết nói dối.

Thế rồi tôi tìm ra Đại tá Marshall.

03

Đó là ngày 22 tháng 11 năm 1943. Màn đêm bao trùm lên một hòn đảo ở Thái Bình Dương, và trận chiến Makin vừa bắt đầu. Cuộc tấn công đang diễn ra đúng theo kế hoạch thì một chuyện lạ lùng đã xảy ra.[12]

Samuel Marshall, đại tá và là một sử gia, đã tận mắt chứng kiến sự việc đó. Ông là người đầu tiên được quân đội Mỹ hộ tống lên bờ khi họ tìm cách chiếm đảo, khu vực đang nằm trong tay quân Nhật. Hiếm có một sử gia nào ở gần chiến trận đến vậy. Bản thân cuộc xâm chiếm là một chiến dịch được giữ kín hoàn toàn, gần như một thử nghiệm trong phòng thí nghiệm. Quả là cơ hội lý tưởng cho Marshall quan sát chiến tranh diễn ra như thế nào trong đời thực.

Họ tiến thêm được ba dặm trong ngày hôm đó với cái nóng như thiêu đốt. Khi họ dừng bước vào tối hôm đó, chẳng ai còn đủ năng lượng để đào hào phòng thủ, nhưng họ không nhận ra có một trại binh Nhật cách đó một quãng ngắn. Cuộc tấn công bắt đầu sau khi trời tối. Quân Nhật tấn công vào quân Mỹ, tất cả có 11 đợt. Bất chấp việc bị áp đảo về mặt quân số, quân Nhật gần như đã chọc thủng phòng tuyến của quân Mỹ.

Ngày hôm sau, Marshall cảm thấy có chuyện gì đó không ổn. Ông biết rằng có thể thu được rất nhiều điều bằng cách nhìn những lá cờ trên bản đồ hoặc đọc kĩ nhật kí của các sĩ quan. Vậy là ông quyết định làm một điều mà chưa ai thử. Quả là cách mạng trong giới học thuật lịch sử. Cũng sáng hôm đó, ông lượn vòng qua những binh sĩ Mỹ và phỏng vấn họ theo nhóm. Ông đề nghị họ trả lời một cách thoải mái nhất ngay cả những ý kiến mà họ không tán thành với cấp trên của mình.

Đó quả là một chiến lược thiên tài. Một đồng nghiệp sau này đã viết: “Marshall gần như lập tức nhận ra mình đã nắm đúng bí quyết của việc báo cáo chính xác tình hình chiến sự. Tất cả mọi người đều nhớ được gì đó – như một mảnh ghép còn thiếu trong trò chơi ghép hình.”[13] Và đó là cách vị đại tá có được một phát hiện khó hiểu.

Hầu hết binh sĩ chưa hề nổ súng.

Trong hàng thế kỉ, thậm chí hàng thiên niên kỉ, các vị tướng và chỉ huy, các nghệ sĩ và thi sĩ đều xem hành động chiến đấu của các binh sĩ là lẽ đương nhiên. Nếu có một thứ khiến “kẻ đi săn” bên trong chúng ta trỗi dậy, thì đó là chiến tranh. Chiến tranh là khi con người chúng ta phải làm gì đó mà chúng ta thạo nhất. Chiến tranh là khi chúng ta phải nổ súng giết kẻ thù.

Nhưng khi Đại tá Samuel Marshall tiếp tục phỏng vấn các nhóm binh sĩ, ở Thái Bình Dương và chiến trường châu Âu, ông phát hiện rằng trên thực tế chỉ 15 – 25% binh sĩ từng nổ súng. Ngay cả ở thời khắc then chốt, tuyệt đại đa số đều ngần ngại bóp cò. Một sĩ quan tuyệt vọng kể lại việc mình đã phải chạy đi chạy lại dọc chiến hào để gào thét: “Mẹ kiếp! Nổ súng đi!” Nhưng “họ chỉ nổ súng khi tôi nhìn họ hoặc có sĩ quan khác kề bên.”[14]

Tình hình ở Makin đêm đó buộc binh lính hoặc là hành động hoặc là chết, khi bạn kì vọng tất cả mọi người thực sự chiến đấu vì mạng sống của họ. Nhưng ở tiểu đoàn của Marshall với hơn 300 binh sĩ, ông có thể xác định chỉ có 36 người thực sự kéo cò súng.

Phải chăng các binh lính thiếu kinh nghiệm chiến đấu? Không. Dường như không có bất kì khác biệt nào giữa những tân binh và cựu binh dày dạn kinh nghiệm trong thái độ sẵn sàng nổ súng. Và nhiều người lựa chọn không nổ súng lại là những tay thiện xạ trong khi huấn luyện.

Có thể họ nhát gan? Khó lòng như vậy. Ở vị trí của một binh sĩ không nổ súng đồng nghĩa với việc cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào. Với một người bình thường, họ là những người yêu nước dũng cảm, trung thành, sẵn sàng hi sinh cho đồng đội. Thế nhưng, đến khi cần, họ lại né tránh nhiệm vụ của mình.

Họ không nổ súng.

Những năm sau Thế chiến thứ Hai, Samuel Marshall trở thành một trong những sử gia đáng kính nhất ở thế hệ ông. Quân lực Hoa Kỳ rất coi trọng những điều ông nói. Trong cuốn sách Men Against Fire (tạm dịch: Những người chống nổ súng) xuất bản năm 1946 – cho đến tận bây giờ nó vẫn được đọc tại các học viện quân sự – ông nhấn mạnh rằng “một cá nhân mạnh khỏe và bình thường […] có một sự phản kháng không nhận thấy từ bên trong, họ sẽ không lựa chọn việc giết hại đồng loại, sẽ không làm theo ý chí của mình mà tước đoạt mạng sống của người khác”.[15] Ông tin rằng, hầu hết mọi người đều có “nỗi sợ sự hung hãn”, điều này vốn hết sức bình thường trong “bản chất vốn tình cảm” của chúng ta.[16]

Vậy điều gì đã diễn ra? Có phải ngài đại tá đã phát hiện ra một bản năng mạnh mẽ nào đó? Được xuất bản khi lý thuyết vỏ ngoài đang chiếm được sự quan tâm của các nhà khoa học và mô hình vượn sát thủ của Raymond Dart đang thịnh hành, những phát hiện của Marshall thật khó tiếp nhận. Vị đại tá có linh cảm rằng phân tích của ông không chỉ giới hạn trong quân Đồng minh tại Thế chiến thứ Hai, mà còn đúng với tất cả các binh sĩ trong suốt lịch sử. Từ những người Hy Lạp ở Troy tới lính Đức ở Verdun.

Mặc dù Marshall là người có tiếng tăm lừng lẫy nhưng vào những năm 1980, sự nghi ngờ về ông bắt đầu xuất hiện. Trang nhất tờ New York Times ngày 19 tháng 2 năm 1989 giật tít: “Cuốn sách của S.L.A. Marshall về chiến tranh bị công kích là sai lầm”. Còn tạp chí American Heritage gọi đó là trò chơi xỏ, tuyên bố rằng Marshall đã “giàn dựng tất cả” và chưa bao giờ tiến hành phỏng vấn bất kì ai. Một cựu sĩ quan còn chế nhạo: “Đó là tay chuyên xuyên tạc lịch sử. Hắn không hiểu bản chất con người.”[17]

Marshall không thể biện hộ cho mình bởi ông đã qua đời 12 năm trước đó. Các sử gia khác đã lao vào cuộc tranh cãi – và cả các kho lưu trữ – và tìm ra những dấu hiệu chứng minh Marshall đã bóp méo sự thật. Nhưng các cuộc phỏng vấn là có thật, và chắc chắn ông đã hỏi binh sĩ liệu họ có khai hỏa những khẩu M1 không.[18]

Sau khi nghiên cứu về Marshall, về những người phỉ báng và bênh vực ông, tôi không còn biết phải nói gì. Phải chăng tôi chỉ hơi quá háo hức chuyện ngài đại tá đúng? Hay thật sự ông đã tìm ra điều gì đó? Càng đi sâu vào cuộc tranh cãi, Marshall càng gây ấn tượng với tôi rằng ông là một nhà tư duy trực giác – không phải một chuyên gia thống kê xuất sắc, mà là một nhà quan sát tinh tế và nhạy bén.

Câu hỏi đặt ra là: Có thêm bằng chứng nào ủng hộ luận thuyết của ngài đại tá không?

Câu trả lời ngắn gọn là: Có.

Câu trả lời đầy đủ? Suốt những thập kỉ qua, bằng chứng cho thấy Đại tá Marshall đúng ngày càng chất chồng.

Trước hết, các đồng nghiệp ở tiền tuyến cũng quan sát được điều y hệt như Marshall đã thấy. Trung tá Lionel Wigram than phiền trong chiến dịch 1943 ở Sicily rằng, ông ấy không thể trông chờ vào quá một phần tư binh sĩ của mình.[19] Hay trong trường hợp Tướng Bernard Montgomery, người từng viết một lá thư gửi về nhà có nội dung như sau: “Rắc rối với các chàng trai Anh của chúng ta là, về bản chất họ không phải những kẻ sát nhân.”[20]

Sau này, khi các sử gia bắt đầu phỏng vấn các cựu chiến binh Thế chiến thứ Hai, họ thấy rằng hơn một nửa trong số người được phỏng vấn chưa bao giờ nổ súng giết hại ai cả, và hầu hết các vụ bắn giết là do một nhóm thiểu số các binh sĩ gây ra.[21] Trong Không lực Hoa Kỳ, chưa đầy 1% phi công máy bay chiến đấu chịu trách nhiệm với gần 40% số máy bay bị bắn hạ.[22] Một sử gia đã ghi nhận, hầu hết phi công “chưa bao giờ bắn hạ bất kì ai hay thậm chí thử làm vậy.”[23]

Sau những phát hiện này, các học giả bắt đầu xem xét lại những giả định về các cuộc chiến khác. Như trận Gettysburg diễn ra vào năm 1863 trong cao trào Nội chiến Mỹ. Việc kiểm tra 27.574 khẩu súng hỏa mai thu hồi được từ chiến trường đã tiết lộ rằng có tới 90% vẫn còn nguyên đạn.[24] Điều này thật vô lý. Trung bình, một tay súng dành 95% thời gian nạp đạn cho khẩu súng của mình và chỉ dùng 5% còn lại để bắn. Vì để sử dụng một khẩu hỏa mai đòi hỏi rất nhiều thao tác (dùng răng xé lớp buộc đầu súng, đổ thuốc súng vào cần điểm hỏa, nhét đầu đạn vào bằng cách thông nòng súng, kéo kíp nổ vào vị trí, lên búa súng rồi kéo cò), thật lạ, nói giảm nói tránh là rất nhiều khẩu súng vẫn đầy đạn.

Nhưng mọi việc còn lạ hơn nữa. Khoảng 12.000 khẩu súng hỏa mai được nạp gấp đôi, và một nửa trong số đó là gấp ba. Một khẩu súng thậm chí có hai mươi ba viên đạn trong nòng súng – thật là ngớ ngẩn. Những binh sĩ này đã được sĩ quan của họ rèn luyện rất kĩ càng. Họ đều biết súng hỏa mai được thiết kế để bắn mỗi lần một viên đạn.

Vậy họ đã làm gì vậy? Mãi về sau các sử gia mới đoán ra: nạp đạn cho súng là lý do hoàn hảo để không phải bắn. Và nếu tình cờ súng đã nạp đạn rồi, chậc, bạn chỉ việc nạp thêm lần nữa. Và lần nữa.[25]

Những phát hiện tương tự được tìm thấy tại quân đội Pháp. Trong một khảo sát chi tiết tiến hành với các sĩ quan của mình vào những năm 1860, đại tá người Pháp tên là Ardant du Picq phát hiện ra rằng binh sĩ không hề chiến đấu. Khi họ khai hỏa vũ khí của mình, họ thường ngắm quá cao. Việc đó có thể diễn ra hàng tiếng đồng hồ: hai đội quân trút hỏa lực của họ quá đầu nhau, trong khi tất cả tranh nhau một lý do để làm việc khác ngoài việc bắn – bất kì điều gì khác – trong lúc chờ đợi (tiếp thêm đạn dược, nạp lại đạn cho vũ khí, tìm chỗ trú, bất kì việc gì).

Chuyên gia quân sự Dave Grossman viết, “Kết luận rõ ràng là hầu hết các binh sĩ không cố giết hại kẻ thù.”[26]

Khi đọc được điều này, tôi chợt nhớ lại một đoạn văn về hiện tượng giống hệt những điều được mô tả ở trên của một trong những tác giả mà tôi yêu thích: “Trong cuộc chiến tranh này, tất cả mọi người luôn cố gắng bắn trượt kẻ thù khi có cơ hội.” Đó là những điều mà George Orwell viết trong cuốn sách kinh điển về Nội chiến Tây Ban Nha, cuốn Homage to Catalonia (tạm dịch: Lòng kính trọng đối với Catalonia).[27] Điều này không có nghĩa là chẳng hề có thương vong, dĩ nhiên; nhưng theo Orwell, hầu hết binh sĩ bị băng bó trong bệnh xá đều bị thương do tai nạn.

Trong những năm gần đây, liên tu bất tận các nhà khoa học ủng hộ những kết luận của Đại tá Marshall. Trong số đó phải kể đến nhà xã hội học Randall Collins, người phân tích hàng trăm bức ảnh các binh sĩ lâm trận và, lặp lại những ước tính của Marshall, tính toán rằng chỉ khoảng 13-18% số binh sĩ nổ súng.[28]

“Xét từ những bằng chứng phổ biến nhất đã cho thấy quan điểm về con người kiểu Hobbes là sai lầm”, Collins khẳng định. “Con người được lập trình để đoàn kết; và đây là điều khiến cho bạo lực trở nên khó thực hiện.”[29]

04

Hiện tại, văn hóa của chúng ta tràn ngập biết bao câu chuyện huyễn hoặc dễ gây ra đau đớn cho người khác. Hãy nghĩ đến những người hùng hiếu chiến như Rambo và anh chàng Indiana Jones✻ suốt ngày đánh nhau. Hãy nhìn cách mà những cuộc chiến bằng nắm đấm diễn ra trên phim ảnh và các chương trình truyền hình – nơi bạo lực lan tràn như một bệnh dịch: một nhân vật vấp chân hoặc chẳng may ngã vào một người khác và bị người này giáng một cú đấm, rồi ngay khi bạn chưa kịp hiểu điều gì đã xảy ra thì liền bị ném vào giữa cuộc chiến “tất cả chống lại tất cả”.

Nhưng hình ảnh được Hollywood xào nấu có rất nhiều chi tiết liên quan đến bạo lực trong đời thực giống như phim khiêu dâm so với tình dục thực tiễn. Thực tế, khoa học đã chứng minh rằng bạo lực không có tính lây lan, nó không kéo dài lâu và cũng chẳng dễ dàng xảy ra.

Càng đọc về những phân tích của Đại tá Marshall và những nghiên cứu sau đó, tôi càng nghi ngờ quan điểm về bản chất hiếu chiến của chúng ta. Suy cho cùng, nếu Hobbes đúng, thì chúng ta sẽ cảm thấy thích thú khi giết chết người khác. Đúng là sự thỏa mãn từ việc giết chóc có thể không cao như tình dục, nhưng chắc chắn sẽ không gây ra một ác cảm sâu sắc khiến chúng ta sợ hãi.

Mặt khác, nếu Rousseau đúng, vậy thì những kẻ lang thang du mục hẳn vô cùng yêu chuộng hòa bình. Trong trường hợp đó, chúng ta có lẽ đã phát triển ác cảm bản năng của mình theo hướng giết chóc qua hàng vạn năm mà giống loài Homo puppy lan ra cư ngụ khắp Trái đất.

Lẽ nào Steven Pinker, nhà tâm lý học với cuốn sách rất có tầm ảnh hưởng, lại nhầm? Lẽ nào những số liệu thống kê đầy sức thuyết phục của ông về con số tử vong rất cao trong các cuộc chiến tranh tiền sử – mà tôi háo hức trích dẫn trong các cuốn sách và bài viết trước kia – lại sai?

Tôi quyết định quay lại điểm xuất phát. Lần này, tôi tránh xa những ấn phẩm dành cho độc giả phổ thông và đi sâu hơn vào những tác phẩm mang tính hàn lâm. Không bao lâu tôi đã nhận ra mẫu chung trong các tác phẩm đó. Khi một nhà khoa học khắc họa con người như là loài linh trưởng giết người, thì giới truyền thông nhanh chóng đưa tin về công trình đó. Nhưng nếu có một ý kiến trái ngược hoàn toàn, thì chẳng mấy ai nghe.

Điều này khiến tôi tự hỏi: Phải chăng chúng ta đang bị sự tò mò về những điều kinh dị và hoành tráng của chính mình đánh lừa? Sẽ ra sao nếu chân lý khoa học đi ngược hoàn toàn với những ấn phẩm bán chạy và được trích dẫn nhiều nhất khiến chúng ta tin?

Hãy gặp lại Raymond Dart, người đã kiểm tra số hài cốt đầu tiên được khai quật của người Australopithecus africanus vào những năm 1920. Sau khi kiểm tra chỗ xương bị tổn thương của giống người hai triệu năm tuổi này, ông rút ra kết luận rằng họ hẳn là những động vật ăn thịt khát máu.

Đó là kết luận gây ra chấn động. Bạn hãy xem những bộ phim như Planet of the Apes (tạm dịch: Hành tinh khỉ) bản đầu tiên hay 2001: A Space Odyssey (tạm dịch: 2001: Hành trình không gian), vốn thu được bộn tiền từ giả thiết vượn sát thủ. Đạo diễn của bộ phim là Stanley Kubrick đã xác nhận trong một cuộc phỏng vấn rằng: “Tôi quan tâm đến bản chất tàn bạo và bạo lực của con người, vì đó là hình ảnh thực của con người.”[30]

Mãi cho tới nhiều năm sau, các nhà khoa học mới thật sự nhận ra rằng hài cốt pháp y của Australopithecus africanus chỉ dẫn đến một hướng hoàn toàn khác. Hiện nay, các chuyên gia nhất trí rằng những chỗ xương bị tổn thương không phải bởi các giống người khác gây ra (vũ khí bằng đá, ngà voi, hay sừng), mà bởi các loài thú săn mồi. Ngay cả cá thể có phần sọ được Raymond Dart phân tích năm 1924 cũng vậy. Năm 2006, kết luận mới được đưa ra: thủ phạm là một loại chim săn mồi cỡ lớn.[31]

Còn loài tinh tinh, người anh em gần gũi của chúng ta, được biết đến là kẻ xé rời chi của nhau, thì sao? Chúng không phải là bằng chứng sống cho thấy sự khát máu được tôi luyện từ trong gen của chúng ta sao?

Đây tiếp tục là một điểm gây tranh cãi. Cùng với những vấn đề khác, các học giả không nhất trí về câu trả lời cho câu hỏi tại sao tinh tinh lại tấn công đồng loại của chúng. Một số người cho rằng chính sự can thiệp của con người là nguyên nhân, cho rằng nếu bạn thường xuyên cho tinh tinh ăn chuối – như Jane Goodall ở Tanzania – sẽ khiến chúng trở nên hung hãn hơn. Nói cho cùng, chẳng ai muốn để vuột mất những món ngon này.[32]

Lời giải thích này nghe thì có vẻ trêu ngươi và không mấy thuyết phục. Câu trả lời nhằm giải quyết dứt điểm vấn đề là một nghiên cứu lớn được thực hiện từ năm 2014, nghiên cứu này đã đưa ra những dữ liệu được tập hợp tại 18 đàn tinh tinh trong khoảng thời gian 50 năm.[33] Bất kể họ nhìn nhận vấn đề theo cách nào thì các nhà khoa học cũng không tìm thấy mối tương quan giữa số lượng tinh tinh giết đồng loại và sự can thiệp của con người. Họ đi đến kết luận rằng tinh tinh có năng lực tàn bạo mà không cần tác nhân kích thích bên ngoài.

May thay, cây phả hệ của chúng ta có nhiều nhánh hơn. Chẳng hạn, khỉ đột ưa hòa bình hơn nhiều. Hay tinh tinh lùn cũng yêu hòa bình hơn thế. Những loài linh trưởng này, với cổ mảnh mai, xương tay mềm và răng nhỏ, thích chơi đùa cả ngày, hết sức thân thiện và chẳng bao giờ trưởng thành hoàn toàn.

Vậy, liệu nó có gióng lên hồi chuông cảnh báo nào không? Chắc chắn là có rồi, các nhà sinh vật nghi ngờ rằng, giống như Homo puppy, tinh tinh lùn tự thuần hóa. Khuôn mặt chúng, thật ngẫu nhiên, trông giống người đến kì lạ.[34] Nếu chúng ta muốn vẽ những đường song song thì đây chính là điểm xuất phát.

Nhưng cuộc tranh luận sôi nổi này liên quan gì đến người họ hàng gần gũi nhất của chúng ta? Con người không phải là tinh tinh, và cũng chẳng phải tinh tinh lùn. Chúng ta đang nói chung về hơn 200 giống loài linh trưởng khác nhau, với những sự khác nhau đáng kể giữa chúng. Robert Sapolsky, một nhà linh trưởng học hàng đầu, tin rằng vượn không có gì nhiều để dạy chúng ta về tổ tiên của chính chúng ta, ông cho rằng, “Cuộc tranh luận này hoàn toàn vô nghĩa.”[35]

Chúng ta cần trở lại câu hỏi thật sự – câu hỏi đã thu hút Hobbes và Rousseau.

Những con người đầu tiên hung bạo đến mức nào?

Lúc trước tôi đã nói có hai cách để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này. Một: nghiên cứu những cư dân săn bắt hái lượm ngày nay vẫn đang sống cuộc sống hệt như tổ tiên chúng ta. Hai: đào tìm xương cổ và các hài cốt khác mà tổ tiên chúng ta để lại.

Hãy bắt đầu với cách thứ nhất. Tôi đã đề cập đến cuốn The Fierce People của Napoleon Chagnon, cuốn sách nhân chủng học bán chạy nhất mọi thời đại. Chagnon cho biết người Yanomami ở Venezuela và Brazil có khá nhiều mâu thuẫn dẫn đến việc gây chiến, và những người đàn ông Yanomami ưa chém giết lại có số con cái nhiều gấp ba lần những đối tác chuộng hòa bình của họ (đó là “những kẻ nhút nhát”, theo ngôn từ của Chagnon[36]).

Nhưng nghiên cứu của ông đáng tin cậy đến mức nào? Các nhà khoa học đồng thuận rằng hầu hết các bộ lạc hiện vẫn đang sống cuộc sống săn bắt hái lượm không thể đại diện cho cách tổ tiên của chúng ta đã sống. Họ bị ảnh hưởng bởi quá nhiều thứ trong xã hội văn minh và có mối liên hệ thường xuyên với những nông dân và cư dân thành thị. Thực tế, việc họ bị các nhà nhân chủng học theo dõi khiến cho họ “bị lây nhiễm” như một quần thể nghiên cứu. (Thật tình cờ, một vài bộ lạc “bị lây nhiễm” đời sống hiện đại nhiều hơn cả người Yanomami. Để đổi lại sự hợp tác của họ, Chagnon cung cấp rìu và dao rựa, sau đó kết luận rằng những người này vô cùng bạo lực).[37]

Vậy còn lời khẳng định của Chagnon, những kẻ giết người có nhiều con hơn những người yêu hòa bình thì sao? Nó thật sự chẳng giúp được gì cho hiểu biết của chúng ta cả. Khi tiến hành nghiên cứu, ông đã phạm hai sai lầm nghiêm trọng. Thứ nhất, ông quên tính đến vấn đề tuổi tác: theo cơ sở dữ liệu mà ông đưa ra, những kẻ giết người trung bình già hơn “những kẻ nhút nhát” tận mười tuổi. Cho nên người 35 tuổi có nhiều con hơn người 25 tuổi là điều chẳng có gì ngạc nhiên cả.

Sai lầm thứ hai của Chagnon là ở chỗ, ông chỉ tính những hậu duệ vẫn còn sống của những kẻ giết người. Ông bỏ qua thực tế là những người giết hại người khác thường sẽ phải nhận quả báo. Nói cách khác đó là bị trả thù. Bỏ qua những trường hợp này và bạn có thể lập luận rằng, để chơi xổ số thì phải trả tiền.[38]

Sau khi nhà nhân chủng học viếng thăm, người Yanomami có thêm một từ mới trong vốn từ vựng của họ: anthro. Nghĩa là gì ư? “Thứ không phải con người với những khuynh hướng rối loạn sâu sắc và tính cách lập dị hoang dã.”[39] Năm 1995, nhân vật anthro cụ thể này bị cấm, không bao giờ được bước vào lãnh thổ của người Yanomami.

Rõ ràng, cuốn sách bán chạy của Chagnon chẳng nhận được sự quan tâm nào. Nhưng chúng ta vẫn còn nguyên lời chứng là hơn 800 trang của nhà tâm lý học Steven Pinker với toàn bộ biểu đồ và bảng biểu được coi là bằng chứng hùng hồn về bản chất tàn bạo của chúng ta.

Trong cuốn The Better Angels of Our Nature, Pinker đã tính toán tỉ lệ giết người trung bình ở 8 xã hội nguyên thủy, kết quả thu được là một con số đáng báo động: 14%. Con số này xuất hiện trên khắp các tạp chí uy tín như Science và thường xuyên được báo chí cùng các chương trình truyền hình trích dẫn. Tuy nhiên, khi các nhà khoa học khác xem xét nguồn tài liệu của ông, họ phát hiện ra ông đã mắc phải một vài nhầm lẫn.

Tuy những sự nhầm lẫn này mang tính kĩ thuật, nhưng chúng ta cần biết ông đã sai ở chỗ nào. Chúng ta muốn tìm ra câu trả lời cho câu hỏi: Có đúng là những nhóm người săn bắt và hái lượm hiện nay sẽ tiết lộ cho chúng ta biết cách loài người sống ở 50.000 năm trước? Suy cho cùng, chúng ta là những cư dân du mục trong 95% lịch sử nhân loại, lang thang khắp thế giới theo từng nhóm nhỏ tương đối bình đẳng.

Nghiên cứu của Pinker gần như tập trung vào các nền văn hóa lai. Đây là những người săn bắt và hái lượm, nhưng họ cũng cưỡi ngựa và chung sống trong các khu định cư hoặc có canh tác. Hiện tại các nền văn hóa lai này khá phổ biến. Con người không trồng trọt cho tới 10.000 năm trước và ngựa chưa được thuần hóa cho tới 5.000 năm trước. Nếu bạn muốn hình dung ra cách đây 50.000 năm, tổ tiên của chúng ta sống như thế nào, thì ngoại suy từ những người biết nuôi ngựa và chăm sóc những mảnh đất trồng rau, sẽ chẳng có ý nghĩa gì.

Thậm chí nếu chúng ta nhất trí với các phương pháp của Pinker, dữ liệu vẫn có vấn đề. Theo nhà tâm lý học này, 30% ca tử vong trong số người Aché ở Paraguay (bộ lạc số 1 trong danh sách của ông) và 21% ca tử vong của người Hiwi ở Venezuela và Colombia (bộ lạc số 3) là do chiến tranh. Thường những tộc người này khá khát máu.

Tuy nhiên, nhà nhân chủng học Douglas Fry lại hoài nghi về dữ liệu của Pinker. Sau khi nghiên cứu các nguồn ban đầu, ông phát hiện rằng toàn bộ 46 trường hợp của người Aché được Pinker phân loại là “tử vong do chiến tranh” thực tế liên quan đến một thành viên bộ lạc được cho là “bị người Paraguayan bắn”.

Người Aché không hề giết hại nhau, nhưng lại bị “đám người buôn nô lệ săn đuổi hoặc bị cư dân khu vực biên giới Paraguay tấn công”, nguồn tài liệu ban đầu đã cho biết như vậy, trong khi bản thân người Aché “khao khát xây dựng mối quan hệ hòa bình với các nước láng giềng hùng mạnh hơn”. Người Hiwi cũng hệt như vậy. Tất cả đàn ông, phụ nữ và trẻ em được Pinker liệt kê là chết do chiến tranh, sự thật lại là họ bị các chủ trang trại gia súc địa phương giết hại vào năm 1968.[40]

Tỉ lệ giết người cao như vậy không phải do họ tàn sát lẫn nhau, mà những cư dân du mục này là nạn nhân của các điền chủ “văn minh” sử dụng những vũ khí tiên tiến. Fry đã viết: “Các biểu đồ cột và bảng số liệu mô tả tỉ lệ phần trăm […] thể hiện sự khách quan của khoa học. Nhưng hóa ra nó chỉ là một sự lừa dối.”[41]

Vậy chúng ta học được gì từ ngành nhân chủng học hiện đại? Điều gì xảy ra nếu chúng ta kiểm tra một xã hội không có khu định cư, không có nông nghiệp và không có ngựa – một xã hội cho chúng ta thấy rõ loài người đã từng sống như thế nào?

Chắc hẳn bạn đã đoán được: khi nghiên cứu những kiểu xã hội này, chúng ta nhận ra rằng chiến tranh rất hiếm khi xảy ra. Dựa trên bản danh sách các bộ lạc đại diện được soạn cho tạp chí Science năm 2013, Douglas Fry kết luận rằng các cư dân du mục săn bắt hái lượm thường tránh để xảy ra bạo lực.[42] Những cư dân du mục sẽ chọn cách hoặc là nói ra những xung đột của họ, hoặc chỉ việc tiếp tục di chuyển sang thung lũng tiếp theo. Điều này nghe rất giống với các cậu bé trên đảo Ata: khi mất bình tĩnh, chúng sẽ tới những khu vực khác nhau trên đảo để bình tĩnh lại.

Còn một điều nữa. Các nhà nhân chủng học cho rằng các mạng lưới xã hội tiền sử rất nhỏ. Người cổ đại săn bắt hái lượm theo từng nhóm khoảng 30-40 người có quan hệ thân thích, họ nghĩ vậy. Bất kì cuộc chạm trán nào với các nhóm khác cũng nhanh chóng dẫn tới chiến tranh.

Nhưng vào năm 2011, một nhóm nhân chủng học người Mỹ đã vẽ ra các mạng lưới xã hội của 32 xã hội nguyên thủy trên khắp thế giới, từ người Nunamuit ở Alaska tới người Vedda ở Sri Lanka. Họ nhận ra rằng, hóa ra những người du mục rất hòa đồng. Họ thường xuyên tụ tập để cùng ăn uống, tiệc tùng, ca hát và kết hôn với người của các bộ tộc khác.

Đúng, họ thường lang thang săn bắt hái lượm theo từng nhóm nhỏ khoảng 30-40 người, nhưng những nhóm này chủ yếu gồm bạn bè, không phải gia đình, và họ cũng thường xuyên thay đổi thành viên. Kết quả là, những cư dân săn bắt hái lượm xây dựng được một mạng lưới xã hội vô cùng rộng lớn. Trong trường hợp người Aché ở Paraguay và người Hadza ở Tanzania, một nghiên cứu năm 2014 tính toán rằng, trung bình một thành viên trong bộ lạc thường gặp tới một nghìn người trong suốt cuộc đời họ.[43]

Tóm lại, có rất nhiều điều chứng minh rằng một người tiền sử có rất nhiều bạn bè. Liên tục gặp gỡ những người mới nghĩa là liên tục học được những điều mới mẻ, và chỉ bằng cách đó loài người mới trở nên khôn ngoan hơn người Neanderthal.[44]

Còn một cách khác để trả lời câu hỏi tại sao bản chất của người xưa lại hung hãn đến vậy. Đó là tiến hành các cuộc khai quật. Khảo cổ học có thể đem lại bằng chứng thuyết phục nhất để giải quyết cuộc tranh cãi giữa Hobbes và Rousseau, vì tư liệu hóa thạch không hề bị “lây nhiễm” bởi những nhà nghiên cứu như cách các bộ lạc từng bị. Tuy nhiên có một vấn đề: những cư dân săn bắt hái lượm đi lại rất nhanh nhẹn và nhẹ nhàng. Họ không có nhiều đồ đạc và cũng không để lại gì nhiều.

Nhưng thật may cho chúng ta, có một chi tiết quan trọng. Những bức tranh vẽ trong hang động. Nếu trạng thái tự nhiên của chúng ta là “một cuộc chiến tranh tất cả chống lại tất cả” kiểu Hobbes, khi đó bạn sẽ kì vọng rằng ai đó, tại thời điểm đó, sẽ vẽ một bức tranh về cuộc chiến ấy. Nhưng chúng ta lại chưa hề tìm thấy bất kì một bức tranh nào như vậy. Trong số hàng nghìn bức tranh hang động có từ thời săn bắt bò rừng, ngựa và linh dương, chẳng hề có lấy một bức tranh nào mô tả nào về những cuộc chiến.[45]

Còn những bộ xương cổ thì sao? Steven Pinker viện dẫn 21 cuộc khai quật có tỉ lệ giết người trung bình là 15%. Nhưng cũng như trước, danh sách của Pinker ở đây hơi lộn xộn. 20 trong số 21 cuộc khai quật có niên đại từ sau khi phát minh ra nông nghiệp, thuần hóa ngựa, hoặc sự xuất hiện của các khu định cư, chúng đều quá gần đây hay còn gọi là quá mới.

Vậy có bao nhiêu bằng chứng khảo cổ về chiến tranh cổ đại, trước giai đoạn có nông nghiệp, cưỡi ngựa và sống trong các khu vực định cư? Có bao nhiêu bằng chứng cho thấy rằng chiến tranh nằm sâu trong bản chất chúng ta?

Câu trả lời là gần như không có.

Tới nay, khoảng 3.000 bộ xương Homo sapiens được khai quật tại 400 địa điểm đủ để nói cho chúng ta biết về “bản chất tự nhiên” của mình.[46] Các nhà khoa học khi nghiên cứu về những địa điểm này không hề tìm thấy bất kì bằng chứng thuyết phục nào về việc từng xảy ra cuộc chiến tranh tiền sử.[47] Những giai đoạn muộn hơn lại là một câu chuyện khác. Nhà nhân chủng học nổi tiếng Brian Ferguson từng nói: “Chiến tranh không lùi xa mãi mãi theo thời gian. Nó có sự khởi đầu.”[48]

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.