Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Phần 3
TRẠNG THÁI TỰ NHIÊN
“Ở mọi thời đại, con người đều giống nhau, ở chỗ lịch sử chẳng cho chúng ta biết gì mới và lạ trong từng trường hợp cụ thể. Công dụng chính của nó chỉ là để phát hiện những nguyên tắc bất biến và phổ quát của bản chất con người.”
David Hume (1711-1776)
Không biết câu chuyện đầy tình người về sáu cậu bé trên đảo Ata có phải là một câu chuyện khác thường? Hay nó mang những ý nghĩa sâu sắc hơn? Liệu đó có phải là giai thoại độc nhất, hay một minh chứng điển hình về bản chất con người?
Nói cách khác, liệu con người chúng ta đang hướng về thiện hay ác?
Các triết gia đã nghiền ngẫm câu hỏi này hàng trăm năm. Chẳng hạn như triết gia người Anh Thomas Hobbes đã tạo ra một chấn động khi xuất bản cuốn Leviathan vào năm 1651. Tuy Hobbes bị chỉ trích, lên án và trừng phạt, nhưng chúng ta vẫn biết đến tên tuổi ông, trong khi những kẻ chỉ trích ông thì lại bị lãng quên từ lâu. Cuốn sách The Oxford History of Western Philosophy (tạm dịch: Lịch sử triết học phương Tây của Oxford) đã gọi kiệt tác của ông là “tác phẩm vĩ đại nhất về triết học chính trị”.
Hoặc hãy cùng tìm hiểu vị triết gia người Pháp Jean-Jacques Rousseau (1712-1778), người đã viết một loạt các tác phẩm và khiến ông gặp rắc rối chưa từng có. Ông bị lên án, sách của ông bị đốt và ông còn bị bắt giữ. Tuy nhiên, trong khi tất cả những kẻ nhỏ mọn lên án ông đều bị quên lãng thì Rousseau vẫn được nhớ đến cho đến tận bây giờ.
Hai nhân vật trên chưa bao giờ chạm mặt nhau. Lúc Rousseau chào đời thì Hobbes đã mất được 33 năm. Tuy nhiên, họ vẫn có thể “so găng” với nhau trên võ đài triết học. Hobbes muốn chúng ta tin rằng bản chất con người là xấu xa. Ông khẳng định rằng chỉ có xã hội dân sự với hệ thống pháp luật mới có thể cứu vớt chúng ta ra khỏi những bản năng rất đỗi tầm thường. Ngược lại, Rousseau tuyên bố rằng thẳm sâu trong tâm hồn, chúng ta đều thiện lương, ông cũng cho rằng “văn minh” không phải là sự cứu rỗi loài người mà chính là sự hủy hoại.
Có thể bạn chưa bao giờ nghe đến hai nhà triết học trên, nhưng các quan điểm đối lập của hai võ sĩ hạng nặng này chính là nguyên nhân gây ra sự chia rẽ xã hội sâu sắc nhất. Tôi biết không có vụ tranh cãi nào có khoản “tiền cược” cao, hoặc có sự chia rẽ sâu sắc như vụ này. Hình phạt khắc nghiệt hơn đối lập với dịch vụ xã hội tốt hơn, trường học cải cách đối lập với trường học truyền thống, cách quản lý từ thượng tầng xuống đối lập với các nhóm được trao quyền, trụ cột trong gia đình kiểu cũ đối lập với những ông bố hiện đại biết nuôi dạy con – chỉ cần xem xét bất kì cuộc tranh cãi nào bạn nghĩ đến và rồi, bằng cách nào đó, nó sẽ dẫn đến quan điểm đối lập giữa Hobbes và Rousseau.
Chúng ta hãy bắt đầu với Thomas Hobbes, ông là một trong những triết gia đầu tiên cho rằng, nếu chúng ta thật sự muốn biết về chính mình thì chúng ta phải hiểu tổ tiên của mình đã sống như thế nào. Chúng ta hãy cùng ngược trở lại 50.000 năm trước, ở thời điểm đó, chúng ta đã tương tác như thế nào trong quá trình săn bắt và hái lượm? Chúng ta cư xử thế nào khi không hề có quy định pháp luật, không có tòa án hay các thẩm phán, không có nhà tù hay cảnh sát?
Hobbes nghĩ là ông đã tìm ra câu trả lời. Ông viết: “Hãy đọc chính mình”, phân tích những nỗi sợ và cảm xúc của chính mình, “nhờ thế bạn có thể đọc và hiểu được cách tư duy cũng như cảm xúc của tất cả những người từng ở trong tình huống như vậy”.
Khi Hobbes áp dụng phương pháp này với chính ông, kết quả dự đoán mà ông đưa ra thực sự không mấy sáng sủa.
Quay trở lại thời xa xưa, chúng ta đã cho rằng con người sống rất tự do. Loài người có thể làm bất kì điều gì họ muốn nhưng hậu quả của điều đó thật đáng sợ. Theo Hobbes, đời sống con người trong trạng thái tự do hoàn toàn đó rất “cô đơn, nghèo nàn, dơ dáy, hung bạo và ngắn ngủi”. Lý do của những điều này rất đơn giản và được ông đúc kết thành lí thuyết: con người bị nỗi sợ hãi điều khiển và chi phối. Sợ người khác. Sợ chết. Chúng ta thèm khát sự an toàn, đồng thời có “một khát vọng bất diệt và không ngừng đối với quyền lực, điều này chỉ kết thúc khi con người chết đi”.
Kết quả là gì ư? Theo Hobbes đó là “một trạng thái chiến tranh, khi tất cả chống lại tất cả” (tiếng Latin: Bellum omnium in omnes).
Nhưng đừng lo, ông đã trấn an chúng ta bằng cách đưa ra những giải pháp. Tình trạng vô chính phủ này có thể chấm dứt và hòa bình được thiết lập, nếu tất cả chúng ta đồng ý từ bỏ sự tự do của mình. Chúng ta hãy đặt chính mình, cả thể xác và tâm hồn, vào tay một vị quân vương độc đoán. Hobbes đặt tên cho vị quân vương độc đoán này theo tên của con quái thú trong Kinh Thánh: Leviathan.
Tư tưởng của Hobbes đã trở thành nền tảng triết học cho những lập luận được các nhà lãnh đạo độc tài, thống đốc và tướng lĩnh… nhắc đi nhắc lại hàng nghìn, không, phải nói là hàng triệu lần.
“Hoặc trao cho chúng tôi quyền lực, hoặc sẽ mất tất cả.”
Chúng ta cùng lướt nhanh về khoảng hơn 200 năm trước và cùng gặp Jean Jacques Rousseau, một nhạc sĩ vô danh, đang trên đường đi đến nhà tù Vincennes nằm ở ngoại thành Paris, ông đến đó để thăm bạn mình là Denis Diderot, một triết gia tội nghiệp bị bắt giam vì trót đùa giỡn với vị phu nhân của một bộ trưởng.
Khi Rousseau đang dừng bước dưới một bóng cây để nghỉ ngơi, ông đã lướt xem số mới nhất của tạp chí Mercure de France, chợt ông thấy một mục quảng cáo mà sau này sẽ làm thay đổi cuộc đời ông. Đó là một lời mời tham dự cuộc thi viết bài luận do Viện Hàn lâm Dijon tổ chức. Những người tham dự chỉ cần trả lời câu hỏi sau:
“Phải chăng sự phục hồi của khoa học và nghệ thuật sẽ góp phần giúp thanh lọc đạo đức hơn?”
Rousseau lập tức đưa ra câu trả lời. Sau này, ông thuật lại rằng: “Lúc đọc câu hỏi đó, tôi nhìn thấy một vũ trụ khác và trở thành một con người khác.” Khoảnh khắc đó, ông nhận ra xã hội dân sự không phải là một phước lành, mà là một lời nguyền. Khi tiếp tục lên đường tới chỗ người bạn vô tội đang bị giam cầm, ông hiểu rằng “con người về bản chất là tốt, nhưng chính vì những thiết chế này đã khiến con người trở nên ngày càng xấu xa”.
Bài luận của Rousseau đã giành được giải nhất.
Những năm tiếp theo, ông dần trở thành một trong những triết gia hàng đầu trong thời đại của ông. Tôi phải thừa nhận là những trước tác của ông rất đáng đọc. Rousseau không chỉ là một nhà tư tưởng vĩ đại, ông còn là một tác giả tài năng. Hãy cùng đọc đoạn văn phê phán gay gắt việc “phát minh” ra chế độ tư hữu tài sản:
Người đầu tiên rào giậu một mảnh đất làm của riêng, trong đầu anh ta xuất hiện suy nghĩ “Chỗ này là của ta”, và khiến người khác tin vào điều anh ta nói, chính là người đã thực sự lập ra xã hội dân sự. Bao tội ác, bao cuộc chiến tranh, bao vụ án mạng, bao điều bất hạnh và hãi hùng, liệu con người ấy có cứu vớt được loài người, mà khi nhổ cọc hay lấp mương đều sẽ hét lên với đồng loại: Đừng nghe theo kẻ mạo danh này; các người đều lầm lạc, nếu các người quên mất rằng quả ngọt của trái đất thuộc về tất cả chúng ta, còn bản thân trái đất không thuộc về ai cả!
Rousseau lập luận rằng, kể từ khi xã hội dân sự đáng nguyền rủa ra đời, mọi việc trở nên tệ hơn. Nông nghiệp, đô thị hóa, nhà nước, tất cả không đưa chúng ta thoát khỏi tình trạng hỗn loạn, mà còn đọa đày chúng ta, khiến chúng ta bị nô dịch hóa. Ngay cả việc phát minh ra chữ viết hay báo in cũng chẳng phải là điều gì tốt đẹp cả, ngược lại chỉ càng khiến cho mọi việc tồi tệ hơn. Ông viết: “Nhờ có con chữ và mực in mà những ảo tưởng nguy hiểm như của Hobbes… sẽ tồn tại mãi mãi.”
Rousseau tin rằng trước khi có quan lại và vua chúa, mọi thứ đều rất tốt đẹp. Quay lại quãng thời gian con người ở trong “trạng thái tự nhiên” và tự do hoàn toàn, chúng ta vẫn là những sinh vật có lòng trắc ẩn. Còn giờ thì sao? Chúng ta trở nên đa nghi và tư lợi. Chúng ta đã từng tốt lành và khỏe khoắn. Giờ chúng ta biếng nhác và yếu đuối. Theo lập luận của ông, văn minh chính là một sai lầm lớn và chúng ta không được phép phung phí sự tự do của mình.
Tư tưởng của Rousseau đã trở thành nền tảng triết học cho lập luận được những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và sách động, những linh hồn tự do và kích động bạo lực lặp lại hàng nghìn, không, phải là hàng triệu lần rằng:
“Hoặc trao cho chúng tôi tự do, hoặc là mất tất cả.”
Và chúng ta đang ở đây, hơn 200 năm sau.
Một vài triết gia khác cũng có tầm ảnh hưởng đến chính trị, giáo dục và thế giới quan của chúng ta sâu sắc không kém gì Rousseau hay Hobbes. Toàn bộ nền khoa học kinh tế đều lấy tư tưởng về bản chất con người của Hobbes làm nền tảng, tư tưởng này coi chúng ta như là những cá nhân có lý trí, tự phục vụ. Còn Rousseau lại có ảnh hưởng lớn đến giáo dục, do niềm tin của ông – mang tính cách mạng ở thế kỉ 18 – rằng trẻ em cần lớn lên tự do, không ràng buộc bởi bất cứ điều gì.
Ở thời điểm hiện tại, tư tưởng của Hobbes và Rousseau đang bị chao đảo. Hai phe bảo thủ và cấp tiến trong thời đại chúng ta, những người theo chủ nghĩa hiện thực và những người theo chủ nghĩa lý tưởng, đều bắt nguồn từ hai ông. Mỗi khi một người theo chủ nghĩa lý tưởng hô hào tự do và bình đẳng hơn, thì Rousseau sẽ tươi cười đồng ý. Mỗi khi có người yếm thế cằn nhằn rằng tự do chỉ gây thêm bạo lực, thì Hobbes sẽ gật đầu tán đồng.
Tuy nhiên, những trước tác của hai ông không hề dễ đọc chút nào, đặc biệt là khi Rousseau đã dành nhiều không gian để người đọc tự diễn giải. Nhưng chúng ta đang đứng ở vị thế kiểm chứng những điểm bất đồng trong tư tưởng của hai ông cho nên điều đó không mấy quan trọng lắm. Có thể nhận thấy tư tưởng của Hobbes và Rousseau đều mang nặng tính lý thuyết, trong khi chúng ta đang phải thu thập bằng chứng khoa học về thực tế đã xảy ra trong suốt hàng thập kỉ.
Trong Phần 1 của cuốn sách này tôi sẽ đi tìm lời giải cho câu hỏi: Triết gia nào đúng? Chúng ta có biết ơn những ngày chúng ta ở trong “trạng thái tự nhiên” không? Hay khi nhìn lại những ngày tháng đó, chúng ta thấy con người chỉ là loài hoang dã cao quý?
Rất nhiều vấn đề xoay quanh câu hỏi trên.

