Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 1
DƯỚI TẦNG HẦM ĐẠI HỌC STANFORD
01
Ngày 15 tháng 8 năm 1971, vào lúc trước 10 giờ sáng ở phía bờ Tây nước Mỹ, cảnh sát Palo Alto ập đến để lôi chín thanh niên ra khỏi giường. Năm người bị tóm vì tội trộm cắp, bốn người còn lại là vì tội cướp có vũ trang. Những người hàng xóm của họ ngạc nhiên khi nhìn thấy các chàng trai bị khám người, còng tay và bị lôi đi trong những chiếc xe cảnh sát đang đợi sẵn.
Những người hàng xóm không nhận ra rằng: đây là một phần của một thí nghiệm. Một thí nghiệm sẽ đi vào lịch sử như là một trong những nghiên cứu khoa học tai tiếng nhất từng có. Một thí nghiệm sẽ tạo nên tin sốt nóng được đăng ở trang nhất của các tờ báo và là nội dung trong sách giáo trình mà hàng triệu tân sinh viên đại học phải trả phí để đọc được nó.
Chiều cùng ngày xảy ra sự việc trên, những người bị cho là tội phạm – thực tế là những sinh viên đại học vô tội – đi theo hành lang của Tòa nhà 420 để xuống tầng hầm khoa tâm lý học của trường đại học. Một tấm biển chào đón họ đến NHÀ GIAM HẠT STANFORD, ở cuối hành lang có một nhóm chín sinh viên khác đợi sẵn, tất cả đều mặc đồng phục, đeo kính râm. Cũng như những sinh viên bị còng tay, họ ở đây để kiếm thêm chút tiền. Nhưng những sinh viên này sẽ không đóng vai tù nhân. Họ sẽ vào vai cai ngục.
Các tù nhân được lệnh cởi bỏ quần áo, sau đó xếp hàng đứng trần truồng trong hàng lang. Chân họ bị xích lại, đầu đội một chiếc mũ được kéo phủ kín tóc và mỗi người nhận một số hiệu, họ sẽ được gọi bằng số hiệu đó. Cuối cùng, mỗi người được phát một bộ áo tù và nhốt sau song sắt, ba người một buồng giam.
Những điều xảy ra tiếp theo đã khiến cả thế giới phải chấn động. Chỉ trong vài ngày, thí nghiệm Nhà tù Stanford vượt ra ngoài tầm kiểm soát – và quá trình ấy phơi bày một vài sự thật nghiệt ngã về bản chất con người.
Tầng năm Đại học Stanford, tháng 8 năm 1971. Nguồn: Philip G. Zimbardo
Đối tượng tham gia vào thí nghiệm này là một nhóm các thanh niên rất mạnh khỏe, bình thường. Thậm chí, vài người trong số họ, khi kí cam kết tham gia nghiên cứu đã tự nhận mình là những người yêu chuộng hòa bình.
Đến ngày thứ hai, mọi việc bắt đầu mất kiểm soát. Một cuộc nổi loạn trong đám tù nhân bị cai ngục chặn lại bằng bình cứu hỏa. Những ngày sau, cai ngục nghĩ ra đủ kiểu chiến thuật để đánh gục những kẻ thuộc quyền giám sát của họ. Trong các buồng giam nồng nặc mùi phân, tù nhân không chịu nổi các hình phạt do thiếu ngủ và bị hạ nhục, trong khi đó cai ngục lại thích thú với quyền lực mà họ được trao.
Một tù nhân mang số 8612 đã nổi điên. Đạp cửa buồng giam, cậu ấy gào lên: “Ý tao là, lạy Chúa, chúng mày có biết là tao đang phát điên không? Tao muốn ra ngoài! Thí nghiệm này thật chết tiệt! Tao không thể chịu thêm dù chỉ một đêm nữa! Tao không thể chịu hơn được nữa!”[1]
Trưởng nhóm nghiên cứu là nhà tâm lý học Philip Zimbardo cũng bị cuốn vào tấn bi kịch này. Ông vào vai giám thị nhà tù và quyết tâm chơi rắn bằng mọi giá. Cho tới khi thí nghiệm đã diễn ra được sáu ngày, ông ta mới quyết định chấm dứt cơn ác mộng sau khi một nghiên cứu sinh đầy sợ hãi – bạn gái của ông ta – hỏi ông ta đang làm chuyện quái quỷ gì vậy. Đến thời điểm đó, năm tù nhân đang có những biểu hiện “suy sụp tinh thần nghiêm trọng, khóc lóc, giận dữ và vô cùng lo âu”.[2]
Sau thí nghiệm, Zimbardo và nhóm của mình đã phải đối mặt với một câu hỏi nhức nhối: chuyện gì đã xảy ra? Ngày nay bạn có thể tìm thấy câu trả lời trong bất kì cuốn sách tâm lý học nhập môn nào hoặc trong các bộ phim bom tấm Hollywood, phim tài liệu của Netflix và những cuốn sách cực kì bán chạy như The Tipping Point✻ của Malcolm Gladwell.
Đại loại có thể trả lời như sau. Ngày 15 tháng 8 năm 1971, một nhóm sinh viên bình thường đã trở thành thành “lũ quái vật”. Không phải vì họ là những kẻ xấu, mà vì họ bị đặt vào một hoàn cảnh bất đắc dĩ. Gladwell đã nói với chúng ta: “Bạn có thể có được những con người bình thường từ những ngôi trường tốt, những gia đình hạnh phúc, khu phố tử tế. Hoàn cảnh sống, môi trường sống sẽ tác động mạnh mẽ đến hành vi của họ, bằng cách chỉ cần ngay lập tức thay đổi những chi tiết trong hoàn cảnh của họ.”[3]
Philip Zimbardo khẳng định rằng chẳng ai có thể nghi ngờ thí nghiệm của ông ta lại vượt khỏi tầm kiểm soát. Sau đó, ông đã đi đến kết luận rằng tất cả chúng ta đều có khả năng làm những hành động tàn ác nhất. Theo ông, những gì xảy ra ở tầng hầm Đại học Stanford phải được hiểu “như một kết quả ‘đương nhiên’ của việc khoác lên người bộ đồng phục của một ‘cai ngục’.”[4]
02
Ít người biết rằng, 17 năm về trước, một thí nghiệm khác đã được tiến hành cũng đi đến kết luận y hệt như thí nghiệm tại Đại học Stanford, tuy nhiên nó đã bị giới học thuật lãng quên. Đó là Thí nghiệm Động Robbers, một thí nghiệm truyền cảm hứng cho các nhà tâm lý học xã hội trong nhiều thập kỉ sau. Khác với nghiên cứu tại Đại học Stanford, đối tượng của nghiên cứu này không phải là những sinh viên tình nguyện, mà là những đứa trẻ hết sức ngây thơ.
Vào ngày 19 tháng 6 năm 1954, mười hai cậu bé, tất cả tầm khoảng 11 tuổi, đang đứng đợi ở một bến xe buýt tại thành phố Oklahoma. Chẳng đứa trẻ nào trong số đó biết nhau, nhưng tất cả đều xuất thân từ những gia đình trung thực, hay đi lễ ở nhà thờ. Chỉ số IQ của chúng ở mức trung bình, xếp hạng ở trường cũng vậy. Không em nào là kẻ hay gây rối hoặc thích bắt nạt. Tất cả đều là những cậu bé bình thường, biết kiềm chế.
Vào ngày đặc biệt đó, những đứa trẻ đang rất hào hứng. Bởi vì chúng đang trên đường tới trại hè ở công viên cấp bang, cụ thể là ở Động Robbers, vùng Đông Nam Oklahoma. Nơi này nổi tiếng vì từng là nơi ẩn náu một thời của những kẻ ngoài vòng pháp luật huyền thoại như Belle Starr và Jesse James, khu trại rộng khoảng 200 mẫu trong đó có rừng, hồ và hang động. Điều mà các cậu bé không nhận ra là chúng sẽ chia sẻ thiên đường này với một nhóm cắm trại khác đến vào hôm sau. Và chúng cũng không biết rằng đây là một thí nghiệm khoa học. Đám trẻ tham gia cắm trại chính là những con chuột thí nghiệm.
Đứng đầu nhóm nghiên cứu là nhà tâm lý học Thổ Nhĩ Kỳ Muzafer Sherif, người rất quan tâm đến vấn đề xung đột nhóm hình thành như thế nào. Ông chuẩn bị cho trại hè này rất kĩ càng và đưa ra hướng dẫn rõ ràng: các cậu bé được thoải mái làm bất kì điều gì chúng muốn, không cần ngăn cản.
Trong giai đoạn đầu của hoạt động nghiên cứu, không nhóm trẻ nào nhận ra sự hiện diện của một nhóm khác. Chúng ở trong các tòa nhà tách biệt và cho rằng chỉ có chúng trong công viên. Sau đó, sang tuần thứ hai, chúng được cho tiếp xúc với nhau theo cách thận trọng. Chuyện gì sẽ xảy ra? Chúng sẽ trở thành bạn bè, hay địa ngục sẽ xuất hiện?
Thí nghiệm Động Robbers là câu chuyện về những câu bé biết ứng xử – “đẳng cấp tinh hoa”, như Sherif mô tả sau này – chỉ trong vài ngày sẽ biến chất thành “đám choai choai độc ác, nổi loạn và xấu xa”.[5] Trại hè của Sherif diễn ra cùng năm William Golding xuất bản Chúa Ruồi, nhưng trong khi Golding nghĩ trẻ con vốn có sẵn tính ác thì Sherif lại tin mọi thứ tùy thuộc vào hoàn cảnh.
Mọi chuyện bắt đầu khá vui vẻ. Trong tuần đầu tiên, khi hai nhóm vẫn chưa biết đến sự tồn tại của nhóm kia thì các cậu bé ở mỗi trại phối hợp với nhau một cách hoàn hảo. Chúng dựng một cây cầu treo và một tấm ván nhún bể bơi. Chúng nướng thịt viên và dựng lều. Chúng chạy nhảy, vui chơi và rất nhanh, tất cả đã trở thành những người bạn thân.
Tuần tiếp theo thí nghiệm có sự thay đổi. Hai nhóm tự đặt tên là “Cừ khôi” và “Đại bàng” được giới thiệu với nhau. Khi nhóm Cừ khôi nghe nói nhóm Đại bàng đang chơi trên sân bóng chày “của mình” và thách đối phương thi đấu, việc này gây ra sự thù địch và cạnh tranh. Từ đó trở đi, mọi thứ leo thang rất nhanh. Mối đến ngày thứ hai, nhóm Đại bàng đã đốt cờ của nhóm Cừ khôi sau khi thua trò kéo co. Nhóm Cừ khôi trả đũa bằng một cuộc tập kích lúc nửa đêm trong đó chúng xé hết rèm và cướp sạch truyện tranh. Nhóm Đại bàng quyết định trả đũa bằng cách nhét đá vào tất để ném. Đúng lúc ấy, nhân viên trại hè tìm cách can thiệp.
Kết thúc trận đấu tuần đó, nhóm Đại bàng được tuyên bố là bên chiến thắng và nhận được giải thưởng là những con dao bỏ túi sáng loáng. Nhóm Cừ khôi trả thù bằng việc mở một cuộc đột kích nữa và cuốn gói cùng với toàn bộ chiến lợi phẩm là giải thưởng. Khi đối đầu với nhóm Đại bàng đầy tức giận, nhóm Cừ khôi chỉ cười nhạo. “Dám chơi không lũ nhát gan?” Một cậu bé trêu tức, tay huơ huơ những con dao trước mặt nhóm kia.[6]
Khi các cậu bé bắt đầu đánh nhau, Tiến sĩ Sherif, với vai trò người quản lý trại hè, ngồi một bên, hối hả ghi chép, đồng thời ông nói: Thí nghiệm này sẽ là một mỏ vàng!
Câu chuyện Thí nghiệm Động Robbers đã được nhắc lại trong những năm gần đây, đặc biệt từ khi ông Donald Trump được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ. Tôi không thể nói cho các bạn biết đã có bao nhiêu học giả uyên bác coi nghiên cứu này như là chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa hiểu biết về thời đại của chúng ta. Chẳng phải nhóm Cừ khôi và nhóm Đại bàng là biểu tượng cho những va chạm thường thấy giữa cánh tả và cánh hữu, giữa bảo thủ và cấp tiến sao?
Các nhà sản xuất truyền hình đã xem xét tiền đề của nghiên cứu và nhận ra sức hấp dẫn của nó. Ở Hà Lan, họ cố gắng làm một bản dựng lại, không cắt xén hay làm mờ các chi tiết nhạy cảm, bạo lực, có tựa đề “Đây nghĩa là chiến tranh”. Nhưng quá trình làm phim đã bị đình lại ngay khi nó cho thấy khái niệm kia thật sự mang nghĩa là chiến tranh.
Có đủ lý do để mở bản báo cáo nghiên cứu gốc năm 1961 của Muzafer Sherif. Khi đọc nó, tôi có thể quả quyết với các bạn: nó không phải là một tài liệu hấp dẫn. Ngay trên những trang đầu tiên, Sherif nói với chúng ta, “Thái độ tiêu cực đối với các nhóm bên ngoài sẽ được sinh ra theo tình huống.” Câu này có hàm ý rằng đây chính là chiến tranh.
Nhưng trong toàn bộ mớ lí thuyết học thuật, tôi vẫn tìm được một số thực tế thú vị. Với những người mới nhập môn, không phải đám trẻ, mà là những người tiến hành thí nghiệm mới là những người quyết định tổ chức một tuần thi đấu. Nhóm Đại bàng không thiết tha với ý tưởng ấy. Một cậu bé đã đề xuất: “Có lẽ bọn mình nên kết bạn với đám kia, như thế không ai nổi điên và không phải bực tức.”[7]
Và trước sự khăng khăng của các nhà nghiên cứu, các nhóm chỉ chơi những trò chơi có kẻ thắng và người thua rõ ràng, như bóng chày và kéo co. Không hề có giải khuyến khích, và các nhà nghiên cứu điều chỉnh kết quả để bảo đảm hai nhóm ngang nhau trong cuộc đua.
Hóa ra những âm mưu này chỉ là sự khởi đầu.
03
Tôi gặp Gina Perry ở Melbourne vào hè năm 2017, chỉ vài tháng trước khi bà xuất bản cuốn sách về Thí nghiệm Động Robbers. Perry là một nhà tâm lý học người Úc và là người đầu tiên nghiên cứu sâu các kho lưu trữ về thí nghiệm của Sherif. Khi bà nghiên cứu những tập ghi chép và thu âm, bà phát hiện một câu chuyện trái ngược với những điều mà các cuốn sách giáo khoa vẫn nhắc đi nhắc lại suốt 50 năm qua.
Đầu tiên, Perry phát hiện ra rằng Sherif đã từng thử kiểm tra “lý thuyết xung đột thực tiễn” trước đây. Ông tổ chức một trại hè vào năm 1953 bên ngoài thị trấn nhỏ Middle Grove ở bang New York. Ở đó, ông cũng tìm mọi cách để các cậu bé trở thành đối thủ của nhau. Điều duy nhất Sherif sẵn sàng nói đến sau đó – được giấu kín dưới dạng một chú thích chân trang – là thí nghiệm phải ngừng “do rất nhiều khó khăn và điều kiện không thuận lợi”.[8]
Ở Melbourne, Perry nói cho tôi biết điều bà tìm thấy về những chuyện thực sự xảy ra ở trại hè bị lãng quên của Sherif. Hai ngày sau khi đến nơi, các cậu bé đều trở thành bạn bè. Chúng chơi các trò chơi và chạy thỏa thích trong rừng, bắn cung tên và hát đến rách phổi.
Sang ngày thứ ba, những người làm thí nghiệm chia bọn trẻ ra làm hai nhóm – nhóm Báo gấm và nhóm Trăn gió – và thời gian còn lại trong tuần, họ tiến hành mọi thủ đoạn để khiến hai nhóm trở thành kẻ thù của nhau. Khi nhóm Báo gấm muốn thiết kế áo phông của đội với cành ô liu hòa bình, thì các nhân viên đã ngăn việc đó. Vài ngày sau, một trong những người thuộc nhóm nghiên cứu đã kéo đổ lều của nhóm Báo gấm, hi vọng vì chuyện này mà nhóm Báo gấm sẽ nổi khùng. Tuy nhiên ông ấy đã rất thất vọng bởi sau đó hai nhóm cùng hợp lực dựng lại lều.
Tiếp theo, các nhân viên bí mật tập kích trại của Báo gấm với hi vọng nhóm Trăn gió sẽ bị trả thù. Tuy nhiên một lần nữa, các cậu bé lại giúp đỡ nhau. Thậm chí, cậu bé có cây đàn ukulele bị vỡ còn gọi các nhân viên đến và đòi chứng cứ ngoại phạm. Cậu ấy đã nói với nhân viên rằng: “Có lẽ, các bác chỉ muốn xem bọn cháu sẽ phản ứng thế nào thôi phải không?”[9]
Cả tuần lễ trôi qua và tâm trạng của các thành viên trong nhóm nghiên cứu thì rất tệ. Thí nghiệm tốn kém của họ có nguy cơ bị phá sản. Các cậu bé không hề đánh nhau như “lý thuyết xung đột thực tiễn” của Sherif nói rằng chúng sẽ làm vậy, mà thay vào đó chúng vẫn cứ là những bạn bè tốt. Sherif đổ lỗi cho tất cả mọi người trừ bản thân. Ông thức chong chong tới hai giờ sáng – đi đi lại lại, như Perry có thể nghe được trong các bản ghi âm thanh của nghiên cứu – và uống rượu.
Chính vào một trong những buổi tối cuối cùng, căng thẳng bị đẩy lên đỉnh điểm. Trong khi đội cắm trại nằm ngủ yên thì Sherif dọa đấm một trợ lý nghiên cứu vì không cố gắng hết sức để gieo rắc bất hòa trong đám trẻ. Người trợ lý vớ lấy một thanh gỗ để tự vệ và nói: “Tiến sĩ Sherif! Nếu ông làm thế, tôi sẽ nện ông đấy.”[10]
Cuối cùng, đám trẻ nhận ra chúng đang bị thao túng, sau khi một cậu bé phát hiện ra một cuốn vở ghi chép rất chi tiết những hoạt động của hai nhóm. Sau đó, họ chẳng còn lựa chọn nào khác ngoài việc chấm dứt thí nghiệm. Nếu có điều gì được chứng minh thì đó là một khi đám trẻ đã trở thành bạn bè, rất khó để khiến cho chúng đấu lại nhau. Nhiều năm sau, một người trong nhóm tiến hành thí nghiệm đã nói về những nhà tâm lý: “Họ hiểu sai bản chất con người. Chắc chắn họ hiểu sai về trẻ em.”[11]
04
Nếu các bạn nghĩ những thao túng của Tiến sĩ Muzafer Sherif là hành vi vô nhân đạo thì chúng vẫn chưa là gì khi so sánh với kịch bản được dựng lên 17 năm sau. Xét theo bề ngoài thì Thí nghiệm Nhà tù Stanford và Thí nhiệm Động Robbers có rất nhiều điểm chung. Cả hai đều có 24 người tham gia là nam giới, da trắng, và cả hai đều được thiết kế để chứng minh rằng những người tử tế có thể tự biến thành những người xấu xa.[12] Nhưng Thí nghiệm Nhà tù Stanford đi xa hơn một bước.
Nghiên cứu của Philip Zimbardo không chỉ đáng ngờ mà nó còn là một trò lừa đảo.
Những nghi ngờ của tôi dần xuất hiện khi đọc cuốn sách The Lucifer Effect (tạm dịch: Hiệu ứng Lucifer) của Zimbardo, xuất bản năm 2007. Tôi đã luôn cho rằng đám “cai ngục” của ông ấy trở nên tàn ác theo ý muốn của chính họ. Bản thân Zimbardo cũng tự tuyên bố điều đó hàng trăm lần, trong vô số cuộc phỏng vấn, và trong một cuộc điều trần trước Quốc hội Hoa Kỳ, ông còn khai rằng các cai ngục “ghi ra những quy tắc của chính họ để duy trì pháp luật, trật tự và sự tôn trọng”.[13]
Thế nhưng, ở trang 55 trong cuốn sách của mình, Zimbardo đột nhiên đề cập đến một cuộc gặp gỡ với các cai ngục diễn ra vào thứ Bảy, trước thí nghiệm. Buổi chiều hôm đó, ông ấy nói sơ qua với các cai ngục về vai trò của họ. Những điều ông nói không thể nhầm lẫn được:
Chúng ta có thể tạo ra cảm giác vỡ mộng. Chúng ta có thể tạo ra nỗi sợ hãi trong họ […] Chúng ta sẽ làm thay đổi tính cách của họ bằng nhiều cách. Họ sẽ phải mặc đồng phục, và bất kì ai cũng không được gọi họ bằng tên; họ sẽ có số và chỉ được gọi theo số của họ. Nói chung, những điều cần làm là tạo ra cảm giác bất lực trong bọn họ.[14]
Tôi đã sững sờ khi đọc được những dòng này. Đây là bằng chứng chứng minh cho việc ông ấy đã huấn luyện các cai ngục của mình. Bản thân các cai ngục không hề nảy ra ý tưởng gọi tù nhân theo số, hay đeo kính râm, hay chơi những trò chơi tàn bạo. Đó là những gì họ được yêu cầu phải thực hiện.
Không chỉ vậy, vào ngày thứ Bảy trước khi thí nghiệm bắt đầu, Zimbardo đã nói về “chúng ta” và “bọn họ” cứ như thể ông ấy và các cai ngục ở cùng một đội. Điều đó có nghĩa là những điều sau này ông kể về việc mình bị lẫn sang vai trò giám trị nhà từ khi thí nghiệm đang được tiến hành không thể nào là sự thật. Ngay từ đầu Zimbardo đâ là người điều khiển trò chơi này.
Để hiểu rõ điều này gây nguy hiểm như thế nào cho một nghiên cứu khách quan và độc lập, trước tiên chúng ta cần biết những gì mà các nhà khoa học xã hội gọi là đặc điểm nhu cầu. Đây là những hành vi mà các đối tượng nghiên cứu sẽ thực hiện nếu họ đoán được mục đích của cuộc nghiên cứu, điều này sẽ biến một thí nghiệm khoa học thành một chương trình sản xuất có dàn dựng. Và trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford, như một nhà tâm lý học nghiên cứu trình bày, “đặc điểm nhu cầu này được thấy ở khắp mọi nơi”.[15]
Vậy thì, bản thân các cai ngục tin họ được kì vọng để thực hiện điều gì? Có phải họ có thể ngồi đâu đó chơi bài và tán gẫu về thể thao hay gái đẹp? Trong một cuộc phỏng vấn sau này, một sinh viên nói anh ta đã vạch ra từ trước những việc mình sẽ làm: “Tôi đã chuẩn bị một kế hoạch rõ ràng trong đầu và cố gắng thực hiện bằng được, ép chuyện gì đó phải diễn ra, như thế các nhà nghiên cứu mới có việc để làm. Nói cho cùng, họ có thể biết được gì từ những anh chàng ngồi nhàn nhã và coi đây là một câu lạc bộ thể thao ngoài trời cơ chứ?”[16]
Thí nghiệm Nhà tù Stanford không hề bị loại khỏi nội dung các sách giáo khoa sau khi những lời thú nhận tệ hại được đem ra ánh sáng. Tuy nhiên, tệ hơn nữa là vào tháng 7 năm 2013, nhà xã hội học người Pháp Thibault Le Texier tình cờ xem một Hội thảo TED✻ mà Zimbardo tham gia vào năm 2009. Là một nhà làm phim không chuyên, ông lập tức chú ý đến những hình ảnh Zimbardo trình chiếu trên màn hình. Thước phim nguyên bản ghi lại cảnh những sinh viên gào thét. Với cái nhìn thực tế của Le Texier, tư liệu này rất hoàn hảo để thực hiện một bộ phim tài liệu hấp dẫn. Vì vậy ông quyết định nghiên cứu thêm một chút.
Le Texier có một khoản tài trợ từ một quỹ làm phim của Pháp và đặt một chuyến bay đến California. Tại Stanford, ông có hai phát hiện chấn động. Thứ nhất, ông là người đầu tiên tham khảo các lưu trữ của Zimbardo. Điều thứ hai liên quan đến nội dung của các lưu trữ ấy. Thái độ nhiệt tình của Le Texier nhanh chóng nhường chỗ cho sự bối rối và sau đó là mất tinh thần. Cũng như Gina Perry, ông thấy mình bị bao vây bởi hàng chồng tài liệu và bản ghi âm trình bày những gì chung quy lại là một thí nghiệm hoàn toàn khác.
“Phải mất một thời gian tôi mới chấp nhận được rằng có thể tất cả chỉ là giả tạo”, đó là điều Le Texier đã kể với tôi vào mùa thu năm 2018, một năm trước khi phân tích gay gắt của ông xuất hiện trên tờ tạp chí tâm lý học uy tín hàng đầu thế giới, American Psychologist.
Ông nói: “Mới đầu, tôi không muốn tin. Tôi nghĩ: Không, đây là một giáo sư danh tiếng của Đại học Stanford. Chắc mình đã nhầm.”
Nhưng bằng chứng đã nói lên tất cả.
Trước tiên, không phải Zimbardo là người nghĩ ra thí nghiệm mà là một trong những sinh viên đại học của ông ấy, một chàng trai có tên David Jaffe. Trong một bài tập của khóa học, anh và bốn người bạn cùng lớp nghĩ đến việc biến tầng hầm khu kí túc xá của họ thành một nhà tù. Họ tập trung được một nhóm những người bạn sẵn sàng tham gia và đến tháng 5 năm 1971, họ tiến hành thử nghiệm của mình với sáu cai ngục, sáu tù nhân và đích thân Jaffe làm giám thị.
Các cai ngục nghĩ ra những quy định như: tù nhân phải gọi nhau bằng số, tù nhân phải luôn gọi giám thị là “Ngài Sĩ quan Chỉnh huấn”. Vào thứ Hai tiếp theo, khi đang trong lớp học, Jaffe kể về “thí nghiệm” thú vị của mình và những cảm xúc mãnh liệt nó tạo ra cho những người tham gia. Zimbardo bị thuyết phục và ông ấy nghĩ rằng phải đích thân thử chuyện này.
Chỉ có một khía cạnh của nghiên cứu khiến Zimbardo lăn tăn: Liệu ông ấy có thể tìm được các cai ngục đủ tàn bạo hay không? Ai có thể giúp ông ấy moi ra những điều tồi tệ nhất trong con người? Vị giáo sư tâm lý học quyết định thuê chàng sinh viên làm người tư vấn, sau này Jaffe kể: “Tôi được đề nghị gợi ý các chiến thuật dựa trên kinh nghiệm trước đó tôi có được, với tư cách bậc thầy tàn bạo.”[17]
Suốt 40 năm với hàng trăm cuộc phỏng vấn và bài báo, Philip Zimbardo trước sau như một nhất định nói rằng các cai ngục trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford không hề nhận chỉ đạo nào cả. Ông quả quyết rằng họ tự nghĩ ra tất cả: các quy định, những hình phạt và các cách sỉ nhục họ thực hiện trên tù nhân. Zimbardo nói về Jaffe như một cai ngục – cũng như những người khác – bị cuốn vào thí nghiệm.
Tất cả đều là sự dối trá, hóa ra 11 trong số 17 quy định là do Jaffe đưa ra. Chính Jaffe soạn một bản nghi thức tiếp đón chi tiết khi các tù nhân đến. Xích chân họ ư? Là ý tưởng của anh ta. Lột sạch quần áo tù nhân? Cũng vậy. Buộc họ trần truồng đứng suốt 15 phút? Vẫn là do Jaffe.
Vào ngày thứ Bảy trước thí nghiệm, Jaffe dành 6 tiếng với các cai ngục khác, giải thích cách họ sử dụng xích và dùi cui sao cho hiệu quả nhất. Anh ta nói với những người trong vai cai ngục: “Tôi có một danh sách những điều các anh cần làm, một số chuyện phải được tiến hành.”[18] Sau khi toàn bộ màn thử thách kết thúc, các cai ngục đồng nghiệp của anh ta khen ngợi anh ta vì “những ý tưởng sáng tạo và vô cùng tàn ác” của anh ta.[19]
Zimbardo cũng góp phần vào trò chơi đầy tàn bạo này. Ông ta vạch ra một lịch trình nghiêm ngặt để khiến các tù nhân ngủ ít nhất có thể, đánh thức họ dậy để điểm danh lúc 2h30 sáng và 6h sáng. Ông ta gợi ý hình thức chống đẩy như một hình phạt dành cho các tù nhân, hoặc nhét cành gai hay cỏ gai vào chăn của họ. Và ông ta nghĩ cần bổ sung thêm cả hình thức biệt giam.
Nếu bạn thắc mắc tại sao Zimbardo phải làm quá nhiều việc phức tạp để kiểm soát thí nghiệm như vậy thì câu trả lời rất đơn giản. Ban đầu, Zimbardo không quan tâm đến các cai ngục. Ban đầu, thí nghiệm của ông ta tập trung vào các tù nhân, ông ta muốn tìm hiểu xem các tù nhân sẽ hành động thế nào khi chịu áp lực lớn. Họ sẽ thấy chán nản đến mức nào? Thất vọng thế nào? Sợ hãi thế nào?
Các cai ngục tự coi mình là các trợ lý nghiên cứu của ông ta, điều này khá hợp lý bởi vì đó là cách Zimbardo đã đối xử với họ. Phản ứng gây sốc của Zimbardo trước cách hành xử tàn bạo của họ, cộng thêm ý tưởng rằng đây là bài học đích thực của thí nghiệm này, đều được tạo ra sau thực tế. Trong suốt thí nghiệm, ông ta và Jaffe ép các cai ngục phải cứng rắn hơn đối với các tù nhân – sau đó còn khiển trách những cai ngục đã không làm những điều đó.
Trong một bản thu âm bị lộ, có thể nghe thấy tiếng Jaffe đang giải thích chiến thuật này với cai ngục “mềm yếu” là John Markus, thúc bách anh ta ngay trong ngày thứ hai phải thực hiện hành động cứng rắn hơn với các tù nhân:
Jaffe: “Nói chung, về cơ bản cậu tử tế và nhân đạo […] nhưng chúng tôi rất muốn cậu tích cực và tham gia vì các cai ngục phải biết rằng tất cả mọi người phải trở thành những gì chúng tôi gọi là một “cai ngục cứng rắn” và cho đến giờ, ừm…”
Markus: “Tôi không quá cứng rắn…”
Jaffe: “Phải. Chà, cậu phải cố gắng học được điều đó.”
Markus: “Tôi không biết điều đó…”
Jaffe: “Cậu phải biết rằng, ý tôi muốn nói cứng rắn có nghĩa là cậu phải quyết liệt và cậu phải hành động, đại loại vậy. Điều đó thật sự quan trọng và cần thiết cho thí nghiệm này…”
Markus: “Xin lỗi, tôi lấy làm rất tiếc […] nếu việc đó hoàn toàn là do tôi quyết định, tôi sẽ không làm gì cả. Tôi sẽ để mọi việc lắng xuống.”[20]
Điều thú vị là ở chỗ hầu hết cai ngục trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford vẫn do dự khi áp dụng các chiến thuật “cứng rắn” ngay cả dưới sức ép gia tăng. Hai phần ba số cai ngục từ chối tham gia vào các trò chơi tàn bạo. Một phần ba đối xử tử tế với các tù nhân, Zimbardo và nhóm của ông ta đã rất thất vọng. Một cai ngục xin rút khỏi thí nghiệm vào Chủ Nhật trước khi thí nghiệm bắt đầu, anh ấy nói rằng mình không thể tuân theo các yêu cầu đó.
Hầu hết các đối tượng tham gia vào thí nghiệm bởi vì Zimbardo trả tiền công hậu hĩnh. Họ kiếm được 15 đô la một ngày – tương đương khoảng 100 đô la bây giờ – tuy nhiên họ không được nhận tiền cho tới khi thí nghiệm kết thúc. Các cai ngục và tù nhân đều sợ rằng nếu họ không tuân thủ đúng kịch bản của Zimbardo thì họ sẽ không được trả công.
Nhưng, từng đó tiền cũng chưa đủ hấp dẫn để những tù nhân tham gia đến cùng, có một người thấy chán ngay sau ngày thứ nhất đến mức muốn bỏ cuộc. Đây là tù nhân số 8612, Douglas Korpi, 22 tuổi, người nổi khùng vào ngày thứ hai, anh đã hét lên: “Ý tao là, lạy Chúa! […] Tao không thể chịu hơn được nữa!”[21]. Sự suy sụp của anh ấy nổi bật nhất trong mọi phím tài liệu và trở thành bản ghi âm nổi tiếng nhất của toàn bộ Thí nghiệm Nhà tù Stanford.
Một nhà báo tìm gặp Korpi vào mùa hè năm 2017.[22] Korpi kể với nhà báo rằng việc suy sụp là giả mạo – đóng kịch từ đầu đến cuối. Không phải là ông ấy chưa từng tiết lộ về điều này. Thực tế, ông ấy đã kể với vài người sau khi thí nghiệm kết thúc: chẳng hạn như Zimbardo, người phớt lờ ông ấy, cùng với một nhà làm phim tài liệu, cũng là người đã biên tập cắt bỏ chi tiết ấy khỏi phim của mình.
Douglas Korpi, sau này có bằng tiến sĩ tâm lý học, nói rằng ban đầu ông ấy rất hào hứng khi tham gia vào thí nghiệm. Ngày đầu tiên “thật sự vui,” ông ấy nhớ lại. “Tôi phải la hét, gào thét và hành động một cách điên rồ. Tôi phải hành động như một tù nhân thực sự. Tôi là một diễn viên tốt. Đó là quãng thời gian tuyệt vời.”[23]
Cuộc vui ngắn chẳng tày gang. Khi Korpi kí hợp đồng, anh đinh ninh rằng mình có thể dành thời gian đó để ôn thi, nhưng một khi đã ở sau những chấn song sắt, Zimbardo và các đồng sự không để anh được đụng đến sách vở. Cho nên ngày hôm sau, anh quyết định bỏ cuộc.
Trước sự ngạc nhiên của anh, Zimbardo từ chối. Tù nhân sẽ chỉ được thả nếu họ cho thấy những vấn đề sức khỏe hoặc tâm lý. Vậy là Korpi quyết định giả vờ. Đầu tiên, anh vờ bị đau dạ dày. Khi việc đó không hiệu nghiệm, anh thử bị suy sụp tinh thần: “Ý tao là, lạy Chúa, tao đang hóa điên ở trong này! Chúng mày không biết à? Tao muốn ra ngoài! Chết tiệt! Tao không thể chịu thêm một đêm nữa! Tao không thể chịu hơn được nữa!”[24]
Những tiếng la hét đó đã được cả thế giới biết đến.
Sau thí nghiệm đó, hàng triệu người đã mắc lừa kịch bản khôi hài của đạo diễn Philip Zimbardo.
Một người từng tham gia thí nghiệm với vai trò tù nhân kể lại vào năm 2011: “Điều tệ hại nhất là Zimbardo nhận được rất nhiều sự chú ý suốt 40 năm…”[25] Thậm chí, Zimbardo gửi thước phim từ thí nghiệm của mình tới các đài truyền hình trước cả khi ông ấy phân tích dữ liệu đó. Những năm sau đó, ông ấy nổi lên như nhà tâm lý học danh tiếng nhất thời đại mình, và được thăng chức làm Chủ tịch Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ.[26]
Trong một bộ phim tài liệu được thực hiện vào những năm 1990 về Thí nghiệm Nhà tù Stanford, cai ngục sinh viên Dave Eshelman thắc mắc chuyện gì có thể xảy ra nếu các nhà nghiên cứu không thúc ép cai ngục và Zimbardo thở dài nói: “Chúng ta sẽ chẳng bao giờ biết.”[27]
Hóa ra là chúng ta sẽ biết.
Những gì Eshelman không biết là hai nhà tâm lý học người Anh sẽ đặt nền tảng cho một thí nghiệm thứ hai. Một thí nghiệm được thiết kế để trả lời câu hỏi: Chuyện gì sẽ xảy ra với những người bình thường khi họ mặc bộ đồng phục và bước chân vào một nhà tù?
05
Năm 2001, một cuộc gọi đến từ BBC.
Đó là thời kì đầu của các chương trình truyền hình thực tế. Chương trình Big Brother vừa mới ra mắt và các đài truyền hình ở khắp nơi bận rộn nghĩ ra những ý tưởng sản xuất để giành được sự quan tâm của khán giả. Do đó, đề nghị của BBC không hoàn toàn tự nhiên mà có: Một lần nữa, quý vị có quan tâm đến thí nghiệm hãi hùng cùng như các tù nhân và cai ngục đó không? Nhưng lần này thí nghiệm đó sẽ được phát sóng trên khung giờ vàng?
Người trực tiếp tiến hành thí nghiệm là Alexander Haslam và Stephen Reicher, hai tiến sĩ tâm lý học, và đó là một đề xuất trong mơ với họ. Vấn đề lớn trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford nằm ở chỗ: đó là thí nghiệm vô đạo đức đến mức không ai dám tái hiện nó, và vì vậy trong nhiều thập kỉ Zimbardo được hưởng lợi từ chính thí nghiệm đó. Nhưng giờ đây hai nhà tâm lý học người Anh này được trao cơ hội để làm lại thí nghiệm đó, trên màn hình.
Haslam và Reicher đồng ý với hai điều kiện. Một, họ sẽ toàn quyền kiểm soát nghiên cứu. Hai, một ủy ban đạo đức sẽ được quyền chấm dứt thí nghiệm bất kì lúc nào nếu mọi chuyện có nguy cơ vượt ra ngoài tầm kiểm soát.
Trong khoảng thời gian trước khi phát sóng, báo chí Anh tràn ngập những lời đồn đoán. Người ta sẽ lún sâu đến mức nào? “Phải chăng chương trình truyền hình thực tế này điên rồ?”, tờ Guardian đặt câu hỏi.[28] Ngay cả Philip Zimbardo cũng thể hiện thái độ phẫn nộ, ông nói: “Rõ ràng họ đang làm lại thí nghiệm này với hi vọng rằng sẽ tạo ra tấn bi kịch dữ dội chẳng khác gì nghiên cứu của tôi.”[29]
Khi phần đầu tiên của The Experiment lên sóng vào ngày 1 tháng 5 năm 2002, hàng triệu người khắp nước Anh ngồi dán mắt vào tivi. Điều xảy ra tiếp theo giống như những đợt sóng xung kích lan đi khắp…
Thực tế, nó không hề như vậy.
Những gì xảy ra tiếp theo là chẳng có gì xảy ra cả. Phải rất kiên nhẫn tôi mới có thể ngồi xem cho hết bốn phần dài cả tiếng đồng hồ. Hiếm khi tôi xem một chương trình mà nó nhàm chán đến tê dại đầu óc thế này!
Vậy ý tưởng của thí nghiệm do BBC thực hiện đã sai ở chỗ nào? Haslam và Reicher bỏ đi một điều: họ không hề nói với các cai ngục phải làm gì. Tất cả những gì các nhà tâm lý học làm là quan sát. Họ nhìn từ bên ngoài trong khi vài anh chàng bình thường ngồi tụ tập với nhau như thể đang ở một câu lạc bộ thể thao.
Mọi chuyện chỉ bắt đầu khi một cai ngục tuyên bố mình không cảm thấy hợp với vai cai ngục: “Nói thật là tôi muốn vào vai tù nhân…”
Sang ngày thứ hai, một người khác gợi ý chia sẻ đồ ăn của cai ngục với các tù nhân để khích lệ tinh thần họ. Rồi đến ngày thứ tư, khi thấy một vài tia lửa có thể lóe lên, một cai ngục khuyên một tù nhân: “Nếu bọn mình có thể theo đến hết vụ này, bọn mình sẽ tới quán rượu và nhậu một chầu.” Một cai ngục khác lại nói: “Chúng ta hãy thảo luận về chuyện này giống như những con người.”
Đến ngày thứ năm, một tù nhân đề xuất thiết lập một chế độ dân chủ. Ngày thứ sáu, vài tù nhân thoát khỏi buồng giam của mình. Họ tiến đến căng tin của cai ngục để hút thuốc, và các cai ngục nhanh chóng nhập bọn với họ. Ngày thứ bảy, cả nhóm bỏ phiếu tán thành lập ra một công xã.
Vài cai ngục tìm cách thuyết phục cả nhóm quay lại chế độ ban đầu, nhưng điều đó không được thực hiện một cách nghiêm túc cho lắm. Thí nghiệm rơi vào thế bế tắc và phải dừng lại. Phần cuối cùng chủ yếu gồm thước phim đám người ngồi ườn trên trường kỉ. Đến lúc cuối, chúng ta được thưởng thức vài cảnh quay xúc động đó là các nhân vật này ôm nhau, và sau đó một cai ngục đưa cho một tù nhân áo khoác của mình.
Trong khi đó khán giả cảm thấy họ bị lừa. Những bàn chân bị xích đâu? Sao không có túi giấy chụp lên đầu? Khi nào chúng tôi có thể xem được những trò chơi tàn bạo? BBC phát sóng bốn tiếng chỉ có cảnh: hút thuốc, chuyện phiếm và ngồi vớ vẩn liên tu bất tận. Hay như tờ Sunday Herald bình luận: “Chuyện gì xảy ra khi bạn đưa những người tốt vào một chỗ xấu và quay lên truyền hình? Ờm, thực tế là không có chuyện gì xảy ra cả.”[30]
Với các nhà sản xuất truyền hình, thí nghiệm bộc lộ một sự thật rằng: nếu bạn để mặc những người bình thường, thì sẽ chẳng có gì xảy ra cả. Hay tệ hơn, họ sẽ tìm cách bắt đầu xây dựng một cộng đồng hòa bình.
Từ góc độ khoa học, thí nghiệm này là một thành công vang dội. Haslam và Reicher xuất bản hơn 10 bài báo về các kết quả của họ trên các tạp chí học thuật uy tín. Nhưng với những người còn lại – BBC và khán giả của họ – thì đó là một thất bại. Do đó, nghiên cứu Nhà tù của BBC chìm vào quên lãng trong khi người ta vẫn nhắc đến Thí nghiệm Nhà tù Stanford.
Và Philip Zimbardo đã nói gì về chuyện này? Vào năm 2018, một nhà báo hỏi ông ta rằng có phải những phát hiện mới về chuyện bị thao túng như thế nào sẽ làm mọi người thay đổi cách nhìn nhận thí nghiệm của ông ta hay không, nhà tâm lý học đáp rằng ông ấy không quan tâm: “Người ta có thể nói bất kì điều gì họ muốn. Phải khẳng định rằng đó là nghiên cứu nổi tiếng nhất trong lịch sử ngành tâm lý học. Không có nghiên cứu nào mà mọi người nhớ đến sau 50 năm. Những người bình thường cũng biết đến nó. […] Giờ nó đã có cuộc đời của riêng nó. […] Tôi sẽ không bào chữa gì. Lời bào chữa mạnh mẽ nhất chính là sự trường tồn của thí nghiệm.”[31]

