Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 2

STANLEY MILGRAM VÀ MÁY SỐC ĐIỆN

01

Vẫn còn một thí nghiệm tâm lý học khác còn nổi tiếng hơn Thí nghiệm Nhà tù Stanford, và một nhà tâm lý sẽ trở nên nổi tiếng hơn cả Philip Zimbardo. Khi tôi bắt tay viết cuốn sách này, tôi biết mình không thể bỏ qua ông ấy cùng thí nghiệm mà ông đã thực hiện.

Đó là Stanley Milgram.

Vào ngày 18 tháng 6 năm 1961, Milgram đã tiến hành thí nghiệm của mình, lúc đó ông vẫn là một trợ lý giáo sư trẻ tuổi. Hôm đó, một quảng cáo được đăng trên tờ New Haven Register: “Chúng tôi sẽ trả 4 đô la mỗi giờ cho thời gian của bạn”.[1] Quảng cáo mời gọi 500 người bình thường – thợ cắt tóc và nhân viên phục vụ quầy rượu, thợ xây và doanh nhân – tham gia vào một nghiên cứu về trí nhớ của con người.

Hàng trăm người đã tới phòng thí nghiệm của Stanley Milgram tại Đại học Yale trong những tháng tiếp theo để tham gia vào thí nghiệm. Họ được chia theo cặp và rút phiếu phân công một người vào vai “giáo viên”, người kia vai “học sinh”. Giáo viên ngồi trước một thiết bị lớn được giới thiệu là máy sốc điện. Sau đó, họ được hướng dẫn thực hiện bài kiểm tra trí nhớ với học sinh đang bị cột vào ghế trong phòng bên. Với mỗi câu trả lời sai, giáo viên phải ấn công tắc sốc điện một lần như một hình thức phạt.

Thực tế, học sinh là những thành viên trong nhóm Milgram, và cỗ máy không hề gây sốc điện. Nhưng các giáo viên không biết chuyện đó. Họ nghĩ đây hoàn toàn là một thí nghiệm về hiệu ứng của hình phạt đối với trí nhớ, và họ không hề nhận ra đối tượng thực sự của thí nghiệm là họ.

Các cú sốc ban đầu rất yếu, chỉ 15 volt. Nhưng mỗi lần học trò đưa ra một câu trả lời sai, một người trong nhóm nghiên cứu lại hướng dẫn giáo viên tăng điện thế lên các mức độ: từ 15 đến 30, từ 30 đến 45 volt. Và cứ thế, bất kể học trò trong phòng bên có gào thét to đến đâu, thậm chí giáo viên còn tăng mức phạt lên vùng có ghi “NGUY HIỂM: SỐC MẠNH”. Khi đạt mức 350 volt, học sinh bị văng vào tường rồi bất tỉnh.

Milgram hỏi khoảng 40 đồng nghiệp trong ngành tâm lý học xem họ dự đoán các đối tượng thí nghiệm của ông sẵn sàng đi xa tới mức nào. Họ đều nói rằng chỉ 1 hoặc 2% – chỉ những bệnh nhân tâm thần – mới đi hết lộ trình đến 450 volt.[2]

Kết quả của thí nghiệm thật là một cú sốc: 65% người tham gia nghiên cứu đi một mạch đến mức cực hạn, 450 volt. Rõ ràng, hai phần ba những ông bố, người bạn và người chồng bình thường đều sẵn sàng nhấn nút giật chết một người xa lạ.[3]

Tại sao họ lại làm vậy? Bởi vì có người nói họ hãy làm như vậy.

Nhà tâm lý học Stanley Milgram, khi đó 28 tuổi, lập tức trở nên nổi tiếng. Gần như mọi trang báo, đài phát thanh và kênh truyền hình đều đưa tin về thí nghiệm của ông. “65% đối tượng tham gia thí nghiệm mù quáng tuân lệnh gây ra đau đớn cho người khác”, tờ New York Times chạy tít.[4] Tờ báo đặt câu hỏi: Loại người nào lại có thể tống cả triệu người vào các buồng khí ngạt? Từ những phát hiện của Milgram có thể thấy câu trả lời rất rõ ràng. Tất cả chúng ta.

Stanley Milgram, vốn là người Do Thái, ngay từ đầu đã trình bày nghiên cứu của mình như lời giải thích phù hợp nhất cho việc tàn sát người Do Thái. Trong khi Muzafer Sherif cho rằng chiến tranh nổ ra ngay khi các nhóm người đối đầu với nhau, và Zimbardo (người học cùng trường với Milgram) tuyên bố chúng ta biến thành quái vật ngay khi khoác lên mình bộ đồng phục, thì lời giải thích của Milgram tinh tế hơn nhiều. Thông minh. Và trên hết là đáng sợ hơn.

Stanley Milgram và máy sốc điện của ông. Nguồn: Biên niên Giáo dục Đại học.

Với Milgram, tất cả xoay quanh quyền lực. Ông cho rằng, con người là những sinh vật tuân theo mệnh lệnh một cách mù quáng. Trong căn phòng thí nghiệm tại tầng hầm Đại học Yale, những người trưởng thành biến thành những đứa trẻ không hề suy nghĩ, thành những con chó Labrador được huấn luyện vui vẻ tuân lệnh khi được ra lệnh “ngồi”, “lắc mình” hay “nhảy khỏi cầu”. Thật kì lạ là điều đó tương tự như những tên quốc xã, dù chiến tranh đã kết thúc vẫn tiếp tục thốt ra câu khẩu lệnh cũ: Befehl ist Befehl, nghĩa là: Mệnh lệnh là mệnh lệnh.

Milgram rút ra kết luận rằng: bản chất con người đi kèm với một mối nguy hiểm đã được lập trình sẵn – một khiếm khuyết làm cho chúng ta hành động như những con chó biết nghe lời, thực hiện những điều kinh khủng nhất.[5] Ông cũng tuyên bố: “Nếu một hệ thống các trại giết người được dựng lên ở Hoa Kỳ, thì người ta có thể tìm đủ nhân sự cho các trại đó ở bất kì thành phố nào.”[6]

Thời gian tiến hành thí nghiệm của Milgram không thể phù hợp hơn. Vào ngày tình nguyện viên đầu tiên bước vào phòng thí nghiệm của ông, một phiên tòa gây tranh cãi đang bước vào tuần cuối cùng. Tội phạm chiến tranh Adolf Eichmann đang bị xét xủ ở Jerusalem trước sự chứng kiến của 700 nhà báo. Trong số đó có triết gia Do Thái Hannah Arendt, người đưa tin về vụ việc cho tạp chí New Yorker.

Trong thời gian giam giữ trước khi bị đem ra xét xử, Eichmann đã trải qua quá trình đánh giá tâm lý do sáu chuyên gia đầu ngành thực hiện. Không ai tìm thấy bất kì dấu hiệu nào như rối loại hành vi. Điều kì quặc duy nhất ở hắn, theo một bác sĩ, là ở chỗ dường như hắn “bình thường hơn bình thường”.[7] Arendt đã viết, Eichmann không phải là kẻ tâm thần cũng chẳng phải là tên quái vật. Hắn chỉ bình thường như tất cả những thợ cắt tóc, nhân viên phục vụ quầy rượu, thợ xây và doanh nhân đã đến phòng thí nghiệm của Milgram. Câu cuối cùng trong cuốn sách của mình được Arendt dành để chẩn đoán hiện tượng: “Sự tầm thường của cái ác”.[8]

Nghiên cứu của Milgram và triết lý của Arendt được gắn với nhau kể từ đó. Hannah Arendt được xem là một trong những triết gia vĩ đại nhất của thế kỉ 20; Stanley Milgram thì cung cấp bằng chứng để khẳng định giả thuyết của mình. Rất nhiều phim tài liệu, tiểu thuyết, kịch sân khấu và chương trình truyền hình nhiều kì đã coi cỗ máy sốc điện lừng danh của Milgram là trung tâm điểm. Nó còn xuất hiện trong một bộ phim của diễn viên John Travolta, trong một tập phim The Simpsons và một chương trình truyền hình thực tế của Pháp.

Nhà tâm lý học Muzafer Sherif còn cho rằng: “Thí nghiệm tuân lệnh của Milgram là đóng góp vĩ đại duy nhất cho tri thức của loài người, từng được lĩnh vực tâm lý học xã hội, hoặc có lẽ là tâm lý học nói chung tạo ra.”[9]

Phải thành thật là ban đầu, tôi muốn đánh sập những thí nghiệm của Milgram. Khi bạn viết một cuốn sách bênh vực cho cái thiện trong con người thì luôn có những thách thức lớn mà bạn cần phải giải quyết. William Golding và trí tưởng tượng đen tối của ông. Richard Dawkins và cuốn Gen vị kỉ. Jared Diamond và câu chuyện kinh hoàng về đảo Phục Sinh. Và, dĩ nhiên cả Philip Zimbardo, nhà tâm lý học còn sống nổi tiếng nhất thế giới cùng thí nghiệm mà ông thực hiện.

Nhưng đứng đầu danh sách của tôi phải là Stanley Milgram. Tôi chẳng biết nghiên cứu nào vừa không có đạo đức, vừa tăm tối lại còn nổi tiếng như thí nghiệm với máy sốc điện của ông. Khi hoàn thành nghiên cứu kéo dài vài tháng, tôi cho rằng mình đã thu thập đủ kiến thức để phản bác lập luận của Milgram. Trước tiên, tôi bắt đầu với kho lưu trữ tài liệu cá nhân của ông ấy, bởi gần đây chúng được mở cho công chúng đến xem. Tuy nhiên, tôi phải cảnh báo là chúng chứa kha khá các bí mật mà Milgram không muốn tiết lộ.

Khi tôi tới Melbourne, Gina Perry nói với tôi rằng: “Khi nghe nói có sẵn tài liệu lưu trữ, tôi háo hức muốn nhìn vào hậu trường.” (Đây cũng chính là Gina Perry, người đã phơi bày Thí nghiệm Động Robbers là một màn gian lận; xem thêm Chương 7). Vậy là bắt đầu những gì Perry gọi là “quá trình vỡ mộng”, nó được đẩy lên đến cực điểm trong một cuốn sách ghi lại những phát hiện của bà. Những gì Perry khám phá đã biến bà ấy từ một người hâm mộ Milgram trở thành nhà phê bình kịch liệt.

Trước tiên chúng ta hãy xem xét những gì Perry tìm thấy. Lại một lần nữa, đó là câu chuyện về một nhà tâm lý học theo đuổi danh tiếng và sự tung hô. Một con người với ý niệm sai lầm và giở thủ đoạn để đạt được những kết quả mình muốn. Một con người cố tình gây đau đớn kinh hoàng cho những người đáng tin, muốn đưa tay ra giúp đỡ người khác.

02

Đó là ngày 25 tháng 5 năm 1962. Ba ngày cuối cùng của thí nghiệm. Gần 1000 tình nguyện viên đã lần lượt xuất hiện bên cỗ máy sốc điện, bỗng Milgram nhận thấy thiếu điều gì đó. Những bức hình.

Vậy là một máy ảnh giấu kín khẩn trương được lắp đặt để ghi lại phản ứng của người tham gia. Chính trong thời gian này Milgram tìm ra ngôi sao của mình, một người đàn ông với cái tên sẽ trở thành từ đồng nghĩa với sự tầm thường của cái ác. Hay đúng hơn, biệt danh của anh ta: Fred Prozi. Nếu bạn đã từng xem thước phim về các thí nghiệm của Milgram, một trong số hàng trăm phim tài liệu hoặc trong một clip trên YouTube thì có lẽ bạn đã thấy Prozi hành động. Và cũng như Zimbardo và tù nhân 8612, chính những bản ghi âm của Fred Prozi giúp cho thông điệp của Milgram tạo ra sức ảnh hưởng ghê gớm.

Chúng ta thấy một người đàn ông chắc nịch, trông rất thân thiện, trạc 50 tuổi, với vẻ ngập ngừng thấy rõ, thực hiện những gì ông ta được yêu cầu. “Nhưng anh ta có thể chết trong đó!” ông ta đau khổ kêu lên – và sau đó ấn công tắc tiếp theo.[10] Nhìn bi kịch diễn ra, khán giả bị cuốn hút, họ vừa hãi hùng vừa thích thú muốn xem Prozi sẽ đi xa đến đâu.

Thí nghiệm đó đã tạo ra sự giật gân, và Milgram hiểu điều này. “Tuyệt vời!” ông đánh giá màn trình diễn của Prozi. Ông xúc động trước “sự từ bỏ hoàn toàn và căng thẳng tuyệt vời” của Prozi, và quyết định chọn người này làm nhân vật chính cho bộ phim của mình.[11] Nếu bạn nghĩ Milgram giống một đạo diễn hơn là một nhà khoa học, thì bạn không sai đâu, bởi vì chính tư cách là một đạo diễn đã giúp ông ấy thật sự tỏa sáng.

Bất kì ai đi chệch khỏi kịch bản của ông ấy đều bị ép phải tuân lệnh bằng áp lực rất lớn. Người đàn ông hướng dẫn những người đóng vai giáo viên nhấn nút – một giáo viên sinh học Milgram thuê có tên John Williams – sẽ cố gắng buộc mọi người phải tiếp tục ấn những công tắc điện thế cao hơn. Thậm chí, ông ta còn ra tay với một phụ nữ 46 tuổi dám tắt máy sốc điện, Williams liền bật máy trở lại và yêu cầu bà phải tiếp tục.[12]

“Khi bạn nghe những đoạn ghi âm này, bạn sẽ nhận ra sự tuân phục mù quáng trước quyền lực giống như bị bắt nạt và ép buộc nhiều hơn,” Gina Perry viết.[13]

Câu hỏi mấu chốt là liệu các chủ thể thí nghiệm có tin họ đang tạo ra những cú sốc điện thật sự. Không lâu sau thí nghiệm, Milgram viết rằng “với một vài ngoại lệ, các chủ thể đều bị thuyết phục rằng tình huống thí nghiệm là thực”.[14] Nhưng các lưu trữ của ông có rất nhiều tuyên bố từ những người tham gia bày tỏ thái độ nghi ngờ. Điều đó không có gì ngạc nhiên nếu như suy xét đến mức độ kì quái của tình huống. Có thật sự người ta được kì vọng sẽ tin rằng có người đang bị tra tấn và giết hại ngay dưới sự theo dõi của các nhà khoa học từ một cơ sở uy tín như Yale?

Khi nghiên cứu kết thúc, Milgram gửi cho những người tham gia một danh sách những câu hỏi. Trong đó có một câu hỏi là: Bạn thấy tình huống này có thật sự xảy ra? Mãi cho đến 10 năm sau, ông mới công khai các câu trả lời trong chương cuối cuốn sách do ông viết về các thí nghiệm. Chính vì điều này mà chúng ta phát hiện ra rằng chỉ có 56% đối tượng thí nghiệm tin rằng họ đang gây đau đớn cho học sinh. Không chỉ vậy, có một bản phân tích chưa bao giờ được công bố của một trợ lý từng làm cho Milgram tiết lộ rằng, đa số những người thật sự tin các cú sốc là thật đã đề nghị bỏ cuộc.[15]

Vậy nếu gần một nửa số người tham gia cho rằng thí nghiệm là giả thì nghiên cứu của Milgram sẽ đi đến đâu? Milgram đã công bố rằng ông muốn cho mọi người thấy “những sự thật sâu sắc và đáng lo ngại về bản chất con người” qua những phát hiện của mình, về mặt cá nhân, ông cũng thể hiện sự nghi ngờ khi viết trong nhật kí của mình vào tháng 6 năm 1965: “Liệu toàn bộ chuyện rùm beng này có giúp cho khoa học trở nên ý nghĩa hơn hay đơn thuần chỉ là một sân khấu nơi các nhà khoa học chính là đạo diễn, đây vẫn là một câu hỏi mở. Còn tôi có khuynh hướng nghiêng về cách hiểu thứ hai.”[16]

Khi công khai kết quả của cuộc thí nghiệm gây sốc điện vào năm 1963, Milgram đã vấp phải thái độ phản đối gay gắt. “Tra tấn mở to mắt”, “kinh tởm” và “chỉ hợp với những thí nghiệm trên người bọn quốc xã” là một vài trong rất nhiều cách mà báo chí mô tả những gì ông làm.[17] Sự phản đối kịch liệt của người dân dẫn đến việc ra đời những nguyên tắc đạo đức cơ bản trong việc tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu.

Suốt thời gian đó Milgram vẫn giữ một bí mật nữa. Ông chọn cách không thông báo cho khoảng 600 người tham gia thí nghiệm đó rằng: các cú sốc điện trong thí nghiệm không phải là thật. Milgram sợ sự thật về nghiên cứu của ông sẽ bị lộ và sau này ông không còn tìm được đối tượng nghiên cứu cho các thí nghiệm khác nữa. Và vậy là hàng trăm người vẫn cứ nghĩ họ đã gây sốc điện cho một người khác.

Một đối tượng thực hiện nghiên cứu đó đã thú nhận: “Thực tế, tôi đọc hết các mục cáo phó trên tờ New Haven Register trong ít nhất hai tuần sau thí nghiệm, để xem liệu tôi có phải là nhân tố gây ra cái chết của người được gọi là học sinh hay không.”[18]

03

Trong phiên bản đầu tiên của chương này, tôi đã bỏ ngỏ câu trả lời. Kết luận của tôi là, cũng như màn nhập vai tàn bạo của Philip Zimbardo, nghiên cứu của Milgram chẳng khác gì một trò hề.

Nhưng những tháng sau khi gặp Gina Perry, tôi bị một mối ngờ vực đeo bám dai dẳng. Lẽ nào tôi quá hăng hái trong việc loại bỏ cái máy sốc điện? Tôi nghĩ lại cuộc thăm dò của Milgram với gần 40 đồng nghiệp, hỏi họ xem có khoảng bao nhiêu đối tượng sẽ lựa chọn công tắc 450 volt. Tất cả đều đoán rằng chỉ những người thật sự điên hoặc bối rối mới nhấn cái công tắc cuối cùng đó.

Có một điều chắc chắn khác: các chuyên gia đều nhầm to. Ngay cả khi tính đến quan điểm định kiến của Milgram, anh chàng trợ lý hung hăng của ông ấy và sự hoài nghi trong số những tình nguyện viên, vẫn có quá nhiều người bị quyền lực làm cho mờ mắt. Quá nhiều người bình thường tin rằng những cú sốc điện là thật nhưng vẫn tiếp tục ấn cái công tắc cao nhất đó. Dù bạn nhìn nhận vấn đề như thế nào, kết quả của Milgram rất đáng lo ngại.

Và đó không chỉ là kết quả của Milgram. Các nhà tâm lý học khắp thế giới từng tái hiện lại thí nghiệm sốc điện của ông bằng nhiều hình thức khác nhau, với những cải biến nho nhỏ (như rút ngắn thời gian thí nghiệm) để thỏa mãn các hội đồng đạo đức của các trường đại học. Có rất nhiều chỉ trích đối với những nghiên cứu này, nhưng sự thật không lấy gì làm dễ chịu lặp đi lặp lại là kết quả vẫn như nhau.

Nghiên cứu của Milgram dường như không thể bác bỏ giống như tấm áo giáp chống đạn. Như một thứ xác sống không chịu chết, nó cứ quay trở lại. “Người ta đã cố gắng hạ bệ nó nhưng nó luôn đứng vững.”[19] Rõ ràng, người bình thường có khả năng thực hiện hành động độc ác với người khác.

Nhưng tại sao lại vậy? Tại sao giống loài Homo puppy lại bật công tác 450 volt nếu chúng ta vốn tử tế? Đó là câu hỏi tôi cần trả lời.

Điều đầu tiên tôi thắc mắc là liệu những thí nghiệm tuân lệnh của Milgram có thực sự dùng để kiểm chứng sự tuân phục. Dưới đây là phần ghi chép ông ấy viết cho Williams – người mặc áo choàng xám, đóng vai hướng dẫn đối tượng nghiên cứu bật công tắc – chỉ đạo người này thúc ép những đối tượng nghiên cứu ương ngạnh bằng bốn cách:

Thứ nhất là nói: “Xin hãy tiếp tục”.

Tiếp theo: “Thí nghiệm yêu cầu quý vị tiếp tục thực hiện”.

Sau đó: “Việc quý vị cần tiếp tục thực hiện nghiên cứu này là tuyệt đối cần thiết”.

Và cuối cùng: “Quý vị không có lựa chọn nào khác, quý vị phải tiếp tục”.

Các nhà tâm lý học ngày nay chỉ ra rằng chỉ có dòng cuối cùng mới là một mệnh lệnh. Khi nghe lại các cuộn băng, rõ ràng ngay khi Williams nói những lời này, tất cả mọi người đều dừng lại. Hiệu ứng ở đây là sự bất tuân tức thời. Điều này đã đúng vào năm 1961, và cũng đúng khi thí nghiệm của Milgram được tái hiện lại nhiều lần sau đó.[20]

Những phân tích chi li về hàng trăm lượt sốc điện của Milgram càng tiết lộ rằng các đối tượng càng thêm bất tuân khi người đàn ông mặc áo choàng xám càng thể hiện sự áp đặt nhiều hơn. Nói cách khác: Giống loài Homo puppy không tuân theo mệnh lệnh của quyền lực một cách ngu ngốc. Hóa ra chúng ta có một sự ác cảm rành rành đối với lối hành xử hống hách.

Vậy thì làm thế nào Milgram có thể thuyết phục các chủ thể của mình tiếp tục nhấn công tắc? Alex Haslam và Steve Reicher, những nhà tâm lý học đứng đằng sau Nghiên cứu Nhà tù BBC (xem Chương 7), đã đưa ra một giả thuyết hấp dẫn khác. Thay vì phục tùng người huống dẫn thí nghiệm, những người tham gia quyết định tiếp tục tiến hành thí nghiệm. Tại sao ư? Vì họ tin anh ta.

Haslam và Reicher nhận thấy rằng hầu hết những người tình nguyện tham gia nghiên cứu đều đến với cảm giác họ hữu dụng. Họ muốn giúp Williams hoàn thành tốt công việc. Điều này giải thích tại sao tỉ lệ thiện chí chung giảm xuống khi Milgram thực hiện thí nghiệm trong một văn phòng đơn giản đối lập với khung cảnh cao quý của Đại học Yale. Nó cũng có thể giải thích lý do cách “thúc bách” gắn với một mục tiêu khoa học (như “Thí nghiệm đòi hỏi quý vị tiếp tục”) lại hiệu quả,[21] và tại sao những người tham gia hành xử không như những người máy thiếu suy xét, mà đầy băn khoăn ngờ vực.

Một mặt, đối tượng thí nghiệm đồng cảm với người mặc áo choàng xám, người liên tục nhắc đi nhắc lại rằng toàn bộ những việc họ đang thực hiện là vì lợi ích khoa học. Mặt khác, họ không thể phớt lờ sự khổ sở của học viên ở phòng bên kia. Những người tham gia liên tục kêu lên: “Tôi không thể thực hiện việc này thêm nữa” và “tôi bỏ cuộc”, ngay cả khi họ vẫn tiếp tục tiến tới công tắc tiếp theo.

Sau đó, một người đàn ông kể rằng, ông ấy kiên định vì con gái mình, một em bé sáu tuổi bị bại não. Ông hi vọng, một ngày nào đó thế giới y học sẽ tìm ra phương thuốc để chữa trị căn bệnh đó: “Tôi muốn nói rằng, tôi sẵn sàng làm bất cứ điều gì để giúp cho nhân loại, hãy hiểu theo cách đó.”[22]

Khi Milgram nói với các đối tượng nghiên cứu của mình rằng đóng góp của họ sẽ mang lại lợi ích cho khoa học, nhiều người đã thở phào. Một câu trả lời được nhiều người nói nhất là: “Tôi rất mừng vì mình có thể cống hiến một chút gì đó, và hãy tiếp tục các thí nghiệm của ngài bằng mọi cách chừng nào chúng đem lại điều tốt đẹp. Trong thế giới hỗn loạn điên khùng này của chúng ta, một chút tử tế thôi cũng là là điều cần thiết.”[23]

Khi nhà tâm lý học Don Mixon lặp lại thí nghiệm của Milgram trong những năm 70, ông rút ra cùng một kết luận mà sau này ông ghi lại, “Thực tế, mọi người sẵn sàng chịu khốn cùng để có được kết quả là sự tử tế. Người ta mắc kẹt trong việc cố để tử tế…”[24]

Nói cách khác, nếu bạn ép buộc người khác đủ mạnh, nếu bạn thúc bách, dụ dỗ và khuyên nhủ họ, thực tế nhiều người trong chúng ta sẽ có khả năng làm điều ác. Con đường tới địa ngục lát bằng những ý định tử tế. Nhưng cái ác không ở ngay bề mặt; phải bỏ công sức để lôi nó ra. Và quan trọng nhất, cái ác lại ngụy trang dưới lớp vỏ bọc là những điều tốt.

Mỉa mai thay, những ý định tốt cũng đóng vai trò quyết định trong Thí nghiệm Nhà tù Stanford ở Chương 7. Cai ngục sinh viên Dave Eshelman, người băn khoăn không rõ mình có tiến hành được mọi việc, nếu không được hướng dẫn một cách rõ ràng hay không, cũng mô tả mình là một “nhà khoa học tận tụy”.[25] Sau đó, anh nói mình cảm thấy đã làm được điều gì đó có ích: “Vì bằng cách nào đó, tôi đã đóng góp vào việc hiểu được bản chất con người.”[26]

Điều này cũng đúng với trường hợp của David Jaffe, viên trợ lý của Zimbardo với ý tưởng nhà tù nguyên gốc. Jaffe khuyến khích các cai ngục có thiện chí thực thi đường lối cứng rắn hơn bằng cách chỉ ra những lý do cao cả của nghiên cứu này. Anh ta nói với người cai ngục đang dao động: “Điều chúng tôi muốn làm là có thể […] bước ra ngoài kia và nói về những điều chúng ta đã làm: ‘Hãy nhìn xem, đây là những gì sẽ xảy ra khi các người sở hữu những cai ngục hành xử theo cách này.’ Nhưng để nói được như vậy chúng ta phải có những cai ngục hành xử theo cách ấy.”[27]

Cuối cùng, David Jaffe và Philip Zimbardo muốn công trình nghiên cứu của họ có thể tạo ra một cuộc cách mạng cho toàn hệ thống nhà tù. Jaffe trấn an anh chàng cai ngục: “Rất hi vọng những gì xuất hiện trong nghiên cứu này là một đề xuất nghiêm túc cho việc cải cách. Đây là mục tiêu của chúng ta. Chúng ta sẽ không cố để làm việc này chỉ vì chúng là đều là, ừm, những kẻ tàn bạo”.[28]

04

Giờ chúng ta hãy quay trở lại với Adolf Eichmann. Ngày 11 tháng 4 năm 1961 là ngày bắt đầu phiên tòa xét xử viên sĩ quan quốc xã về các tội ác chiến tranh. Trong 14 tuần tiếp theo, hàng trăm nhân chứng đã xuất hiện. Trong 14 tuần tiến hành truy tố, thẩm phán đã làm hết sức để bóc trần những tội ác là những việc Eichmann đã làm.

Đây không chỉ là một phiên tòa đơn thuần, nó còn là một bài học lịch sử gây chấn động, một sự kiện truyền thông được hàng triệu người theo dõi. Trong số đó có cả Stanley Milgram, ông được vợ mô tả như là “một người nghiện tin tức”, theo dõi sát sao quá trình xét xử.[29]

Khi đó, Hannah Arendt cũng ngồi trong phòng xét xử, sau này bà kể lại rằng: “Rắc rối với Eichmann chính xác là có quá nhiều người như hắn, và những người đó lại chẳng hề biến thái hay tàn bạo, họ đã và vẫn bình thường đến đáng sợ.”[30] Trong những năm sau đó, Eichmann được coi là đại diện tiêu biểu của “kẻ sát nhân bàn giấy” vô lương tâm – vì sự tầm thường của cái ác trong mỗi chúng ta.

Cho tới mãi gần đây, các nhà sử học mới đưa ra một vài kết luận khác. Khi cơ quan tình báo Israel bắt được Eichmann vào năm 1960, hắn đang ẩn náu ở Argentina. Tại đó, hắn từng được cựu sĩ quan SS Hà Lan là Willem Sassen phỏng vấn trong nhiều tháng. Sassen ôm mộng khiến Eichmann thừa nhận rằng kế hoạch tàn sát người Do Thái chỉ là một sự dối trá được thêu dệt để làm mất thể diện chế độ quốc xã. Nhưng ông ta đã thất vọng.

“Tôi không hối hận!” Eichmann dứt khoát trả lời ông ta.[31] Hoặc như hắn từng tuyên bố năm vào 1945: “Tôi sẽ cười ha hả khi xuống mồ bởi vì đối với tôi cảm giác mắc tội với năm triệu người đúng là hết sức thỏa mãn”.[32]

Khi đọc 1.300 trang phỏng vấn, tôi thấy trong đó tràn ngập những ý tưởng méo mó và suy nghĩ kì quái, rõ ràng Eichmann không phải là một quan chức đần độn. Hắn là một kẻ cuồng tín. Hắn hành động không phải bằng sự lãnh đạm, mà do được tin tưởng. Cũng như các đối tượng nghiên cứu trong thí nghiệm của Milgram, Eichmann làm điều ác vì hắn ta tin mình đang làm điều tốt.

Mặc dù bản ghi các cuộc phỏng vấn của Sassen có sẵn vào thời điểm xét xử, nhưng Eichmann vẫn tìm cách gây nghi ngờ về tính xác thực của các cuộc phỏng vấn. Và vì thế, hắn khiến cả thế giới nhìn nhận sai lệch. Suốt thời gian ấy, các băng ghi âm phỏng vấn nằm rải rác trong cục lưu trữ Bundesarchiv ở Koblenz, nơi triết gia Bettina Stangneth tìm thấy chúng vào 50 năm sau. Những gì bà nghe thấy đã khẳng định rằng mọi thứ trong các bản ghi của Sassen là hoàn toàn chính xác.

Eichmann khai trong phiên tòa rằng: “Tôi chưa bao giờ làm bất cứ điều gì, dù to dù nhỏ, mà không nhận được những chỉ dẫn rõ ràng từ Adolf Hitler hay bất kì cấp trên nào.” Đây là một lời dối trá trơ tráo. Và lời nói dối của hắn được lặp lại như vẹt bởi vô số tên quốc xã phục vụ dưới chế độ phát xít, rằng “chỉ làm theo mệnh lệnh”.

Các sử gia nhận thấy, những mệnh lệnh do Đệ tam Đế chế đưa ra thường có xu hướng mơ hồ, không rõ ràng. Những mệnh lệnh chính thức hiếm khi được ban hành, cho nên những kẻ trung thành với Hitler phải dựa vào sự sáng tạo của bản thân. Thay vì chỉ đơn giản là vâng lời lãnh đạo, sử gia Ian Kershaw giải thích rằng bọn họ “làm việc hướng về Hitler”, cố gắng hành động theo tinh thần của Quốc trưởng.[33] Điều này truyền cảm hứng cho cả một nền văn hóa lãnh tụ duy nhất trong đó những tên quốc xã ngày càng cực đoan đã nghĩ ra những biện pháp ngày một khắc nghiệt để nhận được sự chiếu cố, công nhận của Hitler.

Nói cách khác, chiến dịch tàn sát người Do Thái không phải là tác phẩm của những con người đột nhiên biến thành người máy, cũng giống như những tình nguyện viên của Milgram đều dừng lại để suy nghĩ trước khi bấm công tắc. Những người thực hiện tin chắc rằng họ đang đứng về phía đúng đắn của lịch sử. Trại Auschwitz là trung tâm điểm của một giai đoạn lịch sử phức tạp, trong đó hình phạt dành cho những tù nhân được nâng lên từng bước và điều ác biến thành cái tốt một cách thuyết phục hơn. Bộ máy tuyên truyền Quốc xã – với những văn sĩ và nhà thơ, triết gia và nhà chính trị – đã có nhiều năm thực hiện công việc, làm ngu muội và đầu độc đầu óc của người Đức. Giống loài Homo puppy bị lừa dối và tuyên truyền, tẩy não và thao túng.

Chỉ khi đó thì những điều không thể tưởng tượng được mới xảy ra.

Phải chăng Hannah Arendt đã nhầm lẫn khi bà viết rằng: Eichmann không phải một con quái vật? Phải chăng bà bị lung lạc bởi hành động của hắn trước tòa?

Đó là quan điểm của nhiều sử gia, những người trích dẫn các sách của bà như một trường hợp “ý tưởng hay, ví dụ tồi”.[34] Nhưng một số triết gia không đồng ý với các sử gia, họ cho rằng các sử gia này đã không hiểu suy nghĩ của Arendt. Vì Arendt đã thực sự nghiên cứu những bài phỏng vấn của Sassen với Eichmann và bà không hề viết trong bất cứ tài liệu nào là Eichmann chỉ đơn thuần tuân theo mệnh lệnh.

Hơn nữa, Arendt là người công khai chỉ trích các thí nghiệm về sự tuân phục của Milgram. Mặc dù nhà tâm lý học trẻ tuổi rất ngưỡng mộ triết gia nhưng chiều ngược lại thì không. Arendt kết tội Milgram có “niềm tin ngây thơ rằng cám dỗ và ép buộc thật sự giống nhau”.[35] Và, khác với Milgram, bà không hề nghĩ rằng có một tên Quốc xã đang ẩn náu trong mỗi chúng ta.

Vậy tại sao cả Milgram và Arendt lại cùng đi vào lịch sử? Một số chuyên gia khi nghiên cứu về tài liệu của Arendt đã tin rằng những nhận định của bà đã bị diễn giải sai. Bà là một trong những triết gia nói bằng cách ngôn✻, sử dụng các cụm từ bí ẩn rất dễ gây ra hiểu nhầm. Hãy xem nhận định của bà rằng Eichmann “không suy nghĩ”. Bà không nói hắn là một kẻ sát nhân bàn giấy như người máy, mà đúng hơn, như chuyên gia nghiên cứu về Arendt là Roger Berkowitz chỉ ra, là Eichmann không thể suy nghĩ từ góc độ của người khác.[36]

Thực tế, Hannah Arendt là một trong những triết gia hiếm hoi tin rằng hầu hết mọi người, trong sâu thẳm đều tử tế.[37] Bà cho rằng thiên hướng của chúng ta đối với tình yêu và tình bạn mạnh hơn bất kì thiên hướng nào, cho dù đó là thù hận hay bạo lực. Và khi chúng ta lựa chọn đi theo cái ác, chúng ta cảm thấy buộc phải ẩn náu đằng sau những lời dối trá và sáo rỗng, cho chúng ta vẻ bề ngoài đức hạnh.

Eichmann là một ví dụ điển hình. Hắn thuyết phục chính mình rằng hắn đã làm những điều vĩ đại, mang tính lịch sử mà nhờ đó hắn được các thế hệ sau ngưỡng mộ. Điều đó không biến hắn thành một con quái vật hay cỗ máy giết người. Nó làm cho hắn thành một người chung tay góp sức. Nhiều năm sau, các nhà tâm lý học cũng đưa ra kết luận tương tự về nghiên cứu của Milgram: những người tham gia thí nghiệm sốc điện không phải vì sự tuân phục mà là vì sự phù hợp.

Thật kinh ngạc là Hannah Arendt đã có những suy nghĩ mang tính vượt thời đại, khi bà có quan sát y hệt như trên.

Đáng buồn là, những diễn giải đơn giản thái quá của Stanley Milgram (con người phục tùng cái ác không cần suy nghĩ) đã gây ra ấn tượng mạnh mẽ hơn tư tưởng triết lý phân lớp của Hannah Arendt (con người bị cái ác đội lốt điều tốt cám dỗ). Điều này nói lên tài năng đạo diễn của Milgram, con mắt diễn kịch và sự nhạy bén của ông ta về việc thu hút ánh nhìn của truyền thông.

Tuy nhiên tôi vẫn cho rằng điều khiến Milgram trở nên nổi tiếng là vì ông đã cung cấp bằng chứng để củng cố cho đức tin vốn cắm rễ sâu nơi con người. Như nhà tâm lý học Don Mixon từng nhận xét: “Các thí nghiệm của Milgram dường như được rất nhiều người ủng hộ, bởi nó củng cố cho lời tiên tri quan trọng nhất, lâu đời nhất – rằng chúng ta sinh ra đã là những kẻ có tội. Hầu hết chúng ta, ngay cả những người vô thần, đều tin rằng con người sẽ trở nên tốt hơn khi được nhắc nhở về bản chất tội lỗi của mình.”[38]

Điều gì thôi thúc chúng ta tin rằng con người ngày càng tha hóa? Tại sao lý thuyết vỏ ngoài lại liên tục quay trở lại trong những phép hoán vị? Tôi cho rằng nó liên quan rất nhiều đến sự tiện lợi. Thật kì lạ là, việc chúng ta tin vào bản chất tội lỗi của mình lại là một cách để an ủi hay một kiểu giải thoát. Vì nếu hầu hết chúng ta xấu xa, thì việc cam kết và phản kháng lại chẳng đáng để chúng ta phải cố gắng.

Niềm tin vào bản chất tội lỗi của nhân loại cũng là một lời giải thích cho sự tồn tại của cái ác. Khi đối mặt với thù hận và sự ích kỉ, bạn có thể tự nhủ: “Ô! Chậc, đó chính là bản chất con người mà.” Nhưng nếu bạn tin rằng con người vốn tính bản thiện, thì khi đó bạn sẽ đặt câu hỏi: Tại sao cái ác vẫn luôn tồn tại? Điều đó hàm ẩn rằng việc cam kết và nỗ lực chống lại cái ác sẽ rất có giá trị, nó buộc chúng ta có nghĩa vụ hành động chống lại cái ác.

Năm 2015, nhà tâm lý học Matthew Hollander đã nghiên cứu lại các bản ghi âm của 117 lượt tham gia tại máy sốc điện của Milgram.[39] Sau khi phân tích kĩ lưỡng, ông phát hiện một mẫu thức, đó là, những đối tượng nghiên cứu tìm cách dừng việc làm thí nghiệm sử dụng ba chiến thuật:

1) Nói chuyện với nạn nhân.

2) Nhắc cho người mặc áo choàng xám trong thí nghiệm về trách nhiệm của anh ta.

3) Liên tục từ chối tiếp tục hành động.

Giao tiếp và đối đầu, trắc ẩn và phản kháng. Hollander phát hiện rằng hầu như tất cả những người tham gia đều sử dụng các chiến thuật này – hầu như tất cả đều muốn dừng lại – những người thành công là những người sử dụng chúng nhiều hơn. Tin vui là: đây là những kĩ năng có thể rèn luyện. Kháng cự chỉ cần thực hành là được. Hollander nhận xét: “Điều phân biệt những người hùng của Milgram, chủ yếu là một loại năng lực khả giáo trong việc chống lại quyền lực đáng nghi vấn.”[40]

Nếu bạn nghĩ việc kháng cự sắp sửa tuyệt diệt thì tôi sẽ kể cho bạn nghe một câu chuyện diễn ra ở Đan Mạch trong Thế chiến thứ Hai. Đó là một câu chuyện về những người bình thường thể hiện sự can đảm phi thường. Đồng thời nó cũng cho thấy rằng sự kháng cự luôn đáng giá, thậm chí ngay cả khi phải đánh đổi tất cả.

05

Vào ngày 28 tháng 9 năm 1943, tại trụ sở Tòa nhà Hội đồng Lao động số ở 24 Romersgade, Copenhagen, các thủ lĩnh Đảng Dân chủ Xã hội đều có mặt. Một vị khách trong quân phục quốc xã đứng trước mặt họ. Họ kinh ngạc và nhìn chằm chằm vào gã.

Gã lên tiếng nói: “Thảm họa có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Mọi thứ đã được lên kế hoạch một cách chi tiết. Tàu sẽ thả neo ở bên ngoài Copenhagen. Những người đồng hương Do Thái tội nghiệp của các người, nếu bị Gestapo tóm được, sẽ bị cưỡng chế lên tàu, sau đó không biết số phận của họ sẽ đi về đâu.”[41]

Vị chủ tịch lúc này run bắn và tái nhợt. Tên ông là Georg Ferdinand Duckwitz. Ông sẽ đi vào lịch sử như là “nhân vật Quốc xã cải đạo”, và lời cảnh cáo của ông sẽ làm nên một phép màu.

Cuộc tấn công diễn ra vào thứ Sáu, ngày 1 tháng 10 năm 1943, theo đúng kế hoạch chi tiết mà SS đã vạch ra. Ngay lúc 8 giờ tối, hàng trăm binh sĩ Đức bắt đầu gõ cửa từng nhà trên khắp cả nước để bắt giữ những người Đan Mạch gốc Do Thái. Những người Do Thái này sẽ bị đưa tới cảng và lên một con tàu có sức chứa 6.000 tù binh.

Nói theo thuật ngữ của các thí nghiệm sốc điện là: Đan Mạch không phải đi từ 15 tới 30 volt hay từ 30 tới 45 volt, mà là thực hiện ngay lập tức cú sốc 450 volt. Cho tới tận thời điểm bị bắt, người Do Thái vẫn không hề bị phân biệt đối xử, không có huy hiệu màu vàng bắt buộc, không có chuyện tịch thu tài sản người Do Thái. Người Đan Mạch gốc Do Thái thấy mình bị đưa tới các trại tập trung ở Ba Lan trước khi họ kịp hiểu điều gì xảy ra.

Ít nhất, đó là kế hoạch.

Vào cái đêm đã được báo trước, hàng vạn người Đan Mạch bình thường – thợ cắt tóc và nhân viên phục vụ quán rượu, thợ xây và người buôn bán – đã từ chối bấm chiếc công tắc cuối cùng trên cỗ máy sốc điện. Đêm đó, lính Đức phát hiện ra rằng người Do Thái đã được thông báo trước về cuộc bố ráp và hầu như đã trốn thoát gần hết. Thực tế, nhờ lời cảnh báo đó, gần 99% người Do Thái ở Đan Mạch sống sót sau chiến tranh.

Chúng ta có thể giải thích phép màu Đan Mạch như thế nào? Điều gì làm cho đất nước này trở thành ngọn hải đăng soi đường trên biển cả tối tăm?

Sau chiến tranh, các sử gia đã đưa ra khá nhiều nguyên nhân, trong đó đề cập đến một nhân tố quan trọng đó là Quốc xã đã không hoàn toàn nắm được quyền kiểm soát ở Đan Mạch. Kết quả là, hành động chống lại người Đức ở Đan Mạch không rủi ro hay mang đến hậu quả nghiêm trọng như ở các quốc gia khác, chẳng hạn như Hà Lan.

Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đã đưa ra một lời giải thích vượt trội, theo sử gia Bo Lidegaard thì: “Không thể phủ nhận rằng người Đan Mạch gốc Do Thái được bảo vệ bằng cam kết kiên định từ những người đồng hương.”[42]

Khi tin tức về cuộc bố ráp lan đi, sự phản kháng xuất hiện ở mọi nơi. Từ nhà thờ, trường đại học và cộng đồng buôn bán, từ hoàng gia, Hội đồng Luật sư và Hội đồng Quốc gia Phụ nữ Đan Mạch – tất cả đều lên tiếng phản đối. Gần như ngay lập tức, một mạng lưới các tuyến đường trốn thoát được hình thành, thậm chí không cần việc lên kế hoạch tập trung và không cần cố gắng điều phối hàng trăm nỗ lực của từng cá nhân. Đơn giản là không có thời gian. Hàng nghìn người Đan Mạch, giàu và nghèo, trẻ và già, đều hiểu rằng giờ là lúc hành động, và rằng ngoảnh mặt đi sẽ là một sự phản bội đối với tổ quốc mình.

Sử gia Leni Yahil nhận xét: “Thậm chí, dù ở bất đâu, chỉ cần người Do Thái đề nghị được giúp đỡ, họ sẽ không bao giờ bị từ chối.”[43] Các trường học và bệnh viện đều mở cửa. Những ngôi làng nhỏ đón nhận hàng trăm người tị nạn. Cảnh sát Đan Mạch cũng hỗ trợ người Do Thái và từ chối hợp tác với Quốc xã. Tờ Dansk Maanedspost, một tờ báo kháng chiến lên tiếng khẳng định: “Người Đan Mạch không quay lưng với Hiến pháp của mình, ít nhất là trong vấn đề quyền bình đẳng của công dân.”[44]

Đối lập với nước Đức hùng mạnh bị pha tạp bởi những lời tuyên truyền phân biệt chủng tộc thì Đan Mạch khiêm nhường lại tràn trề tinh thần nhân văn. Các nhà lãnh đạo Đan Mạch luôn kiên định với tinh thần thượng tôn pháp luật. Bất kì ai tìm cách đẩy người dân chống lại nhau đều không đáng được gọi là người Đan Mạch. Không thể có những điều như “vấn đề Do Thái” mà chỉ có những đồng bào.

Trong một vài ngày ngắn ngủi, hơn 7.000 người Đan Mạch gốc Do Thái được chở trên những chiếc tàu đánh cá nhỏ vượt eo biển Sound ngăn cách Đan Mạch với Thụy Điển. Cuộc giải cứu của họ là một đốm lửa nhỏ nhưng sáng chói trong thời điểm tăm tối nhất. Đó là một chiến thắng của tình người và lòng dũng cảm. Nhà sử học Lidegaard đã nhận xét: “Trường hợp của Đan Mạch cho thấy rằng sự huy động chủ nghĩa nhân văn của xã hội dân sự […] không chỉ mang tính lý thuyết mà còn được hiện thực hóa. Chúng ta biết được như vậy vì nó đã thực sự diễn ra rồi.”[45]

Hóa ra, sự phản kháng của Đan Mạch lại có sức lan tỏa đến mức mà ngay cả những kẻ trung thành nhất của Hitler ở Đan Mạch cũng bắt đầu cảm thấy nghi ngờ. Bọn chúng ngày càng khó hành động, cứ như thể chúng đang hậu thuẫn cho một sự nghiệp chính đáng. Lidegaard nhận xét: “Ngay cả sự bất công cũng cần được thực hiện dưới lớp vỏ luật pháp. Tuy nhiên thật khó mà thực hiện điều đó trong một xã hội từ chối quyền của kẻ mạnh hơn.”[46]

Tại Bulgaria và Ý, Đức quốc xã cũng vấp phải sự phản kháng mạnh mẽ, ở đó tỉ lệ tử vong của người Do Thái cũng thấp tương tự như Đan Mạch. Các sử gia nhấn mạnh rằng quy mô trục xuất ở các vùng bị chiếm đóng phụ thuộc vào mức độ hợp tác của người dân ở đó.[47] Nhiều năm sau, Adolf Eichmann đã nói với Willem Sassen rằng người Đức gặp khó khăn tại Đan Mạch hơn hẳn những nơi khác: “Kết quả rất ảm đạm… khi nhớ lại những chuyến vận chuyển tù nhân Do Thái của mình – với tôi đó quả là một nỗi ô nhục lớn.”[48]

Sự thật là quân đội Đức đóng ở Đan Mạch không hề mềm mỏng – như lời xác nhận của sĩ quan Quốc xã cao cấp nhất, Werner Best, được biết đến như là “Chó săn Paris”. Ngay cả Duckwitz, nhân vật Quốc xã cải đạo ở Copenhagen, từng là một người bài Do Thái điên cuồng vào những năm 1930. Nhưng năm tháng trôi đi, ông ấy bị ảnh hưởng rất nhiều bởi tinh thần nhân văn của người Do Thái.

Trong cuốn sách Eichmann in Jerusalem (tạm dịch: Eichmann ở Jerusalem), nhà triết học Hannah Arendt đã trình bày một quan sát thú vị về cuộc giải cứu những người Đan Mạch gốc Do Thái. Bà đã viết: “Đó là quốc gia duy nhất tôi biết, ở đó Đức quốc xã vấp phải sự phản kháng công khai của người bản xứ. Kết quả là khi họ tiếp xúc với sự phản kháng này, họ đã bị thuyết phục để thay đổi ý định. Bản thân họ không còn xem việc tiêu diệt cả một dân tộc như một điều tất nhiên. Họ đã vấp phải sức kháng cự dựa trên nguyên tắc, và “sự cứng rắn” của họ đã tan chảy như bơ tan dưới ánh mặt trời…”[49]

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.