Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 1

SỰ THẤU CẢM CHE MẮT TA NHƯ THẾ NÀO?

01

Morris Janowitz mới chỉ 22 tuổi khi Thế chiến thứ Hai nổ ra. Một năm sau, một cáo thị quân dịch của Quân đội Hoa Kỳ đã được gửi đến tận cửa nhà anh. Cuối cùng thì Morris cũng được nhập ngũ. Là con trai của những người Do Thái tị nạn từ Ba Lan, anh khát khao được khoác lên mình bộ quân phục và đánh bại Đức quốc xã.[1]

Chàng trai trẻ Morris Janowitz vốn say mê các môn khoa học xã hội. Và giờ đây, sau khi vừa tốt nghiệp đại học và nằm trong nhóm sinh viên có điểm tốt nghiệp cao nhất, anh có thể đem chuyên môn của mình phục vụ quân ngũ. Morris không được đưa ra chiến trường với mũ cối và súng trường, thay vào đó anh sẽ chiến đấu bằng bút và giấy. Anh tham gia vào Sư đoàn Chiến tranh Tâm lý ở London.

Ở tổng hành dinh đơn vị gần Covent Garden, Morris làm việc với rất nhiều nhà khoa học đầu ngành, nhiều người trong số họ sau này sẽ có được sự nghiệp lừng lẫy trong ngành xã hội học và tâm lý học. Nhưng giờ chưa phải lúc thích hợp để xây dựng những khối lý thuyết trừu tượng. Trong chiến tranh, khoa học được huy động để hành động, để thực hiện nhiệm vụ và không được phép thất bại.

Trong khi những nhà vật lý giỏi nhất đang nghiên cứu quả bom nguyên tử đầu tiên tại thị trấn Los Alamos ở Tây Nam nước Mỹ, và các nhà toán học thông thái nhất đang giải Mật mã Enigma của Đức ở miền quê Bletchley Park nước Anh, thì Morris và các đồng nghiệp đang đánh vật với nhiệm vụ khó nhằn nhất.

Họ phải giải mã được bí mật tư duy của quân đội Đức quốc xã.

Vào đầu năm 1944, một câu hỏi hóc búa khiến các nhà khoa học phải hao tâm tổn trí đi tìm lời giải: Tại sao người Đức lại chiến đấu một cách quyết liệt như vậy? Tại sao không có bất kì binh sĩ nào của họ đồng ý hạ vũ khí và chấp nhận thất bại?

Bất kì ai tham gia vào việc khảo sát chiến trường đều dự đoán được kết quả sẽ ra sao. Bị áp đảo về quân số, người Đức bị kẹp giữa người Nga đang tiến đến từ phía đông và cuộc phản công của phe Đồng minh sắp diễn ra ở phía tây. Những người thuộc phe Đồng minh thắc mắc: Chẳng lẽ một người Đức bình thường lại không hề nhận ra họ đang ở trong một tình thế hết sức bất lợi sao? Chẳng lẽ họ bị tẩy não triệt để đến vậy? Còn điều gì khác có thể giải thích tại sao người Đức lại tiếp tục chiến đấu đến hơi thở cuối cùng không?

Ngay khi cuộc chiến tranh nổ ra, hầu hết các nhà tâm lý học đều tin rằng có một nhân tố quan trọng đã lấn át mọi nhân tố khác trong việc quyết định khả năng chiến đấu của một đội quân. Đó là ý thức hệ. Chẳng hạn, lòng ái quốc hay niềm tin vào chính đảng mà người nào đó đã lựa chọn. Những binh sĩ bị thuyết phục triệt để tin rằng họ đứng về phe chính nghĩa của lịch sử, và thế giới quan mới mà họ đang đấu tranh mới là chân lý – lối suy nghĩ ấy tiếp tục được vun đắp và củng cố thêm trong quá trình huấn luyện và chiến đấu.

Hầu hết các chuyên gia nhất trí rằng người Đức, về bản chất, bị ám ảnh. Điều này lý giải vì sao tỉ lệ đào ngũ của họ gần như bằng không, và tại sao họ lại chiến đấu hăng hái hơn người Mỹ và người Anh. Hăng hái hơn đến độ sau cuộc chiến, các sử gia tính toán rằng một binh sĩ Wehrmacht✻ trung bình gây ra thương vong nhiều hơn 50% so với đối thủ Đồng minh.[2]

Các binh sĩ Đức hơn hẳn về mọi mặt. Cho dù là tấn công hay phòng thủ, có không quân yểm trợ hay không, điều đó chẳng khác nhau là mấy. Đến độ một sử gia người Anh phải thốt lên: “Có một sự thật không thể không nhắc đến đó là Wehrmacht của Hitler là một lực lượng chiến đấu rất xuất sắc trong Thế chiến thứ Hai, một trong những đội quân xuất sắc nhất từng có trong lịch sử.”[3]

Chính nhuệ khí của đội quân này là thứ mà phe Đồng minh phải tìm cách đánh gục. Morris và nhóm của anh biết họ cần nghĩ lớn – rất lớn. Theo khuyến nghị của Ban Chiến tranh Tâm lý, hàng chục triệu truyền đơn được thả xuống lãnh thổ kẻ thù, đến tay được 90% lực lượng Đức đóng quân tại Normandy sau ngày D-Day✻. Thông điệp trong những tờ rơi mà họ trút xuống là: Đức ở vị thế vô vọng, lý tưởng chiến đấu của quân Đức quốc xã là thứ đáng khinh bỉ và động cơ của phe Đồng minh mới là chính nghĩa.

Nhưng nó có tác dụng không? Morris Janowitz không có bất kì ý tưởng gì dù là mơ hồ nhất. Có rất ít cơ hội để tìm hiểu sự thật nếu chỉ quanh quẩn ở chiếc bàn làm việc, cho nên anh cùng với cộng sự là Edward Shils quyết định thực hiện một cuộc khảo sát chi tiết để đo lường tính hiệu quả trong chiến dịch rải truyền đơn. Vài tháng sau khi Paris được giải phóng, Morris đã tới đó để phỏng vấn hàng trăm tù binh chiến tranh Đức. Chính qua các cuộc trò chuyện này mà Morris bắt đầu tìm ra sự thật.

Hóa ra, họ hoàn toàn nhầm lẫn.

Suốt nhiều tuần Morris phỏng vấn rất nhiều tù binh Đức, hết người này đến người khác. Và câu trả lời mà anh nghe được nhiều nhất đó là: Không, đó không phải là sự lôi kéo của hệ tư tưởng Quốc xã. Không, họ không ảo tưởng rằng họ sẽ giành chiến thắng. Không, họ không hề bị tẩy não. Lý do thật sự của việc tại sao quân đội Đức lại có ý chí chiến đấu gần như siêu nhân đơn giản hơn nhiều.

Kameradschaft.

Tình bằng hữu.

Hàng trăm thợ làm bánh và chủ lò mổ, giáo viên và thợ may; tất cả những người Đức quyết liệt chống lại bước tiến của phe Đồng minh và cầm vũ khí chiến đấu là vì nhau. Thời điểm đó, họ không chiến đấu vì một Đế chế Nghìn năm hay vì Blut und Boden (máu và đất) mà vì họ không muốn bỏ rơi đồng bào mình.

Một tù binh Đức chế giễu: “Chủ nghĩa Phát xít cách xa cả mười dặm phía sau chiến tuyến, trong khi tình bằng hữu ở ngay đó trong mọi boong-ke và chiến hào.”[4] Các chỉ huy quân sự Đức nhận thức rõ điều này; và, như các sử gia sau này phát hiện ra, lợi dụng điều đó để làm lợi cho họ.[5] Các tướng lĩnh Đức quốc xã đã nỗ lực giữ cho đồng đội ở bên nhau, thậm chí cho toàn bộ một sư đoàn nhiều thời gian nghỉ ngơi mà họ cần, chỉ để những tân binh hình thành tình bạn, và chỉ khi đó, họ mới đưa toàn bộ sư đoàn đó trở lại cuộc chiến.

Đương đầu với sức mạnh của tình đồng chí trong quân đội Đức là điều không hề dễ dàng chút nào. Nói cho cùng, suốt hàng thập kỉ qua, những thiên sử của Hollywood vẽ ra đã khiến chúng ta tin vào lòng quả cảm của phe Đồng minh và sự điên rồ của người Đức; khiến chúng ta tin rằng các chàng trai của chúng ta hi sinh mạng sống của mình vì đồng bào và vì thế giới? Quả là hợp lý. Họ hợp thành các tổ, đội, anh em đồng chí không thể chĩa lìa ư? Quả là ý nghĩa. Nhưng nếu hình dung những điều tương tự như vậy cũng xuất hiện ở phe Đức thì sao? Hay thử hình dung những điều táo bạo hơn thế, rằng quân Đức có thể hun đúc được tình bằng hữu còn mạnh hơn phe Đồng minh? Và chính vì tình bằng hữu ấy mà quân đội của họ chiến đấu can trường hơn?

Một số sự thật gần như quá đau đớn để có thể chấp nhận. Làm sao lại có chuyện những kẻ “quái vật” kia cũng có nhân tính, có thiện tính – làm thế nào mà họ cũng được tiếp sức bởi lòng quả cảm và trung thành, sự tận tụy và đoàn kết được chứ?

Nhưng đó chính là những gì Morris Janowitz kết luận.

Khi các nhà nghiên cứu ở Bộ phận Chiến tranh Tâm lý rút ra kết luận trên, họ mới hiểu được tại sao chiến dịch rải truyền đơn gần như không có tác dụng. Khi đề cập đến tính hiệu quả của hàng triệu truyền đơn thả xuống phía sau chiến tuyến kẻ thù, Janowitz và Shils ghi lại rằng: “Thực sự đã có những cố gắng rất lớn nhằm tấn công vào ý thức hệ của các binh lính Đức, nhưng khi được hỏi thì chỉ khoảng 5% tù nhân đề cập đến chủ đề này.”[6]

Trên thực tế, thậm chí hầu hết người Đức còn chẳng nhớ nổi nội dung truyền đơn đó chỉ trích Chủ nghĩa Quốc xã. Khi các nhà nghiên cứu hỏi một trung sĩ Đức về quan điểm chính trị của anh ta, người này bật cười: “Khi các vị hỏi một câu hỏi như vậy, tôi cho rằng các vị chẳng hề biết động lực để một người lính chiến đấu là gì.”[7]

Chiến thuật, huấn luyện, ý thức hệ – tất cả những yếu tố đó đều rất quan trọng với một đội quân, Morris và các cộng sự khẳng định. Nhưng sự thật là, một đội quân trở nên hùng mạnh lại nhờ vào tình bằng hữu, đồng đội giữa những người lính. Chính tình đồng đội là thứ vũ khí để giành chiến thắng trong các cuộc chiến.

Những phát hiện này đã được xuất bản ngay sau khi chiến tranh kết thúc và đương nhiên nó sẽ còn được nhắc lại và lấy làm dẫn chứng trong nhiều nghiên cứu sau này. Lập luận thuyết phục và vững chắc xuất hiện vào năm 2001, khi các nhà sử học phát hiện 150.000 trang đánh máy các cuộc trò chuyện bị Cục Tình báo Hoa Kỳ nghe lén. Đây là những bản ghi lại những điều mà khoảng 4.000 người Đức nói trong một trại tù binh chiến tranh bị nghe trộm ở Fort Hunt thuộc Washington D.C. Nội dung trò chuyện của họ mở ra một cánh cửa chưa từng thấy về đời sống và suy nghĩ của những quân nhân Wehrmacht bình thường.

Những bản ghi này đã chứng minh rằng: “Người Đức có một ‘đặc tính quân sự’ khác thường và rất coi trọng những phẩm chất như lòng trung thành, tình bạn và sự hi sinh. Ngược lại, quan điểm bài Do Thái và sự thuần khiết về ý thức hệ chỉ đóng một vai trò nhỏ”. Một nhà sử học người Đức từng viết: “Qua những bản ghi nghe trộm từ Fort Hunt đã cho thấy, cùng lắm thì ý thức hệ chỉ đóng một vai trò rất nhỏ trong ý thức của hầu hết các thành viên Wehrmacht.”[8]

Điều này cũng đúng với những binh lính Mỹ chiến đấu trong Thế chiến thứ Hai. Năm 1949, một nhóm chuyên gia xã hội học đã xuất bản kết quả của một cuộc khảo sát lớn với khoảng nửa triệu cựu binh chiến tranh Hoa Kỳ. Bản kết quả đã tiết lộ rằng, về cơ bản những binh lính không có động cơ về lý tưởng hay ý thức hệ. Một binh sĩ Mỹ không hề được khích lệ bởi tinh thần yêu nước nhiều hơn một người lính Anh được thúc đẩy bởi pháp quyền dân chủ. Những người này chiến đấu không phải vì tổ quốc của họ mà chiến đấu vì đồng đội của họ.[9]

Động lực chiến đấu này sâu sắc đến mức có thể dẫn tới một số tình huống đặc biệt. Binh sĩ sẽ từ chối thăng tiến nếu điều đó đồng nghĩa với việc anh ta phải thuyên chuyển sang một sư đoàn khác. Nhiều người bị thương hay đau ốm vẫn từ chối xuất ngũ bởi vì họ không muốn một tân binh thế chỗ họ. Và thậm chí có những người lén trốn ra khỏi giường bệnh của mình để trở lại chiến trường.

Một nhà xã hội học đã ghi chép lại và cảm thấy ngạc nhiên vì: “Không biết bao nhiêu lần chúng tôi đã chứng kiến những trường hợp mà một người không hành động vì những lợi ích riêng của mình với lý do là sợ bỏ rơi những đồng đội khác.”[10]

02

Phải mất một thời gian dài tôi mới hiểu được ý này.

Thời niên thiếu, khi lớn lên ở Hà Lan, tôi hình dung Thế chiến thứ Hai giống như cuộc chiến trong Chúa tể những chiếc nhẫn ở thế kỉ 20 – một trận chiến gay cấn giữa những người hùng can trường và những kẻ phản diện xấu xa. Nhưng Morris Janowitz cho thấy rằng có điều gì đó rất khác đã diễn ra. Ông phát hiện ra rằng, nguồn gốc của những điều xấu xa trong con người không nằm ở những khuynh hướng tàn bạo của những kẻ xấu xa đồi bại, mà ở sự đoàn kết của những chiến binh quả cảm. Thế chiến thứ Hai là một cuộc chiến đấu hào hùng trong đó tình bạn, lòng trung thành, sự đoàn kết – những phẩm chất tốt đẹp nhất của con người – truyền cảm hứng cho hàng triệu người bình thường cùng tạo nên cuộc chiến tranh tồi tệ nhất trong lịch sử.

Nhà tâm lý học Roy Baumeister gọi giả định sai lầm khi cho rằng kẻ thù của chúng ta là những kẻ tàn bạo độc ác là “thần thoại về cái ác thuần túy”. Thực tế, kẻ thù của chúng ta cũng giống chúng ta thôi!

Điều này có thể áp dụng ngay cả với những kẻ khủng bố.

Họ cũng giống như chúng ta, các chuyên gia nhấn mạnh. Dĩ nhiên, sẽ hấp dẫn hơn khi nghĩ rằng những kẻ đánh bom tự sát chắc chắn là giống loài quái vật. Về mặt tâm sinh lý và thần kinh – tất cả họ đều thật điên khùng. Họ là những kẻ tâm thần hay có lẽ họ chưa bao giờ tới trường, hoặc lớn lên trong cảnh đói nghèo khốn khổ – phải có gì đó để lý giải tại sao họ lại khác quá xa so với những người bình thường.

Không phải vậy, các nhà xã hội học nói. Những nhà khoa học dữ liệu của Chủ nghĩa Khắc kỉ đã điền kín hàng dặm các bảng Excel những đặc điểm trong tính cách của những người dám cho bản thân nổ tung, chỉ để đưa ra kết luận rằng, chẳng hề có thứ gọi là “một kẻ khủng bố điển hình”. Những kẻ khủng bố có đủ nhận dạng, từ học thức rất cao đến ít học, từ giàu đến nghèo, ngớ ngẩn đến nghiêm túc, có đạo đến vô thần. Rất ít người mắc bệnh tâm thần hay có một tuổi thơ đau thương. Sau mỗi hành động khủng bố, truyền thông thường cho thấy phản ứng khá sốc của hàng xóm, họ hàng và bạn bè, những người mà khi được hỏi rằng họ có suy nghĩ như thế nào về kẻ đánh bom tự sát. Họ đều nhớ đến kẻ khủng bố đó như là “một người tử tế” hay “thân thiện”.[11]

Nếu những kẻ khủng bố có bất kì một đặc điểm chung nào, các chuyên gia nói, thì đó là họ rất dễ bị ảnh hưởng. Ảnh hưởng bởi những quan điểm của người khác. Ảnh hưởng bởi quyền lực. Họ thèm khát được người khác công nhận và muốn làm điều đúng đắn vì những người thân trong gia đình và bạn bè của họ.[12] “Những kẻ khủng bố không giết người và chết chỉ vì sự nghiệp. Họ giết người và chết vì nhau”, một nhà nhân chủng học người Mỹ nhận xét.[13]

Nói cách khác, những kẻ khủng bố cũng không cực đoan một mình, mà cùng với bạn bè và những người thân yêu. Phần lớn các phần tử khủng bố theo đúng nghĩa đen là “các nhóm anh em ruột thịt”. Các cuộc điều tra đã cho thấy có không ít hơn bốn cặp anh em ruột tham gia các vụ tấn công năm 2001 nhằm vào Tòa tháp Đôi; những kẻ đánh bom trong giải Marathon Boston 2013 là anh em ruột, Salah và Brahim Abdeslam; cả những kẻ chịu trách nhiệm về vụ thảm sát Bataclan ở Paris năm 2015 cũng vậy.[14]

Không có gì khó hiểu trong việc giải thích tại sao những kẻ khủng bố lại hành động cùng nhau: hành động bạo lực tàn bạo là vô cùng đáng sợ. Cũng như các chính trị gia nói nhiều về “những hành động hèn nhát”, trên thực tế cần rất nhiều ý chí và quyết tâm thì mới dám chiến đấu tới chết. “Việc thực hiện hành động liều lĩnh cùng với người mà bạn tin tưởng và yêu quý sẽ dễ dàng hơn hẳn”, một chuyên gia về khủng bố người Tây Ban Nha đã nhận xét như vậy.[15]

Khi những kẻ khủng bố tấn công, truyền thông thường tập trung vào ý thức hệ bệnh hoạn được cho là động lực của cuộc tấn công. Và, dĩ nhiên, ý thức hệ thật sự có ý nghĩa. Nó có ý nghĩa đối với Đức quốc xã, và chắc chắn có ý nghĩa với những thủ lĩnh của các tổ chức khủng bố như Al-Qaeda hay Nhà nước Hồi giáo (IS), nhiều kẻ trong đó được tôi luyện qua quãng thời gian ngấu nghiến các cuốn sách về Hồi giáo cực đoan (như Osama bin Laden là một mọt sách lừng danh).[16]

Tuy nhiên, những nghiên cứu cũng cho thấy rằng với những chiến binh chân đất của các tổ chức này, ý thức hệ đóng một vai trò rất nhỏ bé. Hãy xem hàng nghìn chiến binh Jihad đầu quân tới Syria năm 2013 và 2014. Trong số họ, có tới ba phần tư do người thân và bạn bè tuyển mộ. Theo những phản hồi trong một cuộc thăm dò thông tin IS bị rò rỉ, phần lớn những người đó chẳng biết gì mấy về Tín điều Hồi giáo.[17] Một vài kẻ khôn ngoan thì tìm mua The Koran for Dummies (tạm dịch: Kinh Koran cho kẻ ngốc) trước khi lên đường. Một sĩ quan CIA từng nói: “Với họ, tôn giáo chỉ là ý nghĩ theo sau.”[18]

Điều chúng ta cần hiểu là phần lớn những đối tượng khủng bố này không phải là những kẻ cuồng đạo. Họ là những người bạn thân thiết nhất. Khi sát cánh cùng nhau, họ cảm thấy mình là một phần của điều gì đó lớn lao hơn, và cuối cùng là cuộc đời của họ cũng trở nên có ý nghĩa hơn. Ít nhất thì họ là tác giả đã viết nên thiên anh hùng ca của chính bản thân.

Tuy nhiên, điều này không thể là lý do biện minh cho tội ác của họ. Đó chỉ là một cách giải thích.

03

Mùa thu năm 1990, một trung tâm nghiên cứu mới khai trương tại trường đại học nơi Stanley Milgram tiến hành những thí nghiệm gây chấn động của mình 30 năm trước. Trung tâm Nghiên cứu Nhận thức Trẻ sơ sinh Yale (Yale’s Infant Cognition Center) – hay tên gọi phổ biến hơn là Phòng Thí nghiệm Trẻ nhỏ – đã tiến hành một trong những nghiên cứu thú vị nhất. Các câu hỏi được sử dụng ở đây đều có nguồn gốc từ thời Hobbes và Rousseau (thế kỉ 17 và 18). Bản chất con người là gì? Việc nuôi dưỡng có vai trò gì? Bản tính con người vốn là thiện hay ác?

Năm 2007, nhà nghiên cứu Kiley Hamlin của Phòng Thí nghiệm Trẻ nhỏ đã xuất bản kết quả của một nghiên cứu mang tính đột phá. Bà cùng với nhóm nghiên cứu của mình đã chứng minh được rằng trẻ sơ sinh cũng có ý thức đạo đức bẩm sinh. Trẻ sơ sinh chỉ mới sáu tháng tuổi không chỉ có thể phân biệt đúng với sai, mà chúng còn thích điều tốt hơn điều xấu.[19]

Có lẽ bạn đang thắc mắc làm thế nào Hamlin có thể chắc chắn như vậy. Nói cho cùng, trẻ nhỏ không thể tự mình làm được gì nhiều. Chuột có thể vượt qua mê cung, còn trẻ nhỏ thì sao? Chà, có một điều chúng có thể làm được: trẻ nhỏ biết quan sát. Vì thế các nhà nghiên cứu tổ chức một buổi trình diễn múa rối cho các đối tượng nghiên cứu bé xíu của mình (sáu và mười tháng tuổi), với một con rối hành động giúp ích và con kia hành xử như kẻ ngu ngốc. Vậy những đứa trẻ sơ sinh sẽ tiếp cận con rối nào?

Bạn có thể đoán ra: trẻ sơ sinh thích con rối giúp ích. Một nhà nghiên cứu đã viết: “Đây không phải là một xu hướng thống kê tinh vi. Chỉ là tất cả trẻ con đều hướng đến người tốt.”[20] Sau hàng thế kỉ nghiên cứu xem trẻ sơ sinh nhìn nhận thế giới như thế nào, đây là bằng chứng rất đáng được xem xét một cách cẩn trọng để chứng minh rằng chúng ta có một chiếc la bàn đạo đức bẩm sinh và giống loài Homo puppy không phải là một tấm bảng trống trơn. Từ khi được sinh ra, chúng ta vốn đã hướng thiện; điều này nằm trong bản chất của chúng ta.

Và khi tôi đi sâu vào các cuộc nghiên cứu về trẻ em, tôi bắt đầu cảm thấy bớt lạc quan hơn.

Vấn đề là trong bản chất con người vẫn còn một phương diện khác. Vài năm sau thí nghiệm được kể trên, Hamlin và nhóm của bà thực hiện một nghiên cứu biến tấu-khác.[21] Lần này, họ cho lũ trẻ lựa chọn giữa bánh quy giòn Graham Crackers và những hạt đậu xanh để xác định xem chúng thích bên nào. Sau đó họ cho chúng thấy hai con rối: một con trông như bánh quy giòn, con kia như những hạt đậu. Một lần nữa, họ quan sát xem lũ trẻ thích con rối nào.

Không có gì lạ, tất cả đều huớng đến con rối có khẩu vị mà chúng thích. Điều đáng ngạc nhiên hơn là sở thích này vẫn được duy trì, thậm chí sau khi con rối mà các em chọn có khuynh hướng làm những hành động xấu. Một cộng sự của Hamlin nói: “Những gì chúng tôi thấy đi thấy lại là trẻ con sẽ lựa chọn cá nhân có hành động xấu xa nhưng giống với chúng hơn là người tốt bụng nhưng có quan điểm khác với chúng.”[22]

Bạn có cảm thấy chán nản không?

Thậm chí, trước khi chúng ta học nói, thì dường như chúng ta đã có ác cảm với những điều không thân thuộc với mình. Các nhà nghiên cứu tại Phòng Thí nghiệm Trẻ nhỏ tiếp tục thực hiện hàng chục thí nghiệm và nhận thấy rằng trẻ em không thích những gương mặt không quen, những mùi lạ, tiếng nước ngoài hay giọng nói xa lạ. Như thể tất cả chúng ta sinh ra đã là những kẻ bài ngoại vậy.[23]

Thế rồi tôi bắt đầu thắc mắc: Liệu đây có phải là một hội chứng do sự ghép đôi lệch nguy hiểm hay không? Phải chăng sở thích mang tính bản năng của chúng ta đối với những gì chúng ta biết không phải là vấn đề lớn trong phần lớn thời gian tồn tại của con người, mà chỉ mới trở thành một vấn đề đáng suy nghĩ do sự xuất hiện của nền văn minh? Trong hơn 95% lịch sử của chúng ta, chúng ta là những cư dân săn bắt hái lượm. Bất kì khi nào chúng ta bắt gặp một người xa lạ trên đường, chúng ta đều dừng lại trò chuyện và sau đó người ấy không còn xa lạ nữa.

Ngày nay, mọi chuyện rất khác. Chúng ta sống trong những thành phố vô danh, một vài người trong chúng ta thuộc về hàng triệu người xa lạ. Hầu hết những gì chúng ta biết về người khác là do các phương tiện truyền thông và các nhà báo, những người có xu hướng thích phóng đại những thứ xấu xa. Việc chúng ta trở nên nghi ngờ người lạ như vậy có gì đáng ngạc nhiên không? Ác cảm bẩm sinh của chúng ta về những gì không quen thuộc có phải là một quả bom hẹn giờ đang điểm từng hồi?

Kể từ sau khi Kiley Hamlin thực hiện nghiên cứu đó, đã có nhiều nghiên cứu khác được tiến hành để kiểm tra ý thức đạo đức của trẻ sơ sinh. Đó là lĩnh vực nghiên cứu khá thú vị, có lẽ vẫn còn đang trong “độ tuổi sơ sinh”. Trở ngại lớn nhất trong lĩnh vực nghiên cứu này là ở chỗ trẻ nhỏ rất dễ bị phân tâm, điều này khiến cho việc thiết kế những thí nghiệm hiệu quả và thực tế trở nên khó khăn hơn.[24]

May thay, khi trẻ em được 18 tháng tuổi, chúng đã khôn lên rất nhiều, do đó dễ nghiên cứu hơn. Hãy cùng tìm hiểu công trình của nhà tâm lý học người Đức là Felix Warneken. Khi còn là nghiên cứu sinh bậc Tiến sĩ, ông rất quan tâm đến việc tìm hiểu xem trẻ đang chập chững biết đi có khả năng giúp đỡ người khác như thế nào. Các giảng viên hướng dẫn của ông đã cực lực phản đối ý tưởng này, họ tin rằng – vốn là điều rất phổ biến vào đầu thập niên 2000 – trẻ mới chập chững biết đi về cơ bản là những chủ thể bản ngã đang tập đi. Nhưng Warneken không nản chí và đã tiến hành một loạt thí nghiệm mà sau này chúng được lặp đi lặp lại trên khắp thế giới.[25]

Mọi thí nghiệm của Felix Warneken đều cho kết quả giống nhau. Thậm chí, các thí nghiệm còn nhận thấy rằng ở độ tuổi non nớt là 18 tháng, hầu hết trẻ em đều háo hức được giúp đỡ người khác, chúng sẵn lòng và vui sướng đến mức tạm dừng các trò chơi để hỗ trợ, giúp đỡ một người lạ ngay cả khi đó là một mớ hỗn độn.[26] Và sau khi giúp đỡ xong chúng còn chẳng muốn nhận phần thưởng.[27]

Nhưng sau đây là một vài tin không vui. Sau khi biết về nghiên cứu đầy kích thích của Felix Warneken, tôi cũng tìm hiểu thêm một vài nghiên cứu với những phát hiện kém lạc quan hơn, cho thấy trẻ em là đối tượng rất dễ bị sai khiến, xúi giục chống lại nhau. Chúng ta có thể thấy điều này ở Thí nghiệm Động Robbers của Muzafer Sherif (xem Chương 7), và còn được chứng minh bởi một thí nghiệm khét tiếng từ những năm 1960, được khởi động ngay sau ngày Martin Luther King bị ám sát.

Ngày 5 tháng 4 năm 1968, Jane Elliott giao bài thực hành về phân biệt chủng tộc cho các em học sinh lớp ba tại một trưởng học nhỏ ở Riceville thuộc tiểu bang Iowa, Mỹ.

Elliott mở đầu thí nghiệm: “Trong căn phòng này, những em mắt nâu là những người tốt hơn. Các em sạch sẽ hơn, thông minh hơn.” Bà viết bằng chữ in hoa từ MELANIN lên bảng, sau đó giải thích rằng đây là chất làm cho con người thông minh. Vì những đứa trẻ mắt nâu có nhiều chất này hơn nên chúng cũng thông minh hơn, trong khi những bạn mắt xanh biếc chỉ biết “ngồi yên và chẳng làm gì”.[28]

Không mất nhiều thời gian để nhóm Mắt nâu bắt đầu có những hành động và lời nói xem thường nhóm Mắt biếc, và rồi nhóm Mắt biếc dần mất tự tin. Một bé gái có đôi mắt biếc bình thường vốn rất thông minh bắt đầu mắc lỗi trong giờ toán. Trong giờ nghỉ sau đó, ba người bạn mắt nâu đến gần em và nói: “Tốt hơn là mày hãy xin lỗi vì đã dám cản đường bọn tao vì bọn tao ‘ngon’ hơn mày.”[29]

Khi Elliott xuất hiện với tư cách khách mời trong chương trình Tonight Show Starring Johnny Carson (tạm dịch: Trò chuyện đêm khuya với Johnny Carson) nổi tiếng vài tuần sau đó, những người dân Mỹ da trắng rất tức giận với thí nghiệm đó. Một khán giả giận dữ bình luận: “Làm sao bà dám làm thí nghiệm độc ác này với bọn trẻ da trắng. Trẻ em da đen lớn lên đã quen với cách hành xử như vậy, nhưng trẻ em da trắng chẳng thể nào hiểu được chuyện đó. Như vậy rất độc ác với trẻ em da trắng và sẽ khiến chúng phải chịu tổn thương tâm lý rất lớn.”[30]

Jane Elliott tiếp tục đấu tranh với kiểu phân biệt chủng tộc này suốt đời mình. Tuy nhiên có một điều quan trọng mà các độc giả cần lưu ý rằng cuộc đấu tranh của bà không phải là cuộc đấu tranh theo hướng khoa học. Bà đã mất rất nhiều công sức khiến học sinh của mình đấu tranh chống lại nhau, ví dụ như buộc những trẻ mắt biếc ngồi ở cuối lớp học, cho chúng ít thời gian nghỉ hơn và không cho phép chúng chơi với các bạn mắt nâu. Thí nghiệm của bà không trả lời cho câu hỏi: điều gì xảy ra khi bạn chia bọn trẻ thành từng nhóm, nhưng sau đó không can thiệp bằng bất kì cách nào khác.

Mùa thu năm 2003, một nhóm các nhà tâm lý học thiết lập một nghiên cứu để thực hiện chính xác việc đó. Họ đề nghị hai trung tâm trông giữ trẻ ở Texas cho tất cả trẻ của trung tâm, từ ba đến năm tuổi, mặc áo có màu khác nhau, một nhóm màu đỏ và nhóm còn lại có màu xanh lam. Chỉ sau ba tuần, các nhà nghiên cứu đã có thể rút ra một số kết luận.[31] Đầu tiên, chừng nào người lớn không quan tâm đến sự khác biệt về màu sắc thì đám trẻ cũng chẳng hề bận tâm đến điều đó. Tuy nhiên, bọn trẻ lại hình thành ý thức về nhận diện nhóm. Trong các cuộc trò chuyện với các nhà nghiên cứu, các em nói màu của nhóm mình là “khôn hơn” và “đẹp hơn”. Và khi thực hiện một biến thể của thí nghiệm này, trong đó người lớn nhấn mạnh đến sự khác biệt (đơn giản như: “Chào các con, màu đỏ và màu xanh!”), hành động này đã gây ra những tác động mạnh mẽ hơn nhiều.

Trong cuộc nghiên cứu tiếp theo, một nhóm trẻ năm tuổi được ăn mặc giống nhau với áo màu đỏ hoặc màu xanh lam rồi được cho xem những bức ảnh các bạn mình hoặc mặc áo cùng màu hoặc khác màu. Ngay cả khi chẳng biết gì về những cá nhân trong ảnh, các đối tượng nghiên cứu vẫn có thái độ tiêu cực hơn đối với những trẻ mặc áo khác màu với chúng. Các nhà nghiên cứu quan sát thấy nhận thức của chúng bị “bóp méo một cách khá phổ biến bởi vị thế thành viên trong một nhóm xã hội, đây là phát hiện với những hàm ẩn đáng lo ngại”.[32]

Bài học tàn nhẫn là trẻ con không hề mù màu. Hoàn toàn ngược lại: chúng nhạy cảm với sự khác biệt hơn người lớn. Thậm chí, khi người ta tìm cách đối xử với mọi người một cách bình đẳng và hành động như thể những thay đổi về màu da, diện mạo hay tài sản không hề tồn tại thì trẻ con vẫn nhận thức được sự khác biệt. Dường như chúng ta sinh ra với nút công tắc của chủ nghĩa bộ tộc có sẵn trong não bộ. Tất cả những gì chúng ta cần là một điều gì đó để bật công tắc đó lên.

04

Khi tôi đọc những nghiên cứu về bản chất chia rẽ của trẻ sơ sinh và trẻ mới biết đi – về cơ bản chúng rất thân thiện, nhưng có khuynh hướng bài ngoại – tôi nhớ đến “hoóc-môn tình yêu” oxytocin. Đó là chất được tìm thấy với nồng độ cao ở loài cáo sống của Lyudmila Trut ở Siberia (xem Chương 3). Hiện nay các nhà khoa học khám phá ra rằng hoóc-môn này đóng vai trò quan trọng trong tình yêu và cảm xúc, đồng thời nó cũng có thể khiến chúng ta thiếu tin tưởng vào những người xa lạ.

Liệu oxytocin có thể giúp chúng ta giải thích được tại sao người tốt lại làm những việc xấu không? Liệu những mối quan hệ chặt chẽ với nhóm của chúng ta có khiến chúng ta cảm thấy thù nghịch với những người ở nhóm khác không? Và liệu tính hòa đồng vốn giúp cho giống loài Homo puppy chinh phục được thế giới, lại chính là nguồn gốc gây ra những hành động gây hấn tồi tệ nhất lịch sử nhân loại chăng?[33]

Mới đầu, tôi vẫn cho rằng mạch suy nghĩ này khó xảy ra. Rốt cuộc, con người có một bản năng ấn tượng khác bắt nguồn từ sâu thẳm trong bản chất “cún con” của mình: khả năng cảm nhận sự đồng cảm. Chúng ta có thể bước ra khỏi cái kén của chính mình và xỏ đôi giày của người khác. Chúng ta được lập trình để cảm nhận – ở cấp độ tình cảm – việc trở thành người xa lạ là như thế nào.

Chúng ta không chỉ làm được điều này, mà chúng ta còn làm rất giỏi. Con người là những máy hút chân không đầy cảm xúc, luôn hút cảm giác của người khác. Chẳng hạn như sách vở và phim ảnh có thể khiến chúng ta cười hoặc khóc một cách dễ dàng. Với tôi, những bộ phim buồn trên các chuyến bay là một điều gì đó thật tệ (vì tôi phải liên tục bấm nút tạm dừng để những hành khách ngồi xung quanh không cảm thấy cần phải an ủi tôi).[34]

Suốt một thôi gian dài, tôi cho rằng bản năng tuyệt vời về việc cảm nhận nỗi đau của người khác có thể giúp mọi người xích lại gần nhau hơn. Điều mà thế giới cần chắc chắn là nhiều thấu cảm hơn nữa. Nhưng khi tôi đọc được một cuốn sách mới xuất bản của một trong những nhà nghiên cứu nổi tiếng, chuyên nghiên cứu về trẻ nhỏ – giáo sư Bloom – tôi đã suy nghĩ khác.

Khi mọi người hỏi giáo sư Bloom rằng, cuốn sách của ông nói về cái gì, ông trả lời:

“Nó nói về sự thấu cảm.”

Họ mỉm cười và gật đầu, cho tới khi ông nói thêm:

“Nhưng tôi phản đối điều đó.”[35]

Paul Bloom không hề đùa. Theo nhà tâm lý học này, thấu cảm không phải là vầng dương phát xuất từ tâm nhằm chiếu sáng thế giới. Nó là một ngọn đèn, hơn nữa còn là một ngọn đèn pha. Nó khu biệt một con người cụ thể hay một nhóm người trong cuộc đời bạn, và trong lúc bạn bận rộn thu nhận mọi cảm xúc và đắm mình trong tia sáng đó thì phần còn lại của thế giới sẽ trở nên nhạt nhòa.

Hãy cùng tìm hiểu thí nghiệm dưới đây do một nhà tâm lý học khác tiến hành. Trong thí nghiệm này, trước tiên những tình nguyện viên sẽ được nghe kể về câu chuyện buồn của Sheri Summers, một đứa trẻ 10 tuổi đang mắc một căn bệnh chết người. Cậu nằm trong danh sách chờ để được điều trị, tuy nhiên thời gian của cậu đang cạn dần. Những nhà nghiên cứu nói với các đối tượng nghiên cứu rằng họ có thể thay đổi thứ tự của Sheri trong danh sách chờ, nhưng họ được yêu cầu phải đưa ra quyết định này một cách khách quan nhất.

Hầu hết mọi người đều không cân nhắc chuyện ưu ái Sheri. Họ hiểu rõ rằng mọi đứa trẻ trong danh sách đó đều mắc bệnh nặng và cần được điều trị càng sớm càng tốt.

Sau đó đến một nhóm các đối tượng nghiên cứu khác và lần này có sự thay đổi đôi chút. Họ cũng nhận được kịch bản tương tự, nhưng sau đó họ được đề nghị thử hình dung xem Sheri sẽ cảm thấy thế nào bằng các câu hỏi: Họ không đau lòng khi chứng kiến cô gái bé bỏng này mắc bệnh và đau đớn sao? Hóa ra chỉ một yếu tố thấu cảm này thôi đã đủ để thay đổi mọi thứ. Giờ đây đa số những người trong thí nghiệm đó đều muốn đẩy thứ tự chữa bệnh của Sheri lên trước. Nếu suy nghĩ kĩ hơn về điều này bạn sẽ thấy đây là một lựa chọn đạo đức khá bấp bênh. Ngọn đèn pha rọi vào Sheri đồng nghĩa với việc những đứa trẻ khác có thể chết bất cứ lúc nào bởi chúng phải chờ đợi lâu hơn.[36]

Giờ chúng ta có thể nghĩ: “Chính xác! Đó là lý do chúng ta cần thấu cảm hơn nữa.” chúng ta không chỉ cần đặt mình vào vị trí của Sheri, mà còn cần đặt mình vào vị trí của những đứa trẻ khác đang trong danh sách chờ trên khắp thế giới. Nhiều tình cảm hơn nữa, nhiều cảm xúc hơn nữa, nhiều thấu cảm hơn nữa!

Nhưng đó không phải là cách vận hành của các ngọn đèn pha. Hãy tiếp tục và hãy thử thực hiện những điều sau: Hình dung chính bạn đang ở vị trí của người khác. Giờ hãy tưởng tượng bạn ở vị trí của một trăm người khác. Và một triệu. 7 tỉ người thì sao nào?

Đơn giản là chúng ta không làm nổi.

Thực tế, Giáo sư Bloom nói thấu cảm là một kĩ năng hạn chế đến mức đáng thương.

Đó là điều chúng ta dành cho những người gần gũi với chúng ta; cho những người chúng ta có thể ngửi, nhìn, nghe hay chạm vào. Cho gia đình và bạn bè, cho những người hâm mộ ban nhạc yêu thích của ta, và có lẽ cho cả anh chàng vô gia cư sống ở góc phố nhà chúng ta. Với những chú chó con đáng yêu, chúng ta có thể vuốt ve và âu yếm chúng, trong khi lại ăn thịt những con vật bị ngược đãi ở các trang trại nhà máy khuất mắt trông coi. Và cho những người chúng ta thấy trên tivi – chủ yếu là những người được máy quay cận cảnh, trong khi tiếng nhạc u buồn nổi lên làm nhạc nền.

Khi tôi đọc cuốn sách của Bloom, tôi bắt đầu nhận ra thấu cảm chẳng khác gì hiện tượng của thời hiện đại: Tin tức. Trong Chương 1, chúng ta đã thấy rằng tin tức cũng có chức năng như một ngọn đèn. Nếu sự thấu cảm khiến chúng ta lạc lối khi quay cận cảnh vào một trường hợp cụ thể, thì tin tức cũng đánh lừa chúng ta bằng cách tập trung vào những điều khác thường.

Có một điều chắc chắn là: một thế giới tốt đẹp hơn không bắt đầu bằng nhiều thấu cảm hơn. Có chăng, sự thấu cảm làm cho chúng ta bớt vị tha, vì chúng ta càng nhận diện rõ nạn nhân thì chúng ta càng khái quát hóa kẻ thù của mình.[37] Ngọn đèn pha sáng quắc chỉ chiếu rọi một vài lựa chọn khiến chúng ta trở nên mù mờ về những đối thủ, bởi vì tất cả những người khác, dù là đồng minh hay kẻ thù, đều không ở trong tầm nhìn của chúng ta.[38]

Đây chính là cơ chế mà chuyên gia Brian Hare nói đến – cơ chế làm cho chúng ta là giống loài thân thiện và cũng độc ác nhất trên hành tinh. Sự thật đáng buồn là sự thấu cảm và bài ngoại luôn luôn song hành cùng nhau. Chúng là hai mặt của cùng một đồng xu.

05

Vậy tại sao người tốt lại biến thành người xấu?

Tôi nghĩ giờ chúng ta có thể bắt đầu định hình được một câu trả lời. Trong Thế chiến thứ Hai, những người lính Wehrmacht chiến đấu trước tiên và trên hết là vì nhau. Hầu hết các binh sĩ được khích lệ không phải bởi sự bạo tàn hay khát máu, mà bởi tình đồng đội.

Một khi đã vào trận, chúng ta thấy rằng những người lính vẫn thấy rất khó để nổ súng giết người, dù cho đó là kẻ thù. Trong Chương 4 chúng ta đã ở Thái Bình Dương cùng Đại tá Marshall, người nhận ra rằng đa số binh sĩ chưa hề nổ súng. Trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, George Orwell cũng nhận thấy điều tương tự, khi một hôm ông thấy mình bị sự thấu cảm chế ngự:

Lúc này một người […] nhảy ra khỏi chiến hào và chạy dọc trên đỉnh công sự, trông rõ mồn một. Anh ta chỉ mặc nửa trên và anh vẫn cầm chiếc quần dài của mình bằng cả hai tay, vừa cầm vừa chạy băng băng. Tôi cố nén để không nổ súng bắn anh ta. […] Tôi không bắn một phần vì cái quần dài mà anh đang cầm trên tay. Tôi đến đây để bắn “bọn Phát xít”; nhưng rõ ràng một con người đang giơ cao cái quần dài của mình thì không phải là một “tên Phát xít”, rõ ràng anh ta cũng giống như tôi – một con người, giống như chính bạn, và tôi cảm thấy mình không muốn bắn anh ta.”[39]

Những quan sát của Marshall và Orwell đã chứng minh rằng thật khó để chúng ta làm hại những người quá gần gũi với mình.

Có điều gì đó ngăn chúng ta lại, khiến chúng ta không thể kéo cò súng. Có một điều thậm chí còn khó làm hơn cả việc nổ súng mà các sử gia quân sự đã phát hiện ra đó là: đâm một đồng loại.

Chưa đầy 1% số binh sĩ thương vong trong các trận chiến ở Waterloo (1815) và Somme (1916), là do binh sĩ sử dụng lưỡi lê.[40] Vậy toàn bộ hàng nghìn lưỡi lê trưng bày ở hàng trăm bảo tàng thì sao? Hầu hết chúng đều chưa bao giờ được sử dụng. Như một sử gia ghi lại: “Dù là kẻ thù hay quân ta thì những chiến sĩ vẫn thường nhớ ra một nhiệm vụ khẩn cấp khác ở đâu đó trước trận giao tranh bằng lưỡi lê.”[41]

Dừng lại chút đã, chúng ta lại bị ngành công nghiệp truyền hình và phim ảnh lừa gạt. Những loạt phim như Game of Thrones (Trò chơi vương quyền) hay những bộ phim như Star Wars (Chiến tranh giữa các vì sao) khiến chúng ta tin rằng đâm người khác dễ như ăn bánh. Nhưng thực tế, về mặt tâm lý, đâm xuyên qua cơ thể người khác là việc hết sức khó khăn.

Vậy chúng ta phải giải thích thế nào về hàng trăm triệu thương vong do chiến tranh gây ra trong 10 nghìn năm qua? Tất cả những người này chết như thế nào? Để trả lời được câu hỏi này đòi hỏi chúng ta phải khám nghiệm pháp y các nạn nhân, cho nên chúng ta hãy lấy nguyên nhân tử vong của binh sĩ Anh trong Thế chiến thứ Hai làm ví dụ:[42]

Khác: 1%

Hóa chất: 2%

Nổ tung, nghiền nát: 2%

Mìn, bẫy: 10%

Đạn, mìn chống tăng: 10%

Súng cối, lựu đạn, bom, đạn pháo: 75%

Bạn có nhận thấy điểm chung gì không? Nếu có gì đó gắn kết những nạn nhân này với nhau thì đó là hầu hết họ đều bị tiêu diệt bởi những người cách xa họ. Đa số các binh sĩ bị giết bởi một người nhấn nút, thả bom hoặc gài mìn. Bởi người chẳng hề nhìn thấy họ, chắc chắn không thấy họ đang mặc quần áo hay cố giơ cao chiếc quần dài của mình.

Việc giết chóc thời chiến phần lớn là việc được thực hiện từ xa. Thậm chí bạn có thể mô tả toàn bộ sự phát triển của công nghệ quân sự như là một quá trình trong đó chiến tuyến của kẻ thù ngày càng cách xa. Từ dùi cui và dao găm đến cung tên, từ súng hỏa mai và thần công đến bom và lựu đạn. Trong tiến trình lịch sử, vũ khí ngày càng làm tốt hơn trong việc vượt qua trọng tâm của chiến tranh: ác cảm của con người đối với bạo lực. Thực tế, chúng ta khó có thể giết được ai đó khi nhìn vào mắt họ. Cũng như hầu hết chúng ta sẽ ngay lập tức ăn chay nếu bị buộc phải giết thịt một con bò, phần lớn binh sĩ trở thành những người phản đối chiến tranh vì trái đạo lý khi kẻ thù đến quá gần.

Từ xa xưa, cách để giành chiến thắng trong hầu hết các cuộc chiến tranh là bắn được càng nhiều người từ xa càng tốt.[43] Đó là cách người Anh đánh bại người Pháp tại Crécy và Agincourt trong cuộc Chiến tranh Trăm năm (1337-1453), cách người Tây Ban Nha chinh phục châu Mỹ trong thế kỉ 15 và 16, và cũng là điều mà quân đội Mỹ ngày nay thực hiện với các binh đoàn máy bay không người lái được vũ trang đầy đủ.

Ngoài các loại vũ khí tầm xa, quân đội cũng theo đuổi các phương tiện để tăng khoảng cách tâm lý với kẻ thù. Nếu các bạn có thể khiến người khác trở nên mất nhân tính – ví dụ bằng cách khắc họa họ như kẻ vô lại – điều đó khiến cho việc đối xử với họ theo cách vô nhân đạo trở nên dễ dàng hơn hẳn.

Hoặc bạn cũng có thể đánh thuốc những binh sĩ của mình để làm giảm lòng thấu cảm tự nhiên và sự ác cảm của họ với bạo lực. Từ Troy đến Waterloo, từ Triều Tiên đến Việt Nam, rất ít quân đội có thể chiến đấu mà không cần sự hỗ trợ của chất gây nghiện, thậm chí đến giờ các học giả vẫn nghĩ Paris có thể không thất thủ năm 1940 nếu quân đội Đức không ngốn 35 triệu viên methamphetamine✻.[44]

Quân đội cũng có thể “huấn luyện” binh sĩ của mình. Lục quân Hoa Kỳ bắt đầu làm việc này ngay sau Thế chiến thứ Hai theo khuyến cáo của, không ai khác, Đại tá Marshall. Tân binh tại một số chiến trường được “nhấn chìm” trong các doanh trại huấn luyện không chỉ đề cao tinh thần đồng đội, mà còn chịu sự huấn luyện theo cách bạo lực hung tàn nhất, buộc họ phải hét to “GIẾT! GIẾT! GIẾT!” cho tới khi giọng khản đặc mới thôi. Các cựu binh Thế chiến thứ Hai (hầu hết chưa bao giờ học cách giết người) đã sốc khi được cho xem những hình ảnh về phương pháp đào tạo này.[45]

Ngày nay, binh sĩ không còn thực hành trên các bia giấy bình thường nữa, thay vào đó họ được tập bắn theo bản năng vào những hình người trông giống người thật. Bắn súng trở thành một phản ứng có điều kiện tự động mà các binh sĩ có thể thực hiện không cần suy nghĩ. Thậm chí, với những tay súng bắn tỉa, việc đào tạo còn quyết liệt và khắc nghiệt hơn. Một phương pháp đã được thử nghiệm và kiểm nghiệm là trình chiếu một chuỗi các đoạn video man rợ trong khi học viên bị buộc chặt vào ghế và gắn một thiết bị đặc biệt để bảo đảm mắt họ luôn mở to.[46]

Và vậy là chúng ta đang tìm cách loại bỏ sự ác cảm bẩm sinh và sâu sắc đối với bạo lực. Trong các đội quân hiện đại, tình đồng đội trở nên ít quan trọng và bị coi nhẹ hơn. Thay vào đó, chúng ta có, như lời một cựu binh Mỹ nói, “sự khinh bỉ được gia công”.[47]

Quả thật phương pháp huấn luyện này đã phát huy tác dụng. Khi cho các binh sĩ được huấn luyện sử dụng các kĩ thuật này đối đầu với một đội quân được đào tạo theo phương pháp cũ, kết quả là nhóm thứ hai lúc nào cũng bị đè bẹp. Hãy xem Chiến tranh Falklands (1982): dù chiếm ưu thế về quân số, nhưng quân đội Argentina được huấn luyện kiểu cũ đã không thể nào chống lại được những cỗ máy giết người được huấn luyện bên phía quân đội Anh.[48]

Quân đội Hoa Kỳ cũng tìm cách gia tăng “tỉ lệ nổ súng” của mình, tăng số binh sĩ bắn trực tiếp lên 55% trong chiến tranh Triều Tiên và 95% trong cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Nhưng điều này cũng đi kèm một cái giá khá đắt. Nếu phương pháp huấn luyện đã tẩy não thành công hàng triệu binh sĩ trẻ tuổi trong khi huấn luyện, thì chẳng có gì ngạc nhiên khi họ trở về với những rối loạn căng thẳng hậu sang chấn (PTSD), như rất nhiều lính Mỹ mắc phải sau chiến tranh Việt Nam.[49] Vô số binh sĩ không chỉ giết người khác – mà còn khiến cho điều gì đó bên trong họ cũng chết theo.

Cuối cùng, có một nhóm có thể dễ dàng giữ kẻ thù ở khoảng cách xa: các nhà lãnh đạo.

Các chỉ huy quân đội và các tổ chức khủng bố ban mệnh lệnh từ trên xuống dưới không phải kiềm chế những cảm xúc thấu cảm dành cho đối phương. Và điều thú vị là, trong khi các binh sĩ có xu hướng hành động và cảm nhận như những con người bình thường thì chỉ huy của họ lại là câu chuyện khác. Các sử gia và chuyên gia về chủ nghĩa khủng bố đã đồng loạt chỉ ra rằng những người nắm những vị trí quyền lực nhất định thường có tiểu sử tâm lý khá đặc biệt. Những tội phạm chiến tranh như Adolf Hitler và Joseph Goebbels là những ví dụ kinh điển về những kẻ mắc chứng rối loạn nhân cách ái kỉ, thèm khát quyền lực.[50] Các thủ lĩnh Al-Qaeda và IS cũng mắc chứng coi trọng bản thân và lôi kéo tương tự, hiếm khi họ gặp phiền phức với những cảm xúc trắc ẩn hay ngờ vực.[51]

Điều này vén mở cho chúng ta bí mật tiếp theo. Nếu giống loài Homo puppy là một sinh vật thân thiện bẩm sinh, vậy thì tại sao những kẻ cơ hội, cực kì ích kỉ, ái kỉ và rối loạn nhân cách, chống đối xã hội lại luôn nắm giữ những vị trí quan trọng? Làm thế nào mà con người chúng ta – một trong những giống loài duy nhất biết đỏ mặt – lại cho phép những đối tượng trơ tráo cai trị và lãnh đạo chúng ta?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.