Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 2

QUYỀN LỰC THA HÓA NHƯ THẾ NÀO?

01

Nếu bạn muốn muốn biết về quyền lực, thì có một cái tên bạn không thể bỏ qua. Ông ấy đã từng xuất hiện trong Chương 3, phần tôi thảo luận về ý kiến cho rằng bất kì ai muốn đạt được điều gì đó thì tốt nhất là nên thêu dệt một mạng lưới những lời dối trá và lừa gạt.

Cái tên đó chính là Machiavelli.

Mùa đông năm 1513, sau một đêm dài vùi mình ở quán rượu, một người thư kí sa cơ lỡ vận bắt đầu viết một tập sách mỏng và đặt tên là The Prince (Quân Vương). Như Machiavelli mô tả, “ý tưởng nho nhỏ chợt đến này” đã trở thành một trong những tác phẩm có sức ảnh hưởng nhất trong lịch sử phương Tây.[1] Quân vương đã xuất hiện trên kệ giường ngủ của Hoàng đế Charles V, Vua Louis XIV và Stalin. Thủ tướng Đức Otto van Bismarck cũng có một bản, Churchill, Mussolini và Hitler cũng vậy. Thậm chí, nó còn được tìm thấy trong cỗ xe của Napoleon ngay sau khi ông thất bại trong trận Waterloo.

Lợi thế lớn nhất trong triết lý của Niccolò Machiavelli là nó mang tính thực tiễn và khả thi. Tác giả khẳng định, nếu các bạn muốn có quyền lực, các bạn phải nắm lấy nó. Các bạn phải trơ tráo, không bị trói buộc bởi những nguyên tắc hay đạo đức. Kết quả sẽ biện minh cho phương tiện. Và nếu bạn không để ý đến chính mình thì người ta sẽ lướt qua các bạn ngay. Theo Machiavelli, “có thể nói về con người nói chung rằng họ vô ơn, hay thay đổi, hay che giấu, đạo đức giả, hèn nhát và tham lam”.[2] Nếu ai đó làm điều tử tế với các bạn, thì chớ để mình bị lừa: điều đó là giả tạo, vì “con người không bao giờ làm được điều gì tử tế trừ khi họ thấy cần”.[3]

Cuốn sách của Machiavelli được gọi là “duy thực”. Nếu các bạn muốn đọc nó, chỉ cần ghé thăm hiệu sách gần nhất, hoặc có thể chọn một trong vô số những cuốn sách viết về triết lý của ông, từ Machiavelli for Managers (tạm dịch: Machiavelli dành cho nhà quản lý) tới Machiavellifor Moms (tạm dịch: Machiavelli dành cho các bà mẹ) hay xem bất kì vở kịch, phim và loạt phim truyền hình lấy cảm hứng từ những ý tưởng của ông như: The Godfather (Bố già), House of Cards (Sóng gió chính trường), Game of Thrones (Trò chơi vương quyền), về cơ bản, tất cả những tác phẩm trên đều dẫn nguồn là cuốn sách của tác giả người Ý sống ở thế kỉ 16 này.

Xét về mức độ thịnh hành lý thuyết của ông, câu hỏi hợp lý được nêu ra là: Liệu quan điểm của Machiavelli có đúng không? Có đúng là con người nói dối không biết xấu hổ và lừa gạt để giành được quyền lực không? Nền khoa học phát triển này phải nói gì đi chứ?

Giáo sư Dacher Keltner là chuyên gia hàng đầu về chủ nghĩa Machiavelli ứng dụng. Lần đầu ông quan tâm đến tâm lý học quyền lực là vào những năm 90, ông chú ý đến hai điều. Một: hầu như tất cả mọi người đều tin Machiavelli đúng. Hai: hầu như chẳng có ai tiến hành các hoạt động khoa học để chứng minh lý thuyết này.

Keltner quyết định sẽ trở thành người đầu tiên làm điều đó. Trong số những thí nghiệm được ông đặt tên là “trạng thái tự nhiên”, nhà tâm lý học người Mỹ này đã thâm nhập vào một loạt bối cảnh trong đó con người thoải mái tranh giành quyền thống trị, từ các phòng kí túc xá đến các trại hè. Chính xác là tại những địa điểm này, nơi người ta gặp nhau lần đầu tiên, ông kì vọng thấy trí tuệ vượt thời gian của Machiavelli được áp dụng một cách triệt để.

Nhưng ông đã phải thất vọng. Keltner phát hiện ra rằng nếu cứ hành xử như trong Quân vương mô tả, thì các bạn sẽ bị loại khỏi nhóm ngay lập tức. Cũng như thời tiền sử, kiểu xã hội này không kiên nhẫn chịu đựng thói kiêu ngạo. Mọi người cho rằng bạn là những kẻ hết sức xa lạ, sau đó họ liền tống khứ bạn đi. Keltner nhận thấy những cá nhân lên đến những vị trí quyền lực cao thường là những người thân thiện, thấu cảm nhất.[4] Đó là nơi dành cho những thành viên thân thiện nhất.

Giờ mọi người có thể đang nghĩ: tên giáo sư này nên chuyển văn phòng và đến gặp sếp của mình thì hơn – như thế sếp sẽ nắn lại hắn cùng với mớ lý thuyết cỏn con của hắn về những nhà lãnh đạo tuyệt vời.

Nhưng khoan đã, câu chuyện này còn nhiều điều đáng nói hơn nữa. Keltner còn nghiên cứu cả tác động của quyền lực khi người ta có được nó. Lần này ông ấy đi đến một kết luận hoàn toàn khác. Có lẽ nghiên cứu thú vị nhất là cuộc nghiên cứu về Quái vật Cookie (Bánh quy) của ông ấy, được đặt theo tên con rối màu xanh dương xuất hiện trong chương trình truyền hình Sesame Street (Phố Vừng).[5] Năm 1998, Keltner và ê kíp của ông cho các nhóm nhỏ, mỗi nhóm gồm ba tình nguyện viên vào một phòng thí nghiệm. Mỗi nhóm tự chọn cho mình một thủ lĩnh và họ thực hiện một nhiệm vụ buồn tẻ đó là ăn bánh quy. Sau đó, một trợ lý mang vào một cái đĩa đựng năm chiếc bánh quy cho cả nhóm chia nhau. Tất cả các nhóm đều bớt lại một chiếc bánh trên đĩa (một quy tắc vàng trong ứng xử), nhưng gần như trong mọi trường hợp, chiếc bánh thứ tư đều được thủ lĩnh ăn. Hơn nữa, một trong các nghiên cứu sinh tiến sĩ của Keltner nhận thấy rằng thủ lĩnh dường như là kẻ ăn tục hơn. Và khi xem lại các video, họ nhận thấy rằng những “quái vật bánh quy” này thường ăn mở miệng hơn, ồn ào hơn, vãi nhiều mảnh vụn lên áo hơn.

Những đặc điểm này nghe có vẻ giống với sếp của các bạn thì phải?

Mới đầu tôi muốn cười nhạo cái thí nghiệm ngu ngốc này, nhưng sau đó tôi phát hiện ra có đến hàng chục nghiên cứu tương tự đã được xuất bản trên khắp thế giới trong những năm gần đây.[6] Bên cạnh đó, Keltner và ê kíp của ông cũng thực hiện thêm một nghiên cứu nữa về tác động tâm lý của một chiếc xe đắt tiền, ở đây, nhóm đối tượng nghiên cứu đầu tiên được bố trí lái của một chiếc Mitsubishi hay Ford Pinto tả tơi đi ngang qua lối đi bộ dành cho người qua đường, nơi có một khách bộ hành vừa từ trên vỉa hè bước xuống. Tất cả các tài xế lái những chiếc xe này đều dừng đúng vạch.

Tiếp theo, nhóm đối tượng nghiên cứu thứ hai sẽ lái một chiếc Mercedes cáu cạnh và cũng đi ngang qua lối đi dành cho khách bộ hành như nhóm thứ nhất. Lần này, 45% không dừng lại khi khách bộ hành bước xuống đường. Qua thí nghiệm này, các nhà khoa học đã rút ra kết luận: Thực tế, chiếc xe càng đắt thì cách hành xử của người lái xe càng bất lịch sự.[7] “Các lái xe BMW có cách hành xử tệ nhất,” một trong các nhà nghiên cứu kể với New York Times.[8] (Nghiên cứu này sau đó được thực hiện lại hai lần và cho cùng một kết quả).[9]

Quan sát cách hành xử của lái xe, Keltner nhận thấy việc này gợi cho ông nhớ đến điều gì đó. Thuật ngữ trong y học gọi là “rối loạn nhân cách chống đối xã hội”: một chứng rối loạn không có tính di truyền, được các nhà tâm lý học lần đầu công bố vào thế kỉ 19. Nó xuất hiện sau một cú nện vào đầu làm tổn thương những vùng quan trọng của não bộ và có thể biến những con người tử tế nhất thành loại người Machiavelli xấu xa nhất.

Điều này còn tiết lộ rằng những người có quyền lực cũng thể hiện các xu hướng tương tự.[10] Họ thực sự hành xử như những người bị tổn thương não. Họ không chỉ bốc đồng, tự coi mình là trung tâm, liều lĩnh, ngạo mạn và thô lỗ hơn những người khác, mà còn hay lừa dối bạn đời của mình, ít chu đáo với những người khác và ít quan tâm đến cảm xúc của người khác. Họ cũng trơ tráo hơn, và thường không thể hiện những nét mặt, vốn được cho là khác biệt duy nhất để phân biệt loài người với các loài linh trưởng.

Họ không biết đỏ mặt.

Cách quyền lực vận hành dường như giống một thứ thuốc gây mê khiến mọi người trở nên vô cảm với đồng loại. Trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2014, ba nhà thần kinh học người Mỹ đã sử dụng phương pháp “kích thích từ trường xuyên sọ” để kiểm tra chức năng nhận thức của hai nhóm: có quyền lực và ít quyền lực. Họ phát hiện ra rằng ý thức quyền lực đã phá vỡ những gì được gọi là phản chiếu, một quá trình tâm lý đóng vai trò then chốt trong việc hình thành lòng thấu cảm.[11] Bình thường, chúng ta thường xuyên phản chiếu, chẳng hạn như ai đó cười, bạn cũng cười; ai đó ngáp, bạn cũng ngáp theo. Nhưng những cá nhân có quyền lực ít soi gương hơn. Gần như là họ không còn cảm thấy gắn kết với loài người nữa, cứ như thể họ đã tự mình rút phích cắm vậy.[12]

Nếu những người có quyền cảm thấy bớt “gắn kết” với người khác, thì có gì là ngạc nhiên khi họ hình thành xu hưởng đa nghi hơn hay không? Nhiều nghiên cứu cho thấy, một trong những tác động của quyền lực là làm cho mọi người nhìn nhận người khác trong thứ ánh sáng tiêu cực.[13] Nếu bạn có quyền thì chắc chắn bạn sẽ dễ nảy sinh suy nghĩ rằng, hầu hết mọi người lười nhác và không đáng tin cậy, họ cần được giám sát và theo dõi, quản lý và chỉnh đốn, kiểm tra thường xuyên và phải cầm tay chỉ việc. Và vì quyền lực khiến bạn cảm thấy mình “thượng đẳng” hơn người khác, nên bạn sẽ tin rằng tất cả những việc kiểm soát này nên do đích thân bạn chịu trách nhiệm thì tốt hơn.

Bi kịch thay, những người không có quyền lực lại có suy nghĩ và hành động trái ngược hẳn. Những nghiên cứu tâm lý học cho thấy: những người cảm thấy bất lực cũng cảm thấy kém tự tin hơn. Họ do dự trong việc đưa ra quan điểm riêng. Trong các nhóm, họ tự thu nhỏ mình đồng thời đánh giá thấp khả năng của chính mình.[14]

Những cảm giác không chắc chắn như vậy tạo điều kiện cho những người có quyền lộng hành, đồng thời sự thiếu tự tin làm cho con người ta không muốn phản biện. Do đó việc kiểm soát không còn cần thiết, vì những người thiếu tự tin đã chọn cách im lặng. Như vậy, chúng ta có thể thấy một loạt những hành động có hại bắt đầu xảy ra: đối xử với người khác như thể họ ngu si và những người đó bắt đầu cảm thấy mình thật sự kém cỏi, dẫn đến việc giới cầm quyền tin rằng quần chúng đều quá u mê, không tự giải quyết được việc và vì thế họ – với tầm nhìn và hiểu biết của mình – cần gánh vác trách nhiệm đó.

Nhưng chẳng nhẽ lại không có chuyện ngược lại sao? Không phải quyền lực là thứ khiến chúng ta trở nên thiển cận hay sao? Một khi các bạn đạt đến vị trí đỉnh cao, các bạn sẽ có ít động lực để nhìn nhận mọi việc từ những góc độ khác. Không bắt buộc phải có sự thấu cảm, vì đối với bất kì ai bạn cảm thấy họ vô lý hay khó chịu, thì đơn giản là bạn sẽ phớt lờ, xử phạt, nhốt họ lại, hoặc làm những điều tệ hơn nữa. Bên cạnh đó, những người có quyền thường không phải biện minh cho hành động của họ và vì thế họ có thể đưa ra những quan điểm phiến diện.

Điều đó cũng lý giải cho việc phụ nữ có xu hướng đạt điểm cao hơn đàn ông trong những bài kiểm tra thấu cảm. Một nghiên cứu lớn tại Đại học Cambridge năm 2018 không phát hiện thấy yếu tố di truyền nào cho sự khác biệt này, thay vào đó họ quy nó cho những gì mà giới khoa học gọi là xã hội hóa.[15] Do quyền lực được phân bổ theo truyền thống nên chủ yếu là phụ nữ phải hiểu ý đàn ông. Ý tưởng về vấn đề trực giác của phụ nữ nhạy bén hơn đàn ông có lẽ bắt nguồn từ sự mất cân bằng này – rằng người ta kì vọng phụ nữ nhìn nhận mọi việc từ nhãn quan của đàn ông, và hiếm khi xảy ra trường hợp ngược lại.

02

Càng tìm hiểu về tâm lý học quyền lực, tôi càng hiểu rằng quyền lực giống như một thứ ma túy – một loại có cả một danh mục dài dằng dặc các tác dụng phụ đi kèm. “Quyền lực có xu hướng tha hóa, và quyền lực tuyệt đối sẽ dẫn đến sự tha hóa tuyệt đối,” đó là nhận xét khá nổi tiếng của một sử gia người Anh, Lord Acton, đưa ra vào thế kỉ 19. Có rất ít tuyên bố mà các nhà tâm lý học, xã hội học và sử học nhất trí đồng thuận như tuyên bố trên.[16]

Dacher Keltner gọi điều này là “nghịch lý quyền lực”. Nhiều nghiên cứu cho thấy rằng chúng ta thường chọn những cá nhân khiêm tốn và tốt bụng nhất lãnh đạo chúng ta. Nhưng một khi họ lên đến vị trí đỉnh cao, quyền lực thường xông thẳng vào bộ não và suy nghĩ của họ – sau đó vận may lại hất văng họ.

Chúng ta chỉ cần nhìn vào những người anh em họ khỉ đột và tinh tinh thì sẽ thấy rằng việc lật đổ một thủ lĩnh khó khăn như thế nào. Trong đàn khỉ đột, chỉ một kẻ độc tài duy nhất được phép đưa ra mọi quyết định và độc quyền tiếp cận hậu cung khỉ cái. Hay các con tinh tinh đầu đàn cũng phải trải qua những cuộc chiến cam go thì mới giành được vị trí thủ lĩnh, một vị trí dành riêng cho con đực khỏe nhất và thạo việc hình thành các liên minh nhất.

“Toàn bộ tác phẩm của Machiavelli dường như có thể áp dụng trực tiếp cho hành vi của tinh tinh,” nhà sinh vật học Frans de Waal đã đưa ra nhận xét như vậy trong cuốn sách có tên Chimpanzee Politics (tạm dịch: Nền chính trị của tinh tinh) của mình, xuất bản đầu những năm 80 của thế kỉ trước.[17] Con đực số một – con đầu đàn – nghênh ngang đi lại như một đấng nam tử tu mi và ra lệnh cho những con khác phục tùng mệnh lệnh của nó. Còn những con phụ tá vừa giúp nó cầm cương nhưng cũng có thể dễ dàng âm mưu đâm sau lưng nó bất cứ khi nào có cơ hội.

Qua hàng thập kỉ dài, các nhà khoa học đã nghiên cứu và phát hiện ra rằng DNA chúng ta và tinh tinh giống nhau đến 99%. Điều này đã gợi cảm hứng cho Newt Gingrich, Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ quyết định tặng hàng chục cuốn sách của De Waal cho các đồng nghiệp vào năm 1995. Trong suy nghĩ của ông, Quốc hội Hoa Kỳ chẳng khác gì bầy tinh tinh. Khác biệt duy nhất có chăng là các thành viên phải cố gắng nhiều hơn để che giấu bản năng của họ.

Bấy giờ, những gì chua được biết đến rộng rãi đó là ngoài tinh tinh, con người còn có một họ hàng khác cũng có DNA tương đồng đến 99%, loài đó là Bonobo. Lần đầu tiên Frans de Waal bắt gặp chúng là vào đầu những năm 1970, khi chúng vẫn còn được gọi với cái tên “tinh tinh lùn”. Thậm chí, suốt một thời gian dài, loài tinh tinh và loài bonobo còn được cho là cùng một loài.[18]

Trên thực tế, bonobo là một loài khác hẳn. Trong Chương 4 chúng ta nhận ra rằng giống vượn này tự thuần hóa, giống như Homo puppy. Con cái của loài này sẽ đóng vai trò then chốt trong quá trình này, bởi vì dù không khỏe như các con đực, nhưng chúng lại biết hỗ trợ nhau bất cứ khi nào một con trong số chúng bị con khác giới quấy rối. Nếu cần, chúng sẵn sàng cắn mất một nửa dương vật của con đực.[19] Nhờ sự cân bằng quyền lực này, bonobo cái có thể tự do lựa chọn bạn đời của chúng, và những con tử tế nhất thường được lựa chọn trước tiên.

(Nếu bạn nghĩ toàn bộ sự giải phóng này sẽ khiến cho đời sống tình dục buồn tẻ thì hãy nghĩ lại: “Bonobo hành xử như chúng đã đọc tác phẩm Kama Sutra (tạm dịch: Dục Kinh)”, De Waal viết, “chúng thực hành mọi tư thế và biến thể có thể nghĩ ra.”[20] Cuốn sách cũng cung cấp một thông tin khá thú vị rằng, khi hai nhóm bonobo gặp nhau lần đầu, chúng thường kết thúc bằng một cuộc truy hoan).

Trước khi chúng ta trở nên quá nhiệt tình: rõ ràng con người không phải bonobo. Ngày càng nhiều cơ quan nghiên cứu uy tín đã chỉ ra rằng, chúng ta có nhiều điểm chung với loài vượn này hơn là với loài tinh tinh ham mê quyền lực kiểu Machiavelli. Trước hết, xuyên suốt phần lớn lịch sử loài người, các thể chế chính trị của chúng ta giống với của loài bonobo hơn nhiều. Hãy nhớ các chiến thuật của những thành viên bộ lạc !Kung (xem Chương 5): “Chúng tôi từ chối người khoác lác, vì một ngày nào đó niềm kiêu hãnh của anh ta sẽ khiến anh ta giết hại ai đó. Cho nên chúng tôi luôn nói thịt của anh ta không có giá trị. Bằng cách này chúng tôi làm dịu con tim của anh ta và giúp anh ta trở nên hòa nhã hơn.”

Trong một cuộc phân tích 48 nghiên cứu về các xã hội săn bắt hái lượm, một nhà nhân chủng học người Mỹ đã khẳng định rằng chủ nghĩa Machiavelli✻ gần như là nguyên nhân dẫn đến tai họa. Để minh chứng cho điều này, một nhà khoa học đã chỉ ra một số đặc điểm mà bạn cần phải làm nếu như bạn muốn nắm vị trí thủ lĩnh ở thời tiền sử. Bạn phải có những đặc điểm sau:

Hào hiệp

Can trường

Khôn ngoan

Lôi cuốn

Ngay thẳng

Công bằng

Đáng tin

Khéo léo trong cách hành xử

Mạnh mẽ

Khiêm tốn[21]

Đối với các cư dân săn bát hái lượm, vai trò thủ lĩnh chỉ mang tính tạm thời và cả nhóm cùng bàn bạc đưa ra các quyết định. Bất kì ai ngu ngốc hành xử kiểu Machiavelli đều bị cho là đang đùa giỡn với tính mạng. Kẻ ích kỉ và tham lam sẽ bị đuổi ra khỏi bộ lạc và chắc chắn sẽ bị chết đói. Sau cùng, chẳng ai muốn chia sẻ thức ăn với những kẻ đã tự cảm thấy no nê.

Một dấu hiệu nữa chỉ ra rằng cách hành xử của loài người gần với loài bonobo hơn tinh tinh đó là ngay từ bẩm sinh, chúng ta đã chán ghét sự bất bình đẳng. Hãy thử tìm kiếm cụm từ “ghét bất bình đẳng” (inequality aversion) bằng Google Scholar và bạn sẽ tìm được hơn 10.000 bài viết khoa học về bản năng nguyên thủy này. Trẻ con chỉ mới ba tuổi đã biết cách chia bánh rất đều, và khi lên sáu tuổi chúng sẽ thà vứt cả cái bánh đi còn hơn là để người khác hưởng phần lớn hơn.[22] Cũng như bonobo, con người nhiệt tình và thường xuyên chia sẻ.

Nói vậy, chúng ta cũng không nên phóng đại những phát hiện này. Homo puppy không phải là những người bình đẳng bẩm sinh. Các nhà tâm lý đã nhấn mạnh rằng, chúng ta chấp nhận một chút bất bình đẳng nếu chúng ta nghĩ đó là điều hợp lý và chừng nào mọi thứ có vẻ như vẫn ngay thẳng. Nếu bạn có thể thuyết phục được mọi người rằng bạn khôn ngoan, tốt hay thánh thiện hơn, khi đó mọi người sẽ nhận thấy việc để bạn giữ nhiều trọng trách là điều hợp lý và bạn sẽ không sợ bị ai đó chống đối nữa.

Cùng với sự xuất hiện của những khu định cư đầu tiên khiến sự bất bình đẳng gia tăng, các thủ lĩnh và vua chúa bắt đầu hợp pháp hóa lý do họ được hưởng nhiều đặc quyền hơn các thần dân của mình. Nói cách khác, họ bắt đầu thực hiện việc tuyên truyền. Trong khi tù trưởng của các bộ lạc du mục đều khiêm nhường thì giờ đây các thủ lĩnh bắt đầu ra vẻ ta đây. Vua chúa tự nhận rằng họ được quyền cai trị là do những quyền lực thần thánh ban cho hoặc chính họ là thần thánh.

Dĩ nhiên ngày nay, hoạt động tuyên truyền nhằm củng cố và bảo vệ quyền lực trở nên tinh vi hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là chúng ta không còn nghĩ ra những ý thức hệ khéo léo để biện minh cho lý do một số cá nhân lại “xứng đáng” hưởng nhiều quyền lực, địa vị hay của cải hơn những người khác. Chúng ta vẫn đang làm như vậy. Trong xã hội Tư bản Chủ nghĩa, chúng ta có xu hướng sử dụng những lập luận về các giá trị. Nhưng làm cách nào để xã hội xác định được người mang lại nhiều giá trị nhất? Làm cách nào bạn xác định được ai đóng góp nhiều nhất cho xã hội? Chủ ngân hàng hay người quét rác? Đó là suy nghĩ của chúng ta hay của những người luôn nghĩ vượt ra khỏi khuôn khổ? Câu chuyện bạn thêu dệt càng hay thì miếng bánh bạn nhận được càng to. Thực tế, bạn có thể nhìn vào toàn bộ quá trình tiến hóa của nền văn minh như một lịch sử do các nhà cai trị liên tục nghĩ ra những lý lẽ biện minh mới nhằm phục vụ cho các đặc quyền của họ.[23]

Nhưng có gì đó rất lạ đang diễn ra ở đây. Tại sao chúng ta lại tin những câu chuyện mà các nhà lãnh đạo nói với chúng ta?

Một số sử gia cho rằng đó là vì chúng ta khờ dại – và điều đó có thể chỉ là sức mạnh siêu việt của chúng ta với tư cách một giống loài.[24] Nói theo cách đơn giản hơn thì lý thuyết đó như sau: nếu bạn muốn có hàng nghìn người lạ làm việc trong một đội, bạn cần có điều gì đó gắn kết họ lại với nhau. Chất keo này phải mạnh hơn cả sự thân thiết, vì mặc dù mạng lưới xã hội của Homo puppy là lớn nhất trong tất cả các loài linh trưởng, nhưng nó vẫn không đủ lớn để hình thành được các thành phố hay nhà nước.

Tiêu biểu như các nhóm xã hội của chúng ta từng có số lượng không quá 150 người. Vào những năm 1990, các nhà khoa học đã tìm ra giới hạn này khi hai nhà nghiên cứu người Mỹ đề nghị một nhóm tình nguyên viên liệt kê tất cả bạn bè và gia đình mà họ sẽ gửi thiệp Giáng sinh đến. Con số trung bình là 68 hộ, tức là khoảng 150 cá nhân.[25]

Khi bạn bắt đầu nhìn vào con số này, bạn sẽ thấy nó xuất hiện ở khắp nơi. Từ các quân đoàn La Mã tới những người khai hoang mộ đạo, từ các đơn vị doanh nghiệp tới những người bạn thật sự của chúng ta trên Facebook, cái ngưỡng ma mị này được giăng ở khắp nơi và cho thấy bộ não con người chưa được trang bị để chấp nhận con số nhiều hơn 150 mối quan hệ có ý nghĩa.

Vấn đề là ở chỗ trong khi 150 vị khách tập hợp trong một bữa tiệc lớn thì con số này lại không đủ để xây nên một kim tự tháp hay phóng tên lửa lên mặt trăng. Những dự án ở quy mô càng lớn thì càng cần sự hợp tác của những nhóm lớn hơn, cho nên những người lãnh đạo cần khích lệ chúng ta.

Bằng cách nào? Bằng những câu chuyện hoang đường. Chúng ta học cách tưởng tượng mối quan hệ họ hàng với những người chúng ta chưa bao giờ gặp gỡ. Các tôn giáo, các nhà nước, các công ty, các dân tộc – tất cả thật sự chỉ tồn tại trong đầu óc của chúng ta, trong những câu chuyện các thủ lĩnh của chúng ta và chính chúng ta kể. Dù chưa có ai từng gặp “nước Pháp” hay bắt tay với “Giáo hội Công giáo La Mã” cả, nhưng điều đó không quan trọng nếu chúng ta kí giao kèo đồng ý với những câu chuyện tưởng tượng ấy.

Một ví dụ rõ ràng cho những câu chuyện hoang đường như thế là nhân vật Chúa Trời, dĩ nhiên rồi. Hay còn gọi là Đại Huynh như ban đầu. Thậm chí, khi còn niên thiếu, tôi đã băn khoăn tại sao Đấng sáng tạo trong Thiên Chúa giáo mà tôi tin theo lại quan tâm nhiều đến con người và những điều thế tục như vậy. Hồi đó, tôi không biết rằng tổ tiên du mục của chúng ta có một quan niệm rất khác về thánh thần, họ cho rằng các vị thần của họ rất ít quan tâm đến đời sống con người (xem Chương 5).

Câu hỏi là: Chúng ta lấy đâu ra niềm tin vào một vị Chúa quyền uy tối thượng như vậy? Và tại sao chúng ta lại tin vào một vị Chúa tức giận trước tội lỗi của con người như vậy? Gần đây các nhà khoa học đã đưa ra một giả thuyết hết sức thú vị. Để hiểu nó, chúng ta phải quay lại Chương 3, nội dung chương này đã tiết lộ cho chúng ta biết rằng có gì đó độc đáo trong đôi mắt của loài Homo puppy. Nhờ lòng trắng xung quanh mống mắt, chúng ta có thể nhìn theo hướng ánh mắt của người khác. Cái nhìn thoáng qua này giúp chúng ta tin rằng mình hiểu được suy nghĩ của người khác, đây là yếu tố quan trọng trong việc tạo dựng những niềm tin trong nhau.

Khi chúng ta bắt đầu sống thành từng nhóm lớn hơn, với hàng nghìn người xa lạ, mọi thứ dần thay đổi. Hoàn toàn theo nghĩa đen, chúng ta đánh mất hình ảnh về nhau. Bạn chẳng có cách nào tiếp xúc bằng mắt với hàng nghìn hay hàng vạn hoặc hàng triệu người, do đó sự nghi ngại lẫn nhau bắt đầu tăng lên. Con người ngày càng ngờ vực người khác đang lừa dối cộng đồng, trong khi họ phải làm lụng vất vả thì những kẻ khác lại nhởn nhơ.

Và vì thế các thủ lĩnh thấy cần phải có người giám sát người dân, cần phải có ai đó nghe được mọi thứ và nhìn thấy mọi thứ. Một Con mắt nhìn thấy tất cả. Chúa Trời.

Không phải ngẫu nhiên mà các vị thần hay báo thù như vậy.[26] Chúa trở thành một siêu Leviathan, theo dõi tất cả mọi người 24/7, 24 tiếng mỗi ngày, bảy ngày mỗi tuần. Thậm chí những suy nghĩ của bạn cũng không được an toàn và riêng tư. “Ngay cả tóc trên đầu anh em cũng đã được đếm cả rồi,” Kinh Thánh nói với chúng ta ở Matthew Chương 10 câu 30. Chính thực thể thông suốt mọi sự này đã giám sát từ trên trời và – khi cần – dùng đến đòn roi.

Những câu chuyện thần thoại rất quan trọng để giúp các thủ lĩnh của chúng ta làm những điều mà không giống loài nào từng làm trước đó. Chúng giúp chúng ta cùng làm việc với quy mô rất lớn, lên đến hàng triệu người xa lạ. Hơn nữa, những truyền thuyết này vẫn được phổ biến cho đến tận ngày nay, chính từ những sức mạnh thêu dệt to lớn mà các nền văn minh vĩ đại xuất hiện. Do Thái giáo và Hồi giáo, Chủ nghĩa Dân tộc và Chủ nghĩa Tư bản – tất cả đều là sản phẩm của trí tưởng tượng của nhân loại. “Tất cả xoay quanh việc kể những câu chuyện và thuyết phục mọi người tin chúng,” sử gia Israel Yuval Noah Harari viết trong cuốn Sapiens✻.[27]

Đây là một thuyết khá hấp dẫn, nhưng nó có một hạn chế.

Nó bỏ qua 95% lịch sử loài người.

Như đã xảy ra, tổ tiên du mục của chúng ta đã vượt qua ngưỡng ma mị 150 người.[28] Tuy chúng ta săn bắt hái lượm theo từng nhóm nhỏ, nhưng các nhóm cũng thường xuyên thay đổi các thành viên, biến chúng ta thành một phần trong một mạng lưới rộng lớn gồm toàn các Homo puppy “thụ phấn chéo”. Chúng ta đã thấy điều này ở Chương 3 với các bộ lạc như người Aché ở Paraguay và người Hadza ở Tanzania, nơi các thành viên gặp gỡ hơn 1.000 người trong suốt cuộc đời họ.[29]

Hơn nữa, người tiền sử cũng có trí tưởng tượng phong phú. Họ khéo léo thêu dệt những câu chuyện hoang đường và truyền lại các thế hệ tiếp theo như một cách bôi trơn những bánh răng hợp tác của đám đông. Đền thờ sớm nhất thế giới được tìm thấy ở Göbekli Tepe thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay (xem Chương 5) là một ví dụ rất thực tế, ngôi đền được xây dựng với sự nỗ lực và phối hợp nhịp nhàng của hàng nghìn người.

Điểm khác biệt duy nhất có thể chỉ ra là vào thời tiền sử, những câu chuyện hoang đường này kém bền vững hơn. Các tù trưởng có thể bị lật đổ bất cứ lúc nào và những tượng đài nhanh chóng bị mưa gió xói mòn. Nói theo lời của hai nhà nhân chủng học Graeber và Wengrow:

Thay vì biếng nhác trong sự ngây thơ thời săn bắt hái lượm cho đến khi vị thần bất bình đẳng bằng cách nào đó được thả ra (khỏi cái chai), tổ tiên thời tiền sử của chúng ta dường như đã biết đóng mở thành công nút chai thường xuyên, giới hạn sự bất bình đẳng trong những vở kịch nghi lễ, xây dựng những vị thần và vương quốc giống như xây dựng những tượng đài của chính họ, để rồi sau đó lại hân hoan tháo dỡ xuống.[30]

Trong hàng thiên niên kỉ, chúng ta đủ khả năng để hoài nghi về những câu chuyện chúng ta nghe được. Nếu một kẻ to mồm nào đó tuyên bố rằng hắn được bàn tay của Chúa lựa chọn, bạn có thể nhún vai. Nếu kẻ đó khiến người ta cảm thấy khó chịu, chẳng chóng thì chầy hắn sẽ nhận một mũi tên vào cạnh sườn. Homo puppy thân thiện chứ không hề ngây thơ.

Phải tới tận khi có sự xuất hiện của quân đội và các vị chỉ huy thì tất cả những chuyện này mới thay đổi. Cứ thử đứng lên chống lại một kẻ chuyên quyền sẵn sàng ra lệnh lột da, thiêu sống, hay xé xác phanh thây những người chống đối hắn xem. Khi đó, những lời phê phán bỗng trở nên chẳng còn cấp bách nữa. Machiavelli viết: “Đây là lý do giải thích cho việc tại sao tất cả những nhà tiên tri có vũ trang giành chiến thắng và mọi nhà tiên tri không có vũ trang đều thất bại.”

Từ lúc này trở đi, thần thánh và vua chúa không còn dễ bị phế truất nữa. Giờ đây những hành động chống đối chuyện hoang đường có thể gây ra những nguy hiểm chết người. Nếu bạn thấy có một vị thần nào răn dạy những điều không đúng cho lắm, thì bạn nên giữ điều đó cho riêng mình thôi. Nếu bạn tin quốc gia dân tộc là một ảo tưởng ngu ngốc, điều đó có thể khiến bạn mất đầu. Machiavelli khuyên rằng: “Quyền lực là thứ hữu ích bởi vì, nếu có chuyện gì đó mà dân chúng không hề tin thì những nhà lãnh đạo có thể khiến cho họ tin bằng sức mạnh vũ lực.”[31]

Bạn có thể nghĩ bạo lực không phải là hằng số trong phương trình này – ít nhất không phải trong các nền dân chủ có trật tự với thói quan liêu nhàm chán của họ. Nhưng chớ nhầm lẫn: mối đe dọa bạo lực vẫn hiện diện rất rõ, và nó đang lan rất nhanh.[32] Đó là lý do nhiều gia đình cùng con cái bị tống ra khỏi nhà vì không trả được các khoản thế chấp. Đó là lý do tại sao những người di dân lại không thể thong dong vượt qua biên giới bước vào vùng đất đẹp như trong tiểu thuyết mà chúng ta gọi là châu Âu và Hoa Kỳ. Và đó cũng là lý do chúng ta tiếp tục tin vào đồng tiền.

Chỉ cần cân nhắc: tại sao con người lại chịu ở trong những khu vực mà chúng ta gọi là “văn phòng” suốt 40 tiếng một tuần, để đối lấy vài miếng kim loại hoặc vài mẩu giấy hay vài chữ số thêm vào tài khoản ngân hàng của họ? Có phải do chúng ta đã bị chế ngự bởi cỗ máy tuyên truyền của những người nắm trong tay quyền lực? Nếu như vậy thì tại sao lại không có bất kì ai cảm thấy bất bình? Tại sao không ai tìm đến các cơ quan thuế và nói: “Thưa ngài, tôi vừa đọc một cuốn sách thú vị về sức mạnh của thần linh và nhận ra tiền bạc chỉ là thứ hão huyền, cho nên tôi sẽ không đóng thuế.”

Thực tế đã chứng minh cho bạn thấy, nếu bạn phớt lờ một hóa đơn và không chịu đóng thuế, bạn sẽ bị phạt hoặc tài khoản của bạn sẽ bị phong tỏa. Nếu bạn không sẵn lòng tuân thủ, những nhà cầm quyền có thể bỏ tù bạn. Tiền bạc có thể là thứ huyễn hoặc, nhưng nó được phổ biến và được bạo lực bảo lãnh.[33]

03

Khi đọc tác phẩm của Dacher Keltner về tâm lý học quyền lực, tôi bắt đầu hiểu sự phát triển của tài sản tư hữu và nông nghiệp có thể khiến giống loài Homo puppy lầm đường lạc lối như thế nào.

Trong hàng nghìn năm, chúng ta chọn những người tử tế và đặt họ làm thủ lĩnh của chúng ta. Thậm chí, từ thời tiền sử, chúng ta đã nhận thức rất rõ rằng quyền lực có thể khiến con người bị tha hóa, cho nên chúng ta cũng thúc đẩy việc tạo ra một hệ thống nhằm gây sức ép lên đồng loại và cảm giác xấu hổ nhằm kiểm soát các thành viên trong nhóm.

Nhưng 10.000 năm trước, việc lật đổ kẻ có sức mạnh trở nên khó khăn hơn. Khi chúng ta định cư trong các thành phố, các bang và những kẻ cai trị chúng ta giành được quyền chỉ huy toàn bộ quân đội, lúc đó một câu chuyện phiếm hay một ngọn giáo ngắm chuẩn cũng không đủ để lật đổ những người cai trị chúng ta. Đơn giản là vua chúa không bao giờ cho phép họ bị phế truất. Tương tự như vậy, các vị tổng thống không bao giờ bị hạ bệ bởi những lời chế nhạo và giễu cợt.

Một số sử gia nghi ngờ rằng giờ đây chúng ta thực sự rơi vào tình trạng bất bình đẳng. Chẳng hạn, Yuval Noah Harari viết rằng “các xã hội phức tạp của loài người dường như được xây dựng trên hệ thống thứ bậc tưởng tượng và sự phân biệt đối xử đầy bất công”.[34] (Và bạn có thể chắc rằng những tuyên bố như vậy lại được rất nhiều người ủng hộ và chấp thuận).

Nhưng điều khiến tôi thấy thú vị đó là người dân khắp thế giới không ngừng tìm cách thuần hóa giới lãnh đạo của họ, thậm chí ngay cả sau khi các tộc trưởng và vua chúa xuất hiện. Một giải pháp rõ ràng và hiệu quả hơn đó là tiến hành những cuộc cách mạng. Mọi cuộc cách mạng, dù là Cách mạng Pháp (1789), Cách mạng Nga (1917), hay Mùa xuân Ả Rập (2011), đều được tiếp sức bởi cùng một động lực: quần chúng tìm cách lật đổ một bạo chúa.

Tuy nhiên, hầu hết các cuộc cách mạng đều nhận chung một kết quả là thất bại thảm hại. Một kẻ chuyên quyền bị hạ bệ chẳng được bao lâu thì một thủ lĩnh mới xuất hiện và họ lại rơi vào thói tham quyền vô độ. Sau Cách mạng Pháp là Napoleon. Sau Cách mạng Nga là Stalin. Hay như Ai Cập cũng bị một nhà độc tài khác cai trị. Các nhà xã hội học gọi điều này là “Quy luật muôn đời của chế độ đầu sỏ”✻: thậm chí cả những người theo Xã hội Chủ nghĩa và Cộng sản Chủ nghĩa, với tất cả những lý tưởng được họ ngợi ca về tự do và bình đẳng, cũng chẳng thể miễn nhiễm trước sự tha hóa của việc có quá nhiều quyền lực.

Một số xã hội khắc phục điều này bằng việc xây dựng một hệ thống phân tán quyền lực hay còn gọi là nền dân chủ (tiếng Anh là democracy). Mặc dù bản chất của từ này cho thấy, nhân dân là người nắm quyền (trong tiếng Hy Lạp cổ, demos nghĩa là “nhân dân” và kratos nghĩa là “quyền lực”), nhưng trên thực tế nó thường không vận hành theo cách đó.

Rousseau từng nhận xét rằng hình thức chính quyền này, gọi chính xác hơn là một “tầng lớp quý tộc được lựa chọn” vì thực tế người dân không nắm một chút quyền lực nào. Thay vào đó chúng ta được phép quyết định ai sẽ lãnh đạo chúng ta. Cũng rất dễ nhận ra là ban đầu mô hình này được thiết kế nhằm gạt bỏ những thành viên tầm thường trong xã hội. Chẳng hạn như với bản Hiến pháp Mỹ, các sử gia đồng ý rằng “về bản chất đó là một văn kiện quý tộc được vạch ra để kiểm tra các khuynh hướng dân chủ của thời kì đó”.[35] Những Người cha Lập quốc Mỹ✻ chưa bao giờ có ý định để số đông quần chúng đóng vai trò quan trọng trong chính trị. Ngay cả hiện tại, dù bất kì công dân nào cũng có thể ứng cử vào một vị trí trong chính quyền, nhưng rất khó để thắng cử nếu không tiếp cận được một mạng lưới quý tộc gồm các nhà tài trợ và vận động hành lang. Không có gì ngạc nhiên khi “nền dân chủ” Mỹ lại trưng ra những khuynh hướng gia tộc – hãy nghĩ đến nhà Kennedy, nhà Clinton và nhà Bush.

Hết lần này đến lần khác chúng ta luôn hi vọng về những nhà lãnh đạo tốt hơn, nhưng thường những hi vọng đó đều tiêu tan. Theo như Giáo sư Keltner nói thì quyền lực khiến con người mất đi lòng tốt và sự khiêm nhường, vốn là nguyên nhân để họ được bầu chọn, hay thực sự họ chưa bao giờ có những phẩm chất ấy. Trong một xã hội được tổ chức theo thứ bậc, những Machiavelli thường đi trước một bước và họ có thứ vũ khí bí mật tối hậu để đánh bại đối phương.

Họ không biết xấu hổ.

Lúc trước chúng ta đã thấy rằng giống loài Homo puppy tiến hóa để trải nghiệm sự xấu hổ. Có một lý do thế này, trong số tất cả các loài động vật, con người là một trong rất ít loài biết đỏ mặt. Suốt hàng nghìn năm, xấu hổ là cách chắc chắn nhất để cảm hóa những thủ lĩnh của chúng ta, và ngày nay điều này vẫn còn tác dụng, xấu hổ thường hiệu quả hơn các quy định và luật pháp hay sự chỉ trích và ép buộc, vì những người cảm thấy xấu hổ luôn biết tự điều chỉnh bản thân. Chẳng hạn như họ đỏ mặt vì cứ ấp úng khi đọc một bài phát biểu, hay đỏ mặt khi họ bỗng trở thành trung tâm của sự đàm tiếu.[36]

Rõ ràng, xấu hổ cũng có mặt trái (chẳng hạn xấu hổ vì nghèo đói), nhưng hãy thử hình dung xã hội sẽ thế nào nếu sự xấu hổ không tồn tại. Đó sẽ là địa ngục!

Tuy nhiên, điều đáng buồn là vẫn có những người không cảm thấy xấu hổ, bởi vì có thể họ bị nghiện quyền lực hay thuộc nhóm thiểu số ít ỏi sinh ra với những đặc điểm rối loạn nhân cách chống đối xã hội. Những cá nhân như vậy sẽ không thể tồn tại lâu trong các bộ lạc du mục. Họ sẽ bị tống ra khỏi nhóm và bị bỏ mặc cho chết một mình. Nhưng trong các tổ chức hiện đại của chúng ta, thực tế những kẻ rối loạn nhân cách chống đối xã hội dường như lại đang đi trước vài bước trên nấc thang sự nghiệp. Các nghiên cứu cho thấy rằng khoảng 4-8% các CEO có triệu chứng rối loạn nhân cách được chẩn đoán, trong khi đó chỉ 1% số người dân mắc triệu chứng này.[37]

Trong xã hội dân chủ hiện đại ngày nay, vô liêm sỉ lại trở thành lợi thế tương đối lớn. Các chính trị gia không bị sự xấu hổ cản trở, họ được tự do làm những điều người khác không dám. Bạn có dám gọi mình là nhà tư tưởng xuất chúng nhất đất nước không? Bạn có dám vênh vang về khả năng tình dục của mình không? Bạn có lỡ nói dối và ngay sau đó lại nói những điều khác mà chẳng hề lỡ một nhịp không? Trong những trường hợp như vậy, thường thì mọi người sẽ bị sự xấu hổ chế ngự – như cách mọi người để lại chiếc bánh cuối cùng trên đĩa. Nhưng những kẻ không biết xấu hổ lại chẳng hề quan tâm tới điều đó. Cách hành xử thô bạo của họ đã mang lại lợi ích cho giới truyền thông hiện đại (mediacracy) của chúng ta, vì thời sự thường chạy theo những tin tức bất thường và vô lý.

Trong thế giới này, không phải những thủ lĩnh thân thiện nhất và đồng cảm nhất leo lên đến vị trí cao nhất, mà là những kẻ trái ngược với họ. Trong thế giới này, những kẻ vô liêm sỉ vẫn sống sót.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.