Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 1

THƯỞNG TRÀ VỚI NHỮNG KẺ KHỦNG BỐ

01

Trong một khu rừng ở Na Uy, cách khoảng 60 dặm về phía Nam thủ đô Oslo, có một trong những nhà tù lạ lùng nhất thế giới.

Ở đây, bạn sẽ không thấy các buồng giam và chấn song. Bạn sẽ không trông thấy hình ảnh những thấy lính canh được vũ trang súng ống hay còng tay. Những gì bạn thấy là một khu rừng với những cây bạch dương và thông cùng những lối mòn, quả là một khung cảnh tuyệt vời. Bao quanh nhà tù là một bức tường cao sừng sững – một trong số rất ít thứ nhắc cho ta biết rằng người ta không tự nguyện đến đây.

Mỗi tù nhân ở nhà tù Halden đều có phòng riêng của mình. Với lò sưởi dưới sàn. Tivi màn hình phẳng. Phòng tắm riêng. Có các gian bếp nơi tù nhân có thể nấu nướng, có đĩa sứ và dao bằng thép không gỉ. Halden cũng có một thư viện, một bức tường leo núi trong nhà và một phòng thu âm trang bị đầy đủ các loại nhạc cụ để tù nhân có thể ghi lại các đĩa hát của mình. Các album được phát hành với thương hiệu riêng của họ gọi là – không hề đùa – Đĩa hát Tội phạm. Đến nay, có ba tù nhân từng thi tài trong chương trình Norwegian Idol (Thần tượng Na Uy), và bộ phim ca nhạc nhà tù đầu tiên đang được triển khai.[1]

Halden là một bằng chứng sống động về những gì bạn có thể gọi là một “nhà tù có lối hành xử không theo thông lệ”. Thay vì phản chiếu hành vi của những người bị tạm giam, nhân viên lại chìa má kia ra – thậm chí với những kẻ phạm trọng tội. Thực tế, lính canh không mang vũ khí. Một người quản giáo nói rằng: “Chúng tôi trò chuyện với họ, đó là vũ khí của chúng tôi.”[2]

Nếu bạn cho rằng đây là cơ sở cải tạo nhẹ nhàng nhất ở Na Uy thì bạn đã nhầm. Halden là nhà tù có mức an ninh nghiêm ngặt nhất. Với khoảng 250 tội phạm buôn ma túy, tội phạm tình dục và giết người, nó cũng là nhà tù lớn thứ hai ở nước này.

Nếu bạn cần tìm một nhà tù bớt nghiêm khắc hơn thì nó chỉ cách Oslo vài dặm. Chỉ cần ít phút lái xe là tới Bastøy, một hòn đảo diễm lệ lại là nơi giam giữ 115 tù nhân trọng tội đang thụ án những năm cuối trong mức án của họ. Những gì xảy ra ở đây tương tự như chương trình The Experiment (Thí nghiệm nhà tù) của BBC, một chương trình truyền hình thực tế đã biến thành một công xã theo chủ nghĩa hòa bình (xem Chương 7).

Lần đầu được xem ảnh về hòn đảo này, tôi không dám tin vào mắt mình. Tù nhân và lính canh cùng nhau lật bánh kẹp? Bơi? Đi dạo? Nói thật, rất khó phân biệt quản giáo với tù nhân. Lính gác ở Bastøy không mặc đồng phục, và tất cả cùng ăn với nhau quanh một chiếc bàn.

Trên đảo, có đủ mọi việc để làm. Có rạp chiếu phim, giường tắm nắng và hai dốc trượt tuyết. Vài tù nhân tập hợp với nhau và thành lập một nhóm gọi là Ban nhạc Bastøy Blues, mà thực tế đã diễn phần mở màn cho các rocker huyền thoại ZZ Totr. Trên đảo cũng có một nhà thờ, một cửa hàng tạp hóa và một thư viện.

Bastøy nghe có vẻ như một khu nghỉ dưỡng sang trọng hơn là một nhà tù, nhưng nó không hẳn thoải mái như vậy. Tù nhân phải làm việc cật lực để vận hành cộng đồng của mình một cách ổn định: họ phải cày bừa và trồng trọt, thu hoạch và nấu nướng, tự chặt gỗ và làm mộc. Mọi thứ đều được tái chế và họ trồng một phần tư số lương thực của mình. Thậm chí, một số tù nhân còn được phép rời khỏi đảo đi làm trong đất liền, sử dụng dịch vụ phà do chính các tù nhân vận hành.

Và, ồ phải, để làm việc, đàn ông cũng được sử dụng dao, búa và những vũ khí giết người tiềm năng khác. Nếu họ cần đốn một cái cây, họ có thể dùng cưa máy. Thậm chí người sử dụng nó là kẻ giết người bị kết án có vũ khí là – bạn đoán ra đấy – cưa máy. Phải chăng người Na Uy quên mất điều này? Thật khờ dại khi cho cả một đám giết người vào chung một khu nghỉ dưỡng phải không? Nếu bạn hỏi nhân viên tại Bastøy, thì chẳng có gì bình thường hơn điều này cả. Ở Na Uy, nơi 40% lính cai ngục là phụ nữ, tất cả họ đều phải hoàn thành một chương trình đào tạo hai năm. Họ được dạy rằng kết bạn với tù nhân tốt hơn là kẻ cả và làm nhục họ.

Người Na Uy gọi đây là “an ninh động”, để phân biệt với “an ninh tĩnh” kiểu cũ – hình thức với các buồng giam có chấn song, rào thép gai và máy quay theo dõi. Ở Na Uy, nhà tù không chỉ ngăn chặn hành vi xấu, mà còn ngăn chặn cả những ý định xấu. Lính cai ngục hiểu rằng nhiệm vụ của họ là chuẩn bị cho những tù nhân, theo cách tốt nhất có thể, để họ trở lại với cuộc sống bình thường. Theo “nguyên tắc bình thường” này, cuộc sống bên trong những bức tường cần giống cuộc sống bên ngoài hết mức có thể.

Và, kì diệu thay, điều đó có tác dụng rất lớn. Halden và Bastøy là những cộng đồng yên bình. Trong khi các trại cải tạo truyền thống là những thiết chế toàn thể điển hình – những địa điểm nơi tình trạng bắt nạt lan tràn (xem Chương 14) – thì trong các nhà tù Na Uy, tù nhân rất hòa thuận với nhau. Bất kì lúc nào nảy sinh xung đột, cả hai bên phải ngồi xuống để thảo luận, và họ không thể rời đi cho tới khi bắt tay giảng hòa.

Tom Eberhardt, giám ngục tại nhà tù Bastøy giải thích: “Thật sự rất đơn giản. Đối xử với mọi người như rác rưởi, và họ sẽ thành rác rưởi. Đối xử với họ như con người, họ sẽ hành xử như con người.”[3]

Dù vậy, tôi vẫn không thấy thuyết phục, về mặt lý trí, tôi có thể hiểu tại sao một nhà tù có lối hành xử không theo thông lệ lại có thể hoạt động tốt như vậy. Tuy nhiên, về mặt trực giác, việc này có vẻ không ổn. Những nạn nhân sẽ cảm thấy thế nào khi biết những kẻ giết người này đang được sống ở một nơi yên ổn như thế?

Nhưng khi tôi đọc lời giải thích của Tom Eberhardt, tôi bắt đầu thấy ý nghĩa của việc làm này. Trước hết, hầu hết tù nhân sớm muộn gì cũng sẽ được phóng thích. Ở Na Uy, trên 90% tù nhân sẽ được phóng thích sau chưa đầy một năm trong tù, cho nên rõ ràng họ sẽ trở thành hàng xóm của ai đó.[4] Như Eberhardt giải thích với một nhà báo Mỹ, “Tôi nói với mọi người, hằng năm chúng tôi sẽ phóng thích hàng xóm của quý vị. Quý vị có muốn phóng thích họ như những quả bom nổ chậm không?”[5]

Rốt cuộc, tôi nhận thấy có một điều ý nghĩa hơn bất kì điều gì khác: đó là kết quả. Làm thế nào để so sánh hiệu quả từ những kiểu nhà tù này? Mùa hè năm 2018, một nhóm các nhà kinh tế Na Uy và Mỹ đã làm việc chung với nhau để tìm ra câu trả lời cho câu hỏi này. Họ xem xét tỉ lệ tái phạm tội – cơ hội ai đó sẽ tái phạm một tội danh. Theo tính toán của nhóm, tỉ lệ tái phạm trong các cựu tù nhân từ các trại cải tạo như Halden và Bastøy thấp hơn gần 50% so với những tội nhân bị kết án phục vụ cộng đồng hoặc nộp tiền phạt.[6]

Tôi ngỡ ngàng. Gần 50% sao? Tôi chưa từng nghe ai nói về điều này cả. Điều đó nghĩa là, với mọi tội danh, trong tương lai trung bình sẽ bớt đi 11 hành vi vi phạm. Ngoài ra, khả năng kiếm được việc làm của cựu tù nhân từ Halden và Bastøy cao hơn 40%. Bị nhốt trong những nơi này thật sự là bước ngoặt làm thay đổi hướng đi cuộc đời của những tội nhân.

Không phải ngẫu nhiên mà Na Uy tự hào với tỉ lệ người tái phạm tội ở mức thấp nhất thế giới. Ngược lại, hệ thống nhà tù Mỹ có tỉ lệ tái phạm cao nhất. Ở Hoa Kỳ, 60% tù nhân quay trở lại nhà tù sau hai năm, cao hơn 20% so với Na Uy.[7] Thậm chí tại nhà tù Bastøy tỉ lệ này còn thấp hơn – chỉ 16% – làm cho nơi này trở thành một trong những cơ sở cải huấn tốt nhất châu Âu, mà có lẽ phải nói là tốt nhất thế giới mới đúng.[8]

Được rồi, tốt quá, nhưng chẳng phải mô hình nhà tù như ở Na Uy quá tốn kém hay sao?

Cuối bài viết năm 2018, các nhà kinh tế học nước này đã kiểm lại chi phí và lợi nhuận. Thời gian ở trong một nhà tù Na Uy, theo tính toán của họ, tốn kém bình quân 60.151 đô la mỗi trường hợp kết án – gần gấp đôi ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, vì những cựu tù nhân này có tỉ lệ tái phạm ít hơn nên họ cũng tiết kiệm cho bộ máy thực thi pháp luật Na Uy 71.226 đô la mỗi người. Hơn nữa, vì có thêm nhiều người trong số họ tìm được việc làm nên họ không cần sự hỗ trợ của chính quyền và họ đóng thuế, tiết kiệm thêm cho hệ thống trung bình 67.086 đô la. Cuối cùng nhưng chưa hết, số nạn nhân giảm đi, đó mới là điều vô giá.

Kết quả? Thậm chí nếu sử dụng những ước tính bảo thủ, thì hệ thống nhà tù Na Uy chi trả cho chính mình nhiều hơn hai lần. Cách tiếp cận của Na Uy không phải là một sự loạn trí xã hội về một chủ nghĩa ngây thơ nào đó. Đó là một hệ thống tốt hơn, nhân văn hơn và đỡ tốn kém hơn.

02

Ngày 23 tháng 7 năm 1965, một ủy ban gồm 19 chuyên gia về tội phạm học đã nhóm họp ở Washington, D.C., theo lệnh triệu tập của Tổng thống Lyndon B. Johnson. Nhiệm vụ của họ là: trong hai năm tiếp theo, phát triển một tầm nhìn căn bản để hoàn thiện hệ thống hành pháp của Mỹ, bao quát mọi đối tượng từ cảnh sát đến tù nhân.

Bối cảnh là những năm 1960 đầy nhiễu loạn. Một thế hệ mới đang ngấp nghé bước vào cánh cửa quyền lực, tỉ lệ tội phạm gia tăng và hệ thống tư pháp hình sự cũ đang tê bại, không thể giải quyết được tình trạng phạm tội hiện tại. Các chuyên gia về tội phạm hiểu rằng đây là lúc phải vạch ra một chiến lược lớn hơn. Cuối cùng, họ đệ trình một báo cáo bao gồm hơn 200 khuyến nghị khác nhau. Các dịch vụ khẩn cấp cần được đại tu, hệ thống đào tạo cảnh sát cần được phát triển hơn đồng thời cần thiết lập một đường dây nóng khẩn cấp toàn quốc – đó cũng là lý do mà 911 ra đời.

Nhưng những khuyến nghị quyết liệt nhất lại liên quan đến tương lai các nhà tù ở Mỹ. Về vấn đề này, ủy ban nói rất thẳng thắn:

Đời sống trong nhiều thiết chế lúc tốt đẹp nhất thì khô khan và không hiệu quả, lúc tệ nhất thì tàn bạo và xuống cấp đến không nói lên lời. […] điều kiện sống của tù nhân là sự chuẩn bị tồi tệ nhất cho công cuộc tái hòa nhập cộng đồng của họ, và thường chỉ củng cố trong họ một kiểu thao túng hoặc hủy hoại.[9]

Ủy ban nói rằng đã đến lúc cần thay đổi toàn diện. Không cần thêm chấn song, buồng giam và những hành lang bất tận nữa. Các chuyên gia khuyên: “Về mặt kiến trúc, bản thiết kế mô hình cần giống một không gian sống bình thường hết mức có thể. Chẳng hạn, các phòng nên có cửa thay vì các chấn song. Tù nhân sẽ ăn ở phòng ăn, trên những chiếc bàn nhỏ để tạo cảm giác thân mật. Ngoài ra còn có các phòng học, cơ sở giải trí, phòng nghỉ ngơi, và có lẽ một cửa hàng và một thư viện.”[10]

Có một thực tế ít biết rằng Hoa Kỳ gần như đã xây dựng một hệ thống nhà tù tương tự những gì Na Uy có ngày nay. Những thí điểm ban đầu với “thế hệ nhà tù mới” này được khai trương vào cuối những năm 60. Trong các cơ sở này, tù nhân có phòng riêng, các phòng này đều có cửa mở dẫn đến một không gian chung nơi họ có thể trò chuyện, đọc sách và chơi game trong khi một lính gác không có vũ trang canh chừng mọi việc. Có cả thảm mềm, đồ nội thất và bồn vệ sinh bằng sứ.[11]

Các chuyên gia gọi đó là: nhà tù của tương lai.

Khi nhìn lại, ta thấy thật choáng váng bởi tình thế xoay chuyển quá nhanh – vậy điều gì đã tạo ra sự thay đổi đó. Bắt đầu từ Philip Zimbardo, người vào tháng 2 năm 1973 xuất bản bài nghiên cứu đầu tiên về Thí nghiệm Nhà tù Stanford của mình. Tuy chua hề thực sự đặt chân đến bất kì một nhà tù nào, nhưng nhà tâm lý học này lại khảng định rằng nhà tù vốn là nơi tàn bạo cho dù bạn có tô hồng đến mức nào.

Lời tuyên cáo này được nồng nhiệt đón nhận và trở nên nổi tiếng hơn khi Báo cáo Martinson xuất hiện vào một năm sau đó. Người đứng sau báo cáo này, Robert Martinson, là một nhà xã hội học đang giảng dạy tại Đại học New York, ông là người nổi tiếng với tính cách khá kì dị nếu không muốn nói là hơi điên khùng. Cuộc đời ông cũng đặc biệt. Thời trẻ, Martinson từng là nhà hoạt động dân quyền và phải vào tù 39 ngày (với ba ngày bị biệt giam). Trải nghiệm kinh hoàng này khiến ông tin rằng mọi nhà tù đều là nơi hết sức man rợ.

Cuối những năm 1960, sau khi hoàn thành việc học không lâu, Martinson được mời tham gia vào một dự án lớn nhằm phân tích một loạt các chiến lược áp dụng trong việc cải huấn các tù nhân, từ các khóa học tới liệu pháp và giám sát, nhằm giúp tội phạm trở lại đường ngay nẻo chính. Trong quá trình làm việc cùng hai nhà xã hội học khác, Martinson đã thu thập dữ liệu từ hơn 200 nghiên cứu khác nhau trên khắp thế giới. Báo cáo cuối cùng của họ dài 736 trang, có tựa đề hết sức trực diện là The Effectiveness of Correctional Treatment: A Survey of Treatment Evaluation Studies (tạm dịch: Hiệu quả của đối xử cải huấn: Một khảo sát về những nghiên cứu đánh giá cách đối xử).

Vì giới báo chí hiếm khi đọc những nghiên cứu phức tạp và dài dòng như thế này nên Martinson cũng xuất bản một bản tổng kết ngắn gọn gồm những phát hiện của họ trên một tạp chí phổ thông. Tiêu đề: “Cái gì có tác dụng?” Kết luận: chẳng có gì. Martinson viết: “Với rất ít ngoại lệ xảy ra, qua những báo cáo từ trước đến nay có thể thấy, nỗ lực phục hồi nhân phẩm chẳng có mấy tác dụng, tỉ lệ tái phạm tội vẫn rất cao.”[12] Nhà khoa học xã hội tiến bộ này hi vọng – rất giống Philip Zimbardo – tất cả mọi người sẽ nhận ra nhà tù là nơi vô nghĩa và nên đóng cửa toàn bộ.

Nhưng đó không phải là những gì đã diễn ra.

Ban đầu, truyền thông không có đủ thông tin về nhà xã hội học lôi cuốn này. Báo chí và các chương trình truyền hình dành hẳn cho Martinson một diễn đàn để nhắc lại lời khẳng định đầy cay nghiệt của mình, trong khi các đồng tác giả của ông đứng bên vò đầu bứt tai. Kết quả thực tế cho thấy 48% nghiên cứu được phân tích đều rất tích cực, cho thấy việc phục hồi nhân phẩm có thể mang lại hiệu quả.[13]

Tổng kết sai lệch trong Báo cáo Martinson mở đường cho những kẻ theo đường lối cứng rắn. Đây là bằng chứng – các nhà hoạch định chính sách bảo thủ tuyên bố – cho thấy rằng một số người đơn giản là sinh ra đã xấu xa và họ sẽ mãi xấu xa như thế. Khái niệm phục hồi nhân phẩm không phù hợp với bản chất con người. Họ cho rằng: tốt hơn hết là nhốt những quả táo xấu xí này lại và vứt chìa khóa đi. Điều này mở ra một kỉ nguyên mới vô cùng khắc nghiệt đồng thời ngăn cản việc thử nghiệm mô hình nhà tù mới tại Mỹ.

Mỉa mai thay, Martinson đã thu hồi lại kết luận của mình vài năm sau rằng “trái ngược với quan điểm trước đây của tôi, một số chương trình cải tạo tù nhân thực sự tạo ra tác động đáng kể nhằm giảm tỉ lệ tái phạm tội”.[14] Tại một hội thảo năm 1978, một vị giáo sư đã hỏi ông ấy phải nói gì với sinh viên của mình. Martinson trả lời: “Hãy nói rằng tôi đã phát biểu những điều tào lao.”[15]

Nhưng lúc đó, chẳng mấy ai buồn nghe những điều Martinson nói. Ông còn viết hẳn một bài báo thú nhận những sai lầm trong kết quả nghiên cứu của mình, nhưng chỉ có một tờ tạp chí ít tiếng tăm cho đăng. Một nhà khoa học khác nhận xét đó “có lẽ đó là bài báo ít người đọc nhất trong số những bài nghiên cứu về việc phục hồi nhân phẩm”.[16] Tin cải chính của Martinson không được kênh báo chí, phát thanh hay đài truyền hình đánh giá cao. Và nó cũng không thành trở thành một tin lớn khi vài tuần sau, nhà xã hội học 52 tuổi này đã nhảy xuống từ tầng 15 trong tòa nhà tại Manhattan của mình.

03

Sau khi Martinson mất, một tên tuổi khác đã nổi lên, đó là Giáo sư James Q. Wilson.

Có thể ông không nổi tiếng được như Martinson, nhưng nếu chúng ta muốn hiểu tại sao hệ thống tư pháp hình sự Hoa Kỳ lại vận hành như hiện nay thì không thể không tìm hiểu về nhân vật này. Sau khi Robert Martinson tự tử, James Q. Wilson đã trở thành người thay đổi dòng chảy lịch sử của nước Mỹ.

Là một giáo sư giảng dạy bộ môn Khoa học Chính trị tại Đại học Harvard, Wilson thuộc tuýp người thích đưa ra nhận định hay ý kiến về mọi vấn đề của cuộc sống – từ đạo đức sinh học, chiến tranh, ma túy tới tương lai của nhà nước hợp hiến✻ và ngay cả việc lặn dùng bình chứa khí nén.[17] (Ông cũng là người được biết đến với sở thích thích chụp ảnh cùng những con cá mập dài đến sáu mét).[18]

Tuy nhiên phần lớn cuộc đời của ông lại tập trung vào vấn đề tội ác. Nếu có điều gì mà Wilson ghét thì đó là hành động chìa má bên kia. Ông ấy nhận thấy mô hình nhà tù đối xử với tù nhân bằng sự tử tế chẳng đem lại lợi ích gì. Ông cho rằng việc tìm hiểu “lý do” tại sao những tên tội phạm lại hành động như vậy là việc làm hết sức lãng phí thời gian và tất cả những người theo chủ nghĩa tự do say sưa nói về tác động của một thời tuổi trẻ bồng bột, nhiều sai lầm đều không hiểu bản chất vấn đề. Vấn đề thực sự rất đơn giản: Một số người là loại cặn bã, và cách tốt nhất có thể làm là hoặc nhốt họ lại hoặc tử hình họ.

Vị giáo sư Harvard viết: “Chính bởi vì phương thức đo lường về sự nhầm lẫn của chúng ta mà nhiều độc giả đã ngộ nhận một tuyên bố như trên là tàn ác, thậm chí là man rợ.”[19]

Tuy nhiên với Wilson, điều đó hoàn toàn có ý nghĩa. Cuốn sách Thinking About Crime (tạm dịch: Suy ngẫm về tội ác, xuất bản 1975) của ông đã tác động mạnh đến những nhân vật chóp bu ở Washington, kể cả Tổng thống Gerald Ford, vào cùng năm cuốn sách được xuất bản, đã gọi những ý tưởng của Wilson là “thú vị và hiệu quả nhất”.[20] Các quan chức cấp cao đều nghiền ngẫm triết lý của ông. Giáo sư Wilson vẫn kiên nhẫn đưa ra hướng dẫn rằng giải pháp tốt nhất đề loại bỏ tội ác là loại bỏ những kẻ phạm tội. Thực hiện điều này mới khó khăn làm sao?

Sau khi đọc một loạt các bài viết về ảnh hưởng của James Q. Wilson đối với hệ thống tư pháp, thì tôi nhận ra rằng trước kia tôi từng nghe đến cái tên này rồi. Hóa ra vào năm 1982, Wilson đã nảy ra một ý tưởng có tính cách mạng, được lịch sử ghi nhận với tên gọi: lý thuyết “cửa sổ vỡ”. Lần đầu tiên tôi đọc về lý thuyết này là khi tôi đọc cuốn sách có nội dung về vụ sát hại Kitty Genovese (và 38 người bàng quan): The Tipping Point của nhà báo Malcolm Gladwell.

Tôi nhớ rằng mình đã bị cuốn hút vào chương nói về lý thuyết cửa sổ vỡ của Wilson. Trong một bài báo viết trên tờ The Atlantic xuất bản năm 1982, Wilson viết rằng: “Nếu một ô cửa sổ trong một tòa nhà bị vỡ và cứ để vậy mà không sửa, thì tất cả những cửa cánh cửa sổ còn lại sẽ nhanh chóng vỡ theo.”[21] Chảng chóng thì chầy, nếu không ai can thiệp thì những kẻ phá hoại sẽ nối gót nhau phá hoại những ô cửa lành lặn còn lại. Tiếp theo, đám nghiện hút sẽ mò vào, và khi ấy việc ai đó bị sát hại chỉ còn là vấn đề thời gian.

“Đây là lý thuyết về sự lây lan của tội ác”, Gladwell nhận xét.[22] Rác trên vỉa hè, những kẻ lang thang trên phố, tranh graffiti trên tường,… tất cả đều là tiền thân của việc giết người và hỗn loạn. Thậm chí, chỉ cần một ô cửa sổ vỡ thôi cũng đã gửi đi thông điệp rằng trật tự không được thiết lập, đây cũng là dấu hiệu để giới tội phạm nhận ra rằng họ có thể thực hiện nhiều hành vi phạm tội hơn. Vì thế, nếu bạn muốn chống lại hành vi phạm tội, bạn phải bắt đầu từ việc sửa lại những ô cửa sổ vỡ.

Mới đầu, tôi không hiểu được tại sao chúng ta lại phải bận tâm đến vài ba tội vặt vãnh trong khi bao người đã bị giết hại hằng ngày? Gladwell thừa nhận điều này nghe “vô nghĩa như việc lau sàn tàu Titanic trong khi nó đang lao thẳng vào núi băng trôi”.[23]

Nhưng rồi tôi đọc được những thí nghiệm đầu tiên.

Vào giữa thập niên 80 của thế kỉ trước, hệ thống tàu điện ngầm của thành phố New York bị phủ kín bởi những bức tranh graffiti. Cục Đường bộ kiến nghị lên thành phố rằng cần phải làm gì đó, cho nên họ thuê đồng tác giả của lý thuyết cửa sổ vỡ là George Kelling làm cố vấn. Ông gợi ý một kế hoạch làm sạch những con tàu với quy mô lớn. Thậm chí cả những đoàn tàu chỉ có một chút tranh graffiti cũng nhanh chóng được gửi đi lau chùi sạch sẽ. Giám đốc của hệ thống tàu điện ngầm nói rằng: “Chúng tôi ý thức được tính nghiêm trọng của việc này.”[24]

Tiếp đến là giai đoạn hai. Lý thuyết cửa sổ vỡ của Wilson và Kelling không chỉ áp dụng với tình trạng hỗn loạn, mà còn áp dụng với cả những người đã gây ra sự hỗn loạn đó. Một thành phố mà những tên du côn và người ăn mày được tự do lang thang chính là dấu hiệu dự báo về những điều tồi tệ hơn sắp xảy ra. Năm 2011, Wilson đưa ra nhận định rằng “trật tự công là điều hết sức mong manh”.[25] Không như nhiều nhà khoa học khác, ông ít đầu tư cho việc nghiên cứu những nguyên nhân sâu xa của tội ác, như đói nghèo hay bị phân biệt đối xử. Thay vào đó, ông nhấn mạnh rằng chỉ có duy nhất một nguyên nhân giải thích cho hành vi phạm tội mà thôi, đó là bản chất con người.

Wilson tin rằng hầu hết mọi người đều muốn có câu trả lời cho câu hỏi: Người ta có phải trả giá cho tội ác của mình hay không? Nếu cảnh sát không nghiêm hay các nhà tù quá thoải mái, khả năng cao là nhiều người sẽ chọn việc phạm tội và sống ở trong tù.[26] Nếu tỉ lệ tội phạm gia tăng thì các giải pháp cũng trở nên trực diện. Bạn có thể giải quyết bằng cách sử dụng những biện pháp mạnh mẽ hơn như nâng mức phạt lên cao hơn, thời gian ngồi tù dài hơn và cưỡng chế mạnh tay hơn. Chừng nào “chi phí” để giải quyết hậu quả của tội ác tăng lên thì nhu cầu phạm tội sẽ giảm đi.

Có một người không thể đợi để đưa lý thuyết của Wilson vào thực tiễn: William Bratton. Và Bratton là chốt khóa cuối cùng trong câu chuyện của chúng ta. Năm 1990, ông được bổ nhiệm làm tân Chánh thanh tra cảnh sát đường bộ✻ của thành phố New York. Bratton là người rất tin vào học thuyết của James Wilson. Là một người tràn đầy năng lượng, Bratton nổi tiếng với việc phát miễn phí các bản sao của số báo có bài viết về lý thuyết cửa sổ vỡ trên tờ The Atlantic.

Nhưng Bratton muốn làm nhiều điều hơn là chỉ sửa các ô cửa. Ông muốn khôi phục lại trật tự ở thành phố New York này bằng một cú đấm thép. Mục tiêu đầu tiên ông hướng đến là những người trốn vé. Từ nay trở đi, nếu người sử dụng tàu điện ngầm không thể trình vé giá 1,25 đô la thì họ sẽ bị cảnh sát đường bộ bắt, còng tay và bị giải đi trên sân ga nơi tất cả mọi người đều có thể nhìn thấy, số vụ bắt giữ tăng gấp năm lần.[27]

Điều này chỉ kích thích sự thèm khát của Bratton. Năm 1994, ông được thăng làm ủy viên Hội đồng Cảnh sát của thành phố, và chẳng mấy chốc toàn bộ công dân New York được nếm mùi triết lý của Bratton. Ban đầu, các sĩ quan của ông còn bị cản trở bởi các quy định và nghi thức, nhưng Bratton gạt bỏ hết. Rất nhanh sau đó, bất kì ai cũng có thể bị bắt cho dù mắc những vi phạm nhỏ nhất – ăn uống nơi công cộng, mang theo cần sa, đùa bỡn với cảnh sát. Theo lời của chính Bratton thì: “Chỉ cần nhìn trộm trên phố thôi, quý vị cũng sẽ bị vào tù.”[28]

Kì diệu thay, chiến lược mới của Bratton có vẻ mang lại hiệu quả cao. Tỷ lệ tội phạm giảm mạnh. Tỷ lệ giết người? Giảm 63% từ 1990 đến 2000. Cướp giật? Giảm 64%. Trộm cắp xe hơi? Giảm 71 %.[29] Lý thuyết cửa sổ vỡ từng bị báo chí mỉa mai hóa ra lại là một ý tưởng đột phá.

Bỗng chốc, Wilson và Kelling trở thành những chuyên gia tội phạm học được kính nể nhất cả nước, ủy viên hội đồng Bratton xuất hiện trên trang bìa tạp chí Time và tiếp tục được bổ nhiệm làm Giám đốc sở Cảnh sát Los Angeles năm 2002 và tái bổ nhiệm vị trí ủy viên Hội đồng Cảnh sát thành phố New York năm 2014. Ông được các thế hệ sĩ quan cảnh sát tôn kính, họ tự nhận là “có phong cách Bratton” hay Brattonista.[30] Thậm chí, Wilson còn ghi nhận Bratton là người đã tạo ra “thay đổi lớn nhất trong lĩnh vực cảnh sát của nước Mỹ”.[31]

04

Gần 40 năm đã trôi qua kể từ khi lý thuyết “cửa sổ vỡ” lần đầu xuất hiện trên tờ The Atlantic. Suốt thời gian đó, lý thuyết của Wilson và Kelling lan tới những nơi xa xôi nhất của Hoa Kỳ, và còn lan tới châu Âu và châu Úc. Trong The Tipping Point, Malcolm Gladwell gọi lý thuyết này là một thành công vĩ đại, và trong cuốn sách đầu tiên của tôi, tôi cũng rất hào hứng phân tích nó.[32]

Nhưng điều tôi không nhận ra khi đó là, rất ít chuyên gia tội phạm học tin vào lý thuyết này. Thực tế, lẽ ra những hồi chuông báo động nên bắt đầu ngân lên ngay khi tôi đọc ở The Atlantic rằng lý thuyết của Wilson và Kelling dựa trên một thí nghiệm hết sức mơ hồ.

Trong thí nghiệm này, một nhà nghiên cứu để một chiếc xe đỗ cả tuần tại một khu dân cư cao cấp. Ông chờ đợi. Chẳng có gì xảy ra. Sau đó ông quay lại với một cái búa. Đích thân nhà nghiên cứu đập vỡ một cửa sổ ô tô. Chỉ sau vài giờ, những người qua đường bình thường đã phá tan chiếc xe.

Tên của nhà nghiên cứu là gì ư? Philip Zimbardo!

Thí nghiệm đập vỡ cửa kính xe hơi của Zimbardo, chưa bao giờ được xuất bản trên bất kì tạp chí khoa học nào, là cảm hứng cho lý thuyết cửa sổ vỡ. Và cũng như Thí nghiệm Nhà tù Stanford của ông ấy, kể từ đó lý thuyết này đã bị bóc trần triệt để. Chẳng hạn, chúng ta biết rằng đường lối cảnh sát “đổi mới” của William Bratton và những Brattonista của ông ấy không có công trong việc giảm sút tỉ lệ tội phạm ở thành phố New York. Xu hướng sụt giảm này đã diễn ra trước đó, và ở cả các thành phố khác như San Diego, nơi cảnh sát để mặc những kẻ gây rối ở mức độ nhẹ.

Năm 2015, một bài phân tích hơn 30 nghiên cứu về lý thuyết cửa sổ vỡ cho thấy rằng không có bằng chứng về việc chính sách mạnh tay của Bratton mang lại hiệu quả giúp giảm số lượng phạm tội.[33] Không, không, chắc chắn không. Các khu dân cư không hề an toàn hơn nhờ phát vé đỗ xe, cũng như bạn không thể cứu được tàu Titanic bằng việc cọ rửa sàn tàu.

Phản ứng ban đầu của tôi là: được thôi, vậy là việc bắt giữ những kẻ vô công rồi nghề và say xỉn không làm giảm số lượng tội phạm nghiêm trọng. Nhưng nó vẫn hiệu quả trong việc củng cố trật tự ở những nơi công cộng phải không?

Điều này làm nảy ra một câu hỏi cơ bản. Chúng ta đang nói về “trật tự” của ai? Vì các vụ bắt giữ ở New York tăng vọt, nên các báo cáo về hành vi sai trái của cảnh sát cũng vậy. Vào năm 2014, hàng nghìn người biểu tình tràn xuống đường phố ở New York và các thành phố khác của Hoa Kỳ, bao gồm Boston, Chicago và Washington. Khẩu hiệu của họ: “Cửa sổ vỡ, cuộc sống tiêu tan.”

Đây không phải là sự phóng đại. Theo lời của hai chuyên gia tội phạm học, chính sách mạnh tay của cảnh sát đã phải nhận nhiều lời chỉ trích:

… những phụ nữ ăn bánh trong một công viên Brooklyn; những người chơi cờ trong một công viên Inwood; những người đi tàu điện ngầm vì tội đặt chân lên ghế lúc 4 giờ sáng và một đôi vợ chồng già ở Queens bị gọi ra tòa vì không cài dây an toàn trong một đêm lạnh cóng người trong khi lái xe đi mua thuốc theo đơn. Người ta cho rằng ông già được hướng dẫn đi bộ về nhà để xác định nhân thân – cách hiệu thuốc vài khối nhà. Khi ông trở lại hiệu thuốc, các sĩ quan đã viết phiếu phạt, sử dụng một chai thuốc kê theo đơn làm căn cước. Cơn đau tim của ông già sau đó đã dẫn tới việc ông ấy tử vong.[34]

Lý thuyết đó nghe thì có vẻ hay ho nhưng thực tế lại có ngày càng nhiều những vụ bắt bớ với những lý do không đâu vào đâu. Ủy viên hội đồng Bratton bị ám ảnh với các số liệu thống kê, và các sĩ quan của ông ấy cũng vậy. Những người có số liệu các vụ bắt bớ nhiều nhất được thăng chức, trong khi những người tụt lại sau bị gọi đến để giao cho việc khác. Kết quả là một hệ thống hạn ngạch trong đó các sĩ quan cảm thấy chịu áp lực khi phải lập nhiều giấy phạt và tích lũy được càng nhiều trát gọi hầu tòa càng tốt. Thậm chí họ bắt đầu dàn dựng các vụ vi phạm. Mọi người nói chuyện trên phố ư? Bắt giữ họ vì tội cản trở giao thông công cộng. Trẻ con nhảy nhót trên tàu điện ngầm ư? Chúng bị ghi sổ vì tội gây mất trật tự.

Các tội ác nghiêm trọng lại là một câu chuyện hoàn toàn khác, các phóng viên điều tra sau này đã phát hiện ra như vậy. Các sĩ quan bị ép phải giảm số lượng báo cáo các vụ nghiêm trọng hoặc bỏ qua hết, tránh làm cho các con số của sở trở nên tệ hại. Thậm chí có những trường hợp nạn nhân bị cưỡng hiếp bị đưa ra thẩm vấn liên tu bất tận nhằm cố bẫy họ lộ ra những mâu thuẫn nhỏ xíu. Sau đó, vụ việc sẽ không được đưa vào kho dữ liệu.[35]

Trên giấy tờ, tất cả trông thật tuyệt, số lượng tội phạm giảm mạnh, số vụ bắt giữ cao ngất ngưởng và ửy viên Hội đồng Bratton trở thành người hùng của New York. Trên thực tế, bọn tội phạm được tự do đi lại trong khi hàng nghìn người vô tội trở thành đối tượng tình nghi. Đến hôm nay, các sở cảnh sát trên cả nước vẫn bám lấy triết lý của Bratton – đấy là lý do khiến các nhà khoa học tiếp tục coi các số liệu thống kê của cảnh sát Hoa Kỳ là không đáng tin cậy.[36]

Còn nữa. Lý thuyết cửa sổ vỡ còn cho thấy dấu hiệu về sự phân biệt chủng tộc. Dữ liệu cho thấy chỉ 10% những người bị bắt vì những tội nhẹ là người da trắng.[37] Trong khi đó, có rất nhiều thiếu niên da đen bị chặn lại và lục soát hằng tháng – họ bị đối xử vậy hằng năm trời – cho dù họ chẳng bao giờ phạm tội gì.[38] Lý thuyết cửa sổ vỡ đầu độc mối quan hệ giữa lực lượng thực thi pháp luật và các nhóm thiểu số, chất lên những người nghèo túng khoản tiền phạt họ không thể nộp và cũng có những hậu quả gây chết người, như trong trường hợp của Eric Garner, chết năm 2014 trong khi bị bắt vì bị cho là đang bán thuốc lá điếu rời. Garner phản đối: “Mỗi lần cảnh sát thấy tôi, họ đều muốn gây sự với tôi. Tôi mệt mỏi với việc này rồi… xin hãy để tôi yên. Tôi muốn nói với họ một lần nữa, làm ơn để tôi yên.”

Nhưng cảnh sát đã quật anh ta xuống đất và đè mạnh lên cổ. Những lời cuối cùng của Garner là: “Tôi không thở được.”

Chỉ đến bây giờ, nhiều năm sau khi đọc cuốn sách của Malcolm Gladwell, tôi môi nhận ra lý thuyết cửa sổ vỡ được phát triển dựa trên một quan điểm hoàn toàn phi thực tế về bản chất con người. Nó là một biến thể khác của lý thuyết vỏ ngoài. Nó làm cho cảnh sát ở New York đối xử với những người bình thường như những tội phạm tiềm năng: sai lầm nhỏ nhất có thể bị cho là bước đầu tiên trên con đường sa ngã hơn nữa. Nói cho cùng, cái vỏ bọc văn minh của chúng ta mỏng manh một cách kì lạ.

Trong khi đó, các sĩ quan vẫn được quản lý như thể họ không có sự phán xét của chính mình. Không có động cơ nội tại. Họ được cấp trên đào tạo, huấn luyện nhằm làm cho sở cảnh sát của mình trông ổn nhất có thể trên giấy tờ.

Phải chăng điều này có nghĩa là chúng ta nên quên đi chuyện sửa sang lại những ô cửa sổ đã vỡ trong thực tế? Dĩ nhiên là không phải. Sửa sang cửa sổ và chỉnh trang nhà cửa, lắng nghe những lo lắng của người dân địa phương là một ý tưởng tuyệt vời. Cũng giống như một nhà tù có trật tự sẽ lan tỏa sự tin tưởng, một khu phố ngăn nắp sẽ mang lại cảm giác an toàn hơn nhiều.[39] Và sau khi bạn sửa sang lại cửa sổ, bạn có thể mở chúng ra.

Nhưng lập luận của Wilson và Kelling cơ bản không phải là về những ô cửa sổ vỡ hay những đường phố đèn đóm tù mù. “Cửa sổ vỡ” là một hình ảnh ẩn dụ gây hiểu nhầm. Thực tế, chính những người dân bình thường đang bị ghi sổ điều tra, kiềm thúc và quản lý.

Giáo sư Wilson vẫn kiên định cho đến cùng, cho đến tận khi qua đời vào năm 2012, ông vẫn khăng khăng cho rằng cách tiếp cận kiểu Bratton đã tạo ra thành công rất lớn. Trong khi đó, đồng tác giả của lý thuyết ấy lại bị những mối nghi ngờ ngày càng lớn giằng xé. George Kelling cảm thấy lý thuyết cửa sổ vỡ bị áp dụng sai cách, và cái sai này ngày càng nghiêm trọng. Ông luôn lo ngại về chính những ô cửa sổ vỡ chứ không phải về việc bắt giữ và tống giam càng nhiều người da màu càng tốt.

“Có rất nhiều điều đã được làm nhân danh lý thuyết cửa sổ vỡ mà tôi thấy hối tiếc”, Kelling thừa nhận vào năm 2016. Khi ông nghe thấy những cảnh sát trưởng trên cả nước viện dẫn lý thuyết của mình, thì hai từ vụt lên trong tâm trí ông là: “Mẹ kiếp.”[40]

Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta đảo ngược lý thuyết cửa sổ vỡ? Nếu chúng ta có thể thiết kế lại các nhà tù, liệu chúng ta có thể làm điều tương tự với các sở cảnh sát không?

Tôi nghĩ là có thể. Na Uy, nơi hình thành quan niệm lâu đời về cảnh sát cộng đồng, cho rằng hầu hết người dân đều là những công dân tử tế, chấp hành luật pháp. Sĩ quan cảnh sát làm việc để chiếm được niềm tin của người dân, thấm nhuần ý tưởng rằng người dân biết bạn, họ chắc chắn sẽ giúp đỡ bạn. Láng giềng sẽ cung cấp thêm manh mối, và các bậc phụ huynh sẽ nhanh chóng gọi cho cảnh sát nếu con của họ đang đi vào con đường lầm lạc.

Trở lại những năm 1970, Elinor Ostrom – nhà nghiên cứu và nhà kinh tế học (xem Chương 15) – đã tiến hành một nghiên cứu lớn nhất từng làm trong các sở cảnh sát ở Hoa Kỳ. Bà và nhóm của bà phát hiện ra rằng lực lượng nhỏ hơn luôn hoạt động hiệu quả hơn ở hiện trường, họ nhanh nhẹn hơn, giải quyết được nhiều vấn đề hơn, có các mối quan hệ tốt hơn với người dân ở khu phố và chi phí để trả cho họ cũng ít hơn. Nói chung là tốt hơn, nhân văn hơn, đỡ tốn kém hơn.[41]

Ở châu Âu, triết lý cảnh sát cộng đồng đã tồn tại được một thời gian khá dài. Các sĩ quan đều quen với việc điều phối các dịch vụ xã hội, thậm chí họ còn coi những việc họ làm là công tác xã hội.[42] Họ cũng được đào tạo rất kĩ càng. Ở Hoa Kỳ, chương trình đào tạo cảnh sát trung bình kéo dài khoảng 19 tuần, đây là điều không thể tưởng tượng nổi ở hầu hết các nước châu Âu. Ở những quốc gia như Na Uy và Đức, đào tạo những người thực thi pháp luật cần mất hơn hai năm.[43]

Tuy nhiên, hiện nay một số thành phố tại Mỹ đang thay đổi cách tiếp cận của họ. Người dân Newark, bang New Jersey đã bầu một tân thị trưởng da đen vào năm 2014, và ông ấy có tầm nhìn rõ ràng về cảnh sát hiện đại trong thành phố cần phải như thế nào. Điều đó đòi hỏi các sĩ quan, ông nói, “những người biết những người già cả trong khu vực, những người biết các thiết chế của cộng đồng, những người nhìn nhận người dân như những con người […] đó mới chỉ là bắt đầu. Khi nào anh không nhìn người dân mà anh đang giữ trật tự như con người, thì khi đó anh bắt đầu đối xử vô nhân đạo với họ.”[44]

Liệu chúng ta có thể chấp nhận nguyên tắc chìa má kia ra không? Câu hỏi này nghe có vẻ ngớ ngẩn, tuy nhiên tôi không thể không băn khoăn: Liệu một chiến lược sử dụng lối hành xử không theo thông lệ, có thể mang lại hiệu quả trong cuộc chiến chống khủng bố hay sao?

Trong quá trình tìm kiếm câu trả lời, tôi phát hiện ra rằng lối hành xử không theo thông lệ đã từng được đưa ra thử nghiệm – thực tế là ở chính đất nước tôi. Thậm chí, trong giới chuyên gia, nó còn được gọi là Cách tiếp cận Hà Lan. Nó bắt đầu từ những năm 1970, khi Hà Lan đang đối mặt với một trào lưu khủng bố tả khuynh dữ dội. Tuy nhiên, chính phủ không ban hành những luật an ninh mới còn truyền thông đã làm theo yêu cầu của cơ quan nhà nước và hạn chế đưa tin. Trong khi Tây Đức, Ý và Hoa Kỳ dùng những biện pháp mạnh để đối phó – trực thăng, chặn đường sá, binh sĩ – thì Hà Lan từ chối đáp ứng yêu cầu của những kẻ khủng bố.

Thực tế, cảnh sát Hà Lan từ chối sử dụng cả từ “khủng bố”. Họ chọn dùng từ “phong trào hoạt động chính trị bằng bạo lực” hoặc đơn giản là từ “giới tội phạm”. Còn tình báo Hà Lan bận rộn đằng sau cánh gà, thâm nhập vào các nhóm cực đoan. Họ đặc biệt theo dõi những kẻ khủng bố – xin lỗi, những kẻ tội phạm – mà không hề biến toàn bộ người dân thành đối tượng tình nghi.[45]

Việc này dẫn tới một vài tình huống hài hước, như một chi bộ Thanh niên Đỏ có đến tận ba trong số bốn thành viên là mật vụ. Tiến hành các cuộc tấn công hóa ra rất khó khăn khi mà luôn có ai đó đi tắm hoặc cầm bản đồ ngược.

Một sử gia Hà Lan kết luận: “Chính sách chống khủng bố hậu trường kịp thời, thận trọng khiến tình trạng bạo lực đi tới bế tắc.”[46] Khi một số thành viên Thanh niên Đỏ tới thăm một trại huấn luyện khủng bố ở Yemen, những kẻ khủng bố Hà Lan đã rất sốc trước sự hung hãn của các chiến binh Đức và Palestine. Quả là trải nghiệm cực kì đáng sợ. Một thành viên Hà Lan sau này kể lại: “Họ không có niềm vui.”[47]

Một ví dụ gần đây hơn về cách tiếp cận chìa má kia ra là từ thành phố Aarhus của Đan Mạch. Cuối năm 2013, cảnh sát quyết định không bắt giữ hay tống giam những người Hồi giáo trẻ muốn tới và chiến đấu ở Syria, thay vào đó các cảnh sát mời họ một tách trà. Và một cố vấn. Gia đình và bạn bè được huy động để bảo đảm rằng những thiếu niên này biết có những người luôn yêu thương họ. Đồng thời, cảnh sát cũng củng cố mối quan hệ với thánh đường địa phương.

Nhiều nhà phê bình gọi cách tiếp cận của giới chức tại Aarhus là yếu đuối và khờ khạo. Nhưng thực tế, cảnh sát đã lựa chọn một chiến lược táo bạo và khó khăn. Một thanh tra đã nói: “Việc dễ dàng là thông qua những luật mới cứng rắn. Việc khó hơn là đi trọn cả một hành trình thật sự với các cá nhân: một nhóm chuyên gia, tư vấn, chăm sóc sức khỏe, hỗ trợ trở lại trường học, rồi nơi làm việc, có khi cả chỗ ở […] Chúng tôi không làm việc này vì niềm tin chính trị; chúng tôi làm vì chúng tôi nghĩ nó mang lại hiệu quả.”[48]

Và nó thật sự có tác dụng. Trong khi tại các thành phố khác ở châu Âu, những đợt di cư vẫn tiếp diễn với số lượng không giảm thì tại Aarhus số chiến binh tình nguyện tham gia thánh chiến ở Syria giảm từ 30 người vào năm 2013 xuống chỉ còn 1 người vào năm 2014 và 2 người vào năm 2015. “Aarhus là nơi đầu tiên, theo hiểu biết của tôi, giải quyết [chủ nghĩa cực đoan] dựa trên những nguyên tắc và bằng chứng tâm lý học xã hội hợp lý”, một nhà tâm lý học Đại học Maiyland nhận xét.[49]

Và rồi tại Na Uy. Người dân ở đó tìm cách giữ được cái đầu lạnh, thậm chí sau vụ tấn công hãi hùng nhất trong lịch sử đất nước này, vụ tắm máu✻ diễn ra vào năm 2011 do kẻ cực đoan Anders Breivik thực hiện, thủ tướng nước này tuyên bố: “Lời đáp trả mà chúng ta cần đưa ra là dân chủ hơn nữa, cởi mở hơn nữa và nhân văn hơn nữa.”[50]

Nếu bạn phản ứng theo kiểu trên, bạn thường bị cáo buộc là đang chọn cách dễ dàng. Tuy nhiên dân chủ hơn, cởi mở hơn và nhân văn hơn chính xác là những điều không dễ dàng chút nào. Ngược lại, nói chuyện cứng rắn, trả đũa, đóng cửa biên giới, thả bom, chia thế giới thành người tốt và kẻ xấu – những điều đó mới dễ làm. Đó mới là nhìn theo cách khác.

05

Có những thời điểm không thể nào ngoảnh mặt làm ngơ và chân lý thì không chấp nhận bị gạt sang một bên. Tháng 10 năm 2015, một đoàn đại biểu các quan chức hàng đầu tại trại giam của North Dakota đã trải qua một thời điểm như vậy.

Sự việc diễn ra trong một chuyến tham quan, làm việc ở Na Uy. Với những người không biết, North Dakota là một bang khá thưa dân, bảo thủ. Tỷ lệ người bị tống giam cao gấp tám lần so với Na Uy.[51] Các nhà tù ở bang này như thế nào ư? Đó là những nơi giam giữ kiểu cũ; gồm những hành lang dài, chấn song và quản ngục lạnh lùng. Các quan chức Mỹ không kì vọng học được nhiều từ chuyến đi. Sau này, một người kể lại: “Tôi rất vênh vang. Tôi sẽ thật sự thấy gì ngoài những thứ tôi gọi là nhà tù IKEA chứ?”[52]

Nhưng rồi họ thấy các nhà tù. Halden. Bastøy. Sự yên tĩnh. Sự tin tưởng. Các tù nhân và cai ngục giao tiếp với nhau.

Buổi tối, giám đốc Sở Cải huấn North Dakota ngồi ở quầy bar khách sạn Radisson ở Oslo. Leann Bertsch – được các đồng nghiệp của bà ấy biết đến là người rất cứng rắn và không thể lay chuyển – bắt đầu khóc. “Làm sao chúng ta lại nghĩ việc tống những con người vào trong những không gian như chuồng gà là điều ổn thỏa nhỉ?”[53]

Giữa năm 1972 và 2007, số người bị tống giam ở Hoa Kỳ, được điều chỉnh theo sự gia tăng dân số đã tăng thêm hơn 500%.[54] Và những tù nhân ấy bị nhốt trung bình 63 tháng – lâu hơn gấp 7 lần ở Na Uy. Ngày nay, gần một phần tư số tù nhân trên thế giới ngồi sau những chấn song tại Mỹ.

Việc bắt giam tràn lan là kết quả của chính sách có chủ ý. Giáo sư James Wilson và những người ủng hộ ông đều tin rằng càng bắt nhốt được nhiều người thì tỉ lệ tội phạm càng giảm. Nhưng sự thật là nhiều nhà tù Mỹ chuyển thành những trại cải huấn, trường nội trú cho những tên tội phạm – những trường nội trú tốn kém đó lại sản sinh ra những kẻ lưu manh hoàn hảo hơn.[55] Vài năm trước, người ta phát hiện ra một cơ sở nội trú lớn ở Miami nhồi nhét tới 24 tù nhân trong một buồng giam chật hẹp, họ chỉ được phép ra ngoài hai lần mỗi tuần và mỗi lần là một tiếng. Kết quả là những “trận đánh nhau tàn bạo theo kiểu võ sĩ giác đấu” giữa các tù nhân diễn ra một cách thường xuyên.[56]

Các tù nhân được thả ra từ thiết chế này là mối đe dọa thực sự cho xã hội. Một cựu tù nhân ở California nói: “Đa số chúng tôi trở thành đúng như những điều mà người ta nói về chúng tôi vậy: bạo lực, bất cần lý lẽ và không biết cách hành xử như những người có ý thức.”[57]

Sau khi Leanne Bertsch trở về từ Na Uy, bà nhận ra rằng các nhà tù North Dakota cần phải thay đổi. Bà và nhóm của bà vạch ra một sứ mệnh mới: “Vận hành nhà tù theo cách nhân văn.”[58]

Bước đầu tiên là gì ư? Xếp xó mớ lý thuyết cửa sổ vỡ. Nếu trước đây, trong luật của nhà giam quy định hơn 300 vi phạm – chẳng hạn, không mặc áo có thể khiến bạn bị biệt giam – thì giờ tất cả những quy định đó đều bị loại bỏ.

Tiếp theo, một giao thức mới được đặt ra cho cai ngục đó là mỗi cai ngục phải có ít nhất hai cuộc trò chuyện với các tù nhân trong một ngày. Đây là một bước chuyển lớn và vấp phải sự phản đối mạnh mẽ. Một cai ngục nói: “Tôi sợ chết khiếp. Tôi cũng sợ thay cho cả các nhân viên. Tôi sợ cho trại. Tôi sợ khi chúng tôi nhắc đến một tù nhân cụ thể nào đó, nhưng hóa ra tôi đã nhầm.”[59]

Nhiều tháng trôi qua, các cai ngục bắt đầu cảm thấy thoải mái hơn trong công việc của họ. Họ bắt đầu tổ chức một nhóm hợp xướng và mở các lớp vẽ. Nhân viên và tù nhân bắt đầu cùng chơi bóng rổ. Và số lượng các sự cố hay những vụ bạo lực giảm đáng kể. Một cai ngục cho biết nếu trước kia, các sự cố diễn ra “ít nhất ba hoặc bốn lần một tuần. Ai đó tìm cách tự sát hoặc có người cố làm ngập buồng giam hay gây mất trật tự. Thì gần như chẳng có sự cố nào tương tự như vậy xảy ra trong năm đó.”[60]

Kể từ đó, các quan chức hàng đầu từ sáu bang khác của Hoa Kỳ và nhiều hơn nữa đã tổ chức những chuyến thăm các nhà tù ở Na Uy.

Giám đốc Bertsch ở North Dakota tiếp tục nhấn mạnh rằng cải cách là vấn đề cần thiết. Nhốt toàn bộ dân cư là một ý tưởng thật tồi tệ. Và mô hình của Na Uy đã tạo ra những tác động tích cực và hiệu quả thấy rõ. Đỡ tốn kém hơn. Thực tiễn hơn.

Giám đốc Bertsch tuyên bố: “Tôi không phải một người theo chủ nghĩa tự do. Tôi chỉ thực tế mà thôi.”[61]

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.