Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 2
PHƯƠNG THUỐC TỐT NHẤT CHO SỰ THÙ GHÉT, BẤT CÔNG VÀ ĐỊNH KIẾN
01
Tôi không thể ngưng suy nghĩ về ý tưởng xây dựng mô hình giống như những nhà tù ở Na Uy. Nếu chúng ta có thể chìa má kia ra với giới tội phạm và những kẻ khủng bố tương lai, thì có lẽ chúng ta có thể áp dụng chính mô hình đó ở quy mô lớn hơn. Có lẽ chúng ta sẽ tập hợp được những kẻ thù không đội trời chung và thậm chí dập tắt chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và hận thù.
Tôi chợt nhớ đến một câu chuyện tôi đọc được ở đâu đó. Câu chuyện về hai anh em coi nhau là kẻ thù trong suốt hàng thập kỉ, nhưng cuối cùng họ lại cùng nhau tìm cách ngăn chặn một cuộc nội chiến. Câu chuyện rất thú vị phải không? Sau đó, tôi đã tìm được tên của hai anh em trong một đống giấy tờ cũ, và tôi tò mò muốn biết mọi thứ về họ.
02
Câu chuyện của hai anh em gắn chặt với một trong những nhân vật nổi tiếng nhất của thế kỉ 20. Ngày 11 tháng 2 năm 1990, hàng triệu người theo dõi qua màn hình để chứng kiến giây phút Nelson Mandela trở thành người tự do sau 27 năm bị cầm tù. Cuối cùng, ánh sáng hi vọng cho hòa bình và hòa giải giữa người Nam Phi da đen và da trắng đã được thắp lên. Ngay sau khi được phóng thích, Mandela đã hét lên: “Hãy cầm lấy súng của các bạn, dao kiếm của các bạn và ném hết xuống biển!”[1]
Bốn năm sau, ngày 26 tháng 4 năm 1994, cuộc bầu cử đầu tiên mà tất cả người dân Nam Phi được tham gia bỏ phiếu đã diễn ra. Những hình ảnh đầy mê hoặc đã xuất hiện: những hàng người bất tận ở các điểm bỏ phiếu, tổng số là 23 triệu cử tri. Những người da đen, bất kể giới tính, đủ già để nhớ về lúc bắt đầu chế độ A-pác-thai✻, đã lần đầu tiên trong đời được cầm lá phiếu của chính mình. Những chiếc trực thăng từng mang tới chết chóc và phá hủy, giờ thả xuống bút chì và những lá phiếu.
Chế độ phân biệt chủng tộc sụp đổ và một nền dân chủ mới được khai sinh. Hai tuần sau, ngày 10 tháng 5, Mandela tuyên thệ với tư cách vị tổng thống da đen đầu tiên của đất nước. Trong lễ nhậm chức của ông, những chiếc máy bay chiến đấu vụt qua bầu trời để lại những vệt khói màu biểu tượng của Quốc gia cầu vồng✻. Kết hợp màu xanh lục, đỏ, xanh lam, đen, trắng và vàng, lá quốc kì mới của Nam Phi là lá cờ sặc sỡ nhất thế giới.
Tuy nhiên, có một điều mà ít ai biết được: suýt chút nữa thì cuộc bầu cử đã không bao giờ diễn ra.
Nam Phi mà chúng ta biết ngày nay đã gần như không thể vượt qua được biến cố đó. Trong suốt bốn năm từ lúc Mandela được phóng thích đến khi ông được bầu làm tổng thống, quốc gia này đã đứng trên bờ vực nội chiến. Và điều bị lãng quên hoàn toàn là vai trò quan trọng của hai anh em – cặp song sinh giống hệt nhau – họ đã hành động để ngăn cuộc nội chiến xảy ra.
Constand và Abraham Viljoen sinh ngày 28 tháng 10 năm 1933. Khi còn nhỏ, họ không rời nhau nửa bước.[2] Hai anh em học cùng một trường và thậm chí cùng lớp với nhau. Họ học cùng những giáo viên và nghe cùng những lời tuyên truyền về sự ưu việt của chủng tộc da trắng.
Quan trọng hơn, họ được nhào nặn bởi cùng một lịch sử. Constand và Abraham là người Nam Phi gốc Âu. Họ là hậu duệ của gia tộc Huguenot từ Pháp đến bờ biển này năm 1671 và sống cùng với các di dân từ Hà Lan. Năm 1899, nhóm người Nam Phi gốc Âu này nổi dậy chống lại ách cai trị của đế quốc Anh ở Nam Phi, sau đó bị đàn áp một cách tàn bạo.
Ảnh: Chân dung của Constand (trái) và Abraham thời niên thiếu. Nguồn: Andries Viljoen
Cha của các cậu bé phải sống trong các trại tập trung của Anh khi còn nhỏ. Ông bất lực chứng kiến anh trai và hai chị mình chết trong vòng tay mẹ. Vì vậy, gia đình Constand và Abraham thuộc về những người dân bị áp bức, nhưng đôi khi người bị áp bức lại trở thành kẻ đi áp bức, và chính lý lẽ này là nguyên nhân khiến cặp song sinh trở thành kẻ thù của nhau.
Năm 1951, sau sinh nhật lần thứ 18 của cặp song sinh không lâu, người mẹ tuyên bố gia đình không còn đủ tiền để cho cả hai anh em cùng học đại học ở Pretoria. Constand nói với em trai mình là Abraham rằng: Em đi trước đi. Bởi trong hai anh em thì Abraham, hay còn gọi là Braam, thông minh hơn.
Trong khi em trai mình đăng kí học thần học thì Constand nhập ngũ. Cuộc sống quân đội hợp với ông hơn và giống như gia đình thứ hai của ông vậy. Trong khi Braam nghiền ngẫm sách vở thì Constand nhảy ra khỏi trực thăng. Trong khi Braam nghiên cứu ở Hà Lan và Mỹ thì Constand chiến đấu ở Zambia và Angola. Và trong khi Braam làm bạn với các sinh viên khắp thế giới thì Constand phát triển mối quan hệ ngày càng thân thiết với các đồng đội của mình.
Năm này qua năm khác, hai anh em càng cách xa nhau hơn. Braam nhớ và kể lại: “Tôi tiếp xúc với vấn đề đối xử công bằng và tin rằng mọi người đều bình đẳng như nhau.”[3] Braam bắt đầu nhận ra rằng chế độ a-pác-thai mà ông đã lớn lên cũng là một hệ thống tội ác và nó đi ngược lại với mọi điều Kinh Thánh dạy.
Khi ông trở lại Nam Phi sau nhiều năm học tập ở nước ngoài, nhiều người coi Braam là kẻ đào ngũ. Một kẻ dị giáo. Kẻ phản bội. Ông nhớ lại rằng: “Họ nói tôi bị ảnh hưởng và đáng ra tôi không bao giờ được phép ra nước ngoài.”[4] Nhưng Braam không ngã lòng và tiếp tục kêu gọi đối xử công bằng với những đồng bào da đen của mình. Những năm 1980, ông ra tranh cử, đại diện cho một đảng đấu tranh để chấm dứt chế độ a-pác-thai. Ông ngày càng thấy rõ rằng đây là một chính sách diệt chủng.
Trong khi đó, Constand trở thành một trong những chiến binh được yêu quý nhất Nam Phi. Quân phục của ông nhanh chóng phủ kín huân huy chương, ở đỉnh cao sự nghiệp của mình, ông trở thành Chỉ huy Lực lượng Phòng vệ Nam Phi, bao gồm lục quân, hải quân và không quân. Và cho tới năm 1985 ông vẫn là quán quân vĩ đại trong chế độ a-pác-thai.
Có lúc, anh em Viljoen không nói chuyện với nhau. Thậm chí, không có ai nhớ rằng Tướng Viljoen – người yêu nước, người hùng chiến tranh và con cưng của rất nhiều người Phi da trắng – lại có một người em sinh đôi.
Nhưng sự gắn bó của họ lại là nhân tố quyết định tương lai của Nam Phi.
03
Làm thế nào bạn hòa giải được những kẻ thù không đội trời chung?
Với câu hỏi đó trong đầu, một nhà tâm lý học người Mỹ lên đường tới Nam Phi vào mùa xuân năm 1956, khi đó chế độ a-pác-thai đang được thực thi ở quốc gia này. Các cuộc hôn nhân giữa hai chủng tộc bị cấm và cuối năm đó chính quyền phê chuẩn một đạo luật ưu tiên những công việc tốt hơn dành cho người da trắng.
Tên của nhà tâm lý học đó là Gordon Allport, và cả đời mình, ông trăn trở hai câu hỏi cơ bản: 1) Định kiến đến từ đâu?, và 2) Làm cách nào bạn ngăn được nó? Sau nhiều năm nghiên cứu, ông tìm ra một phương pháp chữa trị kì diệu. Hoặc ít nhất ông nghĩ rằng mình đã tìm ra được.
Đó là gì?
Tiếp xúc. Không hơn không kém. Vị học giả người Mỹ nghi ngờ rằng định kiến, thù hận và phân biệt chủng tộc bắt nguồn từ sự thiếu tiếp xúc. Chúng ta chỉ đang nói chung chung về những người lạ vì chúng ta không biết họ. Vì thế giải pháp dường như rất rõ ràng: tiếp xúc nhiều hơn.
Hầu hết các nhà khoa học không thấy ấn tượng và xem lý thuyết của Allport là đơn giản và ngây thơ. Với việc Thế chiến thứ Hai vẫn còn mới mẻ trong tâm trí mọi người, có sự đồng thuận chung rằng tiếp xúc nhiều hơn dẫn tới va chạm nhiều hơn. Cũng trong những năm ấy, các nhà tâm lý học ở Nam Phi vẫn đang nghiên cứu “khoa học” về những khác biệt trong sinh học chủng tộc để biện minh cho “sự phát triển riêng biệt” (hàm ý chỉ chế độ a-pác-thai).[5]
Với nhiều người Nam Phi da trắng, lý thuyết của Allport gây ra một cú sốc nhưng theo hướng tích cực. Nhà khoa học này cho rằng chế độ a-pác-thai không phải là giải pháp cho những vấn đề của họ, mà ngược lại, nó chính là nguyên nhân. Nếu người da đen và da trắng có thể gặp gỡ nhau – ở trường, ở nơi làm việc, trong nhà thờ, hay bất kì đâu – thì họ có thể hiểu nhau hơn. Bởi suy cho cùng, chúng ta chỉ có thể yêu quý những gì chúng ta biết và hiểu.[6]
Tóm gọn lại, đây là thuyết tiếp xúc, nghe có vẻ đơn giản đến không tin nổi, nhưng Allport biết một số bằng chứng thuyết phục để làm hậu thuẫn. Chẳng hạn, ông nhắc đến những vụ bạo loạn sắc tộc nổ ra tại Detroit vào năm 1943. Trong vụ này, các nhà xã hội học nhận thấy có gì đó rất lạ đã xảy ra: “Những người là hàng xóm không nổi loạn chống lại nhau. Những sinh viên ở Đại học Wayne – da trắng và da đen – vẫn lên lớp bình thường trong suốt ngày Thứ Hai Đẫm Máu. Và không hề có sự hỗn loạn giữa các công nhân da trắng và da đen trong các nhà máy phục vụ chiến tranh…”[7]
Ngược lại, những hàng xóm còn bao bọc nhau. Một số gia đình da trắng cho những hàng xóm da đen của họ nương náu khi những kẻ nổi loạn tìm đến. Và ngược lại.
Thậm chí, đáng chú ý hơn nữa là dữ liệu mà giới quân sự Hoa Kỳ thu thập được trong Thế chiến thứ Hai có nhắc đến rằng, theo quy định chính thức thì các binh sĩ da đen và da trắng không chiến đấu cùng nhau, nhưng trong khoảng thời gian cao trào của trận chiến, thỉnh thoảng họ vẫn chiến đấu bên nhau. Cơ quan nghiên cứu của quân đội phát hiện ra rằng trong những đại đội có cả các trung đội da đen và da trắng, thì số quân nhân da trắng không thích người da đen rất thấp. Chính xác thì, thấp hơn đến chín lần.[8]
Gordon Allport viết khá nhiều bài về nghiên cứu những tác dụng tích cực của tiếp xúc. Nó áp dụng với các binh sĩ và sĩ quan cảnh sát, những người hàng xóm và sinh viên. Chẳng hạn, nếu trẻ da đen và da trắng đi học cùng trường, chúng không còn định kiến về màu da hay sắc tộc. Điều này có nghĩa là những gì Braam Viljoen trải qua trong những nghiên cứu của mình không phải là điều hiếm hoi. Đó là quy tắc.
Có lẽ bằng chứng mạnh mẽ nhất cho thuyết tiếp xúc của Allport đến từ biển. Khi những người Mỹ gốc Phi lần đầu tiên được tiếp nhận vào nghiệp đoàn thủy thủ lớn nhất vào năm 1938, ban đầu họ gặp phải sự phản đối gay gắt. Nhưng khi các thủy thủ da đen và da trắng thực tế bắt đầu làm việc cùng nhau, thì những vụ phản đối liền chấm dứt.[9]
Gordon Allport là một người hết sức thận trọng; ông biết thuyết tiếp xúc của mình phải rất lâu nữa mới được củng cố vững chắc. Rất có thể các thủy thủ đăng kí tham gia vào các thủy thủ đoàn hỗn hợp vốn không phải những người phân biệt chủng tộc.
Khi Allport đi khắp Nam Phi năm 1956 – hai năm sau khi xuất bản kiệt tác của mình về giả thuyết tiếp xúc – những ngờ vực ban đầu của Allport lại nổi lên.[10]Ở đất nước nơi người da đen và da trắng vẫn sống bên nhau hàng thế kỉ, chủ nghĩa phân biệt chủng tộc không hề giảm bớt. Ngược lại, sự phân biệt dường như còn mạnh mẽ hơn. Trong số những người Phi da trắng mà Allport gặp, dường như chẳng ai mác những chứng rối loạn tâm thần, nhưng tất cả vẫn tiếp tục kì thị và phân biệt đối xử người da đen. Vậy lý thuyết của ông có thật sự vững chắc?
Nhìn lại những năm 1960 trong chuyến thăm của ông tới Nam Phi, Allport cảm thấy buộc phải thừa nhận rằng ông hoàn toàn bị mù trước “những sức mạnh của lịch sử”.[11]
04
Vào ngày 7 tháng 5 năm 1993, khoảng 15.000 người Nam Phi gốc Âu chen chúc bên trong sân bóng bầu dục ở Potchefstroom, cách Johannesburg khoảng 75 dặm về phía Nam. Bên trên họ là hàng trăm lá cờ đỏ và đen đang bay phấp phới, trên cờ có in hình giống như những chữ Vạn (tiếng Phạn: swastika). Những người đó đều mang một đặc điểm chung là có bộ râu dài, mặc những chiếc áo màu nâu, được vũ trang tới tận răng bằng súng săn và súng ngắn.[12]
Trong số những diễn giả của buổi diễn thuyết có cả Eugène Terre’Blanche, thủ lĩnh Phong trào Phản kháng của người Phi da trắng. Terre’Blanche từ lâu đã mê mẩn khả năng hùng biện của Adolf Hitler và đám tay sai của ông ta giống hệt lũ Ku Klux Klan✻, có điều là hung hãn hơn mà thôi.
Ngày hôm đó, sân vận động ngập tràn sự sôi sục giận dữ và sợ hãi. Họ sợ những gì sẽ xảy ra nếu Mandela chiến thắng cuộc bầu cử mọi sắc tộc đầu tiên. Họ sợ quốc kì và bài quốc ca của họ biến mất. Sợ rằng nền văn hóa này sẽ bị xóa sổ hoàn toàn. Đoàn người biểu tình lên đến 15.000 người, ai nấy đều đầy giận dữ, những người còn được gọi là Bittereinders – tên của những người Nam Phi gốc Âu đã chiến đấu với người Anh 100 năm về trước. Họ xem mình như những chiến binh chiến đấu vì tự do, sẵn sàng sử dụng bất kì phương tiện nào mà họ có.
Chỉ có điều, họ thiếu gì đó; hay đúng hơn là, thiếu ai đó. Những gì họ cần lúc này là một thủ lĩnh. Một người khiến tất cả phải tôn trọng. Người có thành tích mẫu mực. Người mà những người Nam Phi gốc Âu có thể coi là đối trọng với Mandela và sẽ dẫn dắt họ đến trận chiến quan trọng cuối cùng vì sự tự do.
Một ai đó giống như Constand Viljoen chẳng hạn.
Constand cũng có mặt tại Potchefstroom vào hôm đó. Tuy nhiên, ông đã về hưu từ nhiều năm trước, giờ ông đang sống cuộc sống lặng lẽ của một nông dân. Nhưng khi đám đông bắt đầu hô vang tên ông, vị cựu tướng quân không chút do dự mà bước lên sân khấu.
Constand hét vào micro: “Người Phi da trắng phải sẵn sàng bảo vệ mình. Một cuộc xung đột đẫm máu đòi hỏi hi sinh là không thể tránh khỏi, nhưng chúng ta sẽ vui vẻ hi sinh vì sự nghiệp của chúng ta là chính nghĩa! ”
Đám đông điên cuồng hò hét.
Những người Nam Phi gốc Âu gào lên: “Ngài chỉ huy, chúng tôi theo ngài!”[13]
Vậy là Constand trở thành thủ lĩnh của một liên minh mới mà họ tự nhận là Afrikaner Volksfront (AVF). Đây không phải là một chính đảng hay liên bang nào cả. Đó là một đội quân. Constand đang cổ vũ cho chiến tranh. Ông muốn ngặn chặn bầu cử đa sắc tộc bằng mọi giá.
“Chúng tôi phải xây dựng quân đội trên quy mô lớn”, sau này Constand nhớ lại.[14] Chỉ trong hai tháng ngắn ngủi, AVF tuyển mộ được 150.000 người Phi da trắng, bao gồm 100.000 quân nhân chuyên nghiệp. Cái tên “Constand Viljoen” có sức thuyết phục mạnh mẽ nhất.
Bên cạnh việc huy động quân, họ cũng vạch ra kế hoạch tấn công, điều này dẫn tới một loạt đề xuất điên rồ. Một người gợi ý có lẽ nên phục kích bộ máy lãnh đạo của ANC✻, chính đảng của Mandela. Người khác lại nói rằng họ nên hành hình 15.000 người da đen ở Tây Transvaal và vứt tất cả vào một hố chôn tập thể. Mỗi ngày qua đi, đám đông càng thêm cuồng loạn.
Cách đó 75 dặm ở Johannesburg, người em trai của Constand là Abraham cảm thấy vô cùng bất an. “Nhiều lúc, tôi cho rằng tất cả các thành tố kinh điển để dẫn đến một bi kịch đang báo điềm ở đây,” ông viết trong một thư báo gửi Mandela và ANC.[15] Nhưng Braam cũng nhận ra rằng ông cần hành động, ông biết mình là người duy nhất ở cả Nam Phi này có khả năng thay đổi tư duy của anh trai mình. Sau nhiều năm khó nói chuyện với nhau, giờ ông phải làm điều đó.
Một sử gia đã viết: “Nếu ông ấy thắng được Constand, một bước chuyển giao hòa bình từ chế độ a-pác-thai sang nền dân chủ sẽ là khả dĩ. Nếu không, chiến tranh là tất yếu.”[16]
Vào đầu tháng 7 năm 1993, thời điểm mà chỉ còn mười tháng nữa là tới bầu cử, Braam đã đến văn phòng AVF ở trung tâm Pretoria.
Ngay khi hai anh em yên vị trong một căn phòng, Braam đi thẳng vào vấn đề.
“Anh chọn lựa thế nào?”
“Với tình hình này,” Constand đáp, “chúng ta chỉ có duy nhất một lựa chọn, đó là chiến đấu.”[17]
Sau đó Braam đưa ra một đề xuất, một kế hoạch bí mật tuyệt đối mà ông và Nelson Mandela cùng nghĩ ra. Nếu Braam đề nghị Constand ngồi xuống cùng ban lãnh đạo ANC đối thoại trực tiếp về địa vị cho người của mình thì Constand sẽ nói gì? Cho đến lúc này, Constand đã thẳng thừng từ chối chín lần đề nghị đó. Nhưng lần này ông đã phản ứng khác.
Lần này chính em trai ông đề nghị.
Vậy là một sự kiện đặc biệt đã diễn ra, hai anh em song sinh giống hệt nhau cùng đến một biệt thự ở Johannesburg vào ngày 12 tháng 8 năm 1993. Họ kì vọng gia chủ sẽ chào đón, nhưng người đón họ với nụ cười rạng rỡ lại chính là Nelson Mandela.
Đó là một khoảnh khắc lịch sử: người anh hùng của đất nước Nam Phi mới nhìn thẳng vào mắt của người anh hùng nước Nam Phi cũ. Người kiến tạo hòa bình đối diện với người đang phát động chiến tranh. Nhiều năm sau sự kiện, Constand nhớ lại: “Mandela hỏi tôi có muốn uống trà không. Tôi nói có và ông rót cho tôi một tách, ông ấy hỏi tôi có muốn dùng sữa không. Tôi nói có và ông rót sữa cho tôi. Rồi ông hỏi tôi có muốn thêm đường vào trà không. Tôi nói có và ông thêm đường cho tôi. Tất cả những gì tôi làm là khuấy lên!”[18]
Khi họ trò chuyện, Constand nhận thấy rõ rằng Mandela đã rất nỗ lực tìm hiểu lịch sử và văn hóa của người Phi da trắng. Constand rất ấn tượng khi Mandela nêu ra những nét tương đồng giữa cuộc đấu tranh của gia đình Viljoen vì tự do trước người Anh 100 năm trước và cuộc đấu tranh của ông ấy chống lại chế độ a-pác-thai. Điểm quan trọng nhất mà sau này các sử gia nhận thấy, đó là Mandela nói với vị tướng quân kia bằng ngôn ngữ của người Phi da trắng: “Thưa tướng quân, nếu chúng ta để xảy ra nội chiến, sẽ không thể có bên thắng cuộc.”
Constand gật đầu: “Không thể có bên thắng cuộc.”[19]
Cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy đã mở ra bốn tháng bí mật hội đàm giữa Viljoen và Mandela. Thậm chí Tổng thống Frederik Willem de Klerk cũng không hề biết đến thông tin này, và ngày nay rất ít cuốn sách lịch sử Nam Phi đề cập đến nó. Nhưng đây là một thời khắc then chốt trong lịch sử Nam Phi. Cuối cùng, vị cựu tướng quân bị thuyết phục buông vũ khí và tham gia cuộc bầu cử với đảng của mình.
Mỗi lần Constand bắt tay Mandela, ông lại càng thêm ngưỡng mộ con người ông từng coi là một kẻ khủng bố. Và cảm xúc ấy xuất hiện ở cả hai phía. Mandela cũng ngày càng kính nể vị tướng, và khác với chính trị gia De Klerk, ông còn rất tin tưởng Constand.
Sau này Braam kể lại: “Mandela cầm lấy tay anh trai tôi và ông ấy không buông ra.”[20]
05
Lúc ấy Gordon Allport, nhà tâm lý học với giả thuyết tiếp xúc, đã mất từ lâu. Nhưng chàng sinh viên đi cùng ông tới Nam Phi vào năm 1956 là Thomas Pettigrew thì vẫn còn sống.
Nếu Allport chọn cách nghỉ hưu ở tuổi già thì Thomas Pettigrew lại là kẻ nổi loạn, một nhà hoạt động xã hội. Ông đóng vai trò quan trọng trong phong trào dân quyền Mỹ và FBI có một tập hồ sơ dày về những hoạt động của ông. Trong thời gian ở Nam Phi, Pettigrew tham dự một loạt cuộc họp bất hợp pháp của ANC, và cơ quan mật vụ Nam Phi đã để ý đến ông. Sáu tháng sau, khi ông chìa hộ chiếu tại hải quan, tấm hộ chiếu đó được đóng một con dấu in chữ: “CẤM ĐẾN NAM PHI.”[21]
Pettigrew không hề biết rằng có một ngày ông sẽ được trở lại quê hương của Mandela. Nửa thế kỉ sau, năm 2006, ông được mời tới một hội thảo tâm lý học quốc tế tại Nam Phi.
Pettigrew nói về chuyến đi của mình: “Những nơi tôi đi qua, tôi đều thấy thay đổi, nhưng cũng vẫn phải tiếp tục phát triển.”[22] Những bãi biển tuyệt đẹp của Durban giờ mở cửa cho tất cả. Ở nơi từng là một nhà tù khét tiếng, giờ sừng sững Tòa án Hiến pháp với tấm biển chào đón bằng 11 ngôn ngữ chính thức của Nam Phi.
Là một trong những nhà khoa học hàng đầu trong lĩnh vực của ông và là khách danh dự của sự kiện, Pettigrew trình bày một nghiên cứu đồ sộ, ủng hộ mạnh mẽ cho giả thuyết tiếp xúc của thầy mình là Allport. Pettigrew và nhóm của ông tập hợp và phân tích 515 nghiên cứu từ 38 quốc gia.[23] Kết luận của họ là gì? Việc tiếp xúc đã mang lại hiệu quả. Không chỉ vậy, một số phát hiện trong các ngành khoa học xã hội cũng chứa những bằng chứng ủng hộ giả thuyết đó.
Việc tiếp xúc đã đem đến niềm tin tưởng, đoàn kết và sự tử tế dành cho nhau. Nó giúp bạn thấy thế giới qua con mắt của người khác. Hơn nữa, nó thay đổi bạn theo hướng ngày càng nhân văn hơn, vì các thành viên trong một nhóm bạn bè đa dạng sẽ khoan dung hơn với người lạ. Và tiếp xúc có sức lây lan: khi bạn thấy một người hàng xóm đi cùng người khác, điều đó khiến bạn phải nhìn nhận lại những thiên kiến của chính mình.
Nhưng đồng thời, những nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng chỉ cần một trải nghiệm tiêu cực (cú va chạm hay một cái nhìn giận dữ) cũng tạo cho chúng ta ấn tượng sâu đậm hơn một câu bông đùa hay một hành động giúp đỡ. Đó là cách bộ não của chúng ta vận hành. Ban đầu, điều này khiến Pettigrew và các cộng sự bối rối. Vì nếu chúng ta dễ ghi nhớ những điều xấu thì làm thế nào những điều tốt đẹp có thể mang chúng ta lại gần nhau hơn? Cuối cùng, câu trả lời rất đơn giản. Bên cạnh mỗi biến cố không vui chúng ta gặp phải, luôn có rất nhiều niềm vui khác đến với chúng ta.[24]
Dường như cái xấu có thể mạnh hơn, nhưng nó vẫn bị điều tốt đẹp áp đảo.
Nếu có một người hiểu được sức mạnh của tiếp xúc thì đó chính là Nelson Mandela. Nhiều năm trước, ông đã chọn một con đường rất khác – con đường bạo lực. Từ năm 1960, Mandela là một trong những thành viên sáng lập lực lượng vũ trang của ANC.
Nhưng 27 năm sau song sắt đã thay đổi hoàn toàn một con người. Năm tháng trôi qua, Mandela bắt đầu nhận ra những điều mà các nhà khoa học sau này đã chứng minh được: hình thức đấu tranh bất bạo động hiệu quả hơn rất nhiều so với đấu tranh bạo động. Hãy xem công trình gần đây của Erica Chenoweth, một nhà xã hội học người Mỹ mới đầu tin rằng “Phương pháp Mandela” là khờ khạo. Bà nghĩ, trong thế giới thực, sức mạnh được thực thi thông qua nòng súng. Để chứng minh điều đó, bà đã tạo ra một cơ sở dữ liệu lớn về các phong trào đấu tranh có từ năm 1900.
“Khi các con số hiện lên, tôi bị sốc”, bà đã thú nhận vào năm 2014.[25] Hơn 50% những chiến dịch bất bạo động thành công, trái ngược với 26% những chiến dịch sử dụng vũ lực. Chenoweth cho rằng lý do cơ bản là có nhiều người tham gia vào các chiến dịch bất bạo động hơn. Trung bình nhiều hơn 11 lần.[26] Và không chỉ dừng lại ở những người có quá nhiều kích thích tố sinh dục nam testosterone, mà cả phụ nữ và trẻ em, người già và người tàn tật. Chỉ là các chế độ không được trang bị để đủ sức chịu được lực lượng quần chúng như thế. Đó là cách cái tốt lấn át cái xấu – bằng số lượng áp đảo.
Trong các chiến dịch bất bạo động, một thành tố quan trọng là tự kiểm soát bản thân. Khi còn trong tù, Mandela trở thành bậc thầy trong việc giữ cái đầu lạnh. Ông quyết định nghiên cứu kẻ thù của mình, đọc rất nhiều sách về văn hóa và lịch sử của người Nam Phi gốc Âu. Ông xem và chơi bóng bầu dục. Ông học ngôn ngữ của họ. “Nếu bạn nói chuyện với một người bằng thứ ngôn ngữ người đó hiểu, nó sẽ đi thẳng vào đầu anh ta. Nếu bạn nói với anh ta bằng ngôn ngữ của anh ta, nó sẽ đi thẳng vào trái tim anh ta.” Mandela giải thích.[27]
Mandela cố gắng làm cho các bạn tù của mình thấy cai ngục của họ cũng là con người, chỉ là họ bị hệ thống đầu độc. Cho đến nhiều năm về sau, đó cũng là cách Mandela nhìn Constand Viljoen: như một người trung thực, trung thành và can đảm đã dành cả đời chiến đấu cho một chế độ mà ông tin tưởng.
Sau khi được phóng thích, Mandela có thể tập hợp 90% người Nam Phi da đen cùng lý tưởng với ông. Sau đó ông nỗ lực hết sức để chiếm được trái tim của những người Phi da trắng. Thành công của ông là khi Mandela bước vào sân vận động Johannesburg trong màu áo của đội bóng bầu dục da trắng vào ngày 24 tháng 6 năm 1995, ông được chào đón bằng những tiếng hô “Nelson, Nelson!” của hàng nghìn người đàn ông và phụ nữ từng cho rằng ông là một kẻ khủng bố.
Chúng ta rất dễ cho rằng chiến thắng trong cách tiếp cận của Mandela đến từ thiên bẩm thu hút công chúng của ông, nhưng không phải vậy. Ông không diễn thuyết bằng niềm say mê giống như Martin Luther King hay tranh luận với nhiệt huyết như Winston Churchill. Trong cuộc họp báo đầu tiên của mình, ông đã bối rối trước những vật đầy lông đặt chen chúc trước mặt ông, cho tới khi có người thì thầm vào tai ông rằng đó là những cái micro.[28]
Sức mạnh của Mandela nằm ở chỗ khác. Thứ làm cho ông trở thành một trong những nhà lãnh đạo vĩ đại nhất lịch sử thế giới, như nhà báo John Carlin nhận định, là “ông đã chọn nhìn điều tốt đẹp nơi những con người mà 99 trong số 100 người sẽ đánh giá là ngoài khả năng cứu rỗi”.[29]
Walter Sisulu, một trong những người bạn thân nhất của Mandela, từng được đề nghị chỉ ra một vài khiếm khuyết của Mandela. Sisulu nói: “Khi ông ấy tin tưởng một người, ông ấy bộc lộ hết…”
Rồi ông ngập ngừng.
“Nhưng có lẽ đó không phải là một sai lầm…”[30]
06
Nhìn lại những thay đổi mang lại hi vọng nhất trong những thập kỉ gần đây, chúng ta thấy rằng lòng tin và sự tiếp xúc luôn luôn là những công cụ. Hãy xem quá trình giải phóng những người có xu hướng tình dục đồng giới bắt đầu từ những năm 1960. Khi ngày càng có nhiều người dũng cảm thừa nhận xu hướng tính dục của mình, bạn bè, đồng nghiệp và những ông bố bà mẹ hiểu rằng không phải tất cả mọi người đều có cùng thiên hướng tình dục. Và điều đó là bình thường.
Nhưng điều ngược lại cũng đúng. Sau khi Donald Trump được bầu làm tổng thống Hoa Kỳ vào năm 2016, chúng ta thấy rõ rằng mình vẫn sống trong những cái kén của bản thân quá nhiều. Thậm chí, hai nhà xã hội học cho thấy rằng “sự khác biệt về chủng tộc và sắc tộc của người da trắng ở cấp độ mã bưu chính✻ là một trong những máy quan trắc mạnh nhất cho sự ủng hộ Trump”.[31] Và người ta cũng thấy rằng người ở càng xa đường biên giới giữa Hoa Kỳ và Mexico, thì sự ủng hộ của họ dành cho việc xây bức tường khổng lồ giữa hai nước càng cao.[32] Nói cách khác, vấn đề không nằm ở chỗ có quá nhiều sự tiếp xúc giữa các cử tri của Trump với những người Hồi giáo và người tị nạn, mà là quá ít.
Mô hình tương tự cũng xuất hiện trong cuộc trưng cầu dân ý tại Anh năm 2016 về việc liệu đất nước này có nên rời khỏi EU hay không. Trong những cộng đồng có sự đa dạng văn hóa thấp hơn thì có nhiều cư dân bỏ phiếu ủng hộ Brexit hơn.[33] Và ngay tại đất nước Hà Lan của tôi, mật độ tập trung cao nhất của cử tri đảng dân túy đều ở những khu vực có mật độ cư dân da trắng cao nhất. Một nhóm các nhà xã hội học Hà Lan thấy rằng khi người da trắng tiếp xúc với người Hồi giáo nhiều hơn (chủ yếu ở nơi làm việc), thì họ cũng ít kì thị người Hồi giáo hơn.[34]
Không chỉ vậy, sự đa dạng cũng làm cho chúng ta thân thiện hơn. Năm 2018, một nhóm các nhà nghiên cứu quốc tế tại Đại học Singapore dựa trên năm nghiên cứu mới đã xác định rằng những người sống trong các cộng đồng đa dạng hơn thường đồng nhất với toàn thể nhân loại hơn. Kết quả là, họ cũng thể hiện cách hành xử tử tế và giúp đỡ người lạ nhiều hơn. Điều này đã được chứng minh sau vụ đánh bom tại giải Marathon Boston năm 2013, khi cư dân của các khu phố đa dạng hơn cung cấp nhiều sự hỗ trợ hơn.[35]
Nhưng chớ vội ăn mừng. Đơn thuần sống trong một khu phố hỗn hợp là chưa đủ. Trên thực tế, nếu bạn hiếm khi trò chuyện với hàng xóm, thì sự đa dạng lại có thể làm tăng định kiến.[36] Có những chỉ dấu cho thấy các cộng đồng có lượng lớn người nhập cư ồ ạt đổ về, thì cũng có tỉ lệ cử tri ủng hộ Brexit hay Trump lớn hơn.[37]
Do đó, các nhà nghiên cứu về giả thuyết tiếp xúc nhấn mạnh rằng con người cần thời gian để làm quen với nhau. Tiếp xúc nhiều sẽ mang lại hiệu quả, nhưng không phải ngay lập tức. Chẳng hạn, Hà Lan đã chứng kiến những cuộc phản đối dữ dội vào năm 2015 chống lại việc mở các trung tâm tiếp nhận người tị nạn Syria. Những người phản đối đầy giận dữ, la hét và chửi bới, thậm chí ném đá qua cửa sổ. Nhưng rồi một vài năm sau, chính những người từng la hét phản đối đó lại buồn khi những người tị nạn đó phải đi đến nơi ở khác. “Chúng tôi chẳng có vấn đề nào. Thực tế, tất cả đều tích cực. Nơi đây trở thành địa điểm để giao lưu, như một trung tâm cộng đồng. Tôi thích tới đó uống một tách cà phê”, một người chỉ vài năm trước còn đưa ra những lời đe dọa bạo lực đã nhận xét.[38]
Tương tác với người lạ là điều chúng ta phải học, bắt đầu từ thời niên thiếu. Tốt nhất là nếu mọi người trẻ đều có thể du lịch như Abraham Viljoen đã làm trong những ngày học đại học. Mark Twain nghĩ ra điều đó từ năm 1867, cho rằng “du lịch là lưỡi hái tử thần của định kiến, cố chấp và đầu óc hẹp hòi”.[39]
Điều này không có ý nói rằng chúng ta cần thay đổi con người mình. Hoàn toàn ngược lại. Trong số những phát hiện đáng lưu ý nhất rút ra từ những nghiên cứu về giả thuyết tiếp xúc là chúng ta chỉ có thể loại bỏ các định kiến nếu giữ được bản sắc của chính mình.[40] Mỗi người là một bản thể khác nhau, đó là điều hết sức bình thường và chẳng có gì sai. Chúng ta có thể xây những ngôi nhà chắc chắn cho bản sắc của mình với nền móng vững vàng.
Rồi sau đó chúng ta có thể mở rộng cửa.
Sau khi thăm Nam Phi năm 1956, Gordon Allport kết luận rằng mình thật khờ khạo. Ông cho rằng một số xã hội đã đi quá xa, và sức nặng của quá khứ có thể là một gánh nặng quá lớn. Khi ông qua đời vào năm 1967, ông không hề biết rằng một ngày nào đó mọi dự đoán trước kia của mình sẽ trở thành sự thật.
Vậy Allport đã khẳng định những gì trong một số bài giảng của ông ở Johannesburg? Đúng, con người là động vật bầy đàn. Đúng, chúng ta hình thành định kiến một cách nhanh chóng. Và đúng, chúng ta sống theo khuôn mẫu dường như đã ăn sâu bén rễ trong bản chất của chúng ta.
Nhưng Allport cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc lùi ra xa để nhìn lại. Ông nói: “Hiểu sai các bài học lâu dài của lịch sử đồng nghĩa với tuyệt vọng.”[41] Nam Phi sẽ mang theo dấu vết a-pác-thai của mình trong nhiều thế kỉ tới, nhưng điều đó không phủ nhận sự tiến bộ ngoạn mục của quốc gia này trong 50 năm qua.
Ngày nay Constand và Abraham Viljoen vẫn sống trong hai thế giới khác nhau – một của người lính, một của vị bộ trưởng; một của cựu binh, một của người kiến tạo hòa bình – nhưng những năm dài không gặp gỡ nhau đã kết thúc. Sự tiếp xúc đã được khôi phục.

