Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Chương 2

GIỐNG LOÀI HOMO LUDENS (DU HÍ NHÂN)

01

Những ngày sau cuộc trò chuyện của tôi với Jos de Blok, tâm trí tôi cứ quay trở lại cùng câu hỏi: Sẽ thế nào nếu cả xã hội sống dựa trên niềm tin?

Để có được một cú thay đổi ngoạn mục, tôi nghĩ rằng chúng ta phải bắt đầu lại từ đầu. Chúng ta phải bắt đầu với trẻ con. Nhưng khi tôi đi sâu vào tìm hiểu những tài liệu giáo dục, tôi nhanh chóng bị sốc với một số điều thật phũ phàng. Trong vài thập kỉ qua, động lực nội tại của trẻ em đã bị kiềm hãm một cách có hệ thống. Người lớn đang lấp đầy thời gian của trẻ em bằng bài tập về nhà, thể dục thể thao, âm nhạc, kịch, học thêm, thi thử – bản danh sách các hoạt động dường như dài vô tận. Điều đó có nghĩa là có ít thời gian cho một hoạt động khác hơn: chơi. Và ý tôi là chơi theo nghĩa rộng nhất – tự do đi bất kì đâu mà trí tò mò dẫn tới. Tìm kiếm và khám phá, thử nghiệm và sáng tạo. Không phải men theo bất kì đường kẻ nào mà cha mẹ hay giáo viên đặt ra, mà chỉ đơn giản là cảm thấy vui thích vì điều đó.

Mọi nơi mà bạn quan sát, sự tự do của trẻ em đang dần bị giới hạn.[1] Năm 1971, 80% trẻ em Anh 7-8 tuổi vẫn tự mình đi bộ đến trường. Ngày nay, con số này chỉ còn 10%. Một thăm dò gần đây được thực hiện với 12.000 phụ huynh ở 10 quốc gia hé lộ cho thấy rằng những người tù còn dành nhiều thời gian ở ngoài trời hơn hầu hết trẻ em.[2] Các nhà nghiên cứu của Đại học Michigan phát hiện ra thời gian trẻ em dành ở trường tăng thêm 18% từ năm 1981 đến năm 1997. Thời gian dành cho bài tập về nhà tăng lên 145%.[3]

Các nhà xã hội học cũng như tâm lý học đều tỏ ra quan ngại với những con số này. Một nghiên cứu của Mỹ cho thấy “điểm kiểm soát bên trong” đang giảm dần ở trẻ em, nghĩa là chúng ngày càng cảm thấy cuộc sống của mình đang bị người khác quyết định. Ở Hoa Kỳ, sự thay đổi này đã gây ra nhiều chấn động đến mức năm 2002 trẻ em trung bình cảm thấy ít “bị kiểm soát” hơn so với 80% trẻ em trong thập niên 60 của thế kỉ trước.[4]

Dù tại đất nước tôi, Hà Lan, con số này bớt gay gắt hơn nhưng xu hướng này cũng đang tăng lên. Năm 2018, các nhà nghiên cứu Hà Lan phát hiện rằng cứ 10 trẻ em thì chỉ có 3 em được chơi ngoài trời một lần mỗi tuần hoặc không lần nào.[5] Trong khi đó, một nghiên cứu do Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế OECD tiến hành ở trẻ em đi học tiết lộ rằng học sinh ở Hà Lan ít có động lực nội tại nhất trong tất cả các quốc gia được khảo sát. Các bài kiểm tra đã làm thui chột những động lực nội tại của chúng đến mức sự quan tâm của chúng tiêu tan khi phải đối diện với một nhiệm vụ không được chấm điểm.[6]

Chúng ta còn chưa nói đến sự thay đổi lớn nhất trong tất cả sự thay đổi: phụ huynh dành thêm nhiều thời gian với con cái mình hơn. Thời gian đọc truyện. Thời gian giúp chúng giải quyết bài tập về nhà. Thời gian đưa chúng đi tập thể thao. Ở Hà Lan, lượng thời gian để thực hiện những vai trò làm cha mẹ hiện nay cao hơn 150% so với thập niên 1960.[7] Ngày nay ở Hoa Kỳ, những bà mẹ đi làm dành nhiều thời gian bên con cái mình hơn là những bà mẹ ở nhà hồi những năm 1970.[8]

Tại sao? Và điều gì ẩn sau sự thay đổi này? Hay là phụ huynh đột nhiên có được cả đại dương thời gian. Ngược lại, từ những năm 1980, phụ huynh ở khắp nơi đều làm việc nhiều hơn. Có lẽ mấu chốt nằm ở chỗ: chúng ta phải gắn với công việc nên đã hi sinh mọi chuyện khác. Khi các nhà hoạch định chính sách giáo dục bắt đầu thúc đẩy việc xếp hạng và phát triển cho học sinh, phụ huynh và nhà trường đều miệt mài với việc thi cử và kết quả.

Giờ đây trẻ em đang được phân loại ngay từ độ tuổi nhỏ hơn bao giờ hết, giữa những trẻ có rất nhiều năng lực và hứa hẹn, với những trẻ ít tiềm năng hơn. Phụ huynh lo lắng rằng: Liệu con gái tôi đã vượt qua những thử thách cần thiết chưa? Con trai tôi có theo kịp bạn bè nó không? Chúng có được nhận vào một trường đại học không? Một nghiên cứu gần đây với 10.000 sinh viên Mỹ tiết lộ rằng 80% sinh viên nghĩ rằng cha mẹ lo lắng về chuyện thứ hạng cao hơn là những phẩm chất như lòng trắc ẩn và nhân ái.[9]

Đồng thời có một cảm giác sâu sắc rằng có gì đó rất giá trị đang dần biến mất, như tính tự giác, tính khôi hài. Là những bậc làm cha mẹ, bạn có vô khối “mánh lới” về cách rèn luyện bản thân cho con mình trước những áp lực mà chúng phải vượt qua. Có hẳn một thể loại sách viết về cách làm việc ít hơn, chú tâm và tỉnh thức hơn. Nhưng sẽ thế nào nếu vài ba cuốn sách tự lực (self-help) này chẳng mang lại lợi ích gì?

Để hiểu rõ hơn những gì đang diễn ra, chúng ta cần định nghĩa xem chơi nghĩa là gì. Chơi là không phải chịu những quy tắc và quy định cố định, có kết thúc mở và không bị kiểm soát. Đó không phải là một sân cỏ nhân tạo có cha mẹ hò hét ở bên; mà đó là trẻ em nô đùa bên ngoài mà không cần cha mẹ giám sát, tự nghĩ ra các trò chơi của chúng.

Khi trẻ em tham gia vào kiểu chơi này, chúng biết nghĩ cho bản thân. Chúng chấp nhận rủi ro và tô màu bên ngoài trang giấy, và trong quá trình ấy chúng rèn luyện tư duy cũng như động lực của mình. Các trò chơi phi quy tắc cũng là một phương thuốc tự nhiên chống lại sự nhàm chán. Ngày nay, chúng ta cho trẻ em đủ loại giải trí do nhà máy sản xuất, từ những trò ghép hình LEGO® Star Wars Snowspeeder™, đi kèm với những chỉ dẫn lắp ráp chi tiết, tới Miele Kitchen Gourmet Deluxe (mô hình nhà bếp mini) với những âm thanh nấu ăn điện tử sinh động.

Câu hỏi là, nếu mọi thứ đều được đúc sẵn thì liệu chúng ta vẫn có thể nuôi dưỡng trí tò mò và sức tưởng tượng của mình được không?[10] Sự nhàm chán có thể là nguồn gốc của sáng tạo. Nhà tâm lý học Peter Gray viết: “Bạn không thể dạy được sự sáng tạo, tất cả những gì bạn có thể làm là để cho nó đơm hoa.”[11]

Các nhà sinh vật học đồng thuận rằng bản năng vui chơi bắt nguồn sâu xa trong bản chất của chúng ta. Gần như mọi động vật có vú đều biết chơi, nhiều động vật khác cũng không cưỡng lại được sức hấp dẫn của nó. Quạ ở Alaska thích lao vút xuống các mái nhà phủ tuyết.[12] Trên một bãi biển ở nước Úc, cá sấu lướt trên các con sóng để vui đùa, và các nhà khoa học Canada đã quan sát được bạch tuộc bắn các tia nước vào những chai thuốc rỗng.[13]

Xét về vẻ bề ngoài, chơi có vẻ giống như việc sử dụng thời gian không có mục đích. Nhưng điều thú vị là những động vật thông minh nhất là những loài hay bộc lộ hành vi chơi đùa nhất. Ở Chương 3 chúng ta thấy rằng những động vật thuần hóa chơi suốt cả đời chúng. Thêm nữa, không giống loài nào thích tuổi thơ bằng giống loài Homo puppy. Chơi giúp cho cuộc sống trở nên có ý nghĩa, sử gia Hà Lan Johan Huizinga viết hồi năm 1938. Ông đặt tên cho chúng ta là Homo ludens – “du hí nhân”. Mọi thứ chúng ta gọi là “văn hóa” đều khởi nguồn từ việc chơi theo quan niệm của Huizinga.[14]

Các nhà nhân chủng học ngờ rằng trong phần lớn lịch sử nhân loại, trẻ em được phép vui chơi một cách tự do theo ý chúng. Dù các nền văn hóa săn bắt hái lượm có thể có sự khác biệt nhưng văn hóa về việc chơi xem ra khá giống nhau.[15] Các nhà nghiên cứu nhận thấy đáng để lưu ý nhất đó là quyền tự do rất lớn dành cho trẻ em. Bởi vì dân du mục hiếm khi cảm thấy họ có thể điều khiển sự phát triển của trẻ nên trẻ em được phép rong chơi cả ngày, từ sáng sớm cho tới tối muộn.

Nhưng liệu trẻ em có được trang bị những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống nếu chúng không bao giờ đến trường không? Câu trả lời là, ở những xã hội này, chơi và học là một và như nhau. Trẻ nhỏ không cần các bài kiểm tra hay thứ hạng để học đi hay học nói. Điều đó đến với chúng rất tự nhiên, vì chúng rất giỏi khám phá thế giới. Cũng vậy, trẻ em thời săn bắt hái lượm học thông qua việc chơi. Bắt côn trùng, chế tạo cung tên, bắt chước tiếng gọi của động vật – có rất nhiều việc để làm trong rừng. Và để có thể sống sót đòi hỏi chúng phải có kiến thức rất rộng về động thực vật.

Tương tự, bằng cách chơi với nhau, trẻ em học được cách hợp tác. Trẻ em thời săn bắt hái lượm gần như luôn chơi theo các nhóm hỗn hợp, với cả con trai và con gái đủ mọi lứa tuổi chơi chung với nhau. Những em bé học từ trẻ lớn, những đứa cảm thấy có trách nhiệm truyền lại những gì chúng biết. Không có gì lạ khi hầu như các trò chơi cạnh tranh không hề được nghe nói đến trong những xã hội này.[16] Khác với các cuộc thi đấu của người lớn, việc chơi không cần quy tắc và thể lệ đòi hỏi người tham gia phải tự thỏa hiệp với nhau. Nếu ai đó không vui, đứa trẻ có thể dừng trò chơi đó lại (và khi đó niềm vui chấm dứt với tất cả mọi người).

02

Văn hóa chơi trải qua một bước thay đổi lớn khi con người bắt đầu sống định cư một chỗ.

Với trẻ em, buổi bình minh của nền văn minh mang đến cái ách lao động nông nghiệp, khiến đầu óc chúng trở nên tê bại, đồng thời xuất hiện suy nghĩ rằng trẻ em cần được nuôi nấng giống như người ta trồng khoai tây vậy. Vì nếu trẻ em sinh ra đã tinh ranh thì bạn không thể để chúng muốn làm gì thì làm được. Trước tiên chúng cần lĩnh hội cái vỏ bề ngoài của văn minh, và thường việc này cần một bàn tay kiên nghị. Quan niệm cho rằng cha mẹ nên đánh trẻ chỉ mới bắt nguồn gần đây từ những tổ tiên nông nghiệp hoặc những người sống ở thành thị như chúng ta.[17]

Cùng với sự xuất hiện của những thành phố và nhà nước đầu tiên, các hệ thống giáo dục đầu tiên cũng ra đời. Nhà thờ cần những tín đồ sùng đạo, quân đội cần những người lính trung thành và chính phủ cần những công nhân chăm chỉ. Chơi bời là kẻ thù, cả ba bên đều nhất trí với nhau như vậy. Giáo sĩ người Anh John Wesley (1703-1791) đưa ra quy định trong các trường học của mình: “Chúng tôi không cho phép bất kì thời gian nào để chơi. Kẻ nào rong chơi khi còn là một đứa trẻ thì sẽ rong chơi khi thành người lớn.”[18]

Mãi cho tới tận thế kỉ 19, giáo dục tôn giáo mới được thay thế bởi các hệ thống của nhà nước trong đó, nói theo lời một sử gia, “một bộ trưởng bộ giáo dục Pháp có thể tự hào rằng, vào lúc 10 giờ 20 phút sáng, ông ấy biết đích xác đoạn văn nào của Cicero mà tất cả học sinh của một khối trên khắp nước Pháp đang học”.[19] Phẩm chất của một công dân tốt phải được thấm vào con người từ khi còn nhỏ, và những công dân ấy cũng phải học yêu tổ quốc mình. Pháp, Ý và Đức đều có thể dễ dàng nhìn thấy trên bản đồ; còn giờ thì đã đến lúc rèn giũa người Pháp, người Ý và người Đức.[20]

Trong suốt cuộc Cách mạng Công nghiệp, một bộ phận lớn công việc của công nhân được giao cho máy móc. (Dĩ nhiên, không phải đâu cũng vậy – ở Bangladesh, trẻ em vẫn đạp máy khâu để làm ra những món hời cho chúng ta). Điều đó khiến mục tiêu giáo dục thay đổi. Giờ đây, trẻ em phải học đọc và viết, thiết kế và tổ chức để khi trưởng thành có thể kiếm tiền theo cách riêng của mình.

Mãi cho tới tận cuối thế kỉ 19 trẻ em mới lại có thêm thời gian để chơi. Các sử gia gọi giai đoạn này là “thời hoàng kim” của việc chơi không cần theo luật lệ, khi lao động trẻ em bị cấm thì phụ huynh càng để cho trẻ em chơi tự do tùy ý.[21] Thậm chí, ở nhiều khu dân cư tại châu Âu và Bắc Mỹ, không có ai buồn để mắt đến chúng, và trẻ em đơn giản là được rong chơi tự do cả ngày.

Tuy nhiên, những ngày tháng vàng son này rất ngắn ngủi, vì từ thập niên 1980 trở đi, cuộc sống trở nên bận rộn hơn rất nhiều ở nơi làm việc và trong lớp học. Chủ nghĩa cá nhân và văn hóa thành tích được ưu tiên. Quy mô gia đình nhỏ hơn và các bậc phụ huynh bắt đầu lo ngại liệu con cái mình có đạt được thứ hạng cao hay không.

Những đứa trẻ chơi quá nhiều còn có thể bị đưa tới bác sĩ. Những thập niên gần đây, các chẩn đoán về rối loạn hành vi gia tăng một cách chóng mặt, trong đó có lẽ ví dụ tốt nhất là ADHD (rối loạn tăng động giảm chú ý). Đây là rối loạn duy nhất mà tôi từng nghe một bác sĩ tâm thần nhận xét rằng nó diễn ra theo mùa: các triệu chứng dường như không đáng kể trong kì nghỉ hè, nhưng lại đòi hỏi nhiều trẻ em phải dùng đến thuốc Ritalin khi bắt đầu vào năm học mới.[22]

Đúng là giờ đây chúng ta bớt nghiêm khắc với trẻ em hơn là 100 năm trước, và trường học không còn giống như nhà tù hồi thế kỉ 19 nữa. Trẻ em cư xử không đúng mực không bị ăn tát nhưng lại phải uống thuốc. Trường học không còn giáo điều, mà dạy một giáo trình đa dạng hơn bao giờ hết, truyền thụ nhiều kiến thức cho học sinh hết mức có thể để chúng tìm kiếm những công việc lương cao trong “nền kinh tế tri thức”.

Giáo dục trở thành thứ con người phải chịu đựng. Một thế hệ mới sắp ra đời, tiếp thu những quy tắc của xã hội dựa trên thành tích của chúng ta. Đó là một thế hệ học cách tiến hành một cuộc đua chuột✻, trong đó các chỉ số thành công là lý lịch và là những con số không trong lương của bạn. Một thế hệ bớt tô vẽ bên ngoài giấy, bớt có xu hương mơ màng hay dám làm, tưởng tượng hay khám phá. Nói tóm lại, một thế hệ quên mất cách vui chơi.

03

Còn cách nào khác không?

Liệu chúng ta có thể quay lại một xã hội với nhiều không gian tự do và sáng tạo hơn không?

Liệu chúng ta có thể xây những sân chơi và thiết kế các trường học không kìm hãm chúng ta thay vào đó giải phóng nhu cầu vui chơi của chúng ta không?

Câu trả lời là có, và có, và có…

Carl Theodor Sørensen, một kiến trúc sư cảnh quan người Đan Mạch đã thiết kế khá nhiều sân chơi trước khi nhận ra chúng khiến trẻ em chán ngán. Những bồn cát, cầu trượt, xích đu… sân chơi là giấc mơ của những người có điều kiện và là ác mộng của trẻ em. Sørensen đã rất ngạc nhiên khi thấy trẻ con thích chơi ở các bãi phế liệu và công trường xây dựng hơn.

Điều này gợi cảm hứng cho ông thiết kế một sân chơi hoàn toàn mới mẻ: một sân chơi không cần các quy tắc hay quy định an toàn. Một nơi chính trẻ em chịu trách nhiệm.

Năm 1943, giữa thời kì Đức chiếm đóng, Sørensen thử nghiệm ý tưởng của mình tại ngoại ô Emdrup của Copenhagen, ông bố trí xe hơi hỏng, củi và lốp xe cũ trong một khoảng đất gần 7.000 mét vuông. Trẻ em có thể đập, nện và chắp vá bằng búa, đục và tua vít. Chúng có thể trèo cây và đốt lửa, đào hố và dựng lều. Hoặc, như sau này Sørensen đề cập rằng chúng có thể “mơ mộng, tưởng tượng và biến những giấc mơ, trí tưởng tượng thành hiện thực”.[23]

“Sân chơi phế thải” của ông là một thành công vang dội, trung bình một ngày thu hút 200 trẻ tới Emdrup. Và thậm chí với một vài “kẻ gây rối”, gần như ngay lập tức thấy rõ rằng “đã không thấy tiếng ồn, tiếng la hét và các cuộc đánh lộn như thường thấy ở các sân chơi buồn tẻ, vì có quá nhiều cơ hội để trẻ em không cần phải đánh nhau”.[24] Người ta thuê một “giám sát sân chơi” nhằm để mắt đến mọi việc, nhưng anh ta chỉ có một thân một mình. “Tôi không thể dạy bọn trẻ bất kì việc gì, và thực tế tôi sẽ không làm vậy,” giám sát sân chơi đầu tiên, John Bertelsen đã nói.[25]

Vài tháng sau khi chiến tranh kết thúc, một kiến trúc sư cảnh quan người Anh tới thăm Emdrup, Phu nhân Allen xứ Hurtwood thừa nhận bà “hoàn toàn bị cuốn hút” bởi những gì bà thấy ở đó.[26] Những năm sau đó, bà ca tụng: “Một khúc xương gãy còn hơn một tinh thần què quặt.”[27]

Chẳng mấy chốc, những khu vực bị đánh bom được mở cửa cho trẻ em trên khắp nước Anh, từ London đến Liverpool, từ Coventry đến Leeds. Giờ đây những tiếng la hét vui sướng vang lên ở những nơi mà chỉ mới gần đây vẫn đầy rẫy chết chóc và đổ nát bởi máy bay ném bom của Đức. Các sân chơi mới trở thành một ẩn dụ cho sự tái thiết của Anh quốc và là một minh chứng cho khả năng phục hồi của họ.

Đúng, không phải ai cũng nhiệt thành. Người lớn luôn có hai cách phản đối những kiểu sân chơi này. Một: chúng xấu quá. Thực tế, những nơi đó đúng là nhức mắt. Tuy nhiên chỗ nào phụ huynh thấy bừa bãi, trẻ em lại thấy cơ hội. Trong khi người lớn không chịu nổi bẩn thỉu, trẻ em lại không chịu được nhàm chán.

Phản đối thứ hai: các sân chơi phế thải rất nguy hiểm. Các phụ huynh sợ rằng Emdrup sẽ gây ra gãy những vụ gãy xương và dập não. Nhưng sau một năm, những tổn thương nghiêm trọng nhất lại là một lớp bùn đất dính vào quần áo. Một công ty bảo hiểm Anh lo ngại đến mức họ bắt đầu tính phí bảo hiểm ở các sân chơi phế thải thấp hơn mức tiêu chuẩn.[28]

Cho dù vậy, đến những năm 1980, các sân chơi mạo hiểm ở Anh bắt đầu phải vật lộn. Khi các quy định về an toàn gia tăng mức độ, các nhà sản xuất nhận ra họ có thể kiếm bộn tiền với các thiết bị “an toàn” tự chế. Kết quả ư? Ngày nay mô hình Emdrup ít hơn rất nhiều so với 40 năm trước.

Tuy nhiên, thời gian gần đây, sự quan tâm đến ý tưởng cũ của Carl Theodor Sørensen lại hồi sinh. Và đúng như vậy. Giờ đây khoa học cung cấp vô vàn bằng chứng rằng cách chơi mạo hiểm, không theo quy tắc rất tốt cho sự phát triển tinh thần và thể chất của trẻ em.[29] Vào cuối đời, Sørensen kết luận rằng: “Trong tất cả những thứ tôi từng thiết kế thì sân chơi phế thải là xấu xí nhất, nhưng với tôi nó lại ý nghĩa nhất và đẹp nhất.”[30]

04

Chúng ta có đẩy việc này thêm một bước không?

Nếu trẻ em có thể thấy tự do hơn hẳn ở ngoài trời, vậy trong nhà thì sao? Nhiều trường học dù vận hành như những nhà máy, được tổ chức với chuông báo, thời khóa biểu và các bài kiểm tra vẫn được ca ngợi. Nhưng nếu trẻ em học hỏi qua việc chơi thì tại sao không xây dựng mô hình giáo dục cho phù hợp? Đây là câu hỏi đã đến với Sjef Drummen, nghệ sĩ kiêm hiệu trưởng trường học vài năm trước.

Drummen là một trong những người không bao giờ đánh mất niềm vui trong việc vui chơi, và là người luôn có ác cảm với các quy tắc và thẩm quyền. Khi đến đón tôi ở nhà ga xe lửa, ông để xe hơi của mình đậu chắn ngang lối đi cho xe đạp. Ông coi tôi là khán giả và bắt đầu một màn độc thoại không ngừng nghỉ suốt vài tiếng tiếp theo. Chốc chốc tôi lại tìm cách xen vào một câu hỏi. Cười ngoác miệng, ông ấy thừa nhận mình là người có tiếng hay lải nhải thuyết phục người khác.

Nhưng không phải khả năng lắm lời của Drummen đưa tôi lên một chuyến tàu chạy tới thành phố Roermond, ở miền Nam Hà Lan. Tôi đến đó vì một câu chuyện khác thường.

Hãy thử hình dung một trường học không có giờ học hay lớp học. Không có bài tập về nhà hay xếp thứ hạng. Không có cấp bậc hiệu phó và trưởng nhóm – chỉ có các nhóm giáo viên vô danh (hay “huấn luyện viên” như họ được gọi ở đây). Thực tế, người học tự chịu trách nhiệm. Ở ngôi trường này, hiệu trưởng đều đặn được kéo ra khỏi văn phòng vì bọn trẻ cần phòng để họp.

Không, đây không phải là một trong những trường tư thục tinh hoa dành cho các học sinh cá biệt của những phụ huynh khờ dại. Ngôi trường này tuyển những đứa trẻ đủ mọi thành phần. Tên trường là gì ư? Agora.

Tất cả bắt đầu từ năm 2014, khi trường quyết định phá bỏ những bức tường. (Theo lời của Drummen thì những bức tường này như là: “Nhốt bọn trẻ trong những cái chuồng và để chúng hành xử như lũ chuột.”). Tiếp theo, trẻ thuộc mọi cấp được trộn lẫn với nhau. (“Vì thế giới thực là như vậy.”). Tiếp đến, mỗi học sinh phải vạch ra một kế hoạch cá nhân. (“Nếu trường bạn có 1.000 trẻ, vậy là bạn có 1.000 lộ trình học tập.”)

Kết quả?

Ngay khi vào trường, những thứ đập vào mắt tôi là là một sân chơi phế liệu. Thay cho những hàng ghế ngồi kê hướng lên bảng, tôi nhìn thấy một đống lộn xộn lòe loẹt các loại bàn học tái sử dụng, một bể cá cảnh, một mô hình vua Tutankhamun, các cột Hy Lạp, một chiếc giường đôi, một con rồng Trung Hoa và nửa trước một chiếc 69 Cadillac màu xanh da trời.

Một trong số học sinh ở Agora là Brent, 17 tuổi. Vài năm trước, cậu ấy theo học một trường dự bị đại học song ngữ nơi cậu xếp hạng tốt ở mọi môn học, nhưng trượt hai môn tiếng Pháp và tiếng Đức.

Theo hệ thống giáo dục ba nhánh của Hà Lan, Brent bị chuyển xuống nhánh giáo dục phổ thông và sau đó, khi cậu ấy tiếp tục tụt lại, chuyển sang nhánh học nghề. “Khi người ta báo cho em biết tin đó, em đã chạy về nhà, đầy giận dữ. Em bảo mẹ rằng em sẽ kiếm việc làm ở cửa hàng McDonald.”

Nhưng nhờ có bạn bè của bạn bè, Brent đến với Agora, nơi cậu được thoải mái học những gì cậu muốn. Giờ cậu biết tất tần tật về bom nguyên tử, cậu cũng đang dự thảo kế hoạch kinh doanh đầu tiên của mình và có thể giao tiếp bằng tiếng Đức. Cậu cũng được tiếp nhận vào một chương trình quốc tế ở Đại học Mondragon tại Thượng Hải.

Theo huấn luyện viên Rob Houben, Brent cảm thấy mẫu thuẫn về chuyện cậu được nhận vào đại học. “Cậu ấy kể với tôi: ‘Vẫn còn rất nhiều việc em muốn báo đáp lại ngôi trường này vì tất cả những gì trường đã làm cho em’.”

Hoặc như Angelique, 14 tuổi. Trường học của cô bé chuyển cô sang học nghề, nhưng cô bé mà tôi gặp có óc phân tích tuyệt vời. Cô bé ám ảnh với Triều Tiên vì một lý do nào đó và quyết định học tập ở đó, và đã tự học một chút ngôn ngữ. Angelique cũng ăn chay trường và đã viết cả một cuốn sách với những luận điểm để phản bác những người ăn thịt. (Huấn luyện viên Rob kể: “Tôi luôn thua khi tranh luận với cô bé.”)

Học viên nào cũng có một câu chuyện riêng. Rafael, cũng 14 tuổi, mê lập trình. Cậu bé cho tôi xem một lỗ hổng an ninh mà cậu phát hiện trên website Đại học Mở Hà Lan. Cậu ấy đã báo cho quản trị trang web, nhưng nó vẫn chưa được khắc phục. Cười tươi, Rafael bảo tôi: “Nếu em muốn làm ông ấy chú ý, em có thể thay đổi mật mã tài khoản của ông ấy được ngay.”

Khi cậu ấy cho tôi xem website của một công ty mà cậu đã làm giúp một số công việc ngoại vi, tôi hỏi liệu cậu ấy có nên tính hóa đơn với họ cho phần mà cậu đã làm không. Rafael nhìn tôi vẻ kì quặc. “Gì cơ, và em hết động lực sao?”

Ngoài ý thức về mục đích, tôi còn bị những đứa trẻ này gây ấn tượng về ý thức cộng đồng của chúng.

Vài học sinh tôi trò chuyện có lẽ đã bị bắt nạt một cách không thương tiếc ở trường cũ của mình. Nhưng ở Agora, chẳng ai bắt nạt ai, tất cả mọi người tôi nói chuyện đều nói vậy. “Chúng em chân thành và thẳng thắn với nhau,” Milou, 14 tuổi nói.

Bắt nạt thường bị xem là một thói xấu trong bản chất chúng ta; điều này trở thành một phần và là hành trang của việc làm trẻ con. Các nhà xã hội học, những người mất nhiều năm nghiên cứu sâu rộng những địa điểm nơi xảy ra tình trạng bắt nạt lan tràn, khẳng định rằng điều đó là không đúng. Họ gọi những nơi như vậy là các thiết chế toàn thể.[31] Nhà xã hội học Erving Goffman đã mô tả về thiết chế toàn thể từ cách đây khoảng 50 năm như sau:

• Tất cả mọi người sống cùng một nơi và đều chịu sự quản lý của một cơ quan quyền lực duy nhất.

• Mọi hoạt động được tiến hành cùng nhau và tất cả mọi người làm nhiệm vụ như nhau.

• Các hoạt động có lịch trình cứng nhắc, từ giờ này sang giờ khác.

• Có một hệ thống các quy tắc chính thức, rõ ràng, do một cơ quan áp đặt.

Dĩ nhiên, ví dụ tối hậu là nhà tù, nơi hành vi bắt nạt rất phổ biến. Tuy nhiên, các thiết chế toàn thể cũng có thể là những nơi khác, chẳng hạn như các nhà an dưỡng. Người già, khi hợp tác với nhau, có thể hình thành các hệ thống đẳng cấp trong đó những ông trùm to nhất giành những ghế và bàn tốt nhất lúc chơi trò Bingo✻.[32] Thậm chí, một chuyên gia người Mỹ chuyên nghiên cứu về các hành vi bắt nạt còn gọi Bingo là “trò chơi của quỷ”.[33]

Và trong các trường học. Bắt nạt cho đến giờ là chuyện phổ biến nhất ở các trường nội trú điển hình của Anh (loại truyền cảm hứng cho Chúa Ruồi của William Golding).[34] Một chút ngạc nhiên nhỏ: những trường này chẳng khác gì các nhà tù. Bạn không thể thoát khỏi đó, bạn phải kiếm được một chỗ trong hệ thống tôn ti nghiệt ngã, và có sự phân tầng ghê gớm giữa học sinh và nhân viên. Những thiết chế cạnh tranh này là một phần và hành trang của nền tảng thượng lưu Anh quốc – nhiều chính trị gia ở London theo học các trường nội trú – nhưng theo các nhà nghiên cứu giáo dục, những trường học như vậy cản trở bản chất thích chơi của chúng ta.[35]

Tin mừng là mọi việc có thể trở nên khác đi. Bắt nạt thực tế không còn tồn tại trong các trường học phi cấu trúc như Agora, ở đây, bạn có thể ra ngoài lớp để nghỉ ngơi bất cứ khi nào cần: cửa luôn luôn mở. Và, quan trọng hơn, mọi người ở đây khác nhau. Khác biệt là điều bình thường, vì trẻ em đủ mọi lứa tuổi, khả năng và cấp độ học chung với nhau.

Brent nói: “Ở trường cũ của em, mọi người sẽ không nói chuyện với bọn trẻ thuộc phân hệ dạy nghề.” Rồi cậu ấy và Joep (15 tuổi) kể cho tôi về thời gian Noah (15 tuổi, ban đầu bị chuyển sang chương trình nghề) dạy cho chúng về kĩ năng còn thiếu: kĩ năng lập kế hoạch. “Noah vạch ra kế hoạch cho cả năm rưỡi tiếp theo của đời mình, và chúng em học được rất nhiều điều khác nữa”, Joep giải thích.

Càng ở Agora lâu, tôi càng có ấn tượng về việc lũ trẻ theo tuổi và năng lực mới điên rồ làm sao. Các chuyên gia đã nhiều lần cảnh báo về khoảng cách ngày càng tăng giữa những người nhận được nền giáo dục bậc cao và những người ít giáo dục hơn, nhưng thực tế sự rạn nứt này bắt đầu từ đâu? Jolie (14 tuổi) nói: “Em không thấy có gì khác biệt. Em nghe sinh viên nghề nói những điều còn có ý nghĩa hơn rất nhiều đám trẻ được coi là học giỏi.”

Hoặc hãy xem cách thức các trường sử dụng để chia một ngày thành những khoảng thời gian nhất định. Huấn luyện viên Rob nhận xét: “Chỉ có ở trường, thế giới mới bị chia thành các môn học. Chẳng ở đâu xảy ra chuyện đó cả.” Ở hầu hết các trường, khi một sinh viên tìm được mạch cảm hứng cho môn học thì chuông báo hết tiết lại vang lên. Liệu có thể có một hệ thống nào chơi khăm học sinh, ngăn cản việc học tập hơn thế không?

Trước khi bạn hiểu sai ý thì điều quan trọng là đừng phóng đại triết lý tự do không can thiệp của Agora. Trường này có thể thúc đẩy quyền tự do, nhưng không phải là sự tự do cho tất cả. Có một cấu trúc tối thiểu nhưng quan trọng. Mọi buổi sáng, học sinh đều bắt đầu học tập. Mỗi ngày đều có một tiếng để thinh lặng, và mọi học sinh đều gặp huấn luyện viên của mình một lần mỗi tuần. Hơn nữa, kì vọng thường rất cao, bọn trẻ đều biết vậy, và chúng làm việc với huấn luyện viên của mình để đặt ra các mục tiêu cá nhân.

Huấn luyện viên là những nhân tố không thể không nhắc đến. Họ có nhiệm vụ nuôi dưỡng, thử thách, khuyến khích và hướng dẫn học sinh. Thành thật mà nói, công việc của họ vất vả hơn là dạy theo hình thức truyền thống. Với những người mới bắt đầu, họ cần phải quên đi tất cả những điều đã được học về việc giảng dạy như những giáo viên thông thường. “Hầu hết những thứ bọn trẻ muốn học, bạn không thể dạy chúng,” Rob giải thích. Ví dụ như anh ấy không biết nói tiếng Hàn và không biết về các chương trình máy tính, tuy nhiên anh vẫn hỗ trợ được Angelique và Rafael trên những con đường riêng của chúng.

Dĩ nhiên, vẫn còn một điều khá băn khoăn là: Mô hình này có hiệu quả đối với hầu hết các trẻ em không?

Xét đến sự đa dạng về học sinh ở Agora, tôi nhìn thấy mọi lý do để tin điều đó là có thể.[36] Bọn trẻ nói cần thời gian để làm quen, nhưng thực ra là chúng học cách theo đuổi đến tận nơi trí tò mò của mình dẫn dắt tới. Sjef Drummen so sánh việc này với những con gà nhốt trong chuồng ở các trang trại: “Vài năm trước tôi mua vài con từ một người nông dân. Khi tôi thả chúng ra sân nhà mình, chúng cứ đứng đó hàng tiếng, bới thức ăn tại chỗ. Phải mất cả tuần trời chúng mới đủ can đảm nhúc nhích.”

Và giờ là tin không vui. Bất kì hình thức đổi mới triệt để nào cũng đều xung đột với các hệ thống cũ.

Thực tế, Agora giáo dục trẻ trong một môi trường khác hẳn. Trường muốn tạo điều kiện cho trẻ trở thành những công dân tự chủ, sáng tạo, có cam kết. Nhưng nếu Agora không đáp ứng được các tiêu chí kiểm tra chuẩn mực, nhà trường sẽ không vượt qua được khâu thanh tra và có thể mất nguồn tài trợ của chính phủ. Đây chính là cơ chế kìm hãm những sáng kiến giống như Agora.

Vậy có thể có một câu hỏi còn lớn hơn nữa mà chúng ta cần đặt ra: Mục đích của giáo dục là gì? Có phải là chúng ta đã khiếp sợ thứ hạng tốt và mức lương cao?

Năm 2018 hai nhà kinh tế học người Hà Lan phân tích một cuộc thăm dò 27.000 nhân công ở 37 quốc gia. Họ thấy rằng có đến một phần tư người trả lời nghi ngờ tầm quan trọng của công việc mà họ làm.[37] Những người này là ai? Chà, chắc chắn họ không phải là những lao công, hộ lý hay sĩ quan cảnh sát. Dữ liệu cho thấy rằng “những công việc vô nghĩa” nhất đều tập trung ở khu vực tư nhân – ở những nơi như ngân hàng, các hãng luật và công ty quảng cáo. Được đánh giá bằng những tiêu chí của “nền kinh tế tri thức” của chúng ta, những người làm các công việc này chính là định nghĩa về thành công. Họ kiếm được các điểm A thật, có hồ sơ LinkedIn đẹp như tranh và thu về khoản lương cao ngất ngưởng. Thế nhưng công việc họ làm, theo ước tính của chính họ, lại vô nghĩa với xã hội hiện tại.

Lẽ nào thế giới này điên khùng hết rồi sao? Chúng ta chi hàng tỉ đô la để giúp những người tài năng nhất vươn lên trên nấc thang đỉnh cao của sự nghiệp, nhưng một khi lên đến đỉnh, họ lại tự hỏi chính mình rằng: Tất cả điều đó có ý nghĩa gì? Trong khi đó, các chính trị gia rao giảng sự cần thiết bảo đảm một vị trí cao hơn trong những bảng xếp hạng quốc gia quốc tế, nói với chúng ta rằng chúng ta cần có giáo dục hơn nữa, kiếm được nhiều tiền hơn nữa và làm cho nền kinh tế “tăng trưởng” hơn nữa.[38]

Nhưng tất cả những điều đó đại diện cho cái gì? Phải chăng đó là bằng chứng về sự sáng tạo và trí tưởng tượng, hay khả năng ngồi im và gật đầu? Nó giống như điều mà triết gia Ivan Illich đã nói nhiều thập kỉ trước: “Trường học là công ty quảng cáo làm cho bạn tin rằng bạn cần xã hội như nó vốn vậy.”[39]

Agora, trường học mà chơi, lại chứng minh rằng có một phương pháp khác. Nó là một phần trong các trào lưu của các trương học đang vạch ra một chương trình thay thế. Người ta có thể giễu cợt cách tiếp cận của họ đối với giáo dục, nhưng có rất nhiều bằng chứng cho thấy rằng nó hiệu quả: Trường Summerhill ở Suffolk, Anh, đã chứng minh từ năm 1921 rằng có thể tin tưởng trao cho trẻ em quyền tự do. Trường Sudbury Valley ở Massachusetts, nơi từ những năm 1960 hàng nghìn trẻ em đã sống thời học sinh tươi đẹp của mình – và cho đến nay chúng vẫn tiếp tục sống cuộc đời mãn nguyện.[40]

Câu hỏi không phải là: Con cái chúng ta có thể xoay xở với quyền tự do hay không?

Mà là: Chúng ta có can đảm trao tự do cho chúng không?

Đó là một câu hỏi cấp bách. Nhà tâm lý học Brian SuttonSmith từng nói: “Đối lập của chơi là không làm việc. Đối lập của chơi là suy nhược.”[41] Ngày nay, cách nhiều người trong chúng ta làm việc – không có tự do, không chơi bời, không động lực nội tại – đang tiếp sức cho đại dịch suy nhược. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, suy nhược giờ là căn bệnh toàn cầu số một.[42] Khoản thiếu hụt lớn nhất của chúng ta không phải nằm ở một tài khoản ngân hàng hay bảng ngân sách, mà nằm bên trong chúng ta. Nó là sự thiếu hụt những gì làm cho cuộc sống có ý nghĩa. Thiếu chơi.

Tới thăm Agora khiến tôi có thêm niềm hi vọng, về sau, lúc Sjef Drummen thả tôi xuống nhà ga, ông ấy lại ngoác miệng cười với tôi. “Tôi nghĩ hôm nay tôi đã lải nhải quá nhiều với anh rồi.” Quả đúng như vậy, nhưng tôi phải thú thực với ông ấy: đi vòng quanh ngôi trường của ông ấy vào bất kì khoảng thời gian nào bạn cũng sẽ cảm thấy một vài điều chắc chắn xưa cũ dần tan vỡ.

Nhưng giờ tôi đã hiểu: đây là một hành trình bắt đầu lại từ đầu. Agora có triết lý giáo dục giống như các xã hội săn bắt hái lượm. Trẻ em học được nhiều bài học nhất khi được tùy ý, tự do trong một cộng đồng mà mọi lứa tuổi và năng lực kết hợp lại với nhau, có sự hỗ trợ của những huấn luyện viên và thủ lĩnh sân chơi.[43] Drummen gọi đó là “Nền giáo dục 0.0” – một sự trở lại với giống loài Homo ludens (Du hí nhân).

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.