Nhân Loại – Một Lịch Sử Tràn Đầy Hi Vọng - Phần 6
CHỦ NGHĨA DUY THỰC MỚI
“Theo một cách nào đó, chúng ta phải là những kẻ duy tâm, bởi vì khi đó chúng ta kết thúc như những kẻ theo chủ nghĩa hiện thực đích thực, thực sự.”
Viktor Frankl (1905 – 1997)
01
Năm 19 tuổi, tôi được nghe bài giảng đầu tiên về triết học. Sáng hôm đó, ngồi dưới những bóng đèn huỳnh quang sáng rực của một giảng đường ở Đại học Utrecht, tôi đã làm quen với nhà toán học kiêm triết gia người Anh, Bertrand Russell (1872-1970). Ngay lập tức, ông ấy trở thành người hùng mới của tôi.
Bertrand Russell không chỉ là một nhà logic học xuất sắc, người sáng lập một trường phái cách mạng, mà ông còn là một trong những người ủng hộ tình dục đồng giới sớm nhất, một người có tư tưởng tự do, nhìn thấy trước Cách mạng Nga sẽ kết thúc trong khốn cùng, một nhà hoạt động tích cực chống chiến tranh và bị tống giam vì bất tuân dân sự✻ ở tuổi 89, tác giả của hơn 60 đầu sách và 2.000 bài báo, là người sống sót sau một vụ tai nạn máy bay. Ông cũng giành được Giải Nobel Văn học vào năm 1950.
Điều mà tôi ngưỡng mộ nhất ở Russell là sự chính trực về tri thức của ông, sự trung thực đối với chân lý. Russell hiểu cái khuynh hướng quá ư con người nên tin điều gì hợp với chúng ta, và suốt cả đời mình ông chống đối điều đó. Nhiều lần ông đã đi ngược xu thế, dù biết rằng điều đó sẽ khiến ông chịu nhiều thiệt thời. Ông có một tuyên bố mà tôi đặc biệt ấn tượng, năm 1959, khi BBC hỏi Russell rằng ông sẽ cho các thế hệ tương lai lời khuyên gì. Ông trả lời:
Khi bạn đang học bất kì vấn đề gì hay đang nghiên cứu bất kì triết lý nào, hãy tự hỏi mình đâu là sự thật và đâu là chân lý mà sự thật đó mang lại. Đừng bao giờ để bản thân mình đi chệch hướng bởi những gì bạn muốn tin hoặc những gì bạn nghĩ là sẽ có tác động tích cực đến xã hội nếu nó đáng tin, mà chỉ cần nhìn vào những gì được cho là sự thật.
Những lời này tác động rất lớn đến tôi. Chúng đến vào thời điểm khi tôi bắt đầu đặt câu hỏi về niềm tin của mình vào Thiên Chúa. Là con trai của một nhà truyền giáo và là thành viên của một hội sinh viên Kitô giáo, bản năng của tôi là ném mọi nghi ngờ của mình theo gió. Tôi biết điều mình muốn: tôi muốn đạt được sự sống sau cái chết, để mọi điều sai trái của thế giới được sửa chữa ở kiếp sau và để chúng ta không còn đơn độc trong vũ trụ này.
Nhưng khi nghe được những lời cảnh báo của Russell, tôi đã bị ám ảnh rất nhiều: “Đừng bao giờ để cho bản thân bạn bị chệch hướng bởi những gì bạn muốn tin.”
Tôi đã làm hết sức trong khi viết cuốn sách này.
Liệu tôi có đạt được thành công khi nghe theo lời khuyên của Russell? Tôi hi vọng là có. Tuy nhiên bên cạnh đó, tôi cũng còn nhiều nghi hoặc. Tôi biết tôi cần sự giúp đỡ rất nhiều từ các độc giả thích phản biện để giữ cho tôi đi đúng hướng. Nhưng rồi, xin trích lời Russell: “Không phải tất cả niềm tin của chúng ta đều hoàn toàn đúng; chúng đều có ít nhất một chút mơ hồ và sai sót.” Do đó, nếu chúng ta nhắm tới càng gần chân lý càng tốt, chúng ta phải tránh sự mặc định và tự vấn bản thân ở mỗi bước đi. “Ý chí ngờ vực”, Russell đặt tên cho cách tiếp cận là như vậy.
Cho đến nhiều năm về sau, khi được học về nhà tư tưởng người Anh này, tôi mới phát hiện ra câu nói của ông được tham khảo từ những nguồn thông tin khác nhau. Russell nghĩ ra cụm “Ý chí ngờ Vực” để đặt mình ở thế đối lập với một triết gia người Mỹ tên là William James (1842-1910).
Và đây là người tôi muốn kể với bạn lúc này. William James là thầy của Theodore Roosevelt, Gertrude Stein, W.E.B. Du Bois, và nhiều “bậc thầy” hàng đầu khác trong lịch sử nước Mỹ. Ông ấy là nhân vật được yêu quý. Russell đã từng gặp James và thấy ông luôn “tràn đầy lòng nhân ái ấm áp”.
Nhưng Russell lại không ham mê mấy những ý tưởng của James. Năm 1896, ông ấy có một cuộc trò chuyện không phải về ý chí ngờ vực, mà là về “Ý chí tin tưởng”. James tuyên bố rằng có những việc phải thực hiện dựa trên niềm tin, thậm chí ngay cả khi chúng ta không thể chứng minh những điều đó là đúng.
Như tình bạn chẳng hạn. Nếu bạn nghi ngờ người bạn của mình thì bạn sẽ hành xử theo những cách khiến cho bạn bị ghét. Những điều như tình bạn, tình yêu, sự tin tưởng và lòng trung thành trở nên đúng vì chúng ta tin chúng. Trong khi James thừa nhận rằng có thể chứng minh niềm tin của một người là sai, nhưng ông cũng cho rằng “sự lừa bịp thông qua niềm hi vọng” sẽ tốt hơn là “sự lừa bịp thông qua sợ hãi”.
Bertrand Russell không tham gia vào hoạt động rèn luyện trí óc này. Dù bản thân ông rất thích con người của James nhưng ông lại không thích triết lý của James, ông nói, sự thật thường không dính dáng đến suy nghĩ viển vông. Suốt nhiều năm, đó cũng là khẩu hiệu của tôi – cho tới khi tôi bắt đầu nghi ngờ về chính nó.
02
Đó là năm 1963, bốn năm sau cuộc phỏng vấn của Russell với BBC.
Ở Cambridge, Massachusetts, nhà tâm lý học trẻ tuổi Bob Rosenthal quyết định tiến hành một thí nghiệm nhỏ tại phòng thí nghiệm của Đại học Harvard. Cạnh hai lồng chuột, ông ấy dựng những biển báo khác nhau để nhận diện những sinh vật gặm nhấm này, một bên là những con thông minh được huấn luyện đặc biệt và bên kia là những con trì độn, kém cỏi.
Sau đó, Rosenthal hướng dẫn các sinh viên của mình đặt lũ chuột vào một mê cung và ghi lại xem mỗi con mất bao lâu để tìm được đường ra. Điều mà ông ấy không nói với các sinh viên là thực tế chẳng có con chuột nào là đặc biệt theo bất kì dạng nào – tất cả chỉ là những con chuột thí nghiệm bình thường.
Nhưng rồi một chuyện khác thường đã xảy ra. Lũ chuột mà các sinh viên tin là khôn hơn và nhanh nhẹn hơn thật sự thực hiện tốt hơn. Giống như có phép màu vậy. Mặc dù, những con “sáng sủa” và những con “trì độn” chẳng khác gì nhau, thế mà những con được cho là “sáng sủa” lại tìm được đường ra nhanh gấp đôi.
Mới đầu, không ai tin Rosenthal. “Tôi gặp khá nhiều rắc rối khi công bố thí nghiệm này,” nhiều thập kỉ sau ông nhớ lại.[1] Thậm chí thời gian đầu ông gặp rất nhiều phiền phức khi cho rằng chẳng hề có sức mạnh bí ẩn nào can thiệp và rằng có một lời giải thích duy lý hoàn hảo cho việc này. Điều Rosenthal nhận ra là sinh viên của mình đối xử với những con chuột “sáng sủa” – những con mà họ có kì vọng cao hơn – theo cách dịu dàng và ân cần hơn. Việc đối xử này đã làm thay đổi hành vi của lũ chuột và thúc đẩy thành tích của chúng.
Sau thí nghiệm của mình, một ý tưởng cấp tiến đã bén rễ trong suy nghĩ của Rosenthal; niềm tin rằng ông ấy đã phát hiện ra một sức mạnh, rất lớn nhưng vô hình. Rosenthal suy xét trên tạp chí American Scientist rằng: “Nếu lũ chuột trở nên khôn ngoan hơn khi được mong đợi thì không quá xa vời khi cho rằng trẻ con có thể thông minh hơn khi được giáo viên kì vọng.”
Vài tuần sau, một bức thư từ hiệu trưởng Trường Tiểu học Spruce ở San Francisco gửi đến nhà tâm lý học này. Hiệu trưởng đã đọc được bài viết của Rosenthal và đưa ra một đề nghị khó cưỡng: “Xin hãy cho tôi biết liệu tôi có thể hỗ trợ ông điều gì không?”[2] Không chút đắn đo suy nghĩ, Rosenthal lập tức bắt tay vào kế hoạch thực hiện thí nghiệm khác. Lần này đối tượng của ông không phải là chuột thí nghiệm mà là trẻ em.
Năm học mới bắt đầu, các giáo viên ở Tiểu học Spruce biết rằng một nhà khoa học danh tiếng là Tiến sĩ Rosenthal sẽ tiến hành một bài kiểm tra với học sinh của mình. “Bài trắc nghiệm dự đoán chuyển biến kết quả học tập” này cho biết học sinh nào có thể đạt được thành tích cao nhất trong năm học đó.
Thực tế, đó là một bài kiểm tra IQ thông thường, và khi nắm trong tay những điểm số đó, Rosenthal và nhóm làm việc của mình sẽ đặt chúng qua một bên, không quan tâm đến nữa. Thay vào đó, họ chơi trò tung đồng xu để quyết định xem những trẻ nào sẽ xếp vào nhóm “có tiềm năng” và báo lại cho giáo viên danh sách những em học sinh thuộc nhóm đó. Trong khi đó, học sinh không hề biết gì về thí nghiệm này.
Chắc chắn là sức mạnh của kì vọng sẽ nhanh chóng phát huy sự màu nhiệm của nó. Giáo viên dành cho nhóm học sinh “có tiềm năng” sự quan tâm, khích lệ và khen ngợi nhiều hơn, vì thế làm thay đổi cách bọn trẻ nhìn nhận bản thân. Tác động rõ rệt nhất xuất hiện ở nhóm trẻ nhỏ nhất, IQ tăng trung bình 27 điểm trong một năm. Mức tăng lớn nhất thuộc về nhóm bé trai gốc Latin, vốn là nhóm thường nhận kì vọng ít nhất ở California.[3]
Rosenthal gọi phát hiện của mình là Hiệu ứng Pygmalion, theo tên nhà điêu khắc trong Thần thoại Hy Lạp, người đã phải lòng một trong những tác phẩm của chính mình đến mức các vị thần quyết định biến bức tượng của ông ta thành người thật. Những niềm tin mà chúng ta hướng đến – cho dù đúng hay chỉ là tưởng tượng – có thể thành hiện thực và tác động đến sự thay đổi thực sự. Hiệu ứng Pygmalion giống như hiệu ứng giả dược (placebo effect) mà tôi đã thảo luận ở Chương 1, ngoại trừ một điểm khác biệt duy nhất đó là thay vì làm lợi cho bản thân, thì đây là những kì vọng mang lại lợi ích cho người khác.
Mới đầu, tôi nghĩ rằng một nghiên cứu vốn đã cũ như thế này chắc chắn sẽ bị lật tẩy, giống như tất cả những thí nghiệm thu hút sự chú ý của truyền thông, xuất hiện từ thập niên 60 của thế kỉ trước.
Tuy nhiên không phải như vậy. 50 năm tiếp theo, Hiệu ứng Pygmalion vẫn là một phát hiện quan trọng trong việc nghiên cứu tâm lý. Nó đã được kiểm nghiệm bởi hàng trăm cuộc nghiên cứu tương tự, được thực hiện trong môi trường quân đội, các trường đại học, trong các phòng xử án, trong gia đình, trong các nhà hưu dưỡng và ngay trong các tổ chức.[4] Đúng, hiệu ứng ấy không phải lúc nào cũng mạnh như Rosenthal nghĩ, đặc biệt khi nó liên quan đến việc trẻ em thể hiện thế nào ở các bài kiểm tra IQ. Tuy nhiên, một nghiên cứu đánh giá mang tính phê bình, được thực hiện vào năm 2005, đã kết luận rằng “bằng chứng từ những thí nghiệm và thực nghiệm phong phú cho thấy rằng kì vọng của giáo viên rõ ràng thực sự ảnh hưởng đến sinh viên – chí ít là đôi lúc”.[5] Những kì vọng cao có thể là nguồn động lực mạnh mẽ. Chẳng hạn như khi được người quản lý ủng hộ thì nhân viên sẽ đạt được thành tích tốt hơn. Khi được sĩ quan ủng hộ, binh sĩ chiến đấu mạnh mẽ hơn. Khi được hộ lý khích lệ, bệnh nhân sẽ phục hồi nhanh hơn.
Bất chấp những thực tế trên, phát hiện của Rosenthal không châm ngòi cho một cuộc cách mạng mà ông và nhóm của mình rất hi vọng sẽ xảy ra. Một nhà tâm lý học người Israel từng than phiền: “Hiệu ứng Pygmalion là phát hiện khoa học vĩ đại chưa được ứng dụng một cách có hệ thống và bài bản. Nó vẫn chưa tạo ra sự khác biệt mà đáng ra nó có thể làm được. Quả thật, điều đó rất đáng tiếc.”[6]
Tôi còn một tin tệ hơn nữa: bên cạnh những kì vọng tích cực tạo ra những tác động tích cực, còn có những cơn ác mộng cũng trở thành hiện thực. Trái với Hiệu ứng Pygmalion là Hiệu ứng Golem, hiệu ứng này được đặt tên theo một truyền thuyết của người Do Thái trong đó một sinh vật đáng ra bảo vệ các công dân Prague lại biến thành quái vật. Cũng như Hiệu ứng Pygmalion, Hiệu ứng Golem hiện diện khắp nơi. Khi chúng ta có những kì vọng tiêu cực về ai đó, chúng ta không thường xuyên chú ý đến họ. Chúng ta giữ khoảng cách với họ. Chúng ta không mỉm cười nhiều với họ. Về cơ bản, chúng ta cũng có cách hành xử giống như các sinh viên của Rosenthal đã làm khi họ thả những con chuột “ngu ngốc” vào mê cung.
Những nghiên cứu về Hiệu ứng Golem rất ít, tuy nhiên điều này không có gì là lạ, khi xét đến vấn đề đạo đức trước việc bắt con người phải tạo ra những kì vọng tiêu cực. Và những gì chúng ta biết được thật sự sẽ gây sốc. Hãy xem nghiên cứu do nhà tâm lý học Wendell Johnson thực hiện ở Davenport, Iowa vào năm 1939. Ông chia 20 trẻ mồ côi thành hai nhóm, nói với một nhóm rằng chúng là những diễn giả giỏi, lưu loát và nhóm kia rằng số phận của chúng là trở thành những kẻ nói lắp. Ngày nay, nghiên cứu này được biết đến như là một “Nghiên cứu quái vật” đầy tai tiếng, thí nghiệm này để lại hậu quả nghiêm trọng, khiến nhiều đối tượng thí nghiệm mắc phải những trở ngại trong giao tiếp suốt đời.[7]
Hiệu ứng Golem là một dạng hiệu ứng phản dược, khiến những học sinh tội nghiệp càng tụt lại sau, những người vô gia cư mất hi vọng và những thiếu niên bị cô lập trở nên cực đoan. Nó cũng là một trong những cơ chế âm ỉ đằng sau chủ nghĩa phân biệt chủng tộc, vì khi bạn ít nhận được kì vọng, bạn sẽ không thể hiện bản thân tốt nhất, khiến bạn hủy hoại cả những kì vọng của người khác và do đó càng phá hỏng thành quả của mình. Cũng có bằng chứng cho rằng Hiệu ứng Golem và vòng tròn luẩn quẩn làm gia tăng những kì vọng tiêu cực có thể dẫn đến hậu quả là triệt phá hoàn toàn các tổ chức.[8]
03
Hiệu ứng Pygmalion và Golem đan xen trong cùng một tấm vải là thế giới của chúng ta. Hằng ngày, chúng ta làm cho nhau khôn ngoan hoặc ngu ngốc hơn, khỏe hoặc yếu hơn, nhanh hoặc chậm hơn. Chúng ta không thể kìm được việc để lộ những kì vọng, qua ánh nhìn, ngôn ngữ cơ thể và giọng nói của chúng ta. Những kì vọng của tôi về bạn sẽ quy định thái độ của tôi với bạn, và cách tôi đối xử với bạn, đến lượt nó lại ảnh hưởng đến những kì vọng của bạn và cách hành xử của bạn với tôi.
Nếu bạn nghĩ về nó, thì điều này đã đạt đến giới hạn cực điểm của điều kiện con người. Loài Homo puppy giống như một cái ăng-ten, liên tục hòa hợp với người khác. Ngón tay của ai đó bị kẹt ở cửa và khiến bạn lo lắng. Một người đi thăng bằng trên một sợi dây mỏng manh và bạn cảm thấy bụng mình nôn nao. Ai đó ngáp và bạn gần như không thể không ngáp theo. Chúng ta rất cố gắng phản chiếu lẫn nhau.
Trong phần lớn thời gian, sự phản chiếu này vận hành khá nhịp nhàng. Nó thúc đẩy việc gắn kết và những rung cảm tốt đẹp, như khi tất cả mọi người cùng nhau lướt trên sàn khiêu vũ. Bản năng tự nhiên của chúng ta khi phản chiếu người khác, thường có xu hướng được nhìn nhận bằng góc độ tích cực chính là vì lý do này, nhưng bản năng lại hoạt động theo hai cách. Chúng ta cũng phản chiếu những cảm xúc tiêu cực như căm ghét, ghen tị và tham lam.[9] Bên cạnh đó, khi chúng ta tiếp nhận những ý tưởng tồi của nhau – và cho rằng đó là những ý tưởng tất cả mọi người xung quanh chúng ta đều có – thì kết quả sẽ vô cùng tai hại.
Hãy xem những bong bóng kinh tế trong lịch sử. Vào năm 1936, nhà kinh tế học người Anh là John Maynard Keynes kết luận rằng có một đường song song nổi bật giữa các thị trường tài chính và các cuộc thi sắc đẹp. Hãy hình dung bạn được giới thiệu với hàng trăm thí sinh, nhưng, thay vì chọn lấy người bạn yêu thích, bạn lại phải chỉ ra người nào sẽ được những người khác thích.[10] Trong tình huống này, khuynh hướng của chúng ta là đoán xem người khác sẽ nghĩ gì. Cũng như vậy, nếu tất cả mọi người nghĩ: tất cả mọi người khác đều nghĩ rằng giá trị của một cổ phiếu sẽ tăng lên, thì giá trị cổ phiếu sẽ đi lên thật. Điều này có thể tiếp tục diễn ra trong khoảng thời gian dài, nhưng cuối cùng thì bong bong vỡ. Điều đó đã từng xảy ra, chẳng hạn như trào lưu mê hoa tulip diễn ra ở Hà Lan vào tháng Giêng năm 1637. Một củ tulip nhất thời bán được nhiều hơn gấp 10 lần mức lương trung bình của một thợ thủ công lành nghề, và chỉ vài ngày sau, củ hoa này trở thành vô giá trị.
Những bong bóng dạng này không khu biệt riêng với thế giới tài chính, mà chúng có thể xuất hiện ở khắp nơi. Dan Ariely, một nhà tâm lý học tại Đại học Duke, từng đưa ra một minh chứng tuyệt vời trong một bài giảng. Để giải thích cho lĩnh vực kinh tế học hành vi của mình, ông cung cấp cho các học viên những từ nghe vô cùng học thuật. Tuy nhiên, sinh viên không biết rằng tất cả mọi thuật ngữ ông sử dụng đều do máy tính tạo ra, ghép lại với nhau thành một loạt những từ ngẫu nhiên để tạo ra những câu vô nghĩa như “lý thuyết bí ẩn biện chứng” và “chủ nghĩa duy lý phản xây dựng mới”.
Các sinh viên của Ariely – ở một trong những đại học hàng đầu thế giới – chăm chú lắng nghe mớ ngôn ngữ hỗn độn này. Thời gian nhích dần. Chẳng ai cười. Chẳng ai giơ tay. Chẳng ai ra bất kì dấu hiệu gì rằng họ không hiểu.
Cuối cùng, Ariely nói: “Và điều này đưa chúng ta đến câu hỏi lớn… Tại sao lại không ai hỏi tôi cái mà #$?@! tôi đang nói đến là cái gì nhỉ?”[11]
Trong giới tâm lý học, những gì xảy ra trong phòng học đó được gọi là sự vô tri đa nguyên (pluralistic ignorance) – và đây không phải là một thuật ngữ do máy tạo ra. Về mặt cá nhân, sinh viên của Ariely nhận thấy họ không thể hiểu được bài giảng của ông, nhưng vì họ thấy bạn cùng lớp chăm chú lắng nghe nên họ cho rằng vấn đề là ở chính họ. (Hẳn là rất nhiều người đã quen với hiện tượng này, nhất là những người từng tham dự các hội nghị về những chủ đề như “đồng sáng tạo đột phá trong mạng xã hội mạng”).
Mặc dù ví dụ này vô hại, nhưng nghiên cứu cũng cho thấy hậu quả mà sự vô tri đa nguyên gây ra có thể rất kinh khủng – thậm chí làm chết người. Chẳng hạn như đối với việc uống rượu bia. Thử khảo sát riêng các sinh viên đại học, và hầu hết họ sẽ nói uống rượu bia đến mức say xỉn không phải là trò tiêu khiển ưa thích của họ. Nhưng vì họ thấy những sinh viên khác rất mê uống nên họ cố gắng bắt nhịp theo và rốt cuộc tất cả đều nôn mửa xuống cống.
Các nhà nghiên cứu đã soạn ra cả đống dữ liệu chứng minh rằng loại vòng xoáy tiêu cực này cũng có thể dẫn đến nhiều tệ nạn xã hội hơn như phân biệt chủng tộc, hiếp dâm tập thể, giết người vì danh dự, ủng hộ những kẻ khủng bố và các chế độ độc tài, thậm chí là cả nạn diệt chủng.[12] Mặc dù trong tâm trí, nhiều người lên án những hành vi này nhưng họ lại sợ rằng mình lẻ loi, do đó, họ quyết định xuôi theo dòng chảy. Rốt cuộc, nếu có một điều mà giống loài Homo puppy đấu tranh, thì đó là việc chống lại cả nhóm. Chúng ta thà chọn một cân của loại đau khổ tồi tệ nhất còn hơn là vài lạng xấu hổ hay khó chịu của xã hội.
Điều này khiến tôi rất băn khoăn: sẽ ra sao nếu những ý tưởng tiêu cực của chúng ta về bản chất con người thực tế là một dạng vô tri đa nguyên? Phải chăng, nỗi sợ rằng hầu hết mọi người đều tìm cách tối đa hóa lợi ích của họ, sinh ra từ giả định rằng đó cũng là những điều mà người khác nghĩ? Và rồi chúng ta chấp nhận một quan niệm ngờ vực khi, tận sâu thẳm, hầu hết chúng ta đều mong mỏi một cuộc sống tử tế và đoàn kết hơn?
Thỉnh thoảng tôi được người khác nhắc đến câu chuyện con kiến bị mắc kẹt cứ bò vòng quanh như thế nào. Kiến được lập trình để đi theo đường mòn pheromone✻ của nhau. Việc này sẽ tạo ra những con đường ngăn nắp của kiến, nhưng đôi khi một nhóm bị lạc hướng và kết cục là chúng “ngao du” theo một vòng tròn. Sau đó, hàng chục nghìn con kiến có thể bị mắc kẹt, cứ đi quanh vòng tròn rộng hàng chục mét. Chúng cứ đi mãi, đi một cách mù quáng cho tới khi kiệt sức, thiếu ăn và chết.
Thực tế, các gia đình, tổ chức, thậm chí cả quốc gia cũng có thể mắc kẹt trong những đường tròn kiểu này. Chúng ta cứ đi lòng vòng trong hình tròn mà không thoát ra được, giả định những điều xấu xa nhất về nhau. Rất ít người trong chúng ta phản kháng và vì thế chúng ta tiến tới sự sụp đổ của chính mình.
Đã 50 năm kể từ khi sự nghiệp của Bob Rosenthal bắt đầu, và cho đến hôm nay ông vẫn muốn tìm ra cách để sử dụng sức mạnh của kì vọng theo hướng có lợi cho con người. Vì ông biết rằng, cũng giống như sự thù ghét, sự tin tưởng cũng mang tính lây lan.
Tin tưởng thường bắt đầu khi ai đó dám “ngược dòng” – ai đó ban đầu bị mọi người xem là phi thực tế, thậm chí khờ khạo. Trong phần tiếp theo của cuốn sách này, tôi muốn giới thiệu với các bạn một vài cá nhân như vậy. Những nhà quản lý đặt trọn niềm tin vào nhân viên của mình. Những giáo viên để trẻ em tự do chơi đùa. Và các quan chức đối xử với công dân của mình như những người đầy sáng tạo, và đóng góp. Đó chính là những người được tiếp sức bởi điều mà William James gọi là “Ý chí tin tưởng”. Những người dám sáng tạo lại thế giới theo cách của chính họ.

