Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 17
17. NĂM KHÔNG LỤT
Thực vậy, vì sao lại nghi ngờ cõi nhân gian? Vì tôi không phải là người Trung Quốc như Quan. Với tôi, âm không phải là dương, và dương không phải là âm. Tôi không thể chấp nhận hai tình tiết mâu thuẫn là toàn bộ sự thực. Lúc Quan và tôi trở lại nhà Mẹ Lớn, tôi khẽ hỏi:
- Vì sao con gái bà Đỗ Lili chết?
- Ồ, đấy là một chuyện rất buồn, - Quan trả lời bằng tiếng Trung. - Có khi em không muốn biết.
Chúng tôi nín lặng. Tôi biết chị đợi tôi đề nghị lần nữa, nên cuối cùng tôi nói:
- Chị kể đi.
Quan đứng lại nhìn tôi:
- Em không sợ chứ?
Tôi lắc đầu và nghĩ, em biết địa ngục là gì đâu mà sợ? Lúc Quan bắt đầu nói, tôi run, và không phải vì trời lạnh.
Tên cô bé là Bánh Bao, khi bọn chị lên năm thì cô bé bị chết đuối. Bánh Bao cao ngang tầm chị, rất ít nói so với chị. Chính vì thế dì chị hay phàn nàn là chị nói quá nhiều.
- Nếu mày nói thêm lời nữa, tao sẽ tống mày đi ngay. Tao chưa bao giờ hứa với mẹ mày là sẽ nuôi mày. - Mẹ Lớn dọa.
Hồi ấy chị gầy giơ xương, nên có biệt hiệu là Bánh Đa, “một cái bánh mỏng tang”, Mẹ Lớn gọi thế, đầu gối và khuỷu tay chị lúc nào cũng ghẻ lở. Bánh Bao mập mạp, cánh tay và cẳng chân có nếp như một chiếc bánh bao hấp. Đỗ Vân đã tìm thấy nó trên đường - hồi đó tên bà Đỗ Lili là Đỗ Vân. Mẹ Lớn đặt tên cho Bánh Bao là Lili, vì khi mới đến làng này, nó chỉ nói mỗi một từ lili-lili-lili, như tiếng líu lo của chim vàng anh. Lili-lili-lili thốt ra từ cái miệng đỏ hồng như thể nó vừa cắn một quả hồng vàng còn non, tưởng là ngọt ai ngờ lại chát. Nó quan sát thế giới như một con chim nhỏ tìm kiếm nỗi hiểm nguy, mắt nó tròn và đen lay láy. Vì sao nó như thế thì chẳng ai biết ngoài chị, vì nó không bao giờ nói lấy một lời. Nhưng khi đêm đến, ánh đèn nhảy múa trên trần và tường nhà, đôi tay bé nhỏ trắng trẻo của nó bắt đầu nói. Chúng lượn và bổ nhào xuống thành những cái bóng, bay vút lên và bập bềnh, như những con chim lờ mờ xuyên qua đám mây. Mẹ Lớn quan sát và lắc đầu: Ái dà, lạ thật, lạ thật. Đỗ Vân thì cười như kẻ ngốc xem kịch. Chỉ có chị hiểu cái bóng của Bánh Bao nói gì. Chị biết đôi tay của nó không thuộc về thế giới này. Chị cũng là một đứa trẻ, vẫn gần với thời gian trước cõi đời này. Vì thế chị cũng nhớ chị từng có một linh hồn đã rời cõi đời này trong thân xác một con chim.
Trước mặt Đỗ Vân, cả làng đều cười và trêu:
- Con bé Bánh Bao nhà chị đặc biệt thật, nhỉ?
Nhưng bên ngoài sân nhà chúng tôi, họ xì xào những lời tồi tệ, sau rồi cũng lọt vào tai chúng tôi.
- Đứa con gái hư như thế rồi sẽ phát điên, - tôi nghe thấy bà hàng xóm Ngũ nói. - Gia đình nó chắc phải có tư tưởng tư sản. Đỗ Vân nên đánh nó thường xuyên, mỗi ngày ít nhất ba lần.
- Nó bị ma ám, - người khác nói. - Một phi công Nhật Bản rơi từ trên trời xuống chết, nhập vào người nó. Vì thế nó không nói được tiếng Trung, chỉ cằn nhằn và múa múa đôi bàn tay như một cái máy bay tự sát.
- Nó ngớ ngẩn, - một người hàng xóm khác nói. - Đầu nó rỗng như quả bầu đựng nước.
Nhưng Đỗ Vân thì cho rằng Bánh Bao không nói vì Đỗ Vân nói với nó. Một người mẹ luôn biết điều gì là tốt nhất cho con gái mình, thế chẳng đúng sao? Nó nên ăn gì, nghĩ gì, cảm nhận những gì. Đỗ Vân có lần nói đôi tay biết múa của Bánh Bao là một chứng cứ - chứng cứ đích thực! - rằng tổ tiên của nó là các phu nhân trong triều. Mẹ Lớn đáp:
- Ôi dào! Nó có đôi bàn tay phản cách mạng, rồi có ngày đến bị chặt phăng mất thôi. Tốt hơn hết là nó học ấn một ngón tay vào lỗ mũi và hỉ mũi vào lòng bàn tay.
Chỉ một việc Bánh Bao làm Đỗ Vân buồn. Những con ếch. Bánh Bao không thích những con ếch mùa xuân, da xanh, nhỏ bằng nắm tay nó. Vào lúc hoàng hôn, có thể nghe thấy chúng kêu như những cánh cổng ma: Oạp, oạp, oạp, oạp, oạp. Mẹ Lớn và Đỗ Vân xách giỏ và lưới rồi lội vào những cánh đồng ngập nước. Những con ếch này nín thở, cố náu mình yên lặng. Nhưng rồi chúng không nhịn được nữa: Oạp, oạp, oạp, oạp, oạp, còn to hơn trước, chúng rền rĩ cho người tình tìm thấy chúng.
- Ai mà mê được cái của ấy chứ? - Đỗ Vân hay đùa thế.
Mẹ Lớn luôn trả lời:
- Tôi đây, khi đã nấu xong.
Họ bắt những con vật si tình ấy mới dễ làm sao. Họ cho chúng vào giỏ, chúng sáng bóng như dầu trong ánh trăng. Đến sáng, Mẹ Lớn và Đỗ Vân đứng bên đường, rao:
- Ếch đây! Ếch tươi đây! Mười con một tệ đây!
Chúng tôi - Bánh Bao và tôi, - ngồi trên những cái thúng úp ngược, chống cằm vào lòng bàn tay, chẳng làm gì ngoài việc cảm thấy mặt trời đang lên, làm ấm một bên má, một cánh tay, một cẳng chân.
Dù có đắt hàng hay không, bao giờ Mẹ Lớn và Đỗ Vân cũng để dành ít nhất một tá ếch cho bữa trưa. Giữa buổi sáng, chúng tôi lê bước về nhà, bảy cái giỏ rỗng tuếch, một cái đầy một nửa. Đỗ Vân thò tay vào giỏ chộp một con ếch, còn Bánh Bao vội nấp sau lưng tôi. Tôi cảm thấy ngực nó phập phồng lên xuống, nhanh và khó khăn, giống hệt con ếch đang quằn quại trong tay Đỗ Vân, cổ họng nó phồng lên xẹp xuống.
- Nhìn kỹ nhé, - Đỗ Vân bảo Bánh Bao và tôi. - Đây là cách nấu ếch ngon nhất. - Bà lật ngửa con ếch và nhanh như chớp, chọc mũi kéo sắc vào lỗ đít nó rồi kéo ngược lên tận họng nó - giừgiừgiừgiừ! Ngón tay cái của bà thọc vào vết rạch rồi giật một cái thật mạnh, lôi tuột ra một bụng đầy những muỗi và ruồi nhặng. Kéo mạnh cái nữa vào cổ họng con ếch, bà tuốt da nó từ mõm đến đuôi, rồi cả bộ da ếch tuột khỏi các ngón tay bà như bộ nhung phục nhăn nhúm của một chiến binh cổ xưa. Sau đó là chát, chát, chát, con ếch bị chặt thành nhiều mảnh, thân và đùi, cái đầu quăng đi.
Trong lúc bà Đỗ Vân lột da ếch, hết con nọ đến con kia, Bánh Bao nhét nắm tay vào giữa hai hàm răng như một bao cát ngăn nước ở bờ sông. Không một tiếng thét nào lọt ra. Khi Đỗ Vân nhìn thấy vẻ khổ sở trên mặt Bánh Bao, bà nựng nịu bằng giọng ngọt ngào của người mẹ:
- Con à, đợi tí nhé. Mẹ nấu xong ngay đây.
Chỉ có tôi hiểu những lời nghẹn tắc trong khuôn miệng không gào thét của Bánh Bao. Tôi nhìn thấy trong mắt nó những điều nó từng trải qua, rõ ràng như những hồi ức của nó hiện giờ là của tôi vậy. Tiếng da lột khỏi thịt như cách cha mẹ nó chết. Nó đã quan sát việc đó từ một cành cây rậm lá, kín mít trên cao, nơi cha đặt nó lên. Trên cái cây ấy, một con vàng anh kêu ríu rít, đòi Bánh Bao rời xa tổ của nó. Nhưng Bánh Bao không dám động đậy, không dám kêu, không dám thút thít vì nó đã hứa với mẹ là im lặng. Chính vì thế Bánh Bao không bao giờ nói chuyện. Nó đã hứa với mẹ nó mà.
Trong mười hai phút, mười hai con ếch bay vèo vào chảo và nổ lốp bốp trong dầu, vài cái đùi tươi rói bắn khỏi chảo, một bàn tay Đỗ Vân chộp lấy, bàn tay kia vẫn đảo đều. Đỗ Vân làm món ếch rán rất ngon.
Nhưng Bánh Bao không còn lòng dạ nào thưởng thức món này. Trong ánh đèn mờ tỏ, nó ngắm chúng tôi ăn ngấu nghiến những con vật ngon lành, răng chúng tôi bận tìm những miếng thịt bé tí như những cái kim trên xương. Da ếch là ngon nhất, mềm và thấm đẫm gia vị. Món thứ hai tôi thích là những cái xương nhỏ giòn tan, những cái xương rất khỏe ở sát ngay trên bàn chân.
Đỗ Vân hay ngước nhìn và giục đứa con gái mới của bà:
- Đừng chơi nữa, ăn đi con, con ngoan của mẹ, ăn đi.
Nhưng bàn tay Bánh Bao vỗ và bay, vút lên thành những cái bóng. Đỗ Vân buồn lòng vì con gái không chịu ăn món bà nấu ngon nhất. Giá bạn nhìn thấy mặt Đỗ Vân lúc ấy, vô vàn thương yêu đứa con gái bà tìm thấy trên đường. Tôi biết Bánh Bao cố yêu thương Đỗ Vân bằng những mảnh còn lại trong trái tim nó. Nó lẽo đẽo theo Đỗ Vân đi khắp làng, giơ cánh tay lên cho người mẹ mới dắt. Nhưng trong những đêm ấy, khi lũ ếch kêu, khi Đỗ Vân xách những cái giỏ nhún nhảy, Bánh Bao chạy vào một góc, nép thật chặt và bắt đầu hát: Lili-lili-lili.
Tôi nhớ Bánh Bao như thế đấy. Nó và tôi là những người bạn nhỏ thân thiết. Chúng tôi sống trong cùng một nhà. Chúng tôi ngủ cùng giường. Chúng tôi yêu quý nhau như chị em. Không cần trò chuyện, đứa nọ vẫn hiểu ý nghĩ của đứa kia. Ở lứa tuổi non nớt ấy, chúng tôi đã biết đến nỗi buồn, và không chỉ của riêng chúng tôi. Cả hai đã biết đến nỗi buồn của cuộc đời. Tôi mất gia đình tôi. Bánh Bao mất gia đình nó.
Năm bà Đỗ Vân tìm thấy Bánh Bao trên đường là một năm kỳ lạ, một năm không lụt. Trước kia, làng tôi thường mưa quá nhiều, mỗi mùa xuân có ít nhất một trận lụt. Sông quét qua những ngôi nhà của chúng tôi bất thình lình, cuốn đi chuột bọ và côn trùng, dép và ghế trên sàn, rồi tống mọi thứ vào các cánh đồng. Nhưng năm Bánh Bao đến, không có trận lụt nào, chỉ mưa đủ cho mùa màng và ếch phát triển, đủ cho dân làng nói:
- Không lụt, sao chúng ta may thế? Có lẽ vì Đỗ Vân tìm thấy con gái trên đường. Phải, ắt hẳn nó là lý do.
Năm sau, trời không mưa. Các làng xung quanh nào mưa lớn, mưa nhỏ, mưa dài, mưa ngắn. Còn trong làng chúng tôi tịnh không một giọt. Không mưa cho cây vừng mùa xuân. Không mưa cho vụ hè. Không mưa cho vụ thu. Không mưa, không thu hoạch. Không có nước để nấu cơm, lúa không mọc nổi, không có cám bã nuôi lợn. Các cánh đồng lúa như những cùi bánh khô giòn, vẫy những cái râu lên trời. Vịt chết khô, chúng tôi ăn thịt vịt, cả da lẫn xương. Khi nhìn quá lâu lên các chóp núi, những cặp mắt đói khát của chúng tôi thấy những củ khoai lang nướng, vỏ nứt nẻ. Thật là một năm khủng khiếp, khủng khiếp đến mức dân làng nói chính Bánh Bao, cái con bé hâm hâm ấy ắt phải là nguyên nhân.
Một ngày nóng bức, Bánh Bao và tôi đang ngồi trong lòng mương đầy bụi, sát nhà chúng tôi. Chúng tôi đợi một con thuyền trong tưởng tượng đưa chúng tôi đến mảnh đất của bà chúa tiên. Bỗng chúng tôi nghe thấy tiếng âm âm trên trời, rồi một tiếng nữa, sau đó là một tiếng nổ chát chúa, và trận mưa lớn ào ào trút xuống. Tôi sung sướng và rất hãi! Sấm, chớp mỗi lúc một nhiều. Tôi kêu lên, con thuyền của chúng ta sắp đến. Bánh Bao cười to. Lần đầu tiên, tôi nghe thấy nó cười. Tôi thấy nó vươn đôi tay lên những ánh chớp lóe trên bầu trời.
Nước mưa chảy ồng ộc từ trên núi xuống, đầy các nếp gấp và mạch núi. Những chỗ lòng chảo không thể nuốt hết, quá nhiều nước mưa. Rồi rất nhanh, con thuyền mương tiện lợi này trở thành một dòng sông màu nâu, đẩy chân chúng tôi lên. Những luồng nước trắng xóa vồ lấy cổ tay và mắt cá bé nhỏ của chúng tôi. Chúng tôi bị cuốn lên quật xuống mỗi lúc một nhanh hơn, hết cánh tay lại đến bàn chân xuống trước, cho đến khi nước cuốn thẳng chúng tôi vào cánh đồng.
Sau này, tôi mới biết chuyện xảy ra qua những lời bàn tán. Khi Mẹ Lớn và Đỗ Vân vớt chúng tôi từ dưới nước lên, cả hai xanh xám và im lìm, quấn kín rong rêu như hai cái kén sũng nước, không một hơi thở. Họ moi bùn trong lỗ mũi và miệng chúng tôi, gạt rong rêu trên tóc chúng tôi. Thân hình gầy gò của tôi gãy thành nhiều mảnh, còn tấm thân khỏe mạnh của nó thì không sao. Họ mặc cho chúng tôi bộ quần áo liệm, rồi rửa sạch hai cái máng cho lợn ăn nay không cần nữa, bổ mấy cái ghế dài làm nắp. Họ cho chúng tôi vào những cỗ quan tài nhỏ khốn khổ đó rồi ngồi xung quanh và khóc lóc.
Chúng tôi nằm trong quan tài suốt hai ngày. Mẹ Lớn và Đỗ Vân đợi tạnh mưa mới có thể chôn chúng tôi vào chỗ đất lắm đá, không gì mọc được. Sáng hôm thứ ba, một trận gió lớn cuốn quang mây. Mặt trời mọc, Đỗ Vân và Mẹ Lớn mở quan tài nhìn mặt chúng tôi lần cuối cùng.
Tôi cảm thấy nhiều ngón tay lướt trên má tôi. Tôi mở mắt và nhìn thấy mặt Đỗ Vân, miệng bà há to vì vui mừng.
- Còn sống! - Bà kêu lên. - Nó còn sống! - Bà vồ lấy tay tôi và xát lên mặt bà. Rồi bộ mặt của Mẹ Lớn nhìn xuống tôi, tìm kiếm. Tôi bối rối, đầu tôi nặng như sương mù buổi sớm.
- Con muốn dậy. - Đấy là câu đầu tiên tôi nói. Mẹ Lớn nhảy lùi lại. Đỗ Vân buông bàn tay tôi. Tôi nghe thấy họ rú lên:
- Sao lại thế được! Không thể được!
Tôi ngồi dậy.
- Mẹ Lớn, có chuyện gì thế? - Tôi nói.
Họ bắt đầu gào thét, những tiếng gào thét rất to, kinh khủng đến nỗi đầu tôi tưởng chừng nổ tung vì hoảng sợ. Tôi thấy Mẹ Lớn chạy đến cỗ quan tài kia. Bà bật nắp. Tôi nhìn thấy mình. Thân hình tôi gãy vỡ mới tội nghiệp làm sao! Rồi đầu tôi quay cuồng, người tôi sụp xuống, tôi chẳng nhìn thấy gì cho đến chiều.
Khi tỉnh dậy, tôi đang nằm trên giường trước kia ngủ cùng Bánh Bao. Mẹ Lớn và Đỗ Vân đứng trên ngưỡng cửa.
- Mẹ Lớn, - tôi vừa nói vừa ngáp. - Con có một cơn ác mộng.
Mẹ Lớn bảo:
- Ái dà, xem này, nó nói đấy. - Tôi ngồi dậy, tụt xuống giường và Mẹ Lớn kêu. - Ái dà, nhìn kìa, nó cử động.
Tôi đứng dậy, phàn nàn là đói quá và muốn tè. Bà và Đỗ Vân rời khỏi ngưỡng cửa.
- Xéo đi hoặc tao sẽ quật mày bằng cành đào! - Mẹ Lớn quát.
Tôi nói:
- Mẹ Lớn, nhà ta không có cây đào.
Bà đưa tay bịt miệng. Hồi đó, tôi chưa biết người ta cho là ma quỷ sợ cành đào. Lẽ tất nhiên sau này tôi biết đó chỉ là mê tín. Vì tôi đã hỏi nhiều hồn ma, tất cả đều cười và nói:
- Sợ cành đào ư? Không có việc ấy đâu!
Dù sao, như tôi nói, bọng đái tôi sắp vỡ. Tôi lo nó vỡ thành nhiều mảnh, tôi nhảy lò cò và giữ nó thật chặt.
- Mẹ Lớn, - tôi nói, lần này lễ phép hơn. - Con muốn thăm đàn lợn.
Cạnh chuồng, chúng tôi có một cái hố nhỏ, một tấm gỗ đặt trên miệng hố cho bạn thăng bằng lúc làm cả hai việc. Đấy là trước khi làng tôi trải qua cuộc giáo dục lại về sự lãng phí tập thể. Sau đó, chẳng còn đủ cho thân thể, đầu óc và cả máu cho các việc thiện chung nữa - bạn phải quyên cả cứt của bạn, như đóng thuế ở Mỹ!
Nhưng Mẹ Lớn không nói tôi có thể đi thăm đàn lợn. Bà đến chỗ tôi và nhổ vào mặt tôi. Đây là một mê tín nữa về ma quỷ: nhổ vào chúng và chúng sẽ biến mất. Nhưng tôi không biến mất. Tôi đái ướt quần, một luồng nước âm ấm chảy nhỏ giọt xuống chân tôi thành vũng đen đen trên sàn. Tôi tin chắc Mẹ lớn sẽ đánh tôi, nhưng bà chỉ nói:
- Nhìn kìa, nó đang tè.
Đỗ Vân nói:
- Sao thế được? Ma quỷ không thể tè.
- Bà nhìn mà xem, bà ngốc thật. Nó đang tè kìa.
- Nó là ma hay không nhỉ?
Họ cứ nói, nói mãi, tranh cãi về màu sắc, mùi khai, kích thước vũng nước đái của tôi. Cuối cùng, họ đưa cho tôi một thứ để ăn. Họ cho rằng nếu tôi là ma, tôi sẽ nhận món hối lộ này và bỏ đi. Nếu tôi là một cô bé, tôi sẽ thôi kêu ca và ngủ lại, đấy là việc tôi làm sau khi ăn một nắm cơm nhỏ đã thiu. Tôi ngủ và mơ thấy mọi việc đã xảy ra như một phần của giấc mơ dài.
Sáng hôm sau, khi thức dậy, tôi lại kể với Mẹ Lớn tôi đã gặp ác mộng.
- Con vẫn buồn ngủ mà. Giờ thì dậy đi. Chúng ta sẽ đưa con đến gặp người làm con khỏi mơ.
Chúng tôi đến một ngôi làng có tên là Hoàn Châu, cách Xướng Miên sáu dặm1 về phía nam. Trong làng có một bà mù tên là Dì Ba. Bà không phải dì ruột của tôi. Bà chẳng là dì của ai hết. Dì Ba chỉ là một cái tên, người ta gọi khi muốn tránh từ “cô hồn”. Từ hồi trẻ, bà đã nổi tiếng khắp vùng là một cô hồn. Khi đến tuổi trung niên, một nhà truyền giáo Cơ đốc giải thoát bà và bà bỏ nói chuyện với các hồn ma, trừ Chúa Thánh thần. Khi bà đã già, Giải phóng quân Nhân dân đã cải tạo bà, và bà bỏ luôn cả Chúa Thánh thần. Khi già hơn, bà chẳng còn nhớ đã được giải thoát hay cải tạo nữa. Cuối cùng, bà đủ già để quên hết mọi danh hiệu người ta gọi bà.
Lúc chúng tôi vào phòng Dì Ba, bà đang ngồi trên ghế giữa phòng. Mẹ Lớn đẩy tôi lên trước.
- Cháu nó có bị sao không? - Đỗ Vân hỏi, giọng đầy trắc ẩn. Dì Ba cầm bàn tay tôi trong đôi tay thô ráp của bà. Bà nhìn màu trời và mây. Căn phòng lặng ngắt trừ tiếng thở của tôi. Cuối cùng, Dì Ba tuyên bố:
- Trong người cô bé này có một hồn ma.
Mẹ Lớn và Đỗ Vân há hốc miệng. Tôi nhảy dựng lên và đá, cố xua con quỷ đi.
- Chúng tôi có thể làm được gì? - Đỗ Vân khóc.
Dì Ba nói:
- Không gì hết. Cô bé trước kia sống trong thân xác này không muốn trở về. Còn cô bé đang ở trong đó giờ không thể rời đi, cho đến khi tìm thấy cô ta. - Lúc đó tôi nhìn thấy Bánh Bao đang nhìn tôi trừng trừng từ cửa sổ ở đầu kia căn phòng. Tôi chỉ vào nó và kêu:
- Nhìn xem! Nó kia kìa! - Tôi thấy nó chỉ vào tôi, cái miệng nhăn nheo của nó nói lời của tôi, tôi nhận ra rằng tôi đang nhìn hình ảnh phản chiếu của mình.
Trên đường về nhà, Mẹ Lớn và Đỗ Vân tranh cãi, nói những điều mà một cô bé không nên nghe thấy.
- Chúng ta nên chôn nó đi, vùi nó xuống đất. - Mẹ Lớn nói.
- Không, không, - Đỗ Vân rền rĩ. - Nó sẽ trở lại, vẫn là một hồn ma và đủ giận để đưa cả tôi lẫn bà đi theo nó.
Mẹ Lớn bảo:
- Đừng nói nó là hồn ma! Chúng ta không thể đưa một hồn ma về nhà. Dù nó có là… - chà, thế mới rắc rối chứ! - Chúng ta sẽ phải sửa đổi nó.
- Nhưng khi dân làng nhìn thấy con bé này, lại nghe thấy giọng con bé kia…
Lúc chúng tôi về đến Xướng Miên, Mẹ Lớn và Đỗ Vân quyết định sẽ giả vờ như không có chuyện gì xảy ra với tôi. Đây là thái độ con người phải chấp nhận nhiều việc trong đời. Cái sai giờ thành đúng. Cái đúng giờ đã ra đi. Vì thế nếu có ai nói:
- Chà, con bé này ắt là một hồn ma.
Mẹ Lớn sẽ trả lời:
- Này đồng chí, đồng chí nhầm rồi. Chỉ có bọn phản động mới tin vào ma quỷ.
Tại đám ma của Bánh Bao, tôi nhìn trừng trừng vào thân xác mình trong quan tài. Tôi khóc bạn tôi, tôi khóc cho mình. Những người đưa ma khác vẫn nhầm người chết. Họ khóc lóc và gọi tên tôi. Khi Mẹ Lớn sửa lại, họ lại khóc và kêu tên Bánh Bao. Rồi Đỗ Vân bắt đầu khóc than.
Nhiều tuần sau, tôi sợ mọi người nghe thấy giọng tôi thốt ra từ cái miệng nhăn nheo. Không ai nói chuyện với tôi. Không ai chạm vào tôi. Không ai chơi với tôi. Họ quan sát tôi ăn. Họ theo dõi tôi đi xuống đường làng. Họ rình xem tôi khóc. Một đêm kia, thức giấc trong bóng tối, tôi thấy Đỗ Vân ngồi cạnh giường tôi, cầu xin bằng giọng nhịp nhàng:
- Bánh Bao, của quý của mẹ, con hãy về nhà với mẹ.
Bà nhấc bàn tay tôi, đưa lại gần ánh nến. Khi tôi giật phắt lại, bà vẫy cánh tay lung tung trong không khí như một con chim gãy cánh, ôi, mới vụng về, mới thất vọng, mới buồn làm sao! Tôi cho rằng lúc đó bà bắt đầu tin mình thành đứa con gái. Đó là khi bạn có hòn đá tảng trong lòng mà không thể kêu lên, không thể tống ra. Nhiều người trong làng phải nuốt những tảng đá như thế này, và họ hiểu. Họ giả vờ như tôi không phải là ma. Họ giả vờ như tôi luôn luôn là cô bé mập mạp, còn Bánh Bao là cô bé gầy giơ xương. Họ giả vờ như không có chuyện gì xảy ra với người đàn bà giờ tự gọi mình là Đỗ Lili.
Đó là khi mưa lại đến, rồi lụt, rồi những người lãnh đạo mới nói chúng tôi phải làm việc chăm chỉ hơn để gột sạch Bốn Cũ, xây dựng Bốn Mới. Cây cối lớn lên, ếch nhái lại kêu ộp oạp, các mùa qua đi, một ngày bình thường tiếp sau ngày khác, cho đến khi mọi vật thay đổi rồi lại như cũ.
Một hôm, một người đàn bà ở làng khác hỏi Mẹ Lớn:
- Này, sao bà lại gọi đứa con gái béo kia là Bánh Đa?
Mẹ Lớn nhìn tôi, cố nhớ ra:
- Trước kia nó gầy giơ xương, - bà nói. - vì nó không chịu ăn thịt ếch. Giờ nó ăn không ngừng.
Thấy chưa, mọi người quyết không nhớ tới. Sau này, họ không nhớ thật. Họ đã quên một năm không lụt. Họ quên Đỗ Lili trước kia tên là Đỗ Vân. Họ quên cô bé chết đuối. Mẹ Lớn vẫn đánh tôi, có điều bây giờ tôi béo hơn nên nắm đấm của bà không còn làm tôi đau như trước.
Nhìn những ngón tay và bàn tay này xem. Đôi khi chính tôi cũng tin chúng là của tôi. Cái xác tôi tưởng trước kia là tôi, có lẽ chỉ là một giấc mơ tôi đã nhầm khi tỉnh lại. Nhưng tôi còn nhớ một giấc mơ khác.
Trong giấc mơ này, tôi đã đến Cõi Âm. Tôi đã thấy nhiều việc. Nhiều đàn chim, con bay đến, con bay đi. Bánh Bao bay liệng cùng cha và mẹ nó. Những con ếch tôi đã ăn ca hát, giờ chúng đã mọc da trở lại. Tôi biết tôi đã chết, và tôi nóng lòng gặp mẹ tôi. Nhưng chưa kịp tìm thấy bà, tôi đã thấy có người chạy đến với tôi, vẻ giận dữ và lo âu hiện rõ trên mặt.
- Con phải trở về đi, - bà khóc. - Trong bảy năm, mẹ sẽ tái sinh. Việc đó đã được thu xếp. Con đã hứa là đợi. Con quên rồi sao? - Rồi bà lắc tôi, lắc cho đến khi tôi nhớ ra.
Tôi bay trở lại cõi âm. Tôi cố trở lại thân xác tôi. Tôi xô và đẩy. Nhưng nó đã gãy vỡ, cái xác gầy guộc tội nghiệp của tôi. Rồi mưa tạnh. Mặt trời ló ra. Đỗ Vân và Mẹ Lớn mở nắp quan tài. Nhanh lên, nhanh lên, tôi nên làm gì đi chứ?
Hãy bảo chị đi, Libby-ah, chị đã làm sai phải không? Chị không còn lựa chọn khác. Làm sao chị có thể giữ lời hứa với em?

