Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 18

18. GÀ XUÂN SÁU CUỘN

- Giờ thì em nhớ chưa? - Quan hỏi.

Tôi sững sờ vì đôi má tròn trĩnh, nếp nhăn trên khuôn miệng nhỏ của chị. Nhìn chị giống như xem phim ba chiều: ẩn dưới bề mặt sáng bóng là hình ảnh ba chiều của cô bé bị chết đuối.

- Không, - tôi nói.

Quan - ra thế, người đàn bà này được khẳng định là chị tôi - thực ra là một người loạn trí tin rằng mình là Quan? Quan bằng xương bằng thịt đã chết đuối từ khi còn bé? Điều đó giải thích sự khác biệt giữa bức ảnh cô bé gầy gò mà cha đưa cho chúng tôi xem và cô gái mập mạp chúng tôi gặp ở sân bay. Nó cũng giải thích vì sao Quan không giống cha tôi hoặc các anh em trai và tôi tí nào.

Có lẽ mong ước từ thời ấu thơ của tôi đã thành sự thực: Quan thật đã chết, cả làng đẩy cho chúng tôi cô gái này, tưởng chúng tôi không biết sự khác biệt giữa ma và người tưởng mình là ma. Ngược lại, sao Quan không là chị tôi? Cuộc chấn thương nặng nề hồi thơ ấu làm chị tin mình đã thay đổi thân xác với một người khác? Dẫu chúng tôi không liên quan về mặt di truyền, chị vẫn là chị tôi chứ? Vâng, lẽ tất nhiên. Tôi chỉ muốn biết phần nào trong câu chuyện của chị là thật.

Quan mỉm cười với tôi, xiết chặt bàn tay tôi. Chị chỉ những con chim đang bay trên đầu. Biết đâu chị bảo chúng là những con voi. Ít ra sự điên rồ của chị là phù hợp. Ai có thể nói cho tôi biết sự thực? Đỗ Lili ư? Bà chẳng đáng tin hơn Quan. Mẹ Lớn đã chết. Chẳng người nào trong làng đủ già để nhớ lại mà kể lể mọi chuyện khác ở Xướng Miên. Nếu họ nói được tiếng phổ thông, tôi hỏi họ thế nào nhỉ?

- Xin hãy cho tôi biết, chị tôi có phải là chị thật không? Chị ấy là ma hay chỉ là người loạn trí?

Nhưng tôi không có thời gian để làm. Lúc này Quan và tôi đang đi qua cổng vào nhà Mẹ Lớn.

Trong căn phòng chính, chúng tôi thấy Simon và Đỗ Lili đang nói chuyện bằng thứ ngôn ngữ chung của các trò chơi. Simon lái chiếc ô tô tưởng tượng và kêu to: - Thế là tôi thò đầu ra và nói: “Nào, dịch cái mông đi!”. - Anh ta ấn vào cái còi vô hình, rồi - Brừ brừ-ta-ta!Brừ brừ-ta-ta! - bắt chước một tên côn đồ đang bơm lốp xe.

Đỗ Lili nói tiếng Xướng Miên, các âm thanh tương tự như “Hứ! Chẳng có gì”. Bà hành động như một người đi bộ đang kéo lê các bao tạp phẩm - các bao nặng, chúng tôi quan sát thấy bà duỗi cánh tay như những sợi mì. Bà bỗng ngước nhìn, nhảy lùi suýt dẫm lên ngón chân Simon và quăng các bao nặng trĩu lúc cái ô tô luồn lách như một con rắn lao vèo qua mũi bà và đâm vào đám đông. Hoặc có thể bà diễn tả vị trí của một cái cây. Dù thế nào thì những cành cây cũng bay tung toé trong không khí. Kết thúc tấn kịch nho nhỏ, bà tiến đến chỗ người lái xe và nhổ vào mặt anh ta, rồi tiếp tục xách cái bao cạnh giày Simon.

Quan huýt sáo và hò reo, tôi vỗ tay. Simon bĩu môi như người về đích thứ hai trong Queen for a day. Anh buộc tội Đỗ Lili cường điệu - có lẽ ô tô không phóng nhanh như một con rắn, mà chậm như một con bò què. “Bu-bu-bu!”- bà kêu to, cười khúc khích và dậm chân thình thịch. Vâng, có lẽ bà đang đi, đầu bà vẫn lơ mơ rằng bà đã gây nên tai nạn. “Bu-bu-bu!”. Lúc bà ta đấm thùm thụp vào lưng anh, Simon co rúm lại: - Thôi, thôi, bà thắng rồi! Lái xe của các vị còn tệ hơn!

Ngoài sự khác biệt về tuổi tác, trông họ như một cặp tình nhân mới đang tán tỉnh nhau, trêu đùa, chọc tức và tìm cớ để chạm vào nhau. Tôi cảm thấy nhói trong tim, dù đấy không thể là ghen tuông, vì ai mà nghĩ là hai người này - phải, dù câu chuyện Quan kể về Đỗ Lili và cô con gái đã chết của bà ta có thật hay không, có một điều thật chắc chắn: Đỗ Lili là loại bà già của thời trước kia.

Lúc trò chơi chấm dứt, bà ta và Quan dạt ra sân bàn xem làm món gì cho bữa tối. Lúc họ đã ra khỏi tầm nghe, tôi kéo Simon sang một bên: - Anh với bà Đỗ Lili chơi trò các lái xe tồi và mọi thứ như thế nào?

- Anh khởi đầu, cố kể cho bà ấy nghe về chuyến đi hôm qua với Rocky, về vụ tai nạn.

Tôi bèn thuật lại tỉ mỉ cho anh những điều Quan đã kể với tôi.

- Vậy anh nghĩ sao?

- Thứ nhất, anh thấy bà Đỗ Lili không điên, Quan cũng không điên. Thứ hai, họ bịa những câu chuyện cũ như nhau, em đã nghe suốt đời rồi.

- Nhưng chuyện này khác hẳn. Anh không thấy sao? Có khi Quan không phải là chị gái em.

Anh cau mày:

- Sao chị ấy lại không thể là chị của em? Dù không cùng dòng máu, chị ấy vẫn là chị gái của em.

- Vâng, nhưng như thế nghĩa là còn có một cô gái khác cũng là chị của em.

- Dù có thế đi nữa, em định làn gì? Từ bỏ Quan ư?

- Tất nhiên là không! Chỉ là… em cần biết chắc chắn những chuyện đã xảy ra.

Anh nhún vai:

- Vì sao? Có gì khác đâu? Mọi sự anh biết là những gì anh nhìn thấy. Với anh, bà Đỗ Lili có vẻ là một bà già dễ chịu. Quan là Quan. Làng này rất tuyệt. Anh mừng đã ở đây.

- Còn Đỗ Lili thì sao? Anh có tin khi bà ta bảo là mới năm mươi tuổi? Hoặc anh tin Quan bảo Đỗ Lili là…

Simon cắt lời:

- Có khi em không hiểu lời Đỗ Lili nói. Chính em nói là em chưa thạo tiếng Trung lắm.

Tôi khó chịu:

- Em chỉ nói là em không nói thạo như Quan.

- Có lẽ Đỗ Lili dùng lối ẩn dụ, chẳng hạn “non như gà mùa xuân”. - Giọng anh tự tin vào lý lẽ của đàn ông. - Có khi em hiểu theo nghĩa đen là bà tưởng mình là một con gà.

- Bà ấy không nói bà là một con gà. - Thái dương tôi đập dồn.

- Thấy chưa, giờ em lại hiểu anh theo nghĩa đen rồi. Anh chỉ lấy ví dụ là…

Tôi mất bình tĩnh:

- Tại sao lúc nào anh cũng phải chứng minh mình đúng thế?

- Này, sao vậy? Anh tưởng chúng mình chỉ nói chuyện ở đây. Anh không thử…

Lúc đó tôi nghe thấy tiếng Quan kêu to từ ngoài sân:

- Libby-ah! Simon! Nhanh lên! Chúng tôi nấu bây giờ. Các vị có muốn chụp ảnh không?

Vẫn còn cáu, tôi chạy vào phòng Mẹ Lớn lấy dụng cụ. Còn chuyện này: cái giường cưới. Đừng nghĩ đến nó nữa, tôi tự nhủ. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi nhìn đồng hồ: gần như nhá nhem, nửa giờ vàng. Nếu từng có một thời gian và địa điểm cho phép tôi trút mọi cảm xúc nồng nàn vào công việc thì chính là đây, ở Trung Quốc, nơi tôi không kiềm chế được, nơi mọi thứ không sao đoán trước, hoàn toàn mất trí. Tôi cầm chiếc Leica, rồi nhét mười cuộn phim tốc độ cao vào túi áo khoác.

Trong sân, tôi lấy một cuộn phim đã đánh số và lắp. Sau khi mưa to, bầu trời khô ráo một màu xanh dịu, điểm những đám mây bồng bềnh sau đỉnh núi. Tôi hít thật sâu và ngửi mùi khói củi trong bếp của năm mươi ba hộ ở Xướng Miên. Ở phía dưới, phảng phất mùi phân ngấu.

Tôi tìm kiếm các yếu tố của quang cảnh. Những bức tường gạch-bùn của mảnh sân sẽ là nền rất tốt. Tôi thích bố cục gồ ghề, thoáng màu cam. Tránh cái cây ở giữa sân có lá màu nhợt. Chuồng lợn để cận cảnh, có vị trí đẹp ở bên phải sân, dưới mái hiên lợp rạ bờm xờm. Nó giản dị một cách quê mùa, giống như cái máng ăn trong vở kịch Giáng sinh của trẻ con. Nhưng thay cho Chúa Jesus, Đức Mẹ Maria và Joseph là ba chú lợn đầm trong phân chuồng. Có nửa tá gà, con mất một chân, con mất mỏ. Tôi nhảy nhót theo một vòng cung hết mở rộng lại thu hẹp quanh đề tài của tôi. Liếc nhìn, tôi thấy một xô nước gạo đầy cháo màu xam xám và ruồi. Một cái hố hôi thối khủng khiếp, một hố chứa nước đen ngòm. Tôi cúi xuống nhìn thoáng con vật lông xám lăn lộn cùng những búi rơm lúc nhúc giòi.

Cuộc sống hiện giờ ở Xướng Miên có vẻ như không đem lại hiệu quả mong muốn. Lẽ ra tôi nên “hình dung trước” khoảnh khắc tôi muốn, sẵn sàng thích ứng với những gì có sẵn một cách tự nhiên. Nhưng trong đầu tôi chỉ có hình ảnh các độc giả giàu có lật qua tạp chí du lịch hợp thời chuyên về các hình ảnh điền viên của các nước thế giới thứ ba. Tôi biết dân chúng muốn xem những gì. Chính vì thế tôi hay cảm thấy bất mãn về công việc, trước khi lược bỏ thành một thứ tẻ ngắt nhưng an toàn. Không phải vì tôi muốn chụp những bức ảnh cố tình không tâng bốc. Sẽ không có thị trường cho chúng, và nếu có thì hiện thực nghiệt ngã sẽ làm cho dân chúng có ấn tượng sai, rằng mọi thứ ở Trung Quốc là thế này đây, lạc hậu, mất vệ sinh, cực kỳ nghèo khổ. Tôi thấy ghét mình đủ chất Mỹ để có những đánh giá như vậy. Sao tôi cứ hay lược bỏ thế giới thực? Vì lợi ích của ai kia chứ?

Phải lừa tạp chí. Mặc kệ ấn tượng đúng hay sai. Tôi kiểm tra ánh sáng, mở ống kính. Tôi sẽ cố hết sức bắt lấy khoảnh khắc và cảm xúc của nó. Lúc đó tôi phát hiện ra Đỗ Lili đang lom khom cạnh máy bơm tay, lấy nước vào một cái xoong. Tôi xoay quanh bà, điều chỉnh tiêu điểm, và bắt đầu chụp. Nhưng vừa nhìn thấy máy ảnh của tôi, bà nhảy dựng lên lấy điệu bộ và kéo mạnh gấu chiếc áo khoác màu xanh cũ kỹ. Chẳng tự nhiên tí nào.

- Bà không phải đứng yên, - tôi gọi bà. - Cứ cử động tự nhiên. Quên tôi đi. Bà muốn gì làm nấy.

Bà gật đầu, rồi đi quanh sân. Bà cần cù để quên sự có mặt của máy ảnh, bà ngắm chiếc ghế đẩu, ra hiệu với những cái giỏ treo trên cây, ngạc nhiên vì một cái rìu dính đầy bùn, như thể bà đang trưng bày các thứ báu vật vô giá của quốc gia.

- Một, hai, ba, - tôi đếm rành rọt bằng tiếng Trung, rồi bấm vài kiểu ở các tư thế cho bà thỏa mãn. - Tốt. Rất tốt. - Tôi nói. - Cảm ơn bà.

Nom bà lúng túng:

- Tôi làm hỏng phải không? - Bà hỏi, giọng của một đứa trẻ ai oán. Chao ôi, bà vẫn đang đợi ánh đèn chớp, tiếng lách cách của màn trập mà chiếc Leica không có. Tôi quyết nói dối bà một câu nho nhỏ.

- Tôi không chụp ảnh thật đâu, - tôi giải thích. - Tôi chỉ ngắm thôi.

Bà mỉm cười yên tâm và trở lại chuồng lợn. Lúc bà mở cửa chuồng, đàn lợn khụt khịt và chạy túa đến bà, nghếch mõm lên, ngửi ngửi tìm thức ăn. Mấy con gà cảnh giác chạy quanh bà cũng với lý do tương tự.

- Một con béo ngon đây, - Đỗ Lili nói lúc cân nhắc, lựa chọn. Tôi loanh quanh trong sân, lén lút như một tên trộm, cố không thu hút sự chú ý trong lúc tìm tòi kết hợp tốt nhất chủ đề, ánh sáng, nền và khuôn hình. Mặt trời lặn thêm một chút, những tia sáng lọt qua vòm cây, trải ánh sáng ấm áp lên bộ mặt hiền lành của Đỗ Lili. Bản năng của tôi tiếp tục với một chút cầu may. Tôi cảm thấy sự biến đổi, sức mạnh trỗi dậy, sự kiềm chế lơi lỏng. Lúc này tôi bấm liên tiếp giữa các hơi thở. Không như các máy ảnh khác làm tôi khó nhìn trong lúc màn trập mở, chiếc Leica cho tôi thấy khoảnh khắc tôi bắt chợt: bàn tay mờ mờ của Đỗ Lili tóm lấy con gà, những con khác nhao nhác, đàn lợn cùng rống lên như một đội hành khúc. Tôi bấm vài kiểu Simon đang ghi chép để làm chú thích. Cảnh này y hệt những ngày xưa, chúng tôi làm việc cùng nhau rất nhịp nhàng. Trong những lúc này, anh không còn cái kiểu rồi-đâu-sẽ-vào-đấy cố hữu nữa. Cái nhìn của anh rất mạnh mẽ. Anh liếc nhìn tôi và mỉm cười.

Tôi xoay máy trở lại Đỗ Lili. Bà đang đến chỗ cái bơm nước, con gà quang quác trong tay bà. Bà giơ con gà lên trên cái bát tráng men trắng đặt trên chiếc ghế dài. Bàn tay trái của bà nắm chặt cổ gà. Bàn tay kia cầm con dao nhỏ. Bà định làm cái quái gì vậy, chặt phăng đầu gà bằng con dao kia ư? Qua ống kính, tôi thấy bà ấn lưỡi dao vào cổ gà. Bà chầm chậm đưa đi đưa lại. Một tia máu nhỏ vọt ra. Tôi sững người như con gà vậy. Bà đung đưa con gà cho cổ nó chúc xuống, và máu bắt đầu chảy nhỏ giọt vào cái bát trắng tinh.

Tôi nghe thấy đàn lợn kêu ré lên ở đằng sau. Chúng kêu ré lên thực sự, y như con người lúc sợ hãi. Có ai đó đã kể với tôi rằng loài lợn có thể phát sốt đến chết khi bị đưa đến lò mổ, chúng đủ khôn ngoan để biết cái gì đang đợi. Lúc này tôi tự hỏi liệu chúng có thông cảm với cơn đau của con gà đang giãy chết kia không. Đấy là chứng cứ của trí óc hay của tâm hồn? Mặc dù đã từng chụp nhiều ảnh các ca mổ tim và ghép thận, tôi vẫn thấy buồn nôn. Song tôi vẫn chụp. Tôi thấy Simon không còn ghi chép nữa.

Khi tiết đầy nửa bát, Đỗ Lili thả rơi con gà xuống đất. Chúng tôi quan sát nó nghiêng ngả và giãy, mất vài phút khổ sở. Cuối cùng, mắt nó đờ ra, nó sụp xuống. Nếu Đỗ Lili tin bà là Bánh Bao, chắc chắn bà đã mất hẳn sự cảm thông với các loài chim chóc.

Simon đến gần tôi:

- Man rợ kinh khủng. Anh không biết vì sao em vẫn chụp được.

Nhận xét của anh làm tôi phát tức:

- Anh bỏ cái lối cho mình là hơn đi. Anh tưởng giết gà ở Mỹ thì nhân đạo hơn chắc? Dù sao thì bà ấy cũng làm theo kiểu không có chất độc hại. Giống như một truyền thống, một quá trình đàng hoàng hoặc gì đó.

- Đàng hoàng cái con tườu! Đàng hoàng là giết con vật thật nhanh để nó không khổ sở. Máu bị cạn kiệt sau khi con vật chết, rồi quẳng đi.

- Em vẫn cho bà ấy làm thế vì lý do sức khỏe. - Tôi quay sang Đỗ Lili và hỏi bà bằng tiếng Trung.

- Bu-bu, - bà đáp, rồi vừa lắc đầu vừa cười. - Sau khi lấy đủ tiết, tôi thường cắt phăng đầu gà. Nhưng lần này tôi để con gà giãy giụa một chút.

- Vì sao?

- Vì cô! - Bà vui vẻ nói. - Để cô chụp ảnh! Như thế kích thích hơn, cô đồng ý không? - Lông mày bà nhướn lên lúc bà đợi tôi cảm ơn. Tôi vờ cười.

- Thế nào? - Simon nói.

- Đó là…vâng, anh đúng, nó không đàng hoàng. - Tôi không thể làm gì hơn là nhìn vẻ tự mãn trên mặt anh. - Không đàng hoàng kiểu Do Thái, - tôi nói thêm. - Nó giống một nghi lễ cổ Trung Hoa hơn, một lễ tẩy rửa linh hồn… cho gà. - Tôi lại chăm chú vào kính ngắm.

Đỗ Lili ném con gà vào nồi nước đang sôi. Rồi bằng tay không, bà nhúng con gà như vò áo. Lòng bàn tay bà phủ đầy chai như đeo găng amiăng. Ban đầu, trông bà như nựng nịu con gà chết, vỗ về an ủi nó. Nhưng mỗi cái tuốt là sạch một nắm lông, cho đến lúc bà lôi con gà khỏi chậu, da nó hồng hào, đầy lỗ chân lông.

Simon và tôi theo Đỗ Lili lúc bà cầm con gà qua sân, vào bếp. Mái bếp thấp nên chúng tôi phải lom khom để khỏi cụng đầu. Quan rút một mớ củi cành từ một góc tối tăm ở đằng sau, đút vào miệng lò bằng gạch bùn đang cháy rừng rực. Trên ngọn lửa là một thứ to đủ nấu một con lợn đực. Chị cười toe toét: - Ảnh đẹp chứ?

Làm sao tôi có thể ngờ chị không phải là chị tôi? Tôi tự nhủ, đấy chỉ là những câu chuyện. Chị có óc tưởng tượng điên rồ.

Quan moi ruột gà bằng một động tác, rồi chặt nhỏ, đầu, chân, phao câu, chị đổ tuột các miếng vào nồi nước dùng đang sủi tăm. Chị cho vào hỗn hợp này vài nắm xanh xanh, nom giống như cải chân vịt.

- Tươi lắm, - chị nói tiếng Anh, lưu ý Simon. - Mọi thứ đều tươi.

- Hôm nay chị đi chợ à?

- Chợ nào? Làm gì có chợ. Ở trong sân, tự hái. - Simon ghi lại.

Lúc này, Đỗ Lili mang bát tiết gà vào. Nó đông cứng và có màu như thạch dâu tây. Bà cắt tiết thành những miếng hình khối rồi khuấy vào món hầm. Lúc tôi quan sát màu đỏ xoáy cuộn, tôi nghĩ đến các mụ phù thuỷ trong Macbeth, mặt họ được ngọn lửa chiếu sáng, khói từ vạc bốc lên. “Giống như thứ nước dùng đang sôi và sủi tăm ở địa ngục để làm bùa mê đầy quyền năng”, - tôi đọc.

Simon ngước nhìn.

- Này, đúng câu anh đang nghĩ. - Anh cúi người ngửi mùi món hầm. - Đây là thứ chất liệu tuyệt vời.

- Đừng quên là chúng mình phải ăn thứ chất liệu tuyệt vời này.

Khi lửa tắt, nguồn sáng của tôi mới có giá trị. Tôi nhét chiếc Leica vào túi áo khoác. Lạy Chúa! Tôi đói quá! Nếu tôi không ăn thịt gà và thứ nước dùng có tiết của nó, tôi còn lựa chọn nào khác đâu? Không có giăm bông và phó mát trong tủ lạnh, không có cả tủ lạnh. Nếu tôi muốn có giăm bông, tôi phải giết thịt những con lợn đang kêu ầm ĩ kia trước đã. Nhưng chẳng có thời gian để cân nhắc các chọn lựa. Lúc này, Quan đang cúi người, nắm quai chảo to đùng. Chị nhấc bổng nó lên.

- Ăn nào, - chị tuyên bố.

Đỗ Lili đã nhóm một đống lửa nhỏ trong một cái kiềng bằng sắt đặt giữa sân. Quan đặt cái chảo lên kiềng và Đỗ Lili đặt bát, đũa và chén uống trà. Theo chỉ dẫn của bà, chúng tôi ngồi xổm quanh chiếc bàn ăn làm vội của chúng tôi.

- Ăn đi, ăn đi, - Đỗ Lili nói, bà dùng đũa ra hiệu cho Simon và tôi. Tôi nhìn cái chảo, tìm thứ gì giống giống với thứ thịt đóng gói ở siêu thị. Nhưng tôi chưa kịp tìm, bà Đỗ Lili đã múc một cái chân gà trong món hầm và thả vào bát tôi.

- Không, không. Bà ăn đi, - tôi phản đối bằng tiếng Trung. - Tôi có thể tự lấy.

- Đừng lịch sự nữa, - bà thuyết phục. - Ăn đi kẻo nguội.

Simon cười điệu. Tôi chuyển cái chân gà vào bát anh.

- Ăn đi, ăn đi, - tôi nói với nụ cười duyên dáng, rồi chọn một cái đùi gà. Simon rầu rĩ, trừng trừng nhìn cái chân gà trước kia nhảy nhót. Anh thận trọng cắn một miếng và nhai, vẻ ngẫm nghĩ. Lát sau, anh lễ phép gật đầu với bà Đỗ Lili và nói: - Hừm ừm. Ngon, rất ngon. - Nhìn vẻ rạng rỡ của bà, có thể tưởng như bà vừa thắng ở vòng cuối cuộc thi nấu ăn.

- Cậu nói thế thật dễ thương.

- Nó ngon thật, - Simon nói. - Không phải tôi nói vì lịch sự đâu.

Tôi thong thả nhai ở mép đùi gà và nhấp một ngụm rượu. Tôi nhai, để nó lăn trên lưỡi. Không có mùi tiết. Thịt thơm ngon lạ lùng, mềm như nhung! Tôi cắn sâu thêm, đến tận xương. Tôi uống ngụm nước dùng, vị ngon và ngậy như bơ. Tôi sục vào nồi và vớt một cái cánh. Tôi nhai và rút ra kết luận rằng những con gà thả ở sân của Trung Quốc ngon hơn hẳn gà Mỹ trong bãi chăn thả. Chúng ăn gì mà có hương vị thơm ngon đến thế? Hay vì có tiết trong nước dùng?

- Em chụp hết mấy cuộn phim? - Simon hỏi.

- Sáu, - tôi nói.

- Vậy chúng ta gọi món này là gà xuân sáu cuộn nhé.

- Nhưng đang là mùa thu.

- Anh gọi thế để tôn vinh bà Đỗ Lili, người không phải là gà mùa xuân như em nói đâu. - Simon run run và năn nỉ theo kiểu Quasimodo. - Xin bà chủ, đừng đánh tôi.

Tôi làm dấu thập giá trên đầu anh:

- Thôi được. Ta tha thứ cho ngươi, tên ngốc của ta.

Đỗ Lili giơ chai rượu trong veo:

- Khi cách mạng văn hoá chấm dứt, tôi đã mua chai vang này, - bà tuyên bố.- Nhưng suốt hai chục năm qua, tôi chẳng có lý do gì để ăn mừng. Tối nay, tôi có ba lý do, - bà nghiêng chai vào chén của tôi, thở dài một tiếng Ahàààà như đang điều hoà thận, chứ không phải rót vang cho chúng tôi. Khi chén của chúng tôi đã đầy, bà nâng chén: - Cạn chén!- Rồi uống từng ngụm một cách ồn ào, từ từ ngửa cổ ra sau cho đến khi hết sạch.

- Thấy chưa? - Quan nói bằng tiếng Anh. - Phải dốc ngược chén ra sau, dốc mãi, cho đến khi cạn. - Chị biểu diễn bằng tiếng ầm ầm của chị. Ahàààà!- Đỗ Lili rót cho mình và Quan lần nữa.

Nếu Quan, bà chúa kiêng rượu, có thể uống như thế này, hẳn là rượu không nặng. Simon và tôi chạm cốc, rồi dốc tuột chỗ rượu vào họng, và ngay lập tức thở hổn hển như những người thành phố khôn khéo trong một quán rượu cao bồi. Quan và Đỗ Lili vỗ đầu gối và cười như nắc nẻ. Họ chỉ vào chén của chúng tôi, vẫn còn một nửa.

- Gì thế này? - Simon thở hổn hển. - Tôi tưởng như vừa cắt amiđan.

- Ngon, hả? - Quan rót đầy chén cho anh trước khi anh kịp từ chối.

- Nó có mùi như bít tất ẩm, - anh nói.

- Kẹo ngọt1? - Quan uống ngụm nữa, chép môi và gật đầu tán thưởng.

Ba tuần rượu và hai mươi phút sau, đầu tôi vẫn tỉnh táo nhưng chân tôi phải đi ngủ. Tôi đứng dậy, chân run run, tôi nhăn nhó vì chân tê tê. Simon cũng thế.

- Nó có mùi như cứt. - Anh dang rộng cánh tay. - Nhưng em biết không, anh cảm thấy tuyệt vời.

Quan dịch cho Đỗ Lili:

- Cậu ấy nói, không tồi.

- Các vị gọi thứ đồ uống này là gì? - Simon hỏi. - Có lẽ chúng ta nên mang một ít về Mỹ.

- Thứ này, - Quan nói và ngừng lại nhìn vào chén, vẻ tôn sùng. - Chúng tôi gọi là vang ngâm chuột, hay đại loại như thế. Rất nổi tiếng ở Quế Lâm. Vị ngon và tốt cho sức khỏe. Làm lâu lắm. Mươi, có khi hai mươi năm. - Chị ra hiệu cho bà Đỗ Lili và đề nghị bà cho xem cái chai. Chị đưa nó cho Simon và tôi. Chai đã gần hết.

- Cái gì dưới đáy thế này? - Simon hỏi.

- Chuột, - Quan nói. - Chính vì thế người ta gọi là vang ngâm chuột.

- Có thật thế không?

- Cứ nhìn xem. - Quan chỉ vào đáy chai. - Chuột đây này.

Chúng tôi nhìn. Chúng tôi thấy thứ gì xam xám. Một cái đuôi. Tôi thoáng nghĩ tôi sẽ nôn. Nhưng thay vào đó, Simon và tôi nhìn nhau và cả hai phá lên cười lăn lóc. Cười không thể dừng. Chúng tôi cười cho đến khi nghẹn thở, đau quặn ruột gan.

- Sao chúng mình lại cười nhỉ? - Simon nói hổn hển.

- Chắc chúng mình say mất rồi.

- Anh không cảm thấy say. Anh nghĩ, ờ, tốt quá, thật may là chúng ta còn sống.

- Em cũng vậy. Anh nhìn những ngôi sao kìa. Hình như chúng to hơn? Không chỉ sáng hơn, mà còn to hơn? Em cảm thấy mình bé lại, còn mọi vật dường như lớn hơn.

- Trông em giống một con chuột bé tí, - Quan nói.

Simon chỉ bóng những quả núi nhô lên trên bức tường bao sân:

- Còn những chóp núi kia, - anh nói. - Chúng thật hùng vĩ.

Chúng tôi lặng lẽ, chăm chú ngắm các ngọn núi, Quan huých tôi.

- Em có thể nhìn thấy con rồng, - chị nói. - Hai con rồng sát bên nhau. Thấy chưa?

Tôi liếc nhìn. Quan chộp lấy vai tôi và xoay tôi đúng vị trí.

- Nhắm chặt mắt lại, - chị ra lệnh. - Gạt lối nghĩ của người Mỹ khỏi đầu. Nghĩ như người Trung Quốc. Nghĩ như đang mơ. Hai con rồng, một đực, một cái.

Tôi mở mắt. Dường như tôi đang quan sát quá khứ rất gần, còn hiện tại như một giấc mơ lùi xa: - Các đỉnh núi uốn lượn lên xuống, - tôi nói, vẽ phác trong không khí, - Đấy là hai xương sống, đúng không? Hai chóp núi đằng trước vuốt lại thành các núi nhỏ là hai đầu rồng, thung lũng xen giữa hai hàm rồng.

Quan vỗ vào cánh tay tôi, như thể tôi là một học sinh đọc thuộc lòng bài địa lý: - Một số người nghĩ: “Ồ, làng nằm ngay cạnh hàm rồng là không hợp phong thủy, không hài hòa”. Nhưng theo chị, tất cả tùy thuộc vào loại rồng gì. Hai con rồng này rất trung thành, có khí tốt - tiếng Anh nói thế nào nhỉ?

- Rung cảm tốt, - tôi nói.

- Phải, phải, rung cảm tốt. - Chị dịch cho Đỗ Lili những điều chúng tôi đang nói.

Đỗ Lili cười phá rất to. Bà nói một thôi bằng tiếng Xướng Miên và bắt đầu ngân nga: Đa, đi-đa-đa.

Quan đáp lại:

- Đi-đa-đa-đa. - Rồi chị bảo chúng tôi. - Ngồi xuống, Simon, Libby-ah. Đỗ Lili nói chị có thể kể cho các em nghe về tình sử của rồng.

Chúng tôi như các em mẫu giáo vây quanh đống lửa trại. Cả Đỗ Lili cũng ngả người về phía trước.

- Chuyện là thế này, - Quan bắt đầu, và Đỗ Lili mỉm cười tuồng như bà hiểu tiếng Anh. - Ngày xửa ngày xưa, có hai con rồng đen, chồng và vợ, sống dưới đất gần Xướng Miên. Mỗi mùa xuân tới, chúng tỉnh dậy, trồi lên khỏi mặt đất như quả núi. Bên ngoài, hai con rồng trông như người, chỉ khác là da đen, và rất khỏe. Trong một ngày, cả hai có thể đào một con mương quanh làng. Nước từ trên núi xuống, chảy vào mương. Dù trời không mưa cũng chẳng sao, vẫn đủ nước để trồng trọt. Libby-ah, em gọi loại tưới nước, tự chảy này là gì?

- Thủy lợi.

- Đúng, đúng. Như Libby-ah nói, bị chọc tức2 …

- Thủy lợi.

- Ờ, thì tưới, làm thủy lợi, chúng làm cho cả làng. Vì thế ai cũng quý mến hai con rồng đen này. Hàng năm, dân làng tổ chức một bữa tiệc lớn ăn mừng chúng. Nhưng một hôm, Thần Nước thuộc loại kém cỏi thực sự, tức phát điên: “Kẻ nào dám lấy nước ở sông của ta, không được ta cho phép?”

- Khốn nạn. - Simon bật ngón tay đánh tách. - Thực trạng về nước. Bao giờ cũng vậy.

- Đúng, đúng. Thế là đánh nhau, đánh nhau rất to. Sau này, Thần Nước thuê một số tên hung hãn ở bộ tộc khác, không ở làng chúng tôi mà ở rất xa. Có lẽ là Hawaii. - Chị huých Simon. - Này, đùa đấy, tôi chỉ đùa thôi! Không phải người Hawaii đâu. Tôi không biết là ở đâu. Bọn chúng dùng cung tên giết chết hai vợ chồng con rồng, đâm thủng người chúng, khắp mọi chỗ. Trước khi chết, chúng biến thành rồng và bò trở lại vào lòng đất. Thấy chưa! Lưng chúng giờ nom như sáu quả núi. Còn những chỗ tên xuyên vào, thành mười ngàn cái hang, tất cả xoắn với nhau dẫn đến một chỗ. Giờ mỗi khi trời mưa, nước chảy từ núi, đổ qua các lỗ thủng đó như những giọt nước mắt, chảy xuống không ngừng. Đến chân núi thành lũ! Năm nào cũng thế.

Simon nhăn mặt.

- Tôi không hiểu. Nếu năm nào cũng lũ, thì khí tốt cái gì?

- Xì! Lũ chưa đủ lụt! Chỉ là lũ nhỏ. Đủ rửa sạch mặt đất. Trong đời tôi, chỉ có một trận lụt lớn, vì hạn hán kéo dài. Vì thế khá là may mắn.

Tôi nhớ chị chỉ sống ở Xướng Miên mười tám năm trước khi sang Mỹ. Nhưng làm hỏng câu chuyện của chị và thời gian thảnh thơi của chúng tôi làm gì?

- Còn Thần Nước? - Tôi hỏi.

- Ồ, con sông đó không còn. Lũ đã cuốn nó đi rồi!

Simon vỗ tay và huýt sáo, làm Đỗ Lili giật mình khỏi cơn ngủ gà ngủ gật.

- Một kết thúc có hậu. Hay quá!

Đỗ Lili đứng dậy và dọn dẹp phần còn lại của bữa tiệc thịt gà. Tôi định giúp song bà gạt đi.

- Ai kể cho chị câu chuyện này? - Tôi hỏi Quan.

Chị cho thêm hai cành củi vào bếp.

- Dân Xướng Miên ai chẳng biết. Có dễ đến năm ngàn năm, bà mẹ nào cũng hát ru chuyện này cho con nghe, bài hát tên là “Hai con rồng”.

- Năm ngàn năm? Sao chị biết thế? Nó không thể ghi lại ở đâu đó.

- Chị biết, vì… ờ, chị kể cho em điều bí mật này nhé. Giữa hai con rồng có một cái hang nhỏ ở thung lũng hẹp tiếp sau thung lũng này. Cái hang nhỏ này dẫn đến hang khác, rộng đến mức em khó mà tin nổi. Trong cái hang to ấy, có hồ đủ rộng cho một con thuyền bơi! Nước màu ngọc lam và vàng, đẹp và chắc em chưa bao giờ được thấy. Lại còn sâu và lấp lánh nữa chứ! Dù có quên mang đèn, em vẫn có thể nhìn thấy toàn bộ ngôi làng cổ bên bờ hồ…

- Làng ư? - Simon xen vào. - Chị định nói là có làng thật?

Tôi muốn bảo anh lại một chuyện bịa nữa của Quan, nhưng không thể gặp được mắt anh.

Quan hài lòng vì vẻ náo nức của Simon:

- Ờ, phải, một làng cổ. Tôi không biết đích xác là bao nhiêu tuổi. Nhưng ngôi nhà bằng đá vẫn còn đấy. Không mái, chỉ còn tường, một con đường nhỏ trườn vào bên trong. Trong đó…

- Gượm đã, - Simon ngắt lời. - Chị đã vào hang ấy, đã nhìn thấy ngôi làng?

Quan nói, khá vênh váo:

- Tất nhiên rồi. Bên trong ngôi nhà bằng đá có nhiều thứ, ghế đá, bàn đá, gầu bằng đá có quai, tạc hai con rồng. Thấy chưa, hai con rồng! Câu chuyện ấy cùng tuổi với ngôi làng bằng đá. Có khi nhiều năm hơn, có khi chưa đến dăm ngàn năm. Có khi hơn chục ngàn năm. Ai mà biết chắc được.

Tóc gáy tôi dựng đứng. Có lẽ chị đang kể về một cái hang khác.

- Có bao nhiêu người đã đến làng ấy? - Tôi hỏi.

- Bao nhiêu ư? Ồ, không biết chính xác. Ngôi nhà nhỏ lắm. Không có quá nhiều người ở cùng một lúc được.

- Không, ý em là hiện giờ người ta có đến đấy không?

- Hiện giờ? Không, chị cho là không. Họ quá sợ.

- Vì…

- Chà, em không hiểu đâu.

- Chị nói đi, Quan.

- Thôi được! Nhưng em sợ thì không phải lỗi của chị nhé.

Simon dựa vào máy bơm nước:

- Chị kể đi.

Quan hít một hơi thật sâu.

- Một số người nói rằng đi vào bên trong, không chỉ cái hang ấy mà vào bất cứ hang nào ở thung lũng này sẽ không bao giờ trở về. - Chị ngập ngừng rồi nói thêm. - Trừ ma. - Chị quan sát phản ứng của chúng tôi. Tôi mỉm cười. Simon sững sờ.

- À, em hiểu rồi. - Một lần nữa, tôi cố thu hút sự chú ý của Simon. - Đây là lời nguyền của Xướng Miên với người nào nói đến quá khứ.

Simon đi tới đi lui.

- Chúa ơi! Nếu đấy là thật thì…

Quan mỉm cười:

- Cậu nghĩ tôi là ma thật sao?

- Ma? - Simon cười phá. - Không, không! Ý tôi là cái hang ấy là có thật.

- Lẽ tất nhiên là có thật. Tôi đã nói là tôi tận mắt nhìn thấy.

- Tôi chỉ hỏi vì tôi đọc ở đâu đó… Giờ tôi nhớ ra rồi. Trong sách hướng dẫn, có một cái hang, bên trong có nhiều thứ từ Thời Đồ đá. Olivia, em đọc chưa?

Tôi lắc đầu. Tôi đang tự hỏi liệu tôi có quá hoài nghi những câu chuyện về Nunumu và Dị Ban không.

- Anh nghĩ đây là cái hang ấy?

- Không, phần lớn du khách bị Quế Lâm thu hút. Nhưng cuốn sách viết rằng quả núi này thủng lỗ chỗ nhiều hang đến mức chắc chắn có hàng ngàn hang chưa ai đến.

- Có khi Quan nói đến một cái hang khác…

- Không thể tin được nhỉ? - Simon quay sang Quan. - Theo chị thì trước kia chưa có ai đến đó?

Quan cau mày:

- Không, không. Tôi không nói thế. Nhiều người đến đó rồi.

Mặt Simon xịu xuống. Anh tròn mắt. Thế là tốt.

- Nhưng giờ tất cả chết hết rồi, - Quan nói thêm.

- Ái chà. - Simon giơ tay lên, giống như ra hiệu dừng lại. - Để xem chúng mình có đến thẳng đấy được không? - Anh lại đi tới đi lui. - Chị nói gì nhỉ, hiện giờ không ai còn sống biết về cái hang. Tất nhiên là trừ chị. - Anh đợi Quan khẳng định lời anh nói.

- Không, không. Nhiều người ở Xướng Miên biết. Chỉ không biết nó ở đâu.

- À! - Anh chậm rãi lượn quanh chúng tôi. - Không ai biết cái hang ấy ở đâu. Nhưng họ đều biết về nó.

- Dĩ nhiên. Nhiều chuyện ở Xướng Miên liên quan đến cái hang này. Nhiều lắm.

- Ví dụ? - Anh ra hiệu cho Quan nói rõ.

Chị cau mày, xun mũi như thể đang lục lọi kho chuyện ma phong phú của chị, chuyện nào chị cũng bắt chúng tôi thề giữ bí mật, không bao giờ được tiết lộ. Sau một lúc ngừng, chị nói: - Hầu hết những chuyện nổi tiếng đều liên quan đến người nước ngoài. Lúc họ chết gây ra bao nhiêu phiền toái!

Simon gật đầu thông cảm.

- Có một chuyện như thế này. Chuyện xảy ra từ một trăm năm trước. Vì thế tôi không nhìn thấy, chỉ nghe nhiều người Xướng Miên kể lại. Liên quan đến bốn nhà truyền giáo người Anh, cưỡi những cái xe nhỏ, bên trên che cái ô to tướng, chỉ có hai con la kéo những người to béo. Ban ngày trời rất nóng. Hai người phụ nữ nhảy ra ngoài, một người trẻ và bồn chồn, người kia già và hách dịch, còn hai người đàn ông, một người để râu, người kia béo đến nỗi dân làng không ai tin nổi. Những người nước ngoài này ăn vận như người Trung Quốc, nhưng nom vẫn là lạ. Người béo nói được một ít tiếng Trung, nhưng rất khó hiểu. Ông ta nói câu gì đại loại như: “Chúng tôi có thể cắm trại ở đây?”. Mọi người nói: “Xin mời, xin mời”. Thế là họ ăn, ăn, ăn, ăn, ăn, rất nhiều đồ ăn.

Tôi ngắt lời Quan:

- Chị đang kể về mục sư Amen?

- Không, không. Là những người khác. Chị đã bảo là chị không nhìn thấy, chỉ nghe thôi. Ăn xong, người béo hỏi: “Chúng tôi nghe đồn các vị có một cái hang nổi tiếng, bên trong là một thành phố cổ. Các vị chỉ cho chúng tôi nhé?” Mọi người viện cớ: “Ô, quá xa. Quá bận. Không nhìn thấy gì”. Thế là bà già giơ cái bút chì lên: “Ai muốn có cái này, dẫn tôi đến hang, sẽ có!”. Hồi ấy, lâu lắm rồi, dân chúng tôi chưa bao giờ nhìn thấy bút chì, họ viết bằng bút lông chứ không bằng bút chì. Chắc là dân Trung Hoa cũng phát minh ra bút chì - chúng tôi phát minh ra nhiều thứ lắm - thuốc súng nhưng không phải để giết người, cả mì sợi nữa. Người Ý hay nói họ phát minh ra mì sợi, không đúng đâu, chỉ là bắt chước người Trung Hoa từ thời Marco Polo3 thôi. Người Trung Hoa cũng phát minh ra con số 0. Trước số 0, người ta không biết gì. Giờ ai cũng biết số không. - Quan cười vì câu đùa của mình. - … Tôi nói đến đâu nhỉ?

- Chị đang nói về người phụ nữ truyền giáo có chiếc bút chì.

- Ừ, phải. Trong làng chúng tôi, chưa ai nhìn thấy bút chì. Người đàn bà ấy chỉ cho họ xem cứ thế mà viết, không cần phải chấm mực. Một thanh niên họ Hoàng - cậu ta luôn mơ đẹp trai hơn cậu - cầm chiếc bút chì. Hiện nay, gia đình ấy vẫn đặt trên ban thờ chiếc bút đáng giá cả đời cậu ta. - Quan khoanh tay, dường như ám chỉ sự thèm muốn cái bút chì đáng phải chết.

Simon nhặt một cành củi:

- Gượm đã. Chúng ta bỏ lỡ một thứ. Chuyện gì xảy ra với các nhà truyền giáo?

- Họ không bao giờ trở lại.

- Có khi họ về nhà rồi, - tôi lập luận. - Chẳng ai nhìn thấy họ ra đi.

- Người thanh niên ấy cũng không trở về.

- Nhỡ cậu ta thành tín đồ Thiên Chúa và đi theo các nhà truyền giáo.

Quan nhìn tôi ngờ vực:

- Tại sao lại có người làm thế? Mà tại sao các nhà truyền giáo không mang theo xe và những con la của họ? Tại sao sau này nhà thờ cử đủ loại binh lính nước ngoài đi tìm họ? Gây ra bao chuyện phiền toái, gõ cửa nhà này, nhà nọ: “Có chuyện gì xảy ra? Các người phải cho chúng ta biết, kẻo chúng ta thiêu rụi hết”. May sao, mọi người cùng nghĩ ra một kế và nói: “Ồ, khốn khổ, họ gặp bọn cướp”. Cho đến bây giờ, ai cũng biết chuyện này. Nếu có người hành động tử tế hơn, người ta nói: “Hừ! Đừng nhìn, biết đâu rồi lại biến thành người có cái bút chì”.

- Nghe chưa? - Tôi chọc Simon.

Quan ngồi thẳng dậy và nghênh tai về phía những quả núi.

- Đấy, cô cậu nghe thấy không?

- Cái gì? - Simon và tôi đồng thanh.

- Họ đang hát. Người âm đang hát.

Chúng tôi im lặng. Lát sau, tôi nghe thấy một tiếng rít khẽ:

- Em thấy như tiếng gió.

- Phải! Với nhiều người chỉ là tiếng gió - u! u! - thổi qua các hang. Nhưng em sẽ rất tiếc khi nghe thấy người âm gọi: “Lại đây, lại đây”. Em buồn hơn, họ sẽ hát to hơn: “Nhanh lên! Nhanh lên!”, Em sẽ thấy họ rất vui vẻ. Giờ em nhận chỗ của ai đó, họ có thể rời đi. Rồi họ bay về Cõi Âm, vô cùng thanh thản.

- Loại chỗ mày-đây-rồi, - Simon đế vào.

Tôi vờ cười, nhưng lo lắng. Vì sao Quan có nhiều câu chuyện về việc đổi chỗ với người chết thế?

Quan quay sang tôi:

- Bây giờ em biết vì sao tên làng là Xướng Miên rồi. Xướng có nghĩa là “ca hát”, miên nghĩa là mềm mại như lụa. Một bài ca êm dịu, không bao giờ hết. Nhưng có một số người phát âm theo kiểu khác, lên bổng xuống trầm, nó lại có nghĩa là Giấc ngủ dài. Giờ em hiểu chưa?

- Ý chị là bài hát ru, - Simon nói.

- Không, không, không, không, không. Giấc ngủ dài có nghĩa khác là cái chết. Chính vì thế ai cũng bảo: “Đừng đến hang ở Xướng Miên. Cửa vào Cõi Âm đấy”.

Đầu tôi ngứa ngáy:

- Chị tin thế à?

- Tin cái gì? Chĩ đã đến đấy rồi. Chị biết. Hàng lô người âm ở đấy, đang đợi.

- Vì sao chị lại trở về được? - Tôi kìm mình lại trước khi chị trả lời. - Em hiểu, chị không phải kể đâu. - Lúc này tôi không muốn Quan kể lể cả câu chuyện về Bánh Bao hoặc Tăng. Muộn lắm rồi. Tôi cần ngủ, và tôi không muốn cảm thấy đang nằm cạnh một người sở hữu thân xác của một cô gái đã chết.

Simon cúi xuống cạnh tôi:

- Anh nghĩ là chúng mình nên đến cái hang này.

- Anh đùa.

- Sao lại không?

- Sao lại không! Anh rồ thật! Người chết ở đằng ấy!

- Em tin cái chuyện ma quỷ ấy à?

- Tất nhiên là không! Nhưng chắc ở đấy có nhiều thứ rủi ro lắm. Khí độc, còn những thứ bên trong, có trời biết là những gì.

- Chết đuối, - Quan bổ sung. - Nhiều người chán đời tự tử, rơi xuống tận đáy, xuống, xuống, xuống mãi.

- Nghe thấy chưa, Simon? Chết đuối, xuống, xuống, xuống mãi.

- Olivia, em không hiểu ra ư? Đây có thể là một cuộc tìm kiếm khác thường. Anh sẽ có cái hang thời tiền sử. Những ngôi nhà thời Đồ Đá. Đồ gốm…

- Và xương, - Quan gợi ý, vẻ sốt sắng.

- Và xương! - Simon lặp lại. - Xương gì?

- Phần lớn là xương người nước ngoài. Họ lạc đường, họ quẫn trí. Nhưng họ không muốn chết. Vì thế họ nằm bên bờ hồ cho đến khi thân thể hóa thành đá.

Simon đứng dậy, hướng lên các chóp núi.

Tôi bảo anh:

- Người ta mất trí ở đấy. Họ biến thành đá.

Nhưng Simon không nghe thêm nữa. Tôi biết anh đang thầm hình dung đường đến hang, bước vào giới danh tiếng và giàu có.

- Em có thể hình dung các chủ bút nói gì khi thấy bài của chúng ta? Khốn kiếp! Từ món canh gà đến cuộc tìm kiếm khảo cổ học quan trọng! Có lẽ chúng ta nên gọi cho tờ National graphic hay đại loại thế. Ý anh là không phải chúng ta có nghĩa vụ với tờ Lands unknown về bài này. Chúng ta nên mang một số đồ gốm về làm chứng cứ, nhất định rồi.

- Em không đến đấy đâu, - tôi kiên quyết nói.

- Được. Anh sẽ đi một mình.

Tôi muốn kêu lên, em cấm anh. Nhưng làm sao có thể nói thế? Tôi đâu còn quyền gì với thân thể anh, trí tuệ anh, tâm hồn anh. Quan ngó tôi và tôi muốn hét lên với chị: Đây là lỗi của chị! Chị và những câu chuyện chết tiệt của chị! Chị nhìn tôi, một cái nhìn của người chị đang bực mình, rồi vỗ cánh tay tôi, cố làm tôi dịu lại. Tôi giật tay ra.

Chị quay sang Simon:

- Đừng, Simon. Cậu không thể đi một mình.

Anh quay ngoắt lại:

- Chị bảo sao?

- Cậu không biết cái hang ấy ở đâu.

- Vâng, nhưng chị sẽ chỉ chỗ cho tôi. - Anh tuyên bố như một điều hiển nhiên.

- Không, không, Libby-ah nói đúng, quá nguy hiểm.

Simon gãi cổ. Tôi tưởng anh đang thu thập lý lẽ để đánh bại cả hai chúng tôi, nhưng anh nhún vai: - Phải, có lẽ thế. Nhưng sao chúng ta không đi ngủ nhỉ?

Trên chiếc giường cưới, tôi nằm ở giữa, cứng đờ như Mẹ Lớn trong quan tài. Chân tay tôi đau nhừ vì cố không chạm vào Simon. Gần mười tháng nay, lần đầu tiên chúng tôi nằm chung giường. Anh mặc bộ đồ lót ấm bằng lụa. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy cẳng chân hoặc khe mông anh cọ vào đùi tôi, và tôi thận trọng né ra liền bị đầu gối hoặc những ngón chân của Quan đẩy lui. Tôi thầm nghi chị đẩy tôi đến với Simon.

Nhiều tiếng rên lạ lùng buột ra.

- Gì thế? - Tôi thì thào.

- Anh không nghe thấy gì hết, - Simon trả lời. Thế là cả anh cũng thao thức.

Quan ngáp:

- Tiếng hát của hang đấy. Tôi đã kể rồi.

- Lúc này nghe như khác hẳn, giống tiếng người đang than thở.

Chị lăn nghiêng. Vài phút sau chị đã ngáy, và một lát sau, Simon cũng thở sâu. Thế là chỉ còn tôi, bị lèn giữa hai người, lẻ loi, thao thức, đăm đăm nhìn vào bóng đêm, thấy lại những khoảnh khắc của hai mươi tư giờ qua: Chiếc xe tải lạnh giá chạy và chiếc áo trượt tuyết của Mẹ Lớn. Bánh Bao và Quan trong quan tài. Con gà giò tội nghiệp và vũ điệu giãy chết của nó. Con chuột chết trong rượu vang, những nhà truyền giáo chết trong hang. Bộ mặt của Simon, vẻ háo hức của anh lúc nhìn các chóp núi rồng. Thật dễ thương, đặc biệt. Chúng tôi chẳng từng có những tình cảm cũ là gì? Có lẽ chúng tôi có thể thành bạn bè. Hoặc có khi chẳng là gì hết. Có khi chỉ là loại rượu vang ngâm chuột.

Tôi lật nghiêng và Simon lật theo cho tiện. Tôi nằm thẳng đờ như cái đũa cho khỏi chạm vào anh. Song cơ thể không phải là thứ cứng nhắc và im lìm, trừ khi chết. Tôi thèm được uốn cong người tôi vào người anh cho thoải mái. Nhưng nếu tôi làm thế, anh sẽ tưởng tôi đã tha thứ cho anh. Hoặc thừa nhận tôi cần anh. Anh chép môi và khụt khịt, những âm thanh riêng của anh mỗi khi anh ngủ say. Ngay sau đó, tôi cảm thấy hơi thở của anh như những sóng gợn trên cổ tôi.

Tôi thường tị anh ngủ ngon suốt đêm, không hề bị tiếng xe cứu thương, động đất, và lúc này đây là những tiếng sột soạt dai dẳng dưới giường quấy rầy. Hoặc giống tiếng cưa hơn? Đúng thế, đó là những cái răng nhọn như răng cưa của lũ chuột đang gặm chân giường, mài sắc răng nanh trước khi trèo lên đây.

- Simon, - tôi thì thào. - Anh có nghe thấy gì không? Simon! - Rồi sau đó, y như những ngày xưa, anh vòng cánh tay quanh hông tôi và rúc mặt vào vai tôi. Ngay lập tức, tôi cứng đờ người. Anh có ngủ không? Anh làm thế theo bản năng? Tôi hơi ngọ nguậy hông xem anh có tỉnh và bỏ tay ra không. Anh rên rỉ. Có lẽ anh đang thử tôi.

Tôi nhấc tay anh khỏi hông tôi. Anh cựa quậy và nói, giọng ngái ngủ:

- Ừm, xin lỗi, - rồi giở mình và ngáy. Té ra cái ôm của anh chỉ là sự ngẫu nhiên trong lúc ngủ. Anh chẳng có ý gì hết. Họng tôi thắt lại, trái tim đau nhói.

Tôi nhớ sau những cuộc cãi vã, anh thường muốn âu yếm và làm tình, như thể sự kết hợp thân thể sẽ hàn gắn mọi rạn nứt giữa chúng tôi. Tôi không bằng lòng với giả thuyết mọi sự tốt đẹp sẽ kết thúc tốt đẹp. Song tôi chỉ hơi cưỡng lại khi anh nâng cằm tôi. Tôi kìm nỗi giận và hơi thở lúc anh gặm môi, mũi và trán tôi. Tôi càng lúng túng, anh càng tranh thủ nhiều chỗ hơn: cổ tôi, núm vú tôi, đầu gối tôi. Tôi mặc kệ anh ta, không phải vì tôi yếu đuối và ham muốn sex, mà vì nó sẽ là thù hận, vượt quá cả sự chuộc lỗi và không cho phép chúng tôi có lấy một niềm hy vọng.

Tôi dự định sau này sẽ nói đến các việc đó. Để anh thấy sự tránh né là bình thường, còn tôi coi đó là lời cảnh báo. Sao chúng tôi lại không thể nói chuyện với nhau được nữa, trong khi bảo vệ lãnh thổ riêng của mình, chúng tôi đã đánh mất nền tảng chung. Trước khi quá muộn, tôi muốn nói rằng dù tình yêu đã đưa chúng tôi đến với nhau lớn lao chừng nào đi nữa, nó đã thui chột và giờ đây cần bổ sung rất nhiều. Nhiều lần tôi đã sợ tình yêu của chúng tôi chưa bao giờ tràn ngập mà chỉ đủ cho vài năm, như thế không có nghĩa là sẽ kéo dài suốt đời. Chúng tôi đã nhầm phần được chia là vụ thu hoạch định kỳ. Chúng tôi là hai con người khát khao tình yêu phong phú nhưng quá mệt mỏi không nói ra lời, bị xích lại với nhau cho đến lúc thời gian trôi qua và chúng tôi bỏ quên cõi đời này, cả hai đều hy vọng mơ hồ mà thiếu ước mơ, chỉ như sự kết hợp ngẫu nhiên của trứng và tinh trùng, đực và cái, trước có nay đã mất rồi.

Tôi hay nghĩ thế khi anh cởi bỏ quần áo tôi, tôi phẫn nộ với thực tế anh coi sự trần truồng là quen thuộc. Tôi để anh vuốt ve mọi chỗ anh biết rõ nhất, chúng là thân thể tôi chứ không phải trái tim tôi. Tìm kiếm sự nhịp nhàng của tôi, anh bảo: “Thả lỏng nào, thoải mái đi, thoải mái đi, bớt căng thẳng, bớt căng thẳng nào”. Nếu tôi trườn ra là mọi việc hỏng hết. Tôi đành nhân nhượng nhịp điệu của tôi, của anh, của chúng tôi, yêu nhờ luyện tập, thói quen và phản xạ.

Trước kia, sau khi làm tình, tôi cảm thấy dễ chịu hơn, không còn hoang mang nữa. Tôi cố nhớ lại những lo âu - về kết quả và sự phong phú, về tình yêu thất bại và cái chết vô vọng - chúng không còn là những cảm nghĩ nữa mà chỉ là những ý niệm, ngớ ngẩn và tức cười.

Giờ đây cuộc hôn nhân của chúng tôi đang đi đến hồi kết, tôi hiểu tình yêu là gì. Đó là một thủ thuật của bộ não, tuyến thượng thận tiết ra endorphin. Nó tràn ngập các tế bào, truyền sự lo lắng và những cảm giác tốt hơn, dìm chết chúng bằng những niềm vui sinh hóa. Bạn có thể hiểu mọi cảm xúc này về tình yêu, song vẫn không cưỡng lại được, nó hấp dẫn như những cánh tay buông thả trong giấc ngủ dài.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.