Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 19
19. MÁI VÒM
Tôi bật dậy vì những tiếng la hét - các cô gái bị cưỡng hiếp, bị giết hoặc cả hai! Tiếng Đỗ Lili quát: - Gượm đã, gượm, chúng mày là đồ ăn tham.
Đàn lợn kêu ré càng to hơn lúc bà thủ thỉ:
- Ăn đi, ăn đi. Ăn cho chóng lớn.
Trước khi thư giãn, tôi ngộ ra một điều khó chịu. Trong đêm, cơ thể tôi chắc đã bị hút về nguồn ấm áp gần nhất là Simon. Nói chính xác hơn, mông tôi lúc này đang rúc vào vòm háng mềm dẻo của anh, và tôi nhận ra nó đang cương cứng vào lúc sáng sớm, trước kia chúng tôi thường trìu mến gọi là “gà trống gáy”. Chỗ của Quan trên giường trống rỗng, sờ vào chỗ lõm đã mát lạnh. Chị bỏ lại chúng tôi lúc nào? Ồ đúng, tôi biết chị làm gì mà, kẻ ném đá giấu tay. Còn Simon, anh ta có ngủ thật không? Hay đang cười thầm?
Sự thực tệ hại là tôi bị kích thích. Bất chấp mọi điều tôi nghĩ trong đêm trước, phần dưới người tôi ngứa ngáy rộn ràng, kiếm tìm hơi ấm và thèm muốn cọ xát. Phần còn lại khao khát được thoải mái. Tôi rủa mình: Mày có một cái hang ngu si khốn nạn! Chỉ số IQ hạng bét! Tôi trốn khỏi nỗi nguy và nhảy tót xuống giường, bên phía Quan. Simon cựa quậy. Run rẩy trong chiếc áo ngủ, tôi vội vã đến chân giường, nơi hôm qua tôi để hành lý. Nhiệt độ không khí chắc chưa đến tám độ C. Bàn tay tôi lùng sục tìm quần áo ấm.
Simon ngáp, ngồi dậy và vươn vai, rồi vén màn.
- Anh ngủ ngon quá, - anh nói mơ màng, - Còn em?
Tôi rút chiếc parka và quấn lên vai. Chiếc áo cứng nhắc vì lạnh và kêu tanh tách. Răng tôi lập cập lúc nói: - Quanh đây có phòng tắm hoặc chậu tắm không nhỉ?
Mặt Simon có vẻ khoái trá. Anh ta ngờ điều gì chăng?
- Có một nhà tắm công cộng cạnh lều vệ sinh, - anh nói. - Hôm qua, trong lúc em chụp ảnh anh đã kiểm tra rồi. Nó có vẻ mê hoặc của một suối nước khoáng. Dùng cho cả nam - nữ. Một máng nước, không chảy. Nhưng anh cho rằng từ nhiều năm nay không ai dùng. Nước đầy váng. Nếu em muốn tắm nước ấm, xách một xô nước nóng ra đấy.
Tôi đã sẵn sàng cho tin xấu, nhưng không phải là xấu đến mức lạ lùng này.
- Họ dùng một thứ nước tắm suốt ngày?
- Trông có vẻ là cả tuần. Chúa ơi, anh biết là ở Mỹ, chúng ta hoang phí kinh khủng.
- Anh cười gì thế? - Tôi hỏi.
- Cười em. Anh biết em bị sự sạch sẽ ám ảnh thế nào rồi.
- Không, em không.
-Ồ? Thế vì sao mỗi khi ở khách sạn, việc đầu tiên là em lột tuột khăn trải giường?
- Vì họ không thay thường xuyên.
- Vậy ư?
- Thế nên em không thích nằm lên trên một người da dẻ bong tróc và dịch trong người vừa khô.
- Á hà! Gác chuyện của anh lại. Giờ đến nhà tắm đi. Anh thách em đấy.
Trong giây lát, tôi cân nhắc cái gì xấu hơn, tắm trong thứ nước chung nhầy nhụa hay đợi hai tuần nữa đến phòng tắm hiện đại?
- Tất nhiên là em có thể đổ đầy nước vào chậu và tắm bằng bọt biển ngay tại đây. Anh có thể làm thằng hầu xách nước cho em.
Tôi giả vờ không nghe thấy. Cơ má tôi gần như cứng lại vì cố không mỉm cười. Tôi rút ra hai chiếc quần bó, bỏ chiếc bằng cô tông mỏng, chọn chiếc Polarfleece và tiếc không mang theo nhiều hơn. Gợi ý của Simon là tốt, cả về miếng mút tắm. Hầu nước, ồ, một dịp béo bở. Tôi hình dung Simon là tên nô lệ Ai Cập, quấn váy bằng mảnh vải xoắn vặn, vẻ thèm khát khổ sở khi im lặng múc nước ấm dội lên vú tôi, bụng tôi, chân tôi. Tôi thật nhẫn tâm, coi anh như một vòi tắm: Nóng hơn! Lạnh hơn! Nhanh lên!
- Nhân thể, - anh nói, cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi, - em lại nói mê trong lúc ngủ.
Tôi tránh cái nhìn của anh. Có người thì ngáy. Còn tôi nói mê, không lầm bầm mà nói những câu trọn vẹn, rõ ràng. Hàng đêm. Rành rọt. Đôi khi tôi giật mình tỉnh dậy. Simon nghe thấy tôi kể những câu đùa bậy bạ, gọi bữa ăn có ba món tráng miệng, hét gọi Quan bắt ma tránh tôi ra.
Simon nhếch một bên lông mày:
- Đêm qua, em đã tiết lộ nhiều thứ.
Chó thật. Tôi đã mơ cái quái gì nhỉ? Tôi hay nhớ những giấc mơ của mình. Sao lúc này tôi không thể nhớ ra? Có Simon trong mơ không? Chúng tôi có làm tình không?
- Mơ chẳng có nghĩa gì hết, - tôi nói. Tôi rút một chiếc áo ngủ ấm và cái áo nhung màu ve chai. - Chỉ là những thứ tạp nham, vô giá trị.
- Em không muốn biết điều em nói à?
- Không hẳn.
- Nó liên quan đến một thứ em thích làm.
Tôi ném mớ quần áo xuống và cằn nhằn:
- Em không thích như anh tưởng đâu!
Simon nháy mắt hai lần, rồi cười phá.
- Ôi vâng, em thích mà! Vì em nói rằng: “Simon, gượm đã. Em không thanh toán khoản này đâu!”. - Anh đợi năm giây cho câu này lắng xuống. - Em đang mua sắm. Thế em tưởng anh nói đến chuyện gì?
- Im đi. - Mặt tôi nóng bừng. Tôi thọc bàn tay vào vali và giận dữ vớ lấy đôi tất len. - Quay đi. Em muốn mặc quần áo.
- Anh đã nhìn em trần truồng cả ngàn lần rồi.
- Vâng, nhưng không có lần thứ một ngàn lẻ một. Quay đi.
Tôi quay lưng lại anh, vừa cởi phắt chiếc parka và áo ngủ vừa thầm rủa mình đã bị anh đánh lừa. Anh nhử tôi! Tôi là đứa ngu, cứ coi là thế đi. Lẽ ra tôi nên biết anh lừa tôi. Lúc đó tôi cảm thấy một thứ nữa. Tôi quay ngoắt lại.
- Em không phải ấm ức thế. - Anh vẫn đang đỡ cái màn mỏng. - Trông em tuyệt lắm. Lúc nào cũng tuyệt. Anh chưa bao giờ chán nhìn ngắm em.
- Đầu anh tởm lắm!
- Thế ư! Chúng ta vẫn còn là vợ chồng mà!
Tôi cuộn một cái tất và ném anh. Anh chúi đầu, thả vội cái màn - chắc phải một trăm tuổi - vì khi cái tất đập vào, púp!¬ một nắm màn bay vèo vào không khí.
Cả hai chúng tôi trố mắt nhìn chỗ hỏng. Tôi cảm thấy y như một đứa trẻ ném bóng chày làm vỡ cửa sổ nhà hàng xóm, run cả người.
- U ơ. - Tôi bịt miệng và cười rúc rích.
Simon lắc đầu:
- Hư quá.
- Tại anh đấy.
- Em định nói gì thế! Em ném bít tất chứ.
- Tại anh nhìn!
- Thì anh vẫn đang nhìn đây.
Tôi đứng đó, hoàn toàn trần truồng, lạnh cóng.
Tôi ném nốt chiếc tất kia vào anh, rồi chiếc quần bó, cái áo nhung, cái áo ngủ. Vớ một chiếc dép, tôi lao đến Simon, quật túi bụi vào lưng anh. Anh chộp lấy tay tôi, cả hai chúng tôi ngã lăn ra giường, chúng tôi đánh nhau và lăn tròn, phát và đẩy, thầm dễ chịu vì có cớ để chạm vào nhau. Lúc cả hai mệt lử vì cuộc vui đùa này, chúng tôi nhìn vào mắt nhau, lặng lẽ, không cười, không biết nói gì nữa. Ngay tức khắc, cả hai chồm lên nhau như một cặp sói hòa hợp trở lại, kiếm tìm những thứ thuộc về nhau: mùi da thịt, vị của lưỡi, sự mượt mà của tóc, vị mặn trên cổ, đường cong của sống lưng, những nếp nhăn chúng tôi biết rất rõ song vẫn thấy mới mẻ. Anh dịu dàng còn tôi hoang dại, rúc, cắn, cả hai chúng tôi lăn qua lăn lại cho đến khi mất hết mọi hồi nhớ về chúng tôi trước khoảnh khắc đó, vì trong lúc này chúng tôi y như nhau.
Lúc tôi bước ra sân, Quan tặng tôi một trong những cái cười thoải mái, ngây thơ nhưng thông cảm của chị.
- Libby-ah, sao em cười thế?
Tôi nhìn Simon.
- Trời không mưa, - tôi đáp. Dù Quan có là chị ruột của tôi hay không cũng không quan trọng, tôi mừng vì chị đã gợi ý chúng tôi đi Trung Quốc.
Trước mặt chị là cái va li mở, nhét đầy những thứ đồ dùng linh tinh. Theo lời Quan, Mẹ Lớn để lại những món quà này cho Đỗ Lili, tất cả trừ cái hộp âm nhạc bằng gỗ rung leng keng bài Nhà trên núi. Tôi lấy máy ảnh ra và bắt đầu chụp.
Quan cầm món đồ đầu tiên. Simon và tôi cúi xem. Đấy là mô hình Roach Motel.
- Ở Mỹ, - chị giải thích với Đỗ Lili với vẻ mặt nghiêm trang, - người ta gọi cái này là nhà nghỉ cho gián. - Chị chỉ vào nhãn hiệu.
- Ái chà! - Đỗ Lili kêu to. - Người Mỹ giàu đến mức làm cả đồ chơi cho côn trùng! Xì! Xì! - Bà lắc đầu, miệng bà gấp lại khinh bỉ. - Tôi thuật lại với Simon lời bà nói.
- Đúng, người Mỹ còn nuôi gián bằng các thức ăn ngon. - Quan ngó vào trong cửa motel. - Đồ ăn ngon thế nên lũ gián chẳng bao giờ muốn bỏ đi. Chúng ở lại vĩnh viễn.
Đỗ Lili đập vào cánh tay Quan và giả vờ giận:
- Cô tệ lắm nhé! Cô tưởng tôi không biết đây là cái gì hả? - Rồi bà nói với tôi, giọng háo hức. - Dân Trung Quốc cũng có những thứ y như thế này. Chúng tôi dùng những mảnh tre, cắt giống thế này và tẩm đầy thứ nhựa cây ngọt. Chị cô với tôi đã cùng làm với nhau. Làng tôi còn tổ chức các cuộc thi xem ai diệt được nhiều ruồi, nhiều chuột, nhiều gián hơn. Chị cô được khen vì diệt gián giỏi nhất. Giờ cô ấy định chơi xỏ tôi đây mà.
Quan phô thêm những của quý, nhiều thứ trong đó rõ ràng mua ở cửa hàng đồ thể thao. Trước tiên là một cái ba lô.
- Đủ bền để mang cả gạch, có nhiều túi, ở bên, ở đáy, đây, đây nữa, nhìn xem. Mở như thế này này… ủa, cái gì đây? - Chị lôi ra một cái máy lọc nước cầm tay, một lò nướng bé tí, một túi sơ cứu nhỏ, một tấm nệm có thể bơm phồng, túi đựng rác, túi ngủ, và… - Chà! Không thể tin nổi! - còn nhiều thứ khác nữa: một hộp diêm không thấm nước, một bật lửa và một con dao Thụy Sĩ có cả tăm xỉa răng “rất tiện dụng”.
Quan trịnh trọng giải thích công dụng của từng món đồ.
Simon xem xét những thứ được cất kỹ.
- Lạ thật. Sao chị nghĩ ra đủ thứ này?
- Trong tạp chí, - Quan trả lời. - có nhiều bài về nạn động đất, nếu có trận lớn thì đây là những thứ cần để sống sót. Ở Xướng Miên, không cần đợi động đất. Đã không có điện, không nước máy, không lò sưởi rồi.
Tiếp đó, Quan nhấc một chiếc hộp nhựa, loại dùng chứa các thứ tạp nham ở gầm giường, lấy ra găng làm vườn, đế lót giày, quần bó, khăn mặt, áo phông. Đỗ Lili kêu lên và thở dài, rồi than vãn rằng Mẹ Lớn chẳng sống đủ lâu mà hưởng những thứ xa xỉ này. Tôi chụp một bức ảnh Đỗ Lili cùng những thứ được thừa kế vây quanh. Bà đeo kính râm, đội mũ của đội Super Bowl thứ 49, chữ Champs khảm bằng thạch anh.
Sau bữa sáng đơn giản gồm cháo gạo đặc và ca la thầu, Quan lôi ra hàng đống ảnh dẫn chứng cho cuộc sống ba mươi hai năm ở Mỹ của chị. Chị và Đỗ Lili ngồi trên ghế dài, mải mê xem.
- Nhìn này, - Quan nói. - Đây là Libby-ah mới lên sáu. Trông kháu chưa? Có thấy chiếc áo len dài tay nó mặc không? Tôi đan trước khi rời Trung Quốc đấy.
- Những cô bé này là ai? - Đỗ Lili chỉ.
- Các bạn học của cô ấy.
- Sao họ lại bị phạt?
- Bị phạt? Họ đâu có bị phạt.
- Thế sao họ phải đội mũ lừa?
- A ha ha! Phải rồi, nom như họ đội mũ lừa của các phần tử phản cách mạng! Ở Mỹ, người nước ngoài đội mũ ống kỷ niệm sinh nhật, Năm Mới. Đây là tiệc mừng sinh nhật Libby-ah. Đấy là phong tục phổ biến của người Mỹ. Các bạn học tặng quà, chẳng có thứ gì hữu ích, chỉ là những thứ xinh đẹp. Mẹ thường làm bánh ga tô, thắp những ngọn nến trên bánh. Đứa trẻ thầm ước một điều gì đó, và nếu nó thổi tắt mọi ngọn nến một lần, điều ước sẽ thành hiện thực. Sau đó, bọn trẻ ăn bánh, uống nước ngọt, ăn kẹo, nhiều thứ ngọt cuộn lưỡi chúng đến nỗi chúng không thể nuốt được nữa.
Đỗ Lili tròn miệng không tin.
- Xì! Xì! Tiệc sinh nhật cho tất cả mọi người. Sự mê hoặc đơn giản cho một lời ước sinh nhật. Sao người Mỹ vẫn ước ao nhiều thế, trong khi họ có quá nhiều rồi? Với tôi, tôi chẳng cần tiệc sinh nhật gì ráo. Một lời ước cho hai chục năm là đủ…
Simon kéo tôi sang một bên.
- Chúng ta đi dạo đi.
- Đi đâu?
Anh dẫn tôi ra khỏi sân, rồi chỉ lên mái vòm giữa các quả núi, lối vào thung lũng tiếp theo.
Tôi ngoắc ngón tay gọi anh như một cô mẫu giáo.
- Simon, anh vẫn nghĩ đến cái hang ấy ư?
Anh trở lại vẻ giả vờ tấn công:
- Anh1? Tất nhiên là không. Anh chỉ nghĩ đi dạo cho thoáng thôi. Chúng ta có nhiều thứ cần nói.
- Ồ? Ví như? - Tôi bẽn lẽn nói.
- Em thừa biết rồi. - Anh nắm tay tôi và tôi gọi với qua tường. - Quan! Simon và em đi dạo một lát.
- Đi đâu? - Chị đáp to.
- Loanh quanh thôi.
- Bao giờ về?
- Bất cứ khi nào.
- Biết giờ nào mà lo?
- Đừng lo. - Lúc đó tôi chợt nghĩ đến nơi chúng tôi có thể sẽ tới. Tôi nói thêm, - nếu hai giờ nữa bọn em không về, chị hãy gọi cảnh sát.
Tôi nghe thấy tiếng càu nhàu vui vẻ với Đỗ Lili bằng tiếng Trung:
- Cô ấy bảo nếu họ bị lạc, hãy gọi điện cho cảnh sát. Điện thoại gì kia chứ? Chúng ta làm gì có điện thoại…
Chúng tôi đi lặng lẽ, tay trong tay. Tôi nghĩ đến điều nên nói. Tôi chắc Simon cũng thế. Tôi muốn hòa giải để mọi việc tự nó đâu vào đấy. Tôi muốn có một lời cam kết để thân thiết hơn, gần gũi về tâm hồn chứ không chỉ về thể xác. Thế là với những suy nghĩ vẫn-chưa-được-nói ra, chúng tôi nhằm hướng bức tường bằng đá tách Xướng Miên khỏi thung lũng tiếp đó.
Chúng tôi lang thang qua nhiều ngõ hẻm kín đáo, đan kết các khu với nhau, chúng tôi xin lỗi các gia đình đang tò mò nhìn chúng tôi chằm chằm, rồi xin lỗi lần nữa khi họ chạy ra cửa, giơ những đồng xu để bán, những cái đĩa màu xanh mờ xỉn mà họ khẳng định ít nhất cũng năm trăm năm tuổi. Tôi chụp vài bức ảnh và hình dung chú thích phù hợp: “Cư dân Xướng Miên nhìn trừng trừng những kẻ đột nhập”. Chúng tôi ngó vào sân qua các cổng mở toang và thấy những ông già đang ho, hút thuốc lá quấn, những người đàn bà trẻ bế con, gò má mũm mĩm của chúng ửng hồng vì rét. Chúng tôi đi qua một bà già vác bó củi to đặt thăng bằng trên vai. Chúng tôi mỉm cười với bọn trẻ con, vài đứa bị hở vòm miệng hoặc chân bị tật, và tôi tự hỏi liệu đấy có phải là kết quả của sự giao phối giữa những người họ hàng gần không. Chúng tôi cùng nhìn ra điều này, hai kẻ xa lạ trong cùng một thế giới. Song chúng tôi vẫn nhìn nhận khác nhau, tôi nhăn mặt vì cảnh nghèo khổ, cuộc sống mà Quan đã từng và tôi cũng có thể trải qua. Còn Simon nhận xét: - Em thấy không, họ thật may mắn.
- Anh định nói gì?
- Cộng đồng thì nhỏ, lịch sử các gia tộc gắn kết nhiều thế hệ, tập trung vào những điều cơ bản. Em cần một ngôi nhà, đã có bạn bè giúp làm cho ít gạch, chẳng cần băn khoăn vì chuyện vay mượn. Sinh nở và chết, yêu đương và con cái, đồ ăn và ngủ, một căn nhà có phong cảnh, ý anh là em còn cần gì hơn nữa?
- Lò sưởi trung tâm.
- Anh đang nghiêm túc đây, Olivia. Đây là… ờ, đây là cuộc sống.
- Anh ủy mị quá. Đây là địa ngục, là sự tồn tại tối thiểu.
- Anh vẫn cho là họ may mắn.
- Dù họ không nghĩ thế?
Anh ngừng, rồi cong môi dưới như con chó bun:
- Ừ. - Giọng anh như muốn cãi nhau. Lúc đó tôi nghĩ: Liên quan gì đến mình kia chứ? Tại sao tôi phải leo thang thành cuộc chiến lương tâm, phải trái? Người dân ở đây chẳng quan tâm chúng tôi nghĩ gì. Thôi đi, tôi tự nhủ.
- Em cho là có thể hiểu ý kiến của anh, - tôi nói. Lúc Simon mỉm cười, cơn tức của tôi lại bùng lên.
Con đường mòn dẫn lên đồi. Lúc đi quanh đỉnh đồi, chúng tôi phát hiện hai cô bé và một cậu bé khoảng năm, sáu tuổi đang chơi trên đất. Xa hơn chỗ chúng khoảng mươi mét là bức tường bằng đá cao và mái vòm, chắn tầm nhìn của chúng tôi. Bọn trẻ ngước nhìn, thận trọng và cảnh giác, mặt và quần áo của chúng lấm lem đầy bùn.
- Ni hau? - Simon nói giọng đặc Mỹ. - “Các cháu khỏe không?” là một trong vài câu tiếng Trung ít ỏi mà anh biết. Bọn trẻ con chưa kịp chú ý, tôi rút chiếc Leica ra bấm liền năm kiểu. Bọn trẻ cười khúc khích, rồi tiếp tục chơi. Cậu bé vỗ nhẹ những cái cuối cùng lên pháo đài bùn, vết các ngón tay cái của nó vẫn còn thấy rõ trên các bức tường và cổng. Một cô bé dùng các ngón tay nhổ những lá cỏ nho nhỏ. Cô bé khác khéo léo chuyển những lá cỏ xanh lợp thành mái một túp lều bé xíu. Vài con châu chấu màu nâu đang bò gần túp lều, là những cư dân bị giam giữ trong cái biệt khu công phu này.
- Bọn trẻ con khéo chưa kìa? - Tôi nói. - Chúng làm ra đồ chơi bằng tay không.
- Khéo léo và bẩn thỉu, - Simon trả lời. - Anh đùa thôi. Bọn chúng đáng yêu lắm. - Anh chỉ vào cô bé nhỏ hơn. - Cô bé kia trông giống em hồi lên sáu, trong bức ảnh sinh nhật.
Lúc chúng tôi đến gần mái vòm, bọn trẻ con nhảy dựng lên:
- Các người đi đâu đấy? - Cậu bé cộc cằn nói bằng tiếng phổ thông, đúng kiểu trẻ con.
- Xem đằng kia có gì. - Tôi chỉ vào đường hầm. - Các cháu có muốn đi không? - Chúng chạy trước chúng tôi. Nhưng lúc đến lối vào, chúng quay nhìn chúng tôi. - Đi đi, - tôi bảo. - Các cháu đi trước đi. - Chúng không nhúc nhích, chỉ nghiêm trang lắc đầu.
- Ta cùng đi vậy nhé. - Tôi chìa tay ra cho cô bé. Nó lùi lại và đứng sau lưng cậu bé, cậu ta nói: - Chúng cháu không thể.
Cô bé lớn hơn nói thêm:
- Chúng cháu sợ. - Cả ba đứa túm tụm, sát gần nhau hơn, những cặp mắt to của chúng nhìn trừng trừng vào mái vòm.
Sau khi tôi dịch cho Simon, anh bảo:
- Giờ anh sẽ đi qua đó. Nếu bọn trẻ không muốn đi cũng được. - Lúc anh bước vào mái vòm, bọn trẻ con kêu thét lên, chúng quay gót và bỏ chạy hết tốc lực. - Chuyện gì thế? - Tiếng Simon vang vang trong lối vào uốn tròn.
- Em không biết. - Mắt tôi vẫn dõi theo bọn trẻ con cho đến khi chúng khuất dạng sau đồi. - Có lẽ bọn chúng bị dọa không được nói chuyện với người lạ.
- Đi thôi, - anh gọi. - Em đợi gì nữa?
Tôi nhìn bức tường chạy dọc dãy núi. Không giống các bức tường bằng gạch bùn trong làng, chúng làm bằng những tảng đá lớn cắt gọn gàng. Tôi hình dung các công nhân từ trước đây rất lâu chuyên chở chúng đến nơi này. Có bao nhiêu người đã chết vì kiệt sức? Xác họ có dùng làm vữa như cách dùng xác các nhân công xây dựng Vạn lý Trường thành? Thực ra, trông nó giống như Vạn lý Trường thành thu nhỏ. Nhưng sao lại ở chốn này? Nó cũng được xây để ngăn chặn quân xâm lược Mông Cổ? Lúc xuyên qua mái vòm, mạch trên cổ tôi đập dồn dập. Đầu óc tôi bắt đầu bồng bềnh. Tôi dừng lại ở giữa đường hầm và sờ lên tường. Đường hầm dài khoảng hơn mét rưỡi, cao mét rưỡi, giống một ngôi mộ. Tôi hình dung từng đoàn ma chiến binh đang đợi chúng tôi ở phía bên kia.
Thay vào đó, tôi nhìn thấy một thung lũng nhỏ, bằng phẳng, một bên là bãi cỏ sũng nước, bên kia là cánh đồng tách rời, con đường mòn chúng tôi đi tiếp tục chạy thẳng xuống giữa như một dải băng màu nâu nhẵn nhụi. Hai bên sườn thung lũng là hàng chục quả núi hình đầu, nhỏ hơn hai quả núi trước mặt chúng tôi rất nhiều. Nó sẽ là một cảnh tượng điền viên lãng mạn hoàn mỹ, nếu không có thực tế là tôi không sao gạt khỏi tâm trí những bộ mặt sợ hãi của bọn trẻ. Simon đang bước xuống đồi.
- Anh có nghĩ là chúng mình vi phạm không? - Tôi nói. - Ý em là, có khi đây là tài sản riêng.
Anh nhìn tôi:
- Ở Trung Quốc ư? Em đùa đấy à? Em thừa biết người cộng sản không có gì. Tất cả đều là đất công.
- Em không nghĩ thế. Người ta có nhà riêng, thậm chí bây giờ có cả công việc làm ăn riêng.
- Thôi, đừng lo. Nếu chúng ta vi phạm, họ cũng không bắn đâu. Họ chỉ bảo đi đi và chúng ta đi ra. Thế thôi. Đi nào. Anh muốn thấy có gì trong thung lũng tiếp sau cái này.
Tôi vẫn đợi một nông dân giận dữ, giơ cuốc lên đuổi chúng tôi. Nhưng bãi cỏ xanh tươi vắng ngắt, cánh đồng im lìm. Hôm nay không phải ngày làm việc? Sao không có ai ở đây? Những bức tường cao ngất kia tại sao lại ở đây, nếu không ngăn chặn ai đó? Vì sao lại lặng ngắt như tờ thế này? Không một dấu hiệu của sự sống, thậm chí không có tiếng kêu chiêm chiếp của một con chim.
- Simon, hình như nó không phải là…
- Anh biết, chẳng có gì lạ, giống như các cánh đồng của một trang viên nước Anh, một cảnh trong Howards End2.
Suốt một giờ, chúng tôi đi hết chiều dài thung lũng. Chúng tôi bắt đầu leo lên một quả đồi khác, dựng đứng hơn và nhiều đá hơn cái trước. Con đường hẹp dần thành một đường mòn lởm chởm có nhiều khúc ngoặt gấp. Tôi nhìn thấy bức tường và mái vòm thứ hai ở bên trên, chóp núi đá vôi trông giống một con san hô nhọn hoắt chĩa thẳng lên từ đáy đại dương cổ xưa. Nhiều đám mây đen trôi nhanh trước mặt trời, không khí trở nên lạnh giá.
- Có lẽ chúng ta nên về, - tôi gợi ý. - Trông như trời sắp mưa.
- Để xem trên đỉnh núi đầu tiên có gì đã. - Không đợi tôi đồng ý, Simon trèo lên con đường mòn. Lúc chúng tôi đi hết con đường, tôi nghĩ đến câu chuyện của Quan về các nhà truyền giáo, cách dân làng nói họ bị bọn cướp giết chết. Biết đâu trong lời nói dối có cả sự thực. Trước khi rời khách sạn ở Quế Lâm - khi nào nhỉ? mới hôm qua thôi ư? - tôi vớ được tờ The China daily bằng tiếng Anh. Trên trang nhất đăng bản tin rằng tội ác dã man một thời vắng mặt ở Trung Quốc nay gia tăng, nhất là ở các địa điểm du lịch như Quế Lâm. Trong một làng chỉ vẻn vẹn hai trăm bảy mươi ba người, vài ngày trước có năm tên đàn ông bị xử bắn, một vì tội hiếp dâm, hai vì ăn cướp, hai giết người, tất cả phạm tội hồi năm ngoái. Năm tội ác dã man, năm vụ xử tử chỉ trong một ngôi làng bé tí! Công lý được thực thi cực nhanh: kết tội, nhận tội, bắn bỏ. Bài báo đó còn viết rằng làn sóng tội ác bắt nguồn từ “tư tưởng sa đọa và suy đồi của phương Tây”. Trước khi kết án, một trong những tên côn đồ đó thú nhận rằng đầu óc hắn thối rữa sau khi hắn xem lậu một bộ phim Mỹ tên là Naked Gun 33. Tuy vậy, hắn thề rằng hắn vô tội, những tên cướp trên sườn đồi đã giết một du khách Nhật Bản và hắn chỉ mắc tội mua cái đồng hồ Seiko ăn trộm của người phụ nữ đã chết. Nhớ lại bài tường thuật này, tôi điểm lại khả năng bị cướp của chúng tôi. Chiếc đồng hồ nhựa Casio của tôi là loại rẻ tiền. Dù vậy, biết đâu bọn cướp trên sườn đồi thèm những cái đồng hồ kỹ thuật số có gắn máy tính cỡ bằng móng ngón tay cái. Ơn Chúa, tôi đã để hộ chiếu ở nhà Mẹ Lớn. Tôi nghe đồn hộ chiếu đáng giá năm ngàn đôla Mỹ ở chợ đen. Bọn trộm sẵn sàng giết người để lấy.
- Hộ chiếu của anh đâu? - Tôi hỏi Simon.
- Đây. - Anh vỗ vào túi quần sau. - Sao vậy, em tưởng chúng ta gặp đội tuần tra biên giới hay gì nào?
- Của nợ, Simon! Anh không nên mang hộ chiếu theo!
- Sao không?
Chưa kịp trả lời, chúng tôi nghe thấy tiếng sột soạt trong bụi cây, tiếp theo là tiếng lóc cóc. Tôi hình dung bọn cướp trên lưng ngựa. Simon vẫn tiến lên trước.
- Simon! Quay lại đây.
- Gượm đã. - Anh rẽ, khuất tầm mắt. Rồi tôi nghe thấy anh kêu to:
- Này, kia kìa. Chà! Đợi đã… này, đợi đã!
Anh vừa trườn xuống con đường mòn, vừa hét: “Olivia, tránh ra…”, anh đã bay vèo vào tôi mạnh đến nỗi tôi ngã sóng soài. Lúc nằm trên đất, tâm trí tôi như không lệ thuộc vào thể xác. Lạ lùng thay, tôi vẫn bình tĩnh và tỉnh táo. Mọi cảm giác của tôi như sắc bén hơn. Tôi kiểm tra chỗ u trên cẳng chân, tĩnh mạch trên xương bánh chè. Không đau. Không đau! Tôi hiểu không chút ngờ vực hoặc sợ hãi rằng cái chết đang quanh quẩn ở chỗ rẽ. Tôi đã đọc điều này trong các cuốn sách viết về lúc hấp hối, rằng dù hiểu như thế nào đi nữa, bạn vẫn không thể giải thích nổi vì sao. Những khoảnh khắc trôi qua thật chậm. Đây là cảnh hồi tưởng trong chớp mắt con người lúc hấp hối, và tôi ngạc nhiên thấy giây phút ấy kéo dài biết chừng nào. Hình như tôi có một lượng thời gian vô hạn để tổng kết những thứ quan trọng trong đời mình - tiếng cười, niềm vui bất ngờ, Simon… kể cả Simon. Còn nữa, tình yêu, sự tha thứ, sự thanh thản trong lòng, biết rằng tôi không để lại đằng sau bất cứ một rạn nứt hoặc nỗi ân hận lớn lao nào. Tôi cười: Ơn Chúa, tôi mặc đồ lót sạch, dù ở Trung Quốc ai để ý? Ơn Chúa, Simon đang bên cạnh tôi, tôi không lẻ loi trong khoảnh khắc kinh khủng song tuyệt vời này. Ơn Chúa, sau này anh sẽ ở bên tôi… dù ở Thiên đường hay ở Cõi Âm, bất cứ thứ gì đi nữa. Nếu quả thực có một thứ gì đó, nhỡ… nhỡ Elza ở đó thì sao? Liệu Simon có bay vào vòng tay thiên thần của ai đó không? Suy nghĩ của tôi không còn hoàn toàn sáng suốt hoặc đang lành lại nữa, giây phút cứ tích tắc theo nhịp độ thường ngày, và tôi bật dậy, tự nhủ, mẹ kiếp!
Đúng lúc đó những kẻ ám sát chúng tôi xuất hiện, một con bò cái và một con bê, giật mình vì tiếng thét của tôi, chúng đứng khựng lại.
- Có việc gì thế? - Simon hỏi.
Con bò cái kêu một tiếng mòòòòò thật to. Nếu tự làm nhục mình mà chết, ắt tôi phải chết vì cú này. Lễ hiển linh thiêng liêng, trọng đại của tôi là một trò cười nhạo chính tôi. Còn tôi không sao cười nổi. Tôi thấy mình ngu hết chỗ nói. Tôi không còn tin vào sự sáng suốt, khả năng phán đoán của mình được nữa. Tôi biết mình cư xử kỳ cục lắm lắm, cố tìm trật tự trong hỗn độn, sáng tác ra những lập luận ghép nối với nhau, nếu không chúng sẽ còn rời rạc hơn nữa.
Con bò và con bê nhảy cẫng đi khuất. Nhưng chúng tôi vừa trở lại con đường mòn, một thanh niên sải bước đi xuống, gậy cầm trong tay. Cậu ta mặc áo len cao cổ màu xám, sơmi trắng, quần jeans xanh, đi giày thể thao trắng, sạch sẽ.
- Hẳn cậu ta là người chăn bò, - Simon nói.
Bây giờ thì tôi thận trọng khi rút ra bất cứ giả định nào.
- Cũng có thể là một tên cướp, ta chỉ biết vậy.
Chúng tôi đứng tránh sang bên cho cậu ta đi qua. Nhưng khi đến trước mặt chúng tôi, cậu ta dừng lại. Tôi mong cậu ta hỏi một câu gì đó, song cậu ta cứ nín thinh. Vẻ mặt cậu ta nhạt nhẽo, cái nhìn khắc nghiệt, soi mói, gần như phê phán.
- Ni hau! - Simon vẫy chào, dù cậu thanh niên đứng ngay trước chúng tôi.
Cậu ta vẫn im lặng. Cặp mắt lướt từ trên xuống dưới. Tôi bắt đầu bập bẹ bằng tiếng Trung: - Những con bò kia của cậu? Chúng làm tôi sợ đến chết. Có lẽ cậu đã nghe thấy tiếng tôi hét… Chồng tôi và tôi, chúng tôi là người Mỹ, từ San Francisco. Cậu có biết chỗ ấy không? Có? Không?... Hiện giờ chúng tôi đang ở thăm bà dì của chị tôi ở Xướng Miên. Bà Lý Bân Bân.
Vẫn không có trả lời.
- Cậu biết bà ấy không? Thực ra, bà ấy chết rồi. Hôm qua, lúc bà chết chúng tôi chưa gặp. Thật đáng tiếc. Vì thế chúng tôi muốn làm một… à… - Tôi bối rối, không tìm ra từ “đám ma”, vì thế tôi nói, - làm một bữa tiệc cho bà, một bữa tiệc buồn. - Tôi cười căng thẳng, ngượng vì thứ tiếng Trung đặc giọng Mỹ của mình.
Cậu ta nhìn thẳng vào mắt tôi, chăm chú. Tôi thầm nói với cậu ta: Ái chà, chiếu tướng hả, nếu cậu muốn chơi trò này, tôi cũng sẽ nhìn lại trừng trừng. Nhưng sau mười giây, tôi cụp mắt xuống.
- Anh chàng này muốn gì? - Simon hỏi. Tôi nhún vai. Người chăn bò này không giống những người khác tôi gặp ở Xướng Miên, họ có bàn tay thô ráp vì lạnh và tóc cắt tỉa lấy. Cậu ta nom bảnh bao, móng tay sạch sẽ. Trông cậu ta sang trọng một cách ngạo mạn. Nếu ở San Francisco, có thể cậu ta là tiến sĩ, là giảng viên đại học, một nhà thơ chính trị yếm thế. Ở đây cậu là người chăn bò, một người chăn bò phản đối chúng tôi vì những lý do khôn lường. Vì thế, tôi muốn thắng, muốn làm cậu ta mỉm cười, để tin chắc mình không lố bịch.
- Chúng tôi đang đi dạo, - tôi tiếp tục nói tiếng phổ thông. - Nhìn quanh một chút. Ở đây đẹp quá. Chúng tôi muốn xem giữa hai quả núi kia có gì. - Tôi chỉ lên mái vòm, phòng khi cậu ta không hiểu. Simon mỉm cười với cậu ta, rồi cúi xuống tôi: - Hình như cậu ta không hiểu em nói gì. Ta đi tiếp nào.
Tôi khăng khăng:
- Như thế có được không? - Tôi nói với anh chàng chăn bò. - Chúng tôi có cần xin phép ai không? Nơi ấy có an toàn không? Cậu có thể khuyên chúng tôi điều gì? - Tôi ngạc nhiên thấy mình khéo léo dường ấy nhưng có lẽ không được đi quá bãi cỏ ở Xướng Miên. Có lẽ cậu ta ghen tị với chúng tôi.
Dường như đọc được ý nghĩ của tôi, cậu ta cười mỉa.
- Đồ ngu, - cậu ta nói bằng tiếng Anh, phát âm rất chuẩn, rồi quay lưng đi xuống đường mòn. Chúng tôi đờ người không nói nên lời trong vài giây.
Simon bắt đầu bước đi.
- Kỳ quặc thật. Em nói gì với cậu ta?
- Em chẳng nói gì hết!
- Anh không buộc tội em nói gì sai. Nhưng em nói những gì?
- Em nói chúng ta đi dạo. Được chưa? Em hỏi chúng ta có cần xin phép ai không.
Chúng tôi lại lê bước lên đồi, không còn tay cầm tay nữa. Hai cuộc chạm trán lạ lùng, lần đầu với bọn trẻ con, lần này với người chăn bò làm bất cứ cuộc trò chuyện lãng mạn nào cũng thành vô vị. Tôi cố gạt chúng ra khỏi đầu nhưng e rằng không thể. Đây là một lời cảnh báo. Nó hiển hiện như ngửi thấy mùi khó chịu, biết rằng sẽ dẫn đến một thứ đã hỏng, đã chết, thối rữa.
Simon đặt tay lên eo tôi:
- Gì thế?
- Không sao. - Tôi những muốn giãi bày tâm sự với anh, sợ rằng những hy vọng của chúng tôi không hợp nhau. Tôi đứng lại.
- Nghe thì có vẻ ngớ ngẩn, nhưng thực ra em đang tự hỏi đây có phải là điềm gở không.
- Là cái gì?
- Bọn trẻ con đã bảo chúng ta đừng đến đây…
- Chúng nói chúng không thể vào đây. Khác hẳn chứ.
- Anh chàng kia nữa. Cái kiểu cười thầm độc ác như thể cậu ta biết chúng ta không nên vào thung lũng kế tiếp, nhưng không nói ra.
- Cậu ta không cười ác. Chỉ cười thôi. Em y như Quan, hay liên kết hai sự ngẫu nhiên rồi kết luận sặc mùi mê tín.
Tôi nổi giận:
- Anh hỏi em nghĩ gì, và em kể anh nghe! Anh đừng phủ nhận mọi thứ em nói và biến em thành con ngố.
- Này, này, thôi nào. Anh xin lỗi… Anh chỉ thử làm em dịu lại. Giờ em muốn về chứ gì? Em hốt hoảng đến thế ư?
- Chúa ơi, em ghét khi anh nói thế!
- Ơ kìa! Anh có làm gì đâu!
- Hốt hoảng đến thế, - tôi nói gắt gỏng. - Anh chỉ nói thế về đàn bà và những con cún đang kêu ăng ẳng. Rất hạ cố.
- Anh không nghĩ thế.
- Anh không bao giờ miêu tả đàn ông là hốt hoảng.
- Thôi thôi, được rồi! Anh có lỗi. Em không hốt hoảng, em chỉ… chỉ bị kích động thôi! Được chưa? - Anh cười to. - Tươi tỉnh lên nào, Olivia. Có chuyện gì thế?
- Em chỉ… em lo lắm. Em lo nhỡ chúng mình vi phạm, và em không muốn bị bắt gặp như những người Mỹ xấu chơi, liều lĩnh thích gì làm nấy.
Anh vòng tay ôm tôi:
- Anh bảo này. Chúng mình sắp lên đến đỉnh. Chúng mình chỉ ngó một cái thật nhanh rồi trở về. Nếu gặp ai, chúng ta xin lỗi rồi rời đi. Lẽ tất nhiên, nếu em thực sự hốt hoảng, à, lo lắng…
- Thôi đi! - Tôi đẩy anh. - Anh đi đi. Em sẽ đuổi kịp.
Anh nhún vai, rồi sải bước trèo lên con đường mòn. Tôi đứng đó một lát, thầm rủa bản thân không nói điều mình cảm nhận. Nhưng tôi khó chịu thấy Simon không thể hiểu điều tôi muốn. Lẽ ra tôi không nên giải thích tường tận giống như một đòi hỏi, làm tôi thành một mụ đàn bà cằn nhằn cáu kỉnh cả ngày và anh ta là người tử tế phải chịu đựng suốt.
Lúc tôi leo tới đỉnh, Simon đã ở trong mái vòm thứ hai, gần giống hệt cái thứ nhất, nhưng trông cổ kính hơn, hoặc có lẽ mòn vẹt hơn. Một phần tường bị sập, trông như thể không phải bị đổ nát dần dần, mà đúng hơn là do tác động đột ngột của đại bác hoặc súng hỏa mai.
- Olivia! - Simon gọi to từ phía đằng kia. - Lại đây. Em sẽ không tin nổi!
Tôi vội chạy tới, và lúc nhô khỏi mái vòm và nhìn xuống, tôi thấy một quang cảnh làm tôi vừa ớn lạnh vừa sững sờ, một nơi thần tiên tôi đã thấy trong những cơn ác mộng. Nó hoàn toàn không giống thung lũng bằng phẳng và ngập ánh mặt trời mà chúng tôi vừa đi qua. Nó là một khe núi sâu và hẹp, hình thành do những chấn động dữ dội, lổn nhổn như một cái giường chưa dọn, một tấm chăn phủ đầy rêu lộn xộn có những mảng ánh sáng và những túi đựng bóng tối, màu sắc nhạt nhòa của cảnh tranh tối tranh sáng triền miên.
Cái nhìn của Simon đờ ra vì háo hức.
- Tuyệt chưa?
Nhô lên đây đó là những ụ đá, cao bằng tầm người. Trông chúng như những đài kỷ niệm, như một đoàn quân hóa đá. Hoặc họ là bản sao Trung Quốc người vợ bằng muối của Lot3 , những cây cột thể hiện sự mềm yếu của con người, những hài cốt hóa đá của những người bước vào nơi cấm kỵ và dám ngoảnh nhìn lại.
Simon chỉ:
- Nhìn những cái hang kia kìa! Chắc phải đến hàng trăm.
Ven tường, từ chân đến đỉnh núi có nhiều kẽ nứt và rãnh, lỗ thủng và hang. Trông chúng như những ngăn và thùng đựng của một nhà xác khổng lồ thời tiền sử.
- Thật không thể tin được! - Simon kêu lên. Tôi biết anh đang nghĩ đến cái hang trong câu chuyện của Quan. Anh đi xuống một con đường mòn, một cái rãnh thì đúng hơn, nhiều chỗ đặt chân lung lay dưới sức nặng của anh.
- Simon, em mệt rồi. Chân em bắt đầu đau.
Anh quay lại:
- Cứ đợi ở kia. Anh đi vòng vòng khoảng dăm phút thôi. Rồi chúng ta cùng về. Được không?
- Không hơn năm phút đấy! - Tôi hét. - Và đừng vào bất cứ cái hang nào nhé.
Anh đang trèo xuống rãnh. Cái gì làm anh không nhớ tới hiểm nguy vậy? Chắc là một trong những khác biệt về sinh học giữa đàn ông và đàn bà. Bộ não đàn bà dùng cho những chức năng cao hơn và tiến hoá hơn, chúng là nguyên nhân sự nhạy cảm, tính nhân đạo, sự lo toan của họ, trong khi đàn ông dựa vào bản năng nguyên thủy nhiều hơn. Nhìn thấy đá, rãnh. Nguy hiểm, ngửi hít, đi tìm. Rồi hút thuốc. Tôi phát tức vì tính bất cẩn của Simon. Và tôi cũng phải thừa nhận rằng tôi thấy sự bất chấp hiểm nguy và sự theo đuổi trò vui không tính đến hậu quả của anh vừa trẻ con vừa quyến rũ. Tôi nghĩ đến loại đàn ông tôi coi là hấp dẫn: họ là những người trèo Himalayas4, vượt qua những dòng sông trong rừng rậm đầy cá sấu. Không phải vì thế mà tôi coi họ là can đảm. Họ liều lĩnh, không thể đoán trước, khó tin đến phát tức. Nhưng giống như những làn sóng tinh nghịch và những ngôi sao băng, họ cũng gây ra bao xúc động cho cuộc đời, nếu không thì đời sẽ thông thường như nước thủy triều, đều đặn như hết ngày là đến đêm.
Tôi xem đồng hồ. Năm phút đang trôi qua. Rồi sau đó là mười, mười lăm, hai mươi phút. Simon ở chỗ quái nào vậy? Lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh lúc anh đang nhằm tới một nhóm các ụ đá. Anh đi ra sau một bụi cây, rồi tôi không thể theo dõi anh đi đâu nữa. Một giọt mưa rơi lên má tôi. Nhiều giọt khác bắn lên áo khoác của tôi. Trận mưa đổ xuống ngay tức thì.
- Simon! - Tôi gọi to. - Simon! - Tôi mong tiếng tôi vang thật lớn, nhưng nó bị tiếng mưa ào ào át đi. Tôi chúi xuống dưới mái vòm. Cơn mưa nhanh và mạnh làm thành một tấm rèm mờ mịt. Không khí sặc mùi kim loại, khoáng sản trôi khỏi đá. Đỉnh và các sườn đồi trở nên tăm tối, lấp lánh. Những dòng suối nước mưa chảy xuống sườn đồi, những dòng lạch nhỏ làm các tảng đá lung lay. Liệu đây có phải là một trận lũ chớp nhoáng không? Tôi nguyền rủa Simon làm tôi lo lắng vô cùng. Chỉ trong giây phút, nỗi lo lắng biến thành hoảng sợ. Tôi phải rời chỗ trú và đi tìm anh. Tôi kéo chiếc parka trùm đầu, dấn thân vào trận mưa như trút và tiến tới chỗ đường dốc.
Tôi hy vọng sự can đảm vị tha sẽ choán giữ và hướng dẫn tôi đi xuống. Lúc cúi nhìn hẻm núi tối mò, nỗi sợ tràn vào mạch máu tôi làm tay chân tôi tê dại. Cổ họng tôi thắt lại và tôi cầu xin thật to: - Lạy Chúa, lạy Phật, lạy các chư vị thần linh, bất cứ ai lắng nghe. Hãy phù hộ cho anh ấy trở về ngay bây giờ. Con không thể chịu đựng hơn được nữa. Hãy làm cho anh ấy trở lại, và con hứa…
Mặt Simon lọt vào tầm nhìn. Tóc anh, áo khoác, quần jeans của anh ướt sũng, anh đứng đó, hổn hển như một con cún muốn chơi trò tìm kiếm nữa. Lòng biết ơn của tôi biến thành giận dữ.
Chúng tôi chạy vào mái vòm. Simon cởi tuột áo khoác và vắt cánh tay áo, tạo thành một dòng chảy nhỏ trên mặt đất.
- Giờ chúng ta làm gì nào? - Tôi cằn nhằn.
- Sưởi ấm cho nhau, - răng anh đánh lập cập. Anh dựa vào tường hầm, rồi kéo tôi vào sát người, lưng tôi áp vào ngực anh, cánh tay anh vòng quanh tôi. Bàn tay anh lạnh như băng. - Nào, thư giãn đi. - Anh nhè nhẹ đu đưa tôi. - Thế, thế tốt hơn.
Tôi thử nhớ lại cuộc làm tình buổi sáng, niềm vui bất ngờ, cảm xúc dâng trào cả hai chúng tôi đã có. Nhưng các cơ khắp người tôi bó chặt và co rút - hàm, ngực và trán. Tôi cảm thấy bị kiềm chế, ngột ngạt. Tôi tự hỏi, làm sao có thể thư giãn nổi? Sao tôi lại để mọi chuyện xảy ra như thế này? Cần phải hoàn toàn tin cậy mới làm thế chứ.
Lúc đó, một ý nghĩ xấu xa len vào đầu tôi: Từ khi ly thân, Simon có ngủ với những người đàn bà khác không? Đương nhiên là có! Đàn ông không thể thiếu sex vài ngày. Có lần - cách đây vài năm -, chúng tôi tình cờ đọc bảng câu hỏi thăm dò trong một tạp chí: “Hoạt động tình dục thầm kín của người tình của bạn”, hay một thứ gì đại loại thế. Tôi đọc to câu hỏi đầu tiên cho Simon nghe: “Người tình của bạn thủ dâm bao nhiêu lần?”. Lúc tôi thầm nghĩ “không bao giờ hoặc hãn hữu” thì Simon nói: “Ba hoặc bốn lần một tuần. Cái đó còn tùy”.
- Tùy cái gì? - Tôi buột miệng. - Vào trời đẹp chắc?
- Buồn chán, hoặc bất cứ thứ gì, - anh trả lời. Còn tôi nghĩ, hai lần một tuần với tôi mà buồn chán ư?
Lúc này tôi tự hỏi, từ khi chúng tôi tan vỡ, anh đã buồn chán bao nhiêu người đàn bà?
Simon xoa bóp cổ tôi:
- Chúa ơi, chỗ này của em bó chặt rồi này. Em có cảm thấy không?
- Simon, sáng nay ấy, anh biết không?
- Hừm, rất thích.
- Nhưng anh không nghĩ chúng ta nên dùng bao cao su ư? - Tôi mong anh nói: “Để làm gì? Anh đang bắn trúng đích mà”. Nhưng thay vào đó, anh nín thở. Các ngón tay anh ngừng xoa bóp. Rồi anh chà xát cánh tay tôi thật nhanh.
- Hừm. Ừ nhỉ. Anh cho là anh quên.
Mắt tôi đờ dại. Tôi cố thở bình tĩnh. Tôi sắp căn vặn anh. Nhưng tôi có thể hiểu bất cứ điều gì anh nói sau này. Ngoài ra, tôi cũng chẳng trong sạch gì. Tôi đã ngủ với Rick, viên giám đốc marketing đáng sợ, hay đúng hơn là chúng tôi dò dẫm, không bao giờ cần đến bao cao su khi nằm trên cái bàn ở đầu giường, vì “võ sĩ nhà nghề” - như người hẹn hò của tôi gọi cái của quý ẻo lả của anh ta, - thường đình công, chưa bao giờ làm được gì, anh ta cam đoan với tôi là chưa từng. Lẽ tất nhiên, tôi cảm thấy bị xúc phạm về mặt tình dục, nhất là sau khi tôi giả vờ thở dài và rùng mình đúng lúc, cứ như bị kích thích ghê lắm.
Miệng Simon kề sát tai tôi. Hơi thở của anh nhắc tôi nhớ đến tiếng biển cả rì rào khi áp tai vào vỏ ốc anh vũ, một hồi ức giờ đây thành một vòng xoắn vô tận.
- Simon, về việc bao cao su ấy mà, anh thử nói anh đã ngủ với ai chưa?
Anh ngừng thở. Anh nhấc đầu khỏi tai tôi.
- Ờ, ờ, nếu có anh cũng không nhớ nữa. - Anh xiết chặt tôi. - Với lại, chẳng ý nghĩa gì. Chỉ có em thôi. - Anh vuốt tóc tôi.
- Còn họ? Họ là bao nhiêu người?
- Ư… Trời ạ, anh không biết.
- Mười? Hai mươi?
Anh cười phá.
- Cho anh nghỉ nào.
- Ba? Bốn?
Anh nín lặng. Tôi nín lặng. Anh thở ra, hơi thay đổi tư thế.
- Hừm. Có lẽ đại loại thế.
- Nhưng là bao nhiêu? Ba hay bốn?
- Olivia, đừng nói đến chuyện này nữa. Nó chỉ làm em khó chịu thôi.
Tôi rứt khỏi anh:
- Em khó chịu rồi đây. Anh ngủ với bốn người đàn bà khác mà sáng nay, anh còn chẳng thèm dùng một cái bao cao su khốn nạn! - Tôi đi sang phía đối diện của mái vòm và trừng trừng nhìn anh, vẻ dò hỏi, hậm hực.
- Là ba. - Anh nhìn xuống chân. - Anh đều cẩn trọng. Anh không bị lây nhiễm gì đâu. Lần nào anh cũng dùng bao cao su.
- Lần nào! Biết bao nhiêu hộp rồi! Anh chỉ biết giữ cho anh mà không nghĩ đến em.
- Kìa Olivia. Thôi đi.
- Họ là ai? Em có biết người nào không? Kể cho em nghe. - Tôi nghĩ đến Verona, giám đốc nghệ thuật tự do, một người đàn bà chúng tôi thuê năm ngoái làm một dự án, người tôi vốn coi thường. Mọi thứ của cô ta đều giả, tên giả, lông mi giả, móng tay giả, ngực giả. Có lần tôi bảo Simon là ngực cô ta quá cân đối, khó mà tin là thật. Simon cười to và nói: “Chúng kêu lóc bóc y như đồ thật”. Khi tôi hỏi vì sao anh biết, anh bảo mỗi khi cùng xem các thiết kế, cô ta cứ dựa sát vào anh và ép đầu vú vào cổ anh. “Sao anh không nói gì?” - Tôi hỏi. Anh bảo chỉ cần chú ý hơn đến thực tế là cô ta đang ra sức tán tỉnh sẽ hay hơn là phớt lờ nó đi, vì anh không làm gì hết.
- Một trong những người ấy là Verona? - Tôi ghì chặt cánh tay vào ngực, cố không run. - Anh hé miệng rồi ngậm lại, cam chịu. - Anh đã ngủ với con chó cái ấy phải không?
- Anh không nói thế, là em nói.
Tôi nổi điên:
- Vậy hãy nói em nghe, họ là những ai? Là cô ả có bộ ngực kêu lóc bóc?
- Thôi đi Olivia. Thôi đi. Chuyện này có gì quan trọng với em nào? Nó chẳng có ý nghĩa gì hết.
- Nó có nghĩa rằng anh chưa bao giờ có ý định trở về với tôi hết! Nó có nghĩa là tôi không thể tin anh. Tôi chưa bao giờ có thể tin nổi anh. - Tôi nổi khùng, chìm đắm, và cần phải kéo Simon chìm xuống cùng tôi. - Tôi chưa bao giờ có ý nghĩa gì với anh hết! Tôi chỉ đánh lừa mình, tưởng mình là thế. Cả Quan cũng lừa anh bằng những mánh lới ma quỷ ngớ ngẩn, cái buổi gọi hồn ấy. Nào, anh nhớ ra chưa? Elza đã nói những gì? Anh hãy quên cô ấy đi, hãy lo đến cuộc sống của mình. Anh có hiểu gì không? Quan bịa ra đấy. Chị ấy nói dối! Tôi đã nhờ chị ấy nói thế.
Simon cười khẽ.
- Olivia, em hành động thật điên rồ. Em tưởng anh tin cái trò gọi hồn vớ vẩn ấy à? Anh tưởng cả hai chúng ta làm vừa lòng Quan.
Tôi nức nở:
- Đúng, cười mãi… Chỉ có điều đấy không phải trò đùa, Simon ạ, Elza ở đấy thật! Tôi thề là cô ấy ở đấy, tôi đã nhìn thấy cô ấy. Anh có biết cô ấy nói gì không? Quên cô ấy ư? Ô không, mẹ kiếp! Cô ấy van xin anh hãy quên tôi. Cô ấy bảo hãy đợi…
Simon vỗ bàn tay lên trán:
- Nhưng em không bao giờ từ bỏ, đúng không?
- Tôi từ bỏ? Anh mới không bao giờ từ bỏ cô ấy!
Mắt Simon nheo lại:
- Em muốn biết vấn đề thực sự là gì không? Em dùng Elza làm bung xung cho mọi thứ thiếu tự tin của em. Em đã làm cho cô ấy thành quan trọng trong đời em, hơn cả trong đời anh. Em chưa bao giờ biết cô ấy, nhưng em hướng mọi nghi ngờ bản thân vào cô ấy…
Tôi bịt tai lại. Lúc anh vẫn tiếp tục chất những phân tích vô lý, giả hiệu lên tôi, tôi nặn óc tìm một vũ khí khác, một viên đạn cuối cùng, chí tử, trúng tim. Chính lúc đó tôi chợt nhớ ra tôi đã đọc trộm mấy bức thư Elza gửi Simon, những tên cưng nựng, âu yếm của họ, những lời hứa thời thanh xuân của họ. Tôi quay sang anh: - Anh tưởng em điên ư? Có lẽ là như thế, vì ngay lúc này em có thể nhìn thấy cô ấy! Phải, Elza! Cô ấy đang đứng ngay trước mặt anh. Cô ấy chỉ nói: “Thiên thần Buns, anh tưởng em không quan trọng sao?”. - Mặt Simon đông cứng lại. - “Anh hãy đợi nhé, chúng ta đã định trồng cây cùng nhau, mỗi năm một cây”.
Simon cố bịt miệng tôi. Tôi nhảy lùi lại.
- Anh không thấy sao? - Tôi lải nhải. - Cô ấy ở đây! Cô ấy trong đầu anh. Cô ấy trong tim anh! Cô ấy luôn ở đây, ngay bây giờ, tại cái nơi khốn nạn, ngớ ngẩn này, với bao điềm gở khốn nạn, ngớ ngẩn của cô ấy, bảo chúng ta phải chịu số phận bi đát, Simon, chúng ta bị kết tội!
Rốt cuộc, Simon có một vẻ mặt mà trước kia tôi chưa bao giờ thấy. Nó làm tôi sợ. Anh run bắn. Những giọt nước chảy dài trên má anh - nước mưa hay nước mắt?
- Tại sao em làm thế này? - Anh gào lên.
Tôi quay người bỏ chạy khỏi mái vòm, lao vào trong mưa. Tôi chạy qua thung lũng, thở hổn hển, làm trái tim muốn vỡ. Lúc tôi về đến nhà Mẹ Lớn, mưa đã tạnh. Tôi đi qua sân, và Quan nhìn tôi, một trong những cái nhìn hiểu biết của chị: - Libby-ah, ôi, Libby-ah, - chị rên lên. - Sao em khóc?

