Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 20
20. THUNG LŨNG TƯỢNG
Simon vẫn chưa về. Tôi nhìn đồng hồ. Một giờ nữa trôi qua. Tôi hình dung anh đang nổi đóa. Tốt thôi, cứ để anh chàng chết cóng ở đấy. Chưa đến buổi trưa. Tôi rút một cuốn sách bìa mềm và trèo lên giường. Giờ đây, chuyến đi Trung Quốc đã thất bại thảm hại. Simon sẽ phải ra đi. Như thế là khôn ngoan nhất. Song le, anh ta không biết tí tiếng Trung nào. Đây là làng của Quan, và chị là chị của tôi. Còn bài báo, tôi sẽ mang những ghi chép từ đây về, tìm người biên tập thành một bài hoàn chỉnh.
Quan gọi to đã đến giờ ăn trưa. Tôi thu hết bình tĩnh, sẵn sàng đối mặt với cuộc thẩm vấn kiểu Tàu. “Simon đâu?” - chị sẽ hỏi: “Ái dà, tại sao các em hay cãi nhau thế?”. Quan đang trong phòng chính, đặt một bát bốc hơi nghi ngút lên bàn.
- Thấy chưa? Đậu phụ, mộc nhĩ, dưa góp. Em muốn chụp ảnh không? - Tôi chẳng muốn ăn, cũng chẳng thiết chụp ảnh. Đỗ Lili bươn bả vào phòng, bưng nồi cơm và ba cái bát. Chúng tôi bắt đầu ăn, hay đúng hơn là họ ăn, hăm hở, phê phán.
- Lúc đầu nhạt quá, - Quan phàn nàn. - Giờ lại mặn quá. - Đây có phải là lời úp mở về Simon và tôi không? Vài phút sau, chị bảo tôi, - Sáng nay trời nắng to, thế mà bây giờ lại mưa kìa. - Chị ví von cuộc cãi vã của tôi với Simon? Nhưng suốt bữa ăn, chị và Đỗ Lili không hề nhắc đến tên anh. Thay vào đó, họ nói chuyện thân mật về người làng, về những cuộc cưới hỏi và bệnh tật, những thảm kịch bất ngờ và kết cục vui vẻ trong ba chục năm qua, tôi không hề quan tâm đến mọi chuyện đó. Tai tôi mải ngóng ra cổng, đợi tiếng cót két và đóng sầm của Simon trở về. Tôi chỉ nghe thấy tiếng mưa rơi, lộp độp vô nghĩa.
Ăn xong, Quan nói chị và Đỗ Lili đến hội trường xã thăm Mẹ Lớn. Tôi có muốn đi cùng không? Tôi hình dung Simon về đến nhà, tìm tôi, anh càng khó chịu, lo lắng, thậm chí điên rồ hơn. Khốn kiếp, anh sẽ không lo mà là tôi.
- Em nghĩ là em sẽ ở nhà, - tôi bảo Quan. - Em sắp xếp lại các phụ tùng máy ảnh và các ghi chép ít lâu nay.
- Thôi được, khi nào làm xong, em đi thăm Mẹ Lớn nhé. Lần cuối cùng mà. Ngày mai chúng ta sẽ làm đám ma.
Cuối cùng, khi chỉ còn một mình, tôi phân loại phim, kiểm tra độ ẩm. Thời tiết này thật tệ! Ẩm ướt và giá buốt dù mặc tới bốn lớp quần áo, tôi vẫn cảm thấy da lạnh và ẩm, ngón chân tê cóng. Sao tôi lại ưu tiên những thứ lộng lẫy hơn quần áo ấm?
Trước khi đi Trung Quốc, Simon và tôi đã bàn nên mang những gì. Tôi đóng một va li to, một chăn lông vịt, một túi đựng máy. Simon nói anh chỉ có hai vali xách tay, và giễu tôi:
- Này, đừng nhờ anh kéo lê đống đồ đồng nát thừa của em đấy nhé.
Tôi đập lại:
- Ai nhờ anh?
Anh trả đũa bằng câu chế nhạo nữa:
- Em không nhờ mà mong.
Sau nhận xét đó, tôi quyết không để Simon giúp tôi dù anh có năn nỉ. Giống nhà thám hiểm đầu tiên đối mặt với đàn bò đực và một sa mạc phải vượt qua, tôi làm bản kiểm kê hành lý của mình lâu và chi li. Tôi quyết định giảm hành lý xuống mức tự cung tự cấp: một vali kéo có bánh xe và một túi đựng máy ảnh. Tôi loại ra mọi thứ không cần thiết lắm. Bỏ đầu đĩa xách tay, các CD, kem tẩy da chết, nước se da, kem trẻ hóa da, máy sấy tóc và dầu dưỡng tóc, hai quần chẽn và áo tunic hợp bộ, một nửa đồ lót và bít tất, vài cuốn tiểu thuyết tôi định đọc trong mười năm qua, một túi mận khô, hai trong ba cuộn giấy vệ sinh, một đôi ủng nhăn và buồn nhất là một áo vét màu đỏ thắm. Quyết đến một nơi định sẵn, tôi dự đoán thời tiết nhiệt đới, mong có một đêm đặc biệt được xem kịch hát Trung Quốc, mà không hề hỏi nơi đó có điện không.
Thế là lúc này tôi bực bội nhìn đồ đạc trong cái va li nhỏ xíu gồm hai sơ mi lụa không tay, cái quần soóc vải bố, nồi hấp quần áo, đôi xăng đan, áo bơi và một áo cộc tay màu hồng. Buổi xem nhạc kịch duy nhất để tôi mặc nó là chương trình diễn ra trên mảnh sân bé tí của tôi. Ít ra tôi còn có một áo bludông không thấm nước. An ủi thì nhỏ nhoi, ân hận lại quá lớn. Tôi thèm một chiếc áo khoác theo kiểu một người trôi giạt trong biển cả thèm nước ngọt đến khốn khổ. Nó sẽ đem lại hơi ấm cho tôi! Cái thời tiết tệ hại này! Simon thoải mái và ấm áp trong chiếc áo khoác của anh…
Chiếc áo khoác của Simon đã ướt sũng và vô dụng. Trước lúc bỏ đi, tôi tưởng anh run vì giận. Giờ tôi băn khoăn. Ôi lạy Chúa! Đấy có phải là dấu hiệu mất nhiệt không? Một hồi ức mơ hồ về lạnh và giận thoáng qua tâm trí tôi. Khoảng dăm, sáu năm trước thì phải?
Lần ấy, tôi đang chụp ảnh trong phòng cấp cứu, nơi vốn là nguồn ấn tượng cho báo cáo hàng năm của bệnh viện. Một tốp y công đẩy xe chở một người đàn bà ăn mặc tiều tuỵ, nặc mùi nước tiểu vào. Bà ta nói năng líu nhíu, than vãn là bị cháy sạch sành sanh và phải bỏ chiếc áo khoác lông chồn bà không hề có. Tôi đoán rằng bà ta say rượu hoặc đang say ma túy. Rồi bà ta bắt đầu co giật.
- Máy khử rung tim! - Có người kêu to. Sau này tôi hỏi một y tá là nên chú thích ảnh ra sao - Bị đau tim? Say rượu? Người y tá giận dữ nói:
- Cứ ghi bà ta chết vào tháng Giêng. - Thấy tôi không hiểu, anh ta nói. - Bây giờ là tháng Giêng. Trời rất lạnh. Bà ta chết vì giảm thân nhiệt, giống như sáu người vô gia cư khác trong tháng này.
Việc đó không thể xảy ra với Simon. Anh khỏe mạnh. Anh luôn luôn quá ấm áp. Anh thường hạ cửa xe ô tô trong lúc những người khác rét cóng mà không buồn hỏi. Anh hay thiếu chu đáo như thế. Anh bắt mọi người phải đợi. Anh chẳng để ý là họ có thể lo lắng. Anh sẽ có mặt ở đây bất cứ phút nào. Anh sẽ đến với cái cười toe toét như chọc tức của riêng anh, và tôi sẽ thấy mình ngu ngốc vì lo âu vô lý.
Sau năm phút cố thuyết phục mình đủ lý lẽ, tôi chạy đến hội trường xã tìm Quan.
Trong đường hầm của mái vòm thứ hai, Quan và tôi tìm thấy cái áo khoác của Simon trên mặt đất, nhàu nát như một cái xác gãy vỡ. Hãy thôi thút thít đi, tôi tự nhủ. Khóc lóc có nghĩa là mi nghĩ việc xấu nhất đã xảy ra.
Tôi đứng ở đầu gờ vào hẻm núi và nhìn xuống, tìm kiếm một thoáng động đậy. Hàng loạt cảnh khác nhau lướt trong đầu tôi. Simon giờ đang mê sảng, ăn mặc nửa vời lang thang trong hẻm núi. Những tảng đá lăn từ đỉnh núi xuống. Cậu thanh niên giờ không phải là người chăn bò mà là một tên cướp hiện đại, ăn trộm hộ chiếu của Simon. Tôi buột miệng nói với Quan:
- Bọn em gặp mấy đứa trẻ con, chúng nó la hét ngăn bọn em. Sau đó một cậu với mấy con bò gọi chúng em là đồ ngu… Em rất hoảng. Em hơi cáu, còn Simon thì… anh ấy cố tỏ ra dễ thương nhưng sau đó như hóa điên. Ờ, em nói gì nhỉ, ý em không phải thế. - Trong đường hầm kín đáo, lời lẽ của tôi vang vang vừa như xưng tội vừa không thành thật.
Quan buồn bã, lặng lẽ lắng nghe. Chị không nói gì giảm nhẹ mặc cảm tội lỗi của tôi. Chị không trả lời với vẻ lạc quan giả dối là mọi sự sẽ tốt đẹp. Chị kéo khóa cái ba lô mà Đỗ Lili một mực bắt mang theo. Chị trải một tấm choàng1 lên mặt đất, thổi phồng tấm nệm, sắp xếp cái lò nho nhỏ dùng đi cắm trại và bình nhiên liệu dự phòng.
- Nếu Simon trở về nhà Mẹ Lớn, - chị suy luận bằng tiếng Trung. - Đỗ Lili sẽ cử người đến báo cho chúng ta. Nếu cậu ấy trở lại nơi này, em sẽ ở đây giúp cậu ấy sưởi ấm. - Chị xòe ô.
- Còn chị đi đâu?
- Nhìn quanh một cái, vậy thôi.
- Nhỡ anh ấy bị lạc?
- Meiyou wenti. Đừng lo, - chị bảo tôi. - Đây là ngôi nhà hồi bé của chị. Chị biết từng tảng đá, từng khúc ngoặt, từng chỗ rẽ như những người bạn thân. - Chị bước ra, dấn thân vào màn mưa phùn.
Tôi gọi với:
- Chị đi bao lâu?
- Không lâu đâu. Có lẽ khoảng một giờ, không hơn.
Tôi nhìn đồng hồ. Gần bốn rưỡi. Khoảng năm rưỡi, nửa giờ vàng sẽ đến, nhưng lúc này bóng chiều chạng vạng làm tôi sợ hãi. Đến sáu giờ sẽ quá tối để đi.
Chị đi rồi, tôi đi tới đi lui giữa hai đầu mái vòm. Tôi nhìn phía bên này chẳng thấy gì, rồi lặp lại với phía bên kia. Anh sắp chết mất, Simon. Đấy là định mệnh. Tôi nghĩ đến những người gặp bao điều kỳ lạ. Một người trượt tuyết ở Squaw Valley2 bị lạc đã đào một cái hang trong tuyết, ba ngày sau được cứu sống. Nhà thám hiểm bị kẹt trên một tảng băng trôi - có phải là John Muir3 không? - đã nhảy lò cò suốt đêm dài và sống sót. Và lẽ tất nhiên cả câu chuyện của Jack London kể về một người đàn ông gặp bão tuyết đã gây được đống lửa bằng các cành cây ướt. Nhưng lúc đó những kết cục khác đến trong đầu tôi: một tảng tuyết từ cành cây trượt xuống dập tắt mọi hy vọng của anh ở bên dưới. Rồi một kết cục khác đến trong đầu tôi: một người trượt tuyết bằng ván rơi vào một cái cây, sáng hôm sau tìm thấy đã chết. Một người đi săn một hôm nào đó ngồi chết trên biên giới Ý-Áo và không được phát hiện, cho đến hàng ngàn năm sau tuyết tan.
Tôi cố suy ngẫm để phác ra những ý kiến phủ định: lòng bàn tay mở, trí tuệ mở. Nhưng tôi chỉ có thể nghĩ sao các ngón tay tôi lạnh đến thế. Simon có lạnh thế không?
Tôi tưởng tượng mình là Simon, đứng trong cái mái vòm này, tức điên vì cuộc cãi vã của chúng tôi, cơ bắp căng thẳng, muốn lao vào bất cứ hướng nguy hiểm nào. Trước kia tôi đã thấy chuyện đó xảy ra. Khi biết tin anh bạn Eric của chúng tôi chết ở Việt Nam, Simon đã đi lang thang một mình rồi kết cục bị lạc trong khu rừng khuynh diệp ở Presidio. Một việc tương tự đã xảy ra khi chúng tôi đến thăm vài người bạn của bạn bè ở nông thôn, một người kể những chuyện vui về phân biệt chủng tộc. Simon đứng phắt dậy, tuyên bố anh chàng kia có cái đầu bậy bạ. Lúc đó tôi rất cáu vì anh gây nên chuyện cãi vã và bỏ tôi lại giải quyết hậu quả. Nhưng bây giờ, nhớ lại lúc đó, tôi buồn rầu mà thán phục anh.
Mưa đã tạnh. Chắc anh phải nhìn thấy chứ. “Này, - tôi hình dung anh bảo. - Chúng mình ghi lại những tảng đá này nhé”. Tôi bước ra ngoài gờ, nhìn xuống. Anh sẽ không thấy cách tôi cúi đến lộn ruột lộn gan này. Anh sẽ không thấy hàng trăm cách đập vỡ sọ anh. Anh chỉ đi xuống con đường mòn. Tôi cũng xuống. Simon có đi đường này không? Xuống khoảng nửa chừng, tôi ngoảnh nhìn lại rồi rẽ. Không có đường khác vào nơi này, trừ khi anh lao qua gờ và rơi qua hơn hai chục mét xuống đáy. Simon không muốn tự tử, tôi thầm nhủ. Hơn nữa, những người tự tử hay nói đến việc này trước khi thực hiện. Tôi nhớ đã đọc trong Chronicle về một người đàn ông đỗ chiếc Range Rover mới tinh trên cầu Golden Gate trong giờ cao điểm, rồi lao qua thành cầu. Như thường lệ, bạn bè anh ta tỏ ra sửng sốt và không tin. “Tuần trước tôi vừa gặp anh ấy ở câu lạc bộ sức khỏe”, một người được báo nói thế. “Anh ấy còn bảo tôi anh ta giữ vững hai ngàn cổ phiếu Intel giá mười hai, nay bán với giá bảy mươi tám. Anh ta đang nói đến tương lai kia mà”.
Xuống đến đáy khe, tôi kiểm tra bầu trời theo lượng ánh sáng còn rớt lại. Tôi nhìn thấy những con chim màu sẫm rung rinh như lũ bướm đêm, chúng rơi đột ngột rồi lại vỗ cánh bay vút lên. Chúng rít lên the thé, âm thanh của những con vật hoảng sợ. Những con dơi! Hẳn là chúng vừa thoát khỏi một cái hang, nay bay ra ngoài lúc chạng vạng là giờ của các côn trùng. Trước kia ở Mexico tôi đã nhìn thấy dơi, người hầu phòng gọi chúng là mariposas, những con bướm đêm, chúng không sợ gì du khách. Hồi đó tôi không sợ chúng,và bây giờ cũng không. Chúng là vật báo hiệu cho hy vọng, được chào đón như chim bồ câu ngậm cành lá bay đến thuyền Noah4. Sự cứu rỗi ở rất gần. Simon cũng ở gần đây. Có lẽ đàn dơi ướt sũng vì Simon bước vào hang và phá giấc ngủ treo ngược thân của chúng.
Tôi đi theo con đường mòn ngoằn ngoèo, mấp mô, cố nhìn xem lũ dơi từ đâu đến, chúng trở về chỗ nào. Tôi trượt chân và bị trẹo mắt cá. Tôi tập tễnh leo lên một tảng đá và ngồi xuống.
- Simon! - Tôi mong tiếng gọi của tôi vang vọng như trong một khán đài vòng. Nhưng tiếng kêu của tôi bị khe núi sâu hoắm hút hết.
Rốt cuộc tôi không còn lạnh nữa. Gió khó mà lọt tới đây. Không khí nơi đây tĩnh lặng, nặng nề, gần như ngột ngạt. Lạ thật. Không phải là gió thổi nhanh hơn chứ? Có phải đấy chính là Chiều J mà Simon và tôi đã đọc trong cuốn sách mỏng đó, chính là hiệu ứng Bernoulli chống lại hiện tượng Manhattan hóa, hàng rừng những ngôi nhà chọc trời tạo thành các ống gió, vì khối lượng nhỏ hơn của không khí đi qua làm giảm áp suất và tăng tốc độ, - hay làm tăng áp suất nhỉ?
Tôi ngước nhìn mây. Mây chuyển động thành luồng. Chắc chắn là gió thổi ngược lên trên. Càng quan sát kỹ, mặt đất như càng lung lay, giống đáy của dụng cụ ly tâm vắt nước rau. Lúc này, đỉnh núi, cây cối, những tảng đá mòn trở nên đồ sộ, to gấp mười lần một phút trước. Tôi đứng dậy và đi, lần này đặt chân thận trọng. Dù mặt đất có vẻ bằng phẳng, hình như tôi đang trèo lên một đường dốc đứng. Hình như có một lực đẩy bật tôi lại. Đây là một trong nhiều nơi trên trái đất mà các thuộc tính thông thường về trọng lượng, mật độ, âm lượng và vận tốc bị nhiễu loạn? Tôi túm lấy những kẽ nứt của một đống đá và cố hết sức đứng dậy, tôi chắc một mạch máu trong đầu tôi sẽ vỡ tung.
Sau đó tôi thở không ra hơi. Tôi đang đứng trên một cái gờ. Bên dưới là khoảng sáu mét dốc ngược đột ngột, như thể trái đất đổ sụp tựa món trứng rán phồng, tạo ra một chỗ đất sụt khổng lồ. Trải dài lên các quả núi ở phía bên kia khe nứt là một bãi đất hoang mấp mô như cái gối cắm kim, đầy những thứ tôi đã nhìn thấy lúc trước - những ụ đá hình tháp, hoặc là những đài kỷ niệm. Nó giống một khu rừng cây cháy trụi hóa đá hoặc giống một khu vườn bí mật đầy những măng đá trước kia là một cái hang. Một ngôi sao băng rơi ở đây chăng? Đây chính là Thung lũng Bóng tối Tử thần.
Tôi đi tới một trong những vật tạo thành và đi vòng quanh nó như một con chó, rồi lại đi vòng quanh lần nữa, cố cảm nhận. Dù là gì đi nữa, chắc chắn nó không thể mọc ra một cách tự nhiên. Có người đã chủ tâm xếp các tảng đá này trông không hề thăng bằng ở nhiều góc độ. Vậy sao các tảng đá không đổ? Nhiều tảng đá mòn lớn đậu vắt vẻo ở các điểm thành các hình tháp nhỏ. Nhiều tảng đá khác ngất nghểu ở những vị trí kích thước không hòa hợp, dường như chúng là các mạt sắt bám trên thanh nam châm. Có thể coi chúng là nghệ thuật hiện đại, những công trình điêu khắc các ngọn đèn và giá treo mũ, được trù tính chính xác tạo cho chúng một dáng vẻ phóng khoáng. Trên một đống đá cao nhất trông giống một quả bóng gỗ méo mó, có những cái lỗ làm ta liên tưởng đến các hốc mắt và cái miệng đang kêu thét, giống con người trong tranh của Edvard Munch5. Tôi thấy các ụ đá khác cũng có nhiều nét tương tự. Những ụ đá này làm từ bao giờ? Ai làm và tại sao? Simon muốn xuống đây cũng chẳng có gì lạ. Anh đã trở lại để khám phá thêm. Lúc tôi đi tiếp, sự tập hợp lạ lùng các tảng đá này ngày càng giống các nạn nhân của Pompeii6, Hiroshima7 và Apocalypse8. Tôi bị cả một đội quân tượng đá vôi vây quanh, những thân hình mọc lên từ các tàn tích hóa thạch của các sinh vật biển cổ xưa.
Một mùi ẩm ướt, mốc meo đập vào mũi tôi và nỗi hoảng sợ dâng lên trong họng tôi. Tôi nhìn quanh tìm dấu hiệu thối rữa. Trước đó tôi cũng đã ngửi thấy mùi hôi thối này. Nhưng ở đâu? Khi nào? Nó quen thuộc, tràn ngập, làm khứu giác đâm nhàm. Hay có khi đây là bản năng, giống như thú vật nhận biết mùi khói từ đống lửa, và lửa sẽ dẫn đến nguy hiểm. Mùi này cứ vương vấn trong não tôi như một hồi ức thuộc bản năng, như chất lắng đọng của nỗi sợ và nỗi buồn quặn thắt ruột gan, nhưng rõ lý do.
Tôi vội vã đi qua một ụ đá khác. Nhưng vai tôi chạm vào phần gờ nhô ra và tôi hét lên khi cả đống đổ sụp. Tôi nhìn trừng trừng vào đống đổ nát. Tôi đã hủy hoại điều kỳ diệu của ai đây? Tôi có cảm giác khó chịu là tôi đã phá hủy một câu thần chú và những biến dạng này sẽ sớm gây ảnh hưởng và tiếp nối. Mái vòm ở đâu nhỉ? Lúc này dường như có nhiều ụ đá hơn - chúng đã nhân gấp bội chăng? - còn tôi phải len qua mê cung này, chân tôi đi về một hướng, tâm trí tôi lại bảo nên đi theo hướng khác. Simon sẽ làm gì đây? Mỗi khi tôi ngập ngừng trước khi thực hiện một kỳ công về thể chất, anh lớn tiếng lập luận, khẳng định với tôi rằng tôi có thể chạy thêm nửa dặm nữa, hoặc đi bộ đến quả đồi tiếp đó hay bơi đến tận bến cảng. Trước kia, đã nhiều lần tôi tin anh, và cảm kích vì anh tin tôi.
Tôi tưởng tượng lúc này Simon giục tôi:
- Tiến lên nào, cô Hướng đạo sinh, nhúc nhích cái mông lên nào. - Tôi tìm bức tường đá để định hướng chỗ mái vòm. Nhưng không thấy gì hết. Tôi chỉ thấy sự thay đổi của những cái bóng sáng như nhau. Tôi nhớ lại những lần tôi cáu Simon vì đã nghe anh và thất bại. Tôi rủa anh sau khi tôi thử trượt patanh và ngã dập mông. Tôi kêu la vì ba lô quá nặng.
Tôi ngồi trên đất, cáu tiết, rên rỉ. Mẹ kiếp, tôi phải gọi một chiếc taxi. Trông tôi mới thờ thẫn làm sao. Tôi có thực lòng tin rằng tôi có thể giơ hai tay lên vẫy taxi và ra khỏi mớ hỗn độn này? Tôi cố tích trữ niềm vui nội tâm - tôi có sẵn sàng trả tiền taxi không? Sao không phải là một chiếc limo? Ắt hẳn tôi mất trí rồi!
- Simon! Quan! - Nghe thấy sự hoảng hốt trong giọng nói, tôi càng sợ hãi hơn. Tôi cố chuyển động nhanh hơn nhưng cơ thể nặng trĩu như bị hút vào trung tâm trái đất. Tôi va vào một pho tượng. Một tảng đá đổ làm xước vai tôi. Chỉ thế thôi, bao sợ hãi tôi cố kìm nén bùng ra đằng miệng và tôi bắt đầu khóc như một đứa trẻ. Tôi không sao đi nổi. Tôi không thể suy nghĩ. Tôi ngồi trên mặt đất và ghì chặt lấy người. Tôi bị lạc rồi! Họ bị lạc rồi! Cả ba chúng tôi bị kẹt trong cái mảnh đất kinh khủng này. Chúng tôi sẽ chết ở đây, thối rữa và bị bỏ quên, rồi hóa đá và trở thành những pho tượng không mặt khác! Tôi rít lên, giọng the thé. Những cái hang đang ca hát, bài hát buồn, bài hát tiếc thương.
Tôi bịt tai, nhắm mắt, cố chặn sự điên rồ của thế giới, của tâm trí tôi, của cả hai. Tôi có thể ngăn được, tôi tự nhủ. Tôi cố hết sức tin điều này. Tôi cảm thấy dây thần kinh căng thẳng, rồi đứt phựt và tôi bay lên, thoát khỏi thân thể và những nỗi sợ dài lê thê, mỗi lúc một nhẹ và choáng váng. Con người mắc chứng loạn thần kinh là thế này đây, họ để mặc tất cả. Tôi nhìn thấy mình trong một bộ phim Thụy Điển tẻ ngắt, phản ứng chậm chạp với những trớ trêu rành rành một cách đau đớn. Tôi gào như một mụ điên vì trông tôi lố bịch làm sao, ngớ ngẩn làm sao, chết ở một nơi như thế này. Simon sẽ không bao giờ biết tôi hốt hoảng ra sao. Anh nói đúng. Tôi là người dễ bị kích động!
Một đôi tay vồ lấy vai tôi, và tôi hét lên.
Là Quan, mặt chị đầy lo âu.
- Em sao thế? Em đang nói chuyện với ai?
- Ôi lạy Chúa! - Tôi nhảy bật lên. - Em bị lạc. Em tưởng hai người cũng thế.- Tôi xì mũi và lảm nhảm giữa những hơi thở giật cục. - Ý em là chúng ta? Chúng ta bị lạc?
- Không, không, không, - chị nói. Tôi chú ý chị có một cái hộp gỗ cặp dưới cánh tay và thăng bằng trên hông. Trông nó giống một cái tủ cổ đựng đồ bạc.
- Cái gì thế?
- Cái hộp. - Quan giơ bàn tay rảnh, giúp tôi đứng lên trên đôi chân mềm nhũn.
- Em biết đấy là cái hộp.
- Lối này. - Chị dùng khuỷu tay hướng dẫn tôi. Chị không nói gì đến Simon. Chị có vẻ nghiêm trang lạ lùng, lầm lỳ khác thường. Nỗi sợ chị có tin xấu để nói với tôi làm tim tôi thắt lại.
- Chị có thấy… - Chị lắc đầu ngắt lời tôi. Tôi nhẹ người, rồi đâm thất vọng. Tôi không còn biết cách cảm nhận từ lúc này đến lúc khác như thế nào nữa. Chúng tôi lách qua những pho tượng kỳ dị. - Chị lấy cái hộp kia ở đâu?
- Chị đã tìm thấy nó.
Tôi quá ư bối rối.
- Thật ư! - Tôi càu nhàu. - Em tưởng chị mua ở Marcy.
- Chị đã giấu cái hộp này từ cách đây rất lâu. Chị đã kể cho em nghe rồi. Chị rất muốn cho em xem nó.
- Em xin lỗi. Chỉ vì em quá rã rời. Bên trong có gì thế?
- Chúng ta lên trên kia, rồi mở ra mà xem.
Chúng tôi lặng lẽ bước đi. Lúc nỗi sợ của tôi giảm dần, phong cảnh bắt đầu hiền hòa hơn. Gió tạt vào mặt tôi. Lúc trước tôi toát mồ hôi, còn bây giờ mỗi lúc một lạnh. Con đường mòn vẫn mấp mô và đầy nguy hiểm, nhưng tôi không còn cảm thấy sức hút của trái đất nữa. Tôi tự rủa mình: Này cô gái, cái mắc míu nhất ở nơi này chính là đầu óc cô đấy. Tôi chẳng trải qua nỗi hiểm nguy nào, mà chỉ bị nỗi hoảng sợ tấn công. Những tảng đá, tôi đã sợ những tảng đá.
- Chị Quan, những thứ này là gì?
Chị dừng bước và ngoảnh lại:
- Những thứ gì?
Tôi chỉ một trong các ụ đá.
- Những tảng đá, - chị lại bước tiếp.
- Em biết đấy là những tảng đá. Em định hỏi vì sao chúng lại ở đây, và chúng có ngụ ý gì?
Chị lại dừng, cái nhìn lướt qua một cái rãnh to.
- Chuyện này là bí mật.
Tóc gáy tôi dựng đứng. Tôi cố tỏ ra chất phác:
- Chị kể đi, Quan. Chúng giống các bia mộ phải không? Chúng ta đang đi qua một nghĩa trang hay cái gì? Kể cho em đi.
Chị há miệng toan trả lời. Nhưng rồi một vẻ bướng bỉnh lướt qua mặt chị.
- Rồi chị sẽ kể sau. Không phải bây giờ.
- Quan!
- Sau khi chúng ta về nhà. - Chị chỉ lên trời. - Sắp tối rồi. Thấy chưa? Đừng phí thời gian nói chuyện nữa. - Rồi chị nhẹ nhàng nói thêm. - Có khi Simon đã về rồi.
Tôi phập phồng hy vọng. Chị biết gì đó mà tôi không biết, tôi chắc thế. Tôi cố gắng tập trung vào niềm tin này lúc chúng tôi đi lên, vòng quanh vài tảng đá mòn, xuống một cái rãnh to rồi qua một kẽ nứt cao thành. Ngay sau đó, chúng tôi ở trên con đường mòn lên đỉnh. Tôi nhìn thấy bức tường và mái vòm.
Tôi vượt lên trước Quan, tim đập thình thịch. Tôi tin chắc Simon đã ở đó. Tôi tin rằng những sức mạnh hỗn loạn và ý chí không kiên định sẽ cho tôi một cơ hội nữa để sửa đổi. Lên tới đỉnh, phổi tôi gần như vỡ tung. Tôi choáng váng vì vui, kêu to vì nhẹ nhõm, vì cảm thấy sự trong trẻo của yên bình, sự giản dị của sự thực và sự thuần khiết của tình yêu.
Còn ở đó! - cái ba lô, cái lò nướng, cái áo khóac ướt, mọi thứ chúng tôi để lại vẫn nguyên, không có gì thêm hoặc bớt. Nỗi sợ khía vào tim tôi, nhưng tôi bám lấy sức mạnh tuyệt đối của lòng trung thành và tình yêu. Tôi đến phía bên kia đường hầm, biết rằng Simon sẽ ở đó, anh phải ở đó.
Gờ đường hầm vắng tanh, không có gì ngoài gió, những cái đập của gió. Tôi dựa vào vách hầm và sụp xuống đất, ôm lấy đầu gối. Tôi ngước nhìn. Quan ở đó.
- Em sẽ không đi, - tôi bảo chị. - Không đi cho đến khi tìm thấy anh ấy.
- Chị biết. - Chị ngồi lên cái hộp gỗ, mở ba lô và lấy ra một bình thuỷ tinh đựng trà lạnh và hai cái hộp. Một cái đựng lạc rang, cái kia đựng đậu rán. Chị mở hộp lạc rang và đưa mời tôi.
Tôi lắc đầu:
- Chị không cần ở lại. Em biết chị phải sẵn sàng cho đám ma Mẹ Lớn ngày mai. Em sẽ ổn thôi. Chắc anh ấy sẽ sớm xuất hiện.
- Chị ở lại với em. Mẹ Lớn đã bảo chị hoãn đám ma hai hoặc ba ngày vẫn được. Vả lại, càng có thêm thời gian nấu nướng.
Một ý nghĩ chợt đến với tôi.
- Quan à! Chúng ta hỏi Mẹ Lớn xem Simon ở đâu. - Vừa nói xong, tôi nhận ra mình thất vọng biết chừng nào. Đây là kiểu phản ứng của các bậc cha mẹ có con bị chết tìm đến các ông đồng bà cốt hoặc cô hồn, bất cứ ai miễn là có một sợi dây liên kết mỏng manh trong vũ trụ này hoặc với kiếp sau.
Quan nhìn tôi, dịu dàng đến mức tôi hiểu là còn nhiều hy vọng.
- Mẹ Lớn không biết đâu, - chị nói khẽ bằng tiếng Trung. Chị bỏ cái cốc đậy lò nướng và châm lửa. Ngọn lửa xanh cháy qua các khe bé xíu, kêu xì xì đều đều. - Người âm không biết hết mọi thứ như em tưởng đâu. - Lúc này chị nói bằng tiếng Anh. - Thỉnh thoảng họ cũng bị lạc, không biết nên đi đâu. Chính vì thế một số người âm hay trở về. Họ thường nhìn và hỏi: “Tôi lạc đến đâu thế này? Tôi nên đi đâu?”.
Tôi mừng vì Quan không thấy sự ngã lòng của tôi. Cái lò nướng cắm trại chỉ chiếu sáng đủ phác chúng tôi thành những cái bóng.
- Em có muốn chị hỏi Mẹ Lớn giúp chúng ta tìm không? Chúng ta sẽ làm như một toán tìm kiếm của FBI nhé. Được không, Libby-ah?
Tôi cảm động vì sự sốt sắng giúp đỡ của chị. Đấy là thứ có ý nghĩa nhất ở đây.
- Đằng nào thì ngày mai cũng không tổ chức đám ma. Mẹ Lớn cũng chẳng làm được gì. - Quan rót trà lạnh vào cái cốc kim loại và để lên ngọn lửa. - Lẽ tất nhiên chị không thể hỏi vào tối nay, - chị nói bằng tiếng Trung. - Trời tối rồi, các hồn ma sợ bà lắm dù chính bà cũng là một hồn ma…
Tôi lơ đãng ngắm ngọn lửa màu xanh và cam liếm vào đáy cốc.
Quan hơ bàn tay lên trên cái lò:
- Trước kia một người có thói quen xấu là sợ ma, và khó lòng mà bỏ được. Chị may mắn là chưa bao giờ có thói quen ấy. Khi gặp họ, bọn chị nói chuyện như bạn bè…
Lúc đó, một khả năng khủng khiếp bóp chặt lấy tôi.
- Quan, nếu chị nhìn thấy Simon như một người âm, chị sẽ bảo em nhé? Chị không nên giả vờ…
- Chị không nhìn thấy cậu ấy, - chị trả lời ngay tức khắc. Chị vuốt cánh tay tôi. - Chị đang kể thật đấy.
Tôi để mình tin chị, tin rằng chị không nói dối và Simon chưa chết. Tôi vùi đầu vào cánh tay. Chúng tôi nên làm gì tiếp theo đây, chúng tôi nên trù tính sao cho hợp lẽ và hữu hiệu vào buổi sáng? Nếu sau đó, đến trưa, chúng tôi vẫn chưa tìm thấy Simon thì nên làm gì? Một trong hai chúng tôi có nên đi báo cảnh sát không? Nhưng tôi chợt nhớ ra chúng tôi không điện thoại, không ô tô. Có lẽ tôi nên vẫy xe đi nhờ và đến thẳng Lãnh sự Mỹ. Ở Quế Lâm có chi nhánh nào không? Còn cơ quan American Express? Nếu có, tôi sẽ nói dối tôi là thành viên của Platinum Card, được giao mọi nhiệm vụ cần thiết, tìm kiếm và cứu hộ, vận chuyển khẩn cấp bằng máy bay.
Tôi nghe thấy tiếng sồn sột và ngẩng đầu. Quan đang ngoáy con dao Thụy Sĩ vào lỗ khóa cái hộp.
- Chị làm gì thế?
- Mất chìa khoá. - Chị giơ con dao, tìm công cụ tốt hơn. Chị chọn cái tăm nhựa. - Chị cho vào trong này nhiều thứ, từ lâu lắm rồi. - Chị chọc que tăm vào lỗ khóa. - Libby-ah, đèn pin trong túi, lấy hộ chị nhé?
Dưới ánh sáng, tôi thấy cái hộp làm bằng gỗ đỏ sẫm, mép viền đồng thau đã mờ xỉn. Trên nắp chạm phù điêu những cái cây rậm rạp, một con hươu nhỏ đã chết vắt trên vai người thợ săn Bavaria, con chó nhảy nhót trước mặt anh ta.
- Trong đó có gì?
Một tiếng cách và Quan ngồi dậy. Chị mỉm cười, chỉ vào cái hộp:
- Em mở ra mà xem.
Tôi nắm lấy cái then nhỏ bằng đồng thau và từ từ mở nắp. Những âm thanh leng keng bùng lên. Giật mình, tôi buông rơi cái nắp. Im lặng. Đây là cái hộp âm nhạc.
Quan cười khúc khích:
- Hừ, thế em tưởng trong ấy có ma à?
Tôi lại mở nắp, và những âm thanh can trường, trong như bạc tràn đầy đường hầm nhỏ, vui đến chói tai, một bản hành khúc dành cho đàn ngựa nhảy dựng lên và những con người ăn mặc rực rỡ. Quan ngân nga theo, hiển nhiên là rất quen với giai điệu. Tôi chiếu đèn vào bên trong hộp. Trong một góc, dưới tấm kính là bộ máy tạo âm thanh, một cái lược bằng kim loại chải ngược vào các trục của một bộ xi lanh đang quay.
- Nghe có vẻ không giống nhạc Trung Quốc, - tôi bảo Quan.
- Không phải Trung Quốc. Sản xuất ở Đức. Em có thích nhạc này không?
- Rất dễ chịu. - Ra đây là gốc gác câu chuyện cái hộp âm nhạc của chị. Tôi nhẹ người khi biết ít ra những ảo giác của chị cũng có vài cơ sở. Tôi cũng ngân nga theo điệu.
- À, em cũng biết bài này?
Tôi lắc đầu.
- Trước kia chị mừng cưới em một chiếc hộp âm nhạc. Em nhớ không?
Tiếng nhạc bỗng ngừng đột ngột; giai điệu lơ lửng trong không khí vài giây trước khi tắt hẳn. Chỉ còn tiếng xì xì quái gở của cái bếp, nhắc đến trời mưa và lạnh, về Simon đang gặp nguy. Quan kéo một tấm gỗ trong hộp. Chị lấy ra chiếc chìa khoá, đút vào một cái khe và bắt đầu xoay. Tiếng nhạc lại vang lên, và tôi dễ chịu vì sự thoải mái giả tạo này. Tôi liếc nhìn các thứ trong hộp lúc này lộ ra. Có một ngăn đựng đồ vặt, đầy những cái khuy, một dải băng mòn xơ, một lọ nhỏ rỗng - những đồ vật một thời quý giá nhưng dần dần bị lãng quên, những thứ đã từng sửa chữa rồi bị gạt sang bên quá lâu.
Lúc tiếng nhạc lại ngừng, tôi tự lên dây. Quan kiểm tra chiếc găng bằng da dê non, các ngón vĩnh viễn nắm lại thành một búi dễ vỡ. Chị đưa nó lên mũi và ngửi.
Tôi cầm một cuốn sách nhỏ, mép giấy chưa xén. Một chuyến thăm Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản của Bayard Taylor9. Một cái đánh dấu sách xé từ chiếc phong bì cài giữa hai trang. Trên một trang có một câu gạch dưới: “Những cái nhìn lấm lét của họ là điển hình cho đạo đức không thẳng thắn của họ”. Tín đồ nào sở hữu cuốn sách này? Tôi lật mẩu phong bì. Địa chỉ gửi lại viết bằng thứ mực màu nâu: Russell và Công ty, phố Acropolis, đường 2, Cold Spring, New York.
- Cái hộp này của một người tên là Russell? - Tôi hỏi.
- À! - Mắt Quan mở to. - Russo. Em nhớ à!
- Không. - Tôi chiếu đèn vào mẩu phong bì. - Ở đây đề “Russell và Công ty”. Chị thấy chưa?
Quan có vẻ thất vọng.
- Hồi đó chị chưa biết tiếng Anh, - chị nói bằng tiếng Trung. - Chị không thể đọc nổi.
- Vậy cái hộp này là của ông Russell?
- Bu-bu. - Chị cầm mẩu phong bì và nhìn chằm chằm. - À! Russell. Chị cứ tưởng là Russo hoặc Russia. Người cha làm cho công ty tên là Russell. Tên anh ta là… - Quan nhìn vào mắt tôi. - Banner, - chị nói.
Tôi bật cười:
- Ồ, đúng rồi. Như cô Banner. Tất nhiên rồi. Bố cô ấy là thương nhân đường thủy hay đại loại thế.
- Thuyền buôn thuốc phiện.
- Ờ, giờ em nhớ ra rồi… - Lúc đó sự kỳ cục của chuyện này choán ngợp lấy tôi, vì chúng tôi không còn nói về những câu chuyện ma lúc đi ngủ nữa. Đây là cái hộp âm nhạc, là những đồ dùng có lẽ là của họ. Tôi chỉ có thể nói:
- Hộp âm nhạc này là của cô Banner?
Quan gật đầu:
- Tên thánh của cô ấy là - ái dà! - giờ chị quên bẵng mất. - Chị lục ngăn đựng đồ vặt và lấy ra một hộp nhỏ. - Xì! Tên cô ấy… - chị nói một mình, - sao mình có thể quên tên cô ấy nhỉ? - Chị lấy trong hộp ra một viên gạch nhỏ màu đen. Tôi tưởng là hòn đá mực, cho đến lúc chị véo một mẩu và cho vào trà đang sôi trên bếp.
- Gì thế?
- Thảo dược. - Chị chuyển sang tiếng Anh. - Của một loại cây đặc biệt, chỉ lấy lá non, rất nhớt. Chị làm cái này cho cô Banner. Uống rất tốt, và có mùi dễ chịu. Làm tâm trí dịu đi. Làm ta cảm thấy thanh thản. Có khi cho ta trở lại kỷ niệm.
- Lấy từ cây thiêng?
- Chà! Em nhớ ra rồi!
- Không. Em nhớ chuyện chị kể. - Bàn tay tôi run run. Tôi thèm một điếu thuốc, thèm kinh khủng. Sắp xảy ra chuyện quái quỷ gì thế này? Nhỡ tôi cũng trở nên điên rồ như Quan. Biết đâu nước ở Xướng Miên nhiễm ma túy gây ảo giác. Hoặc nhỡ tôi bị muỗi Xướng Miên đốt, làm não tôi nhiễm bệnh rồ rồ. Nhỡ Simon không bị lạc. Và trên lòng tôi không có những đồ vật của một người phụ nữ trong giấc mơ thời thơ ấu.
Trà bốc khói và thơm phưng phức. Tôi ngó lên cốc, hơi nước làm ẩm mặt tôi, tôi nhắm mắt lại và hít mùi thơm ngát. Nó làm tôi tĩnh trí. Có khi vì tôi buồn ngủ quá. Đây là một giấc mơ. Nếu thế, tôi có thể rứt khỏi bản thân mình…
- Libby-ah, nhìn này.
Quan đưa cho tôi một cuốn sách khâu tay. Bìa bằng da lộn mềm màu nâu đỏ, rập nổi những chữ cái kiểu gôtich ĐỒ ĂN THỨC UỐNG CỦA CHÚNG TÔI. Mép các chữ vẫn còn dấu vết mạ vàng. Lúc tôi lật bìa, những trang giấy trắng áp bìa vụn tơi ra, để lộ lớp da thuộc mặt trong, cho thấy lớp bìa đã phai nhòa trước kia có màu đỏ tía, nhắc tôi nhớ đến một bức tranh trong Kinh Thánh từ thời thơ ấu: Moses10 trông dữ dội, đứng trên một tảng đá mòn nổt bật trên bầu trời màu đỏ tía, đang bẻ gãy các bài vị trước một đám kẻ ngoại đạo quấn khăn turban11.
Tôi mở sách. Trang bên trái là một thông báo chữ rất khó đọc, các dòng lên xuống không đều: “Hãy tin vào Chúa cứu vớt chúng con khỏi mọi cám dỗ của Quỷ dữ. Nếu bạn đầy ắp Tinh thần, bạn không thể no nê hơn”. Trang đối diện là những chữ khó đọc “Góc Amen”. Bên dưới là một danh sách quanh co, chữ nguệch ngoạc dây đầy mực: “Đậu hạt ôi, củ cải đỏ thối, lá thuốc phiện, rau dền dại, quả đậu dại, ngải cứu, bắp cải thối, hạt khô, quả đậu xơ, măng rừng. Nhiều món dọn ra nguội ngắt hoặc thả trong dầu thầu dầu khủng khiếp. Chúa lòng lành!”. Những trang tiếp theo chứa đựng những nghịch lý tương tự, cảm hứng Cơ đốc liên quan với ước muốn mãnh liệt và cứu rỗi, đói khát và no đủ, danh sách đồ ăn của Góc Amen cho thấy chủ nhân của tập nhật ký này tìm ra cách tấn công tuy vô ích cho óc hài hước dị giáo. Simon xem những thứ này chắc khoái lắm. Anh có thể dùng nó cho một bài báo.
- Chị nghe này. - Tôi đọc to cho Quan. - Cốtlét chó, ragu chim, dưa biển, sâu và rắn hầm nhừ. Một bữa tiệc linh đình thết khách danh dự. Trong tương lai, mình sẽ cố hết sức không thành khách danh dự càng ít càng hay! - Tôi để cuốn nhật ký xuống. - Em không biết dưa biển là món gì.
- Nelly.
Tôi ngước nhìn:
- Dưa biển nghĩa là Nelly?
Chị cười to, khẽ vỗ vào bàn tay tôi:
- Không - không - không! Tên cô Banner là Nelly. Nhưng lúc nào chị cũng gọi cô ấy là cô Banner. Chính vì thế chị hầu như không nhớ tên cô ấy trọn vẹn. Ha ha. Trí nhớ tệ thật! Nelly Banner. - Chị cười khúc khích một mình.
Tôi nắm lấy cuốn nhật ký. Tai tôi ong ong:
- Chị quen biết cô Banner khi nào?
Quan lắc đầu:
- Ngày tháng chính xác, để chị nghĩ xem…
- Yi ba liu si. - Tôi nhớ lại những từ tiếng Trung trong những câu chuyện kể giờ đi ngủ của Quan. - Mất hy vọng là chết. Một tám sáu tư.
- Đúng, đúng. Em nhớ giỏi thật. Cùng với thời gian Thiên Hoàng thất bại cách mạng Thái Bình Thiên quốc.
Thiên Hoàng. Tôi nhớ ra nhiều phần. Có người được tôn là Thiên Hoàng thật không? Giá tôi hiểu lịch sử Trung Quốc rõ hơn. Tôi xoa lòng bàn tay lên tấm bìa mềm mại của cuốn nhật ký. Sao ngày nay không thể có những cuốn sách như thế này? Cầm trong tay, cuốn sách ấm áp và thân thiết như một người bạn. Tôi giở sang trang khác và đọc: “Cắn đứt đầu que diêm có thuốc (khốn khổ). Nuốt lá màu vàng (vô lý). Nuốt cloride magnesium (kinh tởm). Ăn thuốc phiện (không đau). Uống nước không đun sôi (gợi ý của tôi). Nói thêm về đề tài tự vẫn này, cô Moo báo cho tôi biết rằng đây là việc nghiêm cấm trong số những người theo Thái bình, trừ khi họ hiến thân mình cho Chúa”.
Thái Bình. Cuộc khởi nghĩa này diễn ra khi nào? Hình như giữa thế kỷ mười chín. Trí nhớ của tôi bị kéo căng và tôi cố cưỡng lại, nhưng nó cứ bám riết. Trong quá khứ, tôi luôn luôn duy trì sự hoài nghi đủ dùng làm thuốc giải độc cho những câu chuyện của Quan khi cần thiết. Nhưng giờ đây tôi đang nhìn chăm chú vào nét mực màu nâu đỏ trên trang giấy ngả vàng, một mề đay mờ xỉn, một cái găng bó lại, những chữ viết khó đọc: ĐỒ ĂN THỨC UỐNG CỦA CHÚNG TÔI. Tôi lắng nghe tiếng nhạc, giai điệu sinh động, lỗi thời. Tôi kiểm tra cái hộp tìm ngày tháng. Rồi tôi nhớ đến cuốn nhật ký. Trên trang bìa giả đề: Nhà xuất bản Glad Tidings, MDCCCLIX. Tiếng Latin, của nợ! Tôi dịch các chữ ra số: 1859. Tôi giở cuốn sách Bayard Taylor: G.P. Putnam, 1855. Những ngày tháng này chứng tỏ điều gì? Nó không có nghĩa là Quan quen biết một người tên là cô Banner trong thời Thái bình Thiên quốc. Chỉ là sự trùng hợp, câu chuyện, cái hộp, ngày tháng trên cuốn sách.
Mặc dù mọi lý lẽ và ngờ vực của tôi, tôi không thể gạt đi điều to lớn hơn tôi hiểu về Quan: dối trá không phải là bản tính của chị. Dù chị nói gì, chị đều tin là thật. Giống như chị nói về Simon, rằng chị không nhìn thấy anh là hồn ma, có nghĩa là anh còn sống. Tôi tin chị. Tôi phải tin. Ngoài ra, nếu tôi tin lời chị nói, nghĩa là giờ đây tôi tin chị có thị giác của người âm? Tôi có tin là chị nói chuyện với Mẹ Lớn, rằng trong cái hang ấy có một ngôi làng từ thời Đồ Đá thật? Rằng cô Banner, tướng Cape và Johnson - một nửa là người có thật? Rằng chị là Nunumu? Nếu tất cả đều là thực, các câu chuyện chị kể suốt từng ấy năm… hẳn chị kể cho tôi nghe vì một lý do.
Tôi hiểu lý do ấy. Tôi hiểu từ khi tôi còn bé, hiểu tường tận. Tôi đã chôn vùi lý do ấy vào nơi an toàn từ lâu, giống như chị đã làm với cái hộp âm nhạc. Vì cảm thấy có lỗi, tôi lắng nghe những câu chuyện của chị, trong khi vẫn giữ nguyên những nghi ngờ và sự tỉnh táo của mình. Hết lần này đến lần khác, tôi từ chối cho chị thứ chị muốn nhất. Chị nói:
- Libby-ah, em nhớ không?
Tôi hay lắc đầu, tuy thừa biết chị mong là tôi sẽ nói:
- Có Quan ạ, lẽ tất nhiên là em nhớ. Em là cô Banner… - Libby-ah, - lúc này tôi nghe Quan nói, - em đang nghĩ gì thế?
Môi tôi đờ ra:
- Ồ. Chị biết rồi. Simon. Em đang nghĩ và thấy mọi việc ngày càng xấu hơn.
Chị bước tới ngồi sát cạnh tôi. Chị xoa bóp những ngón tay lạnh giá của tôi và ngay lập tức, những luồng hơi ấm chạy khắp mạch máu tôi.
- Chúng ta nói chuyện gì đi? Nói chuyện linh tinh thôi, được không? Nói về bộ phim chúng ta đã xem. Về cuốn sách em đang đọc. Hoặc về thời tiết, không, không, đừng nói về chuyện này, kẻo em lại lo. Thôi được, nói về chuyện chính trị vậy, chuyện em bỏ phiếu cho ai, chị bỏ cho ai để tranh luận. Sau đó em sẽ không nghĩ ngợi quá nhiều nữa.
Tôi lúng túng. Tôi nhếch cười đáp lại.
- Chà! Thôi, đừng nói chuyện nữa. Chị nói thôi. Ừ, em chỉ lắng nghe. Xem nào, chị nói về gì nhỉ?... À! Chị kể em nghe chuyện về cô Banner, vì sao cô ấy quyết định tặng chị hộp âm nhạc.
Tôi nín thở:
- Vâng. Chắc rồi.
Quan chuyển sang tiếng Trung:
- Chị phải kể em nghe chuyện này bằng tiếng phổ thông. Như thế chị dễ nhớ lại hơn. Vì khi chuyện này xảy ra, chị chưa biết nói tiếng Anh. Tất nhiên là hồi ấy chị cũng không nói được tiếng phổ thông mà chỉ nói tiếng Khách và chút ít tiếng Quảng Châu. Nhưng tiếng phổ thông làm chị suy nghĩ như một người Trung Quốc. Nếu có từ nào em không hiểu cứ hỏi, chị sẽ cố nghĩ ra từ tiếng Anh. Xem nào, chị nên bắt đầu từ đâu nhỉ?...
À, em đã biết về cô Banner, vì sao cô ấy không giống những người nước ngoài khác mà chị quen biết. Cô ấy có thể cởi mở nhiều ý kiến khác nhau. Nhưng đôi khi chị nghĩ chính việc này làm cô ấy nhầm lẫn. Có lẽ em hiểu là thế nào rồi. Em tin một điều. Ngày hôm sau, em tin ngược lại. Em tranh cãi với những người khác, rồi tự tranh cãi với mình. Libby-ah, em đã từng làm thế bao giờ chưa?
Quan ngừng và tìm câu trả lời trong mắt tôi. Tôi nhún vai, làm chị thỏa mãn.
- Có lẽ quá nhiều ý kiến là thói quen của người Mỹ. Chị nghĩ người Trung Quốc không thích có những ý kiến khác nhau trong cùng một lúc. Chúng tôi tin vào một điều, gắn bó với nó hàng trăm năm, năm trăm năm. Như thế đỡ nhầm lẫn. Lẽ tất nhiên, chị không nói rằng dân Trung Quốc không bao giờ thay đổi ý kiến, không phải vậy. Chúng tôi có thể thay đổi nếu có lý do chính đáng. Chị chỉ nói rằng chúng tôi không thay đổi, ngả nghiêng mỗi khi thích thú hoặc khoái chí. Có lẽ hiện giờ, người Trung Quốc đang thay đổi quá nhiều, tiền cuốn về hướng nào người ta đuổi theo hướng ấy.
Chị huých tôi:
- Libby-ah, em thấy có đúng không? Ở Trung Quốc ngày nay, dân chúng phát triển suy nghĩ của chủ nghĩa tư bản nhiều hơn lợn. Họ không nhớ chủ nghĩa tư bản có thời là kẻ thù số một. Kỷ niệm thì ngắn, lợi nhuận thì lớn.
Tôi đáp lại bằng nụ cười lễ phép.
- Chị nghĩ người Mỹ cũng có những kỷ niệm ngắn. Không tôn trọng lịch sử, chỉ quan tâm đến nổi tiếng. Nhưng cô Banner có trí nhớ tốt, rất khác thường. Chính vì thế cô ấy học tiếng của chúng tôi mới nhanh thế. Cô ấy có thể chỉ cần nghe một lần, ngày hôm sau lặp lại được ngay. Libby-ah, em cũng có trí nhớ như thế, đúng không? Chỉ có điều nhớ bằng mắt chứ không phải bằng tai. Tiếng Anh gọi loại trí nhớ này là gì?... Libby-ah, em buồn ngủ à? Em có nghe thấy chị hỏi không?
- Trí nhớ như chụp ảnh, - tôi trả lời. Giờ chị đang ấn hết mọi nút. Lần này chị sẽ không để tôi thoát.
- Như chụp ảnh, đúng thế. Cô Banner không có máy ảnh nên không chụp ảnh, nhưng cô ấy có trí nhớ như thế. Cô ấy luôn luôn nhớ được người ta nói những gì y như máy ghi âm vậy. Đôi khi điều này là tốt, đôi khi là xấu. Cô ấy có thể nhớ những lời người ta nói trong giờ cơm tối, tuần sau người ta lại nói khác hẳn. Cô ấy nhớ những lời làm cô ấy buồn lòng, không để chúng ra khỏi tâm trí. Cô ấy nhớ những lời dân chúng cầu nguyện, muốn thay thế những gì. Cô ấy cũng nhớ rất kỹ lời hứa. Nếu em hứa gì với cô ấy, cô ấy sẽ không bao giờ quên. Đây là nét đặc biệt của trí nhớ cô ấy. Cô Banner cũng nhớ rõ đã hứa với người khác những gì. Với một số người, hứa không giống như thực hiện. Cô Banner không thế. Với cô ấy, lời hứa là vĩnh viễn, không chỉ một đời người. Giống như lời cô ấy nguyền sau khi cho chị cái hộp âm nhạc, khi cái chết đang đến gần chúng tôi… Libby-ah, em đi đâu thế?
- Hít thở không khí trong lành. - Tôi đến mái vòm, cố gạt khỏi đầu những gì Quan đang kể. Bàn tay tôi run run, và tôi biết không phải vì lạnh. Đây là lời hứa Quan hay nói đến, lời hứa tôi chưa bao giờ muốn nghe vì tôi sợ. Lúc nào chẳng được, sao chị phải kể cho tôi nghe bây giờ?...
Rồi tôi nghĩ: Mình sợ gì nhỉ? Mình có thể tin câu chuyện ấy là thật, mình có thể hứa và giữ lời, rằng cuộc sống tự nó lặp lại, rằng hy vọng của chúng tôi luôn kéo dài, rằng chúng tôi sẽ có dịp khác? Như thế có gì khủng khiếp đâu?
Tôi ngắm bầu trời đêm, giờ đã quang mây. Tôi nhớ lại một đêm khác cùng Simon, lúc tôi nói một điều ngớ ngẩn về trời đêm, những vì sao như thế kia được những người tình trên trái đất nhìn thấy đầu tiên. Tôi đã hy vọng cháy ruột cháy gan rằng rồi sẽ có ngày anh yêu tôi hơn mọi người khác, hơn mọi thứ trên đời. Nhưng đó chỉ là khoảnh khắc ngắn ngủi, vì mong mỏi của tôi giống như bầu trời quá bao la, làm tôi dễ sợ hãi và giữ mình khỏi bay vèo khỏi đó. Giờ tôi lại nhìn lên trời. Đây chính là bầu trời Simon đang nhìn lúc này, là bầu trời chúng tôi đã ngắm suốt đời, lúc bên nhau cũng như lúc tách rời. Cũng chính là bầu trời Quan đang nhìn, các hồn ma của chị và cô Banner đã nhìn. Chỉ đến lúc này tôi mới không còn cảm thấy sự vô nghĩa của hy vọng hoặc nền tảng của sợ hãi. Tôi nhìn thấy nó thật giản dị và hiển nhiên. Nó duy trì các ngôi sao, các hành tinh, mặt trăng, mọi sự sống mãi mãi. Tôi có thể luôn tìm thấy nó, nó sẽ luôn tìm thấy tôi. Đây là sự liên tiếp, là ánh sáng trong bóng tối, bóng tối trong ánh sáng. Nó chẳng hứa hẹn điều gì ngoài sự bất biến và bí ẩn, khủng khiếp và phi thường. Giá như tôi có thể ngước nhìn lên trời và ngạc nhiên về chuyện này, tôi có thể dùng nó như một cái la bàn của tôi. Tôi có thể tìm thấy cách vượt qua sự hỗn độn dù có xảy ra chuyện gì cũng không sao. Tôi có thể ước mong bằng cả tấm lòng, còn bầu trời luôn luôn ở đó, kéo tôi lên…
- Libby-ah, em lại nghĩ ngợi quá nhiều rồi? Chị có nên nói nữa không?
- Em chỉ đang băn khoăn thôi.
- Về việc gì?
Tôi đang quay lưng về phía chị, vẫn đang lục lọi bầu trời, tìm đường từ ngôi sao này đến ngôi sao kia. Ánh lung linh, nhấp nháy của chúng đã đi suốt một triệu năm ánh sáng. Và thứ lúc này tôi nhìn thấy là một hồi ức xa xôi, song vẫn còn rung động mạnh mẽ như cuộc sống từng là như thế.
- Chị và cô Banner. Hai người từng cùng nhìn lên trời trong một đêm như đêm nay bao giờ chưa?
- Có chứ, nhiều lần. - Quan đứng dậy và đến chỗ tôi. - Hồi đó, đương nhiên là chúng tôi không có tivi, vì thế đêm đêm việc duy nhất chúng tôi làm là ngắm các vì sao.
- Ý em là, chị và cô Banner đã có một đêm như đêm nay, cả hai cùng sợ hãi và không hiểu chuyện gì sẽ xảy ra?
- À… có, thật đấy. Cô ấy sợ chết, và cũng sợ mất người đàn ông cô ấy yêu.
- Dị Ban.
Quan gật:
- Chị cũng sợ… - Chị ngừng rồi nói bằng giọng khàn khàn. - Chị là lý do anh ta không ở đó.
- Chị nói gì? Có chuyện gì vậy?
- Chuyện là… ờ, có khi em không muốn biết đâu.
- Đấy là… là một chuyện buồn?
- Buồn và hạnh phúc. Tùy thuộc cách em nhớ lại.
- Vậy em muốn nhớ.
Mắt Quan ướt nhòe.
- Ôi, Libby-ah, chị biết rồi sẽ có ngày em nhớ chị. Chị luôn muốn cho em biết chị thực sự là người bạn trung thành của em. - Chị quay đi, cố trấn tĩnh và xiết chặt bàn tay tôi rồi mỉm cười. - Được, được rồi. Đây là một chuyện bí mật. Đừng kể với ai nhé. Hứa đi, Libby-ah… Ờ, chị nhớ trời hôm ấy tối lắm, che giấu bọn chị. Giữa hai quả núi đằng kia có một thứ mỗi lúc một sáng rực rỡ hơn. Một ngọn lửa màu cam đang rực cháy…
Tôi lắng nghe, không còn e sợ những bí mật của Quan nữa. Chị đưa tay cho tôi. Tôi thoải mái cầm lấy. Chúng tôi cùng bay đến Cõi Âm.

