Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 21
21. KHI BẦU TRỜI RỰC CHÁY
Lúc trước chị và Dị Ban ở trong cái hang có hồ lấp lánh, một ngôi làng bằng đá ven hồ. Khi ở đó, Libby-ah, chị đã làm một việc kinh khủng, dẫn đến việc khác. Chị đã biến ngày cuối cùng của chị trên trái đất này thành một ngày dối trá.
Trước hết, chị hủy lời hứa với cô Banner. Chị làm thế vì lòng tốt. Chị kể với Dị Ban sự thực:
- Cô Banner chỉ giả vờ với Cape. Cô ấy muốn bảo vệ anh, để chắc chắn anh được an toàn. Anh thấy đấy, giờ anh đã ở đây.
Giá em nhìn thấy mặt Dị Ban lúc ấy! Nhẹ nhõm, vui sướng, phẫn nộ, rồi hoảng hốt - giống như lá cây đổi màu, tất cả các mùa xảy ra cùng một lúc.
- Tôi còn sống thì hay ho gì nếu cô ấy không ở bên tôi? - Dị Ban kêu lên. - Tôi sẽ giết chết thằng chó đẻ Cape. - Anh ta nhảy bật lên.
- Chao ôi! Anh định đi đâu?
- Tìm cô ấy, đưa cô ấy đến đây.
- Không, không, anh không được đi. - Lúc đó, chị nói dối câu đầu tiên trong ngày:
- Cô ấy biết cách đến đây. Cô ấy và tôi đã đến đây nhiều lần. - Trong lòng, tôi rất lo cho cô Banner, vì đương nhiên câu vừa rồi là nói dối. Vì thế tôi nói dối câu thứ hai. Tôi xin lỗi, nói tôi cần một chỗ riêng tư, nghĩa là tôi phải tìm một nơi kín đáo để đi tiểu. Tôi cầm chiếc đèn theo, vì biết nếu tôi mang nó đi, Dị Ban sẽ không thể tìm được đường ra khỏi hang. Rồi tôi vội vã đi qua những chỗ ngoặt, chỗ rẽ của đường hầm, nguyền rằng sẽ đưa cô Banner về.
Lúc trèo ra khỏi lòng quả núi, tôi cảm thấy như được tái sinh. Đang là ban ngày, nhưng bầu trời trắng chứ không xanh, chẳng có màu sắc gì. Quanh mặt trời là một vòng nhiều màu nhợt nhạt. Thế giới đã thay đổi chăng? Qua những quả núi này là gì - là sự sống hay cái chết?
Khi tôi đến mái vòm ở bên trên Xướng Miên, tôi nhìn thấy làng, chợ họp đông đúc, mọi thứ trông y như trước. Còn sống! Mọi người còn sống! Nó cho tôi hy vọng về cô Banner, và tôi bật khóc. Lúc tôi vội vã xuống núi, tôi bắt gặp một người dắt trâu. Tôi ngăn anh ta lại, kể mọi tin tức và nhờ anh ta báo cho gia đình cùng những nhà khác: “Hãy bỏ mọi dấu hiệu của The Good News, Thánh thần và Jesus. Nói nhỏ và đừng gây hoang mang. Nếu không, bọn lính sẽ biết việc ta đang làm. Rồi tai họa sẽ ập đến ngay hôm nay chứ không phải ngày mai”.
Tôi chạy đến chỗ những người khác và nói y như thế. Tôi băng qua cổng căn nhà tròn dân Khách Gia sống, mười gia đình ở chung một nhà. Tôi đi nhanh từ hộ này đến hộ khác. Chà! Tôi cho mình là khôn ngoan, báo cho cả làng theo cách êm ả và thứ tự như vậy. Nhưng tôi nghe thấy một người đàn ông quát to:
- Chết mẹ mày đi! Mày là đồ sâu bọ ăn cứt!
Người hàng xóm của ông ta quát lại:
- Mày buộc tội tao phỏng? Tao sẽ báo cho quân Mãn Châu mày là thằng chó đẻ, anh em với Thiên Hoàng.
Ngay lập tức, tôi nghe thấy tiếng rắc- rắc! - tất cả chúng tôi đều nghe thấy, giống như tiếng củi khô gãy. Mọi người im thít. Rồi có tiếng kêu răng rắc nữa, lần này giống tiếng chẻ một cây cao, đến chỗ thân to nhất. Gần đó, một người đàn ông rú lên:
- Súng! Bọn lính đã ở đây!
Mọi người ùa ra khỏi nhà ngay tức khắc, vồ lấy cánh tay những người đang chạy lao xuống đường.
- Ai đến?
- Còn gì nữa! Lệnh hành hình tất cả người Khách Gia!
- Chạy mau! Tìm anh em nhanh lên. Chúng ta chạy thôi!
Những lời cảnh báo biến thành tiếng hét, tiếng hét thành tiếng gào, và át tất cả là những tiếng kêu khóc the thé của các bà mẹ gọi con. Tôi đứng giữa đường, va phải mọi người chạy đường này, ngả nọ. Xem tôi đã làm gì! Giờ thì cả làng sẽ bị giết chỉ bằng một loạt đạn. Dân chúng trèo vào núi, tản mát khắp nơi như những vì sao trên bầu trời.
Tôi chạy lao xuống đường, thẳng đến nhà Ma Thương nhân. Rồi tiếng súng nổ, và tôi biết là từ bên trong những bức tường ấy. Lúc tôi đến cổng hậu, lại có tiếng nổ, lần này vang khắp các ngả đường. Tôi lao vào sân sau rồi đứng lặng ngắt. Tôi vừa thở vừa lắng nghe, rồi lắng nghe tiếng thở. Tôi chạy qua nhà bếp, áp tai vào cánh cửa thông sang phòng ăn. Không một tiếng động. Tôi đẩy cửa, chạy tới cửa sổ nhìn ra sân. Tôi nhìn thấy bọn lính ở bên cổng. May quá, chúng đang ngủ! Nhưng tôi nhìn lần nữa. Cánh tay một tên lính vặn vẹo, chân tên khác cong gập. Chà! Chúng đã chết! Ai làm việc này? Chúng chọc tức Cape? Giờ hắn đang giết hết mọi người? Cô Banner đâu?
Lúc rẽ xuống hành lang tới phòng cô ấy, tôi thấy xác một người đàn ông trần truồng úp mặt xuống đất. Những con ruồi đang say sưa, no nê trong hộp sọ nhầy nhụa não. Ái dà! Ai là người bất hạnh đó? Bác sĩ Quá Muộn? Mục sư Amen? Tôi rón rén lẻn qua cái xác, như thể người đó có thể tỉnh lại. Thêm mấy bước nữa, tôi thấy bữa tối qua, cái xương chân giò giờ nâu xỉn những lông và máu. Tướng Cape chắc đã làm việc này. Hắn còn giết ai nữa? Tôi chưa kịp phân vân quá lâu thì nghe thấy những âm thanh phát ra từ Nhà Nguyện. Hộp âm nhạc đang mở, mục sư đang hát như thể hôm thứ Bảy này cũng như những hôm khác. Lúc tôi vội vã băng qua sân đến Nhà Nguyện, tiếng hát của mục sư biến thành tiếng nức nở, rồi thành tiếng rống như súc vật. Tôi nghe thấy tiếng cô Banner - cô vẫn còn sống! - quát át đi, như thể cô đang nói với một đứa trẻ hư. Nhưng lát sau, cô bắt đầu kêu the thé:
- Không, không, không, không! - Rồi một tiếng nổ to cắt ngang lời cô. Tôi chạy vào phòng, và thứ nhìn thấy làm người tôi hóa đá, rồi thành cát. Cạnh ban thờ, cô Banner mặc bộ váy áo màu vàng nằm cong gập, những người Thờ phụng Jesus mặc đồ đen bóng ngày Chủ nhật - giống như con bướm và bốn con bọ cánh cứng chen nhau chết trên nền đá. Ôi chao! Sao nhanh thế! Tôi vừa nghe thấy tiếng họ kêu vang vọng trong phòng. Tôi lắng nghe kỹ hơn. Không có tiếng vang nhưng…
- Cô Banner? - Tôi gọi. Cô nhấc đầu. Tóc cô tung tơi, miệng cô là cái lỗ đen ngòm, lặng lẽ. Máu tung toé trên ngực cô. Chao ôi, hay cô chết thật rồi?
- Cô Banner, cô là ma?
Cô rên rỉ rồi lắc đầu. Cô chìa tay ra.
- Giúp tôi với, cô Moo. Chân tôi bị gãy.
Lúc bước tới chỗ ban thờ, tôi tưởng những người nước ngoài kia cũng sẽ nhỏm dậy. Nhưng họ vẫn im lìm, bàn tay chắp lại, ngủ vĩnh viễn trong vũng máu tươi. Tôi ngồi xổm cạnh cô.
- Cô Banner, - tôi thì thào, lục tìm các góc phòng. - Cape đâu?
- Chết rồi, - cô trả lời.
- Chết! Thế ai giết…
- Lúc này nói chuyện ấy tôi không thể chịu nổi. - Tiếng cô run rẩy, bồn chồn làm tôi nghĩ hay là cô ta… Nhưng không, tôi không thể hình dung cô Banner giết người. Rồi tôi nghe thấy cô hỏi, vẻ mặt sợ hãi. - Kể nhanh lên. Dị Ban… Dị Ban đâu?
Lúc tôi nói anh ta đã yên ổn trong hang, mặt cô chùng xuống vì nhẹ nhõm. Cô nức nở không ngừng. Tôi cố an ủi cô.
- Cô sắp đoàn tụ với anh ấy rồi. Hang ấy không xa mấy đâu.
- Tôi không thể đi dù chỉ một bước. Chân tôi… - Cô kéo váy và tôi thấy cẳng chân phải của cô sưng vù, một mẩu xương lòi ra. Tôi lại nói dối câu thứ ba:
- Không đến nỗi tệ lắm đâu. Hồi tôi đang lớn, một người có cái chân như thế này vẫn có thể trèo lên núi, không sao đâu. Lẽ tất nhiên là người nước ngoài, cô không được khỏe lắm. Nhưng tôi sẽ tìm cách băng chân cô lại, chúng ta sẽ thoát khỏi đây.
Cô mỉm cười, và tôi dễ chịu vì một người đang yêu sẽ tin bất cứ thứ gì đem lại hy vọng.
- Cô đợi ở đây nhé, - tôi nói. Tôi chạy về phòng cô, lục khắp các ngăn đựng đồ riêng. Tôi tìm thấy bộ quần áo cứng cô dùng để bó eo và đẩy mông lên, đôi tất dài thủng gót. Tôi chạy trở lại, dùng những thứ đó bó chân cô lại. Làm xong, tôi đỡ cô đứng lên và khập khiễng tới cái ghế dài ở đằng sau Nhà Nguyện. Chỉ đến lúc cách xa những người vừa mới đây còn sống, cô mới có thể kể vì sao và từng người bị giết ra sao.
Cô kể sự việc từ sau khi Lão Lục mất đầu và tôi cảm thấy lý do thật ngu dại. Cô nói những người Thờ phụng Jesus chắp hai tay và hát bài trong hộp âm nhạc: “Khi Thần Chết rẽ, chúng ta sẽ gặp Chúa của chúng ta”.
- Ngừng hát! - Cape ra lệnh. - Cô Chuột - em biết cô ấy dễ bị kích động - quát to:
- Tôi không sợ ông hoặc sợ chết, chỉ sợ Chúa. Vì khi tôi chết, tôi sẽ lên thiên đường như người đàn ông tội nghiệp ông vừa giết này. Còn ông, đồ quỷ dữ khốn kiếp, ông sẽ bị thiêu cháy ở địa ngục. - Chà! Em có tưởng tượng cô Chuột nói thế không? Nếu tôi có ở đó, tôi sẽ hoan hô.
Nhưng lời nói của cô không làm Cape nao núng.
- Thiêu cháy ư? - Hắn hỏi. - Ta sẽ cho mi thấy quỷ dữ thích thiêu cháy cái gì. - Hắn gọi quân lính. - Cắt chân thằng cha đã chết này và nướng trên lửa.
Bọn lính cười, tưởng hắn đùa. Cape gắt gỏng ra lệnh lần nữa, và bọn lính vội vàng tuân lệnh. Những người nước ngoài khóc và cố bỏ đi. Làm sao họ có thể chứng kiến một cảnh tượng tởm lợm như thế? Cape gầm lên rằng nếu họ không xem và cười, từng người sẽ bị chặt bàn tay phải và nướng trên lửa. Thế là họ phải ở lại và xem. Họ vừa cười vừa nôn mửa. Ai cũng sợ Cape đến chết, tất cả trừ Lão Lục vì lão đã chết rồi. Khi lão nhìn thấy chân mình xoay trên cái xiên nướng, một con ma sao có thể đứng yên mà không trả thù?
Sáng sớm, mặt trời chưa mọc, cô Banner nghe thấy một tiếng gõ cửa. Cô dậy, để Cape vẫn đang ngủ say trên giường cô. Cô nghe thấy một giọng giận dữ ở bên ngoài. Nghe có vẻ không quen. Người đàn ông đó kêu to bằng tiếng Quảng Đông, giọng cộc cằn của công nhân:
- Tướng Rởm! Này thằng tướng Rởm! Dậy, đồ chó lười! Ra mà xem! Ông anh Jesus của mày đến đây này. Hắn đến kéo xác mày xuống địa ngục. - Chao! Ai thế nhỉ? Chắc chắn không phải một trong những tên lính gác. Nhưng ai mà nói năng sống sượng như một cu li?
Cape rủa:
- Thằng khốn, tao giết mày vì dám phá giấc ngủ của tao.
Tiếng Trung Quốc quát lại:
- Quá muộn rồi, thằng chó đẻ. Tao đã chết.
Cape nhảy khỏi giường, vớ khẩu súng lục. Nhưng lúc mở tung cửa, hắn cười phá. Đó là mục sư Amen, gã điên. Gã rủa sả như một cu li năm đời, cái chân giò của bữa tối qua vắt trên vai. Cô Banner nghĩ thầm, sao mục sư lại có thể nói tiếng đúng giọng địa phương giỏi thế. Rồi cô chạy ra cửa xua người điên đi. Lúc Cape quay người đẩy cô vào, mục sư vung cái xương chân giò và quật thật mạnh xuống sọ tên tướng rởm. Ông quật lần nữa, lần nữa, những cú quật hung dữ đến mức một cái trúng cẳng chân cô Banner. Cuối cùng, mục sư quẳng khúc xương và gào lên với kẻ thù đã chết từ lâu:
- Khi gặp lại nhau ở thế giới bên kia, tao sẽ đá mày bằng cái chân lành.
Lúc đó cô Banner cho rằng hồn Lão Lục đã nhập vào cái đầu rỗng tuếch của mục sư. Cô nhìn người đàn ông dở sống dở chết này. Ông ta nhặt khẩu súng của Cape và chạy qua sân, gọi to bọn lính gác cổng. Từ chỗ nằm, cô Banner nghe thấy một tiếng nổ. Rồi ngay sau đó là tiếng nữa. Cô nghe thấy mục sư quát bằng giọng nước ngoài:
- Lạy Chúa lòng lành! Con đã làm gì thế này? - Những âm thanh ấy đã làm đầu óc mờ mịt của ông ta tỉnh lại.
Cô Banner nói khi nhìn lại mục sư, ông ta có bộ mặt của một con ma sống. Ông ta lê bước về phòng riêng, bước qua xác Cape trước, rồi đến cô Banner với cái chân gãy. Cô rúm người lại như thể sắp bị đánh lần nữa.
Mục sư và những người Thờ phụng Jesus bàn bạc nhiều giờ liền về chuyện xảy ra, họ phải làm gì. Cô Banner lắng nghe họ nói về sự phán quyết cuối cùng. Cô Chuột vạch ra rằng, nếu quân Mãn Châu nhìn thấy việc mục sư đã làm, ông ta và những người khác sẽ bị tra tấn. Có ai đủ khỏe mang những cái xác kia đi chôn không? Không ai hết. Họ có nên chạy trốn không? Đi đâu? Họ không biết nơi nào có thể ẩn náu được. Rồi bác sĩ Quá Muộn gợi ý họ nên chấm dứt mọi đau khổ bằng cách tự tử. Nhưng bà Amen cãi: “Lấy đi sinh mạng của mình là một tội lớn, ngang với tội giết người”.
- Tôi sẽ đưa tất cả chúng ta đến nơi an nghỉ, - mục sư nói. - Tôi đã bị kết tội vì giết ba người kia. Cuối cùng hãy để tôi đem lại cho mọi người sự yên bình.
Chỉ mình cô Banner cố thuyết phục mọi người chống lại ý đó.
- Phải luôn hy vọng, - cô nói. Tất cả bọn họ bảo cô rằng lúc này mọi hy vọng đều nằm dưới mồ cả rồi. Thế là cô quan sát họ cầu nguyện trong Nhà Nguyện, ăn bánh mì Communion ôi của bà Amen, uống nước, giả vờ là vang. Sau đó họ nuốt thuốc viên của bác sĩ Quá Muộn để quên đau.
Chuyện xảy ra sau đó thì em biết rồi.
Cô Banner và tôi không đủ sức chôn những người Thờ phụng Jesus. Chúng tôi không thể để họ lại làm bữa ăn ngon lành cho lũ ruồi đói. Tôi ra vườn. Tôi rút những bộ quần áo trắng giặt ngày hôm trước. Trong lúc giặt, tôi nghĩ đến mọi điều khủng khiếp xảy ra. Tôi quấn xác các bạn vào trong những tấm vải liệm vội vàng này, cô Banner vào phòng họ, cố tìm mỗi người một món quà lưu niệm để xếp vào cái hộp âm nhạc của cô. Vì Cape đã ăn cắp mọi thứ đồ quý giá, tất cả chỉ còn lại những mẩu đáng thương. Bác sĩ Quá Muộn có một cái lọ nhỏ đựng viên thuốc phiện. Cô Chuột có chiếc găng tay da cô hay nắm chặt trong lúc sợ hãi. Bà Amen có những cái khuy bà rứt khỏi áo mỗi khi bà kêu gào. Mục sư Amen có quyển hướng dẫn du lịch. Lão Lục có cái hộp đựng lá cây thiêng. Cô xếp mọi thứ này vào hộp cùng quyển album cô ghi lại những suy nghĩ. Sau đó, chúng tôi thắp những ngọn nến đã chảy gần hết trên ban thờ. Tôi rút chiếc chìa khoá cô Banner đưa cho tôi đêm hôm qua. Tôi xoay chìa, chúng tôi cùng hát. Cô Banner biết nhiều lời hát mà người nước ngoài thích.
Khi bài hát hết, chúng tôi cầu nguyện Chúa Trời. Lần này tôi chân thành. Tôi cúi đầu. Tôi nhắm mắt. Tôi nói to:
- Con đã sống với họ sáu năm. Họ giống như gia đình của con, dù con không hiểu họ lắm. Nhưng con có thể nói rất chân thành rằng họ là những người bạn trung thành của con trai Người cũng như với chúng con. Con xin Người dang tay đón họ trở về nhà. Cả mục sư nữa.
Chúng tôi còn bao nhiêu thời gian trước khi quân Mãn Châu tới? Lúc đó tôi không biết, nhưng bây giờ tôi có thể nói với em. Đó là không đủ.
Trước khi bỏ trốn, tôi xé chiếc váy mặc thường ngày của cô Banner làm dây đeo cái hộp âm nhạc. Tôi quàng dây qua vai trái, cô Banner dựa vào vai phải, cả hai tập tễnh bước đi như một người. Nhưng lúc ra đến cửa Nhà Nguyện, một luồng gió bất ngờ thổi qua chúng tôi. Tôi quay nhìn và thấy quần áo của những người Thờ phụng Jesus dâng cuồn cuộn như thể xác họ thở lại. Từng chồng The Good News bay tung toé, nhiều tờ bay lên trên ngọn nến đang cháy và bùng thành ngọn lửa. Ngay lúc đó tôi ngửi thấy mùi Ma Thương nhân, mùi ớt khô và tỏi rất nồng, như bữa tiệc đón mừng đã sẵn sàng. Có lẽ do trí tưởng tượng nảy sinh vì quá sợ hãi mà tôi nhìn thấy ông ta - cô Banner không thấy -, vận xiêm dài, bên dưới thò ra đôi giày mới, đế dày. Ông ta bước đi và gật gù, rồi biến vào trong ngôi nhà bất hạnh.
Nhảy lò cò từng bước, cô Banner và tôi trèo vào những quả núi. Mấy lần cô ngã sóng soài và đè lên cái chân đau, cô khóc:
- Hãy để tôi lại đây. Tôi không thể đi tiếp được nữa.
- Thôi cái trò vớ vẩn này đi, - lần nào tôi cũng gắt. - Dị Ban đang đợi, và cô làm chúng ta muộn mất. - Thế là đủ cho cô lại cố gắng.
Đến mái vòm đầu tiên, tôi nhìn lại ngôi làng trống rỗng. Nửa ngôi nhà của Ma Thương nhân chìm trong lửa. Một đám mây đen lớn lơ lửng bên trên, như một lời nhắn quân Mãn Châu hãy đến Xướng Miên ngay.
Lúc chúng tôi đến mái vòm thứ hai, chúng tôi nghe thấy nhiều tiếng nổ. Chúng tôi không thể đi nhanh hơn, ngoài việc ở nơi đó, ruột gan chúng tôi quặn thắt. Trời sắp tối, gió đã lặng. Quần áo chúng tôi đẫm mồ hôi vì đã ráng sức đi được xa như thế. Giờ chúng tôi phải trèo lên sườn núi lởm chởm, chỉ cần một bước hụt cũng làm chúng tôi lăn xuống khe núi.
- Đi nào, cô Banner, - tôi giục. - Chúng ta sắp đến rồi.
Cô nhìn cái chân bị thương, giờ sưng phù lên to gấp đôi.
Tôi nảy ra một ý:
- Cô đợi ở đây nhé, - tôi bảo cô. - Tôi sẽ chạy đến cái hang có Dị Ban. Rồi hai chúng tôi sẽ khiêng cô lên đó. - Cô xiết chặt tay tôi, và tôi thấy nỗi sợ phải ở lại một mình trong mắt cô.
- Hãy cầm cái hộp âm nhạc, - cô nói. - Cất nó vào nơi an toàn.
- Tôi sẽ trở lại mà, - tôi an ủi. - Cô biết thế chứ?
- Phải, phải, tất nhiên rồi. Tôi chỉ nghĩ cô nên mang đi bây giờ để sau này đỡ phải mang. - Tôi nhận cái hộp của cô và lê bước tiến lên.
Đi qua mỗi cái hang hoặc kẽ hở nào, cũng có tiếng kêu to:
- Có người rồi! Không còn chỗ! - Thế là dân làng đã đi hết. Các hang đầy ắp nỗi sợ, hàng trăm cái miệng nín thở. Tôi trèo lên rồi lại xuống, tìm cái hang cạnh tảng đá. Có nhiều tiếng nổ nữa! Tôi bắt đầu chửi rủa y hệt Lão Lục, tiếc từng khoảnh khắc trôi qua. Cuối cùng, tôi tìm ra tảng đá và kẽ hở, tôi hạ người lọt vào. Cái đèn vẫn còn đó, một dấu hiệu tốt là chưa có người khác vào và Dị Ban chưa ra khỏi đấy. Tôi để cái hộp âm nhạc xuống và châm đèn, rồi dò dẫm qua các chỗ khúc khuỷu trong hang, hy vọng mỗi bước chân mỏi rã rời của tôi không nhầm đường. Rồi tôi nhìn thấy ánh lấp lánh phía trước như tia sáng đầu tiên trong một thế giới không còn sự cố. Tôi chạy lao vào nơi có cái hồ sáng ngời, gọi to:
- Dị Ban! Dị Ban! Tôi trở lại đây. Nhanh lên, lại giúp cô Banner! Cô ấy ở ngoài kia, đang dở sống dở chết.
Không có trả lời. Tôi lại gọi, lần này to hơn. Tôi đi quanh hồ. Biết bao nỗi sợ làm tê buốt tim tôi. Dị Ban thử tìm đường ra và bị lạc? Anh ta rơi xuống hồ và chết đuối? Tôi tìm kiếm gần ngôi làng bằng đá. Cái gì thế này? Một bức tường có người đã trèo qua. Dọc theo rìa tường, có nhiều tảng đá chất cao thành đống. Mắt tôi ngước nhìn và tôi thấy nơi có người bám lấy chỗ này, bước qua chỗ kia, cả một khe nứt trên mái rộng đủ cho một người đàn ông lọt qua. Tôi thấy mọi hy vọng của tôi đã bay qua cái khe đó.
Lúc tôi trở lại, cô Banner vẫn đang thò đầu ra ngoài mái vòm, kêu to:
- Dị Ban, anh đấy à? - Lúc chỉ thấy mình tôi, cô khóc. - Ái dà! Anh ấy bị giết rồi sao?
Tôi lắc đầu, rồi kể cho cô nghe tôi đã phá vỡ lời hứa ra sao.
- Anh ấy đi tìm cô, - tôi nói bằng giọng ân hận. - Đấy là lỗi của tôi.
Cô không nói điều tôi nghĩ: Nếu Dị Ban vẫn còn trong hang, cả ba chúng tôi có thể được cứu thoát. Thay vào đó, cô quay đi, khập khiễng đến bên kia mái vòm, tìm anh ta trong đêm tối. Tôi đứng sau cô, tim tôi tan nát. Bầu trời màu cam và gió có mùi tro. Lúc này chúng tôi nhìn thấy những chấm sáng khắp thung lũng bên dưới, những ngọn đèn của binh lính, nhấp nhô như những con đom đóm. Cái chết đang đến, chúng tôi biết thế, và kinh khủng khi phải đợi. Nhưng cô Banner không khóc. Cô nói:
- Cô Moo, cô sẽ đi đâu? Sau khi chết là nơi nào? Thiên đường của cô hay của tôi?
Một câu hỏi đặc biệt. Làm như tôi có thể quyết định. Thánh thần không chọn chúng tôi ư? Nhưng tôi không muốn tranh cãi trong ngày cuối cùng này. Tôi chỉ nói vắn tắt:
- Tôi sẽ đến bất cứ nơi nào Tăng và Lão Lục đã đến.
- Đấy là thiên đường của các người. - Chúng tôi im lặng giây lát. - Cô sẽ đi đâu, cô Moo, nếu cô là người Trung Quốc? Họ có cho tôi vào đấy không?
Câu hỏi này còn lạ hơn cả câu trước!
- Tôi không biết. Tôi chưa bao giờ nói chuyện với người đã ở đấy và trở lại. Nhưng tôi nghĩ là nếu cô nói tiếng Trung Quốc, thế là đủ rồi. Mà vâng, tôi chắc thế.
- Còn Dị Ban, anh ấy lai nửa nọ nửa kia, liệu anh ấy đi đâu? Nếu chúng ta chọn phe đối lập…
Chà, bây giờ thì tôi hiểu mọi câu hỏi. Tôi muốn an ủi cô. Vì thế tôi nói dối cô câu cuối cùng:
- Đi nào, cô Banner. Đi với tôi nào. Dị Ban đã nói với tôi rồi. Nếu anh ấy chết, anh ấy sẽ gặp lại cô ở Cõi Âm.
Cô tin tôi, vì tôi là người bạn trung thành của cô.
- Hãy nắm lấy tay tôi, cô Moo, - cô nói. - Đừng buông cho đến khi chúng ta tới nơi.
Chúng tôi cùng đợi, vừa hạnh phúc vừa buồn bã, sợ đến chết cho đến khi chúng tôi phải chết.

