Những Linh Cảm Bí Ẩn - Chương 8

8. NGƯỜI BẮT MA

Cơ quan Thuế vụ (IRS) chịu trách nhiệm đưa chúng tôi đến hôn nhân. Chúng tôi chung sống đã ba năm, hai năm trong đó là sau khi tốt nghiệp đại học. Hòa hợp với ước mơ chung “tạo sự khác biệt thực sự”, chúng tôi làm việc trong lĩnh vực phục vụ con người. Simon là cố vấn cho Clean Break, tổ chức giúp đỡ thanh thiếu niên có tiền án tiền sự. Tôi là nhân viên dự bị cho Another Chance, một chương trình dành cho phụ nữ có thai nghiện ma túy. Chúng tôi không kiếm được nhiều tiền, nhưng sau khi xem IRS trừ thuế hàng tháng, chúng tôi tính toán sẽ tiết kiệm được bao nhiêu nếu chúng tôi khai thuế chung: mỗi năm cả thảy ba trăm bốn mươi sáu đôla!

Số tiền này đung đưa trước con mắt kiệt quệ của chúng tôi, chúng tôi tranh cãi đây có phải là ân huệ chính phủ dành cho các cặp vợ chồng mới cưới không. Cả hai chúng tôi nhất trí rằng thuế má là một dạng ép buộc xảo quyệt của chính phủ. Tại sao chúng tôi phải nộp cho chính phủ ba trăm bốn sáu đôla để mua thêm vũ khí? Chúng tôi có thể dùng số tiền đó mua bộ loa stereo mới. Tôi nhớ Simon đã đề nghị tôi kết hôn một cách dứt khoát.

- Em nghĩ sao? - Anh nói. - Sao chúng mình không hợp tác và cùng khai?

Lễ cưới cử hành gần khu vườn Rhododendron thuộc công viên Golden Gate, nơi chúng tôi thấy vừa thoải mái vừa lãng mạn. Nhưng ngày tháng Sáu ấy, sương mù cuồn cuộn trong gió rét quất vào quần áo và tóc tai, vì thế chúng tôi và các vị khách trong ảnh cưới nom rất lộn xộn. Trong lúc mục sư của nhà thờ Universal Life đang ngân nga chúc phúc cho hôn lễ, một người của công viên dõng dạc tuyên bố:

- Xin lỗi các vị, nhưng các vị cần có giấy phép mới được tổ chức cuộc tụ họp như thế này.

Thế là chúng tôi thề nguyền ào ào cho xong, hoãn bữa tiệc cưới ngoài trời và tặng quà, kéo mọi người về căn hộ chật chội của chúng tôi trên phố Stanyan.

Giống lớp kem trên bánh cưới bị hỏng, các món quà cưới không thứ gì thiết thực để thay thế những vật dụng chúng tôi rất cần thay như khăn trải giường, khăn mặt, đồ làm bếp. Phần lớn bạn bè tặng những món quà vui vui, loại trợ giúp hôn nhân. Dượng Bob cho chúng tôi một lọ hoa pha lê. Cha mẹ Simon tặng chúng tôi một cái khay chạm giá trị.

Những người khác trong gia đình tôi đua nhau tìm “thứ đặc biệt” để các cháu tương lai của chúng tôi thừa hưởng như một thứ gia truyền. Mẹ tôi tặng pho tượng nam nữ ôm nhau bằng kim loại, độc đáo, một tác phẩm nghệ thuật mà Bharat Singh, bạn trai của bà hồi ấy làm. Em trai Tommy tặng chúng tôi một máy bắn đạn đồ chơi kiểu cổ mà nó thường chơi mỗi lần đến thăm. Kevin cho chúng tôi một thùng vang đỏ, chúng tôi đồ rằng khoảng năm chục năm tuổi. Sau vài bữa tiệc cuối tuần tùy hứng với bạn bè, chúng tôi có một bộ sưu tập vỏ chai rất đẹp.

Quà của Quan rất đẹp, thật đáng ngạc nhiên. Một cái hộp bằng gỗ hồng sắc của Tàu, nắp chạm. Lúc tôi mở nắp, tiếng nhạc bài The way we were vang lên, giai điệu mạnh mẽ và giản dị. Trong ngăn đựng đồ trang điểm là một gói trà. “Tạo tình cảm tốt đẹp dài lâu”, Quan giải thích và nhìn tôi, ranh mãnh.

***

Trong bảy năm chung sống đầu tiên, Simon và tôi hầu như thống nhất trong mọi việc. Bảy năm tiếp theo, hình như chúng tôi làm ngược lại. Chúng tôi không tranh cãi như anh với Elza về các vấn đề quan trọng đại loại như phương pháp thích hợp, chính sách tuyển dụng tích cực và cải cách phúc lợi. Chúng tôi cãi vã vì những việc lặt vặt: Món ăn có ngon hơn nếu để chảo nóng rồi mới cho dầu ôliu vào? Simon nói có, tôi bảo không. Chúng tôi không có những biến cố lớn. Nhưng chúng tôi hay cãi nhau vặt, như thể vì thói quen. Nó làm chúng tôi trở nên xấu tính, ít yêu thương nhau hơn.

Chúng tôi không thể nói chuyện về những hy vọng, ước mơ, những khát khao thầm kín của mình nữa. Chúng quá mơ hồ, quá đáng sợ, quá ý nghĩa. Vì thế chúng cứ nằm im bên trong, phát triển như bệnh ung thư, cơ thể tự tàn tạ dần.

Nhìn lại, tôi ngạc nhiên thấy cuộc hôn nhân của chúng tôi kéo dài lâu đến thế. Tôi tự hỏi các cuộc hôn nhân của người khác, của các bạn tôi, liệu họ có tiếp tục vì thói quen hoặc vì thờ ơ, hay là sự kết hợp lạ lùng biến nỗi sợ thành hy vọng rồi lại hy vọng tháo gỡ nỗi sợ. Tôi chưa bao giờ nghĩ cuộc hôn nhân của chúng tôi xấu hơn của người khác. Về một số mặt, tôi cảm thấy còn tốt hơn phần lớn các cuộc khác. Tại các buổi dạ tiệc, chúng tôi là một cặp đẹp đôi. Chúng tôi giữ được hình dáng đẹp, có cuộc sống tình dục vừa phải. Chúng tôi có chung một thứ rất quan trọng là công việc làm ăn riêng của chúng tôi, nhiều mối quan hệ công cộng, phần lớn là phi lợi nhuận và các nhóm y tế.

Suốt nhiều năm, chúng tôi phát triển một bảng danh sách các khách hàng thường xuyên - quỹ Thận Quốc gia, quỹ Nghiên cứu u não, vài bệnh viện, một tài khoản sinh lời, một bệnh viện tư nhớp nhúa cứ khăng khăng đòi dùng ảnh trước và sau khi hút mỡ giảm béo ở mông phụ nữ để in quảng cáo. Simon và tôi làm việc trong một phòng riêng ở căn hộ của chúng tôi. Tôi là người chụp ảnh, thiết kế, in máy và làm ma-két. Simon là người viết quảng cáo, quản lý khách hàng, mua tranh ảnh, báo thu các tài khoản. Chúng tôi rất tôn trọng nhau trong các vấn đề thẩm mỹ. Chúng tôi thống nhất cách bố trí sách, kích cỡ chữ và tiêu đề. Chúng tôi làm việc rất chuyên nghiệp.

Bạn bè thường bảo:

- Hai cậu may thật.

Trong nhiều năm, tôi muốn tin rằng chúng tôi may mắn đúng như họ nghĩ một cách thèm muốn. Tôi lý sự rằng những cuộc cãi vã của chúng tôi chỉ là những tức giận nho nhỏ, giống như mảnh đạn dưới da, những chỗ bẹp trên ô tô, dễ xoá bỏ khi chúng tôi chú ý.

Gần ba năm trước, cha đỡ đầu của tôi là Dudley, một kế toán nghỉ hưu tôi không gặp từ khi còn bé, qua đời và để lại cho tôi nhiều cổ phần trong một công ty ghép gien nhỏ. Khi ông mất, chúng không đáng giá nhiều. Nhưng khi người thực hiện di chúc chuyển chúng cho tôi, công ty đã đưa ra chào bán công khai, các cổ phiếu được tách ra vài lần, và nhờ những phép màu về mặt thương mại của DNA, Simon và tôi có đủ tiền mua một ngôi nhà tươm tất tại một vùng lân cận tuyệt vời, ngay cả khi giá cả ở San Francisco tăng vù vù. Chúng tôi đã làm thế, cho đến khi mẹ tôi gợi ý tôi nên chia sẻ vận may cho các anh em trai của tôi và Quan. Mẹ tôi vạch ra rằng, nghĩ cho cùng, Dudley là bạn của cha và tôi chẳng phải là người đặc biệt gần gũi với ông. Bà nói đúng, nhưng tôi mong Kevin, Tommy và Quan sẽ nói:

- Cứ giữ lấy, cảm ơn vì đã nghĩ thế.

Hy vọng thật là nhiều. Người làm tôi ngạc nhiên nhất là Quan. Chị kêu ré lên và nhảy nhót như người tranh giải Bánh xe may rủi. Sau khi chúng tôi chia chiếc bánh thừa kế và đóng nhiều khoản thuế lớn, Simon và tôi chỉ còn đủ tiền mua một căn nhà giản dị thuộc vùng lân cận xoàng xĩnh.

Chúng tôi mất hơn một năm tìm nhà. Simon gợi ý mua một căn từ cuối những năm 1950 ở quận Sunset đầy sương mù, anh cho rằng sau vài năm có thể bán gấp đôi, coi như một khoản đầu tư của chúng tôi. Còn tôi nghĩ nhiều hơn đến một ngôi nhà cũ nát thời Victoria ở Vernal Heights nhiều triển vọng, một nơi chúng tôi có thể tân trang thành một ngôi nhà đẹp đẽ và không đầu tư.

- Em định biến cái nhà tiều tuỵ này thành nhà ở? - Simon nói sau khi ngắm nghía cơ ngơi.

Chúng tôi không nhất trí với thứ gọi là “tiềm năng trong tương lai”. Lẽ tất nhiên tiềm năng là phải làm nhiều hơn. Cả hai đều hiểu rằng sống trong một nơi chật chội, bừa bộn đòi hỏi một tình yêu tươi mới và chứa chan, không gì hơn ngoài việc sung sướng rúc vào nhau tìm hơi ấm trên chiếc giường đôi chật hẹp. Từ lâu Simon và tôi đã dùng chiếc giường kích cỡ của vua và đắp chăn điện có điều khiển kép.

Một Chủ nhật mùa hè đầy sương mù, chúng tôi phát hiện ra tấm biển BÁN NHÀ của quần thể nhà sáu đơn nguyên ven Pacific Heights. Tôi muốn nói ven có nghĩa là bám lấy vùng lân cận thanh lịch đó bằng một sợi dây tả tơi. Đằng sau ngôi nhà thuộc Western Addition, các cửa sổ và cửa ra vào đều có chấn song chống trộm bằng thép. Đây là ba khối nhà trọn vẹn và hai người đóng thuế chung sẽ hay hơn các phố ở Pacific Heights, nơi nhiều gia đình có khả năng thuê người giúp việc, và hai ngôi nhà loại hai.

Trong hành lang chung, Simon cầm một tờ rơi rao bán, xem xét tỉ mỉ những lời có dấu nối ở giữa.

- Một quần thể nhà ở Pacific Heights, khá-sang trọng, hai-tầng, - anh đọc to, - toạ lạc trong một lâu đài thời Victoria, có thời-nguy nga, bề thế, do kiến trúc sư rất-nổi tiếng Archibald Meyhew xây dựng năm 1893”. Thật không ngờ, tờ rơi cũng khoe khoang mười căn phòng và chỗ đỗ xe, tất cả đều bán với bán chỉ nhỉnh hơi khoản tiền chúng tôi có một chút. Chúng tôi đã xem xét kỹ cả năm căn hộ, còn cái thứ sáu không có garage.

Tôi bấm chuông đơn nguyên năm.

- Giá hời so với vùng này, - tôi nhận xét.

- Chế độ quản lý không tốt đâu, - Simon nói. - Với các quần thể nhà kiểu này, nghe nói phải tuân theo nhiều quy định điên rồ, kể cả việc muốn thay đổi công suất các bóng đèn.

- Anh nhìn cái lan can xem. Có phải là gỗ không? Trông đẹp nhỉ?

- Giả đấy. Em có thể dùng bật lửa mà thử. Chúng quá thông thường.

Vì Simon có vẻ bôi bác mọi thứ thú vị ở nơi này, tôi gợi ý ra về. Nhưng đúng lúc đó, chúng tôi nghe thấy những tiếng bước chân vội vã trên cầu thang và một người đàn ông gọi:

- Tôi đến chỗ các vị ngay đây.

Simon bất giác vòng tay quanh người tôi. Tôi không thể nhớ lần cuối cùng anh làm thế là bao giờ. Dù chê bai, chắc anh thích triển vọng của ngôi nhà, đằng nào cũng tạo cho chúng tôi vẻ ngoài của một cặp vợ chồng hạnh phúc, vững vàng, đủ ổn định để kéo dài hết thời gian giao kèo.

Hóa ra là người đại lý bất động sản, một thanh niên hói, ăn mặc đỏm dáng tên là Lester Roland hoặc Roland Lester, và là người sáng tạo ra tờ rơi kia. Anh ta có thói quen khó chịu là hay hắng giọng, gây cho người ta ấn tượng là nói dối hoặc sắp lúng túng thú tội.

Anh ta đưa một tấm danh thiếp.

- Trước kia các vị đã mua nhà ở vùng này, thưa ông bà…?

- Bishop. Simon và Olivia, - Simon trả lời. - Chúng tôi hiện sống ở quận Marina.

- Chắc các vị biết đây là một trong các khu vực dân cư tốt nhất của thành phố.

Simon ra vẻ chán ngán.

- Ý anh định nói Pacific Heights chứ không phải Western Addition.

- Đúng thế! Chắc hẳn các vị thừa biết điều này. Tôi đoán các vị muốn xem tầng hầm trước.

- Vâng. Hãy cho chúng tôi đi xem.

Lester cẩn thận chỉ cho chúng tôi xem các đồng hồ đo tách rời, từng bể nước nóng, bình đun chung và các ống dẫn bằng đồng, trong lúc xem chúng tôi không hề bình luận.

- Như các vị thấy, - Lester hắng giọng, - nền bằng gạch nguyên.

- Đẹp, - Simon gật đầu tán thành.

Lester cau mày và ban cho chúng tôi khoảng lặng im đầy ý nghĩa.

- Tôi nói điều này bởi vì, - anh ta ho. - Vì có khi các vị đã biết, hầu hết các nhà băng không cấp tiền cho các ngôi nhà có nền gạch. Họ sợ động đất. Nhưng ông chủ sẵn sàng thế chấp thêm, và lẽ tất nhiên là các vị có thể so sánh với giá thị trường.

Ra thế, tôi nghĩ, đây là lý do vì sao nơi này bán rẻ thế.

- Ngôi nhà có bị ảnh hưởng gì không?

- Ồ không, hoàn toàn không. Tất nhiên là nó vẫn giữ nguyên cách xếp đặt, trang trí và những thứ khác. Các ngôi nhà cổ đều có vài vết nứt, một thứ đặc quyền của năm tháng. Trời ạ, chúng ta nên nhìn nó đã trăm tuổi! Các vị cũng nên ghi nhớ ngôi nhà cũ kỹ sơn phết này đã sống sót qua trận động đất năm 89, chưa kể đến một trận rất lớn năm 86. Giờ thì các vị có thể nói thế với các ngôi nhà mới hơn không?

Lester có vẻ quá sốt sắng, còn tôi bắt đầu ngửi thấy mùi mốc khó chịu của rác rưởi. Trong các góc nhà tăm tối, tôi nhìn thấy hàng đống va li vỡ, lớp nhựa vinyl xám bụi nứt nẻ và hoác miệng. Trong một khu vực kho khác là các đồ nặng han gỉ - các phụ tùng ô tô, thanh tạ, một thùng đựng dụng cụ bằng kim loại, - một đài kỷ niệm sự quá dư thừa kích thích tố nam của người chủ trước. Simon buông tay tôi.

- Đơn nguyên này sắp có một khoảng garage chỉ đỗ được một xe, - Lester nói. - Chúng tôi không có chỗ cho chiếc xe thứ hai.

Như một con mèo, Lester lặng lẽ nhìn cả hai chúng tôi rồi nói với tôi:

- Vâng, điều đó tránh được nhiều phiền nhiễu, phải không ạ? - Chúng tôi bắt đầu trèo lên cầu thang hẹp. - Tôi sẽ đưa các vị trở lại lối vào đằng sau, trước kia là cầu thang dành cho người hầu, dẫn lên phần sử dụng. À, nhân thể, bên dưới có hai khối nhà là khoảng không để đi bộ, các vị biết chứ ạ? Còn có một trường tư thục rất xuất sắc. Học lớp ba, những con quỷ nhỏ ấy đã biết tháo một máy tính 386 và nâng cấp thành 486. Ngày nay người ta có thể dạy bọn trẻ những điều thật phi thường!

Lần này, chúng tôi đồng thanh:

- Không có trẻ con.

Chúng tôi nhìn nhau, giật mình. Lester mỉm cười, rồi nói:

- Đôi khi, đấy là việc rất sáng suốt.

Hồi chúng tôi mới kết hôn, có con là một vấn đề lớn chúng tôi cùng chia sẻ. Simon và tôi mê mẩn khả năng kết hợp về mặt di truyền của chúng tôi. Anh muốn có con gái trông giống tôi, tôi muốn có con trai giống anh. Sau sáu năm ngày ngày đo nhiệt độ, kiêng rượu giữa hai kỳ kinh nguyệt, sinh hoạt tình dục đều đặn, chúng tôi đến một chuyên gia sinh sản, bác sĩ Brady, ông cho biết Simon vô sinh.

- Ông định nói Olivia vô sinh, - Simon nói.

- Không, những xét nghiệm cho thấy là anh, - bác sĩ Brady trả lời. - Bệnh án cho biết đến năm lên ba, tinh hoàn của anh chưa tụt xuống.

- Cái gì? Tôi không nhớ chuyện ấy. Với lại, hiện giờ chúng xuống cả rồi. Phải làm gì đây?

Hồi ấy chúng tôi đọc nhiều về chứng loãng tinh, tinh trùng phải mát hơn nhiệt độ cơ thể, vì thế tinh hoàn mới ở bên ngoài như một thứ điều hoà nhiệt độ tự nhiên. Bác sĩ Brady nói sự vô sinh của Simon không đơn giản là ít tinh trùng và tinh trùng di chuyển kém, mà anh vô sinh từ tuổi dậy thì, nghĩa là từ lần xuất tinh đầu tiên.

- Nhưng không thể thế được, - Simon nói. - Tôi biết là tôi có thể mà, vâng, không thể thế được. Các xét nghiệm nhầm.

Bác sĩ Brady nói bằng giọng đầy kinh nghiệm, đã an ủi hàng ngàn đàn ông không tin:

- Tôi cam đoan với anh rằng vô sinh không ảnh hưởng gì đến nam tính, sự cường dương, hoạt động tình dục, sự cương cứng, xuất tinh hoặc khả năng làm bạn tình thoả mãn. - Tôi chú ý thấy ông ta nói “bạn tình” chứ không phải là “vợ anh”, dường như tính đến nhiều khả năng, quá khứ, hiện tại và tương lai.

Sau đó, ông ta thảo luận về trạng thái xuất tinh, các loại thuốc cho cương cứng, và nhiều điều tầm phào khác chẳng ích gì cho những chiếc giày bé xíu trong tủ quần áo của chúng tôi, những cuốn sách Beatrix Potter mẹ tôi đã thu thập cho đứa cháu ngoại tương lai, hồi ức về Elza mang thai gào thét với Simon từ đỉnh con đường dốc trong trận lở tuyết.

Tôi biết Simon đang nghĩ đến Elza, băn khoăn cô có nhầm về chuyện có thai không. Nếu có, thì việc cô chết còn bi thảm hơn, hết nhầm lẫn ngu ngốc này đến nhầm lẫn khác. Tôi cũng biết Simon đang nghĩ có khi Elza nói dối, rằng cô không hề có mang. Nhưng sao lại thế? Nếu cô ấy có mang, thì ai là người tình khác của cô ấy? Vì sao hồi đó cô ấy lại chửi mắng Simon như tát nước? Không thể có câu trả lời thỏa đáng.

Kể từ cuộc trò chuyện với người âm của chúng tôi và Quan nhiều năm trước, Simon và tôi tránh nhắc đến tên Elza. Giờ đây chúng tôi càng im thin thít gấp đôi, không thể thảo luận về sự vô sinh của Simon, những câu hỏi về Elza hoặc cảm nghĩ của chúng tôi về thụ tinh nhân tạo hoặc nhận con nuôi. Hết năm này sang năm khác, chúng tôi tránh nói đến trẻ con, thực tế hay tưởng tượng hoặc hy vọng có, cho đến khi chúng tôi ở đó, trên đầu cầu thang tầng ba, cả hai chúng tôi thông báo cho một người xa lạ đáng ghét tên là Lester rằng “Không có trẻ con”, như thể chúng tôi đã quyết định từ nhiều năm trước và bây giờ là quyết định cuối cùng.

Lester lục tìm hàng chục chìa khoá treo trên dây.

- Nó ở đây mà, - anh ta lẩm bẩm. - Chắc là chiếc cuối cùng. Vâng, các vị không biết… à đây rồi!

Anh ta nhún nhảy mở cửa và vỗ vào tường cho đến khi thấy công tắc đèn. Thoạt nhìn căn hộ dường như quen thuộc, như thể trước kia tôi đã đến thăm nơi này một ngàn lần, ngôi nhà hò hẹn trong những giấc mơ ban đêm. Mọi thứ ở đó: những cánh cửa kép nặng nề bằng gỗ sồi có những ô kính gợn sóng kiểu cổ, hành lang rộng rãi chân tường ốp gỗ sồi đen, cửa sổ con để ánh sáng rọi qua, lấp lánh những hạt bụi lưu cữu. Giống như tôi trở lại ngôi nhà xưa và không thể biết cảm giác quen thuộc này là thoải mái hay ngột ngạt. Lúc đó, Lester vui vẻ tuyên bố rằng chúng ta bắt đầu bằng ngó qua “phòng đón tiếp”, và cảm giác ấy tan biến.

- Cấu trúc là thứ chúng tôi gọi Eastlake và gothic phục hưng, - Lester nói với chúng tôi. Anh ta giải thích tiếp vì sao nơi này trở thành nhà trọ cho những người bán hàng rong và những quả phụ thời chiến những năm hai mươi. Trong những năm bốn mươi, “gothic phục hưng” biến thành “nơi làm việc vặt đặc biệt” khi ngôi nhà cải tạo thành 24 xưởng xinh xắn, là nơi ăn chốn ở rẻ tiền thời chiến. Trong những năm sáu mươi, nó thành nhà trọ cho sinh viên, và khi bất động sản lên giá đầu những năm tám mươi, ngôi nhà phục sinh một lần nữa, lần này thành sáu tổ hợp “khá-sang trọng” hiện nay.

Tôi hiểu “khá-sang trọng” nhờ ngọn chúc đài bằng thuỷ tinh rẻ tiền ngoài hành lang. “Khá-hiện đại” sẽ là cách miêu tả căn hộ thật thà hơn, gồm sự hòa trộn không hợp nhau lắm của những lần phục hồi trước kia. Căn bếp lát gạch đỏ Tây Ban Nha và tủ ly bằng gỗ cán mỏng làm mất mọi dấu tích thời Victoria, trong khi những căn phòng khác vẫn được trang trí hào phóng những mắt cửa hào nhoáng vô dụng và các trụ ngạch bằng thạch cao ở các góc trần. Các ống tản nhiệt không còn nối với lò sưởi nữa. Các lò sưởi bằng gạch đã lát đè lên. Những cánh cửa hõm ở giữa gần đây đã biến thành phòng kho. Qua cách nói khoa trương về bất động sản của Lester, những khoảng không vô dụng thời Victoria đã bất ngờ có những mục tiêu mới đầy ý nghĩa. Một chiếu nghỉ cũ trên cầu thang, đằng sau chiếu sáng bằng ô thuỷ tinh màu hổ phách đã thành “phòng âm nhạc” dành cho nhóm tứ tấu đàn dây của những người lùn thì hoàn hảo, tôi nghĩ. Nơi trước kia là chỗ ở ngột ngạt của cô hầu chuyên giặt giũ dưới gấm cầu thang, nay Lester nói khéo là “thư viện của bọn trẻ”, không phải là thư viện dành cho người lớn. Một nửa phòng trang điểm và thay quần áo trước kia rộng thênh thang, có tủ quần áo bằng gỗ tuyết tùng gắn vào tường bây giờ là “phòng làm việc”, nửa kia thuộc căn hộ kế bên. Chúng tôi kiên nhẫn lắng nghe Lester, lời lẽ tuôn ào ào khỏi miệng anh ta giống như những con cún trong biếm hoạ, chạy điên cuồng trên vải sơn tưới sáp ong mà chẳng đi đến đâu.

Hẳn Lester chú ý thấy sự thích thú của chúng tôi đang giảm dần, giọng anh ta bớt khoe khoang, và thay đổi chiến thuật, anh ta lái chúng tôi chú ý đến “sự tiết kiệm tuyệt vời của dòng dõi cổ điển và hơi thực dụng”. Chúng tôi xem qua loa các phòng còn lại, một mê cung những khu vực nhỏ, được thổi phồng bằng những thuật ngữ quý phái rởm: phòng trẻ, phòng điểm tâm, phòng vệ sinh, ngăn cuối cùng là phòng để đồ chỉ rộng đủ cho một bệ xí và người sử dụng ngồi, đầu gối ép sát vào cửa. Trong một căn hộ hiện đại, toàn bộ mặt sàn chỉ nên có bốn phòng cỡ trung bình là tốt nhất.

Chỉ có một căn phòng tầng trên cùng còn phải xem. Lester mời chúng tôi trèo cái cầu thang hẹp lên nơi trước kia là tầng áp mái, giờ là “khuê phòng tuyệt đẹp”. Lên đó, quai hàm trên bộ mặt hoài nghi của chúng tôi trễ hẳn xuống. Chúng tôi chầm chậm nhìn giống như những người kinh hoàng vì cải đạo bất ngờ. Trước mắt chúng tôi là một căn phòng mênh mông, trần dốc tuột vào tường. Nó rộng tương đương với khoảng sàn cho toàn bộ chín căn phòng bên dưới. Ngược hẳn với tầng ba tăm tối, mốc meo, tầng áp mái sáng sủa và thoáng đãng, sơn trắng sạch sẽ. Tám cửa sổ mái nhô ra khỏi trần dốc, hướng cái nhìn của chúng tôi lên bầu trời lác đác mây. Dưới chân chúng tôi, những tấm ván sàn rộng lấp lánh, sáng bóng như sân băng. Simon lại nắm lấy tay tôi và xiết chặt. Tôi xiết đáp lại.

Cái này có tiềm năng đây. Tôi cho rằng Simon và tôi có thể cùng tưởng tượng ra nhiều cách lấp đầy khoảng trống.

Ngày chúng tôi dọn nhà, tôi bắt đầu lột đi nhiều lớp tường của phòng trẻ trước kia, và phong ngay cho nó cái tên mỹ miều là “chốn thiêng liêng thầm kín” của tôi. Lester đã nói những bức tường này nguyên là gỗ hồng sắc được khảm nhiều mắt gỗ, và tôi hăng hái lột cái tài sản kiến trúc này ra. Dùng chất pha loãng sơn bốc hơi đến chóng mặt, tôi tưởng tượng mình là một nhà khảo cổ đang lục tìm giai tầng của những người sống trước kia, có thể tái tạo tiểu sử của họ qua cách chọn lựa lớp phủ tường. Đầu tiên là lớp nhựa mới, đặc trưng Chardonnay, sơn vẽ trông như tường tu viện Florentine. Bức tường này bong từng mảng theo từng thập kỷ có trước - những năm tám mươi màu xanh, những năm bảy mươi thoang thoáng màu cam, những năm sáu mươi màu đen lập dị, những năm năm mươi màu tùng lam trẻ thơ. Những lớp giấy dán tường xoàng xĩnh có hoa văn hàng đàn bướm vàng, thần Tình yêu xách giỏ hoa anh thảo, quần thể thực - động vật lặp đi lặp lại của nhiều thế hệ đã qua, nhìn chăm chú từ những bức tường này trong những đêm không ngủ, làm dịu một đứa trẻ đau bụng, một đứa bé mới chập chững háo hức, một bà cô bị bệnh lao.

Một tuần sau, những đầu ngón tay thô ráp của tôi lần tới lớp thạch cao cuối cùng rồi đến gỗ, không phải gỗ hồng sắc như Lester nói, mà là gỗ thông rẻ tiền. Chỗ nào gỗ không cháy thành than thì đen nhẻm vì mốc, chắc là hậu quả một ống vòi rồng quá sốt sắng từ hơn một thế kỷ. Tôi vốn không phải là kẻ ưa bạo lực, vậy mà lần này tôi đá vào tường mạnh đến nỗi một tấm ván bị sập, lộ ra rất nhiều sợi lông màu xám xỉn. Tôi hét lên một tiếng dữ dội như trong bộ phim kinh dị loại B, làm Simon nhảy vọt vào phòng, khua khua cái bay, như thể đấy là một vũ khí lợi hại chống kẻ giết người hàng loạt. Tôi chỉ ngón tay vào những sợi lông còn lại, tin là một tội ác lâu năm chưa tìm ra.

Một giờ sau, Simon và tôi đã giật phăng gần hết các mảnh gỗ mục nát. Nhiều đống lông nằm trên sàn trông như những tổ chuột khổng lồ. Mãi đến khi chúng tôi mời được một chủ thầu lắp tường đá không vữa, chúng tôi mới phát hiện ra chúng tôi đã dọn đi nhiều đống vải lông ngựa là loại cách âm thời Victoria. Người chủ thầu cũng cho biết vải lông ngựa là thứ cách âm rất hiệu quả. Chúng tôi biết những người giàu có thời Victoria xây nhà sao cho không phải nghe thấy những tiếng động khiếm nhã như tiếng rên rỉ sung sướng khi làm tình hoặc tiếng kèn trumpet khó chịu bay ra từ các phòng kế bên.

Tôi kể chuyện này vì Simon và tôi không buồn xếp lại những tấm vải lông ngựa, ban đầu tôi tin rằng phải làm gì đó với âm thanh kỳ lạ trong tháng đầu tiên. Khoảng trống giữa tường nhà tôi với căn hộ kế bên trở thành một ống thông rỗng, rộng khoảng ba chục centimét. Tôi nghĩ đường thông này như một tấm gỗ tăng âm, có thể truyền các tiếng động của toàn bộ ngôi nhà rồi biến thành những tiếng thình thịch, xì xì và đôi khi vang lên như những bài hướng dẫn nhảy lambada ở trên gác, trong phòng ngủ của chúng tôi.

Mỗi khi muốn miêu tả những rắc rối về âm thanh của chúng tôi, tôi bắt chước những tiếng nghe thấy: tinh- tinh- tinh, umpa-umpa-umpa, trờ-trờ-sì. Simon so tiếng ồn với các nguồn có thể: tiếng gõ của phím đàn piano sai nhịp, những con bồ câu đang gù bay vụt qua, tiếng cạo vào nước đá. Chúng tôi nhận biết thế giới khác hẳn, nó khác xa với nơi chúng tôi lớn lên.

Trong mọi chuyện này có một điều kỳ lạ nữa: hình như Simon chưa bao giờ ở nhà lúc các âm thanh sởn gáy nhất xảy ra - như lúc tôi đang tắm thì nghe thấy khúc dạo đầu của Jeopardy1 rít lên, một giai điệu đặc biệt ám ảnh vì tôi không thể chịu nổi hòa âm quấy rầy trong trí suốt phần ngày còn lại. Tôi có cảm giác mình bị theo dõi.

Một kiến trúc sư gợi ý rằng những tiếng ồn có thể từ các ống tản nhiệt vô dụng kia mà ra. Một cố vấn an toàn địa chấn bảo tôi có lẽ chỉ vì bố trí tự nhiên của khung gỗ toà nhà. Ông ta giải thích, chỉ cần suy nghĩ một chút thôi, cũng thấy những tiếng cót két và rền rĩ gồm đủ mọi loại, tiếng sập cửa, tiếng người chạy lên chạy xuống cầu thang, dù ông ta chưa bao giờ biết có ai than phiền vì cười cũng làm vỡ kính. Mẹ tôi bảo là chuột, có khi là gấu trúc. Bà kể trước kia chính bà từng gặp rắc rối như thế. Người thợ nạo ống khói thì đoán là chim bồ câu làm tổ trong các ống khói không dùng. Kevin lại nói đôi khi hàn răng cũng có thể truyền sóng radio và tôi nên gặp Tommy là nha sĩ của tôi. Những phiền nhiễu vẫn dai dẳng.

Lạ lùng thay, hàng xóm của tôi nói không người nào bị bất cứ âm thanh bất thường quấy nhiễu, dù ông mù ở tầng dưới chúng tôi gay gắt nhắc chúng tôi mở stereo quá to, nhất là các buổi sáng. Ông ta nói đấy là lúc hàng ngày ông ta ngồi Thiền.

Khi chị tôi nghe thấy những tiếng tình thịch và xì xì, chị bèn phát biểu dự đoán của chị:

- Vấn đề không phải là cái gì đó mà là người nào đó. Hừm ừm. - Tôi vẫn tiếp tục dỡ sách, Quan đi quanh phòng, hếch mũi lên ngửi ngửi như một con chó tìm bụi cây ưa thích. - Có khi là những hồn ma lang thang, - chị bảo. - Em có muốn chị thử bắt cho em không? - Chị duỗi bàn tay như một cái que dò mạch.

Tôi nghĩ đến Elza. Cô đã biến khỏi những câu chuyện của chúng tôi từ lâu, nhưng cô vẫn trú ngụ trong trí tôi, như một người thuê nhà mà người quản lý không thể đuổi đi. Giờ đây, cô tìm đường lách ra cùng những hồn ma của Quan.

- Không phải ma đâu, - tôi nói kiên quyết. - Bọn em đã lấy đi lớp cách âm. Chỗ trống ấy giống như một phòng tăng âm.

Quan gạt phăng lời giải thích của tôi bằng tiếng khịt mũi đầy quyền thế. Chị lang thang trong phòng, bàn tay rung rung, dõi theo như một con chó săn. Chị thốt ra hàng loạt tiếng “hừmmmm” ngày càng to, rồi cuối cùng là “HHừmmmm! hừMMMM!”. Sau rốt, chị đứng trên ngưỡng cửa, im phăng phắc.

- Rất lạ, - chị nói. - Chị cảm thấy có người nào đó ở đây. Nhưng không phải ma. Một người sống, nhiễm điện, lẩn vào tường, ở dưới sàn.

- Hay quá! - Tôi đùa. - Có lẽ chúng em nên cho người này thuê nhà.

- Người sống bao giờ cũng phiền toái hơn hồn ma, - Quan nói tiếp. - Người sống làm phiền các em vì giận dữ. Ma làm phiền chỉ vì buồn, vì lạc lối, vì nhầm lẫn.

Tôi nghĩ đến Elza, cầu mong anh nghe thấy cô.

- Ma thì chị biết cách bắt, - Quan nói. - Người dì thứ ba của chị đã dạy chị. Chị gọi ma: “Lại đây, hồn ma!” và có thể chuyện trò với nhau. - Chị ngước nhìn, trông rất thành tâm. - Nếu là một bà già, hiện ra đôi dép lê đế da đã mềm, đi rất thoải mái. Nếu là một cô gái trẻ, trông thấy cái lược của mẹ cô ta. Con gái nhỏ hay thích nghịch tóc mẹ. Chị tích trữ nhiều tình yêu của ma trong một bình dầu lớn. Khi hồn ma vào trong, thì púp!¬ chị đậy chặt nắp lại. Giờ thì hồn đó sẵn sàng lắng nghe. Chị bảo: “Hồn ma! Hỡi hồn ma! Đến lúc về Cõi Âm!”.

Quan nhìn bộ mặt nhăn nhó của tôi và nói thêm:

- Chị biết, chị biết mà! Ở Mỹ không có cái bình dầu to, có khi còn chẳng hiểu ý chị nói gì. Với các hồn ma Mỹ, phải dùng một thứ khác, ví dụ Tupperware loại to. Hay va li du lịch, loại Samsonite. Hay cái hộp của một cửa hàng sang trọng, không giảm giá. Phải rồi, đây là ý hay nhất đấy. Libby-ah, tên cái cửa hàng sang trọng ấy là gì nhỉ? Năm ngoái Simon đã mua cho em cây bút một trăm đôla ở đấy.

- Tiffany.

- Phải, phải, Tiffany! Họ cho em một cái hộp màu xanh, giống màu thiên đường. Ma Mỹ thích lên thiên đường, có mây đẹp… Ồ, chị biết. Cái hộp âm nhạc chị tặng em hồi cưới đâu? Ma thích nhạc. Chúng tưởng có người tí hon chơi nhạc trong hộp. Thế là chui vào trong để xem. Quãng đời cuối của chị, cô Banner có cái hộp âm nhạc y như thế này…

- Quan, em có việc phải làm…

- Chị biết, chị biết mà! Vả lại, em không có ma, em có người sống lẻn vào nhà em! Có khi hắn đã làm việc xấu nay phải trốn, không muốn bị tóm. Chị không biết bắt kẻ xổng ra thế nào. Tốt nhất là em gọi FBI. À, chị hiểu rồi! Gọi cho cái người ở chương trình American most wanted trên ti vi ấy. Gọi đi. Chị kể cho em nhé, tuần nào họ cũng bắt người đấy. - Lời khuyên của Quan tùm lum thế đấy.

Sau đó có chuyện nữa xảy ra mà tôi cố không coi là sự trùng hợp. Elza trở lại cuộc sống của chúng tôi theo kiểu khá kịch tính. Một trong các bạn học cùng lớp của cô trở thành đạo diễn âm nhạc Thời đại mới, đã diễn lại một số tác phẩm do Elza sáng tác với tên Ý thức cao cả. Sau đó các bản nhạc này được ghi âm cho hàng loạt chương trình ti vi về các thiên thần, Simon đã vạch ra rằng chuyện này thật hài hước vì Elza vốn chẳng yêu thích gì các huyền thoại của Thiên Chúa giáo. Nhưng chỉ một sớm một chiều, dường như ai cũng hóa rồ vì việc phải làm một cái gì đó về các thiên thần. Loạt này được nhiều người xem, một CD ghi âm bán chạy vừa phải, và Simon bắt đầu tìm thấy sự tự tin mới mẻ trong danh tiếng nho nhỏ của Elza. Tôi chưa bao giờ nghĩ mình lại ghét các thiên thần đến thế. Còn Simon vốn ghét âm nhạc Thời đại Mới, nay lại bật album của Elza ở bất cứ nơi nào có bạn bè đến. Simon ra vẻ tình cờ nói rằng nhạc sĩ này sáng tác tặng anh ta. Sao lại thế, mọi người hỏi. À, thì họ là người tình, là bạn thân nhất của nhau mà. Tất nhiên việc này làm một số người bạn cười, an ủi tôi làm tôi giận điên lên. Tôi đành giải thích rất đơn giản rằng Elza chết trước khi tôi gặp Simon. Không hiểu sao nó có vẻ giống một lời thú tội hơn, cứ như tôi nói tôi đã giết cô ấy. Sau đó là sự im lặng tràn ngập căn phòng.

Cùng với những ảnh hưởng của âm thanh trong nhà chúng tôi, tôi cố giả vờ như không chú ý gì đến nhạc của Elza. Tôi cố lờ khoảng cách ngày càng lớn giữa Simon và tôi. Tôi cố tin rằng trong nhiều sự kiện quan trọng trong cuộc hôn nhân như động đất, ung thư, chiến tranh, những người như tôi được miễn dịch khỏi tai họa bất ngờ. Nhưng giả vờ là người có mọi quyền lợi trên đời, tôi là người đầu tiên phải hiểu thế là sai lầm.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.