Những Người Tiên Phong - Chương 9

PHẦN MỀM

Khi Paul Allen bước ngang qua một quầy báo lộn xộn ở Quảng trường Harvard [121] và nhìn thấy số báo tháng 1 năm 1975 của tờ Popular Electronics với hình ảnh chiếc Altair trên trang bìa, ông vừa mừng rỡ lại vừa có phần buồn bã. Mặc dù vui mừng vì thời đại của máy vi tính cá nhân đã đến, song ông lại sợ rằng mình sẽ bỏ lỡ cuộc vui này. Allen đặt vội 75 xu lên quầy, chộp lấy tờ báo rồi rảo bước qua lớp tuyết lầy lội để đến phòng ký túc xá của Bill Gates, người bạn chí thiết đồng hương Seattle từ thời phổ thông, cùng chia sẻ niềm đam mê máy vi tính với ông, và cũng là người đã thuyết phục ông bỏ ngang việc học đại học và chuyển tới Cambridge. “Này, chuyện này đang diễn ra mà không có chúng ta”, Allen nói. Theo thói quen mỗi khi tập trung suy nghĩ, Gates bắt đầu ngồi trên ghế và đung đưa người qua lại. Đọc hết bài báo, Gates nhận ra rằng Allen nói đúng. Trong tám tuần sau đó, hai người bắt tay vào một giai đoạn viết mã miệt mài mà sau này sẽ làm thay đổi bản chất của cả ngành kinh doanh máy vi tính.

Không giống như những nhà tiên phong khác trong lĩnh vực máy vi tính, Gates, sinh năm 1955, không phải là người quan tâm đến thiết bị phần cứng từ khi còn nhỏ. Cậu bé Gates chưa từng hứng thú với việc tự lắp ráp radio từ bộ dụng cụ Heathkit hay hàn linh kiện trên các bảng mạch điện tử. Một lần, vì bực mình trước thái độ kiêu ngạo của cậu học sinh Gates khi nghịch ngợm thiết bị đầu cuối phân bổ thời gian của trường phổ thông, thầy giáo vật lý đã giao cho cậu bài tập lắp ráp một bộ dụng cụ điện tử của hãng Radio Shack. Ông kể lại rằng, khi Gates nộp sản phẩm thì “thiếc hàn vẫn rỉ rả chảy ở mặt sau” và thiết bị không hoạt động.

Đối với Gates, sự kỳ diệu của máy vi tính không nằm ở các bảng mạch phần cứng mà nằm ở mã phần mềm. Mỗi khi Allen đưa ra ý tưởng chế tạo một chiếc máy, Gates lại nhắc: “Paul, chúng ta không phải là chuyên gia phần cứng. Chúng ta chỉ biết phần mềm thôi.” Ngay cả người bạn Allen lớn tuổi hơn, dù đã tự lắp ráp thành công máy thu phát sóng ngắn, cũng nhận ra rằng tương lai thuộc về các lập trình viên. Allen thừa nhận: “Phần cứng không phải là lĩnh vực chuyên môn của chúng ta.”

Điều mà Gates và Allen bắt tay vào làm khi họ lần đầu tiên nhìn thấy trang bìa tờ Popular Electronics vào một ngày tháng 12 năm 1974 ấy là tạo ra phần mềm cho các máy vi tính cá nhân. Xa hơn nữa, họ muốn chuyển dịch sự cân bằng trong lĩnh vực mới nổi lên này sao cho phần cứng sẽ trở thành một loại hàng hóa có thể hoán vị được, còn những người tạo ra hệ điều hành và phần mềm sẽ gặt hái được phần lớn lợi nhuận. “Khi Paul chỉ cho tôi xem tờ tạp chí ấy, lúc đó ngành công nghiệp phần mềm chưa tồn tại,” Gates kể lại, “chúng tôi linh cảm rằng có thể tạo ra nó. Và chúng tôi đã làm được.” Nhiều năm sau, khi chiêm nghiệm về những sáng tạo của mình, ông nói: “Đó là ý tưởng quan trọng nhất mà tôi từng có.”

Bill Gates

Hình ảnh Gates đung đưa người qua lại khi đọc bài báo trên tờ Popular Electronics là dấu hiệu thể hiện sự tập trung cao độ của ông, vốn được hình thành từ thuở nhỏ. Cha ông, một luật sư thành công và lịch lãm, kể lại rằng: “Khi còn nhỏ, nó đã thường tự lăn qua lăn lại trong nôi.” Đồ chơi yêu thích của cậu bé Gates là một chú ngựa gỗ gắn lò xo.

Mẹ ông là một lãnh đạo thành phố được kính trọng, xuất thân từ một gia đình danh giá ở Seattle với truyền thống làm việc trong ngành ngân hàng. Tuy nổi tiếng với ý chí mạnh mẽ, nhưng bà sớm nhận ra rằng mình vẫn chưa thể sánh được với con trai mình. Mỗi khi bà gọi con lên nhà ăn tối từ căn phòng ngủ dưới tầng hầm, cậu thường không đáp lời. Một lần, bà gặng hỏi: “Con đang làm gì vậy?”

“Con đang suy nghĩ!” Gates hét to trả lời.

“Con đang suy nghĩ à?”

“Vâng, con đang suy nghĩ,” cậu trả lời, “mẹ đã thử suy nghĩ bao giờ chưa?”

Bà đưa con tới một nhà tâm lý học, người này giới thiệu cho cậu những cuốn sách viết về Freud [122] và cậu đã đọc chúng ngấu nghiến, nhưng ông vẫn không thể thuần hóa được thái độ của Gates. Sau một năm trị liệu, nhà tâm lý học này nói với mẹ của Gates rằng: “Bà sẽ thất bại thôi. Tốt hơn hết, bà hãy cứ tập để thích nghi với điều này, vì không có cách nào để thay đổi con bà đâu.” Cha Gates kể lại: “Rốt cuộc bà ấy cũng phải chấp nhận sự thật rằng tiếp tục thi gan với con trai là việc làm vô ích.”

Tuy thi thoảng lại có thái độ chống đối như vậy, song Gates vẫn cảm thấy hạnh phúc vì được sống trong một gia đình đầy tình yêu thương và gắn bó. Cha mẹ và hai chị em gái của cậu [123] rất thích những buổi chuyện trò quanh bàn ăn tối, những trò chơi trong nhà, những câu đố và những ván bài. Vì tên khai sinh của cậu là William Gates III nên bà cậu, vốn là một người rất thích chơi bài bridge (và cũng là một ngôi sao bóng rổ), gọi cậu là Trey, tên của lá bài số 3, và cái tên này đã trở thành biệt danh thời thơ ấu của Gates. Gia đình họ cùng với bạn bè thường dành phần lớn thời gian mùa hè và đôi khi là các dịp cuối tuần ở cụm lều quanh kênh Hood, gần Seattle. Ở đó, lũ trẻ được tham gia cuộc thi “Chào Thế vận hội”, một sự kiện bao gồm một lễ khai mạc chính thức với buổi diễu hành rước đuốc, tiếp đến là những phần thi chạy ba chân [124], ném trứng và những trò chơi tương tự. Cha Gates kể lại: “Cuộc thi diễn ra khá nghiêm túc. Giành chiến thắng là điều quan trọng.” Chính tại đây, cậu bé Gates 11 tuổi đã thương lượng được bản hợp đồng chính thức đầu tiên của mình, cậu là người soạn thảo và ký kết với chị gái mình một thỏa thuận theo đó cậu được quyền “không dành riêng nhưng không giới hạn” đối với việc sử dụng chiếc găng tay chơi bóng chày của chị với giá năm đô-la. Một trong những điều khoản của thỏa thuận là “Khi Trey muốn có chiếc găng tay, cậu ấy sẽ có nó.”

Gates thường tránh các môn thể thao đồng đội, nhưng cậu là một vận động viên tennis và lướt ván nước nhiệt tình. Gates cũng miệt mài luyện tập các trò vui vặt, chẳng hạn như nhảy ra khỏi một thùng rác mà không chạm vào mép thùng. Cha cậu là một Hướng đạo sinh Đại bàng [125] (chúng ta có thể thấy ở ông hội tụ cả 12 đức tính tốt được nêu trong Luật Hướng đạo), và tới lượt mình, cậu bé Gates cũng trở thành một Hướng đạo sinh đầy nhiệt huyết, đạt được cấp Đời (Life) nhưng thiếu ba huy hiệu nữa mới được thăng cấp Đại bàng. Trong một đại hội hướng đạo, Gates đã trình diễn cách sử dụng máy vi tính, nhưng sự kiện đó xảy ra trước khi người có kỹ năng máy vi tính cũng được trao huy hiệu.

Dù tham gia tích cực vào những hoạt động bổ ích và lành mạnh như vậy, song với trí tuệ xuất chúng, cặp kính to đùng, tạng người gầy gò, giọng nói âm sắc cao, và phong cách kém hấp dẫn – áo sơ-mi cài cúc đến tận cổ – Gates thường để lại ấn tượng là một con mọt sách chính hiệu. “Cậu ấy là một gã mọt sách trước cả khi người ta nghĩ ra cụm từ này”, một giáo viên nói. Khả năng tập trung trí não của Gates đạt đến ngưỡng huyền thoại. Ở lớp bốn, khi giáo viên môn khoa học yêu cầu cả lớp viết một báo cáo dài năm trang, cậu nộp tới 30 trang. Cũng trong năm đó, khi được hỏi về lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai, cậu đánh dấu vào ô ghi “nhà khoa học”. Trong một cuộc thi do một mục sư của gia đình tổ chức, cậu cũng giành được giải thưởng là một bữa tối trên đài quan sát Space Needle ở Seattle nhờ đọc thuộc lòng Bài giảng trên núi [126].

Mùa thu năm 1967, khi Gates bước sang tuổi 12 nhưng trông vẫn như một đứa trẻ lên chín, cha mẹ cậu đã nhận ra rằng sẽ tốt hơn nếu cho con học trường tư thục. Cha cậu kể: “Chúng tôi đã rất lo lắng khi nó chuẩn bị sang cấp hai. Nó quá nhỏ và nhút nhát, lúc nào cũng cần người bảo vệ, mà những sở thích của nó lại rất khác thường so với những học sinh lớp sáu bình thường khác.” Họ chọn Lakeside, một ngôi trường có khuôn viên xây bằng gạch cổ kính trông như một trường dự bị đại học ở New England, ban lãnh đạo trường khá quan tâm đến con cái của các doanh nhân và giới làm nghề chuyên môn.

Một vài tháng sau khi nhập học ở Lakeside, cuộc sống của Gates biến đổi hoàn toàn trước sự xuất hiện của một thiết bị máy vi tính tại một căn phòng nhỏ trong tòa nhà dành cho môn khoa học và toán học. Đó không phải là một cỗ máy vi tính thực sự mà chỉ là một chiếc máy đánh chữ (Teletype) được kết nối qua đường dây điện thoại với một hệ thống máy vi tính phân bổ thời gian Mark II của hãng General Electric. Với 3.000 đô-la doanh thu từ một đợt bán đồ cũ, câu lạc bộ Những bà Mẹ Lakeside đã mua quyền sử dụng một khung thời gian trên hệ thống này với giá 4,80 đô-la/phút. Về sau họ mới ngậm ngùi nhận ra rằng mình đã đánh giá thấp mức độ phổ biến và sự đắt đỏ của gói sử dụng này. Khi giáo viên toán lớp bảy cho cậu xem chiếc máy, Gates đã bị nó hút hồn. Người thầy giáo kể lại: “Tôi biết nhiều hơn cậu ấy vào ngày đầu tiên, nhưng chỉ trong ngày đầu tiên đó mà thôi.”

Gates bắt đầu tới phòng máy vi tính mỗi ngày, vào bất cứ khi nào có thể, với một nhóm bạn chung niềm say mê với mình. “Chúng tôi mê mải trong thế giới riêng của mình”, ông kể lại. Vai trò của chiếc máy vi tính này đối với ông cũng giống như vai trò của chiếc la bàn đồ chơi đối với Einstein thời trẻ: một đồ vật có sức mê hoặc, làm khơi dậy những sự hiếu kỳ sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất trong ông. Sau này, khi chật vật tìm cách lý giải về điều khiến ông yêu máy vi tính, Gates nói rằng đó là vẻ đẹp giản dị trong sự chính xác về logic của cỗ máy – cũng là điều mà ông đã trau dồi trong cách tư duy của chính mình. “Khi sử dụng máy vi tính, bạn không thể đưa ra các mệnh lệnh mập mờ được. Bạn chỉ có thể đưa ra những mệnh lệnh chính xác mà thôi”, ông nói.

Ngôn ngữ được sử dụng trong chiếc máy vi tính đó là BASIC (viết tắt của cụm từ Beginner’s All-purpose Symbolic Instruction Code – Mã lệnh Biểu tượng Đa mục đích cho Người mới bắt đầu), được phát triển vài năm trước đó tại Darthmouth để giúp những người không học kỹ thuật cũng có thể viết chương trình. Không giáo viên nào ở Lakeside biết BASIC, nhưng Gates và những người bạn của mình đã đọc ngốn ngấu 42 trang tài liệu hướng dẫn sử dụng và trở thành bậc thầy trong ngôn ngữ này. Không lâu sau, họ còn tự học những ngôn ngữ phức tạp hơn, như Fortran và COBOL, nhưng BASIC vẫn là mối tình đầu của Gates. Khi vẫn còn học cấp hai, Gates đã tạo ra được chương trình chơi cờ ca-rô và chuyển đổi các cơ số toán học.

Khi họ gặp nhau ở phòng máy vi tính trong trường Lakeside, Paul Allen lớn hơn Gates hai tuổi và trưởng thành hơn nhiều về mặt thể chất (thậm chí lúc đó ông đã có thể để tóc mai dài). Với dáng người cao và tính tình hòa đồng, trông Allen không hề giống một người chỉ biết học và học. Gates chiếm được thiện cảm và sự chú ý của Allen ngay lập tức. “Tôi nhìn thấy một cậu nhóc lớp tám cao gầy, mặt đầy tàn nhang, rụt rè rẽ đám đông để tới bên cạnh chiếc máy Teletype, trông hết sức vụng về, lóng ngóng và lo lắng. Mái tóc vàng lòa xòa che cả mặt”, Allen kể lại. Hai chàng trai kết thân với nhau và thường cùng nhau ở lại phòng máy vi tính làm việc tới tối muộn. “Cậu ấy rất hiếu thắng,” Allen kể về Gates, “cậu ấy cứ muốn chứng tỏ mình thông minh ra sao và rất kiên trì với mục tiêu đó.”

Một hôm, Allen, vốn có xuất thân khiêm tốn hơn (cha ông là quản lý thư viện ở Đại học Washington), tới nhà thăm Gates và hết sức bất ngờ vì “Cha mẹ cậu ấy đặt mua dài hạn tạp chí Fortune [127] và Bill đọc rất kỹ.” Khi Gates hỏi về việc quản lý một công ty lớn sẽ như thế nào, Allen đáp ông hoàn toàn không có khái niệm nào về việc đó. “Biết đâu một ngày chúng ta sẽ có công ty riêng”, Gates nói.

Một điểm phân biệt giữa hai người là sự tập trung. Allen thường phân tán tư tưởng với nhiều ý tưởng và sở thích khác nhau, còn Gates lại là một kẻ bị ám ảnh triền miên. Allen nói: “Trong khi tôi tò mò muốn tìm hiểu mọi thứ xuất hiện trong tầm mắt thì Bill lại chỉ tập trung vào một nhiệm vụ trong một thời điểm với tinh thần kỷ luật cao độ. Có thể thấy rõ điều đó khi nhìn Bill lập trình – cậu ấy ngồi đó, miệng ngậm một chiếc bút dạ, gõ chân xuống sàn và đu đưa người, miễn nhiễm với mọi sự xao lãng.”

Thoạt nhìn bề ngoài, Gates vừa có vẻ mọt sách lại vừa trông như một đứa trẻ ngỗ ngược. Cậu thích đối đầu, ngay cả với các giáo viên, và khi tức giận cậu có thể nổi trận tam bành. Gates là một thiên tài, cậu biết điều đó, và không ngần ngại thể hiện nó. “Như thế thật là ngu xuẩn”, cậu có thể nói như vậy với cả bạn học và thầy cô giáo. Hoặc là cậu sẽ gia tăng hơn nữa sự xúc phạm của mình bằng những câu như “Đó là thứ ngu xuẩn nhất mà tớ từng được nghe” hoặc “Chết não.” Một lần, Gates cười nhạo một bạn học trong lớp vì chậm hiểu một điều gì đó, khiến cho một cậu bé khác ngồi bàn trên quay lại, túm lấy cổ áo và dọa cho cậu ăn đòn. Giáo viên đã phải can thiệp thì mọi chuyện mới được dàn xếp ổn thỏa.

Nhưng với những ai biết Gates, cậu không chỉ đơn thuần là một kẻ mọt sách hay trẻ con. Bên cạnh sự dữ dội và thông minh, cậu còn có khiếu hài hước, ưa thích phiêu lưu, chấp nhận những rủi ro về thể chất và thích tổ chức các hoạt động ngoại khóa. Khi 16 tuổi, Gates được nhận một chiếc xe Mustang đỏ mới tinh (40 năm sau ông vẫn còn giữ nó trong ga-ra biệt thự của mình), và cậu thường dùng nó để chở bạn bè đi du hí trong những chuyến lái xe tốc độ cao. Gates cũng đưa bạn bè về cụm lều của gia đình ở kênh Hood, nơi cậu thường chơi lướt ván diều trên một sợi dây dài khoảng 300 mét buộc đằng sau một chiếc xuồng cao tốc. Cậu học thuộc lòng tác phẩm kinh điển The Night the Bed Fell (Đêm chiếc giường sập xuống) của James Thurber để biểu diễn trong một chương trình của học sinh, và cậu còn đóng vai chính trong vở kịch Black Comedy (Hài kịch đen) của Peter Shaffer. Cũng trong thời gian này, Gates bắt đầu thông báo với mọi người rằng cậu sẽ kiếm được một triệu đô-la trước khi bước sang tuổi 30. Rất đáng tiếc, Gates đã đánh giá quá thấp bản thân mình. Ở tuổi 30, cậu sẽ có trong tay 350 triệu đô-la.

Nhóm lập trình Lakeside

Mùa thu năm 1968, khi Gates bước sang lớp 8, cậu và Allen đã thành lập Nhóm Lập trình Lakeside, phần nào giống phiên bản mọt sách của một nhóm du côn. Allen nói: “Về cơ bản, Nhóm Lập trình Lakeside là một câu lạc bộ dành cho các cậu con trai, tinh thần cạnh tranh rất cao và rất nam tính.” Nhưng nhóm này đã nhanh chóng trở thành một doanh nghiệp làm ăn kiếm tiền. Gates khẳng định: “Tôi là người khởi xướng. Chính tôi là người nói rằng: ‘Chúng ta hãy liên lạc với thế giới thực và bán cái gì đó cho nó.’” Sau này, Allen nhận xét về nhóm với giọng pha chút hào hứng: “Tất cả chúng tôi đều hăng hái đưa ra những ý tưởng của mình, nhưng trong số đó, rõ ràng Bill là người có động lực nhất và ham cạnh tranh nhất.”

Nhóm Lập trình Lakeside còn có hai vị khách thường xuyên khác của phòng máy vi tính. Ric Weiland, bạn cùng học lớp mười với Allen, một lễ sinh [128] ở nhà thờ giáo hội Luther, có cha là kỹ sư của hãng Boeing. Hai năm trước đó, Weiland đã tự chế tạo chiếc máy vi tính đầu tiên của mình trong căn phòng dưới tầng hầm. Gương mặt điển trai, khuôn cằm vuông vức, dáng người cao và cơ bắp, trông cậu khác một trời một vực so với những chàng trai bị ám ảnh chui trong căn phòng máy vi tính kia, nhưng cậu đang phải chật vật sống chung với một thực tế rằng mình là người đồng tính, vốn là một vấn đề rất khó công khai ở một trường trung học bảo thủ vào những năm 1960.

Cộng sự còn lại là Kent Evans, bạn cùng lớp tám với Gates, con trai một linh mục của giáo phái Nhất thể. Kent là người hòa đồng, thân thiện với nụ cười khẽ lệch về một bên nhưng rất cuốn hút, dấu vết của chứng hở vòm miệng bẩm sinh đã được phẫu thuật chỉnh hình. Cậu là người táo bạo và tự do, không nề hà việc gì, dù là gọi điện cho các vị lãnh đạo lớn tuổi không quen biết hay trèo lên những vách đá cheo leo. Kent đã nghĩ ra cái tên Nhóm Lập trình Lakeside nhằm nhận được những tài liệu miễn phí từ các công ty đăng quảng cáo trên những tạp chí điện tử. Cậu cũng yêu thích kinh doanh, và thường cùng với Gates đọc từng số của tạp chí Fortune. Kent trở thành bạn thân của Gates. “Chúng tôi dự định sẽ đi chinh phục cả thế giới,” Gates kể lại, “chúng tôi thường nói chuyện dông dài với nhau qua điện thoại. Tới giờ tôi vẫn còn nhớ số điện thoại của cậu ấy kia.”

Nhóm Lập trình Lakeside nhận được công việc đầu tiên vào mùa thu năm 1968. Một số kỹ sư ở Đại học Washington đã thành lập một công ty nhỏ cho thuê máy vi tính phân bổ thời gian tên là Công ty Máy vi tính Trung tâm (biệt danh là C-Cubed), đặt văn phòng tại một cửa hàng bán xe hơi Buick bỏ hoang. Họ mua một chiếc PDP-10 của hãng DEC – một máy chủ đa năng, được thiết kế để trở thành một “con ngựa thồ” trong lĩnh vực dịch vụ máy vi tính phân bổ thời gian đang phát triển khi đó, cũng là chiếc máy mà Gates yêu thích. Kế hoạch của họ là bán thời gian sử dụng máy cho khách hàng, chẳng hạn như hãng Boeing, kết nối thông qua Teletype và đường dây điện thoại. Một trong những đối tác ở C-Cube là một phụ huynh của trường Lakeside, bà đã nghĩ ra cho nhóm của Gates một lời đề nghị không khác gì việc mời một nhóm học sinh lớp ba đi làm người nếm thử ở nhà máy sản xuất chocolate vậy. Nhiệm vụ đặt ra: sử dụng chiếc PDP-10 càng nhiều càng tốt, càng lâu càng tốt, lập trình và nghịch ngợm nó vào các buổi tối và các cuối tuần, mục đích là để tìm hiểu xem họ có thể làm gì để khiến chiếc máy bị sập. C-Cubed đã thỏa thuận với DEC là họ sẽ không phải trả tiền thuê máy cho đến khi chiếc máy được gỡ lỗi và chạy ổn định. DEC đã không nghĩ đến việc chiếc máy của mình lại bị thử nghiệm bởi mấy cậu nhóc choai choai đầy nhiệt tình của Nhóm Lập trình Lakeside.

Có hai nguyên tắc: hễ khi nào làm hỏng máy, họ phải báo cáo lại về những gì mình đã làm, và không được tái diễn trò đó trừ khi được yêu cầu. “Họ lôi chúng tôi vào như thể chúng tôi là những con khỉ đi tìm lỗi vậy,” Gates kể lại, “vì thế chúng tôi đã đưa cỗ máy đó đến giới hạn chịu đựng của nó bằng những cách thức hết sức tàn nhẫn.” PDP-10 có ba băng từ, và các chàng trai của Nhóm Lập trình Lakeside bắt cả ba cùng quay một lúc và sau đó cố gắng làm sập hệ thống bằng cách chạy hàng chục chương trình một lúc để chiếm càng nhiều bộ nhớ càng tốt. “Đó là những chuyện hết sức điên rồ”, Gates nói. Để đổi lại cho việc chạy thử máy đó, họ được phép tha hồ viết các chương trình riêng của mình. Họ đã tạo ra một trò chơi mang tênMonopoly (Cờ tỉ phú) với các bộ tạo số ngẫu nhiên để gieo súc sắc, còn Gates thì mê mải với Napoleon (cũng là một thuật sĩ [129] toán học) và tạo ra một trò chơi chiến tranh phức tạp. Allen giải thích về trò chơi này như sau: “Bạn sẽ có các đội quân và tham gia vào những trận đánh. Chương trình cứ mỗi lúc một lớn hơn, và cuối cùng, khi trải ra hết cỡ thì nó sẽ tương đương với một băng giấy Teletype dài 15 mét.”

Vào các buổi tối và cuối tuần, các chàng trai lại bắt xe bus đến C-Cubed và lúi húi trong phòng để máy vi tính. Gates khoe: “Tôi trở thành nhân tố trung tâm của nhóm. Chúng tôi làm việc ngày đêm.” Họ lập trình cho đến khi bụng đã đói meo mới chịu ra phố, tới một nơi tụ tập của những người hippie là quán Morningtown Pizza. Gates đã bị ám ảnh. Căn phòng của cậu ở nhà bừa bộn áo quần và những đoạn băng giấy của máy Teletype. Cha mẹ cậu đã thử áp đặt lệnh giới nghiêm, nhưng không thành công. Bố Gates kể: “Trey đã quá mê mải với nó, đến độ đợi chúng tôi đi ngủ là nó lại lẻn ra khỏi phòng và ở ngoài đó cả đêm.”

Vị lãnh đạo ở C-Cubed và cũng là người cố vấn cho Nhóm Lập trình Lakeside không ai khác chính là Steve Russell, lập trình viên sáng tạo và hài hước từng tạo ra trò chơi Spacewar khi còn là sinh viên ở MIT. Vậy là ngọn đuốc đã được truyền sang cho một thế hệ tin tặc mới. Russell kể: “Bill và Paul cho rằng việc đánh sập chiếc máy là hay ho lắm, đến nỗi tôi cứ phải nhắc cho họ nhớ rằng không được tái diễn những trò đó cho đến khi có lệnh. Cứ khi nào tôi đến là y như rằng họ lại hỏi tôi vài ba câu, mà tôi thì lại có thói quen đưa ra những câu trả lời dài dòng.” Điều khiến Rusell hết sức ngạc nhiên là việc Gates có khả năng chỉ ra loại lỗi nào là của lập trình viên nào ở trụ sở của DEC. Thông thường, một bản báo cáo lỗi của Gates sẽ có nội dung như sau: “Ở dòng này là mã của Faboli. Ông ấy cứ mắc đi mắc lại lỗi không kiểm tra semaphore [130] khi thay đổi trạng thái. Chỉ cần chèn dòng mã này vào đây là chúng ta có thể giải quyết được vấn đề đó rồi.”

Gates và Allen dần nhận thức được tầm quan trọng của hệ điều hành, thứ đóng vai trò như hệ thần kinh của máy vi tính. Allen giải thích: “Nó thực hiện công việc liên quan đến logic để bộ xử lý trung tâm có thể tính toán: chuyển từ chương trình này sang chương trình khác; phân bổ bộ nhớ cho các tệp tin; chuyển dữ liệu đến và đi trên các modem, ổ đĩa cứng và máy in.” Phần mềm hệ điều hành của PDP-10 có tên là TOPS-10; Russell cho phép Gates và Allen đọc tài liệu hướng dẫn về phần mềm này nhưng không được mang về nhà. Vậy là đôi khi họ ở lại cho đến tận rạng sáng để đọc chúng.

Gates nhận ra rằng để có thể hiểu tường tận về hệ điều hành này, họ sẽ phải tiếp cận được với mã nguồn của nó, thứ mà các lập trình viên sử dụng để quy định cách thực hiện từng hành động. Nhưng mã nguồn lại nằm trong sự kiểm soát chặt chẽ của các lập trình viên cấp cao và nằm ngoài tầm với của Nhóm Lập trình Lakeside. Điều đó lại càng khiến cho họ thèm muốn nó hơn bao giờ hết. Một ngày cuối tuần, họ phát hiện ra rằng bản in những công trình của các lập trình viên thường được vứt vào một thùng rác lớn ở phía sau tòa nhà. Vậy là Allen nắm chặt hai tay rồi đẩy Gates lên – “Cậu ấy không thể nào nặng quá 50kg được”, Allen kể – và Gates nhảy xuống thùng rác, lục lọi giữa những đống bã cà phê và rác rưởi để tìm những tập bản in ố màu, rúm ró và nhàu nát. “Chúng tôi đưa kho báu đó về phòng máy vi tính và nghiền ngẫm chúng hàng giờ đồng hồ,” Allen nói, “tôi không có phiến đá Rosetta [131] nào hỗ trợ cả, và có khi chỉ hiểu được một hoặc hai dòng trong mười dòng mã. Dẫu vậy, tôi vẫn hết sức kinh ngạc trước sự chính xác, chặt chẽ và đơn giản của mã nguồn đó.”

Điều đó khiến Gates và Allen muốn tìm hiểu ở tầng sâu hơn. Để có thể hiểu được kiến trúc hệ điều hành này, họ cần phải nắm chắc về mã hợp ngữ, tức những chỉ lệnh tạo nền tảng cho nó – “Tải B. Cộng C. Lưu ở A.” – và giao tiếp trực tiếp với phần cứng của máy vi tính. Allen kể lại: “Thấy tôi hứng thú, Steve Russell kéo tôi ra một góc, đưa cho một cuốn hướng dẫn sử dụng hợp ngữ bọc trong bìa kính bóng loáng và bảo: ‘Cậu phải đọc thứ này đi.’” Allen và Gates thường đọc các tài liệu hướng dẫn, nhưng đôi khi họ vẫn bị nhầm lẫn. Những lúc ấy, Russell sẽ lại đưa cho họ một tập tài liệu khác và nói: “Bây giờ là lúc cần đọc cái này.” Một thời gian sau, họ đã trở thành những bậc thầy về cả sự phức tạp lẫn giản đơn – vốn là những yếu tố tạo nên sức mạnh và sự duyên dáng cho một hệ điều hành.

Khi phần mềm của DEC được xác quyết là đã chạy ổn định, các chàng trai của nhóm Lakeside mất quyền sử dụng PDP-10 miễn phí. “Thực chất là họ muốn nói rằng: ‘Được rồi, lũ khỉ, hãy đi đi”, Gates kể. câu lạc bộ Những bà Mẹ Lakeside đã tới giải cứu họ, ít nhất là ở một giới hạn nào đó. Họ dùng tài khoản cá nhân để tài trợ cho nhóm, song vẫn có hạn chế về cả thời gian và tiền bạc. Gates và Allen nhận ra rằng họ không thể sống trong sự hạn chế được, vì vậy họ đã thử tấn công hệ thống bằng cách chiếm mật khẩu của một quản trị viên, đột nhập vào tệp tin hệ thống kế toán nội bộ, và bẻ mã bảo mật. Việc này giúp họ có thể tiếp cận được các tài khoản miễn phí. Nhưng trước khi kịp gây ra nhiều thiệt hại lớn, họ đã bị phát hiện: giáo viên toán của họ tìm thấy một cuộn giấy Teletype với tất cả các số tài khoản và mật khẩu. Sự việc lan đến tận các cấp lãnh đạo cấp cao của C-Cubed và DEC, và một phái đoàn nghiêm khắc đã đến trường gặp hiệu trưởng. Gates và Allen cúi đầu tỏ vẻ ăn năn sâu sắc, nhưng không có tác dụng. Họ bị cấm sử dụng hệ thống trên trong phần còn lại của học kỳ và suốt mùa hè năm đó.

“Tôi thề sẽ tránh xa máy vi tính một thời gian, và cố tỏ ra bình thường,” Gates kể, “tôi quyết định sẽ chứng tỏ rằng mình có thể đạt điểm A trong tất cả các môn học mà không cần mang sách giáo khoa về nhà. Thay vào đó, tôi đọc tiểu sử của Napoleon và những cuốn tiểu thuyết như Bắt trẻ đồng xanh.”

Nhóm Lập trình Lakeside ngừng hoạt động gần một năm. Sau đó, vào mùa thu năm 1970, trường học quyết định mua thời gian sử dụng máy PDP-10 từ Information Science Inc. (ISI), một công ty ở Portland, Oregon. Chi phí rất cao, 15 đô-la một giờ sử dụng. Gates và các bạn nhanh chóng tìm ra cách tiếp cận miễn phí, nhưng một lần nữa, họ bị phát hiện. Vì vậy, họ quyết định thử cách khác: họ gửi cho ISI một lá thư đề nghị cung cấp dịch vụ cho công ty này để đổi lấy thời gian sử dụng miễn phí.

Các lãnh đạo của ISI vẫn hồ nghi, vậy là bốn chàng trai đi đến Portland, mang theo các bản in và mã chương trình để chứng tỏ năng lực của mình. “Chúng tôi nêu vắn tắt kinh nghiệm của mình và nộp sơ yếu lý lịch”, Allen kể lại. Gates, lúc này vừa bước sang tuổi 16, viết hồ sơ của mình bằng bút chì trên giấy kẻ ngang. Họ được giao nhiệm vụ viết một chương trình trả lương cho nhân viên, có thể lập được những chi phiếu ghi đúng các khoản khấu trừ và thuế.

Đây là thời điểm xuất hiện những vết rạn nứt đầu tiên trong mối quan hệ Gates-Allen. Chương trình này không được viết bằng BASIC (ngôn ngữ yêu thích của Gates) mà phải được viết trên COBOL, một ngôn ngữ phức tạp hơn do Grace Hopper và những người khác phát triển để làm tiêu chuẩn cho các công ty. Ric Weiland biết về COBOL và viết một bộ soạn thảo chương trình cho hệ thống của ISI, và Allen nhanh chóng học được cách sử dụng nó. Tới lúc này, hai thành viên lớn tuổi hơn trong nhóm quyết định rằng họ không cần đến Gates hay Kent Evans nữa. “Paul và Rick cho rằng không có đủ công việc cho tất cả mọi người nên nói: ‘Chúng tôi không cần các cậu nữa,’” Gates kể lại, “họ nghĩ rằng họ có thể làm việc đó và nhận được thời gian sử dụng máy vi tính miễn phí.”

Gates bị loại khỏi nhóm suốt sáu tuần, trong thời gian này cậu đọc các sách đại số, tránh mặt cả Allen và Weiland. “Rồi đột nhiên Paul và Rick nhận ra rằng: chết tiệt, vụ này thật khó nhằn”, Gates kể lại. Chương trình không chỉ đòi hỏi kỹ năng viết mã, mà còn cần người biết cách tính các khoản khấu trừ an sinh xã hội, thuế liên bang và bảo hiểm thất nghiệp của tiểu bang. “Vậy là sau đó, họ nói: ‘Này, chúng tôi đang gặp rắc rối, cậu có thể quay lại giúp đỡ không?” Nhân thời cơ này, Gates đã có một động thái mà sau này sẽ định hình nên mối quan hệ trong tương lai với Allen. Gates kể lại: “Khi đó tôi nói: ‘Được rồi. Nhưng tôi sẽ phải là người kiểm soát. Tôi sẽ quen với vai trò kiểm soát, và từ giờ trở đi, nếu không để tôi ở vai trò kiểm soát thì sẽ khó mà hợp tác được với tôi đấy. Nếu anh trao vai trò kiểm soát cho tôi, tôi sẽ kiểm soát việc này và bất kỳ việc nào khác mà chúng ta cùng làm với nhau.’”

Và đúng là từ đó trở đi, Gates đã như vậy. Khi quay trở lại nhóm, cậu nhất quyết đòi biến Nhóm Lập trình Lakeside trở thành một công ty hợp danh [132] hợp pháp thông qua một thỏa thuận được soạn thảo với sự hỗ trợ của cha cậu. Và dù các công ty hợp danh thường không có Chủ tịch, Gates vẫn tự nhận mình như vậy. Lúc này, Gates 16 tuổi. Cậu phân bổ khoảng thời gian sử dụng máy vi tính trị giá tới 18.000 đô-la mà họ đang kiếm được cho các thành viên trong nhóm và chơi xỏ Allen. Gates kể lại: “Tôi chia cho mình 4/11 số thời gian, 4/11 cho Kent, 2/11 cho Rick và 1/11 cho Paul. Mọi người cho rằng việc tôi chia thành 11 phần thật hài hước. Nhưng Paul rất lười biếng, chưa từng làm bất kỳ việc gì, và tôi quyết định nhân hệ số 2 giữa những việc mà Paul làm với những việc mà Rick làm, rồi còn hệ số lớn hơn 2 giữa những việc mà Rick làm với những việc mà Kent và tôi làm.”

Thoạt đầu, Gates cũng định chia phần mình nhỉnh hơn Evans. “Nhưng Kent không đời nào để tôi làm vậy.” Evan cũng sắc sảo trong kinh doanh không kém gì Gates. Khi họ hoàn thành chương trình bảng tính lương, Evans viết vào trong cuốn nhật ký được ghi chép rất chi tiết của mình rằng: “Thứ Ba, chúng tôi sẽ tới Portland để bàn giao chương trình, và theo cách nói của họ, ‘chốt lại một thỏa thuận cho công việc trong tương lai.’ Tính cho đến bây giờ, mọi việc đều được thực hiện vì lợi ích giáo dục và để đổi lấy một lượng lớn thời gian sử dụng máy vi tính đắt đỏ. Còn bây giờ, chúng tôi cũng muốn có được một chút lợi ích về mặt tiền nong nữa.” Cuộc thương lượng diễn ra khá căng thẳng, và có lúc ISI còn định giữ lại một phần khoản thanh toán bằng lượng thời gian sử dụng máy vi tính vì họ không đồng tình với việc thiếu tài liệu hướng dẫn. Nhưng nhờ một lá thư của cha Gates mà vấn đề tranh cãi này được giải quyết và một thỏa thuận mới được dàn xếp.

Mùa thu năm 1971, khi Gates bước vào lớp 11, trường Lakeside sáp nhập với một trường nữ sinh, khiến việc lên lịch học trở nên lộn xộn. Vì vậy, ban quản trị nhà trường phải nhờ Gates và Evans viết một chương trình để giải quyết vấn đề này. Gates biết rằng việc lập thời khóa biểu của một trường học là vô cùng khó khăn vì có rất nhiều biến số – những khóa học bắt buộc, lịch trình của giáo viên, không gian phòng học, các lớp nâng cao, lớp tự chọn, lớp học so le, các buổi thí nghiệm hai tiết – vì thế cậu từ chối. Thay vào đó, một giáo viên đã đứng ra nhận thách thức này, còn Gates và Evans dạy lớp tin học giúp ông. Nhưng tới tháng Một, khi vẫn đang loay hoay và chưa tạo ra được một chương trình khả thi, người giáo viên này đã qua đời trong một vụ tai nạn máy bay. Gates và Evans đồng ý tiếp nhận nhiệm vụ này. Hai người đã dành nhiều giờ trong phòng máy vi tính, họ thường ngủ qua đêm ở đó để viết một chương trình mới. Tới tháng 5, họ vẫn chật vật hoàn thiện chương trình để nó có thể sẵn sàng cho năm học tới.

Lúc này, tuy đang rất mệt mỏi, Evans vẫn quyết định thực hiện một chuyến leo núi mà cậu đã đăng ký từ trước. Evans không phải là một vận động viên. “Việc anh ấy đăng ký khóa leo núi đó là hết sức bất thường,” Gates kể lại, “tôi nghĩ anh ấy muốn thách thức bản thân.” Biết con mình đang mệt mỏi, cha Evans cố nài nỉ con hủy chuyến đi: “Trong cuộc trò chuyện cuối cùng giữa hai cha con, tôi đã cố khuyên nó đừng đi, nhưng nó đã quyết là sẽ làm cho bằng được.” Khi cả lớp đang học cách cột dây vào một sườn núi dốc nhẹ thì Evans bị trượt chân. Cậu cố đứng dậy, nhưng lại bị lăn gần 200 mét trên tuyết và rơi xuống một con sông băng – lẽ ra khi bị lăn phải xoải tay ra thì cậu lại gập tay vào để tự bảo vệ mình. Evans va đầu vào nhiều khối đá, và cậu qua đời trên chiếc trực thăng cứu hộ.

Hiệu trưởng trường Lakeside gọi điện đến nhà Gates, rồi cha mẹ Gates gọi con vào phòng ngủ của mình, và tại đó cậu được thông báo về tin dữ trên [133].. Chủ trì tang lễ là Robert Fulghum, giáo viên nghệ thuật của trường Lakeside, ông cũng là một linh mục phái Nhất thể như cha của Evans và sau này trở thành một tác giả nổi tiếng với cuốn sách All I need to Know I Learned in Kindergarten (tạm dịch: Tất cả những gì cần biết tôi đều đã được học ở trường mẫu giáo). Gates kể lại: “Tôi chưa từng nghĩ đến chuyện ai đó sẽ phải chết. Trong tang lễ, họ sắp xếp để tôi phát biểu, nhưng tôi không thể đứng dậy nổi. Trong suốt hai tuần tôi không thể làm gì cả.” Gates đã dành nhiều thời gian ở bên cạnh cha mẹ của Kent. “Kent là người con mà họ rất mực thương yêu.”

Gates gọi điện cho Paul Allen, lúc này vừa kết thúc năm học đầu tiên ở Đại học Washington State, và nhờ anh quay về để giúp thực hiện chương trình sắp xếp thời khóa biểu. Gates nói với Paul: “Tôi định làm cùng Kent. Bây giờ tôi cần có người hỗ trợ.” Gates bị suy sụp nhiều trong thời gian này. Theo Allen kể lại thì “Bill bị trầm cảm trong nhiều tuần lễ.” Mùa hè năm 1972 đó, họ mang theo cả giường gấp vào trường, và lại như ngày xưa, họ thức nhiều đêm trong phòng máy vi tính để làm việc với chiếc PDP-10. Với trí tuệ xuất chúng của mình, Gates có thể giải quyết khối rubik gồm các biến số trong việc phân chia thời khóa biểu và chia nó ra thành nhiều chuỗi bài toán nhỏ để có thể tuần tự giải quyết chúng. Cậu cũng có thể sắp xếp cho mình vào một lớp lịch sử gồm tất cả những cô gái mà cậu thích và chỉ có thêm một nam sinh nữa (“một kẻ hết sức nhút nhát”), đồng thời đảm bảo rằng cậu và những người bạn lớp 12 của mình đều được nghỉ vào tất cả các buổi chiều thứ Ba. Họ mặc đồng phục là chiếc áo phông in hình một thùng bia với dòng chữ “Câu lạc bộ thứ Ba” nổi bật trước ngực.

Mùa hè năm đó, Gates và Allen bị hút hồn vào bộ vi xử lý 8008 mới của Intel, một phiên bản nâng cấp mạnh mẽ của chiếc “máy vi tính trên một con chip” 4004. Họ hào hứng khi đọc bài viết về thiết bị này trên tờ Electronics Magazine đến nỗi nhiều năm sau Gates vẫn có thể nhớ bài báo đó đăng ở trang bao nhiêu. Allen hỏi Gates: “Nếu có thể lập trình được con chip đó và nó có thể hoạt động như một cỗ máy vi tính, vậy tại sao ta không viết một ngôn ngữ lập trình cho nó, cụ thể là một phiên bản khác của BASIC?” Theo Allen, nếu họ làm được việc đó thì “những người bình thường cũng có thể mua máy vi tính để dùng cho văn phòng, thậm chí cho ngôi nhà của mình”. Gate cho rằng 8008 không thể đảm đương nổi một nhiệm vụ như thế: “Chiếc máy sẽ chậm như rùa và thật thảm hại. Riêng một mình BASIC cũng sẽ chiếm gần hết dung lượng bộ nhớ rồi. Máy sẽ không đủ mạnh.” Allen nhận ra rằng Gates nói đúng, và họ cùng thống nhất sẽ chờ cho tới khi (theo Định luật Moore) một bộ vi xử lý mạnh gấp đôi ra đời trong một hoặc hai năm nữa. Những định hướng trong mối quan hệ hợp tác giữa họ đang dần trở nên rõ ràng hơn. Allen giải thích: “Tôi là người đưa ra ý tưởng, là người nghĩ ra mọi thứ từ đầu. Bill lắng nghe và chất vấn tôi, sau đó tập trung vào những ý tưởng hay nhất của tôi và cùng góp phần biến chúng thành hiện thực. Mối quan hệ giữa chúng tôi có một chút căng thẳng tự nhiên, nhưng thường thì đó là một sự hợp tác hiệu quả và tốt đẹp.”

Gates nhận được một hợp đồng phân tích xu hướng giao thông cho một công ty, theo đó họ sẽ phải đếm số lượng xe ô tô chạy qua những ống cao su đặt ngang đường. Cậu và Allen quyết định sẽ chế tạo một chiếc máy vi tính chuyên dụng để phân tích dữ liệu thô. Gates thể hiện gu thẩm mỹ kỳ quặc của mình khi đặt tên cho công ty hợp danh mới của họ là Traf-O-Data. Hai người tới cửa hàng điện tử Hamilton Avnet gần nhà, và với linh cảm tuyệt vời về thời cơ sắp đến, họ bỏ ra 360 đô-la tiền mặt chỉ để mua một con chip 8008. Allen kể lại một cách sống động về khoảnh khắc đó như sau: “Người bán hàng đưa cho chúng tôi một hộp các-tông nhỏ, chúng tôi lập tức mở ra và lần đầu tiên nhìn thấy một bộ vi xử lý. Bên trong lớp giấy gói bằng nhôm, được gắn vào một lớp đế cao su màu đen cách điện, là một vật mỏng hình chữ nhật dài khoảng 2,5cm. Với hai chàng trai đã trải qua những năm tháng lớn lên cùng với những cỗ máy chủ đồ sộ thì đó quả là một khoảnh khắc kỳ diệu.” Gates nói với người bán hàng: “Quả là một số tiền quá lớn cho một thứ nhỏ xíu như thế này.” Tuy vậy, cả Gates và Allen đều hài lòng, vì họ biết rằng con chip nhỏ bé đó chứa cả bộ não của chiếc máy vi tính. “Những người bán hàng ở đó cứ mắt tròn mắt dẹt khi thấy hai cậu nhóc tới mua một con chip 8008,” Gates kể lại, “và lúc tháo lớp giấy bọc, chúng tôi cũng hồi hộp vì sợ sẽ làm vỡ nó.”

Để có thể viết một chương trình chạy được trên chip 8008, Allen nghĩ ra cách mô phỏng bộ vi xử lý này trên một chiếc máy chủ. Theo giải thích về sau này của Allen, việc giả lập 8008 “phản ánh một chân lý hiển nhiên trong giới công nghệ, vốn truy nguyên từ những lý thuyết của Alan Turing vào thập niên 1930: có thể lập trình bất kỳ chiếc máy vi tính nào để nó có thể vận hành giống như bất kỳ chiếc máy vi tính nào khác.” Ngoài ra, trong chiến tích này chúng ta còn rút ra được một bài học nữa, cũng đồng thời là trọng tâm trong những đóng góp của Gates và Allen vào cuộc cách mạng máy vi tính, mà theo lý giải sau này của Allen là: “Phần mềm vượt qua phần cứng.”

Với tinh thần đề cao phần mềm hơn phần cứng của cả Gates và Allen, không có gì ngạc nhiên khi họ có thể viết ra một chương trình tốt cho bộ lập bảng giao thông nhưng lại không thể khiến các bộ phận phần cứng hoạt động được, trong đó đáng chú ý nhất là cơ chế dùng để đọc các đoạn băng ghi lại các dữ liệu giao thông. Một hôm, sau khi đinh ninh rằng thiết bị đã có thể vận hành tốt, họ mời một vị quan chức cùng phòng kỹ thuật ở Seattle tới nhà Gates để xem họ trình diễn. Khi mọi người đang ngồi trong phòng khách thì thật xui xẻo, đầu đọc băng liên tục gặp sự cố. Gates chạy tới chỗ mẹ khẩn khoản: “Mẹ ơi, hãy nói với ông ấy đi. Hãy nói với ông ấy rằng tối qua nó chạy tốt mà!”

Mùa xuân năm 1973, học kỳ cuối lớp 12 của Gates, cậu và Allen được tuyển vào làm việc cho Cục Điện lực Bonneville, cơ quan đang thực hiện chiến dịch săn đầu người trên toàn nước Mỹ để tìm kiếm các chuyên gia về máy PDP-10 để giúp họ lập trình hệ thống quản lý mạng lưới điện. Gates và cha mẹ nói chuyện với hiệu trưởng trường Lakeside, và vị này cũng đồng tình với họ rằng công việc mới sẽ hữu ích cho việc học tập của Gates hơn là học kỳ cuối ở trường. Allen cũng có chung suy nghĩ đó về học kỳ của mình ở Đại học Washington State: “Chúng tôi lại có cơ hội được làm việc cùng nhau trên chiếc máy PDP-10, và còn được trả công nữa.” Họ chất đồ đạc lên chiếc Mustang mui trần của Gates, đi một chặng đường dài khoảng 270km về phía nam từ Seattle tới trung tâm điều hành Bonneville trong gần hai giờ đồng hồ, và thuê một căn hộ giá rẻ để ở chung.

Họ làm việc trong một boong-ke ngầm trên sông Columbia đoạn chảy qua Portland. Gates kể lại: “Họ có một phòng điều khiển rất lớn, trông đẹp hơn bất kỳ chương trình truyền hình nào tôi từng xem.” Gates và Allen thường cặm cụi với những buổi viết mã kéo dài tới 12 tiếng đồng hồ hoặc hơn. Allen kể lại: “Khi cảm thấy mệt mỏi, Bill thường vớ lấy lọ bột cam Tang, đổ một ít ra tay rồi liếm để tăng đường huyết. Mùa hè năm đó, lòng bàn tay cậu ấy lúc nào cũng có màu cam như thế.” Đôi khi, sau hai ngày miệt mài làm việc, họ lại “ngủ bù” một mạch tới 18 tiếng. Gates kể: “Chúng tôi còn thi nhau xem ai có thể ở trong tòa nhà đó ba ngày liên tục, hoặc bốn ngày liên tục. Một số người điều độ hơn thì khuyên: ‘Các cậu hãy về nhà tắm rửa đi.’ Nhưng chúng tôi là những kẻ say mê, chỉ miệt mài viết mã lệnh.”

Thi thoảng Gates cũng nghỉ giải lao với trò trượt ván nước mạo hiểm, bao gồm cả việc xuất phát từ ụ nổi trên các bệ nhảy, rồi lại quay về boong-ke viết mã. Cậu và Allen khá hòa hợp với nhau, ngoại trừ việc Allen có lối chơi cờ bài bản nên thường thắng lối chơi bất cẩn và hung hăng của Gates. Allen kể: “Có hôm tôi thắng, cậu ấy tức giận đến độ gạt hết các quân cờ xuống sàn nhà. Sau vài lần như thế, chúng tôi không chơi cờ nữa.”

Năm cuối bậc trung học, Gates nộp đơn đăng ký vào ba trường đại học – Harvard, Yale, Princeton – và với mỗi trường cậu lại chọn một cách tiếp cận khác nhau. “Tôi sinh ra là để đăng ký vào các trường đại học mà”, Gates khoe như thể hoàn toàn ý thức được về khả năng giành chiến thắng của mình trong các quy trình tuyển chọn nhân tài. Với Yale, cậu thể hiện mình là một nhà chính trị đầy hoài bão, trong đó nhấn mạnh đến kỳ thực tập mùa hè dài một tháng ở Quốc hội. Với Princeton, cậu chỉ tập trung vào khát vọng trở thành một kỹ sư máy vi tính. Và với Harvard, cậu nói niềm đam mê của mình là toán học. Gates cũng từng cân nhắc MIT, nhưng vào phút chót lại bỏ cuộc phỏng vấn để đi chơi pinball. Gates được cả ba trường chấp nhận và cậu chọn Harvard.

“Bill, cậu biết đấy,” Allen cảnh báo, “ở Harvard sẽ có những người giỏi toán hơn cậu rất nhiều.”

“Không đời nào,” Gates nói. “Đừng hòng nhé!”

“Cứ chờ mà xem”, Allen nói.

Gates ở Harvard

Khi được yêu cầu lựa chọn tuýp bạn cùng phòng theo sở thích, Gates nói muốn ở cùng một người Mỹ gốc Phi và một sinh viên quốc tế. Anh được sắp xếp ở Wigglesworth Hall, một khu ký túc xá dành cho sinh viên năm thứ nhất trong Harvard Yar [134], cùng với Sam Znaimer, một sinh viên yêu khoa học xuất thân từ một gia đình Do Thái nhập cư nghèo ở Montreal [135], và Jim Jenkins, một sinh viên da đen tới từ Chatanooga [136]. Znaimer, vốn chưa từng quen ai thuộc nhóm WASP [137] đặc quyền, cảm thấy Gates là người thân thiện với cách học kỳ quặc nhưng thú vị. Znaimer kể: “Thói quen của cậu ấy là làm liên tục trong 36 tiếng hoặc hơn, sau đó ngủ 10 tiếng, rồi ra ngoài ăn pizza và lại quay về làm. Nếu điều đó có nghĩa là cậu ấy sẽ phải bắt đầu làm tiếp từ ba giờ sáng thì cậu ấy cũng không nề hà gì cả.” Znaimer ngạc nhiên khi thấy Gates dành nhiều đêm để điền vào các biểu mẫu khai thuế liên bang và tiểu bang cho doanh thu của Traf-O-Data. Khi làm việc tập trung, Gates thường đung đưa người qua lại. Sau đó, anh sẽ túm lấy Znaimer để bắt cùng chơiPong, một trò chơi điện tử của hãng Atari, ở phòng sinh hoạt chung trong ký túc xá, hay chơi Spacewar trong phòng thí nghiệm máy vi tính của Harvard.

Phòng thí nghiệm máy vi tính được gọi là Aiken Lab theo tên của Howard Aiken, người đã phát minh ra Mark I và vận hành nó trong thời gian Thế chiến II với sự hỗ trợ của Grace Hopper. Ở đây có cỗ máy ưa thích của Gates: PDP-10 của DEC, vốn được thiết kế ban đầu cho mục đích quân sự ở Việt Nam nhưng sau đó được chuyển sang làm nhiệm vụ hỗ trợ cho các hoạt động nghiên cứu do quân đội tài trợ ở Harvard. Để tránh châm ngòi cho một cuộc biểu tình phản chiến, chiếc máy được bí mật đưa đến Aiken Lab vào một buổi sáng Chủ nhật năm 1969. Chiếc máy do Cơ quan các Dự án Nghiên cứu Cao cấp của Bộ Quốc phòng (khi đó được gọi là DARPA) tài trợ, nhưng thông tin này được giữ bí mật nên không có văn bản quy định về việc ai có thể sử dụng nó. Cũng có nhiều chiếc PDP-1 để chơi Spacewar. Để thực hiện đề tài máy vi tính trong năm thứ nhất, Gates đã kết nối PDP-10 và PDP-1 nhằm tạo ra một trò chơi điện tử bóng chày. “Logic nằm ở PDP-10, nhưng tôi gửi nó xuống PDP-1 bởi vì tôi sử dụng màn hình hiển thị như trong trò Spacewar, tức là màn hình hiển thị các dòng kẻ mà bây giờ không còn nữa”, Gates giải thích.

Gates thường thức đêm để viết những thuật toán quy định hướng bật của quả bóng và góc tiếp cận của các cầu thủ chặn bóng. “Những đề tài mà cậu ấy thực hiện trong năm đầu tiên không mang tính thương mại,” Znaimer nói. “Chúng được thực hiện phần lớn vì tình yêu với tin học.” Giáo sư phụ trách phòng thí nghiệm, Thomas Cheatham, có những cảm xúc trái chiều về cậu sinh viên này: “Gates là một lập trình viên rất giỏi. Tuy nhiên, đó cũng là một kẻ phiền toái và một con người khó ưa… Cậu ta sẵn sàng chỉ trích người khác dù không cần thiết phải làm vậy, và nhìn chung thì ở bên cạnh cậu ta là một việc không lấy gì làm dễ chịu cả.”

Lời cảnh báo của Allen với Gates rằng anh sẽ không phải là người thông minh nhất trong lớp hóa ra lại đúng. Một sinh viên năm nhất sống ở ngay trên phòng của Gates tên là Andy Braiterman đến từ Baltimore quả thực giỏi toán hơn anh. Hai người thường cùng nhau thức đêm để đánh vật với những bài toán khó ở trong phòng của Braiterman và ăn pizza. “Bill là người quyết liệt,” Braiterman kể lại, “và cũng là một người có tài tranh luận.” Gates đặc biệt quyết liệt trong lập luận rằng không bao lâu nữa, mỗi người đều sẽ có một chiếc máy vi tính trong nhà, có thể dùng để gọi ra sách vở và các thông tin khác. Sang năm học sau, Gates và Braiterman trở thành bạn cùng phòng.

Gates quyết định theo chuyên ngành toán ứng dụng thay vì toán cơ bản, và anh đã để lại một dấu ấn nhỏ trong lĩnh vực này. Trong một lớp do nhà khoa học máy vi tính Harry Lewis giảng dạy, Gates được biết đến một bài toán cổ điển:

Người đầu bếp ở cửa hàng chúng tôi rất cẩu thả. Khi anh ta làm bánh kếp, mỗi chiếc lại có một kích cỡ khác nhau. Do đó, khi mang chồng bánh cho khách hàng, trong lúc trên đường đi tới bàn của khách, tôi sắp xếp lại chúng (sao cho những chiếc bánh nhỏ nhất ở trên cùng, và cứ thế cho tới khi chiếc lớn nhất ở dưới cùng) bằng cách lấy vài chiếc bánh ở bên trên lật xuống phía dưới, và lặp lại thao tác này (thay đổi số lần lật bánh) cho đến khi đạt được mục đích. Nếu có chiếc bánh kếp trong chồng bánh, tôi sẽ phải lật tối đa bao nhiêu lần (theo hàm số f(n) của n) để sắp xếp lại chúng?

Giống như mọi chương trình máy vi tính, để tìm câu trả lời cho bài toán này cần có một thuật toán tốt. “Tôi đưa bài toán này ra trước lớp và giới thiệu về nó,” Lewis kể, “khoảng hai ngày sau, cậu sinh viên năm thứ hai thông minh này vào phòng tôi nói rằng cậu ta có một thuật toán 5/3 N.” Nói cách khác, Gates đã tìm ra một cách giải bài toán trên với 5/3 lần lật cho mỗi chiếc trong chồng bánh. “Thuật toán đó đòi hỏi một phân tích rất phức tạp về cách sắp xếp một vài chiếc bánh kếp ở trên cùng. Rất thông minh.” Sau đó, trợ giảng lớp học là Christos Papapadimitrou đã công bố lời giải trong một công trình học thuật đứng tên đồng tác giả với Gates.

Mùa hè năm 1974, khi Gates chuẩn bị bắt đầu năm thứ hai đại học, anh thuyết phục Allen chuyển tới vùng Boston và nhận một công việc ở Honeywell vốn ban đầu là dành cho Gates. Allen bỏ học ở Đại học Washington State, lái chiếc Chrysler đi về phía đông, và giục Gates cùng bỏ học. Lý do Allen đưa ra là: “Chúng ta sẽ bỏ lỡ cuộc cách mạng máy vi tính mất.” Vừa ăn pizza, họ vừa tưởng tượng về việc thành lập công ty riêng của mình. “Nếu mọi việc tiến triển tốt, cậu nghĩ công ty của chúng ta sẽ lớn đến mức nào?” Allen hỏi. Gates trả lời: “Tôi nghĩ chúng ta sẽ có khoảng 35 lập trình viên.” Nhưng Gates đành phải nhượng bộ trước sức ép của cha mẹ và ở lại Harvard, ít nhất là trong thời điểm này.

Giống như nhiều nhà sáng tạo khác, Gates nổi loạn không vì lý do nào cả. Anh quyết định rằng sẽ không tham gia bất kỳ khóa học nào đã ghi danh, và chỉ học dự thính [138] những khóa học không đăng ký. Anh tuân theo nguyên tắc này khá chặt chẽ. “Trong năm thứ hai ở đại học, tôi dự thính những lớp học diễn ra trùng thời gian với những lớp học chính quy của mình chỉ để đảm bảo rằng tôi không phạm sai lầm nào cả,” Gates kể, “tôi là kẻ chống đối hoàn toàn như vậy đấy.”

Gates cũng hăng hái tham gia vào trò poker [139], trong đó anh thích nhất trò Seven Card Stud Cao/Thấp [140]. Hơn 1.000 đô-la có thể được hoặc mất mỗi đêm. Là người có chỉ số IQ cao hơn so với chỉ số EQ [141], Gates tính toán xác suất tốt hơn so với việc đọc suy nghĩ của những người chơi khác. “Ở Bill có một sự say mê tới điên cuồng,” Braiterman nói, “một khi đã tập trung vào cái gì đó là cậu ấy sẽ dính chặt với nó.” Có lần, Gates đưa tập chi phiếu của mình nhờ Allen giữ để hạn chế bản thân khỏi tiêu hoang, nhưng chưa được bao lâu anh đã đòi lại. “Lúc đó cậu ấy nhận được vài bài học đắt giá về lối chơi tháu cáy của mình. Đêm trước cậu ấy thắng 300 đô-la thì đêm sau sẽ mất 600 đô-la. Mùa thu năm đó, cậu ta ném qua cửa sổ hàng nghìn đô-la nhưng vẫn cam đoan với tôi: ‘Tôi sắp khá lên rồi đây.’”

Trong lớp kinh tế của bậc cao học, Gates gặp một sinh viên sống ở tầng dưới cùng khu ký túc xá. Steve Ballmer rất khác với Gates ở vẻ ngoài. To lớn, ồn ào và quảng giao, Steve là con người của những hoạt động ngoại khóa và rất thích tham gia hay lãnh đạo nhiều hội nhóm khác nhau. Steve là thành viên của Hasty Pudding, câu lạc bộ viết và sản xuất các chương trình sân khấu ca nhạc; ngoài ra anh còn là một quản lý nhiệt tình của đội bóng. Steve cũng là người xuất bản Advocate, tạp chí văn học của trường, và là quản lý quảng cáo cho tờ báo trường, Crimson. Anh thậm chí còn tham gia vào một câu lạc bộ khá đáng sợ dành cho nam giới và thuyết phục Gates, người bạn thân mới của mình, cùng gia nhập. “Đó là một trải nghiệm quái gở”, Gates kể lại. Điều gắn kết họ với nhau là cả hai cùng có chung một cá tính quyết liệt. Họ có thể vừa đi đi lại lại vừa ầm ĩ trao đổi, tranh luận và học tập cùng nhau. Sau đó họ lại có thể rủ nhau đi xem phim. “Chúng tôi đi xem Singin’ in the Rain (Hát dưới mưa) và A Clockwork Orange (Cỗ máy tội phạm), là hai bộ phim vốn chỉ có một điểm chung duy nhất là cùng sử dụng một bài hát,” Gates nói, “sau đó chúng tôi trở thành những người bạn vô cùng thân thiết.”

Cuộc sống bạ đâu hay đó của Gates ở Harvard đột ngột chấm dứt vào giữa năm thứ hai, tháng 12 năm 1974, khi Allen đến phòng Gates ở khu ký túc xá Currier House với ấn bản mới của tờ Popular Electronics và hình ảnh chiếc Altair trên trang bìa. Lời hiệu triệu của Allen: “Này, chuyện này đang diễn ra mà không có chúng ta” đã thôi thúc Gates hành động.

Basic cho Altair

Gates và Allen bắt tay vào kế hoạch viết một phần mềm giúp những người yêu thích tin học có thể tự tạo các chương trình riêng cho mình trên Altair. Cụ thể, họ sẽ viết một trình thông dịch cho ngôn ngữ lập trình BASIC (là ngôn ngữ sẽ chạy trên bộ vi xử lý Intel 8080 của Altair). Đây sẽ là ngôn ngữ lập trình bậc cao riêng cho một bộ vi xử lý được thương mại hóa. Và nó sẽ mở ra ngành công nghiệp phần mềm máy vi tính cá nhân.

Họ dùng mẫu thư và phong bì cũ có ghi tên Traf-O-Data ở phần người gửi để viết một lá thư cho MITS, một công ty non trẻ ở Albuquerque đã chế tạo ra Altair, để thông báo rằng họ đã xây dựng được một trình thông dịch BASIC có thể chạy trên chip 8080. “Chúng tôi mong muốn được bán phần mềm này cho những lập trình viên không chuyên thông qua các vị.” Thông tin này không hoàn toàn chính xác. Họ vẫn chưa viết phần mềm nào cả. Nhưng họ biết rằng họ có thể lập tức bắt tay vào hành động nếu như MITS tỏ ý quan tâm.

Khi không nhận được thư phúc đáp, họ quyết định gọi điện thoại. Gates đề nghị Allen thực hiện cuộc gọi vì anh là người lớn tuổi hơn. “Không, cậu phải gọi; cậu làm việc này tốt hơn tôi kia mà”, Allen nói. Họ đi đến một thỏa thuận: Gates sẽ gọi và cố giấu giọng nói âm lượng cao của mình, nhưng sẽ xưng là Paul Allen vì cả hai đều biết nếu họ may mắn thì Allen sẽ là người bay đến Albuquerque. “Lúc đó tôi đang để râu và ít ra thì tôi cũng có vẻ người lớn, trong khi Gates thì trông chỉ như học sinh lớp 11”, Allen kể.

Khi Ed Roberts cất giọng khàn khàn trả lời điện thoại, Gates lấy giọng trầm nói: “Tôi là Paul Allen ở Boston. Chúng tôi sắp hoàn thành một phiên bản BASIC cho máy Altair, nên chúng tôi muốn gặp gỡ và giới thiệu về nó cho các ngài.” Roberts trả lời rằng ông đã nhận được rất nhiều cuộc gọi như vậy. Người đầu tiên bước qua cánh cửa văn phòng ông ở Albuquerque với một phiên bản BASIC chạy được sẽ được nhận hợp đồng. Gates quay sang Allen và reo lên: “Chúa ơi, chúng ta sẽ phải thực hiện ngay!”

Do không có máy Altair để làm việc, nên Allen phải mô phỏng nó trên máy PDP-10 ở Harvard – đây là chiến thuật anh đã từng áp dụng để chế tạo chiếc máy Traf-O-Data. Họ mua một quyển sổ hướng dẫn sử dụng bộ vi xử lý 8080, và chỉ trong vài tuần Allen đã sẵn sàng trong tay một bộ mô phỏng và các công cụ phát triển khác.

Trong khi đó, Gates cũng hăng hái viết mã cho trình thông dịch BASIC trên giấy kẻ ngang. Khi Allen hoàn thành bộ mô phỏng, Gates cũng đã phác thảo được khung cấu trúc chương trình và hoàn thiện phần lớn mã lệnh. “Tôi vẫn còn nhớ cậu ấy lúc thì đi đi lại lại, lúc thì ngồi ghế đung đưa một hồi lâu rồi mới viết lên giấy, các ngón tay lấm lem mực bút nỉ đủ màu trông như bảy sắc cầu vồng”, Allen kể lại. “Sau khi bộ mô phỏng của tôi hoàn thiện và cậu ấy có thể sử dụng PDP-10, Bill lại đi tới chỗ một thiết bị đầu cuối rồi lại vừa ngồi đung đưa trên ghế vừa chăm chú nhìn vào tập giấy kẻ ngang của mình. Sau đó, với cách để tay kỳ cục, cậu ấy hăng say gõ các đoạn mã vào máy rồi lặp lại từ đầu các hành động trên. Cậu ấy có thể cứ làm như vậy hàng giờ đồng hồ mỗi lần.”

Một buổi tối, khi cả hai đang ngồi ăn tối cùng một số sinh viên đam mê toán học khác ở ký túc xá Currier House của Gates, cả nhóm bắt đầu than phiền về việc phải thực hiện một nhiệm vụ mệt mỏi và tẻ nhạt là viết các đoạn chương trình số thực dấu phẩy động [142], vốn là các đoạn mã cho phép chương trình có thể xử lý được cả những số rất nhỏ và rất lớn và các dấu thập phân trong ký hiệu khoa học [143]. Một thanh niên tóc xoăn đến từ thành phố Milwaukee tên là Monte Davidoff thốt lên: “Tôi đã từng viết những đoạn chương trình như vậy rồi.” Đây là một trong những lợi ích của việc làm một kỳ nhân ở Harvard. Nghe thấy vậy, Gates và Allen bắt đầu đưa ra một loạt các câu hỏi về khả năng xử lý mã dấu phẩy động của anh chàng. Hài lòng khi biết Davidoff không phải kẻ nói suông, họ rủ anh đến phòng Gates và thỏa thuận mức phí 400 đô-la để có được chương trình do Davidoff xây dựng. Davidoff trở thành thành viên thứ ba của nhóm, và về sau anh còn kiếm được số tiền nhiều hơn khoản thỏa thuận kia rất nhiều.

Gates bỏ ôn thi, thậm chí bỏ cả chơi bài. Trong tám tuần, anh cùng với Allen và Davidoff túc trực ngày đêm ở Aiken Lab, kiến tạo lịch sử trên chiếc máy PDP-10 do Bộ Quốc phòng tài trợ. Thỉnh thoảng, họ nghỉ giải lao và đi ăn tối tại nhà hàng Pizza Harvard hay Aku Aku, một nhà hàng được thiết kế mô phỏng phong cách ở đảo Polynesia. Đôi khi, vào lúc rạng sáng, Gates còn ngủ gật bên chiếc máy. Allen kể: “Thường thì cậu ấy đang viết dở một dòng mã rồi từ từ gục người xuống cho đến khi mũi chạm vào bàn phím. Sau một hay hai giờ ngủ lơ mơ, cậu ấy lại tỉnh dậy, mắt nhắm mắt mở nhìn vào màn hình, chớp chớp mắt hai lần rồi lại tiếp tục đúng từ chỗ đang viết dở – đó là một kỳ tích phi thường về sự tập trung.”

Họ thường viết vào sổ tay, đôi khi còn thi xem ai có thể viết được một trình con với ít dòng mã lệnh nhất. “Tôi chỉ cần viết chín dòng”, một người nói to. Một người khác lên tiếng đáp: “Ồ, tôi chỉ cần năm dòng thôi!” Allen chia sẻ: “Chúng tôi biết rằng cứ tiết kiệm được một byte là người dùng sẽ có thêm dung lượng để dùng cho các ứng dụng của họ.” Mục tiêu là làm sao để chương trình chiếm dưới 4K bộ nhớ trên máy Altair nâng cấp, để người dùng vẫn còn dung lượng để sử dụng. (Một chiếc smartphone 16GB bây giờ có dung lượng bộ nhớ lớn gấp bốn triệu lần bộ nhớ thời đó). Vào buổi tối, họ thường trải các bản in nháp lên trên sàn, tìm cách làm cho chúng trở nên đơn giản, gọn nhẹ và hiệu quả hơn.

Cuối tháng 2 năm 1975, sau tám tuần viết mã miệt mài, họ đã xuất sắc giảm được kích thước chương trình xuống còn 3.2K. Gates nói “Vấn đề đặt ra không phải là tôi có thể viết được chương trình đó hay không, mà là liệu tôi có thể nén nó xuống dưới 4K và làm cho nó chạy thật nhanh hay không. Đó là chương trình tuyệt vời nhất mà tôi từng viết.” Gates kiểm tra các lỗi lần cuối cùng rồi ra lệnh cho chiếc PDP-10 của Aiken Lab in ra một băng đục lỗ để Allen mang đến Albuquerque.

Trong khi bay, Allen sực nhớ rằng anh chưa viết trình tải, tức một chuỗi lệnh hướng dẫn Altair cách đưa trình thông dịch BASIC vào bộ nhớ của nó. Khi máy bay chuẩn bị hạ cánh, Allen vớ vội lấy một tờ giấy và viết 21 dòng bằng ngôn ngữ mà bộ vi xử lý Intel sử dụng, mỗi dòng là một số có ba chữ số theo hệ bát phân. Khi rời sảnh chờ, Allen, lúc này đang diện bộ vét bằng vải tổng hợp ultrasuede, túa mồ hôi đầm đìa và nhớn nhác tìm Ed Roberts. Cuối cùng, anh nhìn thấy một người đàn ông to béo, cặp má núng nính chảy xệ xuống, nặng có lẽ đến 135kg, cổ thắt một chiếc nơ mỏng và mặc quần jeans, đang ngồi trong một chiếc xe bán tải. “Thế mà tôi cứ trông chờ là sẽ gặp một vị lãnh đạo mạnh mẽ, năng nổ, đến từ một doanh nghiệp thời thượng như những công ty tập hợp dọc theo đường Route 128, vành đai công nghệ cao bao quanh Boston”, Allen kể lại.

Tương tự, trụ sở toàn cầu của MITS cũng không hoàn toàn giống như những gì Allen hình dung. Nó được đặt trong một khu thương mại cho thuê giá rẻ, và chiếc máy Altair duy nhất có đủ bộ nhớ để chạy BASIC vẫn còn đang chạy thử. Vì vậy, họ rời việc chạy thử chương trình sang sáng ngày hôm sau và đi “ăn buffet giá ba đô-la ở một nhà hàng Mexico tên là Pancho’s, và dĩ nhiên, đồ ăn thì tiền nào của nấy”, Allen nói. Robert lái xe đưa anh đến khách sạn Sheraton trong vùng. Nhân viên lễ tân báo tiền phòng là 50 đô-la, trong khi Allen chỉ mang theo 40 đô-la. Vậy là sau cái nhìn chằm chằm dễ khiến người đối diện phải lúng túng, Roberts miễn cưỡng trả tiền phòng. “Tôi đoán mình cũng không phải là người mà ông ấy hình dung”, Allen nói.

Sáng hôm sau, Allen quay trở lại MITS để thực hiện buổi thử nghiệm trọng đại đó. Mất gần 10 phút để nạp mã lệnh cho trình thông dịch BASIC mà anh và Gates đã viết. Roberts và các đồng nghiệp liếc mắt dí dủm nhìn nhau, vì họ vốn cho rằng cuộc thử nghiệm sẽ là một thất bại hoàn toàn. Nhưng rồi chiếc Teletype bắt đầu phát ra tiếng lách cách, và trên màn hình hiện lên câu hỏi: “MEMORY SIZE?” (Kích thước bộ nhớ?) “Này, nó vừa viết cái gì kìa!” Một thành viên của MITS kêu lên. Allen sửng sốt trong niềm hân hoan. Anh gõ câu trả lời: 7168. Chiếc máy Altair đáp lại: “OK.” Allen gõ: “PRINT 2+2” (Viết 2+2). Đây là câu lệnh đơn giản nhất, nhưng nó không chỉ kiểm tra tài viết mã của Gates mà còn cả tài viết trình dấu phẩy động của Davidoff nữa. Chiếc Altair trả lời: “4.”

Cho đến lúc đó, Roberts vẫn đứng quan sát trong yên lặng. Ông đã đưa công ty đang lao đao của mình lún sâu thêm vào nợ nần dựa trên một ý tưởng điên rồ rằng ông có thể tạo ra chiếc máy vi tính mà những người yêu thích máy vi tính nghiệp dư đều có thể mua và sử dụng. Giờ đây, ông đang chứng kiến lịch sử được kiến tạo. Lần đầu tiên, một phần mềm có thể chạy trên một chiếc máy vi tính tại gia. “Ôi Chúa ơi,” ông kêu lên, “nó ghi số ‘4’ kìa!”

Roberts mời Allen vào văn phòng của mình và đồng ý cấp phép sử dụng trình thông dịch BASIC cho tất cả các máy Altair. “Tôi cứ cười mãi”, Allen thú nhận. Khi trở lại Cambridge, anh mang theo chiếc Altair để lắp đặt trong phòng ký túc xá của Gates, họ đã rủ nhau đi ăn mừng. Gates chọn loại đồ uống anh thường dùng: Shirley Temple, một loại bia gừng pha với nước anh đào ngâm rượu.

Một tháng sau, Roberts mời Allen vào làm tại MITS ở vị trí Giám đốc Phần mềm. Đồng nghiệp của anh ở Honeywell cho rằng anh thật điên rồ khi cân nhắc đến lời mời đó. “Cậu có công việc ổn định ở Honeywell,” họ nói, “cậu có thể làm việc ở đây mãi mãi.” Nhưng công việc ổn định không phải là lý tưởng mà những con người hăng hái dẫn đầu cuộc cách mạng máy vi tính theo đuổi. Vậy là mùa xuân năm 1975, Allen chuyển đến thành phố Albuquerque, nơi anh chỉ vừa mới nhận ra rằng nó không nằm ở bang Arizona.

Gates quyết định ở lại Harvard, ít nhất là trong thời gian này. Và tại đây anh đã trải qua một sự kiện có thể gọi là “nghi lễ trưởng thành” – nhưng kỷ niệm này chỉ thú vị sau nhiều năm ngẫm lại mà thôi – đối với nhiều sinh viên thành công nhất của trường: bị gọi ra trước Ban Hành chính của trường để xử lý kỷ luật, hay còn được gọi vui là bị “hành hạ” (Ad Board). Trường hợp của Gates xuất phát từ việc các thanh tra của Bộ Quốc phòng quyết định kiểm tra việc sử dụng chiếc PDP-10 mà họ đang tài trợ cho Aiken Lab ở Harvard. Họ phát hiện thấy một sinh viên năm thứ hai tên là W. H. Gates là người đang sử dụng nó trong phần lớn thời gian. Sau nhiều rắc rối, Gates viết một bản tường trình để biện hộ cho mình và trình bày việc anh đã tạo ra một phiên bản BASIC sử dụng PDP-10 làm bộ mô phỏng. Cuối cùng, Gates được miễn trừ trách nhiệm trong việc sử dụng chiếc máy, nhưng bị khiển trách vì đã để cho một người không phải là sinh viên của trường, tức Paul Allen, đăng nhập vào thiết bị với mật khẩu của mình. Gates chấp nhận sự khiển trách nhỏ này và đồng ý đưa phiên bản đầu tiên của trình thông dịch BASIC (không phải phiên bản tinh chỉnh mà anh và Allen đang làm) lên miền công cộng.

Lúc này, Gates đang tập trung vào việc viết phần mềm chung với Allen hơn là vào việc học ở Harvard. Anh hoàn thành năm học thứ hai vào mùa xuân năm 1975, sau đó bay xuống Albuquerque trong kỳ nghỉ hè và quyết định ở lại đây chứ không trở lại trường vào học kỳ đầu tiên của năm thứ ba. Anh quay lại Harvard để học thêm hai học kỳ nữa, vào mùa xuân và mùa thu năm 1976, nhưng sau đó bỏ hẳn Harvard khi chỉ còn hai học kỳ nữa là tốt nghiệp. Tháng 6 năm 2007, khi quay trở lại Harvard để nhận bằng danh dự, Gates bắt đầu bài phát biểu của mình bằng câu nói dành riêng cho cha mình đang ngồi ở hàng ghế khán giả: “Con đã đợi hơn 30 năm để nói câu này: Thưa cha, con vẫn luôn nói rằng con sẽ quay lại đây để nhận bằng tốt nghiệp.”

Micro-soft

Khi Gates tới Albuquerque vào mùa hè năm 1975, lúc này anh và Allen vẫn đang cung cấp BASIC cho các máy Altair dựa trên thỏa thuận miệng với Ed Roberts. Gates yêu cầu phải có thỏa thuận chính thức, và sau nhiều sự mặc cả qua lại, đồng ý cấp phép để MITS đưa phần mềm này vào từng máy Altair trong 10 năm với mức phí bản quyền là 30 đô-la cho mỗi bản sao phần mềm. Gates đạt được hai điều khoản có ý nghĩa lịch sử: Anh kiên quyết giữ quyền sở hữu phần mềm cho mình và Allen; MITS sẽ chỉ có quyền cấp phép sử dụng nó. Anh cũng yêu cầu MITS thực hiện những “nỗ lực tối đa” để cấp giấy phép phụ sử dụng phần mềm cho các nhà sản xuất máy vi tính khác, đồng thời chia sẻ doanh thu với Gates và Allen. Điều này tạo tiền lệ cho thỏa thuận mà Gates sẽ thực hiện với IBM sáu năm sau đó. “Chúng tôi có thể đảm bảo rằng phần mềm của mình hoạt động được trên nhiều loại máy vi tính khác nhau,” Gates nói, “điều đó cho phép chúng tôi, chứ không phải các nhà sản xuất phần cứng, trở thành nhân tố định hình thị trường.”

Bây giờ thì họ cần một cái tên. Họ cân nhắc một vài ý tưởng, trong đó có ý tưởng đặt tên cho công ty là Allen Gates, nhưng họ cảm thấy nó khiến cho công ty nghe giống tên một hãng luật hơn. Cuối cùng, họ chọn ra một cái tên không quá thú vị hay truyền cảm hứng nhưng lột tả được ý nghĩa rằng họ đang viết phần mềm cho các máy vi tính nhỏ. Trong các tài liệu cuối cùng của thỏa thuận với MITS, họ tự miêu tả về mình là “Paul Allen và Bill Gates đang kinh doanh trên danh nghĩa Công ty Micro-Soft.” Một dòng ghi nhận xuất hiện trong mã nguồn của sản phẩm khi đó là duy nhất của họ: “Micro-Soft BASIC: Paul Allen viết phần ngoài runtime [144]. Bill Gates viết phần runtime. Monte Davidoff viết gói lệnh toán học.” Vài năm sau, cái tên này được giản lược thành Microsoft.

Sau một thời gian ở nhà nghỉ Sundowner trên một đường nhánh của đường Route 66, vốn là nơi nổi tiếng với gái mại dâm chứ không phải các lập trình viên, Gates và Allen chuyển tới một căn hộ rẻ tiền có sẵn nội thất. Monte Davidoff, người nổi tiếng với thuật toán dấu phẩy động, và Chris Larson, một học sinh của trường Trung học Lakeside, cũng chuyển tới sống. Căn hộ trở thành nơi tụ tập của sinh viên và là nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh như thể một boong-ke của các kỳ nhân. Vào các buổi tối, Allen thường lấy chiếc guitar Strastorcaster và chơi theo nhạc của ban nhạc rock Aerosmith hay ca sĩ rock Jimi Hendrix, còn Gates sẽ đáp trả bằng cách hát to bài hát My Way của Frank Sinatra.

Trong số tất cả bọn họ, Gates là ví dụ điển hình về tính cách của một nhà sáng tạo. Gates cho rằng: “Một nhà sáng tạo có lẽ là một kẻ nhiệt tình đến cuồng nhiệt, một người yêu những việc mình làm, làm việc bất luận ngày đêm, có thể bỏ qua những thứ thông thường ở mức độ nào đó và vì thế mà bị coi là kẻ mất cân bằng trong cuộc sống. Dĩ nhiên, lúc còn là thiếu niên và ở độ tuổi 20, tôi là người như vậy.” Như khi còn ở Harvard, ở đây Gates thường làm việc liên tục trong 36 tiếng không nghỉ rồi sau đó cuộn tròn trên sàn và ngủ. “Cậu ấy sống trong trạng thái nhị phân: hoặc là làm việc hăng say với tất cả nguồn năng lượng thần kinh lấy từ hàng tá những lon Cokes một ngày, hoặc là ngủ say như chết.”

Gates cũng là một kẻ nổi loạn, hầu như không biết tôn trọng những người có quyền uy, một đặc điểm khác của những nhà sáng tạo. Đối với những người như Roberts, cựu sĩ quan không quân với năm đứa con đều kính cẩn gọi bố là “Thưa ngài”, Gates là một đứa trẻ hỗn xược. Sau này, Roberts chia sẻ: “Cậu ta thực sự là một đứa trẻ hỗn xược, đó mới là vấn đề.” Nhưng thực sự vấn đề phức tạp hơn thế. Gates làm việc chăm chỉ và sống tằn tiện với khoản thu nhập ít ỏi khi đó của mình, nhưng anh không cho rằng mình phải tôn kính ai. Chàng thanh niên Gates gầy gò có thể đứng đối diện với ngài Roberts vạm vỡ cao 1,9 mét mà tranh luận nảy lửa đến mức, như Allen nhớ lại, “có thể nghe thấy họ la hét khắp khu nhà, và đó là một cảnh tượng rất thú vị.”

Allen cho rằng mối quan hệ cộng tác giữa mình với Gates là 50-50. Họ luôn là một nhóm, và dường như không cần thiết phải tranh cãi xem ai làm nhiều hơn. Nhưng kể từ sau đợt xích mích về chương trình tính bảng lương ở trường trung học, Gates luôn một mực đòi giữ vị trí kiểm soát. Gates nói với Allen: “Anh lấy một nửa là không công bằng. Anh được nhận lương ở MITS trong khi tôi ở Boston một mình làm BASIC mà không có ai hỗ trợ. Tôi phải được nhiều hơn chứ. Tôi nghĩ 60-40 là hợp lý.” Dù Gates đúng hay sai, thì bản chất của Gates là sẽ đòi hỏi những điều như vậy, còn bản chất của Allen thì không. Khi nghe Gates nói thế, Allen ngạc nhiên nhưng vẫn đồng ý. Tệ hơn nữa, hai năm sau, Gates lại đòi điều chỉnh tỉ lệ phân chia. Trong một lần đi dạo với nhau, Gates nói: “Tôi làm hầu hết các phần việc với BASIC, và tôi đã phải từ bỏ nhiều thứ khi rời Harvard. Tôi xứng đáng được nhận hơn 60%.” Yêu cầu mới của Gates là chia theo tỉ lệ 64-36. Lần này thì Allen nổi giận. “Điều đó thể hiện sự khác biệt giữa con trai của một thủ thư và con trai của một luật sư,” Allen kể lại, “tôi được dạy rằng thỏa thuận là thỏa thuận và lời nói là sự ràng buộc. Bill thì linh động hơn.” Thế nhưng, một lần nữa, Allen chấp thuận.

Nhưng để công bằng hơn với Gates thì lúc đó, anh là người thực sự điều hành công ty còn non trẻ kia. Gates không chỉ viết phần lớn mã lệnh mà còn phụ trách cả việc bán hàng, đích thân anh thực hiện hầu hết các cuộc gọi. Gates thường bàn thảo các ý tưởng về chiến lược sản phẩm với Allen hàng giờ đồng hồ, nhưng anh là người đưa ra quyết định cuối cùng về việc sẽ xây dựng phiên bản nào của Fortran, BASIC hay COBOL. Gates cũng đảm nhiệm việc giao dịch kinh doanh với các nhà sản xuất phần cứng, và anh thương lượng với họ bằng thái độ còn cứng rắn hơn so với khi thương lượng với Allen. Thêm vào đó, Gates cũng đảm trách vấn đề nhân sự, nghĩa là các công việc tuyển dụng, sa thải và thẳng thắn trao đổi với các nhân viên khi họ làm không tốt – điều mà Allen không bao giờ làm. Gates có đủ uy tín để làm những việc như thế. Khi công ty tổ chức các cuộc thi xem ai có thể viết một chương trình với ít dòng mã nhất, Gates thường là người chiến thắng.

Đôi khi Allen đến muộn và thậm chí nghĩ rằng có thể được phép rời văn phòng để đi ăn tối đúng giờ. Nhưng Gates và nhóm nhân viên thân cận của anh lại không thế. Gates kể lại: “Đó là sự say mê. Tôi và một nhóm nhỏ thường ở lại làm việc tới khuya. Đôi khi tôi thức cả đêm rồi ngủ luôn ở văn phòng, nếu hôm đó có cuộc họp thì thư ký sẽ đánh thức tôi dậy.”

Sinh ra với gene ưa mạo hiểm, vào những buổi tối muộn Gates thường thư giãn bằng cách lái xe với tốc độ kinh hoàng lên các con đường núi dẫn tới một nhà máy xi măng bỏ hoang. “Đôi khi tôi tự hỏi tại sao Gates lại lái xe nhanh đến vậy,” Allen nói, “tôi nghĩ đó là cách giải tỏa tâm lý của cậu ấy. Gates đã rất mệt mỏi với công việc và cậu ấy cần phải làm gì đó để tạm dừng suy nghĩ về công việc và các dòng mã trong phút chốc. Việc cậu ấy lái xe với tốc độ quá nhanh cũng không khác gì nhiều so với những cuộc sát phạt trên bàn chơi poker hay những màn lướt ván nước mạo hiểm cả.” Khi họ bắt đầu kiếm được tiền, Gates vung tay mua một chiếc Porsche 911 màu xanh và thường lái nó trên đường cao tốc vào buổi khuya. Một lần, Gates phàn nàn với đại lý bán xe rằng tốc độ tối đa của chiếc xe là 202km một giờ, vậy mà anh chỉ đạt tới 194km. Một tối nọ, Gates bị cảnh sát giữ lại vì lái xe quá tốc độ và cãi nhau với họ về chuyện không mang theo bằng lái. Anh bị tống vào tù. “Tôi bị bắt rồi”, Gates gọi điện thông báo cho Allen. Anh được thả sau đó vài giờ, nhưng bức ảnh hồ sơ tội phạm của anh chụp trong đêm đó đã trở thành một biểu tượng đáng ghi nhớ trong lịch sử của các kỳ nhân.

Tinh thần hăng say làm việc của Gates đã mang lại những thành quả tốt đẹp. Nhờ tinh thần ấy mà Microsoft mới có thể đáp ứng được các mốc thời hạn không tưởng, đánh bại các đối thủ khác với từng sản phẩm mới, và đưa ra mức giá thấp đến nỗi các hãng sản xuất máy vi tính hầu như không nghĩ đến việc sẽ viết hoặc kiểm soát phần mềm riêng cho mình.

Phần mềm muốn được tự do [145]

Tháng 6 năm 1975, thời điểm Gates chuyển tới Albuquerque, Roberts quyết định sẽ đưa chiếc Altair lên đường trình diễn, như thể đó là một chương trình triển lãm lưu động vậy. Mục tiêu của ông là quảng bá về những điều kỳ diệu của Altair và gây dựng những câu lạc bộ người hâm mộ tại các thành phố trên khắp nước Mỹ. Ông xoay sở được một chiếc xe cắm trại của hãng Dodge, đặt tên cho nó là MITS Mobile, và đưa nó vào một hành trình qua 60 thành phố, lên vùng duyên hải California sau đó xuôi xuống miền đông nam, đến những thành phố sôi động như Little Rock, Baton Rouge, Macon, Huntsville và Knoxville.

Gates cũng tham gia vào một phần cuộc hành trình, và anh cho rằng đó là một chiến thuật marketing thiên tài. “Họ mua chiếc xe tải to màu xanh, đi khắp nước và tới đâu cũng xây dựng các câu lạc bộ máy vi tính”, Gates thích thú kể lại. Anh tham gia vào các buổi trình diễn ở Texas, và Allen nhập hội khi họ đến Alabama. Ở quán trọ Huntsville Holiday, 60 người, gồm những người hippie yêu thích máy vi tính và các kỹ sư đầu húi cua gọn gàng, trả 10 đô-la để tham dự, đắt gấp gần bốn lần so với giá vé xem phim thời đó. Buổi trình diễn kéo dài ba giờ. Khi kết thúc phần trình bày một trò chơi hạ cánh trên mặt trăng, những người nghi ngờ xúm lại nhìn phía dưới chiếc bàn xem có sợi dây cáp nào nối với chiếc máy vi tính mini nào đó lớn hơn được giấu ở bên dưới không. “Thế nhưng khi họ nhận thấy đây là sự thật, các kỹ sư hào hứng hẳn lên”, Allen kể lại.

Một trong những điểm dừng là khách sạn Rickeys Hyatt House ở Palo Alto vào ngày 5 tháng 6. Tại đây đã diễn ra một cuộc gặp gỡ định mệnh sau khi Microsoft BASIC được trình diễn trước những người yêu máy vi tính, trong số đó có rất nhiều người là thành viên của câu lạc bộ máy vi tính Homebrew mới thành lập. “Căn phòng chật ních những người nghiệp dư và các nhà thí nghiệm đang hào hứng muốn tìm hiểu về món đồ chơi điện tử mới này”, tờ tin tức của Homebrew viết. Một vài người cũng nôn nóng muốn thực thi cương lĩnh của tin tặc rằng, phần mềm cần phải được miễn phí. Đây không phải là điều đáng ngạc nhiên nếu xét đến các thái độ về xã hội và văn hóa, vốn khác xa so với tinh thần doanh nhân ở Albuquerque, đã cùng tồn tại trong những năm đầu thập niên 1970, dẫn tới sự hình thành của Câu lạc bộ Homebrew.

Nhiều người trong số các thành viên của Homebrew được tiếp xúc với MITS Mobile vào hôm đó đã tự chế tạo Altair và họ đang nóng lòng chờ đợi để sở hữu chương trình BASIC mà Gates và Allen tạo ra. Có người đã gửi séc từ trước đó đến MITS để đặt mua. Vì thế, họ vô cùng hào hứng khi thấy những chiếc Altair được trưng bày chạy phần mềm này. Nhiệt tình tuân thủ cương lĩnh của tin tặc, một thành viên câu lạc bộ tên là Dan Sokol đã “mượn” băng giấy đục lỗ chứa chương trình và sử dụng máy DEC PDP-11 để sao chép lại. Trong lần gặp mặt tiếp theo của Homebrew, có một hộp các tông đựng hàng tá băng giấy chứa chương trình BASIC để các thành viên tùy ý mang về [146]. Có một thỏa thuận chung: sau khi lấy băng giấy, bạn phải làm một vài phiên bản khác để bổ sung vào chiếc hộp dùng chung đó. “Nhớ mang trả nhiều hơn số mà bạn đã lấy đi nhé”, Lee Felsenstein nói đùa với họ. Đây cũng là câu mà ông thường nói đối với bất kỳ hoạt động chia sẻ phần mềm nào. Phần mềm BASIC của Microsoft đã được phát tán miễn phí như vậy.

Tất nhiên, chuyện này khiến Gates giận dữ. Với tất cả sự khéo léo của một chàng trai 19 tuổi, anh viết một bức thư ngỏ, và bức thư này được coi là phát súng mở màn cho cuộc chiến bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ trong thời đại máy vi tính cá nhân:

Thư ngỏ gửi những người yêu máy vi tính…

Gần một năm trước, vì cho rằng thị trường cho những tín đồ máy vi tính sẽ mở rộng nên Paul Allen và tôi đã tuyển dụng Monte Davidoff và phát triển Altair BASIC. Mặc dù công việc ban đầu chỉ kéo dài hai tháng, nhưng ba người chúng tôi đã phải dành gần trọn năm ngoái để viết tài liệu, cải tiến và bổ sung các tính năng cho BASIC. Bây giờ chúng tôi đã có các phiên bản 4K, 8K, EXTENDED, ROM và DISK BASIC. Giá trị của khoảng thời gian thuê máy vi tính mà chúng tôi sử dụng đã vượt quá con số 40.000 đô-la.

Hàng trăm người nói rằng họ đang sử dụng BASIC đều có đánh giá tích cực về chương trình. Tuy vậy, thật ngạc nhiên khi lại tồn tại hai thực tế rõ ràng này: 1) Đa số những “người dùng” này đều không hề mua BASIC (số người sở hữu máy Altair mua BASIC chiếm chưa đến 10%), và 2) Số tiền bản quyền mà chúng tôi nhận được từ việc bán phần mềm cho những người chơi máy vi tính nghiệp dư đã giúp làm giảm chi phí mua thời gian sử dụng Altair BASIC xuống còn dưới hai đô-la một giờ.

Tại sao lại có chuyện như vậy? Hẳn là phần đông những người chơi máy vi tính nghiệp dư đều đã ý thức được rõ, rằng đa số các bạn đều ăn cắp phần mềm. Phần cứng là thứ phải bỏ tiền ra mua, nhưng phần mềm lại là thứ để chia sẻ. Ai thèm quan tâm xem liệu những người làm ra nó có được trả công hay không chứ?

Điều đó có công bằng không? Khi ăn cắp phần mềm, nếu gặp trục trặc gì, các bạn sẽ không thể quay lại MITS để yêu cầu giải quyết được… Các bạn đang ngăn cản việc viết ra những phần mềm tốt. Ai có thể làm những công việc chuyên nghiệp không công chứ? Tín đồ máy vi tính nào có thể dành ba năm miệt mài lập trình, tìm lỗi, soạn thảo tài liệu hướng dẫn cho sản phẩm của mình rồi phân phối miễn phí? Sự thật là, không ai ngoài chúng tôi từng đầu tư nhiều tiền để phát triển phần mềm không chuyên. Chúng tôi đã viết phiên bản 6800 BASIC, và đang viết 8080 APL và 6800 APL, nhưng chúng tôi không có động lực nào để phân phát miễn phí phần mềm này cho những tín đồ máy vi tính cả. Một cách thẳng thắn, những gì các bạn đang làm là hành vi trộm cắp…

Tôi rất mong sẽ nhận được thư từ bất kỳ ai muốn trả lại tiền, có gợi ý hoặc bình luận gì. Hãy viết cho tôi theo địa chỉ 1180 Alvarado SE, #114, Albuquerque, New Mexico, 87108. Không gì khiến tôi hạnh phúc hơn việc có thể tuyển dụng thêm 10 lập trình viên nữa và mang đến những phần mềm tốt cho thị trường máy vi tính dành cho người chơi không chuyên.

Bill Gates - Chủ tịch, Microsoft

Bức thư được in trong thư tin tức của câu lạc bộ Homebrew cũng như trên tập san Computer Notes của nhóm người dùng máy vi tính Altair và thư tín People’s Computer Company. Nó đã gây ra một sự ồn ào lớn. “Tôi đã nhận được rất nhiều chỉ trích”, Gates thừa nhận. Trong 300 lá thư được gửi đến, chỉ có năm lá thư gửi khoản thanh toán tự nguyện. Hầu hết những lá thư khác đều dành cho anh những lời lẽ hằn học.

Về cơ bản thì Gates đúng. Việc tạo ra phần mềm cũng có giá trị tương đương với việc tạo ra phần cứng. Những người tạo phần mềm xứng đáng được trả công. Nếu không, sẽ không có ai muốn viết phần mềm nữa. Khi đứng lên chống lại một giá trị trong giới tin tặc rằng bất kỳ thứ gì có thể sao chép được đều nên miễn phí, Gates đã góp phần đảm bảo cho sự phát triển của lĩnh vực còn đang rất mới mẻ này.

Dẫu vậy, bức thư đó cũng phần nào thể hiện sự táo bạo liều lĩnh. Bởi suy cho cùng, Gates cũng là một kẻ thường xuyên ăn trộm thời gian sử dụng máy vi tính, và anh cũng từng lấy trộm mật khẩu để truy cập vào nhiều tài khoản khác nhau từ khi còn là học sinh lớp tám đến khi là sinh viên năm thứ hai ở Harvard. Thực ra, khi Gates khẳng định trong thư rằng anh và Allen đã phải tốn một khoảng thời gian sử dụng máy vi tính trị giá đến 40.000 đô-la để tạo ra BASIC, anh đã bỏ qua một thực tế rằng mình chưa bao giờ phải thực sự bỏ tiền ra để trả cho khoảng thời gian đó cả, và rằng phần lớn số thời gian đó là được thực hiện trên chiếc máy vi tính ở Harvard do quân đội cung cấp và được tài trợ từ tiền thuế của người dân Mỹ. Biên tập viên của một tờ tin tức dành cho những tín đồ máy vi tính viết: “Trong cộng đồng người chơi máy vi tính đang lan truyền những tin đồn rằng, việc phát triển BASIC mà Bill Gates đề cập đến trong bức thư được thực hiện trên một chiếc máy vi tính của Đại học Harvard, vốn được tài trợ một phần từ ngân sách chính phủ, và rằng vẫn còn những câu hỏi cần giải đáp về sự thích đáng, nếu không muốn nói là tính hợp pháp, của việc bán kết quả của công trình nghiên cứu đó.”

Ngoài ra, mặc dù khi đó Gates không đánh giá cao hiện tượng này, nhưng chính việc ăn cắp tràn lan chương trình Microsoft BASIC đã giúp ích cho công ty non trẻ của anh xét về dài hạn. Khi được phổ biến với tốc độ nhanh chóng như vậy, Microsoft BASIC đã trở thành một tiêu chuẩn, và những nhà sản xuất máy vi tính khác phải mua giấy phép sử dụng nó. Chẳng hạn, khi hãng National Semiconductor chế tạo một bộ vi xử lý mới, vì cần chương trình BASIC nên họ đã quyết định mua bản quyền chương trình của Microsoft vì lúc đó tất cả đều đang sử dụng phần mềm này. “Chúng tôi đã biến Microsoft trở thành tiêu chuẩn,” Felsenstein nói, “ấy vậy mà cậu ta gọi chúng tôi là những kẻ ăn cắp vì đã làm thế.”

Cuối năm 1978, Gates và Allen chuyển trụ sở của công ty từ Albuquerque về quê nhà Seattle. Trước khi họ rời đi, một trong 12 nhân viên trong công ty được tặng một kiểu ảnh miễn phí ở một studio địa phương, vậy là tất cả cùng chụp, và bức ảnh này về sau sẽ trở thành một bức ảnh lịch sử, trong đó Allen và phần lớn những người khác trông giống như những người tị nạn trong một cộng đồng hippie, còn Gates ngồi đằng trước trông như một thành viên của đội hướng đạo sinh thiếu niên. Trên hành trình lái xe ngược lên vùng bờ biển California, Gates nhận được ba vé phạt chạy quá tốc độ, hai trong số đó đều do cùng một cảnh sát đưa.

Apple

Trong số những người có mặt tại ga-ra của Gordon French trong buổi họp đầu tiên của câu lạc bộ Homebrew có Steve Wozniak, một kỹ sư phần cứng trẻ tuổi, vụng về trong giao tiếp, đã bỏ dở đại học và lúc này đang làm việc trong bộ phận máy vi tính của Hewlett-Packard ở thành phố Cupertino, Thung lũng Sillicon. Một người bạn đã cho anh xem một tờ rơi – “Bạn đang tự chế tạo chiếc máy vi tính riêng cho mình?” – và anh lấy hết can đảm để tới tham dự. “Rốt cuộc buổi tối hôm đó trở thành một trong những buổi tối quan trọng nhất trong cuộc đời tôi”, Wozniak sau này khẳng định.

Cha của Wozniak, một kỹ sư của tập đoàn Lockheed, thường thích dạy con về điện tử. “Một trong những ký ức đầu tiên của tôi là một ngày cuối tuần, cha đưa tôi đến chỗ làm rồi chỉ cho tôi xem những linh kiện điện tử, cùng tôi đặt chúng lên bàn để tôi chơi”, Wozniak kể lại. Ở nhà, bóng bán dẫn và điện trở thường để lăn lóc khắp nơi, và khi Wozniak hỏi: “Đây là gì ạ?” Cha cậu sẽ giảng giải từ đầu về cách hoạt động của các electron và proton. “Thi thoảng ông còn kéo một tấm bảng ra, trả lời mọi câu hỏi bằng cách vẽ sơ đồ. Ông đã dạy tôi cách tạo ra một cổng logic AND (và) và OR (hoặc) từ những linh kiện mà chúng tôi có, gồm các đi-ốt và điện trở. Ông cũng chỉ cho tôi thấy tại sao phải cần đặt bóng bán dẫn ở giữa để khuếch đại tín hiệu và để kết nối đầu ra của cổng logic này với đầu vào của cổng logic khác. Cho đến lúc ấy, đó vẫn là cách hoạt động ở mức cơ bản nhất của mọi thiết bị điện tử.” Đó là một ví dụ đầy ấn tượng về dấu ấn mà mỗi bậc phụ huynh có thể để lại trong con cái mình, đặc biệt là vào thời điểm khi mà các bậc phụ huynh đều hiểu cơ chế hoạt động của radio và có thể hướng dẫn con cái cách kiểm tra đèn chân không hay cách thay đèn khi chúng bị cháy.

Khi học lớp hai, Wozniak đã chế tạo một chiếc radio tinh thể bằng những đồng xu cũ; lên lớp năm, cậu chế tạo một hệ thống liên lạc liên gia cho lũ trẻ hàng xóm; lên lớp sáu, cậu chế tạo một radio sóng ngắn từ bộ dụng cụ lắp ráp của Hallicrafters (hai bố con Wozniak cùng nhận được giấy phép sử dụng vô tuyến nghiệp dư), và cũng trong năm đó cậu tự học cách vận dụng đại số Boole trong thiết kế mạch điện tử và trình diễn nó cùng với một cỗ máy không bao giờ thua trong trò chơi cờ caro.

Khi lên trung học, Wozniak vận dụng tài năng điện tử của mình để bày những trò chơi khăm. Một lần, cậu chế tạo một chiếc máy đánh nhịp gắn với những cục pin bị lột vỏ, trông như thể một quả bom. Khi hiệu trưởng nghe thấy tiếng tích tắc đếm nhịp ở trong ngăn tủ, ông vội vàng đưa nó ra sân chơi để tránh xa lũ trẻ và gọi đội phá bom đến. Wozniak bị nhốt một đêm ở phòng tạm giam trong vùng, và cậu đã tiện thể dạy các bạn tù cách gỡ dây điện của quạt trần rồi chạm nó vào cửa sắt để làm viên quản giáo bị điện giật khi ông này tới mở cửa. Mặc dù đã học viết mã thành thạo, nhưng khác với những chuyên gia phần mềm thuần túy hơn như Gates, về bản chất Wozniak vẫn là một kỹ sư phần cứng. Có lần, cậu xây dựng một trò chơi giống trò roulette, trong đó mỗi người chơi đặt một ngón tay của mình vào khe trống và khi quả bóng rơi, một trong số họ sẽ bị điện giật. “Các kỹ sư phần cứng sẽ chơi trò này, nhưng các kỹ sư phần mềm lúc nào cũng quá nhát gan”, Wozniak nói.

Giống như nhiều người khác, ở Wozniak là sự kết hợp giữa tình yêu công nghệ với một thái độ hippie, mặc dù anh không thành công lắm trong việc thực hành một lối sống phản văn hóa. Wozniak kể lại: “Ngày ấy tôi thường đeo một chiếc băng đô kiểu của người Anh Điêng, nuôi tóc thật dài và để râu. Từ cổ trở lên, trông tôi như Chúa Jesus. Nhưng từ cổ trở xuống, tôi vẫn ăn mặc như một thanh niên bình thường, một kỹ sư trẻ tuổi. Quần dài. Áo có cổ. Tôi chưa bao giờ sở hữu những trang phục kỳ cục của giới hippie.”

Để giải trí, Wozniak thường đọc các tài liệu hướng dẫn sử dụng máy vi tính văn phòng của các công ty Hewlett-Packard và DEC, sau đó tìm cách thiết kế lại chúng với số lượng chip ít hơn. Wozniak thú nhận: “Không hiểu tại sao việc đó lại trở thành thú tiêu khiển của tôi. Tôi ở một mình trong phòng, khóa trái cửa. Nó giống như một sở thích bí mật vậy.” Thú tiêu khiển đó không giúp Wozniak trở thành tâm điểm của những buổi tiệc tùng, vì vậy anh trở thành một người đơn độc, nhưng chính tài tiết kiệm các con chip đã giúp Wozniak rất nhiều khi anh quyết định tự chế tạo cho mình một chiếc máy vi tính. Wozniak chỉ sử dụng 20 con chip, trong khi các máy vi tính thực tế sử dụng đến hàng trăm con chip. Một người bạn gần nhà cùng giúp anh hàn mạch, và bởi vì họ uống rất nhiều kem soda của hãng Cragmont nên rốt cuộc chiếc máy được đặt tên là Cream Soda Computer (máy vi tính kem soda). Không có màn hình hay bàn phím, các lệnh được đưa vào máy bằng thẻ đục lỗ, và những câu trả lời được truyền tải qua các bóng đèn nhấp nháy ở mặt trước máy.

Người bạn này giới thiệu Wozniak với một cậu bé sống cách đó vài khu nhà và cũng yêu thích điện tử như họ. Steve Jobs kém Wozniak năm tuổi, và lúc này vẫn đang học ở trường Trung học Homestead, cũng là trường cũ của Wozniak. Họ thường cùng nhau ngồi trên vỉa hè, kể cho nhau nghe về những trò nghịch ngợm mà mình từng thực hiện, những bài hát của Bob Dylan mà họ yêu thích, và những mạch điện tử mà họ đã làm. Wozniak nói: “Thường thì tôi thấy rất khó để giải thích cho người khác về những thiết kế mà mình đang làm, nhưng Steve hiểu ngay lập tức. Tôi thích cậu ấy. Steve gầy gò nhưng dẻo dai và lúc nào cũng tràn đầy năng lượng.” Jobs cũng có ấn tượng tương tự: “Woz là người đầu tiên tôi gặp mà biết nhiều hơn tôi về điện tử.”

Cuộc phiêu lưu vĩ đại nhất của họ, nền tảng cho sự ra đời về sau này của công ty máy vi tính do hai người cùng sáng lập, có liên quan đến một thứ gọi là Blue Box [147](hộp xanh). Mùa thu năm 1971, Wozniak đọc được một bài báo trên tạp chí Esquire nói về việc những “kẻ câu trộm điện thoại” đã chế tạo một thiết bị phát ra âm thanh có tần số chính xác để đánh lừa Bell System và thực hiện các cuộc gọi đường dài miễn phí. Chưa kịp đọc xong bài báo, Wozniak đã gọi Jobs, khi đó mới bước sang năm cuối ở trường trung học, và đọc to từng phần của bài báo cho cậu nghe. Hôm đó là Chủ nhật, nhưng họ biết cách lẻn vào một thư viện ở Đại học Stanford, nơi có thể có cuốn Bell System Technical Journal (Chuyên san Kỹ thuật Bell System) mà bài báo trên nói rằng có đăng tất cả tần số của các tín hiệu âm thanh. Sau một hồi lục lọi các giá sách, cuối cùng Wozniak cũng tìm thấy nó. “Người tôi run lên và nổi da gà,” Wozniak kể lại, “nó giống như một khoảnh khắc Eureka vậy.” Họ lái xe tới cửa hàng điện tử Sunnyvale để mua các linh kiện cần thiết, hàn chúng lại, và thử nghiệm sản phẩm bằng một bộ đo tần số mà Jobs đã chế tạo trong một dự án ở trường học. Nhưng đó lại là một thiết bị sử dụng kỹ thuật tương tự, và họ không thể tạo ra các âm thanh đủ độ chính xác và nhất quán.

Wozniak nhận ra rằng anh sẽ phải chế tạo một phiên bản kỹ thuật số, sử dụng mạch điện tử với bóng bán dẫn. Mùa thu năm đó là một trong những học kỳ mà Wozniak đến trường thất thường nhất, lúc này anh đang học ở Đại học Berkeley. Với sự hỗ trợ của một sinh viên âm nhạc sống cùng khu ký túc xá, anh đã chế tạo xong phiên bản này trước Lễ Tạ ơn. “Tôi chưa bao giờ thiết kế được mạch điện tử nào khác khiến tôi có thể tự hào hơn thế,” Wozniak nói, “cho đến bây giờ tôi vẫn nghĩ nó thật tuyệt vời.” Họ thử nghiệm thiết bị này bằng cách gọi điện đến Vatican, và Wozniak giả làm Henry Kissinger muốn nói chuyện với Đức Giáo hoàng, phải mất một lúc các vị chức sắc ở Vatican mới phát hiện ra đây là trò đùa, trước khi họ đánh thức Giáo hoàng dậy.

Wozniak đã chế tạo được một thiết bị thiên tài, nhưng khi kết hợp với Jobs, anh sẽ có thể làm được nhiều hơn thế: thành lập một doanh nghiệp. Một hôm, Jobs gợi ý: “Này, chúng ta hãy bán chúng nhé.” Đó là một mô típ sẽ dẫn tới một trong những mối quan hệ cộng tác nổi tiếng nhất trong kỷ nguyên kỹ thuật số, sánh ngang với các bộ đôi Allen Gates và Noyce Moore. Wozniak sẽ là người chế tạo ra những kỳ công trong kỹ thuật, còn Jobs sẽ tìm cách hoàn thiện, đóng gói và bán chúng để kiếm lợi nhuận. Về chiếc Blue Box, Jobs chia sẻ: “Tôi lắp ráp các linh kiện còn lại, như thùng máy, bộ nguồn và bàn phím, và sau đó định giá chiếc máy.” Với 40 đô-la bỏ ra mua linh kiện cho mỗi chiếc Blue Box, họ đã chế tạo hàng trăm chiếc rồi bán với giá 150 đô-la mỗi chiếc. Cuộc phiêu lưu này kết thúc sau khi họ đang bán thiết bị ở một cửa hàng pizza thì bị kẻ khác dùng súng đe dọa và cướp đồ, nhưng nó đã gieo mầm cho một công ty sẽ ra đời sau này. Về sau, Jobs chiêm nghiệm lại: “Nếu không có những chiếc Blue Box thì cũng sẽ không có Apple. Woz và tôi đã học được cách làm việc cùng nhau.” Wozniak đồng tình: “Nó cho chúng tôi biết chúng tôi có thể làm được những gì với tài năng kỹ thuật của tôi và tầm nhìn của cậu ấy.”

Trong khoảng thời gian một năm sau đó, Jobs đi học thất thường ở Đại học Reed và sau đó lên đường hành hương tới Ấn Độ để tìm kiếm sự khai sáng tâm linh. Khi trở về vào mùa thu năm 1974, anh tới làm việc tại Atari dưới quyền của Nolan Bushnell và Al Alcorn. Atari, lúc đó đang trên đà thành công vang dội với Pong, đang tuyển dụng nhân sự hàng loạt. Một quảng cáo của họ đăng trên tạp chí San Jose Mercury với khẩu hiệu “Vui chơi; kiếm tiền.” Jobs xuất hiện với trang phục hippie và nói rằng anh sẽ cứ đứng ở hành lang cho đến khi nào họ chịu tuyển dụng anh thì thôi. Trước sự thúc giục của Alcorn, Bushnell tặc lưỡi đánh liều nhận chàng trai này. Vậy là ngọn đuốc đã được truyền từ doanh nhân sáng tạo nhất trong lĩnh vực trò chơi điện tử sang người sau này sẽ trở thành doanh nhân sáng tạo nhất trong lĩnh vực máy vi tính cá nhân.

Bất chấp những nhận thức về thiền vừa lĩnh hội được, Jobs cũng không ngại ngần bảo các đồng nghiệp là “đồ ngu” khi họ đưa ra những ý tưởng tệ. Dẫu vậy, bằng cách nào đó anh vẫn tạo được sức hút và truyền cảm hứng cho người khác. Đôi khi Jobs mặc áo choàng màu nghệ tây, đi chân đất và đinh ninh rằng chế độ ăn nghiêm ngặt chỉ bao gồm rau, củ, quả sẽ giúp anh không cần phải sử dụng chất khử mùi hay phải tắm thường xuyên. Nhưng như Bushnell kể lại thì “đó là một lý thuyết sai lầm”. Vì vậy, ông sắp xếp để Jobs làm ca tối, vì khi đó ở công ty hầu như sẽ chỉ có một mình anh. “Steve dễ nổi cáu, nhưng tôi có thiện cảm với cậu ấy. Vì thế mà tôi mới đề nghị Steve làm ca tối. Đó là cách để cứu cậu ấy.”

Sau này, Jobs nói rằng ông đã học được một số bài học quan trọng ở Atari, mà bài học quan trọng nhất là phải giữ cho các giao diện thật đơn giản và thân thiện. Các hướng dẫn phải đơn giản hết sức: “Insert quarter, avoid Klingons [148]” (Đút 25 xu, tránh loài Klingons). Các thiết bị phải làm sao để không cần đến sách hướng dẫn sử dụng. Ron Wayne, người từng làm việc với Jobs ở Atari, nhận xét: “Sự đơn giản đó đã ngấm vào Jobs và biến anh ấy trở thành một người hết sức tập trung vào sản phẩm.” Thêm vào đó, Bushnell cũng góp phần rèn luyện Jobs trở thành một doanh nhân. Bushnell kể lại: “Có điều gì đó không thể cắt nghĩa được ở một doanh nhân, và tôi nhìn thấy nó ở Steve. Cậu ấy không chỉ quan tâm tới kỹ thuật mà còn tới các khía cạnh kinh doanh nữa. Tôi đã dạy cậu ấy rằng nếu hành động như thể ta có khả năng làm được điều gì đó, thì ta sẽ làm được điều đó. Tôi đã nói với cậu ấy rằng hãy giả vờ như mọi thứ đang hoàn toàn nằm trong tầm kiểm soát của mình và rồi mọi người sẽ nghĩ rằng thực sự đúng là như vậy.”

Hầu như chiều nào sau khi tan làm ở Hewlett-Packard, Wozniak cũng ghé qua Atari để gặp Jobs và chơi trò đua xe hơi Gan Trak 10 mà Atari mới phát triển. “Đó là trò chơi mà tôi yêu thích nhất”, Wozniak nói. Khi rảnh rỗi, Wozniak mày mò lắp ráp một phiên bản tại gia của trò chơi Pong để chơi trên ti-vi. Anh còn có thể lập trình để cho xuất hiện chữ Hell (khỉ gió) hay Damn (chết tiệt) mỗi khi người chơi đánh trượt quả bóng. Một buổi tối, Wozniak cho Alcorn xem nó, và Alcorn nghĩ ra một kế hoạch. Anh giao cho Jobs nhiệm vụ thiết kế phiên bản một người chơi của trò Pong, gọi là Breakout, trong đó người chơi sẽ ném bóng vào một bức tường gạch và ăn điểm mỗi khi có viên gạch bị rơi xuống. Alcorn đoán (và anh đã đoán đúng) rằng Jobs sẽ nhờ Wozniak thiết kế mạch điện tử. Jobs không phải là một kỹ sư xuất sắc, nhưng anh rất giỏi thuyết phục người khác làm việc cho mình. “Tôi coi đó là việc hai người làm nhưng chỉ có một người cáng đáng,” Bushnell nói, “Woz là kỹ sư giỏi hơn.” Wozniak cũng là người dễ mến và chất phác, anh hào hứng giúp Jobs chế tạo trò chơi điện tử giống như những người bạn của Tom Sawyer [149] đã hào hứng giúp cậu sơn trắng hàng rào. “Đó là lời đề nghị tuyệt vời nhất trong đời tôi: thiết kế một trò chơi mà mọi người đều có thể chơi”, Wozniak kể lại.

Trong lúc Wozniak thức cả đêm để chế tạo các thành phần trong bản thiết kế, Jobs ngồi trên chiếc ghế mé tay phải anh để quấn dây cho các con chip. Wozniak cho rằng công việc đó sẽ kéo dài vài tuần lễ. Thế nhưng, có lẽ đây là một minh chứng ban đầu cho thấy điều gì sẽ xảy ra khi mà Jobs vận dụng cái mà các đồng nghiệp của anh gọi là “trường biến dạng thực tế [150] của Jobs”: anh nhìn thẳng vào mắt Wozniak và cam đoan rằng anh có thể hoàn thành trong bốn ngày.

Cuộc họp đầu tiên của Câu lạc bộ Máy vi tính Homebrew diễn ra vào tháng 3 năm 1975, ngay sau khi Wozniak hoàn thành việc thiết kế trò chơi Breakout. Đầu buổi họp, anh cảm thấy mình thật lạc lõng. Anh đã thiết kế máy vi tính và các bộ hiển thị trò chơi điện tử trên ti-vi tại nhà, thế nhưng ở cuộc họp này, hầu hết sự háo hức đều tập trung quanh chiếc máy vi tính Altair mới, vốn ban đầu không phải là thứ hấp dẫn với anh. Gần như suốt cuộc họp, anh chỉ rụt rè ngồi khép mình trong một góc. Sau này Wozniak kể lại quang cảnh cuộc họp: “Một người giơ tờ tạp chí Popular Electronics với hình một chiếc máy vi tính tên là Altair trên trang bìa. Hóa ra tất cả những người này đều là người hâm mộ cuồng nhiệt của Altair chứ không phải là người yêu thích ti-vi như tôi tưởng.” Họ đi quanh phòng để giới thiệu bản thân, và khi đến lượt mình, Wozniak nói: “Tôi là Steve Wozniak, tôi làm việc ở Hewlett-Packard trong mảng máy vi tính và tôi đã thiết kế một thiết bị đầu cuối video.” Theo nội dung bản ghi nhớ được Moore ghi lại, Wozniak bổ sung rằng anh cũng thích trò chơi điện tử và hệ thống xem phim trả tiền ở khách sạn.

Steve Job (1955-2011) và Steve Zoniak (1950-) vào năm 1976

Đồ họa về Jobs trên chiếc Macintosh đầu tiên vào năm 1984

Richard Stallman (1953) Linus Torvalds (1969)

Nhưng có một thứ đã thu hút sự quan tâm của Wozniak. Một người mang đến cuộc họp một tờ phiếu mô tả các đặc điểm kỹ thuật của bộ vi xử lý mới của Intel và họ truyền tay nhau đọc. Wozniak kể lại: “Đêm đó, tôi đọc kỹ tờ phiếu ghi các dữ liệu của bộ vi xử lý này và thấy nó có một lệnh cộng một mắt trong bộ nhớ vào thanh ghi A. Tôi nghĩ bụng: Khoan đã nào. Vậy thì có thể sử dụng một lệnh khác để trừ đi mắt nhớ trong thanh ghi A. Chao ôi. Có thể với bạn điều này không có ý nghĩa gì, nhưng tôi biết đích xác những câu lệnh đó có nghĩa là gì, và đó là điều thú vị nhất tôi từng phát hiện ra.”

Lúc này, Wozniak đang thiết kế một thiết bị đầu cuối có màn hình video và bàn phím. Theo kế hoạch của anh, đó sẽ là một thiết bị “câm”: nó không có khả năng tính toán riêng mà sẽ được kết nối qua đường dây điện thoại với một máy vi tính phân bổ thời gian đặt ở đâu đó. Nhưng sau khi đọc được các thông số kỹ thuật của bộ vi xử lý – một con chip có chứa một đơn vị xử lý trung tâm – Wozniak chợt hiểu ra rằng có thể dùng một bộ vi xử lý để tạo khả năng tính toán cho thiết bị mà mình đang chế tạo. Đó sẽ là bước nhảy vọt từ chiếc Altair: một chiếc máy vi tính tích hợp với màn hình và bàn phím! “Hình ảnh về một chiếc máy vi tính cá nhân chợt hiện lên trong đầu tôi,” Wozniak kể, “đêm đó, tôi bắt tay vào phác thảo trên giấy thứ mà sau này sẽ trở thành chiếc máy vi tính Apple I.”

Sau đó, cứ hết một ngày làm việc ở bộ phận thiết kế máy vi tính ở HP, Wozniak lại trở về nhà ăn tối qua loa rồi quay trở lại phòng mình để nghiên cứu chiếc máy. Vào 10 giờ tối ngày Chủ nhật, 29 tháng 6 năm 1975, một bước ngoặt lịch sử diễn ra: Wozniak gõ vài ký tự trên bàn phím, tín hiệu này được xử lý qua bộ vi xử lý, và những con chữ xuất hiện trên màn hình. “Tôi đã sửng sốt,” Wozniak thú thật, “đó là lần đầu tiên trong lịch sử có người gõ lên bàn phím và nhìn thấy con chữ xuất hiện trên màn hình ngay trước mặt họ.” Điều này không hoàn toàn đúng, nhưng đó thực sự là lần đầu tiên bàn phím và màn hình được tích hợp với một máy vi tính cá nhân được thiết kế dành cho những người chơi máy vi tính nghiệp dư.

Sứ mệnh của Câu lạc bộ Máy vi tính Homebrew là tự do chia sẻ các ý tưởng. Điều này khiến cho nó lọt vào tầm ngắm của Bill Gates, nhưng Wozniak đã thực hiện tôn chỉ của cộng đồng: “Tôi rất tin tưởng vào sứ mệnh thúc đẩy máy vi tính của câu lạc bộ, đến nỗi tôi đã photocopy hàng trăm bản thiết kế hoàn chỉnh của mình và phát cho tất cả những ai muốn có nó.” Ban đầu, anh rất ngại ngùng nên không thể đứng trước một đám đông để thực hiện một bài thuyết trình chính thức, nhưng vì quá tự hào về sản phẩm của mình mà anh sẵn sàng đứng ở phía dưới, trình bày cho những người xung quanh và gửi họ các bản vẽ mạch. “Tôi muốn phân phát miễn phí cho tất cả mọi người.”

Jobs lại có suy nghĩ khác, như với Blue Box trước đây. Và rốt cục, việc Jobs mong muốn đóng gói và bán những chiếc máy vi tính dễ sử dụng – và cả khả năng thiên bẩm của anh trong việc thực hiện điều đó – đã làm thay đổi diện mạo cả ngành công nghiệp máy vi tính cá nhân, không kém gì vai trò của bản thiết kế mạch điện tử xuất sắc của Wozniak. Thực ra, có lẽ Wozniak sẽ chỉ được nhắc đến thấp thoáng trong thư tin tức của Homebrew nếu như Jobs không quyết tâm để hai người cùng thành lập một công ty và thương mại hóa sản phẩm này.

Jobs bắt tay vào việc gọi điện cho các nhà sản xuất con chip như Intel để nhận các mẫu chip miễn phí. “Cậu ấy quả thực rất biết cách nói chuyện với các đại diện bán hàng,” Wozniak thán phục, “tôi không thể làm được như cậu ấy. Tôi quá nhút nhát.” Jobs cũng bắt đầu theo Wozniak tới các cuộc họp của Homebrew, mang theo chiếc ti-vi và thực hiện các buổi trình diễn, và anh vạch ra kế hoạch bán các bảng mạch in trước sử dụng thiết kế của Wozniak. Đây là một nét đặc trưng trong mối cộng tác giữa hai người. Wozniak nói: “Mỗi lần tôi thiết kế được thứ gì đó lý thú, Steve sẽ lại tìm cách kiếm tiền về cho chúng tôi. Chưa bao giờ tôi nghĩ đến chuyện bán máy vi tính. Chính Steve là người đề nghị: ‘Hãy công bố chúng và bán một ít xem sao.’” Jobs đã bán chiếc Volkswagen Bus và Wozniak bán chiếc máy vi tính HP để lấy tiền thực hiện dự án của mình.

Họ là một bộ đôi kỳ quặc nhưng quyền lực: Wozniak là người chất phác, thánh thiện, trông vẻ ngoài tựa như một chú gấu trúc; còn Jobs là kẻ có tài thôi miên quỷ quyệt, với vẻ ngoài như một chú chó săn Whippet. Gates đã bắt nạt Allen để đòi hơn một nửa trong công ty của họ. Còn trong trường hợp của Apple thì người đó là cha của Wozniak, một kỹ sư luôn trân trọng các kỹ sư khác và khinh miệt giới marketing và quản lý. Ông nhất quyết yêu cầu rằng con trai mình, người tạo ra các bản thiết kế, phải được nhận hơn 50% trong công ty hợp danh. Khi Jobs đến nhà Wozniak, cha anh đứng ra nói: “Cậu không xứng đáng được hưởng cái gì cả. Cậu chưa từng làm ra bất kỳ thứ gì.” Jobs bật khóc và nói với Wozniak rằng anh sẵn sàng chấm dứt chuyện hợp tác. “Nếu không phải là 50-50,” Jobs nói, “thì anh tự đi mà làm một mình.” Tuy nhiên, Wozniak hiểu những đóng góp của Jobs trong mối hợp tác này, và chúng đáng giá ít nhất là 50%. Nếu phải làm một mình, có lẽ Wozniak chỉ dừng lại ở mức phân phát những bản thiết kế miễn phí.

Sau màn trình diễn ở cuộc họp của Homebrew, Jobs được một người tên là Paul Terrell tìm gặp, đó là chủ của chuỗi cửa hàng máy vi tính nhỏ mang tên The Byte Shop. Kết thúc buổi trò chuyện, Terrel nói: “Nhớ giữ liên lạc nhé,” và đưa danh thiếp cho anh. Ngay ngày hôm sau, Jobs đi chân trần bước vào cửa hàng của ông này và thông báo: “Tôi đến để giữ liên lạc đây.” Trước khi Jobs hoàn thành bài giới thiệu sản phẩm của mình, Terrell đã đồng ý đặt hàng 50 chiếc máy mà sau này sẽ được biết đến với tên gọi máy vi tính Apple I. Nhưng ông muốn có thành phẩm lắp ráp hoàn chỉnh chứ không đơn thuần là những bảng mạch in với một đống linh kiện. Đây là một bước tiến nữa trong sự phát triển của máy vi tính cá nhân. Chúng sẽ không còn là thứ chỉ dành cho những người chơi nghiệp dư, tay lúc nào cũng lăm lăm cầm súng hàn nữa.

Jobs hiểu xu hướng này. Tới thời điểm xây dựng Apple II, anh không tốn nhiều thời gian vào việc nghiên cứu các thông số kỹ thuật của bộ vi xử lý. Thay vào đó, anh đi tới cửa hàng Macy’s ở Trung tâm Thương mại Stanford và nghiên cứu các thiết bị gia dụng của hãng Cuisinart. Anh quyết định rằng chiếc máy vi tính cá nhân tiếp theo sẽ phải giống như một thiết bị gia dụng: tất cả mọi thứ đều ăn khớp với nhau với một vỏ thùng trang nhã và không cần người dùng phải tự lắp ráp. Từ bộ nguồn cho tới phần mềm, từ bàn phím tới màn hình, tất cả đều phải được tích hợp một cách chặt chẽ. “Tầm nhìn của tôi là tạo ra chiếc máy vi tính đầu tiên được đóng gói hoàn chỉnh,” Jobs nói, “chúng tôi không còn nhắm đến một nhóm nhỏ những người chơi nghiệp dư, thích tự tay lắp ráp máy vi tính riêng và biết cách mua các bộ biến áp và bàn phím ra sao. Cứ mỗi người trong số bọn họ lại có hàng ngàn người khác muốn có chiếc máy đã sẵn sàng hoạt động.”

Đầu năm 1977, một số công ty máy vi tính khác của những người chơi nghiệp dư ra đời từ Homebrew và các nhóm khác tương tự. Lee Felsenstein, người dẫn chương trình của câu lạc bộ này, thành lập công ty Processor Technology và cho ra đời chiếc máy vi tính tên là Sol. Ngoài ra còn có các công ty khác như Cromeco, Vector Graphic, Southwest Technical Products, Commodore và IMSAI. Nhưng Apple II là chiếc máy vi tính cá nhân đầu tiên được thiết kế đơn giản và tích hợp đầy đủ, từ phần cứng cho đến phần mềm. Chiếc máy ra mắt thị trường vào tháng 6 năm 1977 với giá bán 1.298 đô-la, và trong vòng ba năm đã có 100.000 chiếc máy được bán ra.

Sự phát triển của Apple đánh dấu sự thoái trào của nền văn hóa người chơi nghiệp dư. Trong nhiều thập kỷ, những nhà sáng tạo trẻ tuổi như Kilby và Noyce đã đến với ngành điện tử bằng việc học cách phân biệt những loại bóng bán dẫn, đi-ôt, điện trở, tụ điện, sau đó học cách nối dây và hàn chúng vào bảng mạch thử nghiệm để tạo ra các mạch radio, bộ điều khiển tên lửa, bộ khuếch đại và bộ tạo dao động. Nhưng đến năm 1971, những bộ vi xử lý đã làm cho các bảng mạch trở nên lỗi thời, và các công ty điện tử Nhật Bản bắt đầu sản xuất hàng loạt các sản phẩm có giá thành rẻ hơn so với tự lắp ráp tại nhà. Doanh số bán hàng của các bộ công cụ tự làm giảm dần. Các hacker phần cứng như Wozniak nhường lại vị trí dẫn đầu cho các lập trình viên phần mềm như Gates. Với Apple II và đặc biệt là Macintosh sau đó vào năm 1984, Apple đã đi tiên phong trong việc chế tạo những chiếc máy mà người dùng không phải mở hộp ra và loay hoay với những linh kiện phức tạp bên trong.

Apple II cũng thiết lập một nguyên tắc mà sau này sẽ trở thành một thứ tín ngưỡng tôn giáo đối với Steve Jobs: các phần cứng trong công ty của anh phải được tích hợp chặt chẽ với phần mềm hệ điều hành. Jobs là người cầu toàn, muốn kiểm soát trải nghiệm của người dùng từ đầu tới cuối. Anh không muốn khách hàng mua một chiếc máy Apple rồi chạy trên nó hệ điều hành vớ vẩn của người khác, hay ngược lại, mua hệ điều hành của Apple rồi đưa nó vào phần cứng tạp nham của người khác.

Song mô hình tích hợp này lại không trở thành một tiêu chuẩn thực hành. Sự ra đời của Apple II đã đánh thức những hãng máy vi tính lớn, trong đó đáng chú ý nhất là IBM, và thúc đẩy sự xuất hiện của một phương án thay thế khác. IBM (hay chính xác hơn là IBM khi bị Bill Gates vượt mặt) sẽ đi theo cách tiếp cận mới, trong đó phần cứng của máy vi tính cá nhân và hệ điều hành của nó có thể được thực hiện bởi những công ty khác nhau. Kết quả là phần mềm sẽ trở thành vua, và ngoại trừ ở Apple, đa số các phần cứng máy vi tính sẽ trở thành một loại hàng hóa được bán rộng rãi.

Dan Bricklin và Visicalc

Để máy vi tính cá nhân trở nên hữu dụng, và để những người thực tế có thể cảm thấy hợp lý khi bỏ tiền ra mua chúng, chúng cần phải trở thành công cụ chứ không chỉ đơn thuần là một món đồ chơi. Ngay cả chiếc Apple II cũng có thể sẽ trở thành lỗi mốt, một khi sự hứng thú của những người chơi nghiệp dư giảm đi, nếu như những người sử dụng không thể ứng dụng nó vào những công việc thực tế. Từ đó xuất phát nhu cầu đối với thứ mà sau này sẽ được gọi là “phần mềm ứng dụng”, tức là các chương trình có thể vận dụng khả năng xử lý của máy vi tính cá nhân vào một công việc cụ thể.

Nhà tiên phong có ảnh hưởng lớn nhất trong lĩnh vực này là Dan Bricklin, cha đẻ của chương trình bảng tính tài chính đầu tiên, VisiCalc. Bricklin là một sinh viên cao học ngành khoa học máy vi tính ở MIT, từng dành một vài năm phát triển phần mềm xử lý văn bản cho công ty thiết bị kỹ thuật số Digital Equipment Corporation, sau đó đăng ký theo học trường Kinh doanh Harvard. Một ngày mùa xuân năm 1978, anh ngồi trong lớp chăm chú theo dõi thầy giáo kẻ các hàng và cột cho một mô hình tài chính trên bảng. Mỗi khi phát hiện ra một lỗi hay muốn thay đổi giá trị ở một ô nào đó, vị Giáo sư này phải dùng khăn lau bảng và thay đổi giá trị ở rất nhiều ô khác nữa.

Trước đó, Bricklin đã được xem Doug Engelbart trình diễn Hệ thống Online, vốn trở nên nổi tiếng tại buổi Mẹ của Mọi buổi Trình diễn với tâm điểm là một màn hình đồ họa và một con trỏ chuột dùng để trỏ và nhấp. Bricklin liền hình dung đến một chương trình bảng tính điện tử sử dụng chuột và giao diện đơn giản với các thao tác trỏ-kéo-nhấp. Mùa hè năm đó, khi đang đạp xe ở đảo Martha’s Vineyard, anh quyết định biến ý tưởng trên thành sản phẩm. Bricklin là người phù hợp cho những công việc như thế này. Anh là kỹ sư phần mềm với trực giác của một người làm sản phẩm; anh cảm nhận được điều mà người dùng mong muốn. Cha mẹ anh cũng là những doanh nhân, và anh rất hào hứng trước triển vọng thành lập doanh nghiệp của riêng mình. Anh cũng là một người có kỹ năng làm việc nhóm tốt, biết cách chọn đúng cộng sự. “Tôi hội tụ đủ cả kinh nghiệm và kiến thức để phát triển phần mềm đáp ứng được nhu cầu của mọi người”, Bricklin tự bạch.

Vì thế, anh lập nhóm với Bob Frankston, một người bạn anh quen ở MIT, cũng là một kỹ sư phần mềm có cha làm kinh doanh. Frankston đánh giá: “Việc Dan và tôi có thể làm chung với nhau đóng vai trò vô cùng quan trọng.” Mặc dù Bricklin có thể viết chương trình một mình, nhưng anh chỉ phác thảo cấu trúc và để Frankston phát triển nó. “Cách sắp xếp này giúp anh ấy được tự do tập trung vào những ứng dụng của chương trình thay vì ngẫm nghĩ tìm cách thực hiện nó”, Frankston nói về cách cộng tác giữa họ.

Quyết định đầu tiên của họ là phát triển chương trình có thể sử dụng trên máy vi tính cá nhân thay vì các loại máy vi tính dành cho doanh nghiệp của DEC. Họ chọn Apple II vì Wozniak đã công khai và minh bạch hóa kiến trúc của chiếc máy nên các nhà phát triển phần mềm có thể dễ dàng tiếp cận các tính năng cần thiết.

Họ tạo ra bản đầu tiên trong một dịp cuối tuần trên chiếc Apple II mà họ mượn được của một người sau này sẽ trở thành cộng sự thứ ba, Dan Fylstra. Lúc này, Fylstra vừa tốt nghiệp cao học ở trường Kinh doanh Harvard và đã thành lập một công ty phát hành phần mềm, tập trung vào các trò chơi điện tử như cờ vua, do anh điều hành từ căn hộ của mình ở Cambridge. Để ngành công nghiệp phần mềm có thể phát triển độc lập với ngành công nghiệp phần cứng, cần phải có những nhà phát hành biết cách quảng bá và phân phối sản phẩm.

Vì cả Bricklin và Frankston đều có trực giác tốt về kinh doanh và những mong muốn của khách hàng, nên họ phát triển VisiCalc thành một sản phẩm, chứ không chỉ là một chương trình. Họ tổ chức các cuộc thảo luận nhóm với sự tham gia của bạn bè và các giảng viên để đảm bảo rằng giao diện họ tạo ra là trực quan và dễ sử dụng. “Mục tiêu của chúng tôi là mang đến cho người dùng một mô hình nguyên lý [151] sao cho không có vẻ khác thường,” Frankston giải thích, “đó gọi là nguyên tắc ít bất ngờ nhất [152]. Chúng tôi là những kẻ mộng mơ đang dệt nên một trải nghiệm.”

Trong số những người đã góp phần biến VisiCalc thành một hiện tượng kinh doanh có Ben Rosen, lúc đó đang là một chuyên viên phân tích cho hãng dịch vụ tài chính Morgan Stanley, nhưng sau này đã đưa nhóm tin tức và những hội nghị có ảnh hưởng của mình trở thành một công việc kinh doanh riêng rồi thành lập một công ty đầu tư mạo hiểm ở Manhattan. Vào tháng 5 năm 1979, Fylstra trình diễn một phiên bản ban đầu của VisiCalc tại Diễn đàn Máy vi tính Cá nhân của Rosen ở quê nhà New Orleans. Trong nhóm tin tức của mình, Rosen hào hứng thông báo: “VisiCalc thật sống động với những hình ảnh trực quan… Chỉ trong vài phút, những người chưa bao giờ dùng máy vi tính đã có thể viết và sử dụng các chương trình.” Anh kết thúc bản tin với một tiên đoán mà sau này sẽ trở thành sự thật: “Một ngày nào đó, VisiCalc có thể sẽ là cái đuôi phần mềm vẫy vẫy (và đẩy mạnh cho) những chú chó máy vi tính cá nhân.”

VisiCalc đã đưa Apple II lên đỉnh vinh quang, vì trong suốt một năm không có phiên bản nào dành cho các loại máy vi tính cá nhân khác. Sau này, Jobs cũng thừa nhận: “Đó là thứ đã thực sự đưa Apple II đến thành công.” Nối gót VisiCalc, các phần mềm xử lý văn bản như Apple Writer và EasyWriter nhanh chóng xuất hiện. Như vậy, VisiCalc không chỉ khuấy động thị trường máy vi tính cá nhân mà còn góp phần tạo ra một ngành công nghiệp tạo lợi nhuận hoàn toàn mới mẻ, đó là ngành phát hành các phần mềm ứng dụng độc quyền.

Hệ điều hành của IBM

Trong những năm 1970, IBM thống trị thị trường máy chủ với dòng máy 360 của họ. Nhưng họ lại bị DEC và Wang đánh bại ở thị trường máy vi tính mini với kích thước xấp xỉ chiếc tủ lạnh, và dường như họ cũng có khả năng bị bỏ lại đằng sau ở thị trường máy vi tính cá nhân. “Việc IBM sản xuất một chiếc máy vi tính cá nhân cũng giống như việc dạy một con voi nhảy múa vậy”, một chuyên gia khẳng định.

Ban lãnh đạo cấp cao của công ty có vẻ đồng tình với nhận định này. Vì vậy, họ cân nhắc việc chấp thuận sử dụng chiếc máy vi tính tại gia Atari 800 rồi đóng nhãn IBM lên [153]. Nhưng khi phương án này được đưa ra tranh luận tại một cuộc họp vào tháng 7 năm 1980, CEO [154] của IBM lúc đó là Frank Carey đã bác bỏ. Theo ông, hãng máy vi tính lớn nhất thế giới chắc chắn phải có khả năng tự chế tạo được chiếc máy vi tính cá nhân riêng. Tuy nhiên, ông cũng phàn nàn rằng để thực hiện bất kỳ điều gì mới ở công ty này thì dường như phải cần đến 300 người làm việc trong ba năm.

Carey nói tới đây thì Bill Lowe, khi đó là Giám đốc Phòng Nghiên cứu Phát triển của IBM ở Boca Raton, Florida, xen ngang: “Không thưa ngài, ngài nhầm rồi. Chúng ta có thể hoàn thành một dự án trong một năm.” Vì sự tự tin quá mức này, Lowe được giao nhiệm vụ giám sát dự án, tên mã là Acorn, để phát triển mẫu máy vi tính cá nhân của IBM.

Nhóm mới của Lowe do Don Estridge dẫn dắt, và ông này đã chọn Jack Sams, một người lịch lãm đến từ miền nam với 20 năm kinh nghiệm ở IBM, phụ trách việc xây dựng phần mềm. Với thời hạn một năm, Sams biết rằng ông sẽ phải mua phần mềm từ đối tác bên ngoài thay vì để nhân sự trong công ty tự viết. Vì vậy, tháng 7 năm 1980, ông gọi cho Bill Gates để thu xếp một cuộc gặp sớm. Khi Gates mời ông sang tuần sau bay tới Seattle thì Sams đáp lại rằng ông đang trên đường ra sân bay và muốn gặp Gates ngay ngày hôm sau. Linh cảm rằng một con cá to sắp cắn câu, Gates rất phấn chấn.

Trước đó vài tuần, Gates đã tuyển dụng bạn cùng phòng trong ký túc xá khi còn học ở Harvard là Steve Ballmer vào vị trí quản lý kinh doanh tại Microsoft, vì thế anh đề nghị Ballmer cùng tham gia cuộc gặp với IBM với lý do: “Cậu là người duy nhất ở đây có thể mặc comple.” Khi Sams đến, Gates cũng mặc comple, nhưng khổ người anh chưa thực sự vừa với bộ quần áo, còn Sams mặc bộ comple màu xanh dương đúng tiêu chuẩn của IBM với áo sơ mi trắng. Ông kể lại: “Một chàng thiếu niên chạy ra đón chúng tôi vào, và tôi cứ nghĩ đó là cậu bé chạy việc vặt trong văn phòng.” Thế nhưng, ông và các thành viên khác trong nhóm đã nhanh chóng phải choáng váng trước sự thông minh của Gates.

Đầu tiên, phía IBM muốn thảo luận về việc mua bản quyền BASIC của Microsoft, nhưng Gates đã biến cuộc trao đổi trở thành một buổi thảo luận sôi nổi về xu hướng của công nghệ. Sau vài giờ, rốt cuộc họ lại bàn về việc cấp phép tất cả các ngôn ngữ lập trình mà Microsoft đang có hoặc có thể phát triển, bao gồm cả BASIC, Fortran và COBOL. “Chúng tôi nói với phía IBM: ‘Được rồi, các vị có thể có tất cả những gì chúng tôi làm ra’, dù rằng lúc đó chúng tôi còn chưa làm ra chúng”, Gates kể lại.

Vài tuần sau, phía IBM quay trở lại. Ngoài những ngôn ngữ lập trình trên, IBM còn thiếu một phần mềm rất quan trọng nữa. Họ cần một hệ điều hành, tức chương trình phần mềm sẽ đóng vai trò nền tảng cho tất cả các chương trình khác. Một hệ điều hành xử lý các lệnh cơ bản mà các phần mềm khác sử dụng, bao gồm những lệnh như quyết định xem nên lưu trữ dữ liệu ở đâu, phân bổ các nguồn lực bộ nhớ và xử lý ra sao, và các phần mềm ứng dụng sẽ tương tác với phần cứng của máy vi tính như thế nào.

Microsoft chưa xây dựng được hệ điều hành nào. Thời điểm này, họ đang sử dụng một hệ điều hành gọi là CP/M (viết tắt của từ Control Program for Microcomputers – Chương trình Điều khiển cho Máy vi tính) của Gary Kildall, một người bạn thời thơ ấu của Gates, lúc này vừa chuyển tới sống ở Monterey, California. Vậy là, khi đang ngồi trao đổi với Sams trong văn phòng, Gates nhấc điện thoại lên và gọi cho Kildall, cho anh biết thứ mà các lãnh đạo của IBM đang tìm kiếm rồi nói:“Tôi sẽ đưa một vài người đến. Nhớ đối xử với họ cho đúng mực, đó là những người rất quan trọng đấy.”

Nhưng Kildall đã không làm như vậy. Sau này, Gates gọi ngày hôm đó là “ngày mà Gary tự dưng muốn đi bay”. Thay vì gặp mặt các vị khách đến từ IBM, Kildall lại lái chiếc máy bay riêng – sở thích của anh là lái máy bay – và tới một cuộc hẹn ở San Francisco vốn đã được lên lịch từ trước. Anh để vợ tiếp đón bốn vị khách của IBM trịnh trọng trong những bộ comple tối màu trong căn nhà kỳ cục mang phong cách Victoria được dùng làm trụ sở công ty. Khi họ đưa cho vợ anh bản thỏa thuận bảo mật thông tin, cô đã từ chối ký tên vào. Sau rất nhiều tranh cãi, cuối cùng phía IBM tức giận bỏ về. Sams kể lại: “Chúng tôi đưa ra bản thỏa thuận với nội dung yêu cầu rằng không được tiết lộ cho ai biết chúng tôi ở đây, và chúng tôi cũng không muốn nghe bất kỳ điều gì bí mật cả, thế nhưng cô ta đọc rồi vẫn kiên quyết không chịu ký. Chúng tôi mất cả ngày ở Pacific Grove để tranh cãi với họ, với luật sư của chúng tôi, với luật sư của cô ta và với tất cả mọi người khác về chuyện liệu cô ta có thể dù là nói chuyện với chúng tôi về việc cô ta đã nói chuyện với chúng tôi hay không, sau đó chúng tôi bỏ đi.” Vậy là công ty nhỏ của Kildall đã vừa bỏ lỡ cơ hội trở thành một công ty thống trị trong lĩnh vực phần mềm máy vi tính.

Sams bay về Seattle gặp Gates và nhờ anh tìm cách khác để xây dựng hệ điều hành. May mắn thay, Paul Allen biết một người ở Seattle có thể giúp: Tim Paterson, làm việc cho một công ty máy vi tính nhỏ tên là Seattle Computer Products. Vài tháng trước, tức giận vì hệ điều hành CP/M của Kildall không dùng được cho các bộ vi xử lý mới nhất của Intel, Paterson đã điều chỉnh để nó trở thành một hệ điều hành khác mà anh đặt tên là QDOS, viết tắt của từ Quick and Dirty Operating System (Hệ điều hành Nhanh và Tạm bợ).

Lúc này, Gates đã nhận ra rằng có một hệ điều hành, nhiều khả năng là hệ điều hành mà IBM sẽ chọn, rốt cuộc sẽ trở thành hệ điều hành tiêu chuẩn mà đa số các máy vi tính cá nhân sẽ sử dụng. Anh cũng phát hiện ra rằng người nào sở hữu trong tay hệ điều hành đó sẽ chiếm ưu thế lớn nhất. Vì vậy, thay vì đưa các đại diện của IBM tới gặp Paterson, Gates và nhóm của mình cam đoan họ sẽ tự xử lý vấn đề này. Về sau, Ballmer kể lại: “Chúng tôi nói với phía IBM rằng: ‘Chúng tôi sẽ tới một công ty nhỏ ở đây để lấy hệ điều hành, chúng tôi sẽ lo việc này, chúng tôi sẽ cải tiến nó.”

Giai đoạn này, công ty của Paterson đang kinh doanh chật vật nên Allen đã thu xếp được một thỏa thuận rất khôn ngoan với bạn mình. Ban đầu, Allen chỉ mua giấy phép không độc quyền [155], sau đó, khi triển vọng chốt giao dịch với IBM trở nên rõ ràng hơn, anh quay lại và mua đứt phần mềm của Paterson mà không nói rõ lý do tại sao. “Cuối cùng, chúng tôi lập ra một thỏa thuận mua hệ điều hành của anh ấy cho bất kỳ mục đích sử dụng nào với giá 50.000 đô-la”, Allen kể lại. Với khoản tiền nhỏ đó, Microsoft đã mua lại được phần mềm mà sau khi họ hoàn thiện nó thêm, sẽ thống trị toàn bộ ngành công nghiệp phần mềm suốt hơn ba thập kỷ.

Nhưng Gates đã suýt bỏ cuộc. Khác với tính cách của mình, anh đã lo rằng Microsoft (vốn lúc đó đang bị quá tải với nhiều dự án khác) có thể không đủ khả năng để hoàn thiện QDOS và biến nó trở thành một hệ điều hành tương xứng với IBM. Microsoft lúc đó chỉ có 40 nhân viên lôi thôi lếch thếch, vài người ngủ cả trên sàn nhà và chỉ kỳ cọ người qua loa vào buổi sáng, và công ty lại do một thanh niên 24 tuổi làm lãnh đạo mà nhìn bề ngoài có thể bị tưởng nhầm là cậu bé chạy việc vặt trong văn phòng. Vào một ngày Chủ nhật cuối tháng 9 năm 1980, tức hai tháng sau cuộc gọi đầu tiên của IBM, Gates triệu tập nhóm nhân sự cao cấp để ra quyết định có theo đuổi dự án này hay không. Kay Nishi, một doanh nhân trẻ đến từ Nhật Bản, người cũng có chung nét mãnh liệt của Gates, lại là người kiên quyết nhất. Anh vừa chạy quanh phòng vừa kêu lên the thé: “Phải làm! Phải làm!” Gates quyết định rằng Nishi nói đúng.

Gates và Ballmer đáp chuyến bay đêm tới Boca Raton để thương lượng. Năm 1980, doanh thu của Microsoft là 7,5 triệu đô-la, trong khi doanh thu của IBM là 30 tỉ đô-la, dẫu vậy Gates vẫn quyết tâm đạt bằng được một thỏa thuận cho phép Microsoft giữ tác quyền của hệ điều hành mà sau này IBM sẽ đưa nó trở thành một tiêu chuẩn toàn cầu. Trong thỏa thuận với công ty của Paterson, Microsoft đã mua đứt DOS “cho bất kỳ mục đích sử dụng nào”, thay vì chỉ mua quyền sử dụng. Đó là một nước cờ thông minh, nhưng nước cờ còn thông minh hơn nữa là họ không chịu để IBM ép buộc Microsoft phải thực hiện một thỏa thuận tương tự.

Khi hạ cánh ở sân bay Miami, họ đi vào nhà vệ sinh để thay sang bộ comple, và Gates chợt nhận ra là mình quên không mang theo cà vạt. Với thái độ cầu kỳ bất thường, Gates một mực đòi dừng lại ở một cửa hàng bán lẻ của hãng Burdine trên đường đến Boca để mua một chiếc. Tuy nhiên, chiếc cà vạt lại không mang lại hiệu quả mong muốn trước mặt các vị lãnh đạo ăn mặc chỉnh tề của IBM đang chờ gặp họ. Một kỹ sư phần mềm kể lại rằng lúc đó Gates trông như “một đứa trẻ vừa chạy quanh khu phố để đuổi theo một người rồi cướp bộ comple của ông ta, cho nên bộ comple đó mới quá khổ so với anh ấy. Cổ áo thò cả ra ngoài và anh ấy trông như một đứa trẻ nhếch nhác. Tôi buột miệng hỏi: ‘Gã quái quỷ nào thế này?’”

Thế nhưng, khi Gates bắt đầu bài thuyết trình của mình, họ lập tức không còn chú ý vào vẻ ngoài của anh nữa. Gates đã khiến cho phía IBM phải tròn mắt ngạc nhiên trước sự hiểu biết vững vàng của anh cả về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý, cũng như trước phong thái tự tin, điềm tĩnh của anh khi đàm phán các điều khoản hợp đồng. Nhưng thực ra, đó chỉ là một màn biểu diễn mà thôi. Khi quay về Seattle, Gates bước vào văn phòng, nằm dài trên sàn nhà và than van rên rỉ với Ballmer về tất cả những nỗi sợ hãi và nghi ngờ của mình.

Sau một tháng đi lại, một bản thỏa thuận dài 32 trang đã được ký kết vào đầu tháng 11 năm 1980. “Steve và tôi đã thuộc lòng bản hợp đồng này,” Gates khẳng định, “chúng tôi không được trả nhiều tiền. Tổng số tiền chỉ khoảng 186.000 đô-la mà thôi.” Ít nhất ban đầu là thế. Nhưng bản thỏa thuận có hai điều khoản mà Gates biết rằng sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực trong ngành công nghiệp máy vi tính. Thứ nhất, giấy phép sử dụng hệ điều hành trên (được gọi là PC-DOS) của IBM là giấy phép không độc quyền. Thứ hai, Microsoft sẽ giữ quyền kiểm soát mã nguồn. Điều này có nghĩa là IBM không thể điều chỉnh cải tiến phần mềm này để biến nó trở thành sản phẩm độc quyền cho các thiết bị của họ. Chỉ Microsoft mới có thể thay đổi nó, và sau mỗi phiên bản mới, họ lại có thể cấp phép sử dụng phần mềm cho bất kỳ công ty nào tùy ý. “Chúng tôi biết sẽ có những bản sao nhân bản của chiếc IBM PC [156],” Gate nói, “chúng tôi đã thiết kế bản hợp đồng gốc để cho phép điều đó xảy ra. Đó là một điểm chính trong những cuộc đàm phán của chúng tôi.”

Thỏa thuận này tương đồng với thỏa thuận mà Gates đã thực hiện với MITS trước đó, khi anh giữ lại quyền cấp phép sử dụng BASIC cho các nhà sản xuất máy vi tính khác. Cách làm này cho phép BASIC, và sau này, quan trọng hơn là hệ điều hành của Microsoft trở thành một tiêu chuẩn trong ngành với sự kiểm soát của Microsoft. “Thực ra, dòng khẩu hiệu trong quảng cáo của chúng tôi ngày đó luôn là ‘Chúng tôi tạo nên tiêu chuẩn’,” Gates kể lại và cười lớn, “thế nhưng khi chúng tôi thực sự đặt ra tiêu chuẩn thì các luật sư chống độc quyền của chúng tôi lại khuyên nên vứt bỏ nó. Đó là một trong những khẩu hiệu mà bạn chỉ nên dùng khi nó không đúng.”

Gates khoe với mẹ về tầm quan trọng của thỏa thuận với IBM, hy vọng việc đó có thể chứng minh rằng anh đã đúng khi bỏ học ở Harvard. Tình cờ là mẹ anh, bà Mary Gates, lại ở cùng trong hội đồng quản trị của tổ chức phi lợi nhuận United Way với Chủ tịch của IBM là John Opel, lúc này đang chuẩn bị thay thế Frank Cary làm CEO. Một hôm, khi cùng Opel đáp chuyến bay tới dự một cuộc họp, bà nhắc đến Gates: “À, con trai tôi đang làm dự án này, nó đang làm việc với công ty của ông đấy.” Tuy nhiên, có vẻ Opel không biết gì về Microsoft. Vậy là khi về nhà, bà cảnh báo con: “Nghe này, mẹ đã kể với Opel về dự án của con và cả việc con đã bỏ học, ấy thế mà ông ấy không biết con là ai, vậy nên có lẽ dự án của con không quan trọng như con tưởng đâu.” Vài tuần sau, các lãnh đạo ở Boca Raton tới trụ sở của IBM để báo cáo tiến độ dự án cho Opel. Vị trưởng nhóm thông báo: “Chúng ta phụ thuộc vào chip của Intel, còn Sears và Computer Land sẽ phân phối sản phẩm. Nhưng có lẽ sự lệ thuộc lớn nhất của chúng ta là vào một công ty phần mềm nhỏ ở Seattle do một người tên là Bill Gates điều hành.” Opel hỏi lại: “Ồ, anh đang nói đến con trai của Mary Gates hả? À ừ, bà ấy tuyệt lắm.”

Như Gates đã tiên đoán, sản xuất tất cả phần mềm cho IBM là một nhiệm vụ gian nan, nhưng đội ngũ nhân sự lôi thôi ở Microsoft đã làm việc bất kể ngày đêm trong suốt chín tháng để hoàn thành nó. Đó là lần cuối cùng Gates và Allen làm việc cùng nhau trong một nhóm, ngồi cạnh nhau cả đêm, viết mã với sự đam mê mãnh liệt như họ đã làm ở Lakeside và Harvard. “Xích mích duy nhất giữa tôi và Paul là khi anh ấy muốn đi xem buổi phóng tàu con thoi mà tôi thì không, vì chúng tôi đang chậm tiến độ”, Gates nói. Cuối cùng, Allen vẫn quyết định đi xem. “Đó là lần đầu tiên,” Allen nói, “và chúng tôi bay trở về ngay sau buổi phóng tàu. Chúng tôi đi chưa quá 36 giờ.”

Khi viết hệ điều hành, hai người đã góp phần quyết định nên hình dáng và ấn tượng của chiếc máy vi tính cá nhân. “Paul và tôi đã quyết định mọi chi tiết nhỏ trong chiếc PC [157],” Gates nói, “cách bố trí các phím trên bàn phím, cách hoạt động của cổng cassette, cổng âm thanh, cổng đồ họa.” Thật tai hại, kết quả của việc này lại phản ánh gu thiết kế kỳ quặc của Gates. Ngoại trừ việc khiến người dùng phải tìm hiểu xem phím dấu chéo ngược ở đâu, những giao diện tương tác giữa con người với máy móc như thế này hầu như không có điểm tích cực nào, khi mà chúng phụ thuộc vào những dấu nhắc lệnh như “c:\” và những tập tin với những cái tên rườm rà như AUTOEXEC.BAT và CONFIG.SYS.

Nhiều năm sau đó, trong khuôn khổ một sự kiện ở Harvard, nhà đầu tư quỹ cổ phần tư nhân David Rubenstein chất vấn Gates về lý do ông bắt cả thế giới phải khởi động máy vi tính với tổ hợp phím Ctrl+Alt+Delete: “Tại sao khi muốn khởi động máy vi tính và phần mềm, tôi lại phải dùng tới ba ngón tay vậy? Đó là ý tưởng của ai?” Gates bắt đầu vòng vo giải thích rằng các nhà thiết kế bàn phím ở IBM không đưa ra được một phương thức đơn giản để ra hiệu cho phần cứng khởi động hệ điều hành, nhưng rồi ông ngừng lại và cười bẽn lẽn. “Đó là một sai lầm”, Gates thừa nhận. Các lập trình viên lão luyện đôi khi quên mất rằng sự giản đơn là linh hồn của cái đẹp.

Lễ ra mắt IBM PC, với mức giá niêm yết 1.565 đô-la, được tổ chức ở khách sạn Waldorf Astoria, New York vào tháng 8 năm 1981. Gates và nhóm của mình không được mời tham dự sự kiện. Gates nói: “Điều kì quặc nhất là khi chúng tôi đề nghị được tham dự buổi ra mắt chính thức quan trọng đó, IBM đã từ chối.” Đối với IBM, Microsoft chỉ là một nhà cung cấp.

Nhưng Gates mới là người giành chiến thắng chung cuộc. Nhờ vào thỏa thuận đã đạt được, Microsoft có thể biến IBM PC và những bản sao nhân bản của nó trở thành những loại hàng hóa có thể hoán đổi cho nhau và rốt cuộc chỉ còn cạnh tranh nhau về giá cả với biên lợi nhuận rất nhỏ. Trong một cuộc phỏng vấn đăng tải trên số đầu tiên của tạp chí PC vài tháng sau đó, Gates chỉ ra rằng không bao lâu nữa, tất cả các máy vi tính cá nhân sẽ cùng sử dụng các bộ vi xử lý tiêu chuẩn. “Phần cứng sẽ trở nên ít thú vị hơn nhiều,” Gates nói, “toàn bộ công việc sẽ nằm ở phần mềm.”

Giao diện đồ họa người dùng

Ngay khi IBM PC vừa ra mắt, Steve Jobs và đội ngũ của mình ở Apple đã mua một chiếc. Họ muốn tìm hiểu xem đối thủ ra sao. Ý kiến đồng thuận của mọi người ở đó, theo cách dùng từ của Jobs là: “Nó thật thảm hại.” Câu nói này không đơn thuần phản ánh bản tính kiêu ngạo của Jobs, dù rằng điều đó cũng đúng phần nào. Thực ra, đó là một sự phản ứng trước thực tế rằng chiếc máy mới, với những dấu nhắc lệnh thô vụng như c:\> và thiết kế hình hộp, là một thứ nhàm chán. Jobs đã không nghĩ rằng những nhà quản lý công nghệ ở các công ty lại có thể không mong chờ sự hào hứng nơi văn phòng và biết rằng họ cũng không thể gặp rắc rối gì nếu quyết định lựa chọn một thương hiệu nhàm chán như IBM thay vì một thương hiệu táo bạo như Apple. Bill Gates tình cờ cũng có mặt ở trụ sở Apple để tham gia một cuộc họp vào ngày ra mắt IBM PC. “Dường như họ không quan tâm,” Gates nói, “phải mất một năm họ mới nhận thức được điều gì đã xảy ra.”

Jobs rất hào hứng trước sự cạnh tranh này, đặc biệt là khi anh cho rằng chiếc máy đó là thứ kém cỏi. Anh coi mình là một chiến binh thiền vừa được giác ngộ với sứ mệnh chiến đấu chống lại các thế lực xấu xí và độc ác. Jobs cho đăng tải một quảng cáo cho Apple trên tờ tạp chí Wall Street Journal mà anh hỗ trợ viết nội dung. Mục quảng cáo chạy tiêu đề: “Đến đây nào, IBM. Nghiêm túc đấy.”

Một lý do khiến Jobs coi thường đối thủ như vậy là vì anh đã nhìn thấy trước tương lai và đang bắt tay vào sáng tạo nó. Trong các chuyến thăm tới Xerox PARC, Jobs đã được nghe về nhiều ý tưởng mà Alan Kay, Doug Engelbart và các đồng nghiệp của họ đã phát triển, trong đó đáng chú ý nhất là giao diện đồ họa người dùng (viết tắt là GUI) với một bộ ẩn dụ máy vi tính để bàn [158] với các cửa sổ (window), biểu tượng (icon), và một con chuột (mouse) dùng làm con trỏ. Sự sáng tạo của đội ngũ ở Xerox PARC kết hợp với thiên tài thiết kế và marketing của Jobs sẽ biến GUI trở thành bước nhảy vọt vĩ đại tiếp theo trong công cuộc hỗ trợ sự tương tác giữa máy móc và con người mà Bush, Licklider và Engelbart hình dung.

Vào tháng 12 năm 1979, Jobs và nhóm của mình đã có hai chuyến thăm quan trọng tới Xeror PARC. Jef Raskin, một kỹ sư của Apple đang có nhiệm vụ thiết kế một chiếc máy vi tính thân thiện với người dùng (chính là chiếc Macintosh sau này), đã được trông thấy những công việc mà Xerox đang làm, nên anh muốn thuyết phục Jobs xem xét. Vấn đề là Jobs cho rằng Raskin là một kẻ khó chịu – thuật ngữ mà Jobs dành để nói về Raskin là “một kẻ đầu đất vô tích sự” – nhưng cuối cùng Jobs cũng thực hiện chuyến đi này. Anh đã vạch ra một thỏa thuận với Xerox, theo đó người của Apple được nghiên cứu về công nghệ này và đổi lại, Xerox được đầu tư một triệu đô-la vào Apple.

Dĩ nhiên, Jobs không phải người bên ngoài đầu tiên được chứng kiến những gì Xerox PARC đang thực hiện. Các nhà nghiên cứu ở đây đã tổ chức hàng trăm buổi trình diễn cho khách tham quan, và họ cũng đã phân phối hơn 1.000 chiếc Xerox Altos, chiếc máy vi tính đắt đỏ được phát triển bởi Lampson, Thacker và Kay, sử dụng giao diện đồ họa người dùng và các phát minh khác của PARC. Nhưng Jobs là người đầu tiên mê mải với ý tưởng đưa những sáng kiến về giao diện của PARC vào một chiếc máy vi tính cá nhân đơn giản, giá thành thấp. Một lần nữa, phát minh vĩ đại nhất không đến từ người tạo ra sự đột phá mà đến từ người biết vận dụng nó một cách hữu ích.

Trong chuyến thăm đầu tiên của Jobs, các kỹ sư của Xerox PARC dưới sự quản lý của Adele Goldberg, người cùng làm việc với Alan Kay, đã tỏ ra dè dặt. Họ không để Jobs biết quá nhiều. Điều đó đã khiến Jobs nổi giận, anh liên tục la hét rằng: “Hãy dừng ngay trò ngớ ngẩn này lại!” – và cuối cùng, trước mệnh lệnh của ban lãnh đạo cấp cao của Xerox, anh cũng được xem đầy đủ. Jobs đi quanh phòng trong khi các kỹ sư của anh nghiên cứu từng điểm ảnh trên màn hình. “Các vị đang ngồi trên một mỏ vàng đấy,” Jobs hét to, “thật không thể tin Xerox lại không tận dụng điều này!”

Có ba phát minh lớn được giới thiệu. Thứ nhất là Ethernet, công nghệ do Bob Metcalfe phát triển nhằm tạo ra các mạng nội bộ. Cũng giống như Gates và những nhà tiên phong khác trong lĩnh vực máy vi tính cá nhân, Jobs không quá hứng thú với công nghệ mạng. Anh tập trung vào khả năng trao quyền cho các cá nhân của máy vi tính hơn là vào việc hỗ trợ sự hợp tác. Phát minh thứ hai là cơ chế lập trình hướng đối tượng. Tuy nhiên, một lần nữa, điều này cũng không thực sự thu hút Jobs, vì vốn anh không phải là lập trình viên.

Điều khiến Jobs chú ý là giao diện đồ họa người dùng với một bộ ẩn dụ máy vi tính để bàn trực quan và thân thiện hệt như một sân chơi gần nhà. Nó có những biểu tượng dễ thương dành cho các tài liệu, thư mục và những thứ khác mà chúng ta có thể cần đến, trong đó có thùng rác, và một con trỏ chuột giúp cho việc nhấp vào các biểu tượng đó trở nên dễ dàng hơn. Jobs không chỉ thích chúng mà anh còn có thể mường tượng ra nhiều cách để hoàn thiện nó, khiến nó trở nên đơn giản và tinh tế hơn.

Sở dĩ GUI hoạt động được là nhờ công nghệ ảnh nhị phân bitmap [159], một phát minh nữa do Xerox PARC khởi xướng. Cho tới lúc đó, hầu hết các máy vi tính (bao gồm cả Apple II) cũng chỉ có thể tạo ra những con số hay chữ cái trên màn hình, thường là màu xanh lá xấu xí trên nền đen. Ảnh bitmap cho phép máy vi tính kiểm soát mọi điểm ảnh trên màn hình, có thể bật hoặc tắt và có tất cả các màu. Điều này cho phép màn hình hiển thị trở nên sống động hơn với những phông chữ, thiết kế, hình ảnh đồ họa khác nhau. Với độ nhạy cảm về thiết kế, sự quen thuộc với các phông chữ, và cả niềm đam mê thư pháp, Jobs đã sững sờ trước công nghệ ảnh bitmap này. “Cứ như là một bức màn đang được vén lên trước mắt tôi vậy,” Jobs hồi tưởng lại, “tôi có thể nhìn thấy tương lai đã được định trước của ngành tin học.”

Khi Jobs lái xe về văn phòng của Apple ở Cupertino, với tốc độ có lẽ còn khiến cả Gates phải kinh hoàng, anh nói với đồng nghiệp Bill Atkinson rằng họ cần phải sử dụng và hoàn thiện giao diện đồ họa của Xerox cho các máy vi tính tương lai của Apple, chẳng hạn như mẫu máy Lisa và Macintosh sắp tới. “Chính là nó,” anh reo lên, “chúng ta phải làm thôi!” Đó là một cách đưa máy vi tính đến với mọi người.

Sau này, khi bị chất vấn về việc ăn cắp các ý tưởng của Xerox, Jobs đã trích dẫn lại lời của danh họa Picasso rằng: “Người nghệ sĩ giỏi thì sao chép, nhưng người nghệ sĩ vĩ đại thì phải biết ăn cắp.” Ông còn nói thêm: “Và chúng tôi chưa bao giờ xấu hổ về việc ăn cắp những ý tưởng vĩ đại cả.” Jobs cũng đắc chí nói rằng Xerox đã không biết tận dụng ý tưởng của mình. “Họ chỉ là những kẻ chỉ quanh quẩn nghĩ đến máy photocopy và không hề có một chút khái niệm nào về khả năng của một chiếc máy vi tính. Họ đã không chạm được tới thắng lợi vĩ đại nhất trong ngành công nghiệp máy vi tính. Lẽ ra Xerox đã có thể nắm trọn trong tay toàn bộ ngành công nghiệp này.”

Thực ra, cả hai lời giải thích trên đều chưa công bằng với Jobs và Apple. Như trường hợp của John Atanasoff, nhà phát minh bị lãng quên ở Iowa, đã chỉ ra: ý tưởng mới chỉ là bước đầu tiên. Điều thực sự quan trọng nằm ở khâu thực hiện. Jobs và đội ngũ của mình đã lấy các ý tưởng của Xerox, hoàn thiện chúng, thực hiện chúng và quảng bá chúng. Xerox đã có cơ hội làm điều đó, và thực tế là cũng thử làm điều đó với chiếc máy gọi là Xerox Star. Tuy nhiên, nó vừa nặng nề, vừa cồng kềnh lại đắt đỏ, và nó thất bại thảm hại. Đội ngũ của Apple đã đơn giản hóa con chuột để nó chỉ có một nút nhấn, tạo cho nó khả năng di chuyển các tập tin và các mục khác trên màn hình, cho phép thay đổi dữ liệu chỉ bằng cách kéo tập tin rồi “thả” nó vào một thư mục, tạo ra các trình đơn kéo xuống, và cho phép tạo ra ảo ảnh thể hiện hình ảnh các tài liệu xếp chồng lên nhau.

Apple ra mắt Lisa vào tháng 1 năm 1983 và tiếp theo là thành công rực rỡ của chiếc Macintosh một năm sau đó. Khi ra mắt chiếc Mac [160], Jobs tin rằng nó sẽ thúc đẩy cuộc cách mạng máy vi tính cá nhân trên cương vị một cỗ máy đủ thân thiện để người ta có thể mang về nhà. Trong lễ ra mắt sản phẩm đầy ấn tượng, Jobs đi trên sân khấu tối đến chỗ đặt một chiếc túi vải rồi kéo chiếc máy vi tính mới ra. Nhạc phim Chariots of Fire nổi lên, và chữ MACINTOSH chạy ngang màn hình, sau đó dòng chữ nhỏ bên dưới, insanely great! (tuyệt hảo!) xuất hiện trong lối chữ thảo thanh tao, như thể nó đang được chậm rãi viết bằng tay vậy. Khán phòng sững sờ lặng im một lúc, rồi sau đó một vài người hổn hển thở. Đa số họ đều chưa từng thấy, hay thậm chí là tưởng tượng, một thứ ấn tượng như vậy. Tiếp theo, màn hình liên tiếp hiển thị những phông chữ khác nhau, những tài liệu, biểu đồ, hình vẽ, trò chơi cờ vua, bảng tính và hình ảnh minh họa Jobs với ô thoại phía trên đầu chứa hình ảnh một chiếc Macintosh. Tràng vỗ tay của khán giả kéo dài tới năm phút.

Sự kiện ra mắt Macintosh được đi kèm với một đoạn phim quảng cáo đáng nhớ mang tên 1984, trong đó một nhân vật nữ chính trẻ tuổi chạy đằng trước một toán cảnh sát đông đảo và ném chiếc búa tạ vào màn hình, phá hủy kẻ độc tài đang diễn thuyết. Đó chính là hình ảnh kẻ nổi loạn Jobs đang chống lại IBM. Vậy là lúc này, Apple đã có một ưu thế: họ đã hoàn thiện và đưa vào sử dụng một giao diện đồ họa người dùng, bước nhảy vọt vĩ đại mới trong sự tương tác giữa con người với máy móc; trong khi đó, IBM và nhà cung cấp hệ điều hành Microsoft của họ vẫn còn đang sử dụng những dòng lệnh cộc lốc với những dấu nhắc lệnh c:\>.

Windows

Đầu thập kỷ 1980, trước khi Macintosh ra mắt, Microsoft có mối quan hệ khá tốt đẹp với Apple. Thực ra, vào ngày IBM ra mắt chiếc PC vào tháng 8 năm 1981, Gates đang tới thăm Jobs ở Apple, vốn là một chuyện xảy ra khá thường xuyên vì lúc này, phần lớn lợi nhuận của Microsoft đến từ việc viết phần mềm cho máy Apple II. Và trong mối quan hệ này, Gates vẫn là người thuộc chiếu dưới. Năm 1981, doanh thu của Apple là 334 triệu đô-la, trong khi Microsoft chỉ vẻn vẹn 15 triệu đô-la. Jobs muốn Microsoft viết các phiên bản mới của phần mềm của họ cho máy Macintosh, khi đó vẫn còn là một dự án phát triển bí mật. Vì thế, trong cuộc gặp diễn ra vào tháng 8 năm 1981, Jobs đã chia sẻ về các kế hoạch của mình cho Gates biết.

Gates cho rằng ý tưởng về Macintosh – một chiếc máy vi tính không đắt đỏ với một giao diện đồ họa người dùng đơn giản – là “siêu tuyệt vời” (từ dùng của Gates). Gates rất sẵn lòng, mà thực ra là háo hức, muốn để Microsoft viết phần mềm ứng dụng cho nó. Vì thế anh đã mời Jobs tới Seattle. Trong buổi thuyết trình trước các kỹ sư của Microsoft, sức lôi cuốn của Jobs được thăng hoa tới mức cao nhất. Vận dụng những hình ảnh ẩn dụ, Jobs trình bày tầm nhìn của mình về một nhà máy ở California, lấy cát (nguyên liệu thô của silicon) và cho ra một “ứng dụng thông tin” đơn giản đến mức không cần cẩm nang hướng dẫn sử dụng. Phía Microsoft đặt tên mã cho dự án là “Sand” (cát). Thậm chí họ còn dịch ngược từ trên, biến nó thành cụm viết tắt của cụm từ Steve’s Amazing New Device (Thiết bị mới kỳ diệu của Steve).

Jobs có một mối lo ngại lớn về Microsoft: anh không muốn họ sao chép giao diện đồ họa người dùng. Với linh cảm về điều gì có thể khiến khách hàng hài lòng, anh biết rằng bộ ẩn dụ máy vi tính để bàn với phương thức điều hướng dạng trỏ-và-nhấp, nếu được làm đúng, sẽ là bước đột phá, biến chiếc máy vi tính trở thành vật dụng cá nhân. Trong một hội nghị thiết kế ở Aspen năm 1981, anh đã trình bày hết sức thuyết phục về việc các màn hình máy vi tính sẽ trở nên thân thiện với người dùng ra sao khi sử dụng “các hình ảnh ẩn dụ mà mọi người vốn đã hiểu rõ, chẳng hạn như hình ảnh ẩn dụ về các tài liệu trên một chiếc máy vi tính để bàn.” Việc Jobs lo ngại rằng Gates sẽ ăn cắp ý tưởng này phần nào khá kỳ khôi, vì chính bản thân Jobs cũng đã ăn cắp nó từ Xerox. Nhưng theo cách nghĩ của Jobs, anh đã có một thỏa thuận thương mại đối với quyền sử dụng ý tưởng của Xerox. Thêm vào đó, anh còn hoàn thiện nó nữa.

Vì vậy, Jobs đưa vào trong hợp đồng với Microsoft một điều khoản mà anh tin rằng sẽ cho Apple ít nhất một năm dẫn trước trong việc sử dụng giao diện đồ họa người dùng. Điều khoản này ràng buộc rằng trong một khoảng thời gian nhất định, Microsoft không được sản xuất cho bất kỳ công ty nào khác ngoại trừ Apple bất kỳ phần mềm nào “sử dụng chuột hay bi lăn”, hay có giao diện đồ họa trỏ-và-nhấp. Tuy nhiên lần này, chính trường biến dạng thực tế của Jobs đã đánh bại anh. Vì quá tập trung vào kế hoạch cho ra mắt Macintosh trên thị trường vào cuối năm 1982 nên anh đi đến chỗ đinh ninh rằng điều đó sẽ xảy ra. Vì vậy, anh đồng ý kéo dài điều khoản ràng buộc này đến cuối năm 1983. Nhưng rốt cuộc, phải đến tháng 1 năm 1984, Macintosh mới hoàn thiện.

Vào tháng 9 năm 1981, Microsoft bắt đầu bí mật thiết kế một hệ điều hành mới nhằm thay thế DOS, dựa trên bộ ẩn dụ máy vi tính để bàn với các cửa sổ, biểu tượng, chuột và con trỏ. Họ chiêu mộ Charles Simonyi của Xerox, một kỹ sư phần mềm từng làm việc cùng Alan Kay để xây dựng các chương trình đồ họa cho Xerox Alto. Tháng 2 năm 1982, tạp chí Seattle Times đăng một bức ảnh chụp Gates và Allen mà các độc giả tinh tường có thể nhìn thấy ở phần hậu cảnh là một chiếc bảng trắng với những nét vẽ ngoằn ngoèo, phía trên là dòng chữ Window manager [161]. Mùa hè năm đó, ngay khi nhận ra rằng thời điểm công bố Macintosh sẽ phải lùi lại cho tới ít nhất là cuối năm 1983, Jobs trở nên hết sức hoang mang. Nỗi sợ hãi của anh càng được đẩy lên cao khi cộng sự thân cận Andy Hertzfeld, một kỹ sư trong nhóm Macintosh, cho biết rằng đầu mối liên lạc với anh ở Microsoft bắt đầu đặt những câu hỏi chi tiết về việc thực hiện ảnh bitmap. “Tôi nói với Steve rằng tôi nghi ngờ Microsoft đang định nhái lại Mac”, Hertzfeld kể lại.

Nỗi sợ hãi của Jobs đã trở thành sự thực vào tháng 11 năm 1983, hai tháng trước khi Macintosh ra mắt, khi Gates tổ chức một cuộc họp báo ở khách sạn Palace, Manhattan. Anh thông báo rằng Microsoft đang phát triển một hệ điều hành mới, chạy được trên IBM PC và các dòng máy vi tính tương tự, có giao diện đồ họa người dùng. Hệ điều hành này sẽ có tên là Windows.

Gates đã không làm gì vượt ra ngoài quyền hạn của mình. Thỏa thuận ràng buộc với Apple hết hạn vào cuối năm 1983, và Microsoft cũng không có kế hoạch bán Windows trước thời điểm đó. (Rốt cuộc, Microsoft đã mất rất nhiều thời gian dù chỉ để hoàn thiện phiên bản 1.0 dở tệ, và phải đến tận tháng 11 năm 1985 Windows mới được phân phối đến tay người tiêu dùng.) Dẫu vậy, Jobs vẫn rất giận dữ, mà khi Jobs nổi giận thì chẳng có gì hay ho cả. “Gọi Gates đến đây ngay!” Jobs ra lệnh cho một quản lý. Gates đến, nhưng anh không sợ. “Ông ấy gọi tôi đến để trút giận lên đầu tôi,” Gates kể lại, “Tôi tới Cupertino như thể một thần dân bị vua triệu hồi vậy. Tôi thông báo rằng: ‘Chúng tôi đang làm Windows,’ và rằng ‘Chúng tôi đang đặt cược cả công ty của mình vào giao diện đồ họa.’“ Trong căn phòng hội thảo chật cứng những nhân viên của Apple đang sợ sệt, Jobs hét lên: “Cậu đang ăn cướp của chúng tôi! Tôi đã tin cậu, và bây giờ cậu ăn cắp của chúng tôi!” Gates có thói quen hễ khi nào Jobs càng nổi giận thì anh càng bình tĩnh. Kết thúc trận lôi đình của Jobs, Gates nhìn anh và với chất giọng âm lượng cao của mình, đưa ra câu trả lời mà sau này sẽ trở thành một lời đáp trả kinh điển: “Nào Steve, tôi nghĩ không chỉ có một cách để nhìn nhận vấn đề này đâu. Tôi cho rằng câu chuyện thiên về hướng cả hai chúng ta đều có một gã hàng xóm giàu có tên là Xerox và tôi đột nhập vào nhà hắn để lấy trộm chiếc ti-vi, để rồi phát hiện ra rằng cậu đã lấy trộm nó trước cả tôi.”

Jobs giữ thái độ phẫn nộ này tới suốt đời. Gần 30 năm sau, không lâu trước khi qua đời, Jobs nói: “Họ ăn cắp của chúng tôi, vì Gates không biết xấu hổ.” Khi chuyện đến tai Gates, ông trả lời: “Nếu Jobs tin vào điều đó, thì hẳn là ông ấy lại đi vào một trong những trường biến dạng thực tế của mình rồi.”

Tòa án đưa ra phán quyết rằng Gates đúng về mặt pháp lý. Trong quyết định của một tòa án liên bang có viết “GUI được phát triển để trở thành một phương thức thân thiện, cho phép người bình thường cũng có thể tương tác với máy vi tính Apple… dựa trên một bộ ẩn dụ máy vi tính để bàn với các cửa sổ, biểu tượng, menu kéo xuống, có thể được thao tác trên màn hình với một dụng cụ cầm tay gọi là con chuột.” Nhưng tòa vẫn phán quyết: “Apple không thể nhận được sự bảo hộ tương tự như sự bảo hộ đối với bằng sáng chế cho ý tưởng về giao diện đồ họa người dùng, hay ý tưởng về bộ ẩn dụ máy vi tính để bàn.” Việc bảo hộ các sáng kiến về thiết kế và tính năng [162] gần như là một điều bất khả thi.

Nhưng dẫu Gates có hợp pháp đến đâu, Jobs vẫn có quyền giận dữ. Apple đã có phương pháp thực hiện sáng tạo hơn, giàu trí tưởng tượng hơn, tài tình hơn và có thiết kế xuất sắc hơn. Giao diện đồ họa của Microsoft kém chất lượng, với những cửa sổ xếp nghiêng nhưng không thể chồng lên nhau, và các hình ảnh đồ họa thì trông như thể được thiết kế bởi những người say rượu trong một căn hầm nào đó ở Siberia.

Dẫu vậy, cuối cùng Windows đã bất chấp tất cả để vươn lên ngôi vị thống trị thị trường, lý do không phải vì thiết kế của nó xuất sắc hơn mà là vì mô hình kinh doanh của nó tốt hơn. Thị phần của Microsoft Windows đạt mức 80% vào năm 1990 và tiếp tục tăng lên tới 95% vào năm 2000. Đối với Jobs, sự thành công của Windows thể hiện cho một khiếm khuyết về mặt thẩm mỹ trong sự vận hành của vũ trụ. Sau này ông nói: “Vấn đề duy nhất của Microsoft là họ không có khẩu vị riêng, họ hoàn toàn không có khẩu vị riêng. Tôi không nói chuyện cỏn con. Tôi nói đến chuyện lớn kia, theo nghĩa rằng họ không tự nghĩ ra những ý tưởng gốc nào và họ cũng không đưa được văn hóa của mình vào sản phẩm.”

Lý do chính giải thích cho thành công của Microsoft là họ đã sẵn sàng và hào hứng cấp phép quyền sử dụng hệ điều hành của mình cho bất kỳ nhà sản xuất phần cứng nào. Ngược lại, Apple theo đuổi phương án tích hợp. Phần mềm của họ chỉ hoạt động với phần cứng của họ và ngược lại. Jobs là một nghệ sỹ, một người theo chủ nghĩa hoàn hảo và một kẻ cuồng kiểm soát, ông muốn kiểm soát trải nghiệm người dùng từ đầu đến cuối. Cách tiếp cận của Apple mang đến các sản phẩm đẹp hơn, biên lợi nhuận cao hơn và trải nghiệm người dùng hoàn hảo hơn. Cách tiếp cận của Microsoft dẫn đến một sự lựa chọn rộng rãi hơn về phần cứng, và hóa ra nó cũng là cách tốt hơn để chiếm lĩnh thị phần.

Richard Stallman, Linus Torvalds và trào lưu phần mềm tự do và mã nguồn mở

Cuối năm 1983, khi Jobs đang chuẩn bị công bố chiếc Macintosh và Gates thông báo về Windows, một hướng phát triển phần mềm mới xuất hiện và được thúc đẩy bởi Richard Stallman, một thành viên kỳ cựu của Phòng Thí nghiệm Trí tuệ Nhân tạo của MIT và câu lạc bộ TMRC, một tin tặc quý trọng sự thật với dáng vẻ của một nhà tiên tri trong Kinh Cựu ước. Với lòng nhiệt thành còn lớn hơn cả những thành viên của câu lạc bộ Homebrew từng sao chép những đoạn băng chứa Microsoft BASIC, Stallman tin rằng phần mềm cần phải được tạo ra bằng sự cộng tác và chia sẻ miễn phí.

Thoạt nghe, dường như đây không phải là cách làm có thể khuyến khích người ta phát triển những phần mềm tốt. Niềm vui của việc chia sẻ miễn phí không phải là thứ đã tạo ra động lực cho Gates, Jobs và Bricklin. Thế nhưng, vì tinh thần hợp tác và cộng đồng đã thấm nhuần vào nền văn hóa tin tặc nên cuối cùng, các trào lưu phần mềm tự do và mã nguồn mở vẫn trở thành những lực lượng mạnh mẽ.

Richard Stallman sinh năm 1953; khi còn là một cậu bé lớn lên ở Manhattan, cậu đã rất hào hứng với môn toán và còn tự học môn giải tích. Sau này, Stallman nói: “Toán học có những điểm chung với thi ca. Nó được tạo nên từ những mối quan hệ đúng đắn, những bước đi đúng đắn, những suy diễn đúng đắn, vì thế mà nó có được vẻ đẹp ấy.” Không giống như những bạn cùng lớp khác, Stallman hoàn toàn không thích việc ganh đua. Khi giáo viên trung học chia học sinh thành hai nhóm để tổ chức một cuộc thi giải đố, Stallman đã từ chối trả lời mọi câu hỏi. “Tôi đã phản đối quan điểm cạnh tranh,” ông giải thích, “tôi thấy mình đang bị lợi dụng và những người bạn cùng lớp của tôi đang trở thành con mồi cho sự lợi dụng đó. Họ đều muốn đánh bại người khác, những người cũng là bạn bè của họ như bất kỳ ai cùng nhóm với họ. Họ yêu cầu tôi trả lời các câu hỏi để chúng tôi có thể giành phần thắng. Nhưng tôi từ chối vì tôi không thiên vị nhóm nào hơn nhóm nào cả.”

Stallman tới học ở Harvard và trở thành huyền thoại ngay cả trong giới phù thủy toán học. Vào các mùa hè cũng như sau khi tốt nghiệp, ông làm việc tại Phòng Thí nghiệm Trí tuệ nhân tạo MIT ở Cambridge cách đó hai trạm dừng tàu. Ở đó, ông đã góp phần hoàn thiện mô hình đường ray tàu hỏa ở TMRC, viết chương trình mô phỏng máy PDP-11 để chạy trên máy PDP-10, và dần dần phát triển tình yêu đối với nền văn hóa cộng tác. Ông kể lại: “Tôi đã trở thành một phần trong một cộng đồng chia sẻ phần mềm đã tồn tại nhiều năm. Hễ khi nào có ai đó đến từ một trường đại học khác hay một công ty muốn chuyển và sử dụng một chương trình, chúng tôi đều vui lòng để họ làm. Lúc nào bạn cũng có thể hỏi xin mã nguồn.”

Giống như một tin tặc chân chính, Stallman thách thức những giới hạn và những cánh cửa khóa kín. Cùng với các bạn bè sinh viên, ông đã nghĩ ra nhiều cách để đột nhập vào các văn phòng nơi đặt các thiết bị đầu cuối bị cấm sử dụng; chuyên môn của ông là trèo vào qua lớp trần giả, gỡ một ô ra, thả xuống một đoạn ruột băng từ ở đầu gắn các mẩu băng dính để mở tay nắm cửa. Khi MIT triển khai một cơ sở dữ liệu người dùng và hệ thống mật khẩu mạnh, Stallman phản đối và kêu gọi bạn bè cùng làm như mình: “Tôi nghĩ điều đó thật kinh tởm, vì thế tôi đã không điền vào mẫu đơn và tạo ra một mật khẩu rỗng.” Có lần, một giảng viên đã cảnh báo rằng nhà trường sẽ xóa thư mục các tập tin của Stallman. Đáp lại, ông nói đó sẽ là điều tai hại cho tất cả mọi người, bởi lẽ trong thư mục của ông có chứa một số tài nguyên của hệ thống.

Không may cho Stallman, tình đồng đội giữa các tin tặc ở MIT bắt đầu bị chia rẽ vào đầu những năm 1980. Phòng thí nghiệm mua một chiếc máy vi tính phân bổ thời gian mới với một hệ phần mềm độc quyền. “Bạn phải ký một bản thỏa thuận không tiết lộ dù chỉ để lấy một bản sao tập tin thực thi [163],” Stallman than thở, “điều này có nghĩa là khi sử dụng máy vi tính, bước đầu tiên là bạn phải hứa không được giúp đỡ hàng xóm. Một cộng đồng hợp tác đã bị cấm đoán.”

Thay vì chống lại, nhiều đồng nghiệp của ông đã đầu quân cho các công ty phần mềm hoạt động vì lợi nhuận, trong đó có cả một công ty tách ra từ phòng thí nghiệm của MIT tên là Symbolics, nơi họ đã kiếm được rất nhiều tiền từ việc không chia sẻ miễn phí phần mềm. Stallman, đôi khi ngủ lại ở văn phòng và trông như thể là khách quen của các cửa hàng giá rẻ, không đồng tình với động cơ kiếm tiền của họ và coi họ là những kẻ phản bội. Giọt nước tràn ly xuất hiện khi Xerox tặng một chiếc máy in laser cho trường, và Stallman muốn thực hiện cải tiến cho phần mềm sao cho nó có thể cảnh báo người dùng trên mạng lưới mỗi khi máy in bị kẹt. Ông hỏi xin một người mã nguồn của chiếc máy in, nhưng người này từ chối, nói rằng đã ký thỏa thuận không tiết lộ. Stallman vô cùng tức giận.

Tất cả những sự kiện này đã biến Stallman càng trở nên giống như nhà tiên tri Jeremiah [164], kiên trì chống lại sự sùng bái thần tượng và thuyết giáo với một cuốn sách ghi những lời tiên tri yếm thế. Ông thừa nhận: “Đúng là có người so sánh tôi với một nhà tiên tri trong Kinh Cựu ước, với lý do là các nhà tiên triKinh Cựu ước hay nói rằng một số thông lệ xã hội là sai trái. Họ không chịu nhượng bộ trong các vấn đề về đạo đức.” Stallman cũng vậy. Theo ông, phần mềm độc quyền là “quỷ dữ” bởi vì “chúng đòi hỏi mọi người không được chia sẻ và điều đó khiến cho xã hội trở nên tồi tệ.” Để chống lại và đánh bại các thế lực quỷ dữ, ông quyết định tạo ra các phần mềm tự do.

Do đó, năm 1982, vì khinh ghét thái độ ích kỷ dường như đang thâm nhập vào xã hội trong kỷ nguyên Reagan [165] và giới doanh nhân phần mềm, Stallman bắt tay vào thực hiện sứ mệnh tạo ra một hệ điều hành miễn phí và hoàn toàn không độc quyền. Để ngăn chặn việc MIT tuyên bố quyền sở hữu nó, ông đã nghỉ việc ở Phòng Thí nghiệm Trí tuệ Nhân tạo, nhưng người giám sát tốt bụng vẫn cho phép ông giữ chìa khóa và tiếp tục sử dụng tài nguyên của phòng thí nghiệm. Hệ điều hành mà Stallman quyết định phát triển sẽ tương tự và tương thích với UNIX, trước đó được phát triển bởi Bell Labs vào năm 1971 và trở thành tiêu chuẩn đối với các trường đại học và giới tin tặc. Với khiếu hài hước tinh tế của một lập trình viên, ông đặt tên cho hệ điều hành mới của mình là GNU, là cụm viết tắt chữ cái đầu của GNU’s Not UNIX (GNU không phải là UNIX).

Trong ấn bản tháng 3 năm 1985 của tờ Dr. Dobb’s Journal, một ấn phẩm bắt nguồn từ câu lạc bộ Homebrew và tờ People’s Computer Company, Stallman đăng tải một bản tuyên ngôn: “Tôi cho rằng Nguyên tắc Vàng yêu cầu rằng nếu tôi thích một chương trình nào đó, tôi phải chia sẻ nó với những người cũng yêu thích nó. Những người kinh doanh phần mềm muốn chia rẽ người dùng và chế ngự họ, khiến mỗi người phải đồng ý không chia sẻ với người khác. Tôi từ chối việc phá vỡ tinh thần đoàn kết với những người dùng khác theo cách này… Sau khi GNU được viết ra, mọi người đều có thể nhận được một phần mềm hệ thống tốt hoàn toàn miễn phí, giống như không khí để thở vậy.”

Tên phong trào phần mềm tự do của Stallman dễ gây hiểu nhầm [166]. Mục tiêu của nó không phải là kêu gọi rằng mọi phần mềm đều phải được cung cấp miễn phí, mà là kêu gọi giải phóng phần mềm khỏi bất kỳ hạn chế nào. Ông liên tục phải giải thích rằng: “Khi chúng tôi nói phần mềm free, ý chúng tôi là nó sẽ tôn trọng những quyền tự do cơ bản của người dùng: tự do vận hành nó, tự do tìm hiểu và thay đổi nó, và tự do phân phối các bản sao có hoặc không có sửa đổi. Vấn đề ở đây là sự tự do, không phải giá cả, hãy nghĩ đến ‘tự do ngôn luận’, chứ không phải là ‘bia miễn phí’.”

Với Stallman, phong trào phần mềm tự do không đơn thuần là cách để phát triển những phần mềm được tạo ra bởi cộng đồng; nó còn là một tôn chỉ đạo đức để tạo ra một xã hội tốt đẹp. Theo ông, các nguyên tắc mà nó thúc đẩy “đóng vai trò thiết yếu không chỉ vì lợi ích của cá nhân người dùng và còn vì cả xã hội nói chung, bởi chúng thúc đẩy sự đoàn kết trong xã hội – tức là chia sẻ và hợp tác.”

Để tỏ lòng trân trọng và chứng nhận niềm tin này, Stallman đã nghĩ ra Giấy phép Công cộng GNU và cả khái niệm “copyleft” do một người bạn gợi ý, vốn là mặt bên kia của khái niệm bản quyền (copyright [167]). Theo Stallman, bản chất của Giấy phép Công cộng là nó “cho phép mọi người được chạy chương trình, sao chép chương trình, hiệu chỉnh chương trình, và phân phối các phiên bản hiệu chỉnh – nhưng không được phép đưa ra các giới hạn riêng của mình.”

Stallman đã tự tay viết những thành phần đầu tiên của hệ điều hành GNU, bao gồm trình soạn thảo, trình biên dịch và nhiều công cụ khác. Nhưng có một vấn đề mà lúc này đang ngày càng trở nên rõ ràng hơn: còn thiếu một yếu tố chủ chốt nữa. “Còn nhân hệ điều hành thì sao?” Tạp chí Byte đặt câu hỏi trong một bài phỏng vấn năm 1986. Là module trung tâm của một hệ điều hành, nhân hệ điều hành làm nhiệm vụ quản lý những yêu cầu từ các chương trình phần mềm và biến chúng thành các câu lệnh cho bộ xử lý trung tâm của máy vi tính. “Tôi sẽ hoàn thiện trình biên dịch rồi chuyển sang làm phần nhân,” Stallman trả lời, “tôi cũng sẽ phải viết lại hệ thống tập tin.”

Vì nhiều lý do, Stallman nhận thấy khó có thể hoàn thành phần nhân cho GNU. Sau đó, đến năm 1991, phần nhân này đã được phổ biến, nhưng không phải do Stallman hay Tổ chức Phần mềm Tự do của ông, mà do một nhân vật ít ai ngờ tới nhất: một sinh viên 21 tuổi người Phần Lan nói tiếng Thụy Điển với vẻ mặt trẻ con, miệng nhiều răng to, đang theo học tại Đại học Helsinki tên là Linus Torvalds.

Cha của Torvalds là một đảng viên Đảng Cộng sản kiêm phóng viên truyền hình, mẹ từng là một sinh viên cấp tiến và sau đó là một phóng viên báo in. Tuy có xuất thân như vậy, nhưng khi là sinh viên ở Helsinki [168], Torvalds lại dần quan tâm đến công nghệ nhiều hơn chính trị. Torvalds tự mô tả mình là người “giỏi toán, giỏi vật lý, không hề có kỹ năng xã hội, và điều này xảy ra trước khi người ta coi những kỳ nhân mọt sách cũng là điều hay ho.” Nhất là ở Phần Lan.

Khi Torvalds lên 11 tuổi, ông cậu, một giảng viên chuyên ngành thống kê, đã cho cậu một chiếc Commodore Vic 20, một trong những chiếc máy vi tính cá nhân đầu tiên. Với BASIC, Torvalds bắt đầu viết những chương trình đầu tiên của mình, trong đó có một chương trình để mua vui cho cô em gái của cậu bằng cách liên tục hiển thị câu “Sara là nhất.” Torvalds nói: “Một trong những thú vui lớn nhất là hiểu rằng máy vi tính cũng giống như toán học: bạn phải tự tạo ra một thế giới cho riêng mình với những quy luật riêng của nó.”

Mặc cho cha luôn thúc giục học chơi bóng rổ, Torvalds vẫn tập trung vào học cách viết các chương trình bằng ngôn ngữ máy, tức những câu lệnh dạng số được thực thi trực tiếp bởi bộ xử lý trung tâm của máy vi tính, và thỏa sức đắm mình trong niềm vui của sự “gần gũi với một cỗ máy”. Sau này, anh cảm thấy mình may mắn vì đã học hợp ngữ và mã máy trên một thiết bị rất cơ bản: “Những cỗ máy vi tính ít phức tạp sẽ thực sự tốt hơn cho trẻ nhỏ, để cho những đứa trẻ kém về mặt giao tiếp như tôi có thể mày mò tìm hiểu cơ cấu bên trong.” Giống như động cơ xe hơi, càng về sau này máy vi tính càng khó tháo ra và lắp ráp lại hơn.

Sau khi vào học ở Đại học Helsinki năm 1988 và phục vụ một năm trong quân đội Phần Lan, Torvalds mua một máy nhái IBM với chip Intel 386. Không cảm thấy ấn tượng với hệ điều hành MS-DOS cài sẵn, thứ mà Gates và công ty của ông đã làm, Torvalds quyết định sẽ cài đặt UNIX, hệ điều hành mà anh đã được làm quen và trở nên yêu thích ở các máy chủ của trường đại học. Nhưng một phiên bản UNIX trị giá tới 5.000 đô-la và không được cấu hình để chạy trên máy vi tính cá nhân. Torvalds quyết tâm khắc phục điều đó.

Anh đọc một cuốn sách về hệ điều hành của một Giáo sư khoa học máy vi tính ở Hà Lan, Andrew Tanenbaum, người đã phát triển MINIX, một bản sao cỡ nhỏ của UNIX để phục vụ mục đích giảng dạy. Torvalds quyết tâm thay thế MS-DOS bằng MINIX trên chiếc PC của mình nên đã bỏ ra 169 đô-la tiền phí mua giấy phép (“Tôi nghĩ khoản tiền đó thật quá đáng”) và cài đặt 16 đĩa mềm của nó, sau đó anh bắt đầu bổ sung và cải tiến MINIX theo ý mình.

Bổ sung đầu tiên của Torvalds là một chương trình giả lập thiết bị đầu cuối để anh có thể kết nối với máy chủ ở trường đại học. Torvalds viết chương trình này từ đầu bằng hợp ngữ “ở cấp độ phần cứng”, do đó anh không cần phụ thuộc vào MINIX. Tới cuối mùa xuân năm 1991, Torvalds vẫn gò lưng ngồi viết mã khi mặt trời bắt đầu ló rạng sau giấc ngủ đông dài. Mọi người đều tham gia các hoạt động ngoài trời, trừ Torvalds. “Tôi dành phần lớn thời gian, trong bộ đồ ngủ, lúi húi cạnh cái máy vi tính mới không có vẻ gì hấp dẫn, chiếc rèm cửa sổ màu đen che tôi khỏi ánh mặt trời.”

Sau khi hoàn thành chương trình giả lập thiết bị đầu cuối thô sơ, Torvalds muốn tải về và tải lên mạng các tập tin, vì thế anh tiếp tục thiết kế bộ điều hợp ổ đĩa và bộ điều hợp hệ thống tập tin. “Khi thực hiện việc này, rõ ràng dự án của tôi đang trên đường trở thành một hệ điều hành”, Torvalds kể lại. Nói cách khác, anh đang xây dựng một gói phần mềm có thể đảm nhiệm chức năng nhân cho một hệ điều hành tương tự như UNIX. “Có lúc tôi, trong chiếc áo choàng đã sờn chỉ, miệt mài bổ sung tính năng cho chương trình giả lập thiết bị đầu cuối. Nhưng rồi tôi chợt nhận ra rằng nó đang tích lũy nhiều tính năng đến mức bản thân nó đang trong quá trình biến thân thành một hệ điều hành.” Anh đã tìm ra hàng trăm “hàm hệ thống” mà UNIX có thể thực hiện để khiến máy vi tính thực thi những thao tác cơ bản như Mở ra, Đóng lại, Đọc, Viết. Sau đó Torvalds viết các chương trình cài đặt chúng theo cách của riêng mình. Khi đó anh đang sống trong căn hộ với mẹ và thường cãi cọ với em gái Sara, vốn là người có đời sống xã hội bình thường hơn, bởi vì modem của anh làm gián đoạn đường dây điện thoại của cả nhà. “Không ai có thể gọi cho chúng tôi”, Sara phàn nàn.

Ban đầu, Torvalds định đặt tên cho phần mềm của mình là “Freax”, một sự kết hợp giữa chữ “free” (miễn phí), “freaks” (những kẻ kỳ quặc) và “UNIX”. Nhưng người điều hành cổng giao thức FTP [169] mà anh đang sử dụng không thích cái tên đó, nên Torvalds đành gọi nó là “Linux” mà theo cách phát âm của anh thì nó na ná giống cách đọc tên của anh, “lee-nucks”. “Tôi chưa bao giờ muốn sử dụng cái tên đó vì tôi cảm thấy nó hơi quá đề cao cái tôi”, Torvalds nói. Nhưng sau này anh cũng thừa nhận rằng một phần cái tôi của anh cũng thích được tán thưởng sau nhiều năm sống trong hình hài của một kẻ kỳ dị, xa lánh mọi người, và anh vui khi thấy mình hòa hợp được với cái tên này.

Đầu mùa thu năm 1991, khi mặt trời lại biến mất khỏi bầu trời Helsinki thì Torvalds mới xuất hiện cùng chương trình shell [170] cho hệ điều hành của mình, với 10.000 dòng mã.* Thay vì tìm cách bán sản phẩm của mình ra thị trường, anh đã quyết định cung cấp nó cho tất cả mọi người. Trước đó không lâu, anh đã cùng bạn tới nghe một bài giảng của Stallman, lúc này đã trở thành một nhà thuyết giáo lưu động toàn cầu, cổ vũ cho học thuyết về phần mềm tự do. Torvalds không thật sự đi theo tôn giáo hay ủng hộ lý thuyết của Stallman: “Có lẽ nó không có tác động gì nhiều đến cuộc sống của tôi lúc đó. Tôi quan tâm đến công nghệ chứ không phải là chính trị – tôi đã có đủ thứ chính trị ở nhà rồi.” Tuy vậy, anh cũng đã nhìn thấy những ưu điểm trên thực tiễn của cách tiếp cận mở. Anh cảm thấy (có lẽ qua linh cảm nhiều hơn là qua sự lựa chọn mang tính triết lý) Linux nên được chia sẻ miễn phí với hy vọng rằng những người sử dụng sẽ góp phần hoàn thiện nó.

Vào ngày 5 tháng 10 năm 1991, Torvalds đã viết một thông điệp lên trang thảo luận của MINIX với lời mở đầu: “Bạn có tiếc nuối những tháng ngày tươi đẹp của minix-1.1, khi đàn ông còn là đàn ông và còn tự viết trình điều khiển cho thiết bị của mình? Tôi đang xây dựng một phiên bản miễn phí của một chương trình giống như minix cho các máy vi tính AT-386. Dự án này cuối cùng đã bước sang một giai đoạn mà nó đã có thể sử dụng được (nhưng cũng có thể là chưa, tùy thuộc vào việc bạn muốn gì), và tôi sẵn lòng công bố mã nguồn để có thể phân phát rộng rãi hơn.”

“Tôi không phải suy nghĩ nhiều khi viết thông báo đó,” Torvalds kể lại, “tôi vẫn quen trao đổi các chương trình như vậy.” Trong thế giới máy vi tính khi đó (và cả bây giờ) có một nền văn hóa shareware <[171] rất mạnh, trong đó mọi người tự nguyện trả một vài đô-la cho người viết ra những phần mềm mà họ tải về. “Có những người gửi email cho tôi hỏi rằng tôi có muốn họ gửi khoảng 30 đô-la hay không”, Torvalds nói. Thời điểm này, các khoản vay sinh viên của anh đã lên tới 5.000 đô-la và anh vẫn đang phải trả 50 đô-la một tháng cho khoản mua máy vi tính trả góp. Nhưng thay vì yêu cầu mọi người quyên góp, anh chỉ bảo họ gửi bưu thiếp cho mình, và các bưu thiếp được lũ lượt gửi tới từ những người sử dụng Linux trên toàn thế giới. “Sara thường bóc những lá thư ra và chợt ngỡ ngàng khi thấy người anh trai suốt ngày cãi nhau với mình không hiểu sao lại nhận được thư từ những người bạn mới ở rất xa như vậy,” Torvalds kể, “đó là dấu hiệu đầu tiên báo cho nó biết rằng có lẽ tôi đang làm điều gì đó hữu ích trong những giờ chiếm dụng đường dây điện thoại.”

Như Torvalds giải thích sau này, quyết định không nhận tiền quyên góp của anh xuất phát từ nhiều lý do, trong đó có lý do xuất phát từ việc anh muốn được xứng đáng với truyền thống gia đình.

“Tôi cảm thấy mình đang đi theo con đường mà hàng thập kỷ qua các nhà khoa học và các học giả đã đi, những người làm việc trên nền tảng mà những người khác đã xây dựng nên… Tôi cũng muốn nhận được những góp ý phản hồi (thôi được, tôi thừa nhận, và cả sự tán dương nữa). Thật phi lý khi đòi tiền những người có thể sẽ giúp tôi hoàn thiện công trình của mình. Tôi nghĩ rằng có lẽ tôi sẽ có cách suy nghĩ khác nếu tôi không lớn lên ở Phần Lan, nơi mà hễ người nào thể hiện dù là những dấu hiệu nhỏ nhất của lòng tham đều nhận được những cái nhìn ngờ vực, nếu không muốn nói là sự ghét bỏ. Và vâng, chắc chắn tôi cũng sẽ xử lý vấn đề không nhận tiền này theo một cách khác hẳn nếu như tôi không được nuôi dưỡng dưới sự ảnh hưởng của ông tôi, một học giả thủ cựu, và cha tôi, một đảng viên cộng sản thủ cựu.”

“Tham lam không bao giờ là tốt”, Torvalds tuyên bố. Cách làm của anh đã góp phần biến anh trở thành một vị anh hùng dân gian, phù hợp để được vinh danh tại các hội thảo và trên các trang bìa tạp chí trong vai trò là một lực lượng chống lại Gates. Tuy nhiên, ở mức độ vừa phải, Torvalds cũng tự nhận thức vừa đủ về bản thân để biết rằng anh thích thú với những sự tán dương như vậy, và rằng điều này khiến anh trở thành một người có phần vị kỷ hơn so với hình dung của những người ngưỡng mộ mình. “Tôi chưa bao giờ là người hoàn toàn không vị kỷ, không bản ngã, đứa con ngoài giá thú của công nghệ như giới truyền thông đầy ảo tưởng cứ một mực gán cho tôi”, Torvalds thừa nhận.

Torvalds quyết định sử dụng Giấy phép Công cộng GNU, không phải vì anh hoàn toàn ủng hộ tư tưởng chia sẻ tự do của Stallman (hay vì cha mẹ mình), mà vì anh nghĩ rằng việc cho phép các tin tặc trên toàn thế giới được chạm tay vào mã nguồn sẽ dẫn tới một nỗ lực hợp tác mở để cho ra đời một phần mềm thực sự tuyệt vời. Torvalds giải thích: “Lý do phát tán Linux của tôi khá là ích kỷ. Tôi không muốn đau đầu xử lý những khía cạnh của hệ điều hành mà tôi nghĩ là việc vặt vãnh. Tôi muốn được giúp đỡ.”

Trực giác của anh đã đúng. Quyết định phát hành nhân Linux đã dẫn tới một làn sóng hợp tác giữa các tình nguyện viên đồng đẳng mà sau này sẽ trở thành một mô hình sản xuất chia sẻ, thúc đẩy sự sáng tạo trong thời đại kỹ thuật số. Đến mùa thu năm 1992, một năm sau ngày phát hành, nhóm thảo luận của Linux trên Internet đã có hàng chục nghìn người dùng. Các cộng tác viên vô tư đã bổ sung những chi tiết cải thiện như giao diện đồ họa giống Windows và các công cụ giúp thúc đẩy việc kết nối mạng cho máy vi tính. Hễ có lỗi xảy ra, một người nào đó ở đâu đó sẽ đứng ra sửa chữa. Trong cuốn sách The Cathedral and the Bazaar (Thánh đường và Khu chợ), Eric Raymond, một trong những lý thuyết gia có ảnh hưởng trong phong trào phần mềm mở, đã đưa ra khái niệm mà ông gọi là “Luật Linus”: “Nếu nhiều cặp mắt cùng ngó vào, tất cả các lỗi đều bị phơi bày.”

Chia sẻ ngang hàng và cộng tác cộng đồng không phải là điều gì mới mẻ. Cả một ngành sinh học tiến hóa đã xoay quanh câu hỏi về việc tại sao loài người, và thành viên của một số chủng loài khác, lại cộng tác với nhau theo những phương thức có vẻ mang tinh thần vị tha. Truyền thống hình thành các tổ chức tình nguyện, vốn được tìm thấy ở mọi xã hội, đặc biệt mạnh mẽ trong xã hội Mỹ thời kỳ đầu mà bằng chứng là các hoạt động tập thể như các hội dệt chăn [172] hay nuôi gia súc chung. “Không quốc gia nào trên thế giới có nguyên tắc hiệp hội được sử dụng thành công hơn, hay được áp dụng một cách rộng rãi hơn vào nhiều đối tượng khác nhau, như ở nước Mỹ”, Alexis de Toqueville viết. Trong cuốn Autobiography (Tự truyện) của mình, Benjamin Franklin đã đưa ra một niềm tin của người dân, với khẩu hiệu “Coi việc phục vụ cho lợi ích chung là hành động thiêng liêng” để giải thích cho việc ông thành lập các tổ chức tình nguyện để xây dựng bệnh viện, lực lượng dân quân, cảnh sát, lính cứu hỏa, thư viện công cộng, cảnh sát tuần tra đêm và nhiều nỗ lực cộng đồng khác.

Đội ngũ tin tặc nổi lên xung quanh GNU và Linux đã cho thấy rằng không phải các phần thưởng về tài chính, mà chính những sự khích lệ về mặt tinh thần sẽ có thể tạo động lực cho việc hợp tác tự nguyện. “Tiền không phải là động lực tốt nhất,” Torvalds nói, “người ta làm việc tốt nhất khi được dẫn đường bởi đam mê. Khi họ cảm thấy vui vẻ. Điều này đúng với cả những nhà viết kịch, nhà điêu khắc, doanh nhân cũng như với những kỹ sư phát triển phần mềm.” Tuy nhiên, dù vô tình hay hữu ý, ở đây cũng phần nào có tác động của lợi ích cá nhân. “Các tin tặc cũng được tạo động lực phần lớn bởi sự kính trọng mà họ có thể đạt được trong cộng đồng tin tặc thông qua những đóng góp có giá trị… Mọi người đều muốn gây ấn tượng với những người ngang hàng với mình, củng cố uy tín cũng như nâng cao địa vị xã hội của mình. Phát triển mã nguồn mở đem đến cho các lập trình viên một cơ hội để làm điều đó.”

Bức thư “Gửi những tín đồ máy vi tính” của Gates, trong đó phàn nàn về việc chia sẻ trái phép phần mềm BASIC, đã đặt ra câu hỏi với dụng ý khiển trách: “Ai có thể làm những công việc chuyên nghiệp không công chứ?” Tuy nhiên, Torvalds lại cho rằng đó là một quan điểm kỳ quặc. Ông và Gates được nuôi dạy trong hai nền văn hóa hoàn toàn khác nhau, một bên là môi trường học thuật cấp tiến mang màu sắc cộng sản ở Helsinki và một bên là môi trường doanh nhân ưu tú ở Seattle. Có thể rốt cuộc Gates sẽ có được một ngôi nhà lớn hơn, nhưng Torvalds lại nhận được sự kính trọng vì đã giương cao lá cờ phản nguyên tắc [173]. Torvalds nói với sự tự trào: “Các nhà báo có vẻ thích thú với thực tế rằng, trong khi Gates sống trong một dinh thự công nghệ cao bên bờ hồ, tôi thì lại nhảy lò cò vì vấp phải đồ chơi của con gái vứt lăn lóc trong ngôi nhà một tầng lụp xụp với ba phòng ngủ, hệ thống ống nước xập xệ ở thị trấn Santa Clara buồn chán. Và rằng tôi lái chiếc Pontiac cũ kỹ. Và tự trả lời điện thoại. Có ai mà không yêu quý tôi chứ?”

Torvalds nắm vững nghệ thuật trở thành một vị lãnh tụ được chấp nhận trong phong trào hợp tác rộng lớn, phi tập trung, phi thứ bậc của thời đại kỹ thuật số – điều mà Jimmy Wales của Wikipedia [174] cũng đang thực hiện trong cùng khoảng thời gian đó. Trong những tình huống như vậy, nguyên tắc đầu tiên là ra quyết định như một kỹ sư, dựa trên khía cạnh kỹ thuật thay vì những cân nhắc cá nhân. Torvalds giải thích: “Đó là một cách để mọi người tin tưởng tôi. Khi mọi người tin tưởng bạn, họ sẽ nghe theo bạn.” Ông cũng nhận ra rằng các lãnh tụ trong một phong trào hợp tác tình nguyện sẽ phải khích lệ những người khác theo đuổi đam mê của họ, chứ không phải ra lệnh cho họ. “Cách lãnh đạo tốt nhất và hiệu quả nhất là để cho mọi người làm việc vì họ muốn làm việc đó, chứ không phải vì bạn muốn họ làm.” Một lãnh tụ như vậy biết cách trao quyền cho các nhóm tự tổ chức. Khi điều đó được thực hiện đúng thì một cấu trúc quản trị dựa trên sự đồng thuận sẽ tự nhiên được hình thành, như trường hợp của cả Linux và Wikipedia. “Điều khiến nhiều người kinh ngạc là mô hình mã nguồn mở thực sự hiệu quả,” Torvalds nói, “mọi người biết ai hoạt động tích cực và ai có thể tin cậy, và điều đó xảy ra một cách tự nhiên. Không cần biểu quyết. Không cần mệnh lệnh. Không cần kể lể.”

Sự kết hợp của GNU với Linux đã đại diện cho (ít nhất là ở mức khái niệm) chiến thắng của cuộc Thập tự chinh của Richard Stallman. Thế nhưng, những nhà tiên tri hiếm khi mê mải trong lễ ăn mừng chiến thắng. Stallman là người theo chủ nghĩa thuần túy, nhưng Torvalds thì không. Nhân Linux cũng chứa một vài tập nhị phân [175] với những đặc điểm độc quyền. Có thể khắc phục được điều này; thực ra, Tổ chức Phần mềm Tự do của Stallman đã tạo ra một phiên bản hoàn toàn tự do và không có mã độc quyền. Nhưng Stallman lại gặp phải một vấn đề mang ý nghĩa sâu xa hơn và thiên về cảm xúc hơn. Ông phàn nàn rằng việc gọi hệ điều hành là “Linux” như hầu hết mọi người là không đúng. Linux chỉ là tên của nhân hệ điều hành. Đôi khi ông giận dữ yêu cầu phải gọi hệ thống ở phương diện hoàn chỉnh là GNU/Linux. Trong một triển lãm phần mềm, có người nhìn thấy phản ứng của Stallman khi một cậu bé 14 tuổi nhút nhát hỏi ông về Linux. Người này về sau khiển trách Stallman rằng: “Stallman đã nhiếc móc cậu bé thậm tệ, và tôi thấy sự thất vọng trên gương mặt nó, và sự ngưỡng mộ của nó dành cho ông và sứ mệnh của ông sụp đổ.”

Stallman cũng kiên quyết khẳng định rằng mục tiêu ở đây là tạo ra thứ mà ông gọi là phần mềm tự do, cụm từ phản ánh một lời hiệu triệu về mặt đạo đức đối với sự chia sẻ. Ông phản đối cụm từ mà Torvalds và Eric Raymond sử dụng – phần mềm nguồn mở – vốn nhằm dụng ý nhấn mạnh đến mục tiêu thực tế của việc kêu gọi mọi người hợp tác để tạo ra các phần mềm một cách hiệu quả hơn. Trên thực tế, đa số phần mềm tự do đều là nguồn mở và ngược lại; hai khái niệm này thường được dùng lẫn nhau trong hạng mụcphần mềm tự do nguồn mở. Nhưng đối với Stallman, điều quan trọng không chỉ là cách tạo ra phần mềm mà còn là động lực tạo ra chúng nữa. Nếu không, phong trào này sẽ dễ bị thỏa hiệp và trở nên lệch lạc.

Cuộc tranh cãi này đã vượt ra ngoài vấn đề bản chất và trong chừng mực nào đó, trở thành vấn đề về lý tưởng. Stallman là người kiên định và rất rõ ràng về mặt đạo đức, và ông than phiền rằng “bất kỳ ai cổ vũ cho chủ nghĩa lý tưởng ngày nay đều gặp một trở ngại lớn: hệ tư tưởng phổ biến khuyến khích người ta nghĩ rằng chủ nghĩa lý tưởng là một thứ ‘không thực tế’.“ Ngược lại, Torvalds là người hết sức thực tế, hệt như một kỹ sư. “Tôi là người thực dụng hàng đầu,” ông nói, “tôi luôn nghĩ rằng những người theo chủ nghĩa lý tưởng rất thú vị, nhưng họ nhàm chán và đáng sợ.”

Torvalds thừa nhận mình “không hẳn là một người hâm mộ cuồng nhiệt” của Stallman, và ông giải thích rằng: “Tôi không thích những người chỉ biết xoay quanh một vấn đề, và tôi cũng không cho rằng những người chia thế giới thành hai nửa trắng đen là những người tử tế hay hữu ích. Sự thật là không bao giờ chỉ có hai mặt của vấn đề, luôn có những câu trả lời khác nhau, và “còn tùy” gần như luôn là câu trả lời đúng đối với mọi câu hỏi lớn.” Ông cũng tin rằng việc kiếm tiền từ phần mềm nguồn mở là điều chấp nhận được. “Bản chất của nguồn mở là để cho tất cả mọi người cùng tham gia. Vậy thì tại sao chuyện kinh doanh, thứ nhiên liệu đã thúc đẩy phần lớn những sự tiến bộ về công nghệ của xã hội, lại bị loại trừ?” Phần mềm có thể muốn tự do, nhưng những người viết ra chúng có thể muốn nuôi con và tưởng thưởng cho những nhà đầu tư của họ.

Nhưng những tranh cãi này không hạ thấp đi thành tựu đáng kinh ngạc mà Stallman, Torvalds và hàng ngàn cộng tác viên của họ đã tạo nên. Sự kết hợp của GNU và Linux đã tạo ra một hệ điều hành mà so với bất kỳ hệ điều hành nào khác, có thể được cài vào nhiều nền tảng phần cứng hơn, từ 10 siêu máy vi tính lớn nhất thế giới cho đến những hệ thống nhúng trong điện thoại di động. “Linux là kẻ lật đổ,” Eric Raymond viết, “ai có thể nghĩ rằng một hệ điều hành đẳng cấp thế giới lại có thể được hình thành như thể bằng phép thuật từ sự góp sức nhỏ lẻ của hàng nghìn lập trình viên sống rải rác trên khắp hành tinh, chỉ được kết nối với nhau bởi những sợi cáp mỏng manh của mạng Internet?” Nó không chỉ trở thành một hệ điều hành vĩ đại mà đã trở thành hình mẫu cho phương thức sản xuất cộng đồng trong những lĩnh vực khác, từ trình duyệt web Mozilla Firefox đến nội dung của Wikipedia.

Đến thập niên 1990, có rất nhiều mô hình phát triển phần mềm. Có mô hình của Apple, trong đó phần cứng và phần mềm hệ điều hành được tích hợp chặt chẽ, chẳng hạn như máy Macintosh, iPhone và mọi sản phẩm khác của Apple. Cách tiếp cận này tạo ra một trải nghiệm người dùng đồng nhất. Có mô hình của Microsoft, trong đó hệ điều hành được tách rời khỏi phần cứng, cho phép người dùng có nhiều lựa chọn hơn. Ngoài ra, còn có các mô hình phần mềm tự do nguồn mở để phần mềm không phải chịu bất kỳ sự ràng buộc nào và bất kỳ người dùng nào cũng có thể chỉnh sửa được. Mỗi mô hình đều có những ưu điểm riêng, những động lực sáng tạo riêng, những nhà tiên tri cùng những môn đồ riêng. Tuy nhiên, cách tiếp cận tốt nhất là để cả ba mô hình trên cùng tồn tại, cùng với vô vàn những mô hình kết hợp khác, mã mở và mã đóng, tích hợp và không tích hợp, độc quyền và miễn phí. Windows và Mac, UNIX và Linux, iOS và Android: rất nhiều hướng tiếp cận khác nhau đã cạnh tranh với nhau qua nhiều thập kỷ, thúc đẩy nhau cùng phát triển – đồng thời tạo thế kiểm soát, không để cho bất kỳ mô hình nào vươn lên ngai vị thống trị để bóp nghẹt bầu không khí sáng tạo.

Larry Brilliant (1944) và Steward Brand trên nhà thuyền của Brand vào năm 2010.

William von Meister (1942-1995).

Steve Case (1958).

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.