Nietzsche Và Triết Học - Chương 2

Chương II

HOẠT NĂNG VÀ PHẢN ỨNG

1) Cơ thể

Spinoza mở ra cho khoa học và cho triết học một con đường mới: chúng ta thậm chí không biết một cơ thể có thể là cái gì, ông nói; chúng ta nói về ý thức, về tinh thần, chúng ta ba hoa về tất cả những điều đó, nhưng chúng ta không biết rằng một cơ thể có khả năng gì, nó có những sức mạnh nào, cũng không biết nó chuẩn bị những gì122. Nietzsche biết rằng đã đến lúc: “Tóm lại chúng ta đang ở vào cái giai đoạn lúc ý thức trở nên khiêm tốn123.” Đưa ý thức trở lại với sự khiêm tốn cần thiết, đó là nhìn nhận nó đúng như cái mà nó vốn là: một triệu chứng, không gì khác hơn là triệu chứng về một sự chuyển hóa sâu sắc hơn và là triệu chứng về hoạt động của các sức mạnh thuộc về một phạm vi hoàn toàn khác phạm vi tinh thần. “Có thể đó chỉ duy nhất là cơ thể trong toàn bộ sự phát triển của tinh thần.” Ý thức là gì? Cũng giống như Freud, Nietzsche nghĩ rằng ý thức là phần cái tôi bị tác động bởi thế giới bên ngoài124. Tuy nhiên, ý thức được định nghĩa trong tương quan với thế giới bên ngoài, theo ngôn ngữ thực tế, ít hơn là được định nghĩa trong tương quan với sự ưu việt, theo ngôn ngữ của giá trị. Sự khác biệt này là cơ bản trong quan niệm chung về ý thức và vô thức. Đối với Nietzsche, ý thức luôn là ý thức về cái thấp hơn so với cái cao hơn mà nó phụ thuộc vào hoặc là “hòa lẫn vào”. Ý thức không bao giờ là tự-ý thức, mà là ý thức của một cái tôi trong tương quan với cái mình, bản thân cái mình này không có ý thức. Ý thức không phải là ý thức của ông chủ, mà là ý thức của kẻ nô lệ trong tương quan với một ông chủ, ông chủ này không buộc phải có ý thức. “Ý thức thường chỉ xuất hiện khi một cái toàn thể muốn lệ thuộc vào một cái toàn thể cao hơn… Ý thức sinh ra trong tương quan với một bản thể mà có lẽ ta phụ thuộc vào bản thể đó125. Đó là tinh thần nô lệ của ý thức: nó chỉ chứng tỏ “sự hình thành của một cơ thể cao siêu hơn”.

Cơ thể là gì? Chúng ta không định nghĩa nó bằng cách nói rằng nó là một trường sức mạnh, một môi trường nuôi dưỡng mà vô số sức mạnh tranh giành nhau. Vì thực ra, không có “môi trường”, không có trường sức mạnh, cũng không có sự giành giật. Không có lượng thực tại, mọi thực tại đều đã là lượng sức mạnh. Chỉ có các lượng sức mạnh “ở trong quan hệ tương liên căng thẳng126” với nhau. Sức mạnh nào cũng đều có quan hệ với các sức mạnh khác, hoặc là tuân phục, hoặc là điều khiển. Cái dùng để định nghĩa một cơ thể chính là quan hệ giữa các sức mạnh chế ngự và các sức mạnh bị chế ngự. Toàn bộ quan hệ giữa các sức mạnh tạo thành một cơ thể: cơ thể hóa học, sinh học, xã hội, chính trị. Hai sức mạnh nào đó, vốn bình đẳng, ngay khi chúng có quan hệ với nhau liền tạo thành một cơ thể: vì thế mà cơ thể luôn luôn là kết quả của ngẫu nhiên, theo nghĩa của Nietzsche, và xuất hiện như là điều “đáng ngạc nhiên” nhất, đáng ngạc nhiên hơn nhiều so với khoa học và tinh thần127. Nhưng ngẫu nhiên, mối quan hệ giữa sức mạnh và sức mạnh, cũng chính là bản chất của sức mạnh; vậy nên ta sẽ không tự hỏi một cơ thể sống đã sinh ra như thế nào, vì mọi cơ thể đều sống với tư cách là sản phẩm “tùy tiện” của các sức mạnh tạo nên chúng128. Cơ thể là một hiện tượng đa tạp [multiple], vì được cấu thành từ vô số các sức mạnh bất khả quy; sự thống nhất của nó là sự thống nhất của một hiện tượng đa tạp, “sự thống nhất thống trị”. Trong một cơ thể, các sức mạnh lớn hơn hoặc các sức mạnh chế ngự được gọi là các sức mạnh phản ứng. Hoạt năng và phản ứng chính xác là những phẩm chất căn bản, những phẩm chất biểu thị mối quan hệ giữa sức mạnh với sức mạnh. Vì các sức mạnh có quan hệ với nhau, sẽ không có một lượng nếu đồng thời mỗi sức mạnh lại không có một chất phù hợp với sự khác biệt về lượng như thế. Ta sẽ gọi sự khác biệt này của các sức mạnh được chuẩn hóa, phù hợp với lượng của chúng, là sự phân thứ bậc: sức mạnh hoạt năng và sức mạnh phản ứng.

2) Sự phân biệt các sức mạnh

Trong khi tuân phục, các sức mạnh ở mức độ thấp hơn cũng vẫn là các sức mạnh, phân biệt với các sức mạnh chỉ huy. Tuân phục là một phẩm chất của sức mạnh với tư cách là sức mạnh, và có quan hệ với quyền lực, cũng như chỉ huy: “Không một sức mạnh nào chối bỏ quyền lực của mình. Tương tự như việc chỉ huy giả định một sự nhượng bộ, ta chấp nhận rằng sức mạnh tuyệt đối của đối thủ không chịu khuất phục, không chịu đồng hóa, tiêu tan. Tuân phục và chỉ huy là hai dạng thức của một cuộc tranh tài129.” Các sức mạnh ở mức độ thấp hơn không tự định nghĩa như là phản ứng: chúng không mất gì từ sức mạnh của chúng, từ chất lượng sức mạnh của chúng; chúng thực thi sức mạnh bằng cách đảm bảo các cơ chế và các mục đích, bằng cách thỏa mãn các điều kiện của đời sống và làm tròn các chức năng, các nhiệm vụ bảo tồn, thích ứng và mang lại lợi ích. Đấy là xuất phát điểm của quan niệm về phản ứng, mà chúng ta sẽ thấy tầm quan trọng đối với Nietzsche: những sắp xếp cơ giới và vị lợi, những sự điều tiết biểu thị toàn bộ quyền lực của những sức mạnh ở mức độ thấp hơn và bị chế ngự. Thế nhưng chúng ta cần ghi nhận sự yêu thích thái quá của tư duy hiện đại dành cho phương diện phản ứng của các sức mạnh. Ta luôn tin rằng khi hiểu cơ thể xuất phát từ các sức mạnh phản ứng là đã tương đối đầy đủ. Bản tính của các sức mạnh phản ứng và sự run rẩy của chúng lôi cuốn chúng ta. Chính như vậy mà, trong lý luận về đời sống, cơ giới luận và mục đích luận đối lập nhau; nhưng đó là hai cách diễn giải chỉ có giá trị đối với các sức mạnh phản ứng. Thực sự là, ít ra, chúng ta hiểu cơ thể xuất phát từ các sức mạnh. Nhưng cũng thực sự là chúng ta không thể hiểu được các sức mạnh phản ứng như là chính bản thân chúng, nghĩa là như những sức mạnh chứ không phải như những bộ máy hay mục đích, nếu chúng ta quy chúng về cái sức mạnh chế ngự chúng, cái sức mạnh không có tính chất phản ứng. “Chúng ta khăng khăng không chịu nhận thấy tính ưu việt căn bản của các sức mạnh thuộc về một tổ chức tự nhiên, hung hăng khiêu khích, chinh phục, tiếm quyền, làm biến đổi, những sức mạnh không ngừng đưa ra những chiều hướng mới, vì trước tiên sự thích ứng phục tùng ảnh hưởng của chúng; chính như vậy mà người ta phủ định quyền tối thượng của các chức năng cao quý nhất của cơ thể”130.

Chắc hẳn là việc xác định đặc tính của các sức mạnh hoạt năng còn khó khăn hơn. Bởi vì, do bản tính, chúng thoát khỏi ý thức: “Hoạt động chính và quan trọng thuộc về vô thức131“. Ý thức chỉ biểu lộ quan hệ giữa một số sức mạnh phản ứng và các sức mạnh hoạt năng chế ngự chúng. Thực chất ý thức có tính phản ứng132; vì thế chúng ta không biết một cơ thể có thể là gì, nó có thể có những hoạt động gì. Và ta nói về ý thức những gì thì cũng cần phải nói về trí nhớ và thói quen như vậy. Hơn nữa: chúng ta còn cần nói như thế về dinh dưỡng, về sinh sản, về sự bảo tồn, về sự thích ứng. Đó là những chức năng phản ứng, những sự chuyên môn hóa mang tính phản ứng, những biểu hiện của một số sức mạnh phản ứng nào đó133. Không thể tránh khỏi việc ý thức xem xét cơ thể từ quan điểm của nó và hiểu cơ thể theo cách của nó, nghĩa là theo một cách thức mang tính phản ứng. Và cũng xảy ra việc khoa học đi theo những con đường của ý thức bằng cách trông cậy vào những sức mạnh phản ứng khác: cơ thể lúc nào cũng bị xem xét từ khía cạnh nhỏ, từ khía cạnh của những phản ứng của nó. Theo Nietzsche, vấn đề của sinh thể không phải là cuộc tranh cãi giữa thuyết cơ giới và thuyết sức sống. Thuyết sức sống có giá trị gì khi nó vẫn còn tin là khám phá ra đặc thù của sự sống trong các sức mạnh phản ứng, tức là những sức mạnh mà thuyết cơ giới diễn giải theo một cách khác? Vấn đề thực sự, đó là sự khám phá các sức mạnh hoạt năng, không có các sức mạnh này thì bản thân các phản ứng sẽ không phải là các sức mạnh134. Hiển nhiên là hoạt động của các sức mạnh thuộc về vô thức, đó là điều khiến cơ thể biến thành một cái gì đó cao hơn mọi phản ứng, và đặc biệt là cao hơn phản ứng của cái tôi, cái phản ứng được gọi là ý thức: “Toàn bộ hiện tượng này của cơ thể, xét từ góc độ tinh thần, cao hơn ý thức của chúng ta, cao hơn trí tuệ của chúng ta, cao hơn cách tư duy có ý thức của chúng ta, cao hơn cách cảm nhận và mong muốn có ý thức của chúng ta, cũng như là môn đại số cao hơn bảng cửu chương.135” Các sức mạnh hoạt năng của cơ thể, đó là những gì đã biến cơ thể thành một cái tự ngã, và là những gì định nghĩa tự ngã như là ở mức độ cao hơn và đáng ngạc nhiên: “… Một bản thể mạnh hơn, một sự khôn ngoan chưa được biết tới - có tên là tự ngã. Nó ngụ trong cơ thể ngươi, nó là cơ thể ngươi136“. Khoa học đích thực là khoa học về hoạt động, nhưng khoa học về hoạt động cũng là khoa học về cái vô thức tất yếu. Thật là phi lý khi cho rằng khoa học cần song hành cùng ý thức và đi theo cùng những hướng giống nhau. Trong ý tưởng này, ta cảm thấy đạo đức đang hiện diện. Thực ra, chỉ có khoa học nơi nào không có ý thức và không thể có ý thức.

“Hoạt năng là gì? Là hướng tới quyền lực137.” Chiếm hữu, chiếm đoạt, chinh phục, thống ngự, đó là những đặc tính của sức mạnh hoạt năng. Chiếm hữu có nghĩa là áp đặt các hình thức, tạo ra các hình thức bằng cách khai thác các hoàn cảnh138. Nietzsche phê phán Darwin, vì nhà khoa học này giải thích sự tiến hóa và giải thích tính ngẫu nhiên trong tiến hóa, một cách giải thích hoàn toàn mang tính phản ứng. Ông ngưỡng mộ Lamarck, vì Lamarck đã tiên cảm thấy sự tồn tại của một sức mạnh mềm dẻo thực sự có tính hoạt năng, sức mạnh đầu tiên so với các thích ứng: một sức mạnh có khả năng biến đổi. Tiên cảm này cũng có ở Nietzsche và ở năng lượng học, ngành khoa học mà trong đó người ta gọi cái năng lượng có khả năng tự biến đổi là “cao quý”. Quyền lực làm thay đổi, quyền lực của Dionysos là định nghĩa đầu tiên của hoạt động. Nhưng mỗi khi chúng ta ghi nhận sự cao quý của hành động và sự hơn hẳn của nó so với phản ứng, chúng ta không được quên rằng phản ứng biểu thị một kiểu sức mạnh, cũng như hành động là một kiểu sức mạnh: đơn giản là, các phản ứng không thể được nắm bắt, cũng không thể được hiểu một cách khoa học, như là các sức mạnh, nếu chúng ta không quy chúng về các sức mạnh ở mức độ cao hơn, các sức mạnh thuộc một kiểu khác. Phản ứng là một chất căn bản của sức mạnh, nhưng nó chỉ có thể được như thế trong tương quan với hoạt năng, xuất phát từ hoạt năng.

3) Lượng và Chất

Các sức mạnh có một lượng, nhưng chúng cũng có chất tương ứng với sự khác biệt về lượng: hoạt năng và phản ứng là các chất của sức mạnh. Chúng ta cảm thấy rằng vấn đề đánh giá các sức mạnh là tế nhị, vì nó khởi động nghệ thuật diễn giải về chất, vấn đề được đặt ra như thế này: 1° Nietzsche luôn luôn tin rằng các sức mạnh có tính định lượng và cần được định nghĩa từ quan điểm định lượng. “Kiến thức của chúng ta, ông nói, sẽ có tính khoa học trong chừng mực nó có thể sử dụng con số và đơn vị đo lường, cần cố gắng xem xét nếu ta không thể thiết lập một thứ tự mang tính khoa học của các giá trị theo một thang số và định lượng của sức mạnh. Tất cả những giá trị khác đều là những định kiến, đều là sự ngây thơ và hiểu lầm. Ở mọi nơi chúng đều có thể bị quy về cái thang số và định lượng này”139. 2° Tuy nhiên, Nietzsche tin rằng một sự xác định thuần túy định lượng về các sức mạnh luôn luôn vừa trừu tượng, vừa khiếm khuyết, vừa mơ hồ. Nghệ thuật đánh giá các sức mạnh phải vận dụng sự diễn giải và đánh giá về chất: “Quan niệm cơ giới chỉ muốn chấp nhận lượng, nhưng sức mạnh là ở trong chất; cơ giới luận chỉ có thể miêu tả hiện tượng, chứ không soi sáng nó”.140 “Không lẽ tất cả các lượng đều là dấu hiệu của chất sao?… Muốn quy giản tất cả mọi chất về các lượng là điên rồ141.”

Liệu có mâu thuẫn giữa hai kiểu văn bản này không? Nếu như một sức mạnh không thể tách biệt với lượng của nó, thì nó càng không thể tách biệt với những sức mạnh khác mà nó có quan hệ. Như vậy, bản thân lượng cũng không tách khỏi sự khác biệt về lượng. Sự khác biệt về lượng là bản chất của sức mạnh, là quan hệ giữa sức mạnh và sức mạnh. Mơ ước về hai sức mạnh bình đẳng là một giấc mơ mơ hồ và thô thiển, một giấc mơ có tính thống kê, trong đó người sống chìm đắm nhưng nó lại bị hóa học làm cho tiêu tan, kể cả nếu người ta cấp cho nó một sự đối lập về ý nghĩa142. Thế nhưng, mỗi khi Nietzsche phê phán khái niệm lượng, chúng ta nên hiểu là: lượng trong tư cách là khái niệm trừu tượng luôn luôn và chủ yếu hướng tới một sự đồng nhất hóa, một sự ngang bằng hóa cái đơn vị tạo nên nó, hướng tới việc xóa bỏ sự khác biệt trong đơn vị này, điều mà Nietzsche trách cứ ở tất cả những sự xác định thuần túy định lượng về sức mạnh, đó là việc những khác biệt về lượng bị xóa bỏ, bị làm cho ngang bằng hay bị bù trừ. Trái lại, mỗi khi ông phê phán khái niệm chất, ta cần hiểu: chất không là gì cả, trừ sự khác biệt về lượng tương ứng với nó trong hai sức mạnh ít ra được giả định là có quan hệ với nhau. Tóm lại, Nietzsche chưa bao giờ quan tâm tới việc lượng bất khả quy về chất; hay đúng hơn điều này chỉ khiến ông quan tâm như một cái gì thứ yếu và như là triệu chứng. Từ góc độ của bản thân chất, Nietzsche chủ yếu quan tâm đến việc: sự khác biệt về lượng bất khả quy về sự ngang bằng nhau. Chất phân biệt với lượng, nhưng chỉ vì nó là cái không thể được làm cho trở nên ngang bằng trong lượng, là cái không thể hủy bỏ trong sự khác biệt về lượng. Như vậy, theo một nghĩa nào đó, sự khác biệt về lượng là yếu tố không thể quy giản của lượng, và theo một nghĩa khác, nó là yếu tố không thể quy giản thành bản thân lượng. Chất không phải cái gì khác hơn là sự khác biệt về lượng, và tương ứng với lượng trong mỗi một sức mạnh mà nó có quan hệ. “Chúng ta không thể tự ngăn mình cảm nhận những khác biệt đơn thuần về lượng như là một cái gì hoàn toàn khác biệt với lượng, nghĩa là giống như là những chất không thể quy giản vào nhau143.” Và những gì còn mang dấu vết nhân hình học trong văn bản này cần được chữa lại bằng nguyên tắc của Nietzsche, nguyên tắc cho rằng có một chủ thể tính của vũ trụ, một chủ thể tính không còn có tính nhân hình nữa mà có tính vũ trụ.144 “Muốn quy giản tất cả mọi chất về lượng là điên rồ…”

Dựa vào sự ngẫu nhiên, chúng ta khẳng định mối quan hệ của tất cả các sức mạnh với nhau. Và hẳn là, chỉ với một lần, chúng ta khẳng định toàn bộ ngẫu nhiên trong tư duy về sự quy hồi vĩnh cửu. Nhưng tất cả các sức mạnh, vì lợi ích của chúng, không có quan hệ với nhau cùng một lúc. Trong thực tế, quyền lực riêng của chúng được thực hiện trong mối quan hệ với một lượng nhỏ các sức mạnh. Ngẫu nhiên là cái trái ngược với sự liên tục [continuum]145. Như vậy, những cuộc gặp gỡ của các sức mạnh ở một lượng nào đó là những bộ phận cụ thể của sự ngẫu nhiên, những phần mang tính khẳng định của ngẫu nhiên, những phần như vậy xa lạ với mọi luật lệ: các bộ phận của Dionysos. Thế nhưng, chính trong sự gặp gỡ này mà các sức mạnh có được chất tương ứng với lượng của nó, nghĩa là sự trìu mến thực sự làm thõa mãn quyền lực của nó. Vì thế, trong một văn bản khó hiểu, Nietzsche có thể nói rằng vũ trụ giả định “một sự hình thành triệt để các chất tùy tiện”, và nói rằng bản thân sự hình thành các chất giả định một sự hình thành (tương đối) các lượng146. Hai sự hình thành này phải không thể tách rời nhau, nghĩa là chúng ta không thể tính toán một cách trừu tượng các sức mạnh; trái lại, trong mỗi trường hợp, chúng ta cần phải đánh giá một cách cụ thể chất riêng của chúng và sắc thái của chất này.

4) Nietzsche và khoa học

Vấn đề mối quan hệ giữa Nietzsche và khoa học đã được đặt ra không đúng cách. Người ta làm như là những mối quan hệ này phụ thuộc vào lý thuyết về sự quy hồi vĩnh cửu, làm như là Nietzsche quan tâm đến khoa học (dù còn theo một cách mơ hồ) khi nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự quy hồi vĩnh cửu, và ông không quan tâm đến khoa học khi nó đối lập với sự quy hồi vĩnh cửu. Không phải như vậy; căn nguyên của sự đối lập mang tính phê phán của Nietzsche đối với khoa học cần được tìm hiểu theo một hướng hoàn toàn khác, dù rằng hướng này mở cho chúng ta một cách nhìn về sự quy hồi vĩnh cửu. Thực sự là Nietzsche không có mấy năng lực và sở thích đối với khoa học. Nhưng cái tách ông ra khỏi khoa học là một khuynh hướng, một cách tư duy. Dù đúng hay sai, Nietzsche tin rằng trong cách sử dụng lượng, khoa học luôn hướng tới việc bình quân hóa các lượng, hướng tới việc bù trừ những gì không ngang bằng nhau. Khi phê phán khoa học, Nietzsche không bao giờ viện dẫn các quyền của chất để chống lại lượng; ông viện dẫn các quyền của sự khác biệt về lượng để chống lại sự quân bình, quyền của sự không đồng đều để chống lại sự quân bình hóa về lượng. Nietzsche nghĩ ra một “thang số và thang hạn độ”, nhưng những phép chia của cái thang này không phải là các bội số hay ước số của cái này đối với cái kia. Đó chính là điều mà ông bãi bỏ trong khoa học: nỗi ám ảnh của khoa học trong việc tìm kiếm sự bù trừ, thuyết vị lợi và chủ nghĩa bình quân đặc thù của khoa học147. Vì thế mà toàn bộ sự phê phán của ông thể hiện trên ba bình diện: chống lại sự đồng nhất lô-gíc, chống lại đẳng thức toán học, và chống lại sự cân bằng vật lý. Chống lại ba hình thức của cái không được dị biệt hóa148. Theo Nietzsche, không thể tránh khỏi việc khoa học thiếu và làm phương hại đến lý thuyết đúng về sức mạnh.

Cái khuynh hướng quy giản các khác biệt về số lượng này có nghĩa gì? Trước tiên, nó cho thấy cái cách khoa học tham gia vào chủ nghĩa hư vô của tư duy hiện đại. Cố gắng phủ định những khác biệt là một phần của cái công cuộc bao quát hơn, nhằm phủ định đời sống, làm mất giá tồn tại, báo trước cái chết (cái chết về nhiệt hoặc cái chết kiểu khác), ở trong cái công cuộc này, vũ trụ sụp đổ vào trong cái không được dị biệt hóa. Điều mà Nietzsche trách cứ các khái niệm vật lý về vật chất, về trọng lực, về nhiệt, đó là việc chúng cũng là các nhân tố của sự bình quân hóa các lượng, các nguyên tắc của một “adiaphorie” [tiếng Hi Lạp: cái “phiếm định” hoặc cái bất phân biệt]. Chính trong ý nghĩa này mà Nietzsche chứng minh rằng khoa học thuộc về phạm vi của lý tưởng khổ hạnh và khoa học sử dụng lý tưởng khổ hạnh theo cách của mình149. Nhưng chúng ta cũng cần tìm kiếm trong khoa học cái gì là công cụ của cái tư duy hư vô chủ nghĩa này. Câu trả lời là: khoa học, do khuynh hướng của nó, hiểu các hiện tượng xuất phát từ các sức mạnh phản ứng và diễn giải chúng theo quan điểm này. Vật lý học là phản ứng, sinh học cũng vậy; lúc nào mọi vật cũng được xem xét từ khía cạnh nhỏ bé, từ khía cạnh của các phản ứng. Sự chiến thắng của các sức mạnh phản ứng, đó là công cụ của tư duy hư vô chủ nghĩa. Và đó cũng là nguyên tắc biểu hiện của chủ nghĩa hư vô: vật lý học phản ứng là một thứ vật lý học của sự phẫn hận, tương tự, sinh học phản ứng là một thứ sinh học của sự phẫn hận. Nhưng tại sao chỉ duy nhất sự coi trọng các sức mạnh phản ứng là dẫn tới việc phủ định sự khác biệt trong sức mạnh, nó sử dụng sự phẫn hận làm nguyên tắc như thế nào, chúng ta còn chưa rõ.

Có lúc khoa học khẳng định hoặc phủ định sự quy hồi vĩnh cửu, tùy theo nó xuất phát từ quan điểm nào. Nhưng cách khẳng định cơ giới về sự quy hồi vĩnh cửu và sự phủ định nhiệt động học của nó có cái gì đó chung: đó là việc bảo toàn năng lượng, luôn được diễn giải sao cho định lượng về năng lượng không chỉ là một tổng không đổi, mà còn hủy bỏ sự khác biệt giữa chúng. Trong cả hai trường hợp, ta chuyển từ nguyên tắc về sự hữu hạn (tính không đổi của một tổng) sang nguyên tắc “hư vô chủ nghĩa” (hủy bỏ sự khác biệt về lượng, mà tổng của chúng không đổi). Quan niệm cơ giới khẳng định sự quy hồi vĩnh cửu, nhưng khẳng định bằng cách giả định rằng những khác biệt về lượng được bù trừ hoặc bị hủy bỏ giữa trạng thái ban đầu và trạng thái cuối của một hệ thống có thể chuyển hồi. Trạng thái cuối cùng giống hệt trạng thái ban đầu mà ta giả định là phiếm định so với những trạng thái trung gian. Ý tưởng của nhiệt động học phủ định sự quy hồi vĩnh cửu, nhưng là vì nó khám phá ra rằng những khác biệt về lượng chỉ bị hủy bỏ trong trạng thái cuối cùng của hệ thống, tùy thuộc vào đặc tính của nhiệt. Thế là người ta đặt sự đồng nhất vào trạng thái cuối cùng có tính bất phân biệt; người ta đối lập nó với tính được dị biệt hóa của trạng thái ban đầu. Hai quan niệm này thống nhất với nhau ở cùng một giả thiết, giả thiết về một trạng thái cuối cùng hay trạng thái sau rốt, trạng thái sau rốt trong sự trở thành. Tồn tại hay hư vô, tồn tại hay không tồn tại, tất cả đều bất phân biệt: hai quan niệm gặp gỡ nhau trong ý tưởng về một sự trở thành có trạng thái cuối. “Trong ngôn ngữ của siêu hình học, nếu sự trở thành có thể dẫn đến tồn tại hay dẫn đến hư vô…150” Đấy là lý do vì sao cơ giới luận không thiết định được sự quy hồi vĩnh cửu, và vì sao nhiệt động học không phủ định nổi nó. Cả hai đều đi trượt qua, rơi vào trong cái bất phân biệt, rồi lại rơi vào trong cái đồng nhất.

Theo Nietzsche, sự quy hồi vĩnh cửu hoàn toàn không phải là tư duy về cái đồng nhất, mà là một tư duy tổng hợp, tư duy về cái khác nhau tuyệt đối, cái khác nhau tuyệt đối này đòi phải có một nguyên tắc mới ở ngoài khoa học. Đây là nguyên tắc hình thành cái khác biệt trong tư cách là cái khác biệt, là nguyên tắc của việc tái diễn sự khác biệt: trái ngược với “cái bất phân biệt” [adiaphorie]151. Và quả thực, chúng ta không hiểu sự quy hồi vĩnh cửu, chừng nào chúng ta còn biến nó thành một hậu quả hay một sự áp dụng của cái đồng nhất. Chúng ta chưa hiểu sự quy hồi vĩnh cửu chừng nào chúng ta không đối lập nó với cái đồng nhất, theo một cách thức nhất định. Sự quy hồi vĩnh cửu không phải là tính thường trực của cái đồng nhất, không phải là trạng thái cân bằng, cũng không phải là nơi cư ngụ của cái đồng nhất. Trong sự quy hồi vĩnh cửu, không phải là cái đồng nhất hay cái một quay trở lại, mà bản thân sự quy hồi là cái Một - cái Một tự cho là chỉ thuộc về cái khác biệt và thuộc về những gì khác nhau.

5) Phương diện đầu tiên của sự quy hồi vĩnh cửu: với tư cách là vũ trụ học và vật lý học

Việc trình bày sự quy hồi vĩnh cửu như Nietzsche quan niệm giả định sự phê phán trạng thái cuối hay trạng thái cân bằng. Nếu vũ trụ có một tư thế cân bằng, Nietzsche nói, nếu sự trở thành có một mục đích hay một trạng thái cuối cùng, có lẽ nó đã đạt tới rồi. Thế nhưng, khoảnh khắc hiện tại, cũng như khoảnh khắc đã trôi qua, cho thấy nó chưa đạt được điều ấy: vậy nên không thể có sự cân bằng các sức mạnh152. Nhưng tại sao sự cân bằng, trạng thái chung cuộc cần phải đạt tới, trong trường hợp nó là khả dĩ? Căn cứ vào cái mà Nietzsche gọi là tính vô tận của thời gian quá khứ. Tính vô tận của thời gian quá khứ chỉ có nghĩa như sau: sự trở thành đã không thể bắt đầu trở thành, nó không phải là cái gì đó đã trở thành. Thế nhưng, vì nó không phải là cái gì đó đã trở thành, nó lại càng không phải là sự trở thành cái gì đó. Vì nó không phải là cái đã trở thành, nên có lẽ nó đã là cái mà nó trở thành, nếu quả như nó phải trở thành một cái gì đó. Có nghĩa là: vì thời gian quá khứ là vô tận nên sự trở thành có lẽ đạt tới trạng thái cuối của nó, nếu như nó có một trạng thái cuối. Và quả thực, cũng thế thôi khi nói rằng sự trở thành có lẽ đã đạt tới trạng thái cuối của nó, nếu như nó có một trạng thái cuối, và khi nói rằng có lẽ không bao giờ thoát khỏi trạng thái ban đầu nếu quả nó có một trạng thái ban đầu. Nếu có sự trở thành cái gì đó, tại sao nó lại không trở thành cái đó từ lâu rồi? Nếu như nó là một cái gì đã trở thành, nó đã bắt đầu trở thành như thế nào? “Nếu vũ trụ có thể tồn tại lâu dài và ổn định, và nếu trong suốt lộ trình của nó có một khoảnh khắc duy nhất tồn tại theo nghĩa chặt chẽ, thì có lẽ sẽ không còn sự trở thành nữa, do đó có lẽ ta cũng không thể tư duy, cũng không thể quan sát một sự trở thành nào đó”153. Đó là suy tư mà Nietzsche tuyên bố đã tìm thấy “ở các tác giả cổ đại”154. Platon nói rằng nếu tất cả những gì đang trở thành không bao giờ có thể tránh khỏi hiện tại, thì ngay khi chúng bước vào hiện tại, chúng sẽ ngừng trở thành, và vì thế chúng là cái mà chúng từng trở thành trong quá khứ155. Nhưng Nietzsche bình luận về tư tưởng cổ đại này như sau: mỗi khi tôi bắt gặp nó “nó đã bị xác định bởi những ẩn ý của thần học nói chung”. Bởi vì, khi khăng khăng tìm hiểu xem sự trở thành bắt đầu như thế nào và tại sao nó vẫn chưa kết thúc, các triết gia cổ đại thành các nhà bi kịch giả, họ lấy sự kiêu căng, tội lỗi, sự trừng phạt ra để giải thích156. Trừ Heraclite, không ai trong số họ suy tư về sự trở thành thuần túy, cũng không ai tìm hiểu về nguồn gốc của suy tư này. Dù thời khắc hiện tại không phải là thời khắc của tồn tại hay của hiện tại “theo nghĩa chặt chẽ”, dù nó là thời khắc trôi qua, chúng ta buộc phải suy nghĩ về sự trở thành, nhưng phải suy nghĩ về nó đúng như là cái gì đã không thể bắt đầu, và cũng không thể chấm dứt việc trở thành.

Ý tưởng về sự trở thành thuần túy đặt cơ sở cho sự quy hồi vĩnh cửu như thế nào? Ý tưởng này đủ để cho người ta thôi không còn tin vào sự tồn tại bị phân biệt và đối lập với sự trở thành; nhưng ý tưởng này cũng đủ để người ta tin vào sự tồn tại của bản thân sự trở thành. Vậy, sự tồn tại của cái đang trở thành, của cái không thể bắt đầu cũng không thể chấm dứt việc trở thành ấy là gì? Quy hồi, đó chính là sự tồn tại của cái đang trở thành. “Nói rằng tất cả đều quy hồi, đó là đưa thế giới của sự trở thành tiệm cận giới của tồn tại một cách gần gũi nhất: đỉnh điểm của sự chiêm nghiệm157. Vấn đề chiêm nghiệm còn cần phải được diễn đạt theo một cách khác: quá khứ có thể tự hình thành trong thời gian như thế nào? Hiện tại có thể trôi qua như thế nào? Không bao giờ cái khoảnh khắc đang diễn ra có thể trôi qua, nếu như nó đã không trôi qua nhưng đồng thời vẫn là hiện tại, là tương lai nhưng đồng thời cũng là hiện tại. Nếu hiện tại không tự nó trôi qua, nếu nó phải đợi một hiện tại mới để cái hiện tại trước trở thanh quá khứ, thì không bao giờ quá khứ nói chung có thể hình thành trong thời gian được cả, cũng không bao giờ cái hiện tại ấy có thể trôi qua: chúng ta không thể chờ đợi, khoảnh khác cần phải đồng thời vừa là hiện tại vừa là quá khứ, vừa là hiện tại vừa là tương lai, để cho nó có thể trôi qua (và trôi qua để tạo thuận lợi cho những khoảnh khắc khác). Hiện tại cần phải cùng tồn tại với chính mình với tư cách là quá khứ và tương lai. Chính cái quan hệ mang tính tổng hợp mà khoảnh khắc có với chính nó, với tư cách là hiện tại, quá khứ và tương lai, tạo nên quan hệ của nó với những khoảnh khắc khác. Vì vậy, sự quy hồi vĩnh cửu là lời đáp cho vấn đề “trôi qua”158. Và theo nghĩa này, nó không thể được diễn giải như là sự quy hồi của cái gì đó như là cái Một hoặc như là cái đồng nhất. Trong cụm từ “sự quy hồi vĩnh cửu”, sẽ là sai nếu chúng ta hiểu rằng: đó là sự trở lại của cái đồng nhất. Không phải là tồn tại quay trở lại, mà là bản thân sự quay trở lại cấu thành tồn tại, trong chừng mực tồn tại tự khẳng định trong sự trở thành và trong sự trôi qua. Đó không phải là cái Một quay trở lại, mà bản thân sự trở lại là cái Một, cái Một tự khẳng định trong cái khác biệt, hay trong cái Nhiều. Nói cách khác, sự đồng nhất trong sự quy hồi vĩnh cửu không biểu thị bản tính của cái quy hồi, trái lại, nó biểu thị sự quay lại của những gì khác biệt. Vì thế, sự quy hồi vĩnh cửu cần được suy tưởng như là sự tổng hợp: tổng hợp của thời gian và của các chiều kích của thời gian, tổng hợp của cái khác nhau và sự hình thành của nó, tổng hợp của sự trở thành và của tồn tại tự khẳng định trong sự trở thành, tổng hợp của sự khẳng định kép. Như vậy, bản thân sự quy hồi vĩnh cửu phụ thuộc vào một nguyên tắc, nguyên tắc này không phải là sự đồng nhất, mà nó cần thỏa mãn các yêu cầu của một lý lẽ thực sự, một lý lẽ đầy đủ, xét từ mọi phương diện.

Tại sao thuyết cơ giới lại là một sự diễn giải về sự quy hồi vĩnh cửu tồi đến thế? Bởi vì nó không bao hàm sự quy hồi vĩnh cửu một cách tất yếu và trực tiếp. Vì nó chỉ kéo theo hậu quả sai lầm về một trạng thái cuối cùng. Trạng thái cuối cùng này, người ta cho rằng nó giống hệt trạng thái ban đầu; và trong cách hiểu đó, người ta kết luận rằng quá trình cơ giới tái diễn trở lại trong cùng những khác biệt như nhau. Như thế hình thành cái giả thiết về chu kỳ mà Nietzsche kịch liệt phê phán159. Vì chúng ta không hiểu bằng cách nào quá trình này có khả năng thoát khỏi trạng thái ban đầu, rồi bỏ lại đằng sau cả trạng thái cuối cùng, rồi trở lại trong cùng những khác biệt như nhau, trong khi thậm chí nó không thể lặp lại bất kỳ sự khác biệt nào dù chỉ trong một lần duy nhất. Có hai điều mà giả thiết về chu kỳ không thấy được: sự khác nhau của những chu kỳ cùng tồn tại song song, và đặc biệt là sự tồn tại của cái khác biệt trong chu kỳ160. Vì vậy, chúng ta chỉ có thể hiểu bản thân sự quy hồi vĩnh cửu như là biểu hiện của một nguyên tắc, nguyên tắc này là nguyên nhân của cái khác biệt và của sự tái tạo cái khác biệt, nguyên nhân của sự khác biệt và của sự lặp lại sự khác biệt. Một nguyên tắc như vậy được Nietzsche trình bày như là một trong những phát hiện quan trọng nhất của triết học của ông. Ông tặng cho nó cái tên: ý chí quyền lực. Bằng ý chí quyền lực, “tôi biểu thị cái đặc tính của trật tự cơ giới mà người ta không thể loại bỏ nếu không loại bỏ chính bản thân trật tự này.”161

6) Ý chí quyền lực là gì?

Đây là một trong những văn bản quan trọng nhất mà Nietzsche đã viết để giải thích ý chí quyền lực theo cách hiểu của ông: “Cái quan niệm thắng lợi này về sức mạnh, nhờ nó các nhà vật lý của chúng ta đã tạo ra Chúa và vũ trụ, nó cần có một phần bổ sung; cần cấp cho nó một ý chí nội tại mà tôi sẽ gọi là ý chí quyền lực162.” Như vậy, ý chí quyền lực được cấp cho sức mạnh, nhưng theo một cách rất đặc biệt: nó vừa là một phần bổ sung cho sức mạnh, vừa là một cái gì mang tính nội tại. Không phải là nó được cấp cho sức mạnh theo cách thức của một vị ngữ. Quả thực, nếu ta đặt câu hỏi: “Ai?”, ta không thể nói rằng sức mạnh là chủ thể muốn. Chỉ có ý chí quyền lực là chủ thể muốn, nó không uỷ quyền hay xuất nhượng cho một chủ thể khác, cho dù chủ thể ấy là sức mạnh163. Nhưng, vậy thì nó có thể được cấp như thế nào? Chúng ta cần nhắc lại rằng sức mạnh ở trong quan hệ bản chất với sức mạnh, cần nhắc thêm rằng bản chất của sức mạnh tạo nên sự khác biệt về lượng của nó đối với các sức mạnh khác, và rằng sự khác biệt này tự thể hiện như là chất của sức mạnh. Thế mà, sự khác biệt về lượng được hiểu theo cách đó nhất thiết sẽ quy về yếu tố khu biệt của các sức mạnh có quan hệ với nhau, yếu tố này cũng là yếu tố di truyền học. Vậy ý chí quyền lực là: yếu tố phả hệ của sức mạnh, vừa có tính khu biệt, vừa có tính di truyền. Ý chí quyền lực là yếu tố từ đó khởi sinh sự khác biệt về lượng của các sức mạnh có quan hệ với nhau, và đồng thời cả chất thuộc về mỗi sức mạnh, trong mối quan hệ này. Ý chí quyền lực bộc lộ bản chất của nó ở đây: nó là nguyên tắc cho sự tổng hợp các sức mạnh. Chính trong sự tổng hợp có liên quan tới thời gian này, mà các sức mạnh lặp lại cùng những khác biệt như nhau, và chính trong sự tổng hợp này mà hình thành cái khác biệt. Tổng hợp có nghĩa là tổng hợp các sức mạnh, tổng hợp sự khác biệt của chúng và sự tái tạo của chúng; sự quy hồi vĩnh cửu là sự tổng hợp mà nguyên tắc của nó là ý chí quyền lực. Ta sẽ không ngạc nhiên về từ “ý chí” ở đây: cái gì, nếu không phải là ý chí, có khả năng sử dụng một sự tổng hợp các sức mạnh làm nguyên tắc, bằng cách xác định mối quan hệ giữa sức mạnh với sức mạnh? Nhưng cần phải hiểu “nguyên tắc” theo nghĩa nào? Nietzsche trách cứ rằng các nguyên tắc tồn tại luôn quá chung chung so với những gì mà chúng quy định, luôn có các mắt xích quá lỏng so với cái mà chúng có ý định nắm giữ hay giải quyết. Ông thích đối lập ý chí quyền lực với ý chí sống của Schopenhauer, chính là do tính khái quát thái quá ở triết gia này. Ngược lại, nếu ý chí quyền lực là một nguyên tắc tốt, nếu nó hòa giải chủ nghĩa kinh nghiệm với các nguyên tắc, nếu nó đề ra được một thứ chủ nghĩa kinh nghiệm cao hơn, thì bởi vì ý chí quyền lực là một nguyên tắc về cơ bản là có tính mềm dẻo, nó không rộng hơn những gì mà nó quy định, nó biến đổi cùng với cái bị quy định, nó tự xác định trong mỗi trường hợp với những gì mà nó xác định. Ý chí quyền lực, trong thực tế, không bao giờ tách khỏi các sức mạnh đã được xác định nào đó, không tách khỏi các lượng, các chất, các phương hướng của chúng; ý chí quyền lực không bao giờ đứng cao hơn những quy định mà nó thực hiện trong một quan hệ giữa các sức mạnh, nó luôn luôn mềm dẻo và biến đổi164.

Không thể tách biệt không có nghĩa là đồng nhất. Ý chí quyền lực không thể bị tách khỏi sức mạnh mà không rơi vào sự trừu tượng hóa của siêu hình học. Nhưng, nếu lẫn lộn sức mạnh với ý chí, thì còn có nguy cơ hơn nữa: ta sẽ không còn hiểu sức mạnh với tư cách là sức mạnh, ta rơi lại vào trong chủ nghĩa cơ giới, quên mất sự khác biệt của các sức mạnh, sự khác biệt tạo nên sự tồn tại của chúng, ta không nhận ra yếu tố từ đó mà có sự hình thành tương hỗ giữa chúng. Sức mạnh là cái có khả năng, còn ý chí quyền lực là cái muốn. Một sự phân biệt như vậy có ý nghĩa gì? Văn bản đã dẫn trước đây cho phép ta bình luận từng từ một.

- Khái niệm sức mạnh về bản chất là có tính thắng lợi, vì mối quan hệ giữa sức mạnh và sức mạnh, theo cách mà nó được hiểu trong khái niệm này, là mối quan hệ của sự chế ngự: trong mối quan hệ giữa hai sức mạnh thì một sức mạnh chế ngự, và sức mạnh kia bị chế ngự. (Thậm chí giữa Chúa và vũ trụ cũng được hiểu trong quan hệ chế ngự, dù sự diễn giải về một quan hệ như thế trong trường hợp này rất đáng phải tranh cãi.) Tuy nhiên, cái khái niệm thắng lợi này về sức mạnh cần có một phần bổ sung, và phần bổ sung này là một cái gì đó có tính nội tại, một mong muốn nội tại. Nó sẽ không phải là thắng lợi nếu thiếu một sự thêm vào như vậy. Các quan hệ của sức mạnh còn bất định, chừng nào người ta chưa thêm vào cho bản thân sức mạnh một yếu tố có khả năng xác định chúng từ một quan điểm kép. Các sức mạnh có quan hệ với nhau quy về hai sự hình thành đồng thời: sự hình thành tương hỗ của sự khác biệt về lượng, sự hình thành tuyệt đối của chất tương ứng. Như vậy, ý chí quyền lực bổ sung vào sức mạnh, nhưng với tư cách là yếu tố khu biệt và di truyền, với tư cách là yếu tố nội tại trong sự hình thành của nó. Trong bản chất của nó, không có gì thuộc về nhân hình học. Chính xác hơn: nó bổ sung vào sức mạnh như là nguyên tắc nội tại của sự xác định về chất trong một quan hệ (x+dx), và giống như nguyên tắc nội tại của sự xác định về lượng của bản thân mối quan hệ này (dy/dx). Ý chí quyền lực cần được xem la yếu tố phả hệ học của sức mạnh, và của những sức mạnh. Như vậy, luôn luôn nhờ ý chí quyền lực mà một sức mạnh có thể thắng những sức mạnh khác, chế ngự chúng, hay điều khiển chúng. Hơn nữa: vẫn là ý chí quyền lực (dy) khiến cho một sức mạnh phải tuân phục trong một mối quan hệ; chính vì ý chí quyền lực mà nó tuân phục165.

Theo một cách thức nào đó, ta đã từng bắt gặp mối quan hệ giữa sự quy hồi vĩnh cửu và ý chí quyền lực, nhưng vẫn chưa phân tích và làm sáng tỏ nó. Ý chí quyền lực vừa là một yếu tố di truyền của sức mạnh, vừa là nguyên tắc của sự tổng hợp các sức mạnh. Nhưng, dù sự tổng hợp này tạo thành sự quy hồi vĩnh cửu; dù trong sự tổng hợp này và đúng theo nguyên tắc của nó, các sức mạnh tất yếu được sinh ra, thì ta vẫn chưa hiểu tại sao lại như thế. Ở đây, sự tồn tại của vấn đề này cho thấy một phương diện quan trọng về mặt lịch sử của triết học Nietzsche: tình thế phức tạp của nó so với triết học Kant. Khái niệm tổng hợp là trung tâm của triết học Kant, nó là phát hiện của riêng ông. Thế mà ta biết rằng các triết gia sau Kant đã trách cứ ông là làm hại cho phát hiện này, xuất phát từ hai quan điểm: từ quan điểm của nguyên tắc chi phối sự tổng hợp, từ quan điểm của sự tái tạo các đối tượng trong bản thân sự tổng hợp. Người ta đòi hỏi phải có một nguyên tắc, nguyên tắc này không chỉ là điều kiện cho đối tượng, mà còn phải thực sự có tính di truyền và năng sản (nguyên tắc về sự khác biệt hay về sự quy định nội tại); người ta tố cáo rằng, ở Kant có tàn dư của sự hài hòa kỳ diệu giữa các khái niệm vốn vẫn có tính chất ngoại tại. Đối với một nguyên tắc về sự khác biệt hay về sự quy định nội tại, người ta đòi hỏi một lý do, không chỉ cho sự tổng hợp, mà còn cho sự tái tạo cái khác biệt trong sự tổng hợp trong tư cách là sự tổng hợp166. Thế nhưng, nếu Nietzsche tham dự vào câu chuyện của Kant, thì là với cách thức độc đáo mà ông đã chia sẻ những đòi hỏi của các triết gia sau Kant. Ông biến tổng hợp thành một tổng hợp các sức mạnh; vì, do không nhìn thấy rằng tổng hợp là một tổng hợp các sức mạnh, người ta đã hiểu sai ý nghĩa, bản chất và nội dung của nó. Ông hiểu sự tổng hợp các sức mạnh như là sự quy hồi vĩnh cửu, nên, ở trung tâm của tổng hợp, ông tìm thấy sự tái tạo cái khác biệt. Ông gán nguyên tắc của sự tổng hợp này cho ý chí quyền lực, và xác định ý chí quyền lực như là yếu tố khu biệt và di truyền của các sức mạnh hiện hành. Dù sau này còn phải kiểm tra kỹ hơn giả định này, chúng tôi cũng tin rằng ở Nietzsche, không chỉ có một hậu duệ của Kant, mà còn có một đối thủ, một nửa được thú nhận và một nửa bị che giấu. Bàn về Kant, Nietzsche không có cùng quan điểm với Schopenhauer: khác với Schopenhauer, ông không hướng tới một diễn giải nhằm lôi chủ nghĩa Kant ra khỏi những biến thái biện chứng của mình và tìm ra cho nó những lối thoát mới. Bởi vì, đối với Nietzsche, những biến thái biện chứng này không đến từ bên ngoài, và nguyên nhân đầu tiên là vì chúng không được phê phán đầy đủ. Một sự biến đổi căn bản của chủ nghĩa Kant, một sự tái sáng tạo sự phê phán mà Kant đã phản bội ngay khi ông đề xướng, việc lặp lại cái đề án phê phán trên những nền tảng mới với những khái niệm mới, dường như đó mới chính là điều Nietzsche đã kiếm tìm (và đã tìm thấy trong “sự quy hồi vĩnh cửu” và “ý chí quyền lực”).

7) Hệ thống thuật ngữ của Nietzsche

Trong khi đề cập quá sớm về những phân tích cần phải tiến hành, chúng tôi nhận thấy rằng đã đến lúc phải xác định một vài điểm trong hệ thống thuật ngữ của Nietzsche. Toàn bộ sự chặt chẽ của triết học Nietzsche phụ thuộc vào việc đó, sự chính xác có tính hệ thống của triết học này bị người ta nghi ngờ một cách sai lầm. Dù để thích thú hoặc để lấy làm tiếc thì sự nghi ngờ cũng là sai. Quả thực, Nietzsche sử dụng những thuật ngữ mới rất chính xác cho những khái niệm mới rất chính xác:

1o Nietzsche gọi yếu tố phả hệ, của sức mạnh là ý chí quyền lực. Phả hệ có nghĩa là khu biệt và di truyền. Ý chí quyền lực là yếu tố khu biệt của các sức mạnh, nghĩa là yếu tố hình thành nên sự khác biệt về lượng giữa hai hay nhiều sức mạnh giả định là có quan hệ với nhau. Ý chí quyền lực là yếu tố di truyền của sức mạnh, nghĩa là yếu tố hình thành nên chất, là cái thuộc về mỗi một sức mạnh trong mối quan hệ này. Ý chí quyền lực với tư cách là nguyên tắc không hủy bỏ sự ngẫu nhiên, mà trái lại bao hàm nó, vì nếu không có ngẫu nhiên thì có lẽ ý chí quyền lực không có sự mềm dẻo, cũng không có sự biến đổi. Ngẫu nhiên khiến các sức mạnh có quan hệ với nhau; ý chí quyền lực là nguyên tắc xác định của mối quan hệ này. Ý chí quyền lực tất yếu bổ sung cho các sức mạnh, nhưng nó chỉ có thể bổ sung cho những sức mạnh có quan hệ với nhau nhờ ngẫu nhiên. Ý chí quyền lực bao hàm sự ngẫu nhiên trong lòng mình, nó là cái duy nhất có khả năng khẳng định toàn bộ sự ngẫu nhiên;

2° Từ ý chí quyền lực với tư cách là yếu tố phả hệ nảy sinh sự khác biệt về lượng của các sức mạnh có quan hệ với nhau và đồng thời, nảy sinh chất đặc thù của các sức mạnh này. Tùy theo sự khác biệt về lượng của chúng mà các sức mạnh được gọi là chế ngự hay bị chế ngự. Tùy theo chất của chúng mà các sức mạnh được gọi là hoạt năng hay phản ứng. Có ý chí quyền lực trong sức mạnh phản ứng hoặc bị chế ngự, cả trong sức mạnh hoạt năng hay chế ngự. Thế nhưng, vì sự khác biệt về lượng là bất khả quy trong mỗi trường hợp riêng lẻ, nên sẽ là vô ích khi muốn đo lường nó nếu ta không diễn giải chất của các sức mạnh đang hiện diện, về bản chất, các sức mạnh bị khu biệt và được định chất. Các sức mạnh biểu thị sự khác biệt về lượng qua chất thuộc về mỗi sức mạnh. Đó là vấn đề của diễn giải: với một hiện tượng, một sự kiện được đưa ra, đánh giá chất của cái sức mạnh mang lại cho nó một ý nghĩa, và từ đó, đánh giá mối quan hệ của các sức mạnh hiện có. Đừng quên rằng, trong mỗi trường hợp, diễn giải đều vấp phải đủ mọi loại khó khăn và đủ mọi vấn đề tế nhị: cần có một tri giác “cực kỳ tế vi”, thuộc loại tri giác mà người ta tìm thấy trong các chất hóa học;

3° Chất của các sức mạnh có nguyên tắc của chúng ở trong ý chí quyền lực. Và nếu chúng ta hỏi: “Cái gì diễn giải?” thì câu trả lời là ý chí quyền lực; chính ý chí quyền lực diễn giải167. Nhưng để có thể là cội nguồn của chất của sức mạnh, bản thân ý chí quyền lực cần phải có các chất, đặc biệt có tính chất chảy trôi, và còn tinh tế hơn các chất của sức mạnh. “Cái chế ngự, đó là cái chất hoàn toàn có tính nhất thời của ý chí quyền lực168“. Các chất này của ý chí quyền lực có quan hệ trực tiếp với yếu tố di truyền hay yếu tố phả hệ, những yếu tố định tính này có tính chất chảy trôi, tính chất hàng đầu, thuộc tinh khí, chúng không thể bị lẫn lộn với các chất của sức mạnh. Việc nhấn mạnh các thuật ngữ do Nietzsche sử dụng cũng rất quan trọng: hoạt năng và phản ứng biểu thị các chất căn nguyên của sức mạnh, trong khi khẳng định và phủ định chỉ các chất hàng đầu của ý chí quyền lực. Khẳng định và phủ định, đánh giá cao và làm sụt giá, biểu thị ý chí quyền lực, còn hoạt động và phản ứng biểu thị sức mạnh. (Và tương tự như thế, các sức mạnh phản ứng cũng là sức mạnh, còn ý chí phủ định, chủ nghĩa hư vô thuộc về ý chí quyền lực: “…một ý chí triệt hạ, một sự thù địch với đời sống, một sự chối từ các điều kiện cơ bản của cuộc sống, dù thế nào đó vẫn luôn là một ý chí”169). Thế nhưng, nếu chúng ta cần phải gán cho sự phân biệt hai loại chất này tầm quan trọng bậc nhất, thì là vì nó luôn luôn nằm ở trung tâm của triết học Nietzsche; giữa hành động và khẳng định, giữa phản ứng và phủ định, có một ái lực sâu sắc, một sự cộng tác, nhưng không hề bị lẫn lộn. Hơn nữa, sự xác định các ái lực này vận dụng toàn bộ nghệ thuật của triết học. Một mặt, hiển nhiên là có sự khẳng định trong tất cả mọi hoạt động, có sự phủ định trong tất cả mọi phản ứng. Nhưng mặt khác, hoạt động và phản ứng đúng hơn là những phương tiện, phương tiện hay công cụ của ý chí quyền lực khẳng định và phủ định: các sức mạnh phản ứng là công cụ của chủ nghĩa hư vô. Mặt khác nữa, hoạt động và phản ứng cần tới sự khẳng định và phủ định với tư cách là cái gì đó vượt qua chúng, nhưng cần thiết để chúng thực hiện mục đích riêng của chúng. Cuối cùng, sâu sắc hơn, khẳng định và phủ định vượt quá phạm vi của hoạt động và phản ứng, bởi vì khẳng định và phủ định là các chất trực tiếp của bản thân sự trở thành: khẳng định không phải là hoạt động, mà là quyền lực của sự trở thành có tính hoạt năng, là hiện thân của sự trở thành có tính hoạt năng; phủ định không phải chỉ là phản ứng, mà là một sự trở thành có tính phản ứng. Tất cả diễn ra như thể khẳng định và phủ định đồng thời vừa có tính nội tại, vừa có tính siêu việt, so với hoạt động và phản ứng; chúng tạo thành chuỗi các sự trở thành với cái lõi là sức mạnh. Chính khẳng định đưa chúng ta vào trong thế giới vinh quang của Dionysos, vào sự tồn tại của sự trở thành; chính phủ định đẩy chúng ta vào chỗ tận cùng đáng lo ngại, nơi phát sinh các sức mạnh phản ứng;

4o Vì tất cả những lya do này, Nietzsche có thể nói: ý chí quyền lực không chỉ diễn giải, mà còn đánh giá170. Diễn giải, đó là xác định cái sức mạnh đem đến cho sự vật một ý nghĩa. Đánh giá, đó là xác định cái ý chí quyền lực đem đến cho sự vật một giá trị. Do đó, các giá trị không còn chịu để mình bị trừu tượng hóa khỏi giác độ, mà từ đó chúng nhận được giá trị của mình, cũng như nghĩa không để mình bị trừu tượng hóa khỏi giác độ, mà từ đó nó nhận được ý nghĩa. Ý chí quyền lực với tư cách là yếu tố phả hệ, là cái mà từ đó nảy sinh ý nghĩa của ý nghĩa và giá trị của các giá trị. Chính là chúng tôi đã nói về ý chí quyền lực mà không gọi tên nó ra, ngay từ phần đầu của chương trước. Ý nghĩa của một ý nghĩa nằm trong chất của cái sức mạnh thể hiện trong sự vật: sức mạnh này là hoạt năng hay phản ứng, và có sắc thái nào? Giá trị của một giá trị nằm trong chất của cái ý chí quyền lực thể hiện trong sự vật tương ứng: ý chí quyền lực ở đây có tính khẳng định hay phủ đinh, và có sắc thái nào? Nghệ thuật triết học càng phức tạp hơn khi mà các vấn đề diễn giải và đánh giá tham chiếu lẫn nhau, nối dài lẫn nhau - Điều mà Nietzsche gọi là cao quý, cao thượng, ông chủ, có lúc thì đó là sức mạnh hoạt năng, có lúc đó là ý chí khẳng định. Cái mà ông gọi là thấp kém, hèn hạ, nô lệ, có lúc đó là sức mạnh phản ứng, có lúc đó là ý chí phủ định. Tại sao lại là những thuật ngữ này, sau này chúng ta sẽ hiểu. Tuy nhiên, một giá trị luôn luôn có một phả hệ, phụ thuộc vào phả hệ này là sự cao quý hay sự thấp kém của cái mà nó mời ta tin, cảm nhận và suy nghĩ. Sự thấp kém nào có thể được biểu hiện trong một giá trị, sự cao quý nào được biểu hiện trong một giá trị khác, chỉ có nhà phả hệ học mới có khả năng phát hiện ra điều đó, vì ông ta biết sử dụng yếu tố khu biệt: ông ta là bậc thầy của sự phê phán các giá trị171. Chúng ta sẽ tước bỏ toàn bộ ý nghĩa của khái niệm giá trị chừng nào chúng ta chưa thấy trong các giá trị bấy nhiêu bể chứa cần phải chọc thủng, bấy nhiêu tượng đài cần đập vỡ để tìm thấy cái mà chúng cất giấu, cái cao quý nhất hay cái thấp kém nhất. Giống như từ các bộ phận thân thể phân tán của Dionysos, chỉ duy nhất các hình tượng cao quỹ là được tái tạo. Nói về sự cao quý của các giá trị nói chung chứng tỏ một ý nghĩ quá quan tâm đến việc che giấu sự thấp kém của chính nó: như thể, đối với ý nghĩa, và chính xác là đối với giá trị, các giá trị đầy đủ không cần dùng làm nơi ẩn náu và phô bày cho tất cả những gì thấp kém, hèn hạ, nô lệ. Giả sử Nietzsche, người sáng tạo ra triết học về giá trị, có thể sống lâu hơn, hẳn ông đã phải chứng kiến cái khái niệm có tính phê phán vào bậc nhất này phải phục vụ và hướng về một thứ chủ nghĩa phục tùng mang tính ý hệ nhạt nhẽo nhất, thấp kém nhất; hẳn ông đã phải chứng kiến những nhát búa của triết học về giá trị biến thành những lời nịnh hót quá mức; tính chiến luận và xâm hấn bị thay thế bởi sự phẫn hận, kẻ canh gác bần tiện cho cái trật tự đã được thiết lập, con chó bảo vệ các giá trị hiện hành; ông sẽ thấy khi bị rơi vào tay những kẻ nô lệ, thì phả hệ học sẽ là: sự lãng quên các chất, lãng quên các nguồn gốc172.

8) Nguồn gốc và hình ảnh lộn ngược

Khởi thủy, có sự khác biệt giữa các sức mạnh hoạt năng và các sức mạnh phản ứng. Hoạt động và phản ứng không thuộc về một mối quan hệ có tính chất tiếp nối, mà cùng tồn tại bên nhau trong chính nguồn gốc. Do vậy, sự hợp tác giữa sức mạnh hoạt năng và sự khẳng định, sự hợp tác giữa sức mạnh phản ứng và sự phủ định, biểu lộ trong nguyên tắc sau: cái phủ định đã hoàn toàn đứng về phía phản ứng. Ngược lại, chí duy nhất sức mạnh hoạt năng là tự khẳng định, nó khẳng định sự khác biệt của nó, nó biến sự khác biệt thành một đối tượng vui thích và khẳng định. Sức mạnh phản ứng hạn chế sức mạnh hoạt năng, kể cả khi nó tuân phục, nó áp đặt cho sức mạnh hoạt năng những giới hạn và những hạn chế bộ phận, nó bị chi phối bởi tinh thần phủ định173. Vì thế mà bản thân nguồn gốc chứa đựng một hình ảnh lộn ngược về chính nó, theo một cách thức nào đó: xét từ góc độ của sức mạnh phản ứng, yếu tố phả hệ có tính khu biệt xuất hiện ở mặt trái, sự khác biệt trở thành phủ định, sự khẳng định trở thành mâu thuẫn. Một hình ảnh lộn ngược của nguồn gốc đi kèm nguồn gốc: những gì là “vâng” từ góc độ các sức mạnh hoạt năng trở thành “không” từ góc độ các sức mạnh phản ứng, những gì là sự khẳng định bản thân trở thành sự phủ định kẻ khác. Đó là cái mà Nietzsche gọi là sự đảo ngược cái nhìn thiết định giá trị”174. Các sức mạnh hoạt năng là cao quý, nhưng chúng phải đối đầu với một hình anh hạ tiện, hình ảnh này được phản chiếu thông qua các sức mạnh phản ứng. Phả hệ học là nghệ thuật của sự khác biệt hay của đẳng cấp, nghệ thuật của sự cao quý; nhưng nó nhìn thấy chính mình bị đảo ngược trong tấm gương của các sức mạnh phản ứng. Vậy là hình ảnh của nó xuất hiện giống như hình ảnh của một “sự tiến hóa” - Và sự tiến hóa này khi thì được hiểu theo kiểu Đức, như là sự phát triển biện chứng và theo kiểu Hegel, tức như là sự triển khai của mâu thuẫn; khi thì được hiểu theo kiểu Anh, như là một sự phát sinh vị lợi, tức như là sự phát triển của quyền lợi và lợi ích. Nhưng lúc nào thì phả hệ học đích thực cũng tìm thấy biếm họa của nó trong hình ảnh mà thuyết tiến hóa phác họa về nó, cơ bản là có tính phản ứng: dù là theo kiểu Anh hay kiểu Đức, thuyết tiến hóa là hình ảnh phản ứng của phả hệ học175. Như vậy, đặc điểm của các sức mạnh phản ứng là phủ định, ngay từ nguồn gốc, sự khác biệt cấu thành nên chúng trong nguồn gốc, là đảo ngược yếu tố khu biệt mà từ đó nó hình thành, là tạo dựng một hình ảnh biến dạng từ đó. “Sự khác biệt làm nảy sinh thù ghét176“. Chính vì lý do này mà chúng không hiểu bản thân chúng trong tư cách là các sức mạnh, và thích quay lại chống chính mình hơn là tự hiểu mình đúng như vốn có và chấp nhận sự khác biệt. “Tính tầm thường” của tư duy mà Nietzsche tố cáo luôn luôn quy về tật sính diễn giải, hay sính đánh giá các hiện tượng xuất phát từ các sức mạnh phản ứng, qua đó mỗi kiểu tư duy của mỗi quốc gia lựa chọn các tật sính riêng. Tuy nhiên, bản thân tật sính này bắt nguồn từ trong nguồn gốc, từ trong hình ảnh lộn ngược. Ý thức và lương tâm chỉ là sự phóng đại đơn giản của hình ảnh phản ứng này…

Ta đi thêm một bước nữa: giả định rằng, với sự trợ giúp của hoàn cảnh thuận lợi bên ngoài hay bên trong, các sức mạnh phản ứng chiến thắng và vô hiệu hóa các sức mạnh hoạt năng. Chúng ta chệch ra khỏi nguồn gốc: đó không còn là hình ảnh lộn ngược, mà là một sự phát triển của hình ảnh này, một sự đảo ngược của bản thân các giá trị177; cái dưới thấp được đặt lên trên cao, các sức mạnh phản ứng chiến thắng. Nếu chúng chiến thắng, thì chính là nhờ ý chí phủ định, nhờ ý chí hư vô đã phát triển hình ảnh; nhưng chiến thắng của chúng không phải là chiến thắng tưởng tượng. Câu hỏi là: các sức mạnh phản ứng chiến thắng như thế nào? Nghĩa là: khi thắng các sức mạnh hoạt năng, liệu đến lượt chúng, các sức mạnh phản ứng có trở thành những sức mạnh chế ngự, xâm hấn và chinh phục không, liệu toàn bộ các sức mạnh phản ứng ấy có tạo thành một sức mạnh lớn hơn và lại có tính hoạt năng không? Nietzsche trả lời: kể cả khi kết hợp với nhau, các sức mạnh phản ứng không tạo thành một sức mạnh lớn hơn và có tính hoạt năng. Chúng tiến hành theo một cách hoàn toàn khác: chúng phá hỏng; chúng tách sức mạnh hoạt năng khỏi cái mà nó có thể; chúng lấy đi một phần, hoặc gần như toàn bộ quyền lực của sức mạnh hoạt năng, và do vậy chúng không trở thành hoạt năng, mà trái lại, chúng làm cho sức mạnh hoạt năng kết nối với chúng, làm cho nó trở thành phản ứng theo một nghĩa mới. Ta dự cảm rằng, khởi đi từ nguồn gốc của nó và khi được phát triển, khái niệm phản ứng có thay đổi về nghĩa: một sức mạnh hoạt năng biến thành phản ứng (theo một nghĩa mới), khi các sức mạnh phản ứng (theo nghĩa ban đầu) tách nó khỏi những gì mà nó có thể. Làm thế nào mà một sự chia tách như vậy có thể thực hiện một cách chi tiết, Nietzsche sẽ phân tích điều đó. Nhưng ngay từ bây giờ đã cần phải ghi nhận rằng Nietzsche, rất cẩn thận, không bao giờ trình bày các sức mạnh phản ứng như là sự tạo thành một sức mạnh cao hơn sức mạnh hoạt năng, mà như là một phép trừ hay một phép chia. Nietzsche đã dành cả một cuốn sách để phân tích các phương diện của sự chiến thắng của phản ứng trong thế giới con người: phẫn hận, mặc cảm tội lỗi, lý tưởng khổ hạnh; trong mỗi một trường hợp, ông sẽ chỉ ra rằng các sức mạnh phân ứng không chiến thắng bằng cách tạo thành một sức mạnh cao hơn, mà bằng cách “chia tách” sức mạnh hoạt năng178. Và trong mỗi trường hợp, sự chia tách này lại dựa trên một điều tưởng tượng, dựa trên một sự lừa mị, hoặc một sự giả mạo. Chính ý chí hư vô phát triển hình ảnh phủ định và lộn ngược, chính nó thực hiện phép trừ. Thế nhưng, trong thao tác của phép trừ luôn có cái gì đó có tính tưởng tượng được biểu hiện trong việc sử dụng con số theo cách phủ định. Vì thế, nếu muốn ghi lại thắng lợi của các sức mạnh phản ứng bằng các con số, chúng ta không cần phải dùng đến một phép cộng tập hợp toàn bộ các sức mạnh phản ứng để giúp chúng mạnh hơn sức mạnh hoạt năng, mà chúng ta cần dùng đến phép trừ tách sức mạnh hoạt năng khỏi cái mà nó có thể, phép trừ phủ định sự khác biệt để biến sức mạnh hoạt năng thành một sức mạnh phản ứng. Do đó, việc phản ứng chiến thắng không đủ để nó thôi là một phản ứng mà trái lại. Do một huyễn tưởng, sức mạnh hoạt năng bị tách khỏi cái mà nó có thể, không phải vì thế mà nó không thực sự trở thành phản ứng, chính vì thông qua cái phương tiện đó mà nó thực sự trở thành phản ứng. Vì vậy, Nietzsche đã sử dụng các từ: “hèn hạ”, “đê tiện”, “nô lệ”: những từ này chỉ tình trạng các sức mạnh phản ứng tự đặt mình lên cao, đưa sức mạnh hoạt năng vào bẫy, thay thế các ông chủ bằng các nô lệ không lúc nào ngừng là nô lệ.

9) Vấn đề đo lường các sức mạnh

Đấy là lý do vì sao chúng ta không thể đo lường các sức mạnh bằng một đơn vị trừu tượng, cũng không thể xác định lượng và chất riêng của chúng bằng cách lấy trạng thái thực tế của các sức mạnh trong một hệ thống làm tiêu chí. Nên nói rằng: các sức mạnh hoạt năng là các sức mạnh cao hơn, các sức mạnh chế ngự, các sức mạnh mạnh nhất. Nhưng các sức mạnh thấp hơn có thể chiến thắng mà vẫn cứ là các sức mạnh thấp hơn về lượng, mà vẫn cứ là sức mạnh phản ứng về chất, mà vẫn cứ là nô lệ theo cách thức của chúng. Một trong những phát ngôn quan trọng nhất của Ý chí quyền lực là: “Người ta luôn luôn bảo vệ kẻ mạnh chống lại kẻ yếu179“. Ta không thể dựa vào trạng thái sự kiện của một hệ thống sức mạnh, cũng không thể dựa vào kết cục của cuộc đấu tranh giữa chúng để kết luận: những sức mạnh này là hoạt năng, những sức mạnh kia là phản ứng. Chống lại Darwin và thuyết tiến hóa, Nietzsche nhận thấy rằng: “Giả sử có cuộc đấu tranh ấy (và quả thực là có), thì tiếc thay nó kết thúc theo một cách ngược hẳn với cách mà trường phái Darwin mong muốn, khác với cách mà người ta có thể mong muốn: tiếc thay, nó kết thúc bất lợi cho những kẻ mạnh, cho những kẻ có đặc quyền, cho những ngoại lệ may mắn180.” Trước hết, chính trong ý nghĩa này mà diễn giải là một nghệ thuật rất khó: chúng ta cần phải đánh giá xem các sức mạnh chiến thắng ở đẳng cấp thấp hơn hay cao hơn, phản ứng hay hoạt năng; xem chúng chiến thắng trong tư cách là kẻ bị chế ngự hay kẻ chế ngự. Trong lĩnh vực này, không có sự kiện, chỉ có các diễn giải. Người ta không được quan niệm sự đo lường các sức mạnh như là một phương pháp vật lý trừu tượng, mà như một hành động cơ bản của một vật lý học cụ thể, không phải như một kỹ thuật phiếm định, mà như là nghệ thuật diễn giải sự khác biệt và chất lượng độc lập với trạng thái sự kiện. (Đôi khi Nietzsche còn nói: “Bên ngoài trật tự xã hội hiện tồn.”181)

Vấn đề này gợi lại một cuộc tranh luận cũ, cuộc thảo luận nổi tiếng giữa Calliclès và Socrate. Đối với chúng tôi, Nietzsche dường như gần gũi với Calliclès biết bao, và Calliclès trực tiếp được Nietzsche bổ sung. Calliclès cố gắng phân biệt tự nhiên và quy luật. Ông gọi quy luật là những gì tách một sức mạnh ra khỏi cái mà nó có thể; theo nghĩa này, quy luật biểu hiện sự chiến thắng của kẻ yếu đối với kẻ mạnh. Nietzsche thêm vào: chiến thắng của phản ứng đối với hành động. Quả thực, tất cả những gì chia tách một sức mạnh đều là phản ứng; tình trạng một sức mạnh bị tách khỏi cái mà nó có thể cũng là phản ứng. Trái lại, tất cả những sức mạnh đi đến tận cùng quyền lực của nó đều là hoạt năng. Một sức mạnh đi đến tận cùng, điều đó không phải là quy luật, thậm chí còn là sự đối lập với quy luật182. - Socrate đáp lại Calliclès: không thể phân biệt tự nhiên với quy luật, vì nếu những kẻ yếu chiến thắng, chính là trong chừng mực mà, khi tất cả liên kết lại, chúng tạo thành một sức mạnh còn mạnh hơn sức mạnh của kẻ mạnh. Calliclès không phàn nàn là đã không được hiểu, ông bắt đầu lại: kẻ nô lệ vẫn cứ là kẻ nô lệ trong khi chiến thắng; khi kẻ yếu chiến thắng, đó không phải là bằng cách tạo nên một sức mạnh lớn hơn, mà bằng cách tách sức mạnh khỏi cái mà nó có thể. Ta không thể so sánh các sức mạnh một cách trừu tượng; sức mạnh cụ thể, từ góc độ tự nhiên, là sức mạnh đi tới tận những hậu quả cuối cùng, đến tận cùng của quyền lực hay dục vọng. Socrate bác bỏ lần thứ hai: điều đáng kể đối với anh, Calliclès, đó là khoái lạc… Anh xác định mọi thứ bằng khoái lạc…

Ta lưu ý điều diễn ra giữa nhà ngụy biện và nhà biện chứng pháp: thiện ý ở phía nào, và sự chặt chẽ của lập luận ở phía nào. Calliclès xâm hấn, nhưng không phẫn hận. Ông thích im lặng hơn; rõ ràng là lần thứ nhất Socrate không hiểu, và lần thứ hai lại nói về một chuyện khác. Làm thế nào để giải thích cho Socrate rằng “dục vọng” không phải là sự kết hợp một niềm vui và một nỗi đau, nỗi đau cảm thấy nó, và niềm vui thoã mãn nó? Rằng niềm vui và nỗi đau chỉ là những phản ứng, những đặc điểm của sức mạnh phản ứng, những biên bản ghi nhận sự thích ứng hay sự không thích ứng? Và làm thế nào để Socrate hiểu rằng những kẻ yếu hợp nhau lại không tạo thành một sức mạnh mạnh hơn? Một mặt, Socrate không hiểu, một mặt thì ông không nghe: ông quá bị thúc đẩy bởi sự phẫn hận biện chứng và tinh thần trả thù. Ông, người vốn đòi hỏi rất cao đối với người khác, và hay bắt bẻ khi người ta trả lời ông…

10) Thứ bậc

Nietzsche cũng gặp gỡ những “Socrate” của chính mình. Đó là những người vô tín ngưỡng. Họ nói: “Ông phàn nàn cái gì? Làm sao những kẻ yếu có thể chiến thắng nếu họ không tự tạo cho mình một sức mạnh cao hơn?” “chúng ta hãy nghiêng mình trước những sự kiện đã hoàn tất183“. Đó là chủ nghĩa thực chứng hiện đại: người ta có tham vọng tiến hành sự phê phán các giá trị, từ chối các giá trị siêu việt, người ta xem chúng là lỗi thời, nhưng chỉ là để tìm lại chúng như các sức mạnh dẫn dắt thế giới hiện tại. Giáo hội, luân lý, Nhà nước, v.v.: người ta thảo luận về các giá trị của chúng chỉ để khâm phục sức mạnh nhân văn và nội dung nhân văn của chúng. Người vô tín ngưỡng có một ám ảnh đặc biệt là muốn thâu tóm toàn bộ nội dung, toàn bộ cái tích cực, nhưng không bao giờ tra vấn về bản chất của những nội dung được gọi là tích cực này, cũng không tra vấn về nguồn gốc hay chất lượng của các sức mạnh nhân văn tương ứng. Đấy là điều mà Nietzsche gọi là “thuyết duy sự kiện”184 [faitalisme]. Những người vô tín ngưỡng muốn thâu tóm nội dung của tôn giáo, nhưng không bao giờ tự hỏi liệu có phải tôn giáo không chứa đựng các sức mạnh thấp kém nhất của con người, đúng hơn cần phải mong rằng các sức mạnh này hãy ở ngoài con người. Vì thế, không thể tin tưởng ở chủ nghĩa vô thần của một người vô tín ngưỡng, kể cả là người vô tín ngưỡng theo khuynh hướng dân chủ và chủ nghĩa xã hội: “Nhà thờ, chứ không phải thuốc độc của nó, làm cho chúng ta chán ghét…185” Và đây là những gì về cơ bản làm nổi bật đặc điểm của chủ nghĩa thực chứng và chủ nghĩa nhân đạo của người không tín ngưỡng: thuyết duy sự kiện, sự bất lực không thể diễn giải, việc không biết đến các chất lượng của sức mạnh. Ngay khi một cái gì đó xuất hiện như một sức mạnh nhân văn, hay như một sự kiện nhân văn, người vô tín ngưỡng liền vỗ tay tán thưởng, mà không tự hỏi liệu cái sức mạnh này có một xuất thân thấp kém không, và liệu cái sự kiện này có đối lập với một sự kiện cao siêu không: “Nhân văn, quá nhân văn.” Bởi vì nó không tính đến các chất của sức mạnh, do thiên hướng của nó, tư duy vô tín ngưỡng phục vụ cho các sức mạnh phản ứng và biểu hiện sự chiến thắng của chúng. Bởi sự kiện luôn luôn là sự kiện về những kẻ yếu chống lại những kẻ mạnh; “sự kiện luôn luôn ngớ ngẩn, luôn giống với một thằng ngốc hơn là giống một vị thần”186. Nietzsche dùng tinh thần tự do [esprit libre] để đối lập với người vô tín ngưỡng [libre penseur], dùng bản thân tinh thần diễn giải để đánh giá sức mạnh từ phương diện nguồn gốc và phẩm chất của chúng: “không có sự kiện, chỉ có các diễn giải187“. Sự phê phán tư duy vô tín ngưỡng là một chủ đề cơ bản trong tác phẩm của Nietzsche. Chắc hẳn bởi vì sự phê phán này phát hiện một quan điểm cho rằng các hệ tư tưởng khác nhau có thể bị tấn công cùng một lúc: chủ nghĩa thực chứng, sự ca tụng sự kiện nhân văn trong chủ nghĩa nhân đạo, tật sính thâu tóm các nội dung nhân văn trong biện chứng pháp.

Từ thứ bậc” đối với Nietzsche có hai nghĩa. Trước hết, nó có nghĩa là sự khác nhau giữa các sức mạnh hoạt năng và phản ứng, tính ưu trội của sức mạnh hoạt năng so với sức mạnh phản ứng. Vì vậy mà Nietzsche có thể nói đến một “cấp độ bất biến và bẩm sinh trong thứ bậc”188; và vấn đề thứ bậc là vấn đề của tinh thần tự do189. Nhưng thứ bậc cũng chỉ sự chiến thắng của các sức mạnh phản ứng, sự lây lan của các sức mạnh phản ứng và cái tổ chức phức tạp được thiết lập tiếp theo đó, trong tổ chức đó kẻ yếu chiến thắng, và kẻ mạnh bị làm cho hư hỏng, trong tổ chức đó kẻ nô lệ vẫn luôn là kẻ nô lệ chiến thắng cái ông chủ đã không còn là ông chủ nữa: sự ngự trị của luật lệ và của đạo đức. Theo nghĩa thứ hai này, đạo đức và tôn giáo cũng vẫn là lý thuyết về thứ bậc190. Nếu so sánh hai nghĩa này, ta sẽ thấy rằng nghĩa thứ hai giống như là mặt trái của nghĩa thứ nhất. Chúng ta biến Giáo hội, luân lý và Nhà nước thành những ông chủ và thành người nắm giữ mọi thứ bậc. Chúng ta có loại thứ bậc xứng đáng với chúng ta, về cơ bản chúng ta có tính phản ứng, chúng ta coi chiến thắng của phản ứng như là một biến thái của hành động, và coi những người nô lệ như là những ông chủ mới - chúng ta là những người chỉ thừa nhận thứ bậc từ mặt trái của nó.

Những kẻ mà Nietzsche gọi là kẻ yếu hay nô lệ, không phải là kẻ yếu hơn, mà là kẻ bị tách khỏi cái mà nó có thể, cho dù sức mạnh của nó thuộc loại nào. Kẻ yếu hơn cũng mạnh như là kẻ mạnh nếu nó đi đến tận cùng191. Sự đánh giá và thẩm định các sức mạnh không phụ thuộc gì vào số lượng tuyệt đối, mà phụ thuộc vào cách tiến hành tương đối. Người ta không thể đánh giá sức mạnh hay sự yếu đuối nếu coi kết quả của cuộc đấu và thành công là nguyên tắc. Vì, một lần nữa, đó là một sự kiện về sự thắng lợi của kẻ yếu: chính đó là bản chất của sự kiện. Chỉ có thể đánh giá các sức mạnh nếu trước hết ta tính đến chất của chúng, hoạt năng hay phản ứng; tiếp đó tính đến ái lực của chất này với cực tương ứng của ý chí quyền lực, khẳng định hay phủ định; và thứ ba là tính đến sắc thái của chất mà sức mạnh thể hiện vào một thời điểm nhất định trong sự phát triển của nó, trong tương quan với ái lực của nó. Từ đó, sức mạnh phản ứng là: 1° sức mạnh vị lợi, thích nghi và hạn chế bộ phận; 2° sức mạnh tách sức mạnh hoạt năng ra khỏi cái mà nó có thể, phủ định sức mạnh hoạt năng (chiến thắng của kẻ yếu hay kẻ nô lệ); 3° sức mạnh bị tách khỏi cái mà nó có thể, tự phủ định chính mình hoặc quay lại chống lại chính mình (sự ngự trị của kẻ yếu hay kẻ nô lệ). Và tương ứng, sức mạnh hoạt năng là: 1° sức mạnh mềm dẻo, chế ngự và chinh phục; 2° sức mạnh đi đến tận cùng cái mà nó có thể; 3° sức mạnh khẳng định sự khác biệt của nó, biến sự khác biệt thành một đối tượng vui thích và khẳng định. Các sức mạnh chỉ được xác định một cách cụ thể và đầy đủ khi ta tính đến đồng thời cả ba cặp đặc điểm này.

11) Ý chí quyền lực và tình cảm quyền lực

Chúng ta biết ý chí quyền lực là gì: là yếu tố khu biệt, yếu tố phả hệ học, nó xác định quan hệ giữa sức mạnh với sức mạnh và nó tạo ra chất của sức mạnh. Ý chí quyền lực cũng cần phải tự biểu hiện trong sức mạnh với tư cách là chính nó. Nghiên cứu về các hình thức biểu hiện của ý chí quyền lực cần được tiến hành rất cẩn thận, vì tính năng động của các sức mạnh hoàn toàn phụ thuộc vào đó. Nhưng “ý chí quyền lực tự biểu hiện” có nghĩa là gì? Quan hệ giữa các sức mạnh được xác định trong mỗi một trường hợp khi mà một sức mạnh bị kích động bởi những sức mạnh khác, thấp hơn hoặc cao hơn. Kết quả là ý chí quyền lực biểu hiện như một năng lực bị kích động. Năng lực này không phải là một khả thể trừu tượng: ở mỗi một khoảnh khắc, nó cần được tiến hành, được thực hiện bởi những sức mạnh khác có quan hệ với nó. Ta sẽ không ngạc nhiên về hai phương diện này của ý chí quyền lực: nó xác định mối quan hệ giữa các sức mạnh xét từ phương diện sự hình thành hay sự phát sinh ra chúng, nhưng nó bị xác định bởi các sức mạnh có quan hệ, xét từ phương diện biểu hiện của nó. Vì thế, ý chí quyền lực luôn luôn được xác định đồng thời với việc nó xác định, luôn được thẩm định đồng thời với việc nó thẩm định. Như vậy, trước tiên, ý chí quyền lực biểu hiện như năng lực bị kích động, như là năng lực xác định của cái sức mạnh để bản thân mình bị kích động. Ở đây, rất khó phủ nhận rằng Nietzsche lấy cảm hứng từ Spinoza. Spinoza, trong một lý luận vô cùng sâu sắc, muốn chứng minh rằng mọi lượng sức mạnh đều có một năng lực bị kích động tương ứng. Một cơ thể càng có nhiều sức mạnh nếu nó có thể bị kích động bởi một số lượng càng lớn các cách thức khác nhau. Chính năng lực này đo lường sức mạnh của một cơ thể hoặc biểu hiện quyền lực của nó. Và, một mặt, năng lực này không phải là một khả thể logic đơn thuần: ở mỗi thời điểm nó được tác động bởi các cơ thể mà nó có quan hệ. Mặt khác, năng lực này cũng không phải là tính thụ động vật lý: chỉ duy nhất có tính thụ động là các cảm xúc mà cơ thể được xem xét không phải là nguyên nhân thích đáng của chúng192.

Cũng tương tự như vậy ở Nietzsche: năng lực dễ bị kích động không nhất thiết phải có nghĩa là tính thụ động, mà là tính dễ xúc dộng, là tính nhạy cảm, là cảm giác. Chính theo nghĩa này mà, trước khi hình thành khái niệm ý chí quyền lực và cấp cho nó toàn bộ ý nghĩa của nó, Nietzsche đã nói đến một thứ tình cảm quyền lực: quyền lực được Nietzsche xử lý như một vấn đề của tình cảm và vấn đề của cảm giác, trước khi trở thành một vấn đề của ý chí. Nhưng khi ông đã hoàn tất khái niệm đầy đủ về ý chí quyền lực, thì cái đặc điểm ban đầu này không hề biến mất, nó trở thành sự biểu hiện của ý chí quyền lực. Đó là lý do tại sao Nietzsche không ngừng nói rằng ý chí quyền lực là “hình thái cảm xúc nguyên thủy”, là hình thái khởi nguồn của tất cả mọi hình thái tình cảm khác193. Hoặc còn hơn thế: “Ý chí quyền lực không phải là một tồn tại, cũng không phải là một sự trở thành, đó là một pathos*”194. Nghĩa là: ý chí quyền lực biểu hiện như là sự nhạy cảm của sức mạnh; yếu tố khu biệt các sức mạnh biểu hiện như là sự nhạy cảm có khả năng khu biệt của chúng. “Sự thật là ý chí quyền lực tồn tại ngay cả trong thế giới vô cơ, hoặc đúng hơn không hề có thế giới vô cơ. Ta không thể loại bỏ tác động từ xa: một vật lôi cuốn một vật khác, một vật cảm thấy bị lôi cuốn. Đó là sự kiện căn bản… “Để cho ý chí quyền lực có thể biểu hiện, nó cần tri giác những sự vật mà nó nhìn thấy, nó cảm thấy những gì mà nó có thể đồng hóa được sáp lại gần nó.195” Những cảm xúc của một sức mạnh là có tính hoạt năng trong chừng mực sức mạnh ấy chiếm hữu những gì cưỡng lại nó, trong chừng mực nó khiến cho các sức mạnh thấp hơn tuân phục. Ngược lại, chúng chịu đựng, hoặc đúng hơn, bị tác động, khi sức mạnh bị kích động bởi các sức mạnh cao hơn, các sức mạnh mà nó tuân phục. Như thế, tuân phục vẫn là biểu hiện của ý chí quyền lực. Nhưng một sức mạnh thấp hơn có thể gây ra sự tan rã của các sức mạnh cao hơn, gây ra sự chia tách, sự bùng nổ của năng lượng mà chúng đã tích tụ; theo nghĩa này, Nietzsche thích kết hợp các hiện tượng tan rã của nguyên tử, các hiện tượng chia tách của chất nguyên sinh và tái sinh của sinh chất196. Và không chỉ làm tan rã, chia tách, phân chia, mới là biểu hiện ý chí quyền lực, mà cả bị tan rã, bị chia tách, bị phân chia, cũng biểu hiện ý chí quyền lực: “Sự chia tách xuất hiện như là hậu quả của ý chí quyền lực197“. Hai sức mạnh được đưa ra, một cao hơn và một thấp hơn, ta thấy năng lực bị kích động của mỗi sức mạnh tất yếu được thực hiện như thế nào. Nhưng năng lực bị kích động không được thực hiện nếu như sức mạnh tương ứng không tham gia vào một câu chuyện hay vào một sự trở thành có tính nhạy cảm: 1° sức mạnh hoạt năng, quyền lực tác động hay điều khiển; 2° sức mạnh phản ứng, quyền lực tuân thủ hay bị tác động; 3° sức mạnh hoạt năng đã phát triển, quyền lực chia tách, phân chia; 4° sức mạnh hoạt năng trở thành sức mạnh phản ứng, quyền lực bị chia tách, tự quay về chống lại chính mình198.

Mọi sự nhạy cảm chỉ là một sự trở thành của các sức mạnh: có một chu trình của sức mạnh, trong đó sức mạnh “đang trở thành” (ví dụ: sức mạnh hoạt năng trở thành sức mạnh phản ứng). Thậm chí, có nhiều sự trở thành của các sức mạnh, chúng có thể đấu tranh chống lại nhau199. Như vậy, sẽ không đầy đủ nếu đặt song song, hoặc đối lập các đặc trưng riêng của sức mạnh hoạt năng và sức mạnh phản ứng. Hoạt năng và phản ứng là những phẩm chất của sức mạnh sinh ra từ ý chí quyền lực. Nhưng bản thân ý chí quyền lực có các chất, các sensibilia, tức là những cái giống như đang trở thành các sức mạnh. Ý chí quyền lực biểu hiện trước tiên như là tính nhạy cảm của sức mạnh; và thứ hai, như là sự trở thành nhạy cảm [devenir sensible] của sức mạnh: biện pháp gây xúc động [pathos] là yếu tố căn bản nhất, từ đó nảy sinh một sự trở thành.200 Nhìn chung, sự trở thành các sức mạnh không nên bị lẫn lộn với các chất của sức mạnh: nó là sự trở thành của chính những chất này, chất của chính ý chí quyền lực. Nhưng, đúng là ta không thể tách rời các chất của sức mạnh khỏi sự trở thành của nó, cũng như không thể tách rời sức mạnh khỏi ý chí quyền lực: nghiên cứu cụ thể về các sức mạnh tất yếu bao hàm một động lực học.

12) Sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh

Nhưng, thực sự là, động lực học về sức mạnh đưa chúng ta tới một kết luận đau buồn. Khi sức mạnh phản ứng tách sức mạnh hoạt năng khỏi cái mà nó có thể, sức mạnh hoạt năng đến lượt nó sẽ trở thành sức mạnh phản ứng. Các sức mạnh hoạt năng trở thành phản ứng. Và từ “trở thành” cần được hiểu ở nghĩa mạnh nhất: sự trở thành của các sức mạnh xuất hiện như là một sự-trở-thành-phản-ứng. Liệu có những sự trở thành khác không? Dù sao thì chúng ta cũng không cảm thấy, không thể nghiệm, không biết đến một sự trở thành nào khác hơn là sự-trở-thành- phản-ứng. Chúng ta không chỉ nhận thấy sự tồn tại của các sức mạnh phản ứng, mà khắp nơi ta đều nhận thấy chiến thắng của chúng. Chúng chiến thắng bằng cái gì? Bằng ý chí hư vô, nhờ có ái lực giữa phản ứng và phủ định. Phủ định là gì? Đó là một chất của ý chí quyền lực, chính nó khiến cho ý chí quyền lực có đặc tính của chủ nghĩa hư vô hay ý chí hư vô, chính nó cấu thành sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh. Không cần phải nói rằng sức mạnh hoạt năng trở thành phản ứng vì các sức mạnh phản ứng chiến thắng; trái lại, chúng chiến thắng bởi vì, trong khi tách sức mạnh hoạt năng ra khỏi cái mà nó có thể, chúng giao nộp sức mạnh hoạt năng cho ý chí hư vô, và giao nộp cho một sự-trở-thành-phản-ứng sâu sắc hơn bản thân chúng. Đấy là lý do vì sao các hình thái chiến thắng của sức mạnh phản ứng (phẫn hận, mặc cảm tội lỗi, lý tưởng khổ hạnh) trước hết là các hình thái của chủ nghĩa hư vô. Sự-trở-thành-phản-ứng của sức mạnh, sự trở thành hư vô chủ nghĩa, dường như cơ bản đó là cái được hiểu trong mối quan hệ giữa sức mạnh với sức mạnh. - Có một sự trở thành nào khác không? Tất cả mời gọi chúng ta “suy nghĩ” về nó, có thể. Nhưng cần phải có một sự nhạy cảm khác; giống như Nietzsche vẫn hay nói, một cách cảm nhận khác. Chúng ta vẫn chưa trả lời được câu hỏi này, chỉ mới dự kiến thôi. Nhưng ta có thể hỏi tại sao ta chỉ cảm nhận và chỉ biết đến một sự-trở-thành-phản-ứng. Liệu có phải về cơ bản con người là có tính phản ứng? Liệu có phải sự-trở-thành-phản-ứng là yếu tố cấu thành nên con người? Sự phẫn hận, mặc cảm tội lỗi, chủ nghĩa hư vô không phải là những đặc trưng tâm lý, mà là nền tảng nhân tính ở trong con người. Chúng là bản nguyên của con người trong tư cách là con người. Con người, “căn bệnh da liễu” của trái đất, phản ứng của trái đất…201. Chính trong nghĩa này mà Zarathoustra nói về “sự khinh bỉ khủng khiếp” dành cho con người, và về “sự chán ghét khủng khiếp”. Một sự nhạy cảm khác, một sự trở thành khác liệu có thuộc về con người?

Cái thân phận này của con người có tầm quan trọng bậc nhất đối với sự quy hồi vĩnh cửu. Dường như nó làm hại, làm liên luỵ đến sự quy hồi vĩnh cửu, trầm trọng đến mức mà sự quy hồi vĩnh cửu trở thành đối tượng sợ hãi, đối tượng ghê tởm và chán ghét. Kể cả nếu các sức mạnh hoạt năng trở lại như cũ, chúng cũng sẽ lại trở thành phản ứng, còn hơn thế: sự quy hồi của sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh. Zarathoustra không chỉ trình bày suy tư về sự quy hồi vĩnh cửu như là một cái gì huyền bí và bí ẩn, mà còn có tính chất ghê tởm, khó mà chịu nổi202. Tiếp sau bản tường trình đầu tiên về sự quy hồi vĩnh cửu là một hình ảnh lạ lùng: hình ảnh một mục đồng “vặn vẹo, cau có, co giật, khuôn mặt méo mó”, với một con rắn đen trì độn treo ngoài miệng203. Sau đó, chính Zarathoustra giải thích hình ảnh này: “Sự chán ghét kinh khủng đối với con người, đó chính là cái làm ta nghẹt thở và là cái chui vào cổ họng ta… Nó luôn luôn quay trở lại, cái con người làm ta chán ngán, con người hèn mọn… Than ôi! Con người sẽ vĩnh viễn quy hồi… Và sự quy hồi vĩnh cửu, kể cả những kẻ hèn mọn nhất - đó là nguyên nhân khiến ta cảm thấy chán ngán toàn bộ đời sống nầy! Than ôi! chán ghét, chán ghét, chán ghét!204” Sự quy hồi vĩnh cửu của con người hèn mọn, ti tiện, phản ứng không chỉ biến suy tư về sự quy hồi vĩnh cửu thành một cái gì không thể chịu đựng nổi; nó còn biến bản thân sự quy hồi vĩnh cửu thành một cái gì bất khả, nó khiến cho sự quy hồi vĩnh cửu thành ra mâu thuẫn. Con rắn là một con vật của sự quy hồi vĩnh cửu; nhưng con rắn vươn ra, trở thành một “con rắn đen trì độn” và treo ngoài miệng kẻ chuẩn bị nói, khi mà sự quy hồi vĩnh cửu thuộc về các sức mạnh phản ứng. Bởi vì làm sao mà sự quy hồi vĩnh cửu, tồn tại của sự trở thành lại có thể được khẳng định bởi một sự trở thành hư vô chủ nghĩa? – Để khẳng định sự quy hồi vĩnh cửu, cần chặt đứt và khạc nhổ cái đầu con rắn. Vậy thì mục đồng sẽ không còn là con người cũng không còn là mục đồng: “nó biến đổi, nó được bao bọc trong vầng hào quang, nó cười! Chưa bao giờ có người nào trên trái đất cười như nó205“. Một sự trở thành khác, một sự nhạy cảm khác: siêu nhân.

13) Tính hai mặt của ý nghĩa và giá trị

Một sự trở thành khác với cái mà chúng ta đã biết: một sự-trở-thành-hoạt-năng của các sức mạnh, một sự-trở-thành-hoạt-năng của các sức mạnh phản ứng. Sự đánh giá một sự trở thành như vậy gợi lên nhiều câu hỏi, và nó phải phục vụ chúng ta, một lần cuối cùng, để thử thách tính liên kết hệ thống của các khái niệm của Nietzsche trong lý thuyết về sức mạnh. - Ta có giả thiết thứ nhất. Nietzsche gọi cái sức mạnh đi đến tận cùng những hệ quả của nó là sức mạnh hoạt năng; một sức mạnh hoạt năng khi bị sức mạnh phản ứng tách khỏi cái mà nó có thể, sẽ trở thành phản ứng; nhưng liệu bản thân cái sức mạnh phản ứng này, theo cách của nó, có đi đến tận cùng cái mà nó có thể không? Nếu sức mạnh hoạt năng trở thành phản ứng, bị chia tách, thì trái lại, liệu sức mạnh phản ứng có trở thành sức mạnh hoạt năng - cái sức mạnh đã chia tách nó - không? Liệu đó có phải là cách riêng của nó để trở thành hoạt năng không? Cụ thể là: liệu có một sự đê tiện, hèn hạ, ngu đần… nào đó, đã trở thành hoạt năng, cố đi đến tận cùng những gì mà chúng có thể? “sự ngu đần vĩ đại và tuyệt đối”, Nietzsche viết206. Giả thiết này gợi nhắc ý kiến bác bỏ của Socrate, nhưng trong thực tế là có sự khác biệt. Người ta không còn nói như Socrate, rằng các sức mạnh thấp hơn chỉ chiến thắng bằng cách tạo ra một sức mạnh lớn hơn; người ta cho rằng các sức mạnh hoạt năng chỉ chiến thắng bằng cách đi đến tận cùng các hệ quả của chúng, có nghĩa là tạo ra một sức mạnh hoạt năng.

Chắc chắn là một sức mạnh phản ứng có thể được xem xét từ nhiều góc độ khác nhau. Chẳng hạn, bệnh tật tách rời tôi khỏi những gì tôi có thể: sức mạnh phản ứng khiến tôi thành ra mang tính phản ứng, nó hạn chế các năng lực của tôi và buộc tôi vào một môi trường giảm thiểu và tôi chỉ còn cách thích ứng với nó mà thôi. Nhưng, theo một cách thức khác, nó khải thị cho tôi một sức mạnh mới, nó cấp cho tôi một ý chí mới mà tôi có thể biến thành ý chí của tôi, đi tới tận cùng một quyền lực lạ lùng.

(Cái quyền lực tối thượng này vận dụng nhiều điều, trong đó có điều này: “Quan sát những khái niệm đúng đắn nhất, những giá trị đúng đắn nhất bằng cách tự đặt mình ở một quan điểm của người bệnh207“. (Ta nhận thấy tính chất hai mặt quan trọng đối với Nietzsche: tất cả các sức mạnh mà ông nêu bật tính chất phản ứng, thì sau đó vài trang hay vài dòng, ông thú nhận rằng chúng làm ông say mê, rằng chúng rất tuyệt vời vì cái phương diện mà chúng mở ra cho chúng ta, vì chúng biểu thị cái ý chí quyền lực khiến ta phải lo lắng. Chúng tách chúng ta ra khỏi quyền lực của chúng ta, nhưng đồng thời chúng cấp cho chúng ta một quyền lực khác, “nguy hiểm” biết bao, “thú vị” biết bao. Chúng mang đến cho chúng ta những xúc cảm mới, chúng dạy cho chúng ta những cách thức gây xúc động mới. Có một cái gì đáng ngưỡng mộ trong sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh, đáng ngưỡng mộ và nguy hiểm. Không chỉ là người mắc bệnh, mà người theo đạo cũng có hai phương diện này: một mặt, là con người phản ứng, mặt khác, là con người có một quyền lực mới208.) “Nói thật là, lịch sử nhân loại có lẽ là một điều vô nghĩa lý nếu không có cái trí lực mà những kẻ bất lực đã kích hoạt lên209“. Mỗi lần Nietzsche nói đến Socrate, đến Chúa Jésus, đến đạo Do thái và Kitô giáo, đến một hình thái suy đồi hay hình thái suy biến, ông đều khám phá ra cái tính hai mặt của các sự vật, của các sinh vật, và các sức mạnh.

Tuy nhiên: liệu đó có chính xác là cùng một sức mạnh, cái sức mạnh đã chia tách tôi ra khỏi cái mà tôi có thể, và cấp cho tôi một quyền lực mới? Liệu đó có phải cùng một người bệnh, cái người bệnh nô lệ cho chính căn bệnh của anh ta và sử dụng nó như một phương tiện để khai thác, để chế ngự, để trở nên mạnh mẽ? Liệu đó có phải là cùng một tôn giáo, cái tôn giáo của những tín đồ giống như những con cừu kêu be be và là cái tôn giáo của một số linh mục giống như những “con chim săn mồi mới”? Quả thực, các sức mạnh phản ứng không phải là cùng những phản ứng như nhau và chúng thay đổi sắc thái tùy theo việc chúng phát triển ít nhiều các cấp độ tương ái với ý chí hư vô. Một sức mạnh phản ứng vừa tuân phục vừa kháng cự; một sức mạnh phản ứng tách sức mạnh hoạt năng khỏi cái mà nó có thể; một sức mạnh phản ứng phá hỏng sức mạnh hoạt năng, dẫn nó tới cho trở thành phản ứng trong ý chí hư vô; một sức mạnh phản ứng lúc đầu là hoạt năng, nhưng rồi trở thành phản ứng, bị tách khỏi quyền lực của nó, bị kéo xuống vực thẳm và quay lại chống lại chính nó: đó là các sắc thái khác nhau, các xúc cảm khác nhau, các kiểu loại khác nhau, mà nhà phả hệ học cần diễn giải và không ai khác ngoài anh ta biết diễn giải. “Liệu tôi có cần phải nói rằng tôi có kinh nghiệm về tất cả các câu hỏi liên quan đến sự suy đồi? Tôi biết lờ mờ về nó, trong mọi hướng, phía trước và phía sau. Cái nghệ thuật tinh tế này, cái tinh thần tinh nhạy để cảm nhận và hiểu biết này, cái bản năng nhận ra được các sắc thái này, cái tâm lý mưu mẹo này, tất cả những gì đặc trưng cho tôi…”210, vấn đề diễn giải: trong môi trường hợp, giải thích được trạng thái của các sức mạnh phản ứng, nghĩa là cấp độ phát triển mà chúng đạt tới trong quan hệ với sự phủ định, với ý chí hư vô. Cũng chính vấn đề diễn giải được đặt ra cho các sức mạnh hoạt năng. Trong mỗi trường hợp, giải thích được sắc thái hay trạng thái của chúng, nghĩa là cấp độ phát triển của mối quan hệ giữa hoạt động và khẳng định. Có những sức mạnh phản ứng trở nên vĩ đại và quyến rũ, cố sức đuổi theo ý chí hư vô; nhưng cũng có những sức mạnh hoạt năng suy tàn, vì chúng không biết đuổi theo các quyền lực khẳng định (ta sẽ thấy rằng đây chính là vấn đề của cái mà Nietzsche gọi là “văn hóa” hay “con người thượng đẳng”). Cuối cùng, sự đánh giá cho thấy tính hai mặt còn sâu sắc hơn là tính hai mặt của diễn giải. Đánh giá bản thân sự khẳng định từ góc độ phủ định, và đánh giá sự phủ định từ góc độ khẳng định; đánh giá ý chí khẳng định từ góc độ ý chí hư vô, và đánh giá ý chí hư vô từ góc độ ý chí khẳng định: đó là nghệ thuật của nhà phả hệ học, và nhà phả hệ học là thầy thuốc. “Quan sát những khái niệm lành mạnh hơn, những giá trị lành mạnh hơn bằng cách tự đặt mình vào quan điểm của người bệnh, và ngược lại, với ý thức về sự tràn đầy và ý thức về bản thân mà đời sống phong phú có được, chăm chú xem xét cái công việc bí mật của bản năng suy đồi…”

Nhưng, cho dù tính hai mặt của ý nghĩa và giá trị là gì đi nữa, chúng ta cũng không thể kết luận rằng một sức mạnh phản ứng trở thành hoạt năng, bằng cách đi tới tận cùng những gì mà nó có thể. Bởi vì “đi tới tận cùng”, “đi tới tận những hậu quả cuối cùng”, những cụm từ này có hai nghĩa, tùy vào việc ta khẳng định hay phủ định, tùy vào việc ta khẳng định sự khác biệt của chính nó hay ta phủ định những gì tạo nên sự khác biệt. Khi một sức mạnh phản ứng phát triển những hậu quả cuối cùng của nó, thì chính là trong mối quan hệ với phủ định, với ý chí hư vô mà nó sử dụng như là động lực. Sự-trở-thành-hoạt-năng, trái lại, giả định ái lực của hoạt động với khẳng định; một sức mạnh đi đến tận cùng những gì nó có thể không đủ để trở thành hoạt năng, nó cần phải biến những gì nó có thể thành một đối tượng khẳng định. Sự-trở-thành-hoạt-năng là yếu tố khẳng định và có tính khẳng định, cũng như sự-trở-thành-phản-ứng là yếu tố phủ định và có tính hư vô chủ nghĩa.

14) Phương diện thứ hai của sự quy hồi vĩnh cửu: với tư cách là tư tưởng đạo đức và chọn lọc

Không được cảm thấy cũng không được nhận biết, một sự-trở- thành-hoạt-năng chỉ có thể được suy tưởng như là sản phẩm của một sự chọn lọc. Hai chọn lọc đồng thời: chọn lọc của hoạt động của sức mạnh, và chọn lọc của sự khẳng định trong ý chí. Nhưng cái gì có thể tiến hành lựa chọn? Cái gì được dùng làm nguyên tắc lựa chọn? Nietzsche trả lời: sự quy hồi vĩnh cửu. Vừa mới được xem như là đối tượng của sự chán ghét thì bây giờ sự quy hồi vĩnh cửu vượt lên trên sự chán ghét và biến Zarathoustra thành một “người đang hồi phục”, một “người được an ủi”211. Nhưng sự quy hồi vĩnh cửu là yếu tố lựa chọn trong ý nghĩa nào? Trước hết bởi vì, với danh nghĩa là tư duy, nó đưa ra quy tắc thực hành cho ý chí212. Sự quy hồi vĩnh cửu mang đến cho ý chí một quy tắc cũng chặt chẽ như là quy tắc của Kant. Chúng ta đã lưu ý rằng sự quy hồi vĩnh cửu, giống như học thuyết vật lý, là một cách trình bày mới của tổng hợp tư biện. Với tư cách là tư tưởng đạo đức, sự quy hồi vĩnh cửu là công thức mới của tổng hợp thực hành: “Cái mà ngươi muốn, hãy muốn nó theo một cách thức sao cho ngươi cũng muốn sự quy hồi vĩnh cửu của nó. Nếu, trong tất cả những gì ngươi muốn làm, ngươi bắt đầu bằng cách tự hỏi: liệu có chắc là tôi muốn làm điều đó với một số lần vô tận, thì đối với ngươi đó sẽ là trọng tâm vững chắc nhất213“. Có một điều trên đời này làm Nietzsche chán ghét: những bù trừ nhỏ mọn, những thú vui nhỏ mọn, những niềm vui nhỏ mọn, tất cả những gì chỉ diễn ra một lần, chỉ có một lần. Tất cả những gì ta chỉ có thể làm lại vào ngày hôm sau với điều kiện được nói ra ngày hôm trước: ngày mai tôi không làm việc đó nữa - tất cả những nghi lễ của kẻ bị ám ảnh. Và thế là chúng ta cũng giống như các bà già tự cho phép mình chỉ một lần thái quá, chúng ta hành động giống họ và suy nghĩ giống họ. “Than ôi! mong sao ông tống khứ được tất cả những thứ mong muốn một nửa này, mong sao ông tự quyết định để lười biếng, cũng như để hành động. Than ôi, mong sao ông hiểu lời tôi: hãy làm những gì mà ông muốn, nhưng trước tiên hãy trở thành người có khả năng mong muốn.214” Một sự lười biếng mong muốn được quy hồi vĩnh cửu, một sự ngu ngốc, ti tiện, hèn nhát, độc ác muốn được quy hồi vĩnh cửu; đó sẽ không còn là cùng một sự lười biếng, cùng một sự ngu ngốc ấy nữa… Chúng ta hãy xem xét kỹ hơn sự quy hồi vĩnh cửu đã tiến hành lựa chọn như thế nào. Chính là suy tư về sự quy hồi vĩnh cửu tiến hành lựa chọn. Nó biến ý chí thành một cái gì đó có tính chất trọn vẹn. Suy tư về sự quy hồi vĩnh cửu loại bỏ khỏi ý chí tất cả những gì nằm ngoài sự quy hồi vĩnh cửu, nó biến ý chí thành một hành động sáng tạo, nó thực hiện cái phương trình ý chí = sáng tạo.

Rõ ràng là một chọn lựa như thế sẽ thấp hơn so với các tham vọng của Zarathoustra. Nó bằng lòng với việc loại bỏ một vài trạng thái phản ứng, một vài trạng thái của sức mạnh phản ứng trong số những trạng thái ít phát triển nhất. Nhưng có những sức mạnh phản ứng đi đến tận cùng những gì chúng có thể theo cách thức của chúng, và tìm thấy trong ý chí hư vô một động lực mạnh mẽ, những sức mạnh ấy cưỡng lại sự chọn lọc thứ nhất. Không hề ở ngoài sự quy hồi vĩnh cửu, chúng gia nhập vào sự quy hồi vĩnh cửu và dường như quay trở lại cùng với nó. Cũng cần phải đợi sự lựa chọn lần thứ hai, rất khác với lựa chọn đầu tiên. Nhưng sự chọn lọc lần thứ hai cho thấy những phần tối tăm nhất của triết học Nietzsche, và nó hầu như là sự nhập môn của học thuyết về sự quy hồi vĩnh cửu. Vì thế chúng ta chỉ cần thống kê các chủ đề của Nietzsche, dù rằng sau đó cần giải thích chi tiết về khái niệm: 1° Tại sao sự quy hồi vĩnh cửu được xem là “hình thái cực đoan của chủ nghĩa hư vô”.215 Và nếu như sự quy hồi vĩnh cửu là hình thái cực đoan của chủ nghĩa hư vô, thì về phần mình, bị tách rời và trừu xuất khỏi sự quy hồi vĩnh cửu, chủ nghĩa hư vô luôn luôn là một “chủ nghĩa hư vô không hoàn hảo” trong chính bản thân nó216: 1o dù nó vươn xa đến đâu, dù nó mạnh mẽ đến đâu. Chỉ duy nhất sự quy hồi vĩnh cửu mới biến ý chí hư vô thành một ý chí hoàn chỉnh và trọn vẹn; 2° Chính là ý chí hư vô, như ta đã nghiên cứu cho tới lúc này, luôn xuất hiện trong sự liên kết với các sức mạnh phản ứng. Bản chất của nó là: nó phủ định sức mạnh hoạt năng, đưa sức mạnh hoạt năng tới chỗ tự phủ định chính mình, tới chỗ quay về chống lại chính mình. Nhưng đồng thời, nó là cơ sở cho sự bảo tồn, chiến thắng và lây nhiễm các sức mạnh phản ứng. Ý chí hư vô từng là sự-trở-thành-phản-ứng mang tính phổ quát, sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh. Vậy ta thấy theo nghĩa nào mà chủ nghĩa hư vô luôn không hoàn chỉnh trong chính bản thân nó: thậm chí lý tưởng khổ hạnh cũng trái ngược với cái mà ta vẫn tưởng, “đó là một mưu mẹo của nghệ thuật bảo tồn cuộc sống”; chủ nghĩa hư vô là nguyên tắc bảo tồn một cuộc đời yếu đuối, bị hạ thấp và mang tính phản ứng; sự sụt giá của đời sống, sự phủ định đời sống tạo thành nguyên tắc, mà nhờ đó đời sống phản ứng tự bảo tồn, sống sót, chiến thắng và trở thành yếu tố lây nhiễm217; 3° Điều gì xảy ra khi ý chí hư vô được sáp nhập vào sự quy hồi vĩnh cửu? Chỉ lúc đó nó phá vỡ sự liên minh với các sức mạnh phản ứng. Chỉ có sự quy hồi vĩnh cửu biến chủ nghĩa hư vô thành một chủ nghĩa hư vô hoàn chỉnh, bởi vì nó biến sự phủ định thành một sự phủ định chính các sức mạnh phản ứng. Chủ nghĩa hư vô, qua và trong sự quy hồi vĩnh cửu, không còn biểu hiện như là sự bảo toàn và chiến thắng của kẻ yếu nữa, mà như là sự hủy diệt những kẻ yếu, sự tự hủy diệt của chúng. “Sự tiêu vong này tự thể hiện dưới dạng thức của một sự hủy diệt, dưới dạng thức một lựa chọn bản năng của sức mạnh hủy diệt… Ý chí tiêu hủy, biểu hiện của một bản năng còn thâm sâu hơn, của ý chí tự hủy diệt: ý chí hư vô”218. Đấy là lý do tại sao Zarathoustra, ngay từ phần mở đầu, đã ca ngợi “kẻ muốn sự suy tàn của chính mình”: “vì anh ta muốn chết”, “vì anh ta không muốn tự bảo tồn”, “vì anh ta vượt qua cây cầu không hề do dự”219. Phần mở đầu của Zarathoustra đã bao hàm điều đó như một bí mật đến sớm của sự quy hồi vĩnh cửu; 4° Ta không lẫn lộn sự nghịch đảo chống lại chính mình với sự hủy diệt chính mình này. Trong sự nghịch đảo chống lại chính mình, tức là một quá trình phản ứng, sức mạnh hoạt năng trở thành phản ứng. Trong sự tự hủy diệt, bản thân các sức mạnh phản ứng bị phủ định và bị hư vô hóa. Đấy là lý do tại sao sự tự hủy diệt được xem là một thao tác hoạt năng, một “sự hủy diệt hoạt năng”220. Chính nó, và chỉ duy nhất nó, biểu thị sự-trở-thành-hoạt-năng của các sức mạnh. Các sức mạnh trở thành hoạt năng khi mà các sức mạnh phản ứng tự phủ định mình, tự khuất phục, nhân danh cái nguyên tắc mà mới đây còn đảm bảo cho sự bảo toàn và chiến thắng của chúng. Sự phủ định mang tính hoạt năng, sự hủy diệt mang tính hoạt năng là tình trạng của những tinh thần mạnh mẽ có khả năng hủy diệt cái phản ứng trong chính bản thân chúng, bắt nó phải chịu sự thử thách của sự quy hồi vĩnh cửu, và chính bản thân chúng cũng chịu thử thách này, dù điều đó đòi hỏi sự suy tàn của chúng; “đó là tình trạng của những tinh thần mạnh mẽ và những ý chí mạnh mẽ, chúng không thể bằng lòng với một sự đánh giá mang tính phủ định, sự phủ định mang tính hoạt năng thuộc về bản chất sâu sắc của chúng”221. Đó là cách duy nhất để các sức mạnh phản ứng trở thành hoạt năng. Quả thực là, và hơn nữa là: sự phủ định, được tạo thành từ sự phủ định chính các sức mạnh phản ứng, không chỉ có tính hoạt năng, nó còn giống như là bị chuyển hóa. Nó biểu thị sự khẳng định, nó biểu thị sự-trở-thành-hoạt-năng như là quyền lực khẳng định. Vậy nên Nietzsche nói đến “niềm vui vĩnh cửu của sự trở thành, niềm vui này còn mang trong nó cả niềm vui tiêu diệt”; “khẳng định sự tiêu vong và sự hủy diệt, đó là cái có tính quyết định trong một thứ triết học có tính chất Dionysos…”222; 5° Sự chọn lọc thứ hai trong sự quy hồi vĩnh cửu là: sự quy hồi vĩnh cửu tạo ra sự-trở-thành-hoạt-năng. Chỉ cần đem ý chí hư vô kết nối với sự quy hồi vĩnh cửu sẽ nhận ra rằng các sức mạnh phản ứng không quy hồi. Sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh sâu sắc đến mức, và các sức mạnh phản ứng đi xa đến mức chúng sẽ không quy hồi. Con người ti tiện, hèn hạ, có tính phản ứng cũng sẽ không quy hồi. Qua và trong sự quy hồi vĩnh cửu, sự phủ định với tư cách là ý chí quyền lực chuyển hóa thành khẳng định, nó trở thành một sự khẳng định của chính phủ định, nó trở thành một quyền lực để khẳng định, một quyền lực khẳng định. Chính đó là điều mà Nietzsche trình bày như là việc Zarathoustra khỏi bệnh, và cũng như là bí mật của Dionysos: “Chủ nghĩa hư vô bị thất bại bởi chính nó”, nhờ sự quy hồi vĩnh cửu223. Thế nhưng sự chọn lọc thứ hai rất khác sự chọn lọc thứ nhất: vấn đề không còn là dựa vào tư tưởng đơn giản về sự quy hồi vĩnh cửu để loại bỏ khỏi ý chí những gì không thuộc về tư tưởng này; mà vấn đề là, thông qua sự quy hồi vĩnh cửu, đưa vào tồn tại những gì tất yếu phải thay đổi bản tính khi đi vào trong tồn tại. Đó không còn là tư tưởng chọn lọc, mà là tồn tại chọn lọc; vì sự quy hồi vĩnh cửu là tồn tại, và tồn tại là chọn lọc. (Chọn lọc = thứ bậc).

15) Vấn đề sự quy hồi vĩnh cửu

Tất cả những điều này cần phải được xem như là một sự kiểm kê đơn giản các văn bản. Các văn bản này sẽ chỉ được soi sáng tùy thuộc vào các điểm sau: quan hệ giữa hai chất của ý chí quyền lực: phủ định và khẳng định; quan hệ giữa bản thân ý chí quyền lực và sự quy hồi vĩnh cửu; khả năng có một sự chuyển hóa với tư cách là một phương thức cảm nhận và tư duy mới, và đặc biệt với tư cách là một phương thức tồn tại mới (siêu nhân). Trong hệ thuật ngữ của Nietzsche, sự nghịch đảo các giá trị có nghĩa là hoạt năng, chứ không phải là phản ứng (nói đúng ra, đo la sự nghịch đảo của một sự nghịch đảo, bởi vì cái phản ứng đã bắt đầu bằng việc chiếm chỗ của hoạt động); nhưng sự chuyên hóa hay nghịch đảo các giá trị có nghĩa là khẳng định thay vì phủ định, hơn nữa, sự phủ định chuyển hóa thành quyền lực khẳng định, sự biến hình tối thượng của Dionysos. Toàn bộ các điểm vẫn còn chưa được phân tích này tạo thành cái đỉnh điểm của học thuyết về sự quy hồi vĩnh cửu.

Chúng ta vừa mới thấy cái đỉnh này từ xa mà thôi. Sự quy hồi vĩnh cửu là tồn tại của sự trở thành. Nhưng sự trở thành bao gồm hai phương diện: sự-trở-thành-hoạt-năng và sự-trở-thành-phản-ứng; sự-trở-thành-hoạt-năng của các sức mạnh phản ứng và sự-trở-thành-phản-ứng của các sức mạnh hoạt năng. Thế mà, chỉ có sự-trở-thành-hoạt-năng mới có một tồn tại; có lẽ sẽ là mâu thuẫn khi tồn tại của sự trở thành được khẳng định bởi sự-trở-thành-phản-ứng, nghĩa là bởi một sự trở thành mà bản thân nó có tính hư vô. Sự quy hồi vĩnh cửu ắt cũng sẽ trở nên mâu thuẫn nếu nó là sự quy hồi của các sức mạnh phản ứng. Sự quy hồi vĩnh cửu cho chúng ta biết rằng sự-trở-thành-phản-ứng không có tồn tại. Và thậm chí, chính nó cho chúng ta biết tới sự tồn tại của một sự-trở-thành-hoạt-năng. Một cách tất yếu, sự quy hồi vĩnh cửu tạo ra sự-trở-thành-hoạt-năng trong khi tái tạo sự trở thành. Đấy là lý do của sự khẳng định có tính chất kép: ta không thể khẳng định toàn diện tồn tại của sự trở thành nếu không khẳng định tồn tại của sự-trở-thành-hoạt-năng. Như vậy, sự quy hồi vĩnh cửu có hai phương diện: nó là tồn tại có tính phổ quát của sự trở thành, nhưng tồn tại phổ quát của sự trở thành tự cho là một sự trở thành duy nhất. Chỉ duy nhất sự-trở-thành-hoạt-năng là có một sự tồn tại, đó là tồn tại của sự trở thành trọn vẹn. Cái toàn thể quy hồi, nhưng cái toàn thể tự khẳng định trong một khoảnh khắc duy nhất. Trong chừng mực mà người ta khẳng định sự quy hồi vĩnh cửu với tư cách là tồn tại phổ quát của sự trở thành, trong chừng mực mà người ta khẳng định thêm sự-trở-thành- hoạt-năng với tư cách là triệu chứng và sản phẩm của sự quy hồi vĩnh cửu phổ quát, thì sự khẳng định tự thay đổi sắc thái và trở nên càng ngày càng sâu sắc hơn. Sự quy hồi vĩnh cửu với tư cách là học thuyết vật lý khẳng định tồn tại của sự trở thành. Nhưng, với tư cách là bản thể học chọn lọc, nó khẳng định cái tồn tại của sự trở thành này như là “được khẳng định” bởi sự-trở-thành-hoạt-năng. Ta thấy rằng, ngay trong sự thông đồng gắn kết Zarathoustra với các con vật của mình đã có sự hiểu lầm, như là một vấn đề mà các con vật không hiểu, không biết, nhưng đó là sư chán nản và việc lành bệnh của chính Zarathoustra: “Ôi, các ngươi thật tinh nghịch, ôi những kẻ lặp đi lặp lại mãi! Zarathoustra cười trả lời… các ngươi lập lại mãi một điệu nhàm tai”. Cái điệu lặp lại nhàm tai này chính là chu kỳ và là cái toàn thể, là tồn tại phổ quát. Nhưng cách diễn đạt đầy đủ về sự khẳng định là: cái toàn thể, vâng, tồn tại phổ quát, vâng, nhưng tồn tại phổ quát được nói lên từ một sự trở thành duy nhất, cái toàn thể được nói lên từ một khoảnh khắc duy nhất.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.