Rơi Tự Do - Chương 5
CHƯƠNG 5:
VỤ CƯỚP TÀI SẢN LỚN CỦA NƯỚC MỸ
Các nhà kinh tế học có quan điểm cho rằng hệ thống ngân hàng là trái tim của nền kinh tế; nó bơm tiền đến những nơi cần nhất. Khi hệ thống ngân hàng mấp mé nơi bờ vực sụp đổ vào mùa thu năm 2008, tín dụng cạn kiệt và chính phủ can thiệp vào để giải cứu các ngân hàng. Đây là thời điểm rất phù hợp để bắt đầu nghĩ về việc phát triển một hệ thống tài chính thực sự hiệu quả nhằm dẫn dắt nguồn vốn một cách hiệu quả vào những nơi cần thiết và có năng suất cao nhất, một hệ thống hỗ trợ được các hộ gia đình cũng như các doanh nghiệp trong việc quản lý rủi ro đồng thời cung cấp những cơ sở nền tảng cho một hệ thống thanh toán có chi phí thấp và tốc độ cao. Tuy nhiên, hai chính quyền của hai đời tổng thống đã tiến hành một loạt các biện pháp hỗ trợ hệ thống tài chính, mà ít suy nghĩ về loại hình của hệ thống tài chính mà quốc gia cần phải có sau khi vươn lên từ cuộc khủng hoảng. Các biện pháp này đã không giải quyết được những vấn đề về cấu trúc của hệ thống ngân hàng. Một số biện pháp còn làm vấn đề tồi tệ hơn. Kết quả là, khó có thể bảo đảm rằng hệ thống mới được sinh ra từ đống tro tàn của hệ thống cũ sẽ phục vụ đất nước tốt hơn.
Khi chính phủ Hoa Kỳ đi giải cứu các ngân hàng, họ lẽ ra phải suy nghĩ về vấn đề trách nhiệm. Các quan chức ngân hàng, những người đã đưa đất nước vào tình trạng rối ren loạn xạ, lẽ ra phải trả giá cho những sai lầm của họ. Thay vào đó, họ đã phủi tay ra đi với hàng tỷ đô la – thậm chí còn nhiều hơn khi được phát hiện ra, thông qua sự hào phóng của Washington. Là một loại chế độ, chủ nghĩa tư bản cho phép sự bất bình đẳng ở mức độ cao, và có cách giải thích lý do tại sao sự bất bình đẳng tồn tại: đó là cách để khuyến khích mọi người. Trao phần thưởng tương xứng với những đóng góp của cá nhân cho xã hội sẽ tạo nên một nền kinh tế hiệu quả hơn. Nhưng những người đã nhận phần thưởng hậu hĩnh trong giai đoạn bong bóng nhà ở đã không làm cho xã hội hiệu quả hơn. Trong ngắn hạn, họ có thể đã làm tăng lợi nhuận cho ngân hàng, nhưng lợi nhuận đó chỉ là ảo ảnh. Suy cho cùng, họ đã áp đặt chi phí rất lớn lên những người dân trên toàn thế giới. Chủ nghĩa tư bản không thể mang lại hiệu quả khi dành phần thưởng dành cho cá nhân không xứng đáng với các thành quả cho toàn xã hội. Nhưng đó là những gì đã xảy ra với chủ nghĩa tư bản tài chính kiểu Mỹ vào cuối thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI.
Trong chương này, tôi sẽ trình bày chi tiết về cách thức mà hai chính quyền của hai đời tổng thống đã đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính, những gì họ nên làm, và những kết quả có thể có. Hiện chưa thể xác định được toàn bộ hậu quả. Nhưng gần như chắc chắn là những thất bại của chính quyền Bush và Obama sẽ được xếp hạng cao trong số những sai lầm gây tốn kém nhất của mọi chính quyền dân chủ hiện đại, trong mọi thời đại.[164] Tại Hoa Kỳ, quy mô của khoản tiền bảo lãnh (guarantees) và giải cứu tài chính đã lên đến gần 80% GDP của Hoa Kỳ, khoảng 12 nghìn tỷ đô la.[165] Không phải tất cả số tiền bảo lãnh này sẽ được dùng để cứu trợ, do đó tổng chi phí đối với người đóng thuế sẽ thấp hơn. Tuy nhiên, ngoài các khoản tiền công bố, hàng trăm tỷ đô la khác đã được kín đáo chuyển đi. Chẳng hạn, Cục Dự trữ Liên bang đã nhận vào các tài sản đảm bảo kém chất lượng, và mua lại các khoản vay thế chấp, những giao dịch tài chính mà hầu như chắc chắn sẽ là rất tốn kém đối với người nộp thuế, và dù sao đi nữa cũng đã khiến cho người nộp thuế phải chịu rủi ro cao. Các vụ giải cứu còn được thực hiện dưới nhiều hình thức khác, ví dụ cho các ngân hàng vay tiền với lãi suất gần như là 0%, để rồi số tiền này sau đó được đem đi đánh bạc hoặc để cho các doanh nghiệp khác vay lại với lãi suất cao hơn nhiều. Nhiều doanh nghiệp (hoặc cá nhân) khác sẽ biết ơn khi nhận được một khoản cho vay không lãi suất và họ có thể tạo ra lợi nhuận ít nhất là ngang bằng với những khoản thu lợi của các ngân hàng “thành công” kia. Đây là một món quà rất lớn, nhưng được gửi một cách kín đáo từ những người nộp thuế.[166]
Khi cuộc khủng hoảng tài chính bùng nổ, chính quyền Bush đã quyết định giải cứu các quan chức ngành ngân hàng và các cổ đông của họ chứ không chỉ là các ngân hàng. Nó cung cấp tiền theo những cách thức không minh bạch – có lẽ vì không muốn công chúng nhận thức được đầy đủ về những món quà đã tặng, có lẽ vì phần nhiều trách nhiệm thuộc về những cựu quan chức ngân hàng và cách thức kinh doanh của họ trước đây là không minh bạch.[167] Chính phủ đã quyết định không thực hiện bất kỳ hành động kiểm soát nào đối với các bên nhận được số lượng tiền lớn từ người đóng thuế, tuyên bố rằng làm như vậy sẽ cản trở hoạt động của một nền kinh tế thị trường tự do – cứ như thể hàng nghìn tỷ đô la cứu trợ cũng tuân thủ theo các nguyên tắc này. Hậu quả của những quyết định trên là có thể dự đoán được, và chúng đã được phơi bày trong những tháng tiếp theo. Những vị lãnh đạo điều hành ngân hàng đã hành động giống như những gì mà họ được cho là phải hành động trong một chế độ tư bản – vì lợi ích của riêng họ – nghĩa là kiếm tiền về cho chính họ và các cổ đông của họ càng nhiều càng tốt. Các chính quyền Bush và Obama đã phạm một sai lầm đơn giản – không thể bào chữa được sau những gì đã xảy ra trong những năm trước khủng hoảng – khi cho rằng sự theo đuổi lợi nhuận của các ngân hàng cũng nhất thiết là phù hợp với những lợi ích quốc gia. Sự giận dữ của công chúng đối với việc lạm dụng tiền đóng thuế làm cho việc hỗ trợ thêm cho các ngân hàng ngày càng khó khăn hơn – một lần nữa khiến cho những cách thức giải quyết vấn đề ngày càng kém minh bạch và kém hiệu quả hơn nữa.
Không gì đáng ngạc nhiên, chính quyền Obama đã không đem lại một cách tiếp cận thực sự lành mạnh. Lẽ ra đây phải là một phần trong chiến lược tổng thể: mang lại niềm tin cho thị trường, với sự bình tĩnh và tính liên tục. Nhưng chiến lược này cũng có cái giá của nó. Ngay từ đầu, chính phủ đã không đặt ra những câu hỏi đúng đắn về loại hình của hệ thống tài chính mà quốc gia muốn có và cần phải có, vì những câu hỏi như vậy là khó chịu và đụng chạm, cả dưới góc độ chính trị lẫn kinh tế. Các quan chức ngân hàng không muốn thừa nhận rằng có bất cứ sai lầm nào về cơ bản; họ hầu như không muốn thừa nhận thất bại nào cả. Luôn cả những người biện hộ cho việc gỡ bỏ các quy định và các chính trị gia đứng đằng sau họ cũng không muốn thừa nhận sự thất bại của các học thuyết kinh tế mà họ đã ủng hộ. Họ muốn quay lại cái thế giới của trước năm 2007, khi chưa có cuộc khủng hoảng, với một điều chỉnh nhỏ nào đó – họ có thể cho rằng không có gì là hoàn hảo. Nhưng đâu dễ dàng như thế. Hệ thống tài chính không thể và sẽ không quay lại con đường mà nó từng đi trước đây. Những cải cách thực sự là cần kíp – những thứ không chỉ để tô điểm bề ngoài. Ví dụ, hệ thống tài chính đã tăng trưởng mất cân đối. Nó phải được thu hẹp lại, nhưng một số bộ phận cần phải được thu hẹp nhiều hơn những phần khác.
Chính quyền Obama cuối cùng sẽ có thể có câu trả lời đúng, có thể vào thời điểm cuốn sách này được xuất bản. Nhưng chương trình hành động không chắc chắn được triển khai cho đến nay đã áp đặt mức chi phí cao. Những di sản nợ nần sẽ làm tổn hại đến các chương trình kinh tế và xã hội trong những năm tới. Thật vậy, trong những tháng giải cứu, mức thâm hụt đã được sử dụng như một cái cớ cho việc giảm quy mô của chương trình cải cách dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Phe diều hâu chống thâm hụt đến từ các ngân hàng đã “biến mất” từ cuối mùa hè năm 2008 – khi các ngân hàng cho biết họ cần hàng trăm tỷ đô la, mọi sự lo lắng về kích thước của khoản thâm hụt đều được đặt sang một bên. Nhưng như tôi và những người khác đã dự đoán, họ đã xuất hiện trở lại ngay khi sự việc trở nên rõ ràng là không còn tiền nữa, sau đó họ lại đứng trên lập trường quen thuộc là phản đối chi tiêu, bất chấp lợi nhuận thu về có cao đến mấy. (Thật kỳ lạ, khi các vụ giải cứu lần đầu được triển khai, các quan chức ngân hàng cho rằng chính phủ sẽ có lợi nhuận lớn từ khoản “đầu tư” này, một loại lập luận mà họ đã bác bỏ khi khoản tiền được dừng cho các hình thức đầu tư khác cho công nghệ, xã hội, và cơ sở hạ tầng hồi trước khủng hoảng. Nhưng bây giờ thì rõ ràng là không còn nhiều cơ hội để người nộp thuế thu hồi lại những gì đã giao cho các ngân hàng và cũng không có cơ hội để họ được đền bù thỏa đáng cho những rủi ro đã phải gánh chịu, theo cách thức mà các ngân hàng vẫn đòi hỏi khi họ đưa tiền cho bất cứ ai khác.)
HỆ THỐNG CỦA HOA KỲ ĐÃ THIẾU SÓT NHƯ THẾ NÀO
Sự thành công của ngành tài chính suy cho cùng được đo lường bằng sự thịnh vượng mà nó mang lại cho các công dân bình thường, bởi vì đồng vốn được phân bổ vốn tốt hơn hoặc các rủi ro được quản lý hiệu quả hơn. Bất chấp niềm tự hào về sự đổi mới trong lĩnh vực tài chính được thổi phồng, người ta không thể thấy rõ ràng là phần lớn các đổi mới đã thực sự đóng góp rất nhiều vào sự thành công của nền kinh tế Hoa Kỳ hoặc cho đời sống của đại đa số người Mỹ. Chẳng hạn, trong chương trước, tôi đã thảo luận về công việc đơn giản là cung cấp tiền cho người dân để giúp họ mua nhà. Ngành tài chính lẽ ra phải sử dụng sự tinh xảo của mình để đưa ra các sản phẩm giúp mọi người quản lý được rủi ro của việc sở hữu nhà, chẳng hạn như rủi ro phát sinh từ mức lãi suất biến đổi. Các cư dân trong làng tài chính được cho là phải hiểu rõ những rủi ro – đó là một trong những lý do tại sao họ được hưởng mức lương thưởng hậu hĩnh. Đáng chú ý, cả họ lẫn các cơ quan điều tiết họ, những người tự hào với sự hiểu biết về các thị trường và ý nghĩa của rủi ro và tính hiệu quả, đều thực sự không làm như vậy. Họ được cho là có nghĩa vụ phải dịch chuyển rủi ro từ những người ít có khả năng gánh chịu nó (các chủ sở hữu nhà thuộc tầng lớp nghèo) sang cho những người khác. Nhưng thay vì làm thế, những “cải tiến” lại áp đặt thêm rủi ro cho những chủ nhà.
Cuốn sách này có thừa các ví dụ về những gì chỉ có thể được mô tả là “không mạch lạc về trí tuệ”: nếu các thị trường là có hiệu quả, ở mức trung bình, thì sẽ có ít lợi ích khi chủ sở hữu nhà thay đổi từ một khoản vay thế chấp có lãi suất cố định sang lãi suất biến đổi; sự khác biệt duy nhất là người nào sẽ chịu rủi ro của sự biến thiên này. Còn nữa, như chúng ta đã thấy, Chủ tịch Alan Greenspan của Cục Dự trữ Liên bang đã khuyến khích mọi người đi vay thế chấp với lãi suất biến đổi. Ông đồng thời tin rằng các khoản vay này có hiệu quả (một phần giải thích lý do tại sao các quy định là không cần thiết) lẫn việc các chủ nhà vẫn có thể, ở mức trung bình, tiết kiệm được tiền khi vay với lãi suất biến đổi. Có thể hiểu được tại sao những chủ nhà là người nghèo đã không hiểu được các rủi ro và làm theo lời khuyên sai trái của ông này; còn việc tìm hiểu tại sao những người được gọi là chuyên gia tài chính đã làm như vậy thì khó khăn hơn.
Đánh giá từ hiệu quả công việc – không phải qua các biện pháp nhân tạo tính theo lợi nhuận và các khoản phí thu được, mà là những biện pháp thích hợp, đánh giá được những đóng góp cho nền kinh tế và lợi ích của các hộ gia đình – thì lĩnh vực tài chính đã không thành công. (Thật vậy, ngay cả khi xem xét từ góc độ khả năng sinh lợi trong dài hạn – có tính đến các thiệt hại lớn chồng chất lên nhau khi bong bóng nhà ở đã vỡ tung – thì nó cũng thất bại.) Việc hình thành các khoản vay dối trá, vay 100% giá trị thế chấp, hoặc lan tràn những sản phẩm có lãi suất biến đổi đều không phải là sáng kiến của một thiên tài. Chúng là những ý tưởng kém, và là những điều đã bị ngăn cấm tại nhiều quốc gia. Đó là những kết quả của việc không hiểu biết các nguyên tắc cơ bản của thị trường (bao gồm cả những rủi ro từ thông tin không hoàn hảo và bất cân xứng và chính bản chất của rủi ro thị trường). Đó là kết quả của sự lãng quên hay phớt lờ đi các bài học của lý thuyết kinh tế và kinh nghiệm lịch sử.
Tổng quát hơn, trong khi rất dễ dàng nhìn thấy mối liên kết rõ nét giữa các cải tiến và sự thất bại về kinh tế, thì lại khó có thể nhận ra bất kỳ sự liên hệ sáng rõ nào, ví dụ, giữa “cải tiến trong lĩnh vực tài chính” và tăng năng suất. Một bộ phận nhỏ trong hệ thống tài chính, các công ty đầu tư vốn mạo hiểm (venture capital firms) – rất nhiều trong số này là các công ty thuộc Bờ Tây Hoa Kỳ, chứ không phải tại New York – đã đóng một vai trò quan trọng đối với sự tăng trưởng kinh tế của đất nước thông qua việc cấp vốn (và hỗ trợ quản lý) cho nhiều doanh nghiệp tư nhân mới. Các bộ phận khác của hệ thống tài chính – các ngân hàng cộng đồng, các tổ chức tín dụng và các ngân hàng địa phương phục vụ tài chính cho người tiêu dùng và các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi họ cần – cũng đã làm tốt phần việc của họ.
Các ngân hàng lớn, tự hào bước ra khỏi dạng kinh doanh “tồn trữ” (cho vay) để chuyển sang “mua bán lòng vòng” (moving business: đóng gói lại các loại chứng khoán phức tạp và bán cho những khách hàng bất cẩn) đã không chú trọng đến việc tạo ra công ăn việc làm thực tế. Họ chỉ quan tâm đến các giao dịch nhiều tỉ đô la khi gom chung các công ty lại với nhau, để đến khi thất bại thì họ tách chúng rời ra. Không những họ không đóng một vai trò lớn nào trong việc tạo ra công ăn việc làm cho các doanh nghiệp, mà họ còn rất xuất sắc trong việc xóa sổ việc làm (của người khác) trong những nỗ lực “cắt giảm chi phí” – món đặc trưng của họ.
Những bất cập của hệ thống tài chính vượt ra ngoài những thất bại trong quản lý rủi ro và phân bổ đồng vốn đã dẫn đến cuộc khủng hoảng này. Các ngân hàng đã không cung cấp các dịch vụ mà người nghèo cần, người nghèo buộc phải chuyển sang các dịch vụ ứng tiền mặt (pay day loan) và nhận séc đổi tiền mặt (check–cashing) mang tính chất bóc lột; bên cạnh đó ngân hàng đã không cung cấp các loại hệ thống thanh toán điện tử chi phí thấp mà Hoa Kỳ cần có, dựa vào những tiến bộ công nghệ.
Có nhiều lý do tại sao hệ thống tài chính đã thực thi yếu kém như vậy, và chúng ta phải hiểu các lý do đó nếu muốn chỉnh sửa hệ thống. Các chương trước đã đề cập đến 5 thiếu sót.
Đầu tiên là vấn đề về các động cơ, khi có sự không phù hợp mang tính hệ thống giữa lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân. Nếu các lợi ích này không gắn kết nhau một cách chặt chẽ, hệ thống thị trường sẽ không làm việc hiệu quả. Điều này giúp giải thích tại sao rất nhiều những “cải tiến" – niềm tự hào của hệ thống tài chính – lại có định hướng sai lầm.
Thứ hai, một số định chế nhất định đã trở nên “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” – và để giải cứu các tổ chức này là vô cùng tốn kém. Một số tổ chức này còn là minh chứng cho việc chúng là quá lớn đến mức không quản lý được. Theo nhận định của Edward Liddy, người đã được giao quyền quản lý AlC sau khi chính phủ giải cứu, “Khi tôi đáp lời kêu gọi hỗ trợ và tham gia vào AIG hồi tháng 9/2008, có một điều đã nhanh chóng trở nên rõ ràng là: cơ cấu tổng thể của công ty là quá phức tạp, quá cồng kềnh, và rất mù mờ đến nỗi không thể quản lý một cách hiệu quả các bộ phận kinh doanh cấu thành bên trong như một thực thể duy nhất."[168]
Thứ ba, các ngân hàng lớn đã dịch chuyển từ các nghiệp vụ ngân hàng mang tính truyền thống, căn bản để đến với chứng khoán hóa. Chứng khoán hóa có một số thuộc tính tốt, nhưng nó phải được quản lý cẩn thận – một điều mà cả những người trong hệ thống tài chính lẫn những người biện hộ việc gỡ bỏ các quy định đều không hiểu.[169]
Thứ tư, các ngân hàng thương mại đã tìm cách bắt chước thực hiện các khoản tài trợ cao, với lợi nhuận cao và độ rủi ro cao, trong khi nghiệp vụ của ngân hàng thương mại thật nhàm chán. Những người muốn đánh bạc cứ việc đến các đường đua hay Las Vegas hoặc thành phố Atlantic. Ở đó, bạn sẽ biết rằng có thể mình sẽ không lấy lại được số tiền đã đặt cược. Còn khi gửi tiền vào ngân hàng, bạn không muốn có bất kỳ rủi ro nào xảy ra khi bạn cần lấy tiền ra. Rất nhiều ngân hàng thương mại có vẻ như đã phải chịu đựng “cơn ghen tỵ với quỹ đầu tư phòng hộ". Nhưng các quỹ đầu tư phòng hộ không có sự bảo lãnh của chính phủ; trong khi các ngân hàng thương mại thì có. Đây là những hoạt động kinh doanh khác nhau, và rất nhiều ngân hàng thương mại đã quên điều này.
Thứ năm, nhiều quan chức ngân hàng đã quên rằng họ cần có trách nhiệm công dân. Họ không nên “săn mồi” từ những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất. Người Mỹ tin tưởng rằng những trụ cột này của cộng đồng có lương tâm trong sáng. Nhưng khi lòng tham nổi lên mọi nơi trên cả nước, thì không có sự ngăn chặn nào cả – kể cả việc khai thác những bộ phận yếu kém nhất trong xã hội chúng ta.
KHÔNG PHẢI LÀ CUỘC GIẢI CỨU
Như đã trình bày trong các chương trước, phá sản là một nét đặc trưng quan trọng của chủ nghĩa tư bản. Các doanh nghiệp đôi khi không thể hoàn trả được những gì họ nợ các bên cho vay. Tổ chức lại công tác tài chính đã trở thành điều không thể tránh khỏi trong nhiều lĩnh vực ngành nghề. Hoa Kỳ may mắn khi có một cách thức đặc biệt hiệu quả để cho doanh nghiệp một khởi đầu mới – Chương 11 của Luật phá sản, đã được sử dụng nhiều lần. Ví dụ: với các hãng hàng không, các máy bay vẫn cất cánh; công ăn việc làm và tài sản được bảo tồn. Các cổ đông thường mất tất cả, và các trái chủ trở thành các cổ đông mới. Với hệ thống quản lý mới, khi không còn gánh nặng nợ nần, các hãng hàng không vẫn có thể tiếp tục hoạt động. Chính phủ đóng một vai trò hạn chế trong các vụ tái cấu trúc này: toà án thụ lý vụ phá sản đảm bảo rằng: tất cả các chủ nợ đều được đối xử công bằng và ban quản lý doanh nghiệp không đánh cắp tài sản công ty để thu lợi cho riêng họ.
Các ngân hàng thì khác ở một điểm: chính phủ có liên quan vì nó bảo hiểm cho các khoản tiền gửi. Như chúng ta đã thấy trong chương trước, lý do chính phủ bảo hiểm tiền gửi là để gìn giữ sự ổn định của hệ thống tài chính, điều này là quan trọng nhằm duy trì sự ổn định của nền kinh tế. Nhưng nếu một ngân hàng gặp rắc rối, thì quy trình cơ bản cần phải tương tự như quy trình đối với một doanh nghiệp: các cổ đông mất tất cả; các trái chủ trở thành các cổ đông mới.[170] Thông thường, giá trị của các trái phiếu là đủ lớn và đó là tất cả những gì cần được thực hiện. Ví dụ, tại thời điểm giải cứu, Citibank, ngân hàng lớn nhất Hoa Kỳ với tài sản 2 nghìn tỷ đô la, đã có khoảng 350 tỷ đô la tiền trái phiếu dài hạn. Bởi vì không có việc thanh toán bắt buộc với vốn cổ phần, nên nếu có sự hoán đổi nợ thành vốn (debt/equity swap), ngân hàng sẽ không phải trả hàng tỷ đô la tiền lãi cho trái phiếu. Khi đó tình hình của ngân hàng sẽ tốt hơn. Trong trường hợp này, vai trò của chính phủ có hơi khác so với vai trò giám sát trong vụ phá sản của một công ty bình thường.
Mặc dù vậy, đôi khi ngân hàng được quản lý quá tồi nên ngân hàng nợ người gửi tiền còn nhiều hơn tài sản của nó. (Đây là trường hợp của nhiều ngân hàng trong vụ sụp đổ liên quan đến tiền gửi tiết kiệm và cho vay vào cuối thập niên 1980 và trong cuộc khủng hoảng hiện nay.) Sau đó, chính phủ đã phải đến can thiệp và đưa ra cam kết thanh toán cho những người gửi tiền. Thực tế, chính phủ sẽ trở thành (có thể là một phần) người chủ sở hữu, mặc dù chính phủ thường cố gắng bán ngân hàng đó càng sớm càng tốt, hoặc tìm ai đó để bàn giao. Bởi vì các ngân hàng bị phá sản có các khoản nợ còn lớn hơn tài sản của nó, chính phủ thường phải trả thêm tiền cho ngân hàng nào đi mua lại, thực ra là để lấp đầy lỗ hổng trên bảng cân đối kế toán. Quá trình này được gọi là sự bảo tồn (conservatorship).[171] Thông thường thì việc chuyển đổi quyền sở hữu rất liền mạch nên những người gửi tiền và các khách hàng khác thậm chí còn không biết chuyện gì đã xảy ra, trừ khi họ đọc các thông cáo báo chí. Thỉnh thoảng, khi chưa thể tìm thấy ngay một bên mua lại, thì chính phủ tạm thời điều hành các ngân hàng. (Các bên phản đối việc bảo tồn này đã cố gắng bôi bác phương pháp tiếp cận truyền thống này bằng cách gọi nó là quốc hữu hóa. Obama cho rằng đây đã không phải là cách thức của Hoa Kỳ.[172] Nhưng ông đã sai: sự bảo tồn, bao gồm cả khả năng tạm thời thuộc sở hữu của chính phủ, khi không có giải pháp khác, là một phương pháp tiếp cận truyền thống; còn các món quà lớn của chính phủ dành cho các ngân hàng mới là thứ chưa có tiền lệ.[173] Bởi vì các ngân hàng được chính phủ tiếp quản sau đó luôn luôn được bán ra, một số ý kiến cho rằng quá trình này nên được gọi là tiền tư nhân hóa: preprivatization.)
Kinh nghiệm lâu đời cho thấy rằng khi một ngân hàng có nguy cơ sụp đổ, những người quản lý của nó có các hành vi có thể khiến cho những người đóng thuế còn mất nhiều tiền hơn. Ví dụ, ngân hàng có thể tham gia trò cá cược lớn: nếu thắng, họ tiếp tục hoạt động, nếu thua: thì sao nào? Dù sao ngân hàng đã có nguy cơ chết. Đó là lý do tại sao có những đạo luật nói rằng khi lượng vốn của một ngân hàng vốn xuống mức thấp, nó cần phải bị đóng cửa hoặc đặt dưới sự bảo tồn. Những cơ quan điều tiết ngân hàng không thể chờ đợi cho đến khi chẳng còn đồng tiền nào trong ngân hàng thì mới hành động. Cơ quan điều tiết muốn chắc chắn rằng khi người gửi tiền đưa thẻ vào máy ATM và máy báo “tiền không đủ”, thì đó là vì không có đủ tiền trong tài khoản của khách hàng, chứ không phải thiếu tiền trong ngân hàng. Khi các cơ quan điều tiết nhìn thấy một ngân hàng còn quá ít tiền, họ thông báo để ngân hàng tăng thêm vốn, và nếu ngân hàng không thể làm được điều này thì họ phải có hành động thêm nữa, kiểu như đã trình bày ở trên.[174]
Khi cuộc khủng hoảng năm 2008 đã có đà chạy, chính phủ lẽ ra phải chơi theo các quy luật của chủ nghĩa tư bản và bắt buộc tổ chức lại lĩnh vực tài chính. Tổ chức lại lĩnh vực tài chính – để có một khởi đầu mới – không phải là sự kết thúc của thế giới này.[175] Thật vậy, công tác tái tổ chức có thể đại diện cho sự khởi đầu của một thế giới mới, trong đó những động cơ được gắn kết nhau tốt hơn và hoạt động tín dụng được nhen nhóm lại. Nếu chính phủ bắt buộc các ngân hàng phải tổ chức lại công tác tài chính theo cách thức vừa trình bày, sẽ cần dùng ít hơn số tiền từ người đóng thuế, hoặc thậm chí không cần thêm sự tham gia của chính phủ. Sự chuyển đổi này làm tăng giá trị tổng thể của các ngân hàng, vì nó làm giảm khả năng phá sản, do đó không chỉ tiết kiệm được khoản chi phí giao dịch cao khi phá sản mà còn bảo tồn được giá trị của những lợi ích hiện có. Điều đó có nghĩa là nếu các cổ đông bị xóa sổ và các trái chủ trở thành “chủ sở hữu mới” thì viễn cảnh dài hạn của các trái chủ này là tốt hơn so với khi ngân hàng còn đang trong giai đoạn chuyển đổi chưa dứt điểm, khi không chắc chắn liệu ngân hàng sẽ còn tồn tại hay không và không biết rõ về quy mô hoặc các điều khoản của bất kỳ khoản hỗ trợ nào từ chính phủ.[176]
Các trái chủ có liên quan đến quá trình tái cấu trúc sẽ nhận được một phần quà, ít nhất là theo logic của các ngân hàng. Các quan chức ngân hàng lập luận rằng thị trường đã đánh giá thấp giá trị thực sự của các khoản vay thế chấp trên sổ sách của họ (và các tài sản khác của ngân hàng). Cũng có thể thế thật, mà cũng có thể không phải. Nếu không phải thì thật là vô cùng phi lý khi buộc những người nộp thuế phải gánh chịu chi phí cho các sai lầm của ngân hàng, nhưng nếu các tài sản thực sự có giá trị như giới quan chức ngân hàng cho biết, thì các trái chủ mới là người hưởng lợi.
Chính quyền Obama lại lập luận rằng: các ngân hàng lớn không những chỉ quá lớn đến nỗi không thể sụp đổ, mà còn quá lớn nên không thể tái cấu trúc về mặt tài chính (hoặc, như tôi đề cập đến sau này, “là quá lớn đến mức không thể thay đổi được”), quá lớn đến mức không thể chơi theo các quy tắc thông thường của chủ nghĩa tư bản. Quy mô quá lớn đến nỗi không thể tái cấu trúc tài chính có nghĩa là: nếu ngân hàng đang trên bờ vực của sự sụp đổ, thì vẫn còn một nguồn tiền: những người đóng thuế. Và theo học thuyết kỳ lạ và chưa được chứng minh này, hàng trăm tỷ đô la đã được đổ vào hệ thống tài chính. Nếu thật sự là các ngân hàng lớn nhất của Hoa Kỳ quá lớn đến mức không thể “thay đổi” được, thì điều này mang những hàm ý sâu sắc đối với hệ thống ngân hàng của chúng ta khi phát triển trong tương lai – những hàm ý mà cho tới nay chính phủ vẫn từ chối không thừa nhận. Ví dụ, nếu các trái chủ thực sự được bảo đảm bởi vì các định chế này là quá lớn không thể tái cơ cấu tài chính được, thì nền kinh tế thị trường không thể áp đặt kỷ luật một cách hiệu quả đối với các ngân hàng. Họ được tiếp cận với nguồn vốn rẻ hơn mức lẽ ra họ phải trả, bởi vì những người cấp vốn biết rằng chỉ có những người đóng thuế sẽ gánh chịu mọi tổn thất. Nếu chính phủ đứng ra bảo lãnh, cho dù là một cách tường minh hay ngấm ngầm, các ngân hàng sẽ không gánh chịu tất cả các rủi ro có liên quan đến các quyết định do họ đưa ra – những rủi ro do các thị trường (các cổ đông, trái chủ) gánh chịu là ít hơn những gì mà toàn xã hội phải chịu, và do đó nguồn vốn sẽ đi sai địa chỉ. Bởi vì các ngân hàng “quá lớn đến mức không thể tái cấu trúc được" đã tiếp cận với các quỹ với lãi suất thấp mức họ lẽ ra phải trả, nên toàn bộ thị trường vốn đã bị méo mó lệch lạc. Họ phát triển lên từ chi phí của các đối thủ nhỏ hơn, những đơn vị không được bảo lãnh kiểu này. Họ có thể dễ dàng thống trị hệ thống tài chính, không phải bằng năng lực lớn hơn và kỹ năng khéo léo hơn, mà bằng sự hỗ trợ ngầm của chính phủ. Rõ ràng là: các ngân hàng “quá lớn đến mức không thể tái cấu trúc được” nói trên không thể hoạt động như các ngân hàng bình thường khác dựa trên căn bản là thị trường.
Tôi thực sự nghĩ rằng tất cả các cuộc thảo luận về các ngân hàng “quá lớn đến mức không thể tái cấu trúc được” chỉ là một thủ đoạn lừa dối. Âm mưu này đã có tác dụng, dựa trên việc kinh doanh nỗi sợ hãi. Cũng như Tổng thống Bush đã sử dụng sự kiện ngày 11/9 và những nỗi lo sợ khủng bố để biện minh cho quá nhiều việc mà ông ta đã làm, Bộ Tài chính dưới cả hai chính quyền Bush và Obama đã sử dụng ngày 15/9 – khi Lehman sụp đổ – và chứng sợ hãi suy thoái như một công cụ để bòn rút càng nhiều tiền càng tốt cho các ngân hàng và giới quan chức ngân hàng, những kẻ đã đưa thế giới đến bờ vực của suy thoái kinh tế.
Lập luận ở đây là, chỉ khi nào Cục dự trữ Liên bang và Bộ Tài chính giải cứu Lehman Brothers, thì mới có thể tránh được cuộc khủng hoảng tổng thể. Như vậy hàm ý của việc này – dường như được chính quyền Obama tính đến – là, khi còn nhiều hoài nghi, thì cần tiến hành giải cứu trên quy mô lớn. Sự hà tiện chỉ là “khôn lỏi, khôn vặt chứ không giỏi về mưu lược lớn”.
Nhưng đó là bài học sai lầm được rút ra từ trường hợp Lehman.[177] Ý tưởng “chỉ cần Lehman Brothers được giải cứu thì tất cả mọi chuyện có thể ổn” là hoàn toàn vô nghĩa. Lehman Brothers là một hệ quả, chứ không phải là một nguyên nhân: nó là hệ quả của các thực hành cho vay sai lầm và sự giám sát lỏng lẻo của các cơ quan điều tiết. Cho dù Lehman Brothers có được giải cứu hay không đi nữa thì nền kinh tế toàn cầu vẫn đứng trước những khó khăn. Trước khi khủng hoảng, như tôi đã trình bày, nền kinh tế thế giới đã được sự hậu thuẫn bởi các bong bóng và sự vay nợ thái quá. Trò chơi đã kết thúc – vốn dĩ đã kết thúc trước khi Lehman sụp đổ. Sự sụp đổ gần như chắc chắn sẽ làm tăng tốc toàn bộ quá trình hạ thấp đòn bẩy tài chính; nó đưa ra công khai các vấn đề ung nhọt lâu nay, với thực tế là các ngân hàng không hề biết giá trị tài sản ròng của họ và theo đó, họ còn hiểu rằng họ cũng không thể biết giá trị tài sản ròng của bất kỳ công ty nào khác mà họ có thể cho vay.[178] Một quy trình có trật tự hơn lẽ ra đã áp đặt được mức chi phí thấp hơn trong ngắn hạn, nhưng “lịch sử giả lập” (counter–factual history) luôn luôn là vấn đề nan giải. Có những người tin rằng tốt hơn hết là phải ngậm đắng nuốt cay chịu đựng; theo đó việc chậm trễ giải quyết sự thái quá sẽ kéo dài hơn, thậm chí với chi phí cao hơn. Có lẽ là dưới một khía cạnh khác thì việc tái cơ cấu vốn chậm chạp của các ngân hàng lẽ ra đã có thể diễn tiến nhanh hơn trước khi những thiệt hại đã trở nên rõ ràng. Theo quan điểm này, việc che đậy các khoản lỗ với nghiệp vụ kế toán không trung thực (như trong cuộc khủng hoảng này, cũng như trong vụ sụp đổ liên quan đến tiền gửi tiết kiệm và cho vay vào cuối thập niên 1980) sẽ làm được nhiều việc hơn chứ không chỉ là thể hiện các triệu chứng để được hỗ trợ. Hạ cơn sốt thực sự có thể giúp phục hồi. Quan điểm thứ ba lại cho rằng sự sụp đổ của Lehman thực sự đã cứu toàn bộ hệ thống tài chính: nếu không có vụ sụp đổ này, sẽ rất khó để khuấy động sự ủng hộ chính trị cần thiết để giải cứu các ngân hàng. (Sau vụ sụp đổ này thì việc khuấy động cũng đã đủ khó khăn rồi.)
Cho dù là người ta đã đồng ý rằng để cho Lehman Brothers sụp đổ là một sai lầm, vẫn có nhiều sự lựa chọn giữa phương pháp không hạn chế để giải cứu các ngân hàng mà chính quyền Bush và Obama đã theo đuổi từ sau ngày 15/9 và phương pháp của Hank Paulson, Ben Bernanke và Tim Geithner: đơn giản là đóng cửa Lehman Brothers và cầu nguyện rằng cuối cùng thì tất cả mọi thứ sẽ ổn.
Chính phủ có nghĩa vụ phải bảo vệ những người gửi tiền vào ngân hàng, nhưng điều đó không có nghĩa là chính phủ dùng tiền của người nộp thuế để bảo vệ luôn cả các trái chủ và các cổ đông. Như đã trình bày, các quy trình phổ biến mang ý nghĩa rằng: định chế tài chính được giữ lại và các cổ đông bị xóa sổ, còn các trái chủ trở thành những cổ đông mới. Lehman đã không có những người gửi tiền có bảo hiểm; nó là một ngân hàng đầu tư. Nhưng có nét tương đồng rất lớn – nó đi vay tiền ngắn hạn từ “thị trường” thông qua các chứng từ thương mại do các quỹ đầu tư thị trường vốn ngắn hạn (money market funds) nắm giữ, hành động rất giống ngân hàng. (Người ta thậm chí còn có thể viết séc từ các tài khoản này.) Đó là lý do tại sao một bộ phận của hệ thống tài chính liên quan đến các quỹ này và các ngân hàng đầu tư thường được gọi là hệ thống ngân hàng trong bóng tối. Nó phát sinh, phần nào là để phá vỡ các quy định áp đặt lên hệ thống ngân hàng thực tế – các quy định nhằm đảm bảo sự an toàn và ổn định. Sự sụp đổ của Lehman gây ra tình trạng đổ xô đến rút tiền từ hệ thống ngân hàng “bóng tối” quy mô lớn như những lần chạy đi rút tiền từ hệ thống ngân hàng thực tế trước khi có bảo hiểm tiền gửi; và để ngăn chặn tình trạng đổ xô đi rút tiền, chính phủ đã cấp bảo hiểm cho hệ thống ngân hàng “bóng tối”.
Những người phản đối việc tái cấu trúc tài chính (sự bảo tồn) đối với các ngân hàng đang gặp khó khăn lại cho rằng: nếu các trái chủ không hoàn toàn được bảo vệ, thì các chủ nợ còn lại của ngân hàng – những người đã cung cấp tiền quỹ ngắn hạn, mà không được chính phủ bảo đảm – sẽ bỏ chạy, nếu dường như sắp xảy ra việc tái cấu trúc. Nhưng đây là một kết luận không tuân theo logic kinh tế. Nếu các chủ nợ này có lý trí, họ sẽ nhận ra rằng mình được hưởng lợi rất nhiều từ sự ổn định hơn khi có sự bảo tồn và chuyển đổi nợ thành chứng khoán. Nếu như trước đây họ đã sẵn sàng gửi tiền vào ngân hàng, thì bây giờ họ nên sẵn sàng hơn nữa. Còn nếu chính phủ không tin tưởng vào khả năng lý trí của các nhân vật được cho là những tay chơi tài chính thông minh, thì họ có thể bảo lãnh, tuy nhiên phải tính phí. Suy cho cùng, các chính quyền của Bush và Obama không chỉ giải cứu các cổ đông mà còn cung cấp sự bảo lãnh. Việc bảo lãnh đã “rút ruột” một cách hiệu quả những tranh luận cho việc hành xử phóng khoáng của các cổ đông và các trái chủ dài hạn.
Trong cuộc tái cơ cấu tài chính, sẽ có hai kẻ thua cuộc nặng nề. Các nhà quản lý điều hành của các ngân hàng gần như sẽ chắc chắn ra đi, dĩ nhiên họ sẽ không vui. Các cổ đông cũng sẽ không hài lòng, vì họ mất hết mọi thứ. Nhưng đó là bản chất của việc chấp nhận rủi ro trong chủ nghĩa tư bản – sự biện minh duy nhất cho khoản lợi nhuận trên mức bình thường mà họ đã tận hưởng trong giai đoạn tăng trưởng mạnh chính là rủi ro của việc thua lỗ.[179]
NHỮNG NỖ LỰC BAN ĐẦU NHẰM GIẢI CỨU MỘT HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ĐANG SUY SỤP
Chính phủ Hoa Kỳ cần phải chơi đúng luật và “tái cấu trúc” các ngân hàng cần giải cứu, hơn là cung cấp cho họ các khoản tiền cứu trợ rất tùy tiện. Vậy đó, cho dù là rốt cục có một số ngân hàng đã xoay sở để trả lại tiền cứu trợ hay không. Tuy nhiên, cả chính quyền Bush và Obama đã quyết định khác.
Khi khủng hoảng bùng nổ vào cuối năm 2007 đầu năm 2008, chính quyền Bush và Cục Dự trữ Liên bang ban đầu cứ loay hoay đi từ vụ giải cứu này đến vụ giải cứu khác mà không hề có kế hoạch rõ ràng hay các nguyên tắc gì cả. Điều này khiến cho các bất ổn chính trị được cộng thêm vào những bất ổn về kinh tế. Trong một số vụ giải cứu (như Bear Stearns), các cổ đông có được chút ít, và các trái chủ đã được bảo vệ hoàn toàn. Trong những vụ khác (Fannie Mae), các cổ đông đã mất tất cả, và các trái chủ đã được bảo vệ hoàn toàn. Còn những trường hợp khác (Washington Mutual chẳng hạn) thì các cổ đông và các trái chủ mất gần như tất cả. Trong trường hợp của Fannie Mae, yếu tố chính trị (lo ngại sự khó chịu từ Trung Quốc – một chủ sở hữu lớn đối với trái phiếu của Fannie Mae) dường như chiếm ưu thế, mà không thể viện dẫn được một lý do khác chính đáng hơn từ góc độ kinh tế.[180] Mặc dù cũng thường có một số người tham chiếu đến “rủi ro mang tính hệ thống” để lý giải tại sao một số định chế được giải cứu và một số khác thì không, nhưng vẫn rõ ràng là FED và Bộ Tài chính đã đánh giá chưa đầy đủ về ý nghĩa của các rủi ro hệ thống trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng, và sự hiểu biết của họ vẫn còn hạn chế ngay cả khi cuộc khủng hoảng đã bùng phát mạnh hơn.
Một số vụ giải cứu lúc đầu được thực hiện thông qua Cục Dự trữ Liên bang, dẫn đến việc cơ quan này đã có những hành động hoàn toàn không thể tưởng tượng nổi chỉ trong một vài tháng trước đây. Trách nhiệm của FED chủ yếu là đối với các ngân hàng thương mại. Nó điều tiết hoạt động của các ngân hàng này, và chính phủ cung cấp bảo hiểm tiền gửi. Trước cuộc khủng hoảng, người ta lập luận rằng các ngân hàng đầu tư không cần tiếp cận các nguồn quỹ từ FED và cũng không cần các quy định chặt chẽ, vì chúng không gây ra bất kỳ rủi ro nào mang tính hệ thống. Chúng quản lý tiền của người giàu, và có thể tự bảo vệ mình. Nhưng bất ngờ, bằng một hành động hào phóng nhất trong lịch sử của phúc lợi doanh nghiệp, mạng lưới an toàn của chính phủ đã được mở rộng tới cả các ngân hàng đầu tư. Sau đó, mạng lưới này đã được mở rộng hơn nữa, cho cả AIG là một công ty bảo hiểm.
Rốt cục thì vào cuối tháng 9/2008, sự việc đã trở nên rõ ràng rằng cần phải có nhiều hơn những vụ giải cứu “ngầm” thông qua FED, và Tổng thống Bush đã phải đến làm việc với Quốc hội. Ý tưởng ban đầu của bộ trưởng Tài chính Paulson về việc chuyển tiền vào các ngân hàng đã được các nhà phê bình gọi là “ném tiền vào thùng rác”. Chính phủ sẽ mua các tài sản độc hại, theo Chương trình xử lý các tài sản có vấn đề (TARP), tăng tính thanh khoản và đồng thời làm sạch sẽ các bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Tất nhiên, các quan chức ngân hàng đã không thực sự tin tưởng rằng chính phủ có lợi thế so sánh trong việc xử lý rác thải. Lý do mà họ muốn tống khứ các tài sản độc hại trên sang tay chính phủ là vì họ hy vọng chính phủ sẽ “mua hớ” – một hình thức tái cấu trúc vốn ngấm ngầm cho các ngân hàng.
Có ám hiệu cho thấy sự lệch lạc khi Paulson đến Quốc hội và trình bày một dự thảo luật TARP dài 3 trang, theo đó ông ta đề xuất được toàn quyền quyết định với số tiền 700 tỷ đô la, mà không có sự giám sát của Quốc hội hoặc sự xem xét từ góc độ pháp lý của tòa án. Là người phụ trách vấn đề kinh tế của Ngân hàng Thế giới, tôi đã thấy các mánh lới của loại hình này. Nếu điều này xảy ra tại một quốc gia nhỏ bé thuộc thế giới thứ ba – thường là có chế độ độc tài chính trị và nguồn thu chỉ là xuất khẩu nông sản – chúng ta biết những gì có thể xảy ra: một cuộc tái phân phối quy mô lớn từ những người nộp thuế cho các ngân hàng và thân hữu của họ. Ngân hàng Thế giới có thể đe dọa cắt giảm tất cả các khoản viện trợ. Chúng ta không thể tha thứ khi đồng tiền công ích của người dân được sử dụng kiểu này, lại không có sự kiểm tra và cân đối theo lẽ thường. Sự thật là có nhiều nhà bình luận bảo thủ đã tranh luận rằng những gì Paulson đề xuất là vi hiến. Họ tin rằng Quốc hội Hoa Kỳ không thể dễ dàng từ bỏ trách nhiệm của mình trong việc phân bổ những khoản tiền này.
Một số nhân vật của phố Wall phàn nàn rằng các phương tiện truyền thông đại chúng đã làm cho tình hình tệ hại đi khi gọi đây là một cuộc giải cứu. Họ thích dùng lối “nói giảm nói tránh” lạc quan hơn: một “chương trình phục hồi” chứ không phải là cuộc giải cứu. Paulson gọi các tài sản độc hại bằng cái tên dịu dàng hơn là những “tài sản có vấn đề”. Người kế nhiệm ông, Tim Geithner, sau đó còn chuyển đổi chúng thành “tài sản được bàn giao lại”.
Trong lần bỏ phiếu đợt đầu vào ngày 29/9/2008, dự luật TARP đã thất bại khi chỉ giành được 23 phiếu ở Hạ viện. Sau thất bại này, chính quyền Bush đã tổ chức một phiên “đấu giá”. Thực ra, đây là lúc mỗi hạ nghị sĩ đã phản đối dự luật được hỏi: họ cần bao nhiêu phần quà cho các quận huyện và các khu vực bầu cử của họ, để thay đổi lá phiếu. Có 32 nghị sĩ thuộc đảng Dân chủ và 26 nghị sĩ Cộng hòa – những người đã bỏ phiếu chống trong lần biểu quyết đầu tiên – đã chuyển sang bỏ phiếu thuận cho dự luật TARP sửa đổi, sau đó được thông qua ngày 3/10/2008. Sự thay đổi tỷ lệ phiếu biểu quyết tại Hạ viện một phần là do sự lo ngại về suy thoái kinh tế toàn cầu và do đã có thêm các điều khoản bảo đảm sự giám sát tốt hơn; nhưng, ít nhất là đối với nhiều nghị sĩ đã thay đổi lá phiếu, thì họ có một khoản bồi hoàn rõ ràng: dự luật sửa đổi đã bao gồm 150 tỷ đô la trong các quy định về thuế đặc biệt cho các khu vực bầu cử của họ.[181] Không ai có thể nói rằng các thành viên của Quốc hội đã được mua với giá rẻ.[182]
Đương nhiên, phố Wall đã rất vui mừng với các chương trình mua lại những tài sản xấu. Ai lại không muốn đổ rác sang cho chính phủ gánh với mức giá cao? Các ngân hàng có thể bán được nhiều tài sản loại này trên thị trường tự do vào thời điểm đó, nhưng sẽ không ở những mức giá mà họ mong muốn. Tất nhiên, còn có các tài sản khác mà khu vực tư nhân sẽ không đụng đến. Một số cái được gọi là tài sản thực sự lại là các khoản nợ phải trả có “nguy cơ phát nổ”, nuốt lấy các quỹ của chính phủ, chẳng hạn như Pacman. Ví dụ, vào ngày 15/9/2008, AIG cho biết rằng họ thua lỗ 20 tỷ đô la. Ngày hôm sau, khoản thiệt hại này đã tăng lên khoảng 89 tỷ. Một lúc sau, khi không có ai để ý, xuất hiện một khoản giải cứu lớn hơn với tổng số tiền 150 tỷ đô la. Sau đó, lượng tiền giải cứu tăng lên đến 180 tỷ đô la. Khi chính phủ tiếp quản AIG (chỉ với gần 80% cổ phần), nó có thể đã thu về được một số tài sản nhất định, nhưng trong những tài sản này còn là nghĩa vụ trả nợ lớn hơn.
Suy cho cùng, đề xuất ban đầu của Paulson là hoàn toàn trơ trẽn, khi những khó khăn của việc định giá và mua lại hàng ngàn món tài sản cá nhân đã trở nên rõ ràng. Hơn nữa, áp lực từ những người không muốn trả giá cao cho các ngân hàng đòi hỏi phải định giá cho các tài sản độc hại này thông qua một cơ chế đấu giá minh bạch. Tuy nhiên, mọi người nhanh chóng thấy rõ là việc tổ chức đấu giá cho hàng ngàn loại tài sản khác nhau là một cơn ác mộng. Thời gian là vấn đề quan trọng, nhưng việc này không thể được thực hiện một cách nhanh chóng. Bên cạnh đó, nếu việc đấu giá là công bằng, giá cả có thể sẽ không quá cao, làm cho các ngân hàng có lỗ hổng lớn trong bảng cân đối kế toán của họ. Sau nhiều tuần lễ quyết liệt bảo vệ đề xuất của mình như một phương cách tốt nhất để giải quyết vấn đề, Paulson đột nhiên từ bỏ nó vào giữa tháng 10/2008 và chuyển sang kế hoạch tiếp theo.
Đề xuất tiếp theo là một “mũi tiêm vốn cổ phần” (equity injection). Có vài lý do tại sao người ta nghĩ rằng việc tăng thêm vốn cổ phần cho các ngân hàng là quan trọng, nhằm tái cấu trúc vốn cho các ngân hàng đó. Một là: người ta hy vọng rằng làm như vậy sẽ giúp ngân hàng cho vay nhiều hơn. Một lý do khác là bài học từ những năm 1980: các ngân hàng không có đủ vốn sẽ là một rủi ro cho nền kinh tế.
Ba thập kỷ trước, các tổ chức tiết kiệm và tín dụng (S&L associations) đã phải đối mặt với một vấn đề tương tự như những gì các ngân hàng hiện nay đang gặp. Khi lãi suất đột ngột tăng vọt để chống lạm phát trong cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, giá trị của các khoản vay thế chấp được các các ngân hàng tiết kiệm và tín dụng cầm nắm đã giảm mạnh. Nhưng các ngân hàng vẫn phải tài trợ các khoản vay thế chấp, từ các khoản tiền gửi. Khi những gì họ nợ người gửi tiền là không đổi và giá trị tài sản của họ lại giảm đi nhiều, các tổ chức tiết kiệm tín dụng đã bị phá sản, xét theo bất kỳ góc độ thực tế nào.
Các quy tắc kế toán, tuy nhiên, lại cho phép họ ngăn chặn ngày đại họa. Họ không bị buộc phải giảm bớt giá trị của các khoản thế chấp nhằm phản ánh thực tế mới. Mặc dù vậy, họ phải trả tiền lãi cho những người gửi tiền cao hơn những gì họ thu được từ các khoản vay thế chấp, vì vậy nhiều tổ chức đã gặp khó khăn nghiêm trọng với dòng tiền mặt. Một số đơn vị đã cố gắng giải quyết vấn đề dòng tiền bằng cách tiếp tục phát triển – một dạng “kế hoạch Ponzi” theo đó lấy tiền gửi của người sau để trả cho người gửi tiền trước. Vậy là chừng nào chưa có một hồi còi cất lên, thì mọi thứ vẫn ổn. Tổng thống Reagan còn giúp họ bằng cách làm mềm hóa các chuẩn mực kế toán, cho phép họ xem “thiện chí” cũng như một tài sản, đơn thuần chỉ là viễn cảnh về lợi nhuận trong tương lai, và bằng cách nới lỏng các quy định.
Các tổ chức tiết kiệm và tín dụng đã là những thây ma – những ngân hàng đã chết rồi mà vẫn nằm chung với các ngân hàng còn sống. Họ đã có động lực để tham gia vào cái mà giáo sư Ed Kane của Đại học Boston gọi là “cá cược ngày Phục sinh”.[183] Nếu họ hành xử thận trọng, không có cách nào để họ có thể bò ra khỏi cái hố mà chính họ đã đào, nhưng nếu họ chấp nhận rủi ro lớn và “thắng độ”, thì sau cùng họ cũng có thể đủ khả năng thanh toán nợ nần. Nếu các canh bạc không hiệu quả thì cũng không thành vấn đề. Họ không thể chết thêm khi đã là những thây ma.[184] Cho phép các ngân hàng đã chết vẫn được tiếp tục hoạt động và nới lỏng các quy định để họ có thể chấp nhận thêm các rủi ro lớn hơn chỉ làm tăng chi phí sau cùng cho việc dọn dẹp đống đổ nát.[185]
(Ranh giới giữa “đánh bạc” hoặc chấp nhận rủi ro thái quá và gian lận là rất mỏng manh, vì vậy không phải ngẫu nhiên mà thập kỷ 1980 được đánh dấu bằng hàng loạt vụ bê bối ngân hàng, vụ này tiếp theo sau vụ khác. Có lẽ không ngạc nhiên gì khi chúng ta gặp lại cả hai hành vi này rất nhiều lần trong cuộc khủng hoảng hiện nay.)
Những người ủng hộ đề xuất “mũi tiêm vốn cổ phần” (bao gồm cả bản thân tôi) đã giả định sai lầm rằng giải pháp này sẽ được thực hiện đúng đắn – những người đóng thuế sẽ nhận được phần giá trị công bằng từ cổ phiếu, và sự kiểm soát phù hợp sẽ được áp đặt lên các ngân hàng. Tiền mặt đã được đổ vào để bảo vệ chúng, và khi các ngân hàng cần nhiều hơn, thì tiền mặt lại được rót thêm. Đổi lại, người nộp thuế nhận được cổ phiếu ưu đãi và một số chứng quyền (quyền mua cổ phần); nhưng trong giao dịch này thì họ đã bị lừa. Nếu chúng ta đối chiếu những điều khoản dành cho người đóng thuế Hoa Kỳ với những gì mà Warren Buffett nhận được khi thương lượng với Goldman Sachs,[186] gần như trong cùng một thời điểm, hoặc nếu so sánh với các điều khoản mà chính phủ Anh nhận được khi cung cấp tiền cho các ngân hàng của nước này, thì rõ ràng là người đóng thuế Hoa Kỳ đã bị lừa. Nếu những người đàm phán được cho là đại diện của người dân Mỹ đã làm việc giống như khi đại diện cho phố Wall, họ sẽ yêu cầu những điều khoản tốt hơn nhiều.
Tồi tệ hơn, ngay cả khi những người nộp thuế đã trở thành “chủ sở hữu” lớn của một số ngân hàng, Bộ Tài chính dưới thời tổng thống Bush (và sau đó là Obama) vẫn từ chối thực hiện bất kỳ hành động kiếm soát nào.[187] Những người đóng thuế Hoa Kỳ đã chi ra hàng trăm tỷ đô la mà thậm chí không có quyền được biết số tiền đó đã được sử dụng ra sao, chứ đừng nói gì đến việc có bất cứ ý kiến nào về những hoạt động của ngân hàng với số tiền này. Điều này cũng rõ ràng là khác biệt với các vụ giải cứu ngân hàng của Anh trong cùng thời điểm, theo đó ít nhất cũng có vẻ có trách nhiệm giải trình: ban quản lý cũ bị loại bỏ ra ngoài, áp dụng những hạn chế về cổ tức và mức lương thưởng, đồng thời triển khai các hệ thống được thiết kế để khuyến khích cho vay.[188]
Ngược lại, các ngân hàng Hoa Kỳ vẫn tiếp tục chi trả cổ tức và tiền thưởng và thậm chí không chịu giả vờ như khôi phục lại hoạt động cho vay. “Cho vay nhiều hơn ư?” John C. Hope III, chủ tịch của Ngân hàng Quốc gia Whitney tại New Orleans phát biểu trong một phòng họp có đông đủ các nhà phân tích của phố Wall vào đầu năm 2009: “Chúng tôi sẽ không thay đổi mô hình kinh doanh hoặc các chính sách tín dụng của chúng tôi để thích ứng với các nhu cầu của lĩnh vực công, như họ nhận thấy và yêu cầu chúng tôi cho vay thêm".[189]
Phố Wall cứ thúc ép để có các điều kiện tốt hơn và tốt hơn nữa – để khả năng người nộp thuế sẽ được đền bù thỏa đáng cho những rủi ro mà họ đã gánh chịu ngày càng giảm đi, cho dù một số ngân hàng đã xoay sở để trả lại những gì họ đã nhận được. Một trong những lợi ích dành cho phố Wall phát xuất từ đề xuất trơ trẽn lúc ban đầu của Paulson (không có sự giám sát của Quốc hội hoặc sự xem xét từ góc độ pháp lý của tòa án đối với khoản tiền 700 tỷ đô la) là: Quốc hội thành lập một ban giám sát độc lập, và ban này đã cho thấy các vụ thương lượng giải cứu đã tồi tệ đến mức nào đối với những người đóng thuế Hoa Kỳ. Trong đợt giải cứu đầu tiên, vào thời điểm đó, người nộp thuế chỉ nhận lại được 66 cent qua chứng khoán cho mỗi đô la mà họ gửi vào các ngân hàng. Nhưng trong các giao dịch sau này, và đặc biệt là trong vụ Citibank và AIG, các điều khoản thậm chí còn tệ hơn, chỉ là 41 cent cho mỗi đô la.[190] Tháng 3/2009, Văn phòng Ngân sách Quốc hội (CBO), một văn phòng không mang tính đảng phái chính trị và có nghĩa vụ đánh giá chi phí cho các chương trình của chính phủ một cách độc lập, ước tính rằng: chi phí ròng của việc sử dụng toàn bộ 700 tỷ đô la theo chương trình TARP sẽ là khoảng 356 tỷ đô la.[191] Chính phủ sẽ nhận lại ít hơn 50 cent cho mỗi đô la. Không có hy vọng được bồi thường cho những rủi ro đã gánh chịu. Trong tháng 6/2009, khi xem xét kỹ hơn số tiền 369 tỷ đã chi đợt đầu theo chương trình TARP, CBO đưa ra ước tính thua lỗ là hơn 159 tỷ.[192]
Có sự khuất tất “trình độ cao” trong toàn bộ chiêu thức giải cứu ngân hàng. Các ngân hàng (và những cơ quan điều tiết đã để cho vấn đề phát sinh) muốn tỏ vẻ rằng cuộc khủng hoảng chỉ là vấn đề niềm tin và thiếu thanh khoản. Thiếu thanh khoản có nghĩa là không có ai sẵn sàng cho họ vay tiền. Các ngân hàng muốn tin rằng họ đã không có những quyết định sai lầm, rằng họ thực sự có khả năng thanh toán, và rằng giá trị tài sản “thực sự” của họ vượt quá giá trị của các khoản mà họ nợ (nghĩa vụ nợ của họ). Nhưng trong khi mỗi ngân hàng đều tin rằng bản thân họ là ổn, thì họ lại không tin tưởng các ngân hàng khác, có thể nhìn thấy điều này từ sự miễn cưỡng cho vay trong giới ngân hàng với nhau.
Vấn đề của các ngân hàng Hoa Kỳ không chỉ là thiếu thanh khoản.[193] Với nhiều năm hoạt động thiếu thận trọng, bao gồm cả cho vay xấu và đánh bạc với các công cụ phái sinh, đã có một số ngân hàng, có lẽ là rất nhiều, thực sự đã phá sản. Khoảng thời gian nhiều năm với công tác kế toán không minh bạch và các sản phẩm phức tạp được thiết kế ra để qua mặt các cơ quan điều tiết và các nhà đầu tư đã gây ảnh hưởng tiêu cực: hiện giờ thì ngay cả các ngân hàng cũng không biết rõ bảng cân đối của họ. Nếu họ còn không biết liệu mình có thực sự đủ khả năng thanh toán hay không, thì làm thế nào họ có thể biết được khả năng thanh toán của bất cứ ai khác – những bên mà họ có thể cho vay?
Thật không may là niềm tin không thể được phục hồi chỉ bằng những bài diễn văn thể hiện sự tin tưởng vào nền kinh tế Mỹ. Ví dụ, những lời tuyên bố được chính quyền Bush và các ngân hàng lặp đi lặp lại rằng nền kinh tế đang vận hành một cách chắc chắn, với các nền tảng căn bản vững mạnh, bị phủ nhận bởi những tin xấu tái phát. Những gì họ nói chỉ đơn giản là không đáng tin cậy. Những hành động mới là vấn đề, và các hành động của FED và Bộ Tài chính đã làm suy yếu lòng tin.
Tháng 10/2009, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thông báo rằng toàn bộ các khoản thua lỗ trong lĩnh vực ngân hàng toàn cầu là 3,6 nghìn tỷ đô la.[194] Các ngân hàng đã chỉ thừa nhận thua lỗ với mức thấp hơn nhiều. Phần còn lại là chưa rõ ràng. Mọi người đều biết nó có trong hệ thống, nhưng không ai biết chính xác nó ở đâu.
Khi kế hoạch Paulson thất bại cả trong việc nhen nhóm lại hoạt động cho vay lẫn khôi phục niềm tin vào ngân hàng, chính quyền Obama lại lúng túng với những giải pháp thay thế. Sau nhiều tuần lễ loay hoay, tháng 3/2009 chính quyền Obama công bố một chương trình mới, Chương trình đầu tư Liên kết Chính phủ và Tư nhân (Public Private Investment Program: PPIP), theo đó sẽ sử dụng từ 75 đến 100 tỷ đô la từ vốn của chương trình TARP, cộng thêm vốn từ các nhà đầu tư tư nhân, để mua các tài sản độc hại từ các ngân hàng.[195] Những từ ngữ được sử dụng ở đây là mang tính chất lừa đảo: nó được mô tả như một quan hệ đối tác, nhưng không phải là quan hệ đối tác bình thường. Chính phủ sẽ can thiệp lên đến 92% số tiền nhưng chỉ nhận lại một nửa lợi nhuận và gánh chịu hầu như tất cả các khoản lỗ. Chính phủ sẽ dùng phần lớn số tiền phải can thiệp để cho vay đối với khu vực tư nhân (các quỹ phòng hộ, các quỹ đầu tư, hoặc thậm chí, mỉa mai là, các ngân hàng – khi nó có thể mua tài sản từ các ngân hàng khác)[196], bằng các khoản vay miễn truy đòi, được bảo đảm chỉ bằng chính những tài sản đã được mua. Nếu tài sản đảm bảo hoặc thế chấp hóa ra lại có giá trị thấp hơn số tiền vay, bên đi vay vỡ nợ, khiến chính phủ phải nhận lãnh mọi gánh nặng thua lỗ, chứ không phải là các nhà đầu tư tư nhân.
Thực ra, đội ngũ của Obama cuối cùng đã giải quyết vấn đề với một biến thể dạng nhẹ của ý tưởng “ném tiền vào thùng rác”. Cứ như là chính phủ đã quyết định sử dụng dịch vụ chở rác tư nhân, theo đó sẽ mua rác với số lượng lớn, sắp xếp lại, chọn ra bất cứ thứ gì có giá trị, và dành phần còn lại cho những người đóng thuế. Và chương trình đã được thiết kế để dành cho những người thu gom rác khoản lợi nhuận lớn – chỉ một số thành viên của câu lạc bộ phố Wall mới được phép “cạnh tranh” sau khi đã được Bộ Tài chính lựa chọn cẩn thận. Có thể dám chắc rằng các tay chơi tài chính – những người đã thành công trong việc bóp nặn tiền ra khỏi nền kinh tế – đã không được thực hiện các nhiệm vụ với tinh thần công dân, một cách vô tư.
Chính phủ đã cố gắng thuyết phục rằng chương trình PPIP là cần thiết để cung cấp tính thanh khoản cho thị trường. Chính phủ lập luận rằng việc thiếu thanh khoản sẽ làm suy giảm giá cả và gây tổn thương không đáng có cho bảng cân đối kế toán của các ngân hàng. Tuy nhiên, vấn đề chính không phải là thiếu thanh khoản. Nếu đúng là thiếu thanh khoản, thì chỉ cần một chương trình đơn giản hơn nhiều: bơm tiền mà không cần có bảo lãnh tiền vay. Vấn đề thực sự ở đây là các ngân hàng đã tiến hành các khoản cho vay nợ xấu trong giai đoạn bong bóng và đã tận dụng đòn bẩy tài chính rất cao. Họ đã mất đồng vốn, và lượng vốn đó cần được thay thế.
Chính phủ còn cố gắng để giả vờ rằng kế hoạch của nó được dựa trên việc: để cho thị trường quyết định giá cả của các “tài sản độc hại” trong ngân hàng – bao gồm cả các khoản cho vay thế chấp nhà chưa được thanh toán và các chứng khoán dựa trên những khoản cho vay đó – khi “đối tác” mua lại tài sản. Sự kỳ diệu của thị trường đã được sử dụng để hoàn tất việc “khám phá ra mức giá”. Tuy nhiên, thực tế là thị trường đã không định giá các tài sản độc hại, mà là các quyền chọn đối với các tài sản này, về cơ bản trò cá cược “một chiều”. Hai bên không phải làm gì nhiều cả. Các đối tác tư nhân đã giành được một thỏa thuận tốt từ các khoản thế chấp “tốt”, nhưng về cơ bản là đã chuyển giao các khoản lỗ từ khoản thế chấp xấu cho chính phủ.
Hãy xem xét một tài sản có một cơ hội 50–50 để có giá trị hoặc là zero, hoặc 200 đô la trong thời gian một năm. “Giá trị” trung bình của tài sản này sẽ là 100 đô la. Không tính đến lãi suất thì đây là mức giá mà tài sản kia sẽ được bán trên một thị trường cạnh tranh. Đó là số tiền mà tài sản này “đáng giá”. Giả định rằng có một trong những đối tác, kiểu Chính phủ và Tư nhân mà Bộ Tài chính đã hứa sẽ tạo ra, sẵn sàng trả 150 đô la cho món tài sản này. Như vậy là cao hơn 50% so với giá trị thực, và ngân hàng vui vẻ bán đi. Khi đó, đối tác tư nhân đặt vào 12 đô la, còn chính phủ trả 92% còn lại – 12 đô la dưới dạng “chứng khoán” cộng với 126 đô la dưới hình thức cho vay có bảo lãnh.
Nếu trong thời gian một năm, giá trị thực của tài sản hóa ra là bằng không, thì các đối tác tư nhân mất 12 đô la, và chính phủ mất 138 đô la. Nếu giá trị thực là 200 đô la, chính phủ và các đối tác tư nhân chia nhau 74 đô la, đó là phần dư ra sau khi đã trả lại khoản vay 126 đô la. Theo kịch bản “có hậu”, các đối tác tư nhân thu về nhiều hơn ba lần so với khoản đầu tư 12 đô la lúc đầu. Còn những người đóng thuế, chịu rủi ro trong số tiền 138 đô la, thì lợi nhuận chỉ là 37 đô la.
Làm cho sự việc tồi tệ hơn, ở đây còn cơ hội lớn để “chơi game”. Giả sử chính ngân hàng đứng ra mua tài sản của mình với giá 300 đô la (chính phủ không ngăn cản quan hệ đối tác với chính ngân hàng), và họ đưa ra 24 đô la. Trong tình huống xấu, ngân hàng “mất” số tiền đầu tư “với tư cách đối tác” là 24 đô la đó, nhưng vẫn còn giữ 300 đô la. Trong tình huống tốt, tài sản vẫn còn trị giá 200 đô la, do đó một lần nữa, chính phủ gánh chịu tổn thất, ngoại trừ số tiền 24 đô la. Ngân hàng đã đánh cược một cách tài tình với món tài sản đầy rủi ro chỉ có giá trị thật là 100 đô la thành một tài sản an toàn – đối với họ – có giá trị ròng là 276 đô la. Khoản lỗ của chính phủ thật đáng kinh ngạc – trung bình là 176 đô la. Khi có rất nhiều tiền được ném ra, cũng có nhiều cơ hội để làm ăn; người ta có thể chia sẻ với các quỹ đầu tư phòng hộ. Không cần phải quá tham lam thì mới tham gia được.
Nhưng người dân Mỹ thậm chí có thể tổn thất nhiều hơn cả những tính toán đề xuất như trên vì một hiệu ứng được gọi là “sự lựa chọn bất lợi" (adverse selection). Các ngân hàng được chọn ra các khoản vay và chứng khoán mà họ muốn bán. Họ sẽ muốn bán các tài sản xấu nhất và đặc biệt là những tài sản mà họ nghĩ là thị trường đánh giá cao hơn thực chất (và do đó sẵn sàng trả giá cao). Nhưng thị trường có khả năng nhận ra điều này, và giảm mức giá mà nó sẵn sàng thanh toán xuống thấp hơn. Chỉ có sự gánh chịu đủ tổn thất từ chính phủ mới khắc phục được hiệu ứng “lựa chọn bất lợi” này. Khi chính phủ đã nhận các khoản lỗ, thị trường không quan tâm xem liệu các ngân hàng có “lừa dối” khi bán những tài sản tệ hại nhất hay không.
Lúc đầu, các quan chức ngân hàng và các đối tác tiềm năng (các quỹ phòng hộ và các công ty tài chính khác) đã yêu thích ý tưởng này. Các ngân hàng chỉ bán các tài sản mà họ muốn bán – họ không thể thua lỗ. Các đối tác tư nhân sẽ kiếm được một số tiền lớn, đặc biệt là nếu chính phủ tính phí đủ thấp cho việc bảo lãnh. Các chính trị gia cũng thích ý tưởng này: đã có khả năng họ bị loại ra khỏi Washington trước khi tất cả các đạo luật được thông qua. Nhưng đó mới đúng là vấn đề của phương pháp tiếp cận này: không ai sẽ biết được trong nhiều năm nữa thì giải pháp này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến bảng cân đối của chính phủ.
Cuối cùng, nhiều ngân hàng và đối tác tư nhân đã vỡ mộng. Họ lo ngại rằng nếu kiếm được quá nhiều tiền, thì các quan chức nhà nước và công chúng sẽ không để cho họ được ôm trọn số tiền đó và sẽ tìm cách để trừ bớt lợi nhuận. Ít nhất thì những người tham gia biết rằng họ sẽ phải chịu sự giám sát nghiêm ngặt của Quốc hội – theo cách mà những người đã nhận được tiền từ chương trình TARP. Khi các quy định kế toán đã thay đổi để cho phép các ngân hàng không cần giảm bớt giá trị của các tài sản độc hại – giả vờ rằng các khoản thế chấp xấu vẫn “tốt như vàng" – thì độ hấp dẫn còn giảm hơn nữa: ngay khi họ nhận vào nhiều hơn so với giá trị tài sản, họ vẫn phải thừa nhận một khoản lỗ, đòi hỏi phải tìm kiếm thêm nguồn vốn. Họ muốn trì hoãn cái “ngày đại họa”.
Đề xuất này được một số người trên thị trường tài chính mô tả là một đề xuất “ba bên cùng thắng". Trên thực tế, nó là một đề xuất “2 thắng 1 thua”: các ngân hàng thắng, các nhà đầu tư thắng – và, nếu chương trình tạo thuận lợi cho các ngân hàng, thì người nộp thuế bị thua. Một người quản lý quỹ phòng hộ đã viết cho tôi, “Đây là một giao dịch tệ hại khủng khiếp đối với người nộp thuế, nhưng tôi sẽ đảm bảo rằng các khách hàng của tôi được hưởng lợi trọn vẹn.”
Vì vậy, với tất cả những sai sót này, thì đâu là nét hấp dẫn trong chiến lược của chính phủ? Chương trình PPIP là một loại công cụ rắc rối mà phố Wall yêu thích – tinh vi, phức tạp, và không minh bạch, cho phép chuyển lượng tiền rất lớn cho các thị trường tài chính. Nó có thể giúp cho chính phủ không phải quay lại làm việc thêm với Quốc hội để yêu cầu thêm tiền nhằm chỉnh đốn các ngân hàng, và nó cung cấp cách thức để tránh “sự bảo tồn”.
Trong vài tháng kể từ khi đề xuất này được triển khai, nó đã không làm việc giống như chính phủ hy vọng. Trong một vài tháng sau đó, chương trình nhận lãnh các khoản cho vay “được bàn giao lại” giống như rất nhiều các chương trình khác, đã bị từ bỏ, và chương trình dành cho chứng khoán “được bàn giao lại” đã bị thu hẹp rất nhiều. Kết quả có nhiều khả năng thu được nhất là: mọi mức lợi nhuận giới hạn mà phần còn lại của PPIP áp dụng cho chứng khoán sẽ đều đến với mức giá cao. Tiền lẽ ra đi đến các ngân hàng lại đến với các “đối tác” tư nhân – một mức giá cao trả cho dịch vụ dọn rác tư nhân.[197]
TẠI SAO CÁC KẾ HOẠCH GIẢI CỨU LẠI ĐƯỢC CHO LÀ THẤT BẠI
Cuộc giải cứu với chi phí đắt đỏ không thể tin được đã thất bại tại một trong những mục tiêu chính của nó – khởi động lại hoạt động cho vay.[198] Có thể lý giải sự thất bại này và những thất bại khác trong chương trình với một vài nguyên tắc căn bản của kinh tế.
Đầu tiên là sự bảo toàn vật chất. Khi chính phủ mua lại một tài sản độc hại, những khoản lỗ không biến mất. Các khoản lỗ vẫn còn đó khi chính phủ đứng ra bảo lãnh, ví dụ như trường hợp của Citibank. Chúng chỉ đơn giản là di chuyển từ bảng cân đối của Citibank đến bảng cân đối của chính phủ. Điều này có nghĩa rằng trận chiến thực sự là vấn đề phân phối: ai chịu thiệt hại? Liệu nó sẽ được chuyển từ lĩnh vực tài chính sang công chúng? Trong một thế giới mà “hạnh phúc như chiếc chăn hẹp” – khi lợi ích của bên này là phí tổn của một bên khác – một cách giải quyết có lợi hơn cho các cổ đông hoặc các trái chủ của ngân hàng có nghĩa là bất lợi nhiều hơn đối với người nộp thuế. Đây là vấn đề cốt lõi đối với các chương trình có liên quan đến việc mua tài sản độc hại của ngân hàng, cho dù là đơn lẻ hay với số lượng lớn: nếu trả quá nhiều tiền thì chính phủ sẽ phải chịu nhiều thiệt hại; trả quá ít thì khoảng trống trong bảng cân đối kế toán của ngân hàng sẽ lộ ra rất lớn.
Cuộc thảo luận về các tài sản độc hại còn khiến người ta lúng túng hơn bởi những phép ẩn dụ được sử dụng để miêu tả chúng. Chính phủ đã phải “dọn sạch” bảng cân đối của các ngân hàng, bằng cách giúp họ từ bỏ được các tài sản độc hại của chính họ, cho rằng một khoản vay thế chấp độc hại cũng giống như một quả táo thối – nó sẽ làm nhiễm bẩn mọi thứ khác xung quanh. Nhưng một tài sản độc hại chỉ là một tài sản mà các ngân hàng chịu lỗ, nó không bị lây một căn bệnh truyền nhiễm nào cả.
Một nguyên tắc khác được vay mượn từ kinh tế học trong ngành môi trường, gọi là người gây ô nhiễm phải trả tiền, hướng dẫn cho việc xác định những người phải trả giá: ở đây không phải chỉ là vấn đề công bằng mà còn là vấn đề hiệu quả. Các ngân hàng Hoa Kỳ đã làm ô nhiễm nền kinh tế toàn cầu với các chất thải độc hại, và đây là vấn đề của tính công bằng và hiệu quả – và chơi đúng luật – theo đó họ bị bắt buộc, bây giờ hoặc sau này, phải trả giá cho việc dọn dẹp, có lẽ dưới dạng thuế. Đây không phải là lần đầu tiên các ngân hàng Mỹ được giải cứu. Tình trạng này đã xảy ra nhiều lần. Thực ra, hàm ý ở đây là: phần còn lại của nền kinh tế đang trợ cấp rất nhiều cho ngành ngân hàng.
Áp đặt thuế đối với các ngân hàng (như đánh thuế lên một yếu tố “xấu” bên ngoài) có thể tạo ra lợi nhuận đồng thời cải thiện hiệu quả kinh tế, những loại thuế này có ý nghĩa nhiều hơn so với việc áp đặt thuế đối với những điều tốt đẹp như tiền tiết kiệm và công ăn việc làm. Cũng không quá khó khăn để thiết kế nên các loại thuế này. Nhưng các ngân hàng tranh luận rằng áp đặt các chi phí này lên họ sẽ ức chế khả năng của họ trong việc thu hút vốn tư nhân và phục hồi hệ thống tài chính. Họ đã một lần nữa sử dụng “chiến thuật sợ hãi”: ngay cả các cuộc thảo luận về việc đánh thuế như vậy cũng là có hại. Quan điểm ở đây là không áp đặt các chi phí như trên để bóp méo nền kinh tế. Hơn nữa, nếu chính phủ buộc phải tạm thời cung cấp nguồn tài chính bổ sung vì khu vực tư nhân miễn cưỡng làm điều đó, thì cũng không phải là điều tồi tệ nhất thế giới, miễn là chính phủ được bồi hoàn thỏa đáng (trái phiếu hoặc cổ phiếu) từ giá trị tương lai của các ngân hàng: các nhà đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân chưa "thực thi kỷ luật" để làm gương. Thêm vào đó, cuối cùng thì nền kinh tế cũng sẽ phục hồi, mà nếu đã phục hồi thì các tài sản này sẽ có khả năng đem lại lợi nhuận tốt.
Nếu như dịch chuyển các khoản thiệt hại trong nền kinh tế cũng gần một trò chơi có tổng bằng không (zero–sum game: tổng lợi ích cũng bằng tổng thiệt hại), thì khi không làm tốt việc dịch chuyển này, nó có thể trở thành một trò chơi có tổng là số âm, với những thiệt hại của người nộp thuế còn lớn hơn lợi ích cho các cổ đông của các ngân hàng. Như tôi đã nhiều lần ghi nhận, các động cơ là vấn đề. Các vụ giải cứu chắc chắn sẽ làm động cơ bị thay đổi đi. Bên cho vay, khi biết rằng họ có thể được giải cứu và không phải gánh chịu mọi hậu quả từ những sai lầm của mình, đã làm việc tồi hơn khi thẩm định tín dụng và nhận lãnh các khoản vay nhiều rủi ro hơn. Đây là vấn đề rủi ro về đạo đức mà tôi đã đề cập nhiều lần. Những lo sợ rằng mỗi vụ giải cứu sẽ làm tăng khả năng diễn ra các vụ khác dường như đã rõ ràng – và chúng ta bây giờ đang có “bà mẹ của tất cả các vụ giải cứu”. Nhưng cách thức mà chính phủ giải cứu cũng làm tăng thêm mức độ méo mó – những cách làm cho cuộc suy thoái tồi tệ hơn. Ví dụ, một ngân hàng (như Citibank) thua lỗ đang được chính phủ bảo lãnh sẽ có ít động cơ để thương lượng lại các khoản thế chấp. Nếu nó trì hoãn việc xử lý vấn đề này, có một cơ hội – dù phải thừa nhận là mỏng manh – rằng giá trị của các khoản thế chấp sẽ phục hồi, và nó sẽ giữ được tất cả lợi nhuận. Nếu không, là hậu quả của sự chậm trễ, tổn thất là lớn hơn, chính phủ sẽ gánh chịu phí tổn.
Không chú ý đến các động cơ còn gây ra tổn thất khi xét theo một góc độ khác. Các ngân hàng và các quan chức ngân hàng có động cơ để nhận tiền của chính phủ và chi trả càng nhiều càng tốt dưới hình thức cổ tức tiền thưởng. Tất nhiên, họ biết rằng mục đích của khoản tiền trên là để tái cơ cấu vốn của ngân hàng và giúp họ cấp tín dụng, họ không được giải cứu vì tình yêu thương của người nộp thuế dành cho ngân hàng. Họ cũng biết rằng sử dụng tiền theo cách này sẽ làm cho các ngân hàng suy yếu hơn và phải gánh chịu cơn giận dữ của công chúng. Tuy nhiên, như một câu ngạn ngữ xưa, “có một con chim trong tay vẫn tốt hơn hai con trong bụi cây”; họ biết rằng nhiều khả năng là ngân hàng của họ sẽ không sống sót được. Những lợi ích của họ đi lệch hướng, không phát xuất từ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế, mà từ một “ nhà tài trợ” ngày càng trở nên quan trọng, đó là những người đóng thuế của Hoa Kỳ. Nhưng chính quyền Bush và Obama đã quyết định bỏ qua xung đột lợi ích này và ít kiểm soát đối với việc đồng tiền đã được sử dụng như thế nào.
Còn có một nguyên tắc quan trọng nữa của kinh tế đó là: nhìn về phía trước, quá khứ chỉ là quá khứ. Thay vì cố gắng cứu vớt các ngân hàng hiện có, vốn đã được chứng minh là hoàn toàn không đủ năng lực hoạt động, chính phủ có thể dành 700 tỷ đô la này cho một vài ngân hàng có hoạt động lành mạnh và được quản lý tốt hoặc thậm chí dùng số tiền này để thiết lập nên một tập hợp các ngân hàng mới. Với một đòn bẩy khiêm tốn 12–1 đã có thể tạo ra khoản tín dụng mới là 8.400 tỷ – quá đủ cho nhu cầu của nền kinh tế. Ngay cả khi chính phủ không làm được điều gì to tát, họ có thể sử dụng một phần trong số tiền trên để tạo thuận lợi cho các khoản vay mới và một phần khác để hấp thụ những gì không chắc chắn của các khoản cho vay mới bằng cách cung cấp bảo lãnh từng phần. Việc điều chỉnh bảo lãnh từng phần theo các điều kiện kinh tế là rất có ý nghĩa – hỗ trợ thêm nếu nền kinh tế vẫn trong tình trạng suy thoái, đối với những gì mà không thể quy trách nhiệm cho bất cứ doanh nghiệp nào.[199] Một chiến lược sáng tạo, nhìn về phía trước có thể dẫn đến việc cho vay nhiều hơn với chi phí thấp hơn dành cho công chúng, so với chiến lược của Hoa Kỳ để mua lại các tài sản xấu hiện có hoặc đưa tiền cho các ngân hàng đã tỏ ra không đủ năng lực trong quản lý rủi ro và quản lý tín dụng – và hy vọng rằng họ sẽ bắt đầu cho vay, và cầu nguyện rằng sau khủng hoảng họ sẽ làm việc tốt hơn những gì họ đã làm trước đó.
Một nguyên tắc nữa cũng tương tự như nội dung mà tôi đã thảo luận trong chương 3 về việc thiết kế các gói kích thích: tiền cần phải có đích đến, phải đi đến nơi mà tại đó nó sẽ kích thích nền kinh tế nhiều nhất. Nếu chính phủ không bị ràng buộc ngân sách, nó có thể đã ném tiền vào các ngân hàng một cách vô tội vạ. Trong trường hợp đó, việc tái cơ cấu vốn cho các ngân hàng là dễ dàng. Với kinh phí hạn chế, người ta phải bảo đảm rằng mỗi đô la đều được chi tiêu hiệu quả. Một trong những lý do tại sao chương trình TARP đã không đem lại kết quả gia tăng tín dụng như mong đợi là: chính phủ đã bơm nhiều tiền cho các ngân hàng lớn, và trong phạm vi rộng thì nhiều năm qua các ngân hàng đã chuyển dịch sự tập trung của họ ra khỏi việc cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nếu mục đích là để khuyến khích tạo việc làm, hoặc thậm chí là gìn giữ công ăn việc làm, chúng ta phải có nhiều khoản vay hơn có sẵn cho các doanh nghiệp này, bởi vì họ là những nguồn tạo việc làm nhiều nhất; nếu chúng ta muốn các doanh nghiệp vừa và nhỏ được cấp tín dụng, thì chúng ta phải bơm tiền cho các ngân hàng nhỏ và các ngân hàng cộng đồng.
Thay vào đó, chính phủ chi tiền hoang phí vào các định chế tài chính lớn – các tổ chức đã phạm những sai lầm lớn nhất – một số tổ chức này đã không cho vay nhiều hoặc không hề làm tín dụng. Việc giải cứu AIG là điều đặc biệt ngu xuẩn. Người ta lo ngại rằng nếu không giải cứu AIG thì sẽ có vấn đề với một số các công ty mà tổ chức này đã bán cho các hoán đổi rủi ro tín dụng, giống như các hợp đồng bảo hiểm được hình thành trên khả năng sụp đổ của một số công ty nhất định. Nhưng ném tiền vào AIG là một cách thức tồi để đưa tiền đến nơi mà nó có thể làm nên sự khác biệt. Cả hai chính quyền đã cùng sử dụng một biến thể của kinh tế học “từ trên đi xuống”: ném đủ tiền cho AIG, để một phần trong số đó sẽ chảy xuống những nơi cần thiết. Có lẽ, đây là một cách thức rất tốn kém trong kinh doanh. Khi dữ liệu về điểm đến của tiền từ AIG cuối cùng cũng được xác định, thì rõ ràng rằng rất ít trong số đó đã di chuyển một cách có hệ thống đến các tổ chức quan trọng – mặc dù có các lập luận để biện hộ.[200]
Tương tự như vậy, người ta cũng lo ngại, chẳng hạn, nếu chính phủ không giải cứu tất cả các chủ nợ, thì một số quỹ bảo hiểm và quỹ hưu trí sẽ tổn thất đáng kể.[201] Họ đã được coi là những người đòi bồi hoàn “xứng đáng xét theo góc độ xã hội”. Các khoản quỹ được rót xuống những người đòi bồi hoàn trong khu vực tư nhân là những khoản mà tốt hơn nên được sử dụng để tăng cường hệ thống an sinh xã hội, tránh sự cắt giảm sâu hơn ở mảng này. Chúng ta nên nghiêng cán cân về bên nào, giữa những người mà chúng ta đã thực hiện một khế ước xã hội, hay những người đã ra quyết định đầu tư sai lầm? Nếu chúng ta cần giải cứu các quỹ hưu trí và các công ty bảo hiểm, thì chúng ta nên trực tiếp làm điều đó, khi mà mỗi đồng đô la của chính phủ đi trực tiếp vào từng nhóm cần nó. Không thể biện minh cho việc chi 20 đô la để giải cứu các nhà đầu tư nhằm có được 1 đô la đi vào một quỹ hưu trí, nếu không làm thì có thể gặp rắc rối.
Một nguyên tắc sau cùng lẽ ra cần phải dẫn dắt các vụ giải cứu, một lần nữa, là tương tự như nguyên tắc dành cho việc thiết kế gói kích thích hiệu quả: các vụ giải cứu sẽ giúp tái cấu trúc hệ thống tài chính để nó thực hiện tốt hơn các chức năng mà nó được cho là phải phục vụ. Tôi đã nhiều lần lưu ý rằng các vụ giải cứu đã không làm được điều này; chẳng hạn như luồng tiền được di chuyển không phù hợp và không đến với những bộ phận của hệ thống tài chính nhằm đẩy mạnh các doanh nghiệp mới thành lập hoặc mở rộng các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tôi cũng lưu ý rằng các vụ giải cứu đã được thực hiện theo cách thức nhằm dẫn đến một ngành tài chính tập trung hơn, làm tồi tệ đi các vấn đề “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” và “quá lớn đến mức không thể giải quyết được”.
Vụ giải cứu này và các vụ giải cứu được lặp đi lặp lại trong những năm 1980, 1990, và những năm đầu của thập niên này đã gửi đi một tín hiệu mạnh tới các ngân hàng rằng họ không phải lo lắng về việc cấp tín dụng xấu, vì chính phủ sẽ dọn dẹp các mảnh vỡ hộ cho. Các vụ giải cứu đúng là đã thực hiện điều trái ngược lại hoàn toàn với những gì nên làm: thi hành kỷ luật thích đáng đối với các ngân hàng, khen thưởng những đơn vị thận trọng, và để cho những ngân hàng đã chấp nhận rủi ro quá mức được sụp đổ. Nhưng thực tế thì những ngân hàng nào làm công tác quản lý rủi ro tệ nhất lại nhận được những món quà lớn nhất từ chính phủ.
Dưới chiêu bài duy trì kinh tế thị trường tự do, những gì chính phủ đã tạo ra là rất xa cách với một thị trường thật sự. Nếu như chính quyền Obama đã tránh được lộ trình của “sự bảo tồn”, thì những gì nó đã thực hiện còn tệ hại hơn nhiều so với sự quốc hữu hóa: đó là “hàng nhái” của chủ nghĩa tư bản, tư nhân hóa các khoản lợi nhuận và xã hội hóa các khoản thua lỗ. Nhận thức, và thực tế, rằng những gói giải cứu là “không công bằng” – sự hào phóng bất công dành cho các ngân hàng, các chi phí bất công dành cho những công dân bình thường – đã làm cho việc giải quyết cuộc khủng hoảng trở nên khó khăn hơn. Nhận định rằng tiềm ẩn bên dưới cuộc khủng hoảng là sự mất niềm tin vào hệ thống tài chính đã trở thành phổ biến. Nhưng thất bại của chính phủ khi tiến hành việc giải cứu một cách công bằng đã góp phần cho tình trạng người dân mất niềm tin vào họ.
Phản ứng của chính phủ đã đặt nền kinh tế vào một con đường dẫn đến sự phục hồi chậm hơn và khó khăn hơn mức mà lẽ ra nên có. Đương nhiên mọi thứ sẽ còn tốt hơn nhiều nếu chính phủ sử dụng chiến thuật ngược lại – không làm gì cả. Quá trình này đã đẩy quốc gia từ bờ vực rơi vào suy thoái.
Nếu có gì bất lợi xảy ra – và có nhiều vấn đề lờ mờ hiện ra từ đường chân trời, chẳng hạn trong lĩnh vực bất động sản thương mại – thì các ngân hàng sẽ dần dần tự mình tái cơ cấu vốn. Với việc FED giữ mức lãi suất gần zero, cùng với sự cạnh tranh trong giới ngân hàng là hạn chế, các ngân hàng có thể thu về khoản lợi nhuận khổng lồ bằng việc tính lãi suất cho vay cao thậm chí đối với các khoản tín dụng vừa phải. Nhưng điều này sẽ làm nản lòng các doanh nghiệp trong việc mở rộng và thuê thêm nhân công mới. Một kịch bản lạc quan cho rằng việc tái cơ cấu vốn này diễn tiến nhanh hơn so với các vấn đề rắc rối phát sinh. Chúng ta sẽ phải loay hoay tháo gỡ.
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG
Không có cuộc thảo luận nào về vấn đề giải cứu tài chính là hoàn hảo mà lại không đề cập đến Cục Dự trữ Liên bang. Cơ quan này là một bộ phận trong hầu hết các vụ giải cứu mà tôi vừa trình bày. Để cứu các quan chức ngân hàng và các cổ đông của họ, cũng như để kích thích nền kinh tế, không chỉ có chính phủ Hoa Kỳ tham gia vào các chi tiêu lớn, mà FED cũng tăng hơn gấp đôi con số trong bảng cân đối của họ (một thước đo đối với các khoản cho vay) trong vài tháng, từ 942 tỷ đô la vào đầu tháng 9/2008 đến hơn 2.200 tỷ vào đầu tháng 12 cùng năm.[202]
Khi cuộc khủng hoảng lộ diện, Alan Greenspan từ hình ảnh của người hùng đã từng đem đến “sự điều tiết vĩ đại”, thời kỳ tăng trưởng ổn định dài hạn trong 18 năm tại vị của ông, trở thành kẻ tội đồ. Ý kiến của công chúng đối với người kế nhiệm ông, Ben Bernanke, là ôn hòa hơn. Tháng 8/2009, khi thông báo rằng ông sẽ tái bổ nhiệm Bernanke cho một nhiệm kỳ thứ hai làm Chủ tịch FED, Tổng thống Obama tỏ ra vui mừng vì vai trò chiến thắng của Bernanke khi cứu được hệ thống tài chính khỏi bờ vực sụp đổ. Không ngạc nhiên khi Tổng thống chẳng đề cập gì đến vai trò của Bernanke trong việc đưa hệ thống tài chính đi đến bờ vực đó. Như tôi đã trình bày trong chương 1, Bernanke duy trì bong bóng. "Sự dàn xếp của Greenspan” – đảm bảo cho thị trường rằng nếu có bất cứ điều gì không ổn thì FED sẽ giải cứu – đã được thay thế bằng “sự dàn xếp của Bernanke”. Sự đảm bảo này đã góp phần duy trì bong bóng và việc nhận lãnh những rủi ro quá mức. Và khi bong bóng vỡ, Bernanke tuân thủ lời cam kết của mình.
Khi có những dấu hiệu đầu tiên cho thấy bất ổn, vào mùa hè năm 2007, FED và Ngân hàng Trung ương châu Âu đã cấp thanh khoản lớn cho thị trường: trong hai tuần đầu tiên của tháng 8/2007, ngân hàng Trung ương châu Âu đã bơm vào khoảng 274 tỷ đô la và FED cung cấp 38 tỷ.[203] FED sau đó trở thành một tổ chức tham gia tích cực vào các vụ giải cứu tiếp theo. Nó mở rộng tiện ích “bên cho vay cuối cùng” đối với những ngân hàng đầu tư.[204] Thực ra, tổ chức này đã không làm gì để ngăn cản các ngân hàng không nhận lãnh các rủi ro nhằm phòng chống “hỏa hoạn” vì nó cho rằng các ngân hàng này không đại diện cho bất kỳ ảnh hưởng nào mang tính hệ thống, nhưng khi ngọn lửa bắt đầu bùng phát, thì FED khó có thể do dự trong việc ném ra hàng tỷ đô la tiền của người đóng thuế vào vòng rủi ro.[205] (Nếu FED nghĩ rằng nó không có thẩm quyền để điều tiết các ngân hàng đầu tư, và nếu các ngân hàng này là quan trọng mang tính hệ thống, FED cần đến Quốc hội và đề xuất để có quyền này. Tuy nhiên, việc FED không yêu cầu thẩm quyền cũng hầu như chẳng có gì ngạc nhiên: FED đã ủng hộ triết lý bãi bỏ các quy định.)
Theo truyền thống, FED mua và bán trái phiếu chính phủ ngắn hạn (T–bills). Khi mua vào trái phiếu, cơ quan này bơm tiền vào nền kinh tế, và thường dẫn đến các mức lãi suất thấp hơn. Khi nó bán trái phiếu ra, hiệu ứng là ngược lại. Không có rủi ro về việc các trái phiếu sẽ xấu đi – chúng cũng an toàn như chính phủ Hoa Kỳ vậy. FED cũng trực tiếp cho các ngân hàng vay, và bằng cách chuyển tiền đến, nó cho phép các ngân hàng cấp tín dụng cho người khác. Nhưng khi FED cho các ngân hàng vay tiền, nó thường yêu cầu tài sản thế chấp – là trái phiếu chính phủ ngắn hạn. Theo đó FED không phải là một ngân hàng theo nghĩa thông thường – nó không làm công tác thẩm định tín dụng, mặc dù như một cơ quan điều tiết ngành ngân hàng, nó được cho là có nghĩa vụ phải đóng cửa các ngân hàng có nguy cơ không trả được các khoản tiền gửi hoặc bắt buộc họ phải tìm ra giải pháp để có lượng vốn cần thiết. FED được người ta gọi là “bên cho vay cuối cùng” bởi vì đôi khi các ngân hàng “đủ năng lực thanh toán" nhưng thiếu thanh khoản; họ có thể không có đủ tiền mặt khi cần. FED sẽ cung cấp thanh khoản đó.
Khi cuộc khủng hoảng lộ diện, FED làm cho thị trường tràn ngập thanh khoản. Bằng cách đó, nó đã đẩy lãi suất xuống mức zero. Ý định của FED là giữ không cho những vấn đề tồi tệ hơn, bảo đảm rằng hệ thống tài chính không sụp đổ. Tuy nhiên, không ngạc nhiên gì khi lãi suất thấp đã không khởi động lại nền kinh tế. Các công ty sẽ không khởi động lại việc đầu tư chỉ vì họ có thể vay được tiền với chi phí rẻ hơn. Tuy nhiên, một vấn đề khác cũng nổi trội: bơm tiền cho các ngân hàng không đem lại kết quả là họ cấp tín dụng nhiều hơn. Họ chỉ đơn giản là giữ tiền lại. Họ cần thanh khoản, và đây không phải là lúc để cho vay ra ngoài.[206]
Khi hoạt động tín dụng đóng băng, FED đã nhận lãnh một vai trò mới – từ một bên cho vay cuối cùng trở thành bên cho vay đầu tiên. Các công ty lớn thường vay được rất nhiều tiền không phải từ các ngân hàng mà là “từ thị trường" dưới hình thức được gọi là thương phiếu (commercial paper). Khi mà thị trường cũng đóng băng, thì các gã khổng lồ đáng kính như GE cũng không thể vay. Trong một số trường hợp, như GE, nguyên nhân một phần là do công ty đã có một bộ phận liên quan đến các khoản vay xấu. Khi thị trường không mua thương phiếu, thì FED chấp nhận mua. Nhưng khi làm điều đó, FED đã từ vị thế một “ngân hàng của các ngân hàng” thành ngân hàng của quốc gia. Không có bằng chứng nào cho thấy cơ quan này biết được bất cứ điều gì về đánh giá rủi ro – đây là một nghiệp vụ hoàn toàn khác so với những gì nó đã làm trong hơn 94 năm lịch sử.
Một số việc mà FED đã làm để giúp hồi sinh ngành ngân hàng đã mang lại tác dụng ngược so với những gì được mong đợi từ lực đẩy chính của chính sách tiền tệ – cho vay sẽ được phục hồi một lần nữa. Nó bắt đầu trả lãi cho các khoản dự trữ ngân hàng được gửi tại Cục Dự trữ Liên bang – một cách thức dễ thương để trao tặng những món quà lớn cho các ngân hàng mà hầu như không có ai nhận thấy, chỉ không dễ thương là khi làm điều đó FED trên thực tế đã khuyến khích các ngân hàng giữ lại tiền thay vì cho vay ra ngoài (một thực tế mà chính FED thừa nhận, sau khi cơ quan này tuyên bố sẽ tăng mức lãi đối với các khoản dự trữ nếu nó buộc phải giảm bớt cho vay trong trường hợp có mối đe dọa lạm phát).
Không ngạc nhiên, FED (với sự hỗ trợ của Bộ Tài chính) đã cố gắng để làm cho thị trường chứng khoán làm việc trở lại thông qua một loạt các chương trình bảo đảm và mua chứng khoán, chẳng hạn như chương trình “Các điều kiện vay thuận lợi đối với chứng khoán có tài sản đảm bảo” (Term Asset–Backed Securities Loan Facility: TALF). Tuy nhiên, FED có làm mà không chú ý thích đáng đến vấn đề cơ bản: các thị trường chứng khoán sụp đổ một phần là vì các mô hình mà quá trình chứng khoán hóa dựa vào là rất sai lầm. Khi chỉ chỉnh sửa rất ít các mô hình, chúng ta phải lo lắng về việc khởi động lại toàn bộ guồng máy.[207]
RỦI RO LẠM PHÁT
Ngày nay, trên toàn thế giới, khi dư nợ của Hoa Kỳ đã tăng vọt và bảng cân đối của FED phình to, người ta lo lắng về tình hình lạm phát trong tương lai. Thủ tướng Trung Quốc công khai bày tỏ mối quan ngại về giá trị khoảng 1.500 tỷ đô la mà đất nước của ông đã cho Hoa Kỳ vay. Ông, và công dân của ông, không muốn nhìn thấy những khoản tiền khó khăn lắm mới kiếm được đó lại bị giảm sút giá trị. Rõ ràng là có động cơ để cho lạm phát làm giảm giá trị thực của khoản nợ, có lẽ không phải trong một diễn biến đầy kịch tính với mức lạm phát rất cao mà là dần dần, trong vòng hơn mười năm, với mức lạm phát trung bình 6% hàng năm chẳng hạn. Điều này sẽ xói mòn khoảng 2/3 giá trị của khoản nợ.[208] Hoa Kỳ nói rằng họ sẽ không bao giờ làm như vậy, và các quan chức ngân hàng trung ương dường như mang trong mình một loại gen khiến cho hầu hết trong số họ đều là các chiến sĩ hăng hái chống lạm phát. FED tuyên bố rằng nó sẽ khéo léo quản lý nền kinh tế, giảm bớt thanh khoản khi cần thiết để ngăn chặn lạm phát. Nhưng bất cứ ai nhìn vào những hành động của FED trong các thập kỷ gần đây đều sẽ không cảm thấy tin tưởng.
Vi vậy, trong khi tỷ lệ thất nghiệp vẫn cao, mối đe dọa giảm phát cũng nhiều như là lạm phát. Giảm phát là một nguy cơ nghiêm trọng, bởi vì khi tiền lương và giá cả giảm sút, các hộ gia đình và doanh nghiệp không thể trả được nợ. Hậu quả là vỡ nợ, làm suy yếu các ngân hàng, khởi động cho một vòng xoắn ốc mới theo chiều đi xuống. FED rơi vào tình cảnh tiến thoái lưỡng nan. Nếu nó giảm thanh khoản quá nhanh, trước khi sự phục hồi đã vững chắc, nền kinh tế có thể rơi vào suy thoái sâu hơn. Nếu nó làm quá chậm, nguy cơ lạm phát là có thật – đặc biệt là với độ lớn của lượng thanh khoản dư thừa trong hệ thống.
Một hành động cân bằng là điều đặc biệt khó thực hiện bởi cần nhiều tháng mới có thể nhận biết đầy đủ những ảnh hưởng của chính sách tiền tệ, đó là lý do tại sao những nhà hoạch định chính sách thường nói rằng họ phải hành động trước khi lạm phát trở nên rõ ràng. Điều đó có nghĩa là FED phải dự báo được nền kinh tế sẽ như thế nào trong nhiều tháng tới. Hồ sơ dự báo của FED trong cuộc khủng hoảng này là rất không rõ ràng.[209] Nhưng ngay cả khi FED có một hồ sơ đáng tin cậy hơn, thì chẳng ai biết chắc được mô hình của sự phục hồi này sẽ là gì, vì cuộc suy thoái lần này là rất khác biệt, xét dưới rất nhiều góc độ, so với bất kỳ tình huống nào trong ký ức gần đây. Ví dụ, FED phải đưa vào bảng cân đối của mình các tài sản có chất lượng thấp hơn so với những tài sản đã có trong quá khứ. Lý do tại sao FED thường dùng giao dịch bằng trái phiếu chính phủ ngắn hạn là: thị trường này rất vững chắc. Nó có thể mua và bán với trị giá hàng tỷ đô la một cách dễ dàng, bơm tiền vào và rút tiền ra khỏi nền kinh tế. Các thị trường của các tài sản khác mà FED đã nhận vào đều mỏng manh hơn nhiều. Nó có thể bán các tài sản này (để hút tiền vào) – nhưng nếu thực hiện quá nhanh thì giá cả sẽ bị hạ thấp, điều đó có nghĩa là thiệt hại lớn cho những người đóng thuế vốn đã bị đối xử tệ bạc. Chẳng hạn, đến giữa năm 2009, FED đã tài trợ phần lớn các khoản vay thế chấp. Nó đã thành công trong việc kìm giữ các mức lãi suất, thấp hơn khoảng 0,7% so với các mức bình thường lẽ ra đã có theo một số cách tính toán. Điều này là quan trọng trong việc duy trì thị trường nhà ở. Nhưng trong tháng 9/2009, FED thông báo rằng nó sẽ ngừng chương trình vào cuối tháng 4/2010. Điều đó có nghĩa rằng lãi suất đối với các khoản vay thế chấp có khả năng sẽ tăng, và bất cứ ai đã phát hành các khoản thế chấp có lãi suất cố định, ở mức cũ thấp hơn, sẽ phải chịu mất một lượng vốn đáng kể. Biết được điều này, khu vực tư nhân né tránh cho vay – họ không muốn chịu lỗ; thực tế thì sự tài trợ của Cục Dự trữ Liên bang đã “giải tán” khu vực tư nhân. Thậm chí nếu FED không cố gắng bán đi các khoản thế chấp thì giá trị thị trường của những tài sản này sẽ suy giảm khi lãi suất dài hạn tăng cùng với sự chấm dứt các biện pháp bất thường vì lãi suất ngắn hạn sẽ trở về mức bình thường.[210]
Tuy nhiên, có vài cách thức để FED không khuyến khích cho vay mà không cần bán các khoản thế chấp và tránh việc thừa nhận những thiệt hại (nếu nó muốn làm như vậy). Ví dụ, FED đề xuất sẽ trả lãi suất cao hơn cho các khoản tiền gửi tại FED, nhằm khuyến khích các ngân hàng không cho vay – nếu sự hồi phục có vẻ là quá nóng. Nhưng đó là một công cụ hầu như chưa được thử nghiệm – không có cách nào để biết được chính xác những ảnh hưởng khi tăng thêm lãi suất (ví dụ 2%) cho các khoản dự trữ. Bên cạnh đó, chính phủ sẽ phải tốn kém – đối với con số thâm hụt càng phình to thì các chi phí này là không thể bỏ qua.
Nếu FED hành động hoàn toàn đúng đắn, nó có thể quản lý được nền kinh tế không có lạm phát và cũng không có suy thoái. Nhưng tôi sẽ không tính đến điều này. Tôi nghi ngờ rằng nguy cơ suy thoái là lớn hơn so với khả năng lạm phát: trong giai đoạn “chạy đà” của cuộc khủng hoảng, FED cho thấy bản thân nó là hài hòa với tư duy của phố Wall nhiều hơn là với những mối quan tâm của phố Main (khu vực đầu tư của công chúng – ND), và tương tự như vậy đối với các vụ giải cứu. Có khả năng mô hình này sẽ tiếp diễn.[211]
Các thị trường có thể giúp điều chỉnh – nhưng không nhất thiết phải theo cách thức để nâng cao sự ổn định. Nếu các thị trường lo ngại về lạm phát, các mức lãi suất dài hạn sẽ tăng và điều này sẽ kìm hãm nền kinh tế theo cách trực tiếp (vì làm giảm nhu cầu đầu tư dài hạn) và gián tiếp (vì các ngân hàng sẽ được thuyết phục để nắm giữ trái phiếu chính phủ dài hạn hơn là cho vay).[212] Nhưng, như chúng ta đều thấy: có ít lý do để tin rằng thị trường có thể hiệu chỉnh phản ứng của nó một cách chính xác. Thật vậy, điều này làm cho động thái của FED càng khó khăn hơn, bởi vì nó không những phải dự đoán mức độ lạm phát trong tương lai và các phản ứng của thị trường với những phỏng đoán về lạm phát mà còn phải đoán được thị trường sẽ phản ứng như thế nào với bất kỳ hành động nào mà FED thực thi.[213] Suy luận trên cơ sở các hành vi trong quá khứ có thể không đem lại những dự báo đáng tin cậy. Quy mô của những vấn đề là chưa từng có trước kia, và vì các bên tham gia thị trường biết điều này nên phản ứng của họ trước những hành động của chính phủ là khác nhau. Dưới một góc độ nhất định, một phần của vấn đề đòn bẩy dư thừa đã chuyển từ khu vực tư nhân sang cho chính phủ (FED và bộ Tài chính). Như một giải pháp ngắn hạn, để phản ứng lại cuộc khủng hoảng này, điều này có thể có ý nghĩa. Tuy nhiên, vấn đề làm giảm đòn bẩy tổng thể (các khoản nợ) của nền kinh tế thì vẫn còn đó.
CỤC DỰ TRỮ LIÊN BANG: CÁC HÀNH ĐỘNG VÀ HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ CỦA CƠ QUAN NÀY
FED đã đóng vai trò trung tâm trong từng phần của diễn biến kịch tính này từ việc tạo ra cuộc khủng hoảng bằng các quy định không chặt chẽ và các chính sách tiền tệ lỏng lẻo đến sự thất bại trong việc xử lý một cách hiệu quả những di sản sau khi bong bóng vỡ.[214] Có những sai lầm trong công tác dự báo và trong chính sách. Nhiều phần trong chương này trình bày về các hậu quả của các cuộc giải cứu được thiết kế tồi, sau vụ phá sản của Lehman.
Câu hỏi được đặt ra một cách tự nhiên: chúng ta giải thích như thế nào về những thất bại liên tục này? Một phần của câu trả lời liên quan đến một tập hợp các ý tưởng kỳ lạ, bao gồm và còn vượt ra ngoài niềm tin rằng các thị trường luôn luôn làm việc hiệu quả – nhưng vì chúng luôn chạy tốt, nên không cần nhiều các quy định và không cần thiết phải quá lo ngại các bong bóng. Một phần của câu trả lời cho lý do tại sao những ý tưởng kỳ lạ đó lại thống trị sẽ được làm rõ qua hoạt động quản trị của FED.
Giá tài sản tăng vọt có nghĩa là đang có một bữa tiệc diễn ra trên phố Wall. Quan niệm phổ biến cho rằng FED nên kiểm soát các loại hình tiệc tùng đó – nhất là bởi vì, chắc chắn rằng những người khác phải trả chi phí cho việc dọn dẹp vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, các vị Chủ tịch của FED là Greenspan và sau đó là Bernanke không muốn trở thành những kẻ phá đám, do đó họ phải nghĩ ra một loạt lý luận sai trái để giải thích tại sao họ khoanh tay ngồi thụ động: không có những thứ như bong bóng ở đó, người ta không thể nói là xuất hiện bong bóng ngay cả khi đã có một cái, FED không có dụng cụ để xì hơi một bong bóng, trong mọi trường hợp thì tốt hơn là FED đi thu dọn sạch sẽ những mảnh vụn sau khi bong bóng vỡ. (Trong chương 9, tôi sẽ giải thích những sai lầm của mỗi luận điểm này.)
Một trong những lý do tại sao FED có thể “rút êm” sau những gì nó đã gây ra là: cơ quan này không trực tiếp chịu trách nhiệm trước Quốc hội hay chính phủ. Nó không bắt buộc phải được Quốc hội cho phép thì mới có thể đưa hàng trăm tỷ đô la của người đóng thuế vào tình huống rủi ro. Thực ra, đây là một trong những lý do tại sao cả hai chính quyền đều đã quay sang phía FED: họ đã tìm cách phá hoại tiến trình dân chủ, khi thừa biết rằng đa số các hành động của mình đều ít nhận được sự ủng hộ của công chúng.
Các quan chức thuộc nhiều ngân hàng trung ương trên thế giới đã truyền bá những học thuyết theo đó ngân hàng trung ương phải được độc lập với tiến trình chính trị. Nhiều quốc gia mới được độc lập và đang phát triển đã nhận thấy điều này đặc biệt khó chấp nhận: họ đã được nghe rằng nền dân chủ là quan trọng như thế nào, nhưng khi tiến hành các chính sách kinh tế vĩ mô và chính sách tiền tệ, một tập hợp các quyết định có ảnh hưởng nhiều nhất đến cuộc sống người dân, họ lại được nghe rằng việc từ bỏ các tiến trình dân chủ bình thường cũng là rất quan trọng. Lý luận cho tình trạng độc lập này là: nó làm tăng “độ tin cậy” – các ngân hàng trung ương sẽ không nhượng bộ trước các nhu cầu mở rộng của chủ nghĩa dân túy – điều này có nghĩa là sẽ có ít lạm phát và ổn định hơn.
Trong thời gian gần đây, một số quan chức của các ngân hàng trung ương độc lập đã không làm tốt như những quan chức khác với nhiều trách nhiệm chính trị trực tiếp hơn, có lẽ vì họ đã mất vị thế trước sự thống trị của các thị trường tài chính. Brazil và Ấn Độ, hai quốc gia trong đó không có các ngân hàng trung ương hoàn toàn độc lập, là những đất nước thực thi tốt; còn ngân hàng Trung ương Châu Âu và FED là những tổ chức đã thực thi kém.
Chính sách kinh tế liên quan đến sự đánh đổi – người thắng kẻ thua – và sự đánh đổi này không thể chỉ phụ thuộc đơn lẻ vào những nhà kỹ thuật. Người làm kỹ thuật có thể quyết định những vấn đề như loại phần mềm máy tính nào nên chạy, nhưng chính sách tiền tệ lại liên quan đến sự đánh đổi giữa lạm phát và thất nghiệp. Các trái chủ lo lắng về lạm phát, người lao động lại quan tâm đến việc làm. Có lúc, một số nhà kinh tế học đã cho rằng về lâu dài thì không có sự đánh đổi kiểu này – tỷ lệ thất nghiệp quá thấp cũng sẽ làm tăng thêm tỷ lệ lạm phát vốn đã gia tăng – nhưng thậm chí khi không có sự đánh đổi trong dài hạn thì vẫn có trong ngắn hạn. Không thể xác định chắc chắn một mức chính xác khi mà tỷ lệ thất nghiệp ở dưới mức này sẽ gây ra lạm phát (giới kỹ thuật gọi là tỷ lệ thất nghiệp không thúc đẩy lạm phát), và đến lượt nó thì điều này có nghĩa là chính sách tác động đến những người chịu rủi ro.
Ngoài quan điểm về những vấn đề trong dài hạn của các ngân hàng trung ương độc lập, còn có đôi chút bất đồng về một nội dung nữa. Khi ngân hàng trung ương của một quốc gia tham gia vào một vụ giải cứu quy mô lớn, đem tiền của công chúng vào tình thế rủi ro, nó đã tham gia vào các hành động cần phải có trách nhiệm trực tiếp xét về chính trị, và những hành động này cần phải được thực hiện một cách minh bạch. Tôi đã trình bày ở phần trước về các món quà không minh bạch (cũng như không cần thiết) dành cho các ngân hàng như một phần của chương trình TARP. Thậm chí những quà tặng thông qua FED cũng không mấy minh bạch, trong đó có 13 tỷ đô la rót vào Goldman Sachs và các ngân hàng nước ngoài trong vụ FED giải cứu AIG – những thông tin này FED chỉ chịu tiết lộ dưới áp lực của Quốc hội. Các vụ giải cứu khác của Cục Dự trữ Liên bang (như vụ Bear Stearns) cũng mờ ám không kém, khi người nộp thuế vẫn không biết rõ về mức độ rủi ro mà họ đối mặt.[215]
Thật không may, hầu hết các quan chức ngân hàng trung ương đều tự nhiên bước ra khỏi truyền thống ngân hàng dựa trên tiền đề của sự bảo mật. Những người có nền tảng học thuật nhiều hơn – như Mervyn King của Anh Quốc – đã bị thúc ép để cởi mở hơn. Thậm chí có lập luận cho rằng thông tin tốt hơn sẽ cải thiện hiệu quả của thị trường – sẽ ít có sự ngạc nhiên. Ben Bernanke đúng là có chủ trương ủng hộ cho tính minh bạch cao hơn khi ông nhận nhiệm sở, nhưng chỉ vì nhu cầu cần phải minh bạch tăng lên mà phạm vi minh bạch đã giảm xuống – và vì nhiều lý do mà điều này nhanh chóng trở thành dễ hiểu. Qua thời gian, ngày càng có vẻ như vai trò của sự bảo mật đã trở thành việc che giấu các quyết định sai lầm. Với loại bí mật này, không thể có trách nhiệm giải trình thực sự mang tính dân chủ.[216]
Cũng tệ hại như những vấn đề quản trị nêu trên, những vấn đề trong ngân hàng Dự trữ Liên bang tại New York, đơn vị từng đảm nhận một vai trò lớn trong vụ giải cứu, thậm chí còn tệ hơn. Các quan chức của FED được hội đồng quản trị bầu ra, hội đồng bao gồm các ngân hàng và các doanh nghiệp trong ngành. Sáu trong số chín thành viên hội đồng quản trị được bầu bởi chính các ngân hàng. Ví dụ, một thành viên hội đồng quản trị của FED New York là Chủ tịch hội đồng quản trị và Tổng Giám đốc điều hành của JP Morgan Chase, đây là một trong những đơn vị thụ hưởng sự giúp đỡ hào phóng từ FED. Tổng giám đốc điều hành của Citibank, cũng là một bên thụ hưởng, từng là thành viên hội đồng quản trị khi Geithner được bầu.[217] Như đã thảo luận trong chương 2, các nỗ lực của FED New York trong việc tự điều tiết là đáng ngờ nhất, nhưng khi nó đóng vai trò trung tâm trong việc thiết kế những vụ giải cứu – các chương trình đem tiền của người đóng thuế vào tình huống rủi ro – thì những câu hỏi về khả năng của tổ chức này trong việc tự kiểm soát mình lại càng sâu sắc hơn.
Trong khi hội đồng quản trị của Cục Dự trữ liên bang tại Washington được hưởng lợi ích từ việc giám sát và có trách nhiệm giải trình tốt hơn, thì vai trò của cơ quan này trong các vụ giải cứu lại thật đáng quan ngại. Nó đã trở thành một thứ công cụ không minh bạch được lựa chọn sử dụng bởi cả hai chính quyền Bush và Obama khi các vụ giải cứu ngày càng trở nên tốn kém và những hành vi xấu của các ngân hàng ngày càng trở nên rõ ràng. Toàn bộ chi phí sau cùng của các vụ giải cứu và những chương trình cho vay thông qua FED – bao gồm danh sách những người nhận được các món quà hào phóng – vẫn còn là ẩn số.
CÁC KẾT LUẬN
Toàn bộ những nỗ lực nhằm giải cứu hệ thống ngân hàng là rất sai lầm, một phần là vì những nhân vật phải chịu trách nhiệm nhất định cho tình trạng lộn xộn – như những người biện hộ cho việc bãi bỏ quy định, các cơ quan điều tiết đã không hoàn thành nhiệm vụ, hoặc các ngân hàng đầu tư – lại được phân công để chỉnh sửa tình hình. Có lẽ không lấy gì làm ngạc nhiên, tất cả họ lại ứng dụng thứ logic đã từng đưa ngành tài chính vào khó khăn trước kia để giải quyết các vấn đề hiện nay. Lĩnh vực tài chính đã tham gia vào các đòn bẩy rất lớn, những giao dịch không minh bạch, và nhiều nội dung nằm ngoài bảng cân đối; nó đã tin rằng có thể tạo ra giá trị bằng cách di chuyển các tài sản lòng vòng rồi đóng gói chúng lại. Phương pháp tiếp cận để đưa đất nước ra khỏi tình trạng hỗn loạn cũng dựa trên những “nguyên tắc” này. Các tài sản độc hại được dịch chuyển từ các ngân hàng sang chính phủ – nhưng điều đó chẳng thể làm cho chúng trở nên ít độc hại hơn. Sự bảo lãnh ngoài bảng cân đối và không minh bạch đã trở thành một thuộc tính phổ biến của Bộ Tài chính, Tập đoàn bảo hiểm Tiền gửi Liên bang và Cục Dự trữ Liên bang. Đòn bẩy cao (công khai và tiềm ẩn) đã trở thành một thuộc tính của các định chế công cũng như tư.
Tệ hơn nữa là các hàm ý trong công tác quản trị. Hiến pháp cho phép Quốc hội có quyền kiểm soát chi tiêu. Nhưng Cục Dự trữ Liên bang đã có những hành động trong khi hoàn toàn biết rằng nếu các tài sản đảm bảo mà nó đã nhận lãnh trở nên xấu đi, thì người đóng thuế sẽ giải cứu. Cho dù các hành động này có là hợp pháp hay không thì cũng không phải là vấn đề: chúng là những nỗ lực cố ý để quấy phá Quốc hội, bởi vì họ biết rằng người dân Mỹ sẽ phải miễn cưỡng chấp nhận các khoản chi hào phóng hơn dành cho những người đã gây ra rất nhiều thiệt hại và đã có hành vi rất tệ.
Chính phủ Hoa Kỳ lại có những hành động còn tệ hơn là việc cố gắng tái tạo hệ thống tài chính của quá khứ: nó củng cố các ngân hàng “quá lớn đến mức không thể sụp đổ”; trình bày một khái niệm mới – "quá lớn đến nỗi không thể xử lý được vấn đề tài chính”; khiến cho những vấn đề rủi ro đạo đức trở nên xấu hơn; đặt di sản nợ nần lên vai các thế hệ tương lai; gây ra nguy cơ lạm phát đối với đồng đô la Mỹ và làm cho rất nhiều người Mỹ phải hoài nghi về bản chất công bằng của chế độ.
Các quan chức ngân hàng trung ương, cũng như mọi người khác, đều có thể phạm sai lầm. Một số nhà quan sát đã tranh luận biện hộ cho các phương pháp tiếp cận đơn giản, dựa trên nguyên tắc dành cho chính sách (như trường phái Trọng tiền và lạm phát mục tiêu)[218] vì chúng làm giảm khả năng mắc sai lầm của con người. Niềm tin cho rằng các thị trường có thể tự vận hành và chính vì thế chính phủ không nên xen vào đã dẫn đến hậu quả là sự can thiệp lớn nhất của chính phủ vào thị trường trong quá khứ; hệ quả từ những quy định quá sơ sài sau đó là FED đã phải tùy tiện hành động nhiều hơn bất cứ ngân hàng trung ương nào từng hành động trong lịch sử. Nó đã phải ra những quyết định mang tính sống còn cho từng ngân hàng mà thậm chí không có một tập hợp các nguyên tắc định hướng rõ ràng.
***
Một số nhà bình luận[219] đã tham chiếu đến các vụ giải cứu quy mô lớn và sự can thiệp của chính phủ vào nền kinh tế như một loại chủ nghĩa xã hội mang màu sắc Hoa Kỳ, một thứ giống như tiến trình của Trung Quốc với tên gọi “nền kinh tế thị trường mang màu sắc Trung Quốc”. Nhưng, như một người bạn Trung Quốc đã chỉ ra, sự mô tả này là không chính xác: chủ nghĩa xã hội được cho là có nghĩa vụ chăm sóc người dân. Thứ chủ nghĩa xã hội kiểu Mỹ này đã không làm điều đó. Nếu tiền được chi ra để giúp đỡ những người dân đang mất nhà cửa thì còn có thể ghi nhận là một thuộc tính đúng. Với những gì đã diễn ra, đây chỉ là một phiên bản mở rộng của chủ nghĩa phúc lợi doanh nghiệp (Corporate Welfarism) theo kiểu Mỹ.
Cuộc khủng hoảng hiện nay đã cho thấy chính phủ nhận lãnh thêm một vai trò mới – “người gánh chịu rủi ro cuối cùng”. Khi các thị trường tư nhân đến điểm tan rã, tất cả rủi ro đã được chuyển sang cho chính phủ. Mạng lưới an sinh xã hội lẽ ra nên tập trung bảo vệ các cá nhân; nhưng nó đã được mở rộng để che chở cho các tập đoàn doanh nghiệp, với niềm tin rằng nếu không làm như vậy thì những hậu quả sẽ thật khủng khiếp. Một khi đã mở rộng, mạng lưới này sẽ khó có thể thu hồi lại: các doanh nghiệp biết rằng nếu họ có quy mô đủ lớn và sự sụp đổ của họ là đại diện cho một mối đe dọa đáng kể đối với nền kinh tế – hoặc nếu họ có đủ tầm ảnh hưởng chính trị – thì chính phủ sẽ gánh chịu các rủi ro. Đó là lý do tại sao việc ngăn chặn các ngân hàng không để chúng phát triển quá lớn lại có ý nghĩa quan trọng đến vậy.
Tuy nhiên vẫn còn một cơ hội cho chế độ chính trị Hoa Kỳ khôi phục lại niềm tin ít ỏi của công chúng vào bản thân nó. Vâng, phố Wall đã sử dụng quyền lực và tiền bạc để mua được việc bãi bỏ quy định, ngay sau đó là các vụ giải cứu hào phóng nhất trong lịch sử nhân loại. Vâng, chính phủ đã thất bại trong việc tái cơ cấu hệ thống tài chính theo những cách thức giúp giảm thiểu khả năng xảy ra những cuộc khủng hoảng tương tự và tăng cường cho các bộ phận đã thực sự có làm những việc được cho là cần làm trong hệ thống tài chính – quản lý rủi ro và phân bổ vốn. Nhưng vẫn còn cơ hội để điều chỉnh lại, để sửa chữa những sai lầm trong quá khứ. Yêu cầu bắt buộc là phải thực thi nhanh chóng: vì trong khi một bên của cuộc đấu tranh, là những đối tượng nộp thuế bình thường, những người đã phải gánh chịu những phí tổn từ sự thất bại trong lĩnh vực tài chính, có thể bị mất lợi ích khi nền kinh tế phục hồi, thì phía bên kia, các ngân hàng, có động cơ để tiếp tục tranh đấu nhằm bảo đảm rằng họ được tự do để thu về lợi nhuận. Nhưng vì cả hai nguyên nhân: cấu trúc của hệ thống tài chính đã trở nên tồi tệ hơn và cách thức của các vụ giải cứu đã làm cho vấn đề rủi ro đạo đức xấu đi, nên nhu cầu tái lập quy định là lớn hơn bao giờ hết.
Trong chương kế tiếp, tôi trình bày trận đánh tiếp theo trong cuộc chiến cải cách hệ thống tài chính – trận chiến về các quy định.

