Rơi Tự Do - Chương 7
CHƯƠNG 7:
MỘT TRẬT TỰ MỚI CỦA CHỦ NGHĨA TƯ BẢN
Vào mùa thu năm 2008, nền kinh tế toàn cầu, hoặc ít nhất là các thị trường tài chính phức tạp của nó, đã ở bên bờ vực của sự sụp đổ hoàn toàn. Nó đang rơi tự do. Do đã chứng kiến rất nhiều cuộc khủng hoảng khác, nên tôi chắc chắn rằng cú rơi tự do này sẽ sớm kết thúc. Việc rơi tự do đều xảy ra trong mỗi cuộc khủng hoảng. Nhưng sau đó thì sao? Chúng ta không thể và cũng không nên quay trở về cái thế giới như trước kia. Nhiều việc làm đã mất và sẽ không lấy lại được. Tầng lớp trung lưu của Hoa Kỳ đã trải qua một thời gian vất vả lao đao trước khủng hoảng. Điều gì sẽ xảy ra với họ trong giai đoạn hậu khủng hoảng?
Cuộc khủng hoảng đã làm cho Hoa Kỳ và phần lớn các quốc gia trên thế giới xao nhãng những vấn đề dài hạn – những việc cần phải được giải quyết. Danh mục không có gì xa lạ: chăm sóc sức khỏe, năng lượng, môi trường và đặc biệt là biến đổi khí hậu, giáo dục, dân số già đi, sự suy giảm trong sản xuất, một ngành tài chính không thực hiện đúng chức năng, mất cân đối toàn cầu, thâm hụt thương mại và tài chính của Hoa Kỳ. Khi đất nước phải vật lộn để đối phó với cuộc khủng hoảng trước mắt, những vấn đề này vẫn còn nguyên chứ không biến mất. Một số còn trở nên tồi tệ hơn. Tuy nhiên, các nguồn lực có thể được dùng để xử lý chúng đã bị suy giảm đáng kể, vì cách quản lý khủng hoảng yếu kém của chính phủ – nhất là việc phung phí tiền để giải cứu hệ thống tài chính. Tỷ lệ nợ so với GDP của Hoa Kỳ tăng từ 35% trong năm 2000 lên đến gần 60% trong năm 2009 – và thậm chí với những dự đoán lạc quan của chính quyền Obama cũng cho thấy số nợ sẽ tăng thêm 9.000 tỷ đô la trong thập kỷ tiếp theo, đạt tỷ lệ hơn 70% trong năm 2019.[279]
Việc tái cấu trúc nền kinh tế sẽ không tự động diễn ra. Chính phủ sẽ phải đóng một vai trò trung tâm. Tập hợp các thay đổi chính yếu còn ở phía trước: cuộc khủng hoảng tài chính đã cho thấy các thị trường tài chính không tự nó vận hành tốt, và các thị trường cũng không thể tự điều chỉnh. Nhưng bài học còn mang tính tổng quát cao hơn, vượt ra ngoài thị trường tài chính. Chính phủ phải có một vai trò quan trọng. Cuộc cách mạng của Reagan – Thatcher đã phủ nhận vai trò đó. Những nỗ lực sai lầm để giảm bớt vai trò của chính phủ đã mang lại hậu quả rằng chính phủ phải nhận lãnh một vai trò còn lớn hơn bất cứ bên nào khác, điều này là có thể dự đoán được thậm chí ngay trong Chính sách Kinh tế mới (New Deal). Bây giờ chúng ta phải xây dựng lại một xã hội với sự cân bằng tốt hơn giữa vai trò của chính phủ và vai trò của thị trường. Sự cân bằng hơn có thể mang lại hiệu quả và tính ổn định hơn cho nền kinh tế.
Trong chương này, tôi trình bày các chương trình nghị sự tương ứng và có liên quan nhau: những gì cần làm để khôi phục lại sự cân bằng giữa chính phủ và thị trường, và để tái cấu trúc nền kinh tế – bao gồm cả vai trò của chính phủ trong sự chuyển dịch cơ cấu đó. Nếu chúng ta muốn thành công trong việc chuyển đổi nước Mỹ, chúng ta phải có một tầm nhìn rõ ràng hơn về nơi mà chúng ta muốn đến, cũng như một tầm nhìn rõ ràng hơn về vai trò của chính phủ.
Những vấn đề mà Hoa Kỳ đang phải đối mặt cũng tương tự như các vấn đề mà nhiều quốc gia khác, nếu không muốn nói là hầu hết các nước công nghiệp phát triển, cũng đang phải đối mặt. Trong khi nhiều quốc gia phần nào đã làm tốt hơn trong việc giải cứu các ngân hàng của họ, họ vẫn phải đối mặt với một sự gia tăng đáng kể trong tỷ lệ nợ so với GDP vì các nỗ lực (đa số là thành công) nhằm kích thích nền kinh tế. Đối với một số quốc gia, các vấn đề liên quan đến dân số già còn tồi tệ hơn. Tại hầu hết các nước, vấn đề chăm sóc sức khỏe là ít khắc nghiệt nhất. Không quốc gia nào còn thời gian để giải quyết những thách thức của biến đổi khí hậu. Hầu như tất cả đều phải đối mặt với những thách thức lớn trong chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế.
NHU CẦU TÁI CẤU TRÚC NỀN KINH TẾ
SỰ ĐÁNH GIÁ TRUNG THỰC VỀ VIỄN CẢNH PHÍA TRƯỚC
Trong khi Hoa Kỳ vẫn có khả năng giữ nguyên vị thế của một nền kinh tế lớn nhất thế giới trong nhiều năm tới, nhưng mức sống của hầu hết người dân Mỹ không phải là đương nhiên sẽ tăng trưởng như đã từng có trong quá khứ, ví dụ như những năm sau Chiến tranh thế giới thứ II.[280] Nhiều người Mỹ đã được sống trong một thế giới ảo tưởng với các điều kiện tín dụng dễ dàng, và thế giới ảo đó đã kết thúc. Nó sẽ không, và không nên, tái hiện. Những người dân, và cả đất nước, sẽ đối mặt với sự sụt giảm trong tiêu chuẩn sống. Không chỉ là quốc gia đã chi tiêu vượt quá khả năng của mình, mà rất nhiều hộ gia đình cũng đã làm như vậy.
Bong bóng đã che giấu một thực tế là tình hình kinh tế của đất nước không tốt đẹp như nó có thể có hoặc lẽ ra cần phải có. Sự tập trung vào GDP đã dẫn đến sai lầm – tôi sẽ trình bày chi tiết hơn trong chương 10. Đối với nhiều nhóm, triển vọng tương lai của nền kinh tế đã suy yếu: thu nhập trung bình của nam giới ở tuổi 30 hiện nay là thấp hơn so với mức đã có cách đây ba thập kỷ.[281] Hầu hết người Mỹ đã có mức thu nhập bị đình trệ trong cả thập kỷ. Trong những năm đầu của thập niên này, khi nhiều người nhận thấy thu nhập của họ bị đình trệ hoặc giảm sút, họ vẫn tiêu dùng cứ như là mình thuộc về một phần của “giấc mơ Mỹ". Với bong bóng nhà ở, họ có thể gia tăng mức tiêu dùng hiện nay và làm ra vẻ vẫn có thể mong đợi được vào một quỹ hưu trí thoải mái và lo được chuyện học hành cho con em họ, từ đó nhìn thấy được sự thịnh vượng hơn. Nhưng khi bong bóng vỡ tung, những giấc mơ cũng tiêu tan, cùng lúc đó người dân Hoa Kỳ phải đối mặt với tình trạng bấp bênh nhiều hơn về kinh tế và chăm sóc sức khỏe – khoảng 15% là không hề có bảo hiểm y tế.[282] Còn có những chỉ số khác cũng cho thấy sự bất ổn: trong năm 2007 Hoa Kỳ đã có tỷ lệ tù nhân so với tổng số dân là rất cao – gấp mười lần so với tỷ lệ của nhiều quốc gia châu Âu khác.[283]
Một loạt các vấn đề khác vẫn tồn đọng. Tình trạng Trái Đất nóng dần lên đòi hỏi phải trang bị thêm các bộ phận mới cho nền kinh tế, với chi phí đầu tư rất lớn. Hiện nay, quốc gia cần bù đắp lại khoảng thời gian đã mất trong những năm dưới chính quyền Bush. Cơ sở hạ tầng đã hư hỏng – minh chứng rõ qua sự sụp đổ của đê New Orleans và cầu Minnesota. Và trong khi Hoa Kỳ có một hệ thống các trường đại học hạng nhất – tốt nhất thế giới – thì kết quả học tập bình quân của học sinh trong hệ thống giáo dục tiểu học và trung học là dưới chuẩn trung bình. Học sinh Hoa Kỳ học kém hơn trong các môn khoa học và toán so với mức trung bình của hầu hết các nước công nghiệp khác.[284] Hậu quả là nhiều người lao động đã không chuẩn bị tốt nhằm đáp ứng được những thách thức của cạnh tranh toàn cầu trong thế kỷ XXI.
Vẫn chưa thể biết rõ nền kinh tế Mỹ cần phải được cơ cấu lại theo các định hướng nào. Nhưng rõ ràng là việc này sẽ làm hao tổn các nguồn tài nguyên và chi phí công. Các nguồn lực sẽ phải dịch chuyển từ một số lĩnh vực quá lớn (như tài chính và bất động sản) và quá yếu kém (như sản xuất) sang các ngành nghề khác có triển vọng tốt hơn cho sự tăng trưởng bền vững.
MỘT SỐ ĐIỂM BẤT CẬP: KHÔNG CHỈ LÀ KHỦNG HOẢNG TÀI CHÍNH
Như tôi đã trình bày trong các chương khác, người Mỹ đã sống với các bong bóng, hết cái này tới cái khác, trong nhiều năm qua. Hơn nữa, còn có những sự mất cân đối rất lớn trên quy mô toàn cầu – chính phủ Mỹ đã vay từ các nước khác số tiền lớn tương đương 6% GDP đúng vào thời điểm mà lẽ ra nó cần phải dành riêng một khoản cho làn sóng những người thuộc thế hệ baby–booming (ra đời trong giai đoạn bùng nổ dân số sau Thế chiến II, từ năm 1946 đến 1964 – ND) nghỉ hưu, dự kiến là trong vài năm tới.[285]
Phần còn lại của thế giới cũng đã phấn đấu để thi đua trong việc này với Hoa Kỳ, nhưng nếu nó thành công hoàn toàn thì hẳn là thế giới này không thể tồn tại được. Phong cách tiêu dùng là không bền vững xét theo khía cạnh môi trường, nhưng người Mỹ vẫn tiếp tục mua những chiếc xe hơi ngày càng “uổng xăng” nhiều hơn – và toàn bộ lợi nhuận của ngành công nghiệp xe hơi được đặt trên giả định rằng người Mỹ sẽ làm như vậy mãi mãi.
Đa số phần còn lại của nền kinh tế, bao gồm cả một số lĩnh vực ngành nghề thành công nhất, cũng dựa trên những cơ sở không bền vững. Một trong những ngành có lợi nhuận cao nhất trong nền kinh tế là năng lượng, than đá và dầu mỏ – đã thải ra khí nhà kính vào bầu khí quyển – với bằng chứng rành rành là gây ra sự thay đổi khí hậu đáng kể.[286]
Trọng tâm của việc tái cấu trúc nền kinh tế đòi hỏi phải đi từ sản xuất sang dịch vụ. Đầu thập niên 1990, đã có những cuộc tranh luận về chất lượng của các công ăn việc làm mới được tạo ra trong khối dịch vụ. Phải chăng đất nước tạo ra các người thợ làm hamburger để thay thế cho những công nhân sản xuất có tay nghề cao? Nghiên cứu kỹ các dữ liệu cho thấy phần lớn công ăn việc làm trong khối dịch vụ là những việc làm tốt, được trả lương cao, và rất nhiều các việc làm được trả lương cao trong khối dịch vụ là nằm trong lĩnh vực tài chính – một nền móng mới của nền kinh tế Mỹ. Điều đó gợi lên câu hỏi: làm thế nào mà một phương tiện để đạt mục tiêu lại có thể trở thành trọng tâm của một nền Kinh tế Mới? Chúng ta phải thừa nhận rằng tỷ lệ lớn quá mức của ngành tài chính – trong những năm trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng, khoảng 40% lợi nhuận của toàn bộ khối doanh nghiệp là trong lĩnh vực này – cho thấy có điều gì đó không ổn.[287]
NƯỚC MỸ TRONG BỐI CẢNH TOÀN CẦU
Bất cứ tầm nhìn nào cho nước Mỹ đi lên phía trước cũng đều phải được tính toán làm rõ trong điều kiện quốc gia này là một phần trong tầm nhìn thế giới. Cuộc suy thoái toàn cầu này đã lớn tiếng nhắc cho chúng ta nhớ rằng: tất cả đều có mối tương quan với nhau. Thế giới ngày nay đang phải đối mặt với ít nhất là 6 thách thức kinh tế lớn, một số trong đó còn có quan hệ với nhau. Sự dai dẳng và mức độ sâu sắc của chúng là bằng chứng cho những khó khăn mà hệ thống kinh tế và chính trị của chúng ta gặp phải khi giải quyết các vấn đề với quy mô toàn cầu. Chúng ta đơn giản là còn chưa có các định chế hữu hiệu nhằm xác định được các vấn đề và xây dựng nên một tầm nhìn cho việc giải quyết chúng như thế nào, chứ đừng nói gì đến việc có ngay các hành động cụ thể thích hợp.
Vấn đề kịch tính nhất là sự cách biệt giữa tổng cung và tổng cầu trên quy mô toàn cầu. Năng lực sản xuất toàn cầu đang được sử dụng không triệt để, trong khi thế giới vẫn còn lượng cầu rất lớn mà chưa được đáp ứng. Nghiêm trọng nhất là vấn đề nhân lực – không chỉ là vấn đề trước mắt với số người thất nghiệp trên toàn thế giới đã lên đến 240 triệu do cuộc suy thoái, hàng tỷ người khác không được đào tạo để ứng dụng toàn bộ các tiềm năng của họ, mà thậm chí ngay cả khi họ đi làm thì cũng không làm việc hết công suất.[288] Một việc làm kha khá là yếu tố quan trọng đối với lòng tự trọng của một cá nhân, và tổn thất xã hội còn lớn hơn nhiều so với sự thiếu hụt sản lượng đầu ra.
Thách thức lớn nhất trong vấn đề môi trường, tất nhiên, là do biến đổi khí hậu gây ra. Các nguồn lực môi trường khan hiếm vẫn đang được coi là “miễn phí”. Hậu quả là tất cả các mức giá cả đều bị bóp méo, trong một số trường hợp là vô cùng lệch lạc. Trong các chương trước, chúng ta đã thấy giá nhà đất lệch lạc đã làm méo mó nền kinh tế như thế nào; và cuộc khủng hoảng đã cho thấy vết đau khi “điều chỉnh" giá nhà ở – còn đau hơn vì sự điều chỉnh diễn ra quá trễ. Sự lệch lạc méo mó trong các mức giá cả môi trường cũng có quy mô tương tự, nó đã dẫn đến việc sử dụng cạn kiệt các nguồn lực quan trọng theo cách thức không bền vững; điều chỉnh là điều bắt buộc, và sự chậm trễ có thể sẽ gây ra tốn kém nhiều hơn.
Những gì được gọi là mất cân bằng toàn cầu cũng đặt ra một vấn đề đối với sự ổn định toàn cầu. Một phần của thế giới đang sống vượt xa ngoài khả năng của mình; một bộ phận khác lại sản xuất dư thừa, vượt quá mức tiêu thụ của mình. Hai bên cùng xoay theo một điệu tango. Có thể là không có gì đặc biệt đáng lo ngại về việc một số quốc gia tiêu dùng nhiều hơn thu nhập của chúng, và một số đất nước khác thì tiêu dùng ít hơn: đó chỉ là một phần trong kinh tế thị trường. Nhưng điều đáng lo ngại, như tôi đã lưu ý trong chương 1, là với số tiền mà Hoa Kỳ đã vay mượn từ phần còn lại của thế giới, chỉ tính riêng trong năm 2006 đã là hơn 800 tỷ đô la, thì việc vay mượn này là không bền vững. Việc giải quyết sự mất cân đối này có thể là rất lộn xộn, với khả năng có những thay đổi lớn về tỷ giá.[289] Những gì đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng này rõ ràng là loạn xạ, sự mất cân bằng thì vẫn kéo dài. Đặc biệt khó chịu là thực trạng, như đã được trình bày trước đó, rằng Hoa Kỳ cần tiết kiệm để dành cho thế hệ baby–boom, chứ không phải là đi vay.
Nhóm G–20 đã đề xuất một giải pháp kinh tế vĩ mô mang tính phối hợp – trong đó Hoa Kỳ gia tăng tiết kiệm và Trung Quốc giảm bớt tiết kiệm – sao cho sự mất cân bằng được giảm bớt theo cách thức vẫn duy trì được một nền kinh tế mạnh trên toàn cầu. Khát vọng này là cao quý, nhưng mỗi chính sách lại đều phụ thuộc vào chương trình nghị sự của riêng từng nước.
Hoa Kỳ có nhiều khả năng cắt giảm tiêu dùng nhanh hơn so với với Trung Quốc gia tăng mức tiêu dùng của mình. Trong thực tế, điều đó có vẻ như đang xảy ra, mặc dù trong năm 2009 sự gia tăng nhanh chóng trong mức tiết kiệm của hộ gia đình đã được bù đắp bởi sự gia tăng thậm chí còn nhanh hơn trong hoạt động đi vay của chính phủ.[290] Điều này làm suy yếu tống cầu của thế giới – khiến cho sự phục hồi mạnh mẽ trên quy mô toàn cầu trở nên khó khăn hơn.
Trong dài hạn, khi nhiều quốc gia đi vay mượn rất nhiều tiền để tài trợ cho các chương trình phục hồi của họ, có nguy cơ rằng các mức lãi suất sẽ tăng đáng kể. Một số quốc gia mắc nợ cao trong khi khả năng tăng thuế là giới hạn sẽ có thể phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng tài chính. Các nước không phải đối mặt với nguy cơ khủng hoảng thì vẫn phải đối mặt với các lựa chọn khó khăn: hãy xem Hoa Kỳ, với một khoản nợ quốc gia sẽ sớm đạt mức 70% GDP, thậm chí với một mức lãi suất vừa phải là 5%, thì để đáp ứng các khoản nợ cũng sẽ mất 3,5% GDP, tức là khoảng 20% nguồn thu từ thuế của chính phủ. Các mức thuế sẽ phải được nâng lên và/hoặc các chi tiêu khác được cắt giảm. Thông thường trong những tình huống như thế này thì đầu tư sẽ bị ảnh hưởng – dẫn đến sản lượng đầu ra thấp hơn trong tương lai.
Mặt khác, các mức lãi suất cao hơn sẽ giúp các quốc gia đang có tỷ lệ tiết kiệm cao giành được vị thế thuận lợi. Trung Quốc hiện đang dự trữ hơn 2 nghìn tỷ đô la. Với lãi suất 5%, mức dự trữ này tự nó đã tạo ra thu nhập là 100 tỷ. Tập trung vào các khoản thanh toán từ Hoa Kỳ sang Trung Quốc, với lãi suất khoảng 1%, thì sẽ thấy Hoa Kỳ chỉ chuyển đi khoảng 15 tỷ đô la hàng năm sang Trung Quốc. Với 5% lãi suất, Hoa Kỳ sẽ phải thanh toán 75 tỷ đô la cho Trung Quốc mỗi năm, đó là tiền lãi từ trái phiếu có tổng trị giá 1.500 tỷ đô la mà Trung Quốc đang nắm giữ.
Với sự sụp đổ trong đầu tư do cuộc khủng hoảng, việc nghĩ rằng sẽ có thặng dư trong tiết kiệm là tự nhiên. Theo truyền thống, tiết kiệm là một đức tính tốt đẹp, và tôi tin rằng bây giờ nó vẫn là tốt đẹp. Đó là lý do tại sao sự tập trung của các nước trong nhóm G–20 vào việc khuyến khích tiêu dùng có thể là sai lầm.[291] Tất nhiên, người ta hy vọng rằng công dân của các nước đang phát triển có thể nâng cao tiêu chuẩn sống, điều đó sẽ dẫn đến tiêu dùng nhiều hơn, thêm nhiều dịch vụ y tế và giáo dục, và nhiều thứ khác. Nhưng thế giới đang phải đối mặt với các nhu cầu rất lớn về kinh tế: như tôi trình bày trước đây, nó phải được trang bị thêm để giải quyết các thách thức đặt ra từ tình trạng nóng lên toàn cầu, khoảng 40% dân số thế giới vẫn còn sống dưới mức 2 đô la một ngày, và có nhu cầu lớn về đầu tư để cải thiện các cơ hội cho họ. Vấn đề là liên quan đến tài chính: trích ra các khoản tiết kiệm để dành cho những nơi cần nhất.
Thách thức thứ tư được tôi gọi là bài toán hóc búa về sản xuất. Sản xuất từ lâu vẫn là đỉnh cao của một giai đoạn phát triển cụ thể, là đường lối cho các nước đang phát triển thoát khỏi xã hội nông nghiệp truyền thống. Công ăn việc làm trong ngành này đã từng được trả lương cao và tạo thành xương sống cho xã hội trung lưu của châu Âu và Bắc Mỹ trong thế kỷ XX. Trong vài thập kỷ gần đây, những thành tựu trong việc tăng năng suất có nghĩa là đúng vào lúc ngành nghề phát triển, thì số lượng việc làm giảm đi; và mô hình này có khả năng sẽ tiếp diễn.
Thách thức thứ năm là sự bất bình đẳng. Toàn cầu hóa đã có những hiệu ứng phức tạp đối với quá trình phân phối thu nhập và sự giàu có trên toàn thế giới. Trung Quốc và Ấn Độ đã thu hẹp khoảng cách với các nước công nghiệp tiên tiến. Trong một phần tư thế kỷ, khoảng cách với châu Phi lại gia tăng – nhưng sau đó nhu cầu của Trung Quốc về hàng hóa đã giúp châu Phi (cũng như Châu Mỹ Latinh) phát triển ở mức kỷ lục là 7%. Cuộc khủng hoảng này đã đặt dấu chấm hết cho thời kỳ ngắn ngủi của sự thịnh vượng nhẹ nhàng. Nhưng ngay cả trong giai đoạn thịnh vượng thì sự nghèo đói tột cùng vẫn là một vấn đề: chênh lệch giữa tài sản của những người nghèo nhất thế giới với những người giàu nhất là gần như không thể tưởng tượng được. Hiện vẫn còn gần một tỷ người sống dưới mức 1 đô la mỗi ngày.
Sự bất bình đẳng ngày càng tăng ở hầu hết các nước trên thế giới, và toàn cầu hóa là một trong những yếu tố đã góp phần đẩy mạnh tình trạng này.[292] Đây không chỉ là vấn đề nhân đạo. Nó đóng một số vai trò nhất định trong sự suy thoái kinh tế hiện nay: những bất bình đẳng ngày càng tăng sẽ góp phần cho vấn đề thiếu hụt tổng cầu – tiền đi từ những người lẽ ra phải chi tiêu để đến với những người đang có nhiều hơn mức họ cần.
Thách thức cuối cùng là tính ổn định. Sự mất ổn định gia tăng trong lĩnh vực tài chính ngày càng trở thành một vấn đề. Bất chấp những cải tiến tuyên bố mà không được chứng minh trong các định chế tài chính toàn cầu và kiến thức về quản lý kinh tế ngày càng tăng, khủng hoảng kinh tế đã xảy ra thường xuyên và nặng nề hơn.
Có tương tác mạnh mẽ giữa các yếu tố trên đây – một số vấn đề làm trầm trọng thêm những vấn đề khác, trong khi các chiến lược được thiết kế để giải quyết một vấn đề này lại đồng thời làm giảm tác dụng của các chương trình đang xử lý những vấn đề khác. Ví dụ, tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính, sẽ đặt áp lực giảm tiền lương trên toàn thế giới, và những người lao động có tay nghề thấp nhất sẽ nhiều khả năng mất việc làm nhất. Tại Hoa Kỳ, sự giàu có của dân chúng thuộc tầng lớp dưới chủ yếu là từ sở hữu nhà cửa – và sự giàu có này đã bị tàn phá. Một trong những lý do dẫn đến sự mất cân bằng toàn cầu là yêu cầu dự trữ cao ở nhiều nước đang phát triển do hậu quả của cuộc khủng hoảng Đông Á. Cuộc khủng hoảng này đã ảnh hưởng đến các nước đang phát triển và làm các quốc gia này muốn dự trữ nhiều hơn, làm trầm trọng thêm vấn đề mất cân bằng toàn cầu. Hai vấn đề kết hợp lại – bất bình đẳng ngày càng tăng và nhu cầu dự trữ ngày càng cao – càng làm tăng thêm khó khăn từ sự suy yếu của tổng cầu thế giới, giảm sức mạnh của nền kinh tế toàn cầu.
Một tầm nhìn rộng hơn, dài hơn – tập trung vào người nghèo và thách thức từ hiện tượng Trái Đất nóng dần lên – sẽ đảm bảo rằng lượng tổng cầu là đủ để hấp thụ được toàn bộ năng lực sản xuất của thế giới.[293] Sự gia tăng tiêu dùng của người nghèo, bao gồm cả những người ở Trung Quốc, và sự giảm bớt tiêu dùng bởi những người giàu có (đặc biệt là tại Hoa Kỳ) sẽ làm giảm quy mô của sự mất cân bằng toàn cầu.
Để đạt được tầm nhìn mới, phải có một mô hình kinh tế mới – tính bền vững yêu cầu phải giảm sự tập trung đối với hàng hóa vật chất cho những người đang tiêu dùng quá mức và thay đổi phương hướng của các hoạt động sáng tạo. Ở mức độ toàn cầu, hiện có quá nhiều sự đổi mới đã theo định hướng giảm bớt sức lao động mà rất ít cải tiến theo hướng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường – hầu như không đáng ngạc nhiên khi các mức giá cả không phản ánh sự khan hiếm của các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Hiện đã có rất nhiều thành công trong việc tiết kiệm sức lao động nên ở nhiều nơi trên thế giới, vấn đề thất nghiệp cứ dai dẳng. Nhưng có ít thành công trong việc tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, và chúng ta đang mạo hiểm với sự sụp đổ của môi trường.
NHỮNG THÁCH THỨC TRONG DÀI HẠN MÀ HOA KỲ PHẢI ĐỐi MẶT
Những vấn đề mà thế giới phải đối mặt cũng đang thách thức nước Mỹ nhưng tại quốc gia này thì một số vấn đề là đặc biệt sâu sắc: Hoa Kỳ không những là một “bài toán hóc búa về sản xuất” nói chung, vấn đề về công ăn việc làm là hậu quả từ những thành tựu trong việc tăng năng suất; mà đất nước này còn có vấn đề trong quá trình chuyển dịch sản xuất ra nước ngoài (offshoring), như chuyển đến Trung Quốc và các nơi khác, phản ánh sự chuyển dịch lợi thế so sánh. Điều chỉnh sự thay đổi này trong cấu trúc của nền kinh tế là không dễ dàng: thông thường thì mất việc làm ở những lĩnh vực đã mất tính cạnh tranh là dễ dàng hơn so với việc tạo ra việc làm mới trong các lĩnh vực mới, như tôi đã chứng kiến tại rất nhiều nước đang phát triển khi đối diện với tiến trình toàn cầu hóa. Điều này là đặc biệt khó khăn nếu thiếu sự tập trung cao độ của ngành tài chính vào việc cho vay đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các công ty mới thành lập – nguồn gốc lớn nhất của công ăn việc làm. Ngày nay, Hoa Kỳ phải đối mặt với một khó khăn nữa: chuyển đổi cơ cấu sẽ đòi hỏi người dân phải di chuyển nơi ở. Nhưng nhiều người dân Mỹ đã mất một phần lớn giá trị tài sản còn lại sau khi thế chấp – một bộ phận đáng kể trong số những người này đã bị mất tất cả. Nếu bán căn nhà hiện tại, họ thậm chí sẽ không có đủ tiền để thanh toán phần ứng trước khi mua một căn nhà mới ở gần đó với diện tích tương đương. Tính lưu động, một trong những ưu điểm của sự thành công trong quá khứ của Hoa Kỳ, sẽ bị giảm xuống.
Nước Mỹ, cũng như rất nhiều quốc gia khác trên thế giới, đang phải đối mặt với sự bất bình đẳng về thu nhập ngày càng tăng, nhưng tại Hoa Kỳ thì sự bất bình đẳng hiện đã đạt đến mức độ chưa từng có trong vòng ¾ thế kỷ.[294] Quốc gia này cũng cần điều chỉnh với hiện tượng Trái Đất nóng dần lên, nhưng cho đến thời gian gần đây thì Hoa Kỳ vẫn là nguồn phát ra khí nhà kính lớn nhất, xét về tổng số và theo bình quân đầu người, và do đó việc giảm bớt lượng khí thải xuống cũng sẽ đòi hỏi điều chỉnh nhiều hơn.[295]
Ngoài ra, Hoa Kỳ còn có thêm hai thách thức nữa. Thách thức đầu tiên là do sự lão hóa dân số, có nghĩa là người Mỹ lẽ ra phải tiết kiệm để dành cho thời gian hưu trí sau này, trong khi họ lại sống vượt quá khả năng tài chính thật sự của họ. Nước Mỹ cũng phải đối mặt với một loạt các vấn đề của các ngành: phần lớn đều là bấp bênh. Một trong những lĩnh vực có vẻ là thành công nhất, tài chính, là bị thổi phồng và dựa trên các tiền đề sai lầm; đa số các ngành khác, như năng lượng chẳng hạn, là không bền vững xét từ khía cạnh môi trường. Ngay cả khi lĩnh vực này đã tham gia vào thị trường tái tạo năng lượng – ethanol – nó vẫn bị bóp méo bởi quá trình vận động hành lang của doanh nghiệp, rằng ngành này không thể cạnh tranh với công tác nghiên cứu của các thị trường mới nổi như Brazil. Để cạnh tranh, chính phủ Hoa Kỳ đã kết hợp nhiều dạng trợ cấp, đã có thời điểm là hơn 1 đô la cho mỗi gallon, với mức thuế áp lên ethanol làm từ mía đường của Brazil là hơn 50 cent cho một gallon![296] Ngành công nghiệp năng lượng lẽ ra nên tập trung vào việc bảo tồn, thay vào đó nó đã vận động hành lang để có quyền làm dàn khoan khai thác xa bờ.
Ngành chăm sóc sức khỏe không hiệu quả của Hoa Kỳ đã tốn nhiều chi phí hơn khi cung cấp dịch vụ, xét theo mức trung bình thì kết quả y tế là tồi hơn so với kết quả của hệ thống chăm sóc sức khỏe tại các nước công nghiệp phát triển khác. Trong một số trường hợp, chất lượng chăm sóc sức khỏe tại Hoa Kỳ cũng chỉ tương đương với các nước thuộc Thế giới thứ ba mặc dù trình độ phát triển ngành y tế Hoa Kỳ là cao hàng đầu thế giới.[297]
Mỹ có nền giáo dục không đạt hiệu quả, với chất lượng, một lần nữa, chỉ được so sánh với nhiều quốc gia thuộc “nhóm mới nổi” mặc dù các trường đại học của Mỹ vẫn chưa có đối thủ cạnh tranh.[298]
Khi suy nghĩ về một tầm nhìn dài hạn cho nước Mỹ, điều tự nhiên đối với một nhà kinh tế học là bắt đầu tư duy xem lợi thế cạnh tranh trong dài hạn của nước Mỹ là gì, và làm thế nào để có thể phát huy lợi thế đó? Theo tôi, các lợi thế cạnh tranh dài hạn của Hoa Kỳ nằm trong các tổ chức giáo dục đào tạo cấp cao và những tiến bộ công nghệ phát xuất từ những lợi thế mà các tổ chức này cung cấp. Không có lĩnh vực ngành nghề nào khác trong nền kinh tế Hoa Kỳ có được một tỷ lệ những người dẫn đầu thế giới cao hơn ngành giáo dục, các trường đại học Hoa Kỳ đã thu hút được những nhân tài xuất sắc nhất từ khắp nơi trên thế giới, nhiều người đã ở lại để chọn Hoa Kỳ làm quê hương. Không có trường đại học hàng đầu nào của Mỹ – những trường đem lại lợi thế cạnh tranh – là tổ chức vì lợi nhuận – chứng tỏ rằng niềm tin vào các tổ chức hoạt động vì lợi nhuận có thể đã được đặt sai.
Nhưng chỉ có giáo dục đào tạo cao cấp không thôi thì chưa đủ cho một chiến lược kinh tế của Hoa Kỳ – chúng ta còn phải làm rõ cách thức để tạo ra công ăn việc làm được trả lương cao, dành cho tầng lớp trung lưu, đó mới là xương sống của đất nước và đã bị biến mất với sự suy yếu của nền móng công nghiệp. Các nước khác, như Đức, đã tạo ra một ngành công nghệ cao và nền sản xuất có năng lực cạnh tranh, dựa trên việc đào tạo nghề mạnh mẽ. Có lẽ đây là một hướng đi mà Hoa Kỳ cần phải suy nghĩ.
Những người có lý trí sẽ có các câu trả lời khác nhau cho những vấn đề trên, nhưng trong khi hoảng hốt phản ứng lại cuộc khủng hoảng, Hoa Kỳ đã làm sai. Trước khi bơm thêm tiền cho “các chính sách ngành nghề” (những chính sách của chính phủ nhằm hình thành nên cấu trúc của nền kinh tế) nhiều hơn tiền của bất kỳ quốc gia nào đã chi tiêu cho việc này trước kia – khi giải cứu ngành xe hơi và ngành tài chính – thì đây là những loại câu hỏi mà lẽ ra cần phải được nêu ra. Nhiệm vụ trước mắt là rất lớn: các lĩnh vực ngành nghề yếu kém – hoặc đã khiến cho người dân Mỹ phải khổ sở – và rất cần phải được cơ cấu lại (tài chính, sản xuất, năng lượng, giáo dục, y tế, vận tải) chiếm đến hơn một nửa trong toàn bộ nền kinh tế. Phần còn lại của đất nước cũng không thể đơn giản là dựa dẫm vào vòng nguyệt quế của ngành công nghệ cao, hoặc thậm chí là những thành tựu của các tổ chức giáo dục cao cấp và các cơ sở nghiên cứu.
NHỮNG KHỞI ĐẦU SAI LẦM
Hầu hết những thách thức này đều có trong chương trình nghị sự của Hoa Kỳ, và của thế giới. Tuy nhiên, một số những nỗ lực – kể cả những cố gắng trong giai đoạn suy thoái này – để giải quyết chúng lại đi theo những hướng sai lầm. Tôi đã thảo luận về một cái sai – không giảm bớt quy mô của ngành tài chính theo hướng làm tăng cường khả năng đáp ứng các nhu cầu xã hội của nó; thay vì vậy chính phủ lại bơm tiền cho chính những kẻ đã gây ra vấn đề.
Các thị trường tài chính cũng đã cố gắng thuyết phục chính phủ để đi theo một giải pháp sai lầm đối với vấn đề của người cao tuổi: tư nhân hóa An sinh Xã hội. Khi họ “hớt váng” được 1% mỗi năm hoặc cao hơn, từ số tiền mà họ quản lý, họ nhìn thấy việc tư nhân hóa là một nguồn mới để thu phí, một cơ hội mới để làm giàu cho chính mình với các phí tổn của người cao tuổi. Tại Anh, một nghiên cứu về ảnh hưởng của việc tư nhân hóa một phần đối với quỹ lương hưu của công chúng cho thấy: lương hưu sẽ giảm 40% vì các chi phí giao dịch.[299] Ngành tài chính muốn tối đa hóa các chi phí giao dịch, trong khi phúc lợi của những người nghỉ hưu đòi hỏi phải giảm thiểu chúng. Ngày nay, hầu hết người Mỹ đang thực sự biết ơn vì sáng kiến của Tổng thống Bush trong việc tư nhân hóa một phần An sinh Xã hội đã bị phủ quyết, chứ nếu không thì hoàn cảnh của người cao tuổi tại Hoa Kỳ sẽ còn ảm đạm hơn.
Hoa Kỳ đã rao giảng “phúc âm” của toàn cầu hóa và sự cạnh tranh toàn cầu. Kinh tế học căn bản cho thấy điều này có nghĩa là: Hoa Kỳ phải chuyên sâu vào lợi thế so sánh của mình, trong những lĩnh vực phản ánh được thế mạnh tương đối của đất nước. Trong nhiều lĩnh vực, Trung Quốc đã vượt qua Hoa Kỳ, không chỉ vì tiền lương thấp trả cho nhân công có tay nghề thấp – còn có rất nhiều quốc gia khác, những nước mà người lao động tay nghề thấp còn nhận được mức lương thấp hơn. Trung Quốc đã kết hợp mức tiết kiệm cao, lực lượng lao động được đào tạo ngày càng đông đảo (số lượng sinh viên tốt nghiệp đại học ở Trung Quốc tăng gấp khoảng 4 lần trong giai đoạn từ 2002 đến 2008, trong khi tổng số sinh viên nhập học tăng gấp 5 lần),[300] và các khoản đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng với chi phí sản xuất thấp và nghiệp vụ logistics hiện đại để đảm bảo cung cấp được hàng hóa vật chất theo số lượng lớn mà người tiêu dùng Hoa Kỳ yêu cầu. Hầu hết người Mỹ phải thừa nhận một cách khó chịu rằng: trong nhiều lĩnh vực, bao gồm cả các lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế “kiểu truyền thống” như thép và xe hơi, thì đất nước của họ đã không còn là người dẫn đầu trong công nghệ; cũng không còn là nhà sản xuất đạt hiệu quả cao nhất, và không còn sản xuất ra các sản phẩm tốt nhất nữa. Hoa Kỳ đã không còn lợi thế so sánh trong nhiều lĩnh vực sản xuất. Lợi thế so sánh của một quốc gia là thứ có thể thay đổi; điều quan trọng là lợi thế so sánh động. Các quốc gia Đông Á đã nhận thấy điều này. Bốn mươi năm trước, lợi thế so sánh của Hàn Quốc không phải là sản xuất các con chip hay xe hơi, mà là gạo. Chính phủ Hàn Quốc đã quyết định đầu tư vào giáo dục và công nghệ để dịch chuyển lợi thế so sánh của mình và nâng cao mức sống của người dân. Họ đã thành công, và trong khi làm điều đó, họ còn làm thay đổi xã hội và nền kinh tế. Kinh nghiệm của Hàn Quốc và các quốc gia thành công khác cho thấy những bài học và đặt các câu hỏi dành cho Hoa Kỳ: đâu là lợi thế so sánh động của chúng ta trong dài hạn và làm thế nào để chúng ta có được lợi thế đó?
VAI TRÒ CỦA NHÀ NƯỚC
Câu hỏi lớn của nền kinh tế toàn cầu trong thế kỳ XXI là: vai trò của nhà nước nên là gì? Để thành công trong việc tái cấu trúc đã mô tả ở phần trước của chương này đòi hỏi chính phủ phải nhận lãnh một vai trò lớn hơn. Những thay đổi này không tự diễn ra, và trong tương lai cũng vậy. Nhưng cơ chế thị trường có thể đóng vai trò trung tâm, ví dụ, trong việc phân phối khi xây dựng một nền kinh tế xanh kiểu mới. Thật ra, một thay đổi đơn giản đảm bảo rằng các mức giá cả phản ánh đúng sự khan hiếm xét từ góc độ môi trường trong dài hạn – sẽ phải đi một chặng đường dài.
Thật không may, nhất là tại Hoa Kỳ, nhiều nguyên tắc lỗi thời đã ức chế việc tìm ra vai trò đúng đắn của nhà nước. Một câu cách ngôn phổ biến, được “xào nấu” lại từ Thomas Paine, nói rằng: “Chính phủ điều hành tốt nhất là một chính phủ quản lý ít nhất”. Quan niệm phổ biến trong các chiến dịch vận động tranh cử của đảng Cộng hòa là: cắt giảm thuế có thể chữa khỏi mọi căn bệnh của nền kinh tế – mức thuế càng thấp, thì tốc độ tăng trưởng càng cao. Nhưng Thụy Điển có mức thu nhập bình quân đầu người thuộc hàng cao nhất, và theo các biện pháp đo lường quy mô rộng hơn về sự thịnh vượng (như chỉ số Chương trình Phát triển của Liên hiệp quốc) thì quốc gia này vượt hơn Hoa Kỳ khá xa.[301] Tuổi thọ trung bình ở đó là 80,5, so với mức 77 của Hoa Kỳ. Vị cựu bộ trưởng tài chính của Thụy Điển giải thích cho tôi về cơ sở thành công đó là: “Chúng tôi có thuế suất cao”.
Đương nhiên, thuế suất cao không trực tiếp dẫn đến mức tăng trưởng cao và mức sống cao của người dân. Nhưng Thụy Điển hiểu rằng một đất nước cần sống trong phạm vi khả năng của nó. Nếu một quốc gia muốn có dịch vụ chăm sóc sức khỏe tốt, nền giáo dục tốt, đường giao thông và an sinh xã hội tốt, thì các dịch vụ công cộng cần phải được thanh toán, và đòi hỏi phải có mức thuế cao. Hiển nhiên là một quốc gia cần phải chi tiêu tiền của mình một cách hợp lý, điều này là thật sự đúng cho dù chúng ta đang nói về khu vực tư nhân hay công cộng. Khu vực công của Thụy Điển đã nỗ lực để chi tiêu tiền hợp lý; còn lĩnh vực tài chính tư của Hoa Kỳ đã làm một công việc đáng buồn. Một đất nước phải lưu ý đến những động cơ và đã có thời điểm thuế suất của Thụy Điển hơi cao một chút và các hệ thống hỗ trợ của quốc gia cũng hơi hào phóng, do đó Thụy Điển đã điều chỉnh lại cả hai vấn đề này. Nhưng Thụy Điển phát hiện ra rằng một hệ thống hỗ trợ xã hội tốt phải có thể giúp được các cá nhân thích nghi với sự thay đổi – theo đó làm cho các cá nhân sẵn sàng chấp nhận sự thay đổi và những nguồn lực làm phát sinh sự thay đổi, chẳng hạn như toàn cầu hóa. Người Thụy Điển cố gắng để có sự an toàn xã hội mà không cần chủ nghĩa bảo hộ, và họ hưởng lợi từ kết quả của việc cởi mở nền kinh tế và xã hội. An sinh xã hội tốt hơn kết hợp với giáo dục tốt và tái đào tạo trong công việc có nghĩa là nền kinh tế của họ có thể linh hoạt hơn cũng như dễ dàng lấy lại thăng bằng trước các vụ chấn động, đồng thời duy trì tỷ lệ có việc làm ở mức độ cao hơn. Sự kết hợp giữa tỷ lệ có việc làm cao hơn và bảo trợ xã hội tốt hơn có nghĩa là các cá nhân đã sẵn sàng hơn để chấp nhận rủi ro. Những thiết kế tốt cho “phúc lợi nhà nước” đã hỗ trợ một “xã hội sáng tạo”.
Không phải là chắc chắn mọi chuyện sẽ như trên. Một nhà nước dạng “vú em” có thể làm xói mòn các động cơ, bao gồm cả các động cơ nhận lãnh rủi ro và để đổi mới. Có được sự cân bằng phù hợp là điều không dễ dàng. Một trong những lý do cho sự thành công của các quốc gia trên bán đảo Scandinavi là họ đã không sa lầy với một số giả định nhất định trong ý thức hệ, chẳng hạn như giả định rằng các thị trường luôn luôn hiệu quả hoặc chính phủ luôn luôn không hiệu quả. Sự sụp đổ trong ngành tài chính lần này, với sự phân bổ nguồn lực sai lầm trên quy mô lớn do khu vực tư nhân dẫn dắt, sẽ chữa trị cho mọi người thoát khỏi các định kiến như trên. Tuy nhiên, như chúng ta đã thấy trong chương 5; sự sợ hãi việc "quốc hữu hóa” của các ngân hàng phá sản đã kịp thời cản trở một cách hữu hiệu việc chính phủ can thiệp vào, diễn ra tại Hoa Kỳ và Anh, làm tiêu tốn một cách không cần thiết hàng tỷ đô la của người nộp thuế. Tại Mỹ, những cụm từ như là chủ nghĩa xã hội, tư nhân hóa, và quốc hữu hóa mang theo những cảm xúc khiến cho việc tư duy rõ ràng trở nên khó khăn hơn.
Herbert Simon, người đoạt giải Nobel năm 1978 với nghiên cứu mang tính đột phá với đề tài các doanh nghiệp hiện đại thực sự thực hiện các chức năng như thế nào, đã chỉ ra rằng sự khác biệt giữa chủ nghĩa tư bản hiện đại và các doanh nghiệp do chính phủ điều hành đã bị phóng đại lên theo tỷ lệ rất lớn. Trong cả hai hình thức, tất cả mọi người lao động đều làm thuê cho những người khác. Các cấu trúc khuyến khích, tạo động lực có thể được sử dụng để khích lệ các nhà quản lý và người lao động trong hai hình thức trên là giống nhau. Ông đã viết:
Hầu hết những người trực tiếp sản xuất đều là nhân viên, chứ không phải chủ sở hữu của công ty… Theo quan điểm về lợi nhuận của lý thuyết [kinh tế] cổ điển, họ không có lý do gì để tối đa hóa lợi nhuận của công ty, trừ khi đến phạm vi mà họ bị người chủ sở hữu kiểm soát… Hơn nữa, theo khía cạnh này thì không có sự khác biệt giữa các công ty hoạt động vì lợi nhuận, các tổ chức phi lợi nhuận, và các bộ máy quan liêu. Tất cả các loại tổ chức này đều có cùng một vấn đề trong việc lôi kéo nhân viên của họ làm việc hướng tới các mục tiêu của tổ chức. Không có lý do, sự suy diễn, giải thích tại sao việc tạo ra động lực này trong các tổ chức có mục đích lợi nhuận là dễ dàng hơn (hoặc khó khăn hơn) so với các tổ chức có mục đích khác. Kết luận rằng các tổ chức có động cơ là lợi nhuận sẽ đạt hiệu quả cao hơn các tổ chức khác là không phù hợp với các giả định tân–cổ điển về một nền kinh tế có tổ chức. Nếu điều này là đúng theo kinh nghiệm thực tế, cần có các tiên đề khác để lý giải.[302]
Tôi đã nhận xét trong chương 1 rằng mô hình của chủ nghĩa tư bản thế kỷ XIX đã không được áp dụng trong thế kỷ XXI. Hầu hết các công ty lớn không chỉ có một chủ sở hữu duy nhất, mà có nhiều cổ đông. Ngày nay, sự khác biệt lớn là: các chủ sở hữu tối cao (“các cổ đông”) trong một số trường hợp cũng là công dân làm việc trong các tổ chức công chúng; trong trường hợp khác thì họ có thể là công dân hoạt động thông qua các trung gian tài chính, chẳng hạn như các quỹ hưu trí và quỹ tương hỗ, qua đó họ thường không kiểm soát nhiều.[303] Theo cả hai tình huống này, vấn đề "đại diện” đều phát sinh từ việc chia tách quyền sở hữu và kiểm soát: những người ra quyết định không phải chịu phí tổn của những sai lầm cũng không thu về những phần thưởng nếu thành công.
Có những minh họa về các công ty trong khu vực công và tư đã hoạt động hiệu quả và không hiệu quả. Các nhà máy lớn sản xuất thép thuộc sở hữu của chính phủ tại Hàn Quốc và Đài Loan đã đạt hiệu quả cao hơn các nhà máy thép tư nhân của Hoa Kỳ. Một trong những lĩnh vực mà Hoa Kỳ vẫn thành công nhất là giáo dục đại học, và như tôi đã trình bày, tất cả các trường đại học hạng nhất của đất nước đều thuộc sở hữu nhà nước hoặc không hoạt động vì mục đích lợi nhuận.[304]
Cuộc khủng hoảng hiện nay đã chứng kiến chính phủ Hoa Kỳ nhận lãnh một vai trò chưa từng có tiền lệ trong nền kinh tế. Đa số những người có truyền thống là các nhà phê bình lớn nhất đối với sự tích cực của chính phủ – đặc biệt là phê bình việc chính phủ đi vay số lượng lớn – vẫn im lặng. Nhưng đối với những người khác, việc giải cứu giới ngân hàng trên quy mô lớn của Bush là sự phản bội các nguyên tắc bảo thủ của đảng Cộng hòa. Theo tôi, đây dường như chỉ là sự mở rộng (mặc dù trên quy mô lớn) những gì đã xảy ra trong hơn một phần tư thế kỷ: sự thành lập một nhà nước vì phúc lợi của doanh nghiệp, bao gồm cả việc mở rộng và tăng cường cho mạng lưới an sinh cho doanh nghiệp, trong khi việc bảo vệ mang tính xã hội dành cho các cá nhân bình thường, ít nhất trong một số lĩnh vực, lại bị suy yếu đi.
Trong khi hàng rào thuế quan (các loại thuế đánh vào hàng hóa nhập khẩu) đã được hạ thấp trong những thập kỷ gần đây, thì một loạt các rào cản phi thuế quan lại được dựng lên nhằm bảo vệ các doanh nghiệp Hoa Kỳ. Sau khi Hoa Kỳ hứa sẽ cắt giảm trợ cấp dành cho ngành nông nghiệp, Tổng thống Bush lại tăng gấp đôi các khoản trợ cấp đó trong năm 2002: vậy là lĩnh vực nông nghiệp đã được trợ cấp hàng tỷ đô la mỗi năm. Trong năm 2006, có 27.000 người nông dân trồng bông may mắn đã chia sẻ với nhau số tiền 2,4 tỷ đô la, trong một chương trình vi phạm luật thương mại quốc tế và làm tổn hại đến hàng triệu người nông dân nghèo khổ ở châu Phi, Nam Mỹ và Ấn Độ.[305]
Những ngành nghề khác cũng được hưởng trợ cấp, một số ngành có mức độ hạn chế, một số khác nhận trợ cấp ồ ạt, một số lĩnh vực hưởng trợ cấp công khai, một số khác kín đáo hơn thông qua hệ thống thuế. Trong khi chúng ta, những người ở nước Mỹ, vẫn tranh luận rằng các nước đang phát triển không được phép trợ cấp cho các ngành còn non trẻ của họ, thì chúng ta lại biện minh cho khoản trợ cấp lớn của mình dành cho ngành ethanol sản xuất từ bắp, được tiến hành từ năm 1978, bằng chính lập luận “ngành non trẻ” này – chỉ là hỗ trợ tạm thời cho đến khi ngành này có thể tự nó cạnh tranh được. Tuy nhiên, không hiểu sao ngành này của Hoa Kỳ cứ non trẻ mãi mà không chịu lớn lên thêm.
Người ta có thể nghĩ rằng ngành dầu khí, với lợi nhuận dường như vô hạn, sẽ không quay sang cầu cứu chính phủ để được hỗ trợ; nhưng lòng tham là không giới hạn, và tiền bạc mua được ảnh hưởng chính trị: ngành này đã nhận được trợ cấp lớn thông qua các khoản thuế. John McCain, ứng cử viên tổng thống của đảng Cộng hòa trong kỳ bầu cử năm 2008, đã nhận định: dự luật năng lượng đầu tiên của ông Bush đã không bỏ sót bất cứ ai có tham gia vận động hành lang.[306] Ngành khai thác mỏ cũng nhận được hàng tỷ đô la trợ cấp kín đáo; người ta được khai thác gần như miễn phí các khoáng sản từ đất đai thuộc sở hữu của chính phủ. Trong năm 2008 và năm 2009, các ngành xe hơi và tài chính của nước Mỹ cũng đã gia nhập danh sách dài của những ngành được hưởng trợ cấp.
Đa số các ngành công nghiệp thành công nhất của nước Mỹ cũng cảm thấy sự hiện diện của chính phủ trong đó. Internet, một lĩnh vực tạo nên sự thịnh vượng lớn trong thời gian gần đây, cũng được xây dựng thông qua sự trợ cấp của chính phủ – thậm chí phiên bản thử nghiệm trình duyệt Mosaic cũng do chính phủ tài trợ. Nó được đưa vào thị trường bởi Netscape, nhưng Microsoft đã sử dụng sức mạnh độc quyền của mình để đàn áp Netscape với những hoạt động mà các tòa án trên toàn thế giới đều nhận định là sự lạm dụng sức mạnh độc quyền một cách trắng trợn.
Số tiền trợ cấp trong những năm qua dành cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ đã lên đến hàng trăm tỷ đô la,[307] nhưng con số này vẫn mờ nhạt khi so sánh với những khoản trợ cấp gần đây được trao cho lĩnh vực tài chính. Trong các chương trước, tôi đã thảo luận về việc giải cứu quy mô lớn và lặp đi lặp lại dành cho các ngân hàng, trong đó cuộc giải cứu hiện nay là lớn nhất. Như tôi đã dự đoán khi việc giải cứu được bắt đầu, điều này hóa ra là việc tái phân phối của cải trên quy mô thuộc loại lớn nhất trong lịch sử, với một khoảng thời gian ngắn. (Quá trình tư nhân hóa các tài sản nhà nước của Nga gần như chắc chắn còn lớn hơn.)
Adam Smith có thể đã không chính xác khi ông nói rằng: các thị trường dẫn dắt đến sự thịnh vượng của xã hội, như thể có một bàn tay vô hình. Nhưng không có người nào theo trường phái ủng hộ Adam Smith sẽ tranh luận rằng cái chế độ tư bản “nhái kiểu” mà Hoa Kỳ đã phát triển là có hiệu quả hoặc công bằng, hoặc có thể dẫn đến sự thịnh vượng cho xã hội.
VẬY CHÍNH PHỦ NÊN LÀM GÌ?
Trong 35 năm qua, các nhà kinh tế học đã nâng cao sự hiểu biết về việc khi nào thì thị trường hoạt động tốt và khi nào không. Phần lớn sự hiểu biết đó đều xoay quanh các động cơ: khi nào thì thị trường mang đến các động cơ đúng đắn? Khi nào thì lợi ích của tư nhân là hài hòa với lợi ích xã hội? Và làm thế nào chính phủ có thể gắn kết hai loại lợi ích này? Sáu chương đầu của cuốn sách này đã kể lại câu chuyện của những mâu thuẫn giữa các loại lợi ích trên, tại các thị trường tài chính.
Các nhà kinh tế học đã phát triển một danh sách ngắn của các tình huống trong đó thị trường gặp thất bại – khi các động cơ của xã hội và tư nhân sẽ quay không cùng chiều – điều này lý giải một phần lớn của những thất bại quan trọng. Danh sách bao gồm cả sự độc quyền, các yếu tố phụ bên ngoài, và thông tin không hoàn hảo. Đó là điều trớ trêu của cuộc tranh luận chính trị hiện nay, khi “cánh tả” đã phải nhận lãnh một vai trò tích cực trong một nỗ lực nhằm làm cho các thị trường hoạt động theo những cách mà chúng nên có, ví dụ, với sự thông qua và thực thi luật chống độc quyền để đảm bảo cạnh tranh; thông qua và thực thi pháp luật về cung cấp thông tin để đảm bảo rằng mỗi bên tham gia thị trường ít nhất cũng có thông tin tốt hơn; thông qua và thực thi pháp luật về ô nhiễm và các quy định trong lĩnh vực tài chính (được thảo luận trong chương 6), để hạn chế hậu quả của các yếu tố phụ bên ngoài.
Cánh hữu tuyên bố rằng tất cả những gì cần làm là đảm bảo quyền sở hữu và bắt buộc thực hiện các hợp đồng. Cả hai đều là cần thiết nhưng chưa đủ – mà có thể gây ra một số vấn đề khác, ví dụ như một định nghĩa phù hợp về phạm vi quyền sở hữu. Quyền sở hữu không mang lại các quyền không giới hạn và cho phép muốn làm gì tùy ý. Sở hữu một mảnh đất không mang đến cho tôi cái quyền được phép làm ô nhiễm mạch nước ngầm dưới đất, hoặc thậm chí quyền được đốt lá và gây ô nhiễm không khí.
DUY TRÌ TÌNH TRẠNG CÓ ĐẦY ĐỦ VIỆC LÀM VÀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA NỀN KINH TẾ
Như vậy, làm cho các thị trường hoạt động hiệu quả là một trong những trách nhiệm của nhà nước, và các biểu hiện rõ ràng nhất khi các thị trường không vận hành theo cách thức được cho là đúng đắn là: những giai đoạn thất nghiệp định kỳ và việc không sử dụng hết năng lực sản xuất, sự suy thoái và suy giảm, đánh dấu các chặng đường của chủ nghĩa tư bản. Đạo luật về Việc làm năm 1946 đã thừa nhận rằng duy trì nền kinh tế ở tình trạng có đầy đủ việc làm là một mục tiêu quốc gia, và chính phủ phải có trách nhiệm về vấn đề này.
Làm thế nào để thực hiện tốt nhất nhiệm vụ trên vẫn là một vấn đề gây tranh cãi. Phe bảo thủ đã cố gắng hết sức mình để giảm thiểu vai trò của chính phủ. Phải khó chịu khi thừa nhận rằng bản thân các thị trường tự nó là không thể đảm bảo có đầy đủ công ăn việc làm, họ đã cố gắng giảm thiểu phạm vi can thiệp của chính phủ. Chủ nghĩa tiền tệ của Milton Friedman đã cố gắng hạn chế các ngân hàng trung ương xuống còn vai trò thực thi cơ chế – tăng lượng cung tiền với một tỷ lệ cố định. Khi điều đó không thành công, phe bảo thủ tìm kiếm một quy tắc đơn giản hơn – lạm phát có mục tiêu.
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng hiện nay đã cho thấy sự thất bại của thị trường là phức tạp, có thể lây lan và không phải là dễ dàng chỉnh sửa được, và trên thực tế thì tuân theo các quy tắc cơ chế còn có thể làm cho vấn đề tồi tệ hơn. Trong số các yếu tố góp phần vào cuộc khủng hoảng này còn có sự đánh giá thấp các rủi ro. Chính phủ có lẽ là không thể bắt buộc được các thị trường phải đánh giá được rủi ro một cách chính xác, nhưng, như tôi đã trình bày trong chương 6, nó có thể thiết kế ra các quy định nhằm hạn chế thiệt hại do thị trường đánh giá sai lầm.[308]
THÚC ĐẨY SỰ CẢI TIẾN
Có một số loại hàng hóa mà bản thân thị trường không thể tự nó cung cấp đủ. Chúng bao gồm công ích, và tất cả các thành viên trong xã hội đều hưởng lợi từ chúng – trong đó có một số cải tiến quan trọng. Tổng thống thứ ba của Hoa Kỳ, Thomas Jefferson, đã chỉ ra rằng: Kiến thức giống như một ngọn nến. Khi một ngọn nến thắp sáng cho một ngọn nến khác, ánh sáng của riêng nó không giảm bớt. Theo đó việc hạn chế sử dụng các kiến thức là không hiệu quả.[309] Các phí tổn của sự hạn chế này là đặc biệt lớn trong các ngành khoa học cơ bản. Nhưng nếu kiến thức được tự do phổ biến, chính phủ phải có trách nhiệm tài trợ cho việc tạo ra kiến thức. Đó là lý do tại sao chính phủ có một vai trò quan trọng trong việc phát triển kiến thức và sự đổi mới.
Một số thành công lớn nhất của Hoa Kỳ đã bắt nguồn từ việc nghiên cứu do chính phủ hỗ trợ, thường là do chính phủ liên bang hay các trường đại học không hoạt động vì lợi nhuận – từ Internet đến công nghệ sinh học hiện đại. Trong thế kỷ XIX, chính phủ đã có vai trò lớn đối với những tiến bộ đáng kể trong ngành nông nghiệp – cũng như trong viễn thông, lắp đặt đường dây điện báo đầu tiên giữa Baltimore và Washington. Chính phủ còn đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới xã hội – với các chương trình mở rộng sự sở hữu nhà, mà không có những động thái bóc lột làm tổn hại những nỗ lực cá nhân như giai đoạn gần đây.
Còn có thể khuyến khích sự cải tiến của khu vực tư nhân bằng cách hạn chế sử dụng các kiến thức thông qua hệ thống các bằng phát minh sáng chế, mặc dù theo cách này thì lợi ích tư nhân được nâng cao, còn lợi ích xã hội bị giảm bớt. Một hệ thống bằng sáng chế được thiết kế tốt sẽ cố gắng để có được sự cân bằng thích hợp, cung cấp các động cơ cho sự đổi mới mà không giới hạn một cách vô lý việc sử dụng kiến thức. Như tôi trình bày ở phần dưới trong chương này, hiện vẫn còn nhiều chỗ trống để cải thiện hệ thống quản lý quyền sở hữu trí tuệ.
Tuy nhiên, trong trường hợp của các thị trường tài chính, vấn đề lại là sự thiếu vắng những cách thức hiệu quả để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ. Bất cứ ai có một sản phẩm mới và thành công đều có thể bị người khác nhanh chóng sao chép lại. Do đó, đây là tình huống “người dẫn đầu thì thua, còn kẻ theo sau lại thắng”: nếu một sản phẩm mới bị thất bại, người ta sẽ không bắt chước nhưng doanh nghiệp cũng đã thua lỗ tiền, còn nếu nó thành công, sản phẩm sẽ bị sao chép và lợi nhuận sẽ nhanh chóng bị xói mòn.
Kết quả là sự tìm kiếm, không phải các sáng kiến nhằm cải thiện lợi ích của khách hàng hoặc hiệu quả của nền kinh tế, mà là những cải tiến sao cho việc sao chép là không dễ dàng; hoặc ngay cả khi bị sao chép thì nó vẫn tạo ra lợi nhuận. Do đó, các khoản vay dối trá và lệ phí cắt cổ của thẻ tín dụng là những “cải tiến” tuy đã nhanh chóng bị bắt chước, nhưng dù sao vẫn thu về được khoản lợi nhuận khổng lồ. Mặt khác, các công cụ phái sinh và các sản phẩm tài chính phức tạp khác là không thể dễ dàng bắt chước – càng phức tạp thì càng khó sao chép. Chỉ có một vài định chế phát hành ra phần lớn các công cụ phái sinh phức tạp, giao dịch trực tiếp qua quầy. Cạnh tranh ít hơn có nghĩa là lợi nhuận cao hơn. Nói cách khác, các nguồn lực thị trường đã đóng một phần quan trọng trong việc thúc đẩy sự phức tạp đó, làm xói mòn rất nhiều đối với việc thực hiện các chức năng của thị trường.
CUNG CẤP SỰ BẢO VỆ VÀ BẢO HIỂM MANG TÍNH XÃ HỘI
Chính phủ đã đóng một vai trò quan trọng trong việc gìn giữ xã hội – cung cấp dịch vụ bảo hiểm chống lại nhiều rủi ro chính yếu mà các cá nhân phải đối mặt, chẳng hạn như vấn đề thất nghiệp và người khuyết tật. Trong một số trường hợp, chẳng hạn như trợ cấp hàng năm, khu vực tư nhân cuối cùng cũng tuân theo sự dẫn dắt của chính phủ, nhưng khi làm điều đó họ đã sử dụng những nguồn lực lớn trong nỗ lực tìm ra những người ít rủi ro – các phí tổn không thể coi là có năng suất xã hội. Xã hội có thể cảm thấy rằng một người kém may mắn khi mắc bệnh tim bẩm sinh cần được giúp đỡ, bất cứ ai kể cả tôi cũng có thể lâm vào cảnh này; bao gồm việc thanh toán tiền cho ca phẫu thuật tim. Nhưng một công ty bảo hiểm tư nhân muốn chắc chắn rằng nó không mắc kẹt với việc thanh toán và sẽ làm mọi thứ để có thể biết được ai là người có thể gặp rủi ro.[310] Đó là một trong những lý do tại sao chính phủ cần tiếp tục đóng vai trò quan trọng trên thị trường bảo hiểm này.
NGĂN NGỪA SỰ BÓC LỘT
Các thị trường làm việc hiệu quả cũng vẫn có thể tạo ra các sản phẩm không thể chấp nhận được xét từ góc độ xã hội. Một số cá nhân có thể có thu nhập rất thấp đến mức họ không thể tồn tại được. Trong các thị trường cạnh tranh, mức tiền lương được xác định bởi sự giao thoa giữa cung và cầu, nhưng không thể nói rằng tiền lương “theo quy luật cung cầu” là mức lương có thể sống được. Chính phủ các nước vẫn thường phải cố gắng để “điều chỉnh lại” sự phân phối thu nhập của thị trường.
Hơn nữa, không có gì để đảm bảo rằng các thị trường là mang tính nhân đạo, xét theo bất kỳ ý nghĩa nào của từ này. Những bên tham gia thị trường không ngần ngại tận dụng sức mạnh mà họ hiện có – hoặc điểm yếu của bên khác – theo bất kỳ cách thức nào mà họ có thể có. Trong cơn bão, một người có xe hơi có thể giúp những người khác thoát khỏi thiên tai, nhưng họ có thể tính phí dịch vụ “theo giá thị trường”. Những người lao động đã tuyệt vọng tìm việc làm sẽ chấp nhận các công việc tại những công ty điều kiện an toàn và chăm sóc sức khỏe dưới chuẩn. Chính phủ không thể ngăn chặn mọi hình thức bóc lột, nhưng nó có thể làm giảm bớt quy mô: đó là lý do tại sao hầu hết các chính phủ của các quốc gia công nghiệp phát triển trên thế giới đã thông qua và thực thi pháp luật về cho vay nặng lãi (các đạo luật hạn chế mức lãi suất) và các luật quy định mức lương tối thiểu và số giờ làm việc tối đa, thiết lập các điều kiện cơ bản về chăm sóc sức khỏe và an toàn lao động, đồng thời cố gắng hạn chế việc cho vay cắt cổ.
Các công ty tư nhân, khi họ có thể, đều cố gắng hạn chế sự cạnh tranh và cũng rất giỏi trong việc khai thác các mô hình mang tính hệ thống về sự thiếu hiểu biết và “điểm yếu” của người tiêu dùng. Các công ty thuốc lá vẫn bán các sản phẩm mà họ biết là chúng gây nghiện, gây bệnh ung thư và một loạt các căn bệnh khác, đồng thời họ phủ nhận bất kỳ bằng chứng khoa học nào chứng minh các trường hợp trên. Họ biết rằng người hút thuốc sẽ nhận được các thông điệp chưa rõ ràng từ góc độ khoa học.
Những nhà thiết kế nên các khoản vay thế chấp và các công ty kinh doanh thẻ tín dụng đã khai thác tình hình thực tế là: nhiều cá nhân sẽ thanh toán trễ, ít nhất là một lần. Họ có thể thu hút khách hàng với mức phí ban đầu rất thấp, sau đó tỷ lệ phí tăng lên rất cao khi thanh toán trễ hạn sẽ có thể bù đắp được nhiều hơn so với khoản phí thấp lúc ban đầu. Các ngân hàng khuyến khích khách hàng tham gia vào các loại hình thấu chi, với mức phí cao, vì biết rằng khách hàng sẽ ít khi kiểm tra xem số dư trong tài khoản có bị giảm xuống hay không.[311]
VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ TRONG VIỆC THAY ĐỔI
Vai trò thích hợp của các chính phủ là khác nhau tùy theo từng quốc gia và từng thời đại. Chủ nghĩa tư bản của thế kỷ XXI khác với chủ nghĩa tư bản của thế kỷ XIX. Bài học rút ra từ lĩnh vực tài chính là đúng đối với các lĩnh vực khác: trong khi Chính sách Kinh tế mới (New Deal) có thể không còn hiệu quả trong bối cảnh hiện nay, những gì cần làm không phải là hoàn toàn bãi bỏ các quy định mà là quy định nhiều hơn ở một số lĩnh vực, và ít hơn đối với các lĩnh vực khác. Toàn cầu hóa và các công nghệ mới đã mở ra khả năng độc quyền kiểu mới trên phạm vi toàn cầu, với sự giàu có và quyền lực to lớn hơn bất cứ giấc mơ nào của các ông trùm hồi thế kỷ XIX.[312] Như tôi đã nêu trong chương 1, vấn đề đại diện được tạo ra bởi sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyển kiểm soát và do tình hình thực tế là sự thịnh vượng của một số cá nhân giàu nhất thường lại được quản lý bởi những người khác, được cho là người đại diện, đã nâng cao mức độ cần thiết phải có quy định tốt hơn về quản trị doanh nghiệp.
Những thay đổi khác trong nền kinh tế Mỹ cũng đòi hỏi một vai trò lớn hơn của chính phủ. Việc có nhiều nền kinh tế công nghiệp tiên tiến đã trở thành nền kinh tế cải tiến có những hàm ý sâu sắc về bản chất của thị trường. Ví dụ, hãy xem xét vấn đề cạnh tranh, yếu tố quan trọng sống còn đối với tính năng động của mọi nền kinh tế. Chẳng hạn, có thể dễ dàng xác định được chắc chắn liệu có hay không sự cạnh tranh trong thị trường thép, và nếu không có cạnh tranh thì sẽ có nhiều phương cách hay để giải quyết vấn đề.
Nhưng việc tạo ra các ý tưởng không giống như việc sản xuất ra thép. Ngay cả khi lợi ích giữa cá nhân và xã hội trong việc sản xuất các hàng hóa thông thường là hài hòa với nhau, thì lợi ích giữa chúng đối với sự đổi mới lại có thể khác biệt rõ rệt. Thậm chí còn có những cải tiến mang lại hậu quả tiêu cực cho xã hội – như thuốc lá được cải tiến nhằm gây nghiện nhiều hơn.
Khu vực tư nhân lo ngại về việc có thể giành được bao nhiêu giá trị từ ý tưởng cải tiến, chứ không quan tâm đến lợi ích tổng thể cho xã hội. Kết quả là thị trường có thể chi tiêu quá nhiều tiền vào một số lĩnh vực nghiên cứu – phát triển một loại dược phẩm tương tự như một thứ thuốc đã rất thành công và được cấp bằng sáng chế – trong khi chi quá ít cho những lĩnh vực khác. Nếu không có sự hỗ trợ của chính phủ, sẽ có ít nghiên cứu cơ bản về nhóm người nghèo trong xã hội và rất ít nghiên cứu về các căn bệnh của họ.
Trong hệ thống bằng phát minh sáng chế, lợi ích của tư nhân có liên quan đến việc là người đầu tiên; lợi ích xã hội liên quan đến sự đổi mới được sẵn sàng thực thi sớm hơn so với thời điểm lẽ ra sẽ có. Một minh họa ấn tượng cho sự khác biệt đã có được từ việc nghiên cứu các gen có liên quan đến bệnh ung thư vú. Người ta đã có nỗ lực toàn cầu một cách có hệ thống nhằm giải mã tất cả các gen của con người, nhưng vẫn có một cuộc chạy đua để đánh bại nỗ lực này trong trường hợp có những gen có giá trị thị trường. Myriad, một công ty Hoa Kỳ, đã nhận được bằng sáng chế vì các gen ung thư vú; lẽ ra các thông tin được cung cấp sớm hơn một chút – nhưng vì công ty khăng khăng đòi các chi phí cao để kiểm tra phát hiện các gen này, nên ở những vùng lãnh thổ có công nhận bằng sáng chế, hàng ngàn phụ nữ vẫn có thể chết oan uổng.[313]
Nói tóm lại, trong một nền kinh tế cải tiến của thế kỷ XXI, chính phủ cần phải có một vai trò mang tính trọng tâm hơn – trong việc tiến hành các nghiên cứu cơ bản; định hướng công tác nghiên cứu, ví dụ, thông qua tài trợ và các giải thưởng để khuyến khích việc nghiên cứu các nhu cầu của quốc gia; đạt được sự cân bằng tốt hơn trong chế độ quyền sở hữu trí tuệ sao cho xã hội có thêm lợi ích từ những động cơ mà chính phủ tạo ra, không có các chi phí liên quan và sự độc quyền.[314]
Vào cuối thế kỷ trước, người ta đã hy vọng (thật ra là sai lầm) rằng nhu cầu cần có các hành động của chính phủ sẽ giảm dần: một số người nghĩ rằng trong nền kinh tế mới được cải tiến, chu kỳ kinh doanh chỉ còn là một hiện tượng của quá khứ. Khi có rất nhiều ý tưởng, người ta đã bắt đầu tin vào khái niệm của một nền kinh tế mới không có suy thoái. Công nghệ thông tin kiểu mới có nghĩa là các công ty có thể kiểm soát được lượng hàng tồn kho tốt hơn. Rất nhiều chu kỳ trong quá khứ là có liên quan đến sự biến động lượng tồn kho. Bên cạnh đó, cấu trúc của nền kinh tế đã thay đổi, từ sản xuất – trong đó lượng tồn kho là rất quan trọng – chuyển sang dịch vụ, lĩnh vực mà tồn kho không còn quan trọng nữa. Như tôi đã trình bày ở phần trước, sản xuất hiện nay chỉ đóng góp 11,5% GDP của Hoa Kỳ.[315] Tuy nhiên, đợt suy thoái kinh tế trong năm 2001 đã cho thấy quốc gia vẫn chi tiêu vượt quá khả năng trong lĩnh vực cáp quang và các hoạt động đầu tư khác, và còn có thể chi tiêu vượt mức trong lĩnh vực nhà ở. Các bong bóng và hậu quả của chúng đang xuất hiện trong thế kỷ XXI, giống như đã từng có trong thế kỷ XVIII, XIX và XX.
Thị trường là không hoàn hảo, và chính phủ cũng vậy. Đối với một số người, các kết luận hiển nhiên là mất niềm tin vào chính phủ. Thị trường sụp đổ, nhưng sự thất bại của chính phủ (theo một số người tranh luận) là tồi tệ hơn. Thị trường có thể tạo ra sự bất bình đẳng, nhưng bất bình đẳng do chính phủ tạo ra còn tệ hại hơn. Thị trường có thể không hiệu quả, nhưng chính phủ thậm chí còn kém hiệu quả hơn. Lập luận này chỉ có vẻ hợp lý bề ngoài và gây ra những lựa chọn sai. Ở đây không có cách nào khác mà phải có một số hình thức của các hành động mang tính tập thể. Lần gần đây nhất mà một quốc gia đã cố gắng thả nổi ngành ngân hàng (để cho tự do hoạt động) là Chile, dưới sự cầm quyền của nhà độc tài Pinochet, và đó đã là một thảm họa. Giống như Mỹ, bong bóng tín dụng của Chile đã vỡ tung. Khoảng 30% của tất cả các khoản vay đã trở thành nợ xấu, và đất nước sẽ mất một phần tư thế kỷ để trả hết các khoản nợ sau vụ thử nghiệm không thành công này.
Hoa Kỳ sẽ có các quy định, khi chính phủ chi tiền cho công tác nghiên cứu, công nghệ, cơ sở hạ tầng và một số hình thức an sinh xã hội. Chính phủ sẽ thực thi chính sách tiền tệ cũng như đảm trách quốc phòng, an ninh, phòng cháy chữa cháy và các dịch vụ công thiết yếu khác. Khi thị trường thất bại, chính phủ sẽ phải đến để thu dọn các mảnh vỡ. Biết được điều này, chính phủ phải làm những gì cần thiết để ngăn ngừa tai họa.
Những câu hỏi tiếp theo là, chính phủ nên làm gì? Nên làm đến mức độ nào? Và nên làm như thế nào?
Mỗi cuộc chơi đều có nguyên tắc và trọng tài riêng, cuộc chơi kinh tế cũng không ngoại lệ. Một trong những vai trò then chốt của chính phủ là xây dựng nên các nguyên tắc và cung cấp các vị trọng tài. Các nguyên tắc ở đây là các đạo luật điều chỉnh nền kinh tế thị trường. Các trọng tài bao gồm các cơ quan điều tiết và các thẩm phán, giúp thực thi và giải thích pháp luật. Các quy tắc cũ, bất chấp chúng có hiệu quả trong quá khứ hay không, đều sẽ không phải là quy tắc phù hợp với thế kỷ XXI.
Xã hội phải tin rằng các quy tắc được thiết lập là công bằng và các trọng tài là công tâm. Tại Mỹ, có quá nhiều các quy định đã được xây dựng nên để phục vụ cho những người trong lĩnh vực tài chính, và các trọng tài là thiên vị. Do đó không có gì ngạc nhiên khi những hậu quả thu được cũng không công bằng. Đã có những phản ứng nhằm mở ra ít nhất là sự bình đẳng về cơ hội thành công trong khi giúp cho những người nộp thuế ít chịu rủi ro hơn: giá như chính phủ đã chơi đúng luật, thay vì chuyển đổi lộ trình theo một chiến lược có liên quan đến những quà tặng chưa từng có tiền lệ dành cho ngành tài chính.
Sau cùng, việc kiểm tra sự lạm dụng phải được thông qua các tiến trình dân chủ. Nhưng cơ hội để tiến trình dân chủ thắng thế sẽ phụ thuộc vào sự cải cách trong việc đóng góp cho chiến dịch vận động tranh cử và các quy trình bầu cử.[316] Một số sáo ngữ vẫn còn đúng: ai trả chi phí thì người đó có quyền quyết định. Ngành tài chính đã chi trả cho cả hai đảng và đã được quyền có những quyết định lớn. Liệu chúng ta – những công dân bình thường – có thể mong đợi sự xuất hiện các đạo luật được thông qua để cho phép phá tan những ngân hàng “quá lớn đến mức không thể sụp đổ”, “quá lớn đến mức không thể xử lý được”, hoặc “quá lớn đến mức không thể quản lý nổi” nếu chính các ngân hàng đó vẫn tiếp tục là những tổ chức có đóng góp “quá lớn đến mức không thể bỏ qua” cho các chiến dịch vận động tranh cử? Thậm chí liệu chúng ta có thể mong đợi sự hạn chế đối với các ngân hàng trong việc thực hiện các hành vi quá rủi ro?[317]
Xử lý cuộc khủng hoảng này – và ngăn ngừa các cuộc khủng hoảng trong tương lai – đúng là công việc có tính chất chính trị không thua kém gì tính kinh tế. Nếu đất nước của chúng ta không thực hiện những cải cách này, chúng ta có nguy cơ bị tê liệt về chính trị, do các nhu cầu không nhất quán giữa các lợi ích đặc biệt và lợi ích của cả nước. Mà nếu chúng ta có tránh được sự tê liệt này thì lại phải gánh chịu các phí tổn trong tương lai: đi vay từ tương lai để giải cứu cho tài chính hiện tại, và/hoặc tạo ra những cải cách tối thiểu trong ngày hôm nay, để chuyển những vấn đề lớn hơn sang ngày mai.
Những thách thức hiện nay là tạo ra một Chủ nghĩa Tư bản Mới. Chúng ta đã thấy sự thất bại của chủ nghĩa tư bản kiểu cũ. Nhưng để tạo ra Chủ nghĩa Mới này đòi hỏi phải có sự tin tưởng – bao gồm cả niềm tin giữa Phố Wall và phần còn lại của xã hội. Các thị trường tài chính đã khiến chúng ta thất vọng, nhưng chúng ta không thể vận hành mà không có chúng. Chính phủ cũng làm chúng ta thất vọng, nhưng chúng ta không thể hành động mà không có một chính phủ. Chương trình nghị sự của Reagan – Bush về việc bãi bỏ các quy định đã dựa trên sự hoài nghi về chính phủ; chương trình Bush – Obama cố gắng cứu chúng ta khỏi sự thất bại từ việc bãi bỏ quy định lại dựa trên sự sợ hãi. Những bất cập đã lộ rõ qua tình trạng tiền lương giảm sút, thất nghiệp tăng, nhưng tiền thưởng trong giới ngân hàng lại cao vút, hoặc phúc lợi của doanh nghiệp được củng cố và các mạng lưới an toàn cho chúng được mở rộng trong khi phúc lợi và an sinh xã hội dành cho công dân bình thường lại bị cắt giảm, tạo ra tâm lý cay đắng và giận dữ. Một môi trường đầy cay đắng và giận dữ, đầy sợ hãi và ngờ vực sẽ rất khó có thể là môi trường tốt nhất đề bắt đầu một nhiệm vụ tái thiết lâu dài và vất vả. Nhưng chúng ta đã không còn sự lựa chọn nào khác: nếu muốn khôi phục lại sự thịnh vượng bền vững, chúng ta cần có một tập hợp mới các khế ước xã hội dựa trên lòng tin giữa tất cả các bộ phận cấu thành, giữa công dân và chính phủ, giữa thế hệ hiện nay và thế hệ tương lai.

