Rơi Tự Do - Chương 8
CHƯƠNG 8:
TỪ KHÔI PHỤC ĐẾN THỊNH VƯỢNG TOÀN CẦU
Khi cuộc khủng hoảng kinh tế nhanh chóng lây lan từ Mỹ đến các phần còn lại của thế giới, rõ ràng là cần phải có một phản ứng được phối hợp toàn cầu và phương án khôi phục, nhưng mỗi quốc gia chủ yếu chỉ quan tâm đến sự thịnh vượng của riêng mình. Các tổ chức quốc tế chịu trách nhiệm duy trì sự ổn định của hệ thống kinh tế toàn cầu đã thất bại trong việc ngăn chặn cuộc khủng hoảng này. Bây giờ họ lại thất bại một lần nữa: họ không có khả năng thiết kế nên sự phản ứng phối hợp cần có. Kinh tế toàn cầu hóa đã làm cho thế giới phụ thuộc lẫn nhau nhiều hơn, gia tăng mức độ cần thiết phải cùng nhau hành động và hợp tác làm việc. Nhưng hiện chưa có các phương tiện hiệu quả để làm điều đó.
Những bất cập trong toàn cầu hóa đã được thể hiện trong quy mô của các gói kích thích kinh tế, trong việc thực thi chính sách tiền tệ, trong thiết kế của các cuộc giải cứu và bảo lãnh, trong sự phát triển của chủ nghĩa bảo hộ, và trong việc hỗ trợ các nước đang phát triển. Các vấn đề mới vẫn sẽ tiếp tục lộ diện trong những khó khăn mà thế giới phải đối mặt khi thiết lập một chế độ điều tiết toàn cầu.
Cuộc khủng hoảng hiện nay mang đến những rủi ro và cả các cơ hội. Một trong số các rủi ro là: nếu không có hành động nào được thực hiện nhằm quản lý hệ thống tài chính và kinh tế toàn cầu tốt hơn, thì sẽ có nhiều cuộc khủng hoảng khác trong tương lai, và có thể chúng sẽ tồi tệ hơn. Và khi các quốc gia tìm cách tự bảo vệ mình trước tiến trình toàn cầu hóa không được kiểm soát, họ sẽ có hành động nhằm giảm bớt sự cởi mở. Hậu quả phân mảnh trong thị trường tài chính toàn cầu có thể làm giảm những lợi thế đã có được từ quá trình hội nhập toàn cầu. Đối với nhiều quốc gia, cách thức quản lý tiến trình toàn cầu hóa – đặc biệt là toàn cầu hóa thị trường tài chính – đã đem đến những rủi ro rất lớn, trong khi lợi ích còn hạn chế.
Rủi ro có liên quan thứ hai là trận chiến đang diễn ra giữa các ý tưởng trong giới kinh tế học về hiệu quả của các thị trường (được thảo luận chi tiết hơn trong chương kế tiếp). Tại nhiều nơi trên thế giới, trận chiến này không chỉ đơn thuần mang tính học thuật, mà là một câu hỏi sống còn: cuộc tranh luận quyết liệt về việc đâu là loại hệ thống kinh tế tốt nhất cho các quốc gia. Chắc chắn rằng, chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ đã được chứng minh là có thể gặp phải những vấn đề lớn, nhưng dù sao thì nước Mỹ vẫn có đủ khả năng với hàng trăm tỷ đô la để khắc phục tình hình trong khi các nước nghèo thì không thể. Những gì đã xảy ra sẽ hình thành nên các cuộc tranh luận kéo dài trong nhiều năm tới.
Hoa Kỳ vẫn sẽ là nền kinh tế lớn nhất, nhưng quan điểm của thế giới về Hoa Kỳ đã thay đổi, và ảnh hưởng của Trung Quốc sẽ tăng thêm. Thậm chí từ trước khi xảy ra cuộc khủng hoảng, đồng đô la đã không còn được coi là một phương cách tốt để có giá trị dự trữ, giá trị của nó hay biến động và suy giảm. Hiện nay, khi các khoản nợ và mức thâm hụt của nước Mỹ phình to và FED liên tục in tiền, niềm tin càng bị xói mòn hơn nữa. Điều này sẽ có ảnh hưởng lâu dài đối với nước Mỹ và vị thế của nó, nhưng nó cũng đã tạo ra yêu cầu về một trật tự tài chính toàn cầu mới. Nếu có thể có được một hệ thống dự trữ toàn cầu kiểu mới, và trên phạm vi lớn hơn là các khuôn khổ mới để quản lý hệ thống kinh tế toàn cầu, thì đó sẽ là một trong những tia sáng ấm áp thay cho những đám mây ảm đạm.
Từ giai đoạn đầu của cuộc khủng hoảng, các nước công nghiệp phát triển đã thừa nhận rằng bản thân họ không thể giải quyết vấn đề. Tôi luôn luôn chú ý đến G–8, một nhóm các nước công nghiệp phát triển vẫn gặp nhau hàng năm để giải quyết các vấn đề của thế giới. Cái được gọi là “những nhà lãnh đạo của thế giới” đã nghĩ rằng họ có thể giải quyết được những vấn đề quy mô lớn như hiện tượng nóng lên toàn cầu và mất cân bằng toàn cầu mà không cần phải mời các nhà lãnh đạo của các quốc gia khác tham gia thảo luận – các quốc gia khác này đại diện cho gần một nửa GDP toàn cầu và 80% dân số thế giới. Tại cuộc họp G–8 ở Đức trong năm 2007, các vị lãnh đạo của các quốc gia khác đã được mời – chỉ là mời dùng bữa trưa sau khi đã ban hành bản thông cáo tóm tắt quan điểm của các nước công nghiệp phát triển. Cứ như là quan điểm của các quốc gia khác chỉ là các ý tưởng muộn màng, là những nội dung cần được giải quyết một cách lịch sự nhưng không thực chất gắn kết vào bất kỳ quyết định quan trọng nào. Khi cuộc khủng hoảng kinh tế nổ ra, rõ ràng là cái “câu lạc bộ” xưa cũ này không thể tự giải quyết vấn đề. Cuộc họp của nhóm G–20 tại Washington – đã bao gồm cả các quốc gia mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil – trong tháng 11/2008 – cho thấy rõ là các tổ chức cũ đã chết.[318] Có thể là trong những năm tới vẫn chưa rõ hệ thống mới để quản lý kinh tế toàn cầu sẽ là gì. Nhưng, đặc biệt là được thúc đẩy bởi Thủ tướng Anh Gordon Brown, người chủ trì cuộc họp thứ hai của nhóm G–20 tại London vào tháng 4/2009; rõ ràng là các thị trường mới nổi sẽ giành được một chỗ ngồi trên bàn họp để thảo luận về tất cả các quyết định quan trọng liên quan đến kinh tế toàn cầu. Bản thân điều này là một thay đổi lớn.
MỘT HÀNH ĐỘNG PHẢN ỨNG SAI LẦM CỦA THẾ GIỚI
Các nước đang phát triển đã trở thành động lực của tăng trưởng toàn cầu, ít nhất là từ đầu thập niên 1990 – họ nắm hơn hai phần ba mức tăng trưởng GDP.[319] Nhưng chính các nước này đã bị ảnh hưởng mạnh bởi cuộc khủng hoảng. Với ngoại lệ đáng chú ý là Trung Quốc, hầu hết các quốc gia còn lại đều không có các nguồn lực để tham gia vào các cuộc giải cứu lớn, hoặc triển khai các gói kích thích lớn. Cộng đồng quốc tế đã nhận ra rằng cả thế giới này là “dính chùm” với nhau: Mỹ đã làm tổn hại các quốc gia khác, nhưng sự yếu ớt trong phần còn lại của thế giới cũng đe dọa khả năng hồi phục của nước Mỹ.
Ngay cả trong một thế giới toàn cầu hóa, việc hoạch định chính sách vẫn được thực hiện ở cấp quốc gia. Mỗi quốc gia đều đặt lên bàn cân những lợi ích và phí tổn từ các hành động của mình, một cách độc lập với các hiệu ứng từ phần còn lại của thế giới. Trong trường hợp kích thích chi tiêu, lợi ích thu được là tăng số lượng công ăn việc làm hoặc tăng GDP, trong khi phí tổn là sự gia tăng các khoản nợ và thâm hụt. Đối với các nền kinh tế nhỏ, phần lớn sự gia tăng chi tiêu do thu nhập tăng thêm (ví dụ, là kết quả của một số chương trình của chính phủ) xảy ra ở bên ngoài biên giới của họ, với các mặt hàng nhập khẩu, nhưng đối với các nước lớn thì sự lan tràn sang các nước khác là đáng kể.[320] Nói cách khác, “số nhân toàn cầu” – mức độ sản lượng của nền kinh tế toàn cầu tăng lên theo mỗi đồng đô la được chi tiêu – là lớn hơn nhiều so với “số nhân quốc gia”. Vì lợi ích toàn cầu vượt quá những lợi ích quốc gia, nếu các quốc gia không phối hợp nhau để phản ứng với cuộc khủng hoảng, thì kích thước của từng gói kích thích kinh tế tại mỗi nước, và cả gói kích thích toàn cầu, sẽ là rất nhỏ. Các nước nhỏ hơn, như Ireland, sẽ đặc biệt có ít động cơ để chi tiêu tiền cho một gói kích thích kinh tế. Thay vào đó, họ sẽ muốn “tranh thủ miễn phí” từ gói kích thích chi tiêu của các nước khác.[321]
Tệ hơn nữa, mỗi nước đều có động cơ để thiết kế nên gói kích thích của riêng mình sao cho thu được càng nhiều lợi ích cho bản thân càng tốt. Các quốc gia sẽ tìm kiếm các loại hình chi tiêu sao cho “sự rò rỉ” ra nước ngoài là nhỏ nhất, chi tiêu cho các dịch vụ hàng hóa sản xuất trong nước. Kết quả là không những gói kích thích kinh tế toàn cầu sẽ nhỏ hơn so với mong đợi, mà hiệu ứng sẽ thấp đi – giá trị đồng tiền được chi tiêu sẽ ít đi – và như vậy việc phục hồi sẽ yếu hơn nhiều so với việc có gói kích thích tốt hơn được phối hợp trên toàn cầu.
Hơn hết, nhiều quốc gia sẽ áp đặt các biện pháp theo chủ nghĩa bảo hộ để khuyến khích chi tiêu nội địa. Ví dụ, Hoa Kỳ đã triển khai một điều khoản là “Mua hàng của Mỹ” (Buy American) trong dự luật kích thích nền kinh tế, theo đó yêu cầu chi tiêu cho những hàng hóa sản xuất tại Hoa Kỳ, nhưng sau đó giải thích rõ – có vẻ hợp lý – rằng điều khoản này sẽ không áp dụng nếu đã có các hiệp ước quốc tế ngăn cản sự phân biệt đối xử này. Tuy nhiên, Hoa Kỳ đã có những thỏa thuận này ở cấp chính phủ, chủ yếu là với các nước phát triển. Điều đó có nghĩa là, thực tế thì số tiền của các gói kích thích kinh tế có thể được sử dụng để mua hàng hóa từ các nước giàu chứ không phải từ các nước nghèo, và các nước nghèo trở thành những nạn nhân vô tội của cuộc khủng hoảng “sản xuất tại Hoa Kỳ”.[322]
Một trong những lý do tại sao các chính sách “làm nghèo nhà hàng xóm” đã không hiệu quả đó là: chúng kêu gọi sự trả đũa! Và điều đó đã xảy ra, chẳng hạn như các thành phố của Canada đã đồng ý thông qua điều khoản “Đừng mua hàng Mỹ”. Những nơi khác cũng được khuyến khích để bắt chước theo, với kết quả là ngày hôm nay Hoa Kỳ không phải là quốc gia duy nhất đi theo chủ nghĩa bảo hộ kiểu này. Trong vài tháng sau khi các nhà lãnh đạo nhóm G–20 cam kết quốc gia của họ không theo chủ nghĩa bảo hộ, 17 nước trong số đó đã xúc tiến và triển khai công tác bảo hộ.[323] Trong thế giới ngày nay, các điều khoản quy định như vậy là phản tác dụng xét theo một lý do khác – khó có thể tìm thấy một sản phẩm đúng là được sản xuất tại Hoa Kỳ và thậm chí còn khó khăn hơn để chứng minh được điều đó. Theo đó, nhiều doanh nghiệp Mỹ không thể tham dự đấu thầu các dự án nếu họ không thể xác nhận rằng thép và các sản phẩm khác của họ đều được sản xuất tại Hoa Kỳ, và khi sự cạnh tranh ít hơn, thi chi phí tăng thêm.
Việc thiết kế nên các kế hoạch kích thích kinh tế không phải là việc duy nhất trong đó sự phản ứng toàn cầu là không tương xứng. Tôi đã trình bày trước đây rằng hầu hết các nước đang phát triển không có đủ nguồn lực để tự tài trợ các gói kích thích. Nhóm G–20, tại cuộc họp ở London vào tháng 2/2009, đã cung cấp kinh phí bổ sung cho Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) – cơ quan theo truyền thống chịu trách nhiệm giúp các quốc gia xử lý cuộc khủng hoảng. Nhóm G–20 tìm ra nhiều cách khác để tăng cường khả năng của IMF trong việc cung cấp các quỹ, chẳng hạn như bán vàng và phát hành mới Quyền rút vốn đặc biệt (SDR), một dạng tiền tệ toàn cầu đặc biệt mà tôi sẽ thảo luận sau, cũng trong chương này. Con số được quảng cáo, khoảng 1.000 tỷ đô la, thật ấn tượng.
Không may là có những vấn đề phát sinh với những sáng kiến này, vì đã có chủ ý từ trước. Đầu tiên, rất ít tiền đã được gửi cho IMF là có khả năng đến được với các nước nghèo nhất. Thật ra, một trong những động cơ mà các chính phủ Tây Âu cung cấp các khoản quỹ là: họ đã hy vọng rằng IMF sẽ giúp Đông Âu, nơi đang có những vấn đề lớn. Tây Âu không thể thống nhất được cách thức tốt nhất để giúp người hàng xóm của họ, vì thế họ chuyển trách nhiệm cho IMF. Thứ hai, nhiều nước nghèo vừa mới thoát khỏi các khoản nợ lớn, và có thể đoán được là họ không muốn nhận nợ thêm. Các nước giàu có lẽ ra nên cấp tiền tài trợ, số tiền không phải hoàn trả lại, hơn là các khoản vay ngắn hạn của IMF. Một vài quốc gia, như Đức, đã có hành động rõ ràng là theo hướng này, dành tặng một phần trong gói kích thích kinh tế của họ để giúp các nước nghèo. Nhưng đó là trường hợp ngoại lệ, không phải là quy luật.
Bản thân sự lựa chọn của IMF, với tư cách là một tổ chức, trong việc phân phối tiền đã là có vấn đề. Không những IMF đã làm rất ít để ngăn chặn cuộc khủng hoảng, mà nó còn thúc đẩy các chính sách để bãi bỏ các quy định, bao gồm tự do hóa thị trường vốn và thị trường tài chính, góp phần vào việc tạo ra khủng hoảng và nhanh chóng lan ra toàn cầu.[324] Hơn nữa, những điều này cùng với các chính sách khác mà IMF đã thúc đẩy – thực ra, đây là phong cách hoạt động của tổ chức này – đã là điều khó chịu đối với nhiều nước nghèo đang cần tiền và cả các nước châu Á và Trung Đông đang có nguồn quỹ lớn cần được triển khai để giúp các nước nghèo nhất. Một quan chức ngân hàng trung ương của một quốc gia đang phát triển đã chia sẻ với tôi một quan điểm khá phổ biến: đất nước sẽ phải nằm liệt trên giường bệnh rồi mới được quay sang cầu cứu IMF.
Đã trực tiếp quan sát cách vận hành của IMF, nên tôi hiểu tại sao một số quốc gia chỉ miễn cưỡng tìm đến tổ chức này khi không còn cách nào khác. Trước đây, IMF đã cung cấp tiền nhưng với các điều kiện khắc nghiệt và thực sự chỉ làm cho cuộc suy thoái tại các quốc gia đó tồi tệ đi.[325] Các điều kiện này được thiết kế nhằm giúp cho các chủ nợ phương Tây thu tiền về được nhiều hơn, chứ không phải để giúp các nước bị ảnh hưởng bởi suy thoái có thể duy trì sức mạnh kinh tế của họ. Các điều kiện khắc nghiệt của IMF thường xuyên dẫn đến những cuộc bạo động trên khắp thế giới – nổi tiếng nhất là Indonesia trong thời gian xảy ra cuộc khủng hoảng Đông Á.[326]
Tin tốt lành là, với việc bổ nhiệm Dominique Strauss–Kahn làm giám đốc điều hành và sự bùng phát khủng hoảng, IMF đã bắt đầu cải cách các chính sách vĩ mô cũng như việc cho vay. Ví dụ, khi Iceland kêu gọi IMF hỗ trợ, nó đã áp đặt được việc kiểm soát vốn và khống chế sự thâm hụt ngân sách – ít nhất là trong năm đầu tiên của chương trình. IMF cuối cùng đã thừa nhận sự cần thiết của các chính sách kích thích kinh tế vĩ mô theo trường phái Keynes. Vị giám đốc điều hành của tổ chức này đã công khai phát biểu về những rủi ro khi loại bỏ sớm các gói kích thích, và nói về sự cần thiết phải tập trung vào vấn đề công ăn việc làm. Các quốc gia tốt sẽ có thể đi vay vô điều kiện. Họ có thể thực sự là các quốc gia “đã ước lượng được khả năng tối đa”. Các câu hỏi vẫn là: quốc gia nào sẽ có điểm cao? Liệu bất kỳ đất nước nào trong khu vực cận Sahara của châu Phi đều có đủ điều kiện? Mặc dù các chương trình của IMF tại nhiều quốc gia là khác biệt rõ rệt với những gì trong quá khứ, nhưng có vẻ như các điều kiện cứng rắn vẫn đang được áp dụng đối với một số nước khác – bao gồm việc cắt giảm ngân sách và nâng lãi suất lên cao, trái ngược hoàn toàn với những gì mà kinh tế học Keynes đã đề xuất.[327]
IMF là một câu lạc bộ cổ xưa của các quốc gia công nghiệp giàu có, các nước chủ nợ, được điều hành bởi các vị bộ trưởng tài chính và thống đốc ngân hàng trung ương. Những nhân vật trong ngành tài chính đã hình thành nên các quan điểm về các chính sách kinh tế – thường là những quan điểm sai lầm, như tôi đã giải thích và cuộc khủng hoảng này là một minh chứng. Hoa Kỳ đã có riêng quyền phủ quyết đối với bất kỳ quyết định lớn nào, và luôn luôn chỉ định nhân vật số hai; còn châu Âu luôn bổ nhiệm người đứng đầu. Trong khi IMF “vỗ ngực xưng tên” về việc quản trị tốt, nó đã không thực thi những gì rao giảng. Tổ chức này không có kiểu minh bạch mà chúng ta hiện đang trông đợi từ một tổ chức công. Tại cuộc họp G–20 ở London vào tháng 2/2009, đã có sự đồng thuận ủng hộ việc cải cách. Tuy nhiên, tốc độ chậm chạp của cải cách khiến cho một số người hiểu rằng thế giới có thể ngập sâu trong một cuộc khủng hoảng tiếp theo, trước khi có bất kỳ thay đổi lớn nào. Tuy nhiên, ít nhất cũng đã có một bước tiến lớn: có được sự đồng thuận rằng người đứng đầu IMF nên được lựa chọn theo cách cởi mở và minh bạch và các quốc gia thành viên sẽ tìm kiếm một người có năng lực nhất, bất kể quốc tịch.[328]
Việc nước Mỹ thiếu sự hào phóng để giúp đỡ các nước đang phát triển là điều cần lưu ý và có tiềm năng gây tốn kém. Trước cuộc khủng hoảng, Hoa Kỳ là một trong những nước công nghiệp phát triển keo kiệt nhất trong việc trợ giúp – tính theo tỷ lệ phần trăm thu nhập quốc gia, Hoa Kỳ đã cung cấp chỉ khoảng ¼ so với tỷ lệ của các nước hàng đầu châu Âu.[329] Nhưng đây là một cuộc khủng hoảng toàn cầu có nguồn gốc từ Hoa Kỳ. Nước Mỹ đã liên tục giảng giải người khác về việc tự chịu trách nhiệm với hành động của chính mình; tuy nhiên trong trường hợp này thì dường như Mỹ nhận lãnh ít trách nhiệm về việc đã âm thầm đưa các quy tắc sang các quốc gia khác, điều đó tạo thuận lợi cho việc lây lan từ Hoa Kỳ; nhận trách nhiệm từ các chính sách bảo hộ; hoặc trách nhiệm của nơi đầu tiên tạo ra các rắc rối cho toàn cầu.[330]
CÁC QUY ĐỊNH TOÀN CẦU
Việc bãi bỏ quy định đóng một vai trò trung tâm trong cuộc khủng hoảng này, và một tập hợp các quy định mới là cần thiết để ngăn chặn một cuộc khủng hoảng khác cũng như khôi phục lại niềm tin vào các ngân hàng. Trước thềm cuộc họp thứ hai của nhóm G–20 vào đầu năm 2009, đã có một cuộc tranh luận về việc: một gói kích thích được phối hợp toàn cầu hay một chế độ phối hợp điều tiết trên toàn cầu là quan trọng hơn. Câu trả lời là hiển nhiên: cả hai đều cần thiết. Nếu không có các quy định toàn diện, sẽ có hiện tượng né tránh các quy định – nguồn tài chính sẽ đi đến quốc gia nào có ít quy định nhất. Những quốc gia khác sau đó sẽ phải hành động để ngăn chặn các định chế không được điều tiết tốt để không cho chúng phát sinh hiệu ứng lây lan. Nói ngắn gọn, sự thất bại của một quốc gia trong việc điều tiết hợp lý sẽ tạo ra các yếu tố phụ bên ngoài, tiêu cực đối với các quốc gia khác. Nếu không có một hệ thống điều tiết được phối hợp trên toàn cầu, sẽ có nguy cơ phân mảnh và phân đoạn trong hệ thống tài chính thế giới, khi mỗi quốc gia đều cố gắng bảo vệ mình trước những sai lầm của nước khác. Mỗi quốc gia đều phải hài lòng khi những nước khác áp dụng các biện pháp thích hợp để ngăn chặn sự lạm dụng.
Không gì ngạc nhiên, khi những hành động có vẻ như mạnh mẽ nhất của nhóm G–20 là chống lại những quốc gia không tham gia cuộc họp – cái gọi là các nước không hợp tác, các vùng lãnh thổ như quần đảo Cayman, đã là các trung tâm cho việc lẩn trốn thuế và các quy định trong nhiều năm qua. Sự tồn tại của chúng không phải là những kẽ hở ngẫu nhiên. Những người giàu có của nước Mỹ và châu Âu – và các ngân hàng đại diện cho họ – muốn có một nơi ẩn náu an toàn, thoát khỏi sự kiểm tra giám sát các hoạt động của họ đã có tại nơi cư trú, và các cơ quan điều tiết và lập pháp đã cho phép họ được như mong muốn. Các yêu cầu mà nhóm G–20 đưa ra đối với những nơi lẩn tránh thuế như trên, trong khi vẫn đi đúng hướng, đã nhẹ nhàng đến mức gần như ngay lập tức Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) đã loại bỏ tất cả chúng ra khỏi “danh sách đen”.[331]
Nếu không có sự trao đổi thông tin thường xuyên và đầy đủ, các cơ quan thuế trong một quốc gia sẽ không thể biết được cái gì hoặc ai đã thoát khỏi mạng lưới của họ. Đối với các nước đang phát triển, có một vấn đề còn quan trọng hơn – nạn tham nhũng. Những nhà độc tài tham nhũng đã tẩu thoát với tiền tỷ và gửi tiền không chỉ ở các ngân hàng tại nước ngoài có điều kiện thuận lợi về thuế, mà còn ở một số trung tâm tài chính lớn nhất thế giới; bao gồm cả London. Các nước đang phát triển đáng bị lên án vì đã không hành động tích cực hơn để chống tham nhũng, nhưng họ cũng đúng khi phê phán các nước công nghiệp phát triển đã tạo điều kiện cho tham nhũng bằng cách cung cấp những nơi ẩn náu an toàn cho các quan chức tham nhũng và những tài khoản ngân hàng bí mật để giữ tiền cho họ. Nếu, bằng cách nào đó, tiền đã được cất giữ, thì thường là rất khó để lấy lại. Tuy nhiên, đó là những vấn đề của các nước đang phát triển không tham gia cuộc họp, vì vậy không đáng ngạc nhiên khi nhóm G–20 trong cuộc họp khai mạc đã không làm gì để thay đổi tình hình.[332]
Trong các chương trước, tôi đã phác họa một chương trình nghị sự cho một chế độ với các quy định mới. Trong khi các nước G–20 ít nhất cũng “nói đãi bôi” về một số vấn đề chính yếu (như đòn bẩy, tính minh bạch), thì tại phiên họp khai mạc nó tránh xa một số nội dung quan trọng nhất: cần phải làm gì với các định chế “quá lớn đến mức không thể sụp đổ” có ảnh hưởng chính trị hiện đang là trung tâm của cuộc khủng hoảng, hoặc vấn đề tự do hóa thị trường tài chính và thị trường vốn đã làm khủng hoảng lây lan – và những gì mà một số quốc gia có ảnh hưởng quan trọng đã làm để thúc đẩy khủng hoảng. Pháp và một số nước khác đã mạnh mẽ nêu ra một số đề tài – chương trình trả lương thưởng cao quá mức đã khuyến khích những hành vi thiển cận và nhận lãnh quá nhiều rủi ro. Phản ứng của nhóm G–20 đối với việc quy định cũng là đáng thất vọng theo một nghĩa khác: để có sự hướng dẫn tiếp theo, nó quay sang các tổ chức đã từng thất bại trong vấn đề này.
Diễn đàn Ổn định Tài chính đã tập hợp các chuyên gia tài chính đến từ hàng chục nước công nghiệp phát triển chính yếu để tiến hành thảo luận và hợp tác nhằm điều tiết, giám sát và kiểm tra các tổ chức tài chính. Diễn đàn này được ra đời sau cuộc khủng hoảng Đông Á như kết quả tự nhiên của các cuộc họp giữa các bộ trưởng tài chính và quan chức ngân hàng trung ương G–7 nhằm đảm bảo rằng một cuộc khủng hoảng tương tự sẽ không xảy ra. Rõ ràng nó đã không thành công; nhưng sự thất bại này hầu như chẳng có gì là bất ngờ. Diễn đàn đã thấm nhuần triết lý về việc bãi bỏ các quy định, điều đã dẫn đến các cuộc khủng hoảng trước kia và cuộc khủng hoảng hiện nay. G–20, tuy nhiên, đã không hỏi tại sao Diễn đàn này thất bại. Thay vào đó, nhóm G–20 đã đổi tên của diễn đàn thành Hội đồng Ổn định Tài chính và mở rộng thêm số lượng thành viên một chút. Lẽ ra với cái tên mới, nó sẽ có một khởi đầu mới; lẽ ra nó đã đúc kết được những bài học nhưng tôi nghi ngờ rằng các quan điểm về kinh tế sẽ không thay đổi một cách dễ dàng hoặc nhanh chóng như vậy.
MẤT NIỀM TIN VÀO CHỦ NGHĨA TƯ BẢN MANG MÀU SẮC HOA KỲ
Tại Hoa Kỳ, khi nói một người nào đó đi theo chủ nghĩa xã hội thì điều này không gì khác hơn là sự công kích rẻ tiền. Những người cánh hữu cực đoan đã cố gắng bôi nhọ Obama với cái nhãn này, trong khi cánh tả chỉ trích ông về sự ôn hòa quá mức cần thiết. Tuy nhiên, tại nhiều nơi trên thế giới, cuộc chiến giữa chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội – hoặc ít nhất là với các mô hình mà nhiều người Mỹ dán lên cái nhãn là chủ nghĩa xã hội – vẫn còn quyết liệt. Hầu hết trên thế giới, người ta đồng thuận rằng chính phủ nên đóng một vai trò lớn hơn so với vai trò của chính phủ ở Hoa Kỳ. Trong khi có thể không có ai là người chiến thắng trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, nhưng có những kẻ thua cuộc, và một trong số những kẻ thua cuộc nặng nề nhất là chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ, thứ chủ nghĩa đã mất đi rất nhiều sự ủng hộ. Hậu quả từ việc hình thành nền kinh tế toàn cầu và các cuộc tranh luận chính trị sẽ được cảm nhận trong một thời gian dài.
Sự sụp đổ của Bức tường Berlin năm 1989 đã đánh dấu sự kết thúc của chủ nghĩa cộng sản như một ý tưởng khả thi. Các vấn đề của chủ nghĩa cộng sản đã hiện hình trong nhiều thập kỷ, nhưng sau năm 1989 thì bất cứ ai cũng khó có thể biện hộ cho chủ nghĩa này. Đã có lúc, dường như sự thất bại của chủ nghĩa cộng sản cũng có nghĩa là chiến thắng chắc chắn dành cho chủ nghĩa tư bản, đặc biệt với kiểu tư bản của người Mỹ. Francis Fukuyama trong những năm đầu của thập niên 1990 đã đi khá xa khi tuyên bố “sự kết thúc của lịch sử”, khẳng định chủ nghĩa tư bản thị trường mang tính dân chủ là giai đoạn cuối cùng của sự phát triển xã hội và nhận định rằng tất cả nhân loại hiện nay chắc chắn là đi theo chiều hướng này.[333] Còn trong thực tế, các sử gia sẽ đánh dấu giai đoạn 20 năm bắt đầu từ năm 1989 là thời kỳ chiến thắng ngắn ngủi của người Mỹ.
Đối với chủ thuyết tuyệt đối tin vào thị trường (khái niệm cho rằng thị trường tự do không bị điều tiết có thể đảm bảo sự thịnh vượng và tăng trưởng kinh tế) thì ngày 15/9/2008, ngày mà Lehman Brothers sụp đổ, có thể được coi giống như ngày Bức tường Berlin sụp đổ đối với chủ nghĩa cộng sản. Người ta đã biết về các vấn đề của ý thức hệ từ trước ngày này, nhưng sau sự kiện thì không có ai thực sự có thể biện hộ được nữa. Với sự sụp đổ của các ngân hàng lớn và các tổ chức tài chính, với các biến động kinh tế và những nỗ lực bấn loạn để giải cứu, giai đoạn chiến thắng của người Mỹ cũng đã kết thúc. Và các cuộc tranh luận về “chủ thuyết tuyệt đối tin tưởng vào thị trường” cũng chấm dứt. Ngày nay, chỉ có những kẻ dối trá (bao gồm nhiều người Mỹ bảo thủ, số lượng những người này trong thế giới phát triển là ít hơn nhiều) mới lập luận rằng thị trường tự điều chỉnh và rằng xã hội có thể dựa vào các hành vi tư lợi của những người tham gia thị trường để đảm bảo rằng mọi thứ vận hành một cách trung thực và đúng đắn – chứ đừng nói đến việc nó hoạt động theo cách thức đem lại lợi ích cho tất cả.
Các cuộc tranh luận kinh tế bắt đầu quan tâm đến tiềm năng đặc biệt của các quốc gia đang phát triển. Mặc dù chúng ta, những người phương Tây, có xu hướng quên, nhưng 190 năm trước đây thì gần 60% GDP của thế giới là ở châu Á. Nhưng sau đó, khá đột ngột, sự khai thác thuộc địa và các hiệp định thương mại bất bình đẳng, kết hợp với một cuộc cách mạng công nghệ ở châu Âu và Mỹ, đã khiến các nước đang phát triển bị tụt hậu rất xa, đến mức tại thời điểm năm 1950, nền kinh tế châu Á chỉ đóng góp dưới 18% GDP toàn cầu.[334] Vào giữa thế kỷ XIX, Anh và Pháp đã tiến hành một cuộc chiến tranh để đảm bảo rằng Trung Quốc vẫn là thị trường “mở” đối với thương mại toàn cầu. Đây là cuộc chiến tranh Nha phiến, được đặt tên này vì cuộc chiến xảy ra đảm bảo rằng Trung Quốc không đóng cửa mặt hàng thuốc phiện của phương Tây: phương Tây có rất ít giá trị để chào bán cho Trung Quốc ngoài thuốc phiện, họ muốn đổ vào các thị trường Trung Quốc, với hiệu ứng phụ là gây nghiện trên diện rộng. Đó thực sự là một nỗ lực của phương Tây để chỉnh sửa vấn đề về cán cân thanh toán.
Chủ nghĩa thực dân đã để lại một di sản hỗn hợp trong thế giới của các nước đang phát triển, nhưng một hậu quả rõ ràng là quan điểm của người đã bị bóc lột tàn nhẫn. Trong số nhiều nhà lãnh đạo mới nổi, chủ nghĩa Mác đem lại một lý thuyết để giải thích trải nghiệm của họ, cho thấy sự bóc lột thực sự là nền tảng của chế độ tư bản. Sự độc lập về chính trị dành cho nhiều vùng thuộc địa sau Thế chiến thứ II đã không kết liễu nền kinh tế theo chủ nghĩa thực dân. Trong một số khu vực, chẳng hạn như châu Phi, sự bóc lột – khai thác tài nguyên thiên nhiên và tàn phá môi trường, đổi lại tất cả chỉ là thù lao rẻ mạt – là điều rõ ràng. Ở những nơi khác, sự bóc lột trở nên tinh vi hơn. Tại nhiều nơi trên thế giới, các tổ chức toàn cầu như IMF và Ngân hàng Thế giới đã được xem là công cụ kiểm soát trong thời kỳ hậu thuộc địa. Các tổ chức này thúc đẩy sự phát triển của chủ thuyết tin tưởng vào thị trường (thường được gọi là “chủ nghĩa tự do mới”), một khái niệm mà người Mỹ lý tưởng hóa thành “thị trường tự do và không bị kiểm soát". Họ gây áp lực để bãi bỏ quy định trong lĩnh vực tài chính, tư nhân hóa và tự do hóa thương mại.
Ngân hàng Thế giới và IMF cho biết họ đã làm tất cả những điều này vì lợi ích của các quốc gia trong thế giới đang phát triển. Họ được hỗ trợ bởi đội ngũ các nhà kinh tế học ủng hộ thị trường tự do, nhiều người trong số này đến từ “thánh đường” của kinh tế thị trường tự do – Đại học Chicago. Nhưng sau cùng thì các chương trình của “những chàng trai Chicago” đã không mang lại kết quả như hứa hẹn. Mức thu nhập bị đình trệ. Trường hợp có sự tăng trưởng, sự giàu có đã đến với những người trong giới thượng lưu. Khủng hoảng kinh tế ở các quốc gia riêng lẻ đã trở thành thường xuyên hơn bao giờ hết – chỉ trong vòng 30 năm qua mà đã có hơn 100 cuộc khủng hoảng.[335]
Không có gì ngạc nhiên, người dân ở các nước đang phát triển đã ngày càng ít bị thuyết phục rằng sự trợ giúp của phương Tây có động cơ là lòng vị tha. Họ nghi ngờ rằng sự hùng biện cho một thị trường tự do – được biết đến qua “các nội dung được đồng thuận tại Washington” (Washington consensus: thuật ngữ do John Williamson đặt ra trong năm 1989 dùng để đề cập đến tập hợp 10 chính sách kinh tế dành cho các nước đang phát triển đã bị ảnh hưởng từ các cuộc khủng hoảng, được Ngân hàng Thế giới, IMF và Bộ Tài chính Hoa Kỳ xây dựng nên – ND) – chỉ là một vỏ bọc cho các lợi ích thương mại xưa cũ. Thói đạo đức giả của phương Tây càng làm tăng thêm mối nghi ngờ. Châu Âu và Mỹ đã không mở cửa các thị trường của họ đối với các sản phẩm nông nghiệp của thế giới thứ ba, trong khi nông sản vẫn thường là tất cả những gì mà các nước nghèo có thể chào bán; thay vào đó, châu Âu và Mỹ buộc các nước đang phát triển phải loại bỏ trợ cấp dành cho việc xây dựng các ngành công nghiệp mới, trong khi họ vẫn dành các khoản trợ cấp lớn cho các nông dân của mình.[336]
Ý thức hệ về thị trường tự do hóa ra chỉ là một cái cớ cho các hình thức mới của sự bóc lột. “Tư nhân hóa” có nghĩa là các cá nhân, tổ chức nước ngoài có thể mua được các khu mỏ khoáng sản và các mỏ dầu tại các nước đang phát triển, với giá rẻ. Nó cũng có nghĩa là họ có thể thu về lợi nhuận lớn từ sự độc quyền và gần như độc quyền, chẳng hạn trong ngành viễn thông. “Tự do hóa thị trường tài chính và thị trường vốn” có nghĩa là các ngân hàng nước ngoài có thể thu về lợi nhuận cao từ các khoản cho vay, và khi các khoản vay xấu đi, IMF buộc phải xã hội hóa những tổn thất, có nghĩa là sức ép trả nợ cho các ngân hàng nước ngoài được đặt lên trên toàn bộ cộng đồng. Sau đó, ít nhất là tại Đông Á sau cuộc khủng hoảng năm 1997, một số ngân hàng nước ngoài đã thu thêm lợi nhuận từ việc mua bán các tài sản với giá rẻ khi IMF ép buộc các quốc gia đang cần tiền. Tự do hóa thương mại cũng có nghĩa là các công ty nước ngoài có thể quét sạch các ngành công nghiệp non trẻ, đàn áp sự phát triển của các tài năng kinh doanh. Trong khi nguồn vốn được lưu chuyển tự do, lực lượng lao động thì không như vậy – trừ trường hợp của những cá nhân tài năng nhất, nhiều người trong số đó đã tìm được công ăn việc làm tốt trong một không gian thị trường toàn cầu.[337]
Tất nhiên, cũng có các trường hợp ngoại lệ. Có những người ở châu Á luôn luôn phản đối “đồng thuận Washington”. Họ đặt ra các hạn chế về lưu chuyển vốn. Các gã khổng lồ của châu Á – như Trung Quốc và Ấn Độ – đã quản lý nền kinh tế của họ theo cách riêng, sản xuất tăng trưởng chưa từng thấy. Nhưng ở nơi khác, và đặc biệt là tại các quốc gia mà Ngân hàng Thế giới và IMF có ảnh hưởng thống trị, mọi thứ đã không tốt đẹp như thế.
Ở khắp mọi nơi, các cuộc tranh luận về tư tưởng vẫn tiếp diễn. Ngay cả tại các nước đã thực hiện rất tốt hoạt động kinh tế, vẫn có sự cáo buộc, không chỉ từ quảng đại quần chúng nhân dân mà ngay cả những người học thức và có ảnh hưởng xã hội, rằng các luật chơi chưa công bằng. Các quốc gia thành công trong kinh tế cũng tin rằng họ đã làm rất tốt mặc dù luật chơi là bất công, và họ thông cảm với những người bạn yếu hơn trong thế giới đang phát triển đã chưa thành công như họ.
Đối với các nhà phê bình chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ trong Thế giới Thứ ba, cách phản ứng với cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay của Hoa Kỳ đã phảng phất sự phân biệt đối xử. Trong cuộc khủng hoảng Đông Á, chỉ cách đây một thập kỷ, Hoa Kỳ và IMF đã yêu cầu các quốc gia bị ảnh hưởng phải cắt giảm mức thâm hụt của chính phủ bằng cách cắt giảm chi phí – ngay cả khi điều này dẫn đến sự tái bùng phát bệnh AIDS tại Thái Lan, hoặc điều này có nghĩa là giảm bớt trợ cấp thực phẩm cho những người đang chết đói tại Indonesia, hoặc ngay cả khi nó dẫn đến sự thiếu hụt của các trường công lập khiến cho cha mẹ phải gửi con cái đến các trường madrassas, nơi đó trẻ em sẽ được truyền thụ nguyên lý căn bản của Hồi giáo. Mỹ và IMF đã buộc các quốc gia này phải tăng lãi suất, trong một số trường hợp (như Indonesia) lên đến hơn 50%. Họ giảng dạy cho Indonesia phải cứng rắn với ngân hàng của mình và yêu cầu chính phủ không giải cứu. Họ nói rằng điều đó sẽ tạo ra một tiền lệ tệ hại kinh khủng, và sự can thiệp vào các cơ chế đang vận hành trơn tru của thị trường tự do mới đáng sợ làm sao.
Sự tương phản giữa việc xử lý cuộc khủng hoảng Đông Á và giải quyết cuộc khủng hoảng tại Mỹ hiện nay là rõ nét và không thể không chú ý. Để thoát ra khỏi bờ vực, Hoa Kỳ tăng mạnh chi tiêu và có mức thâm hụt lớn, lãi suất đã được đưa xuống mức zero. Các ngân hàng đã được giải cứu khắp nơi. Một số các quan chức ở Washington, những người đã tham gia giải quyết cuộc khủng hoảng Đông Á, hiện đang xoay sở để phản ứng lại trước nguy cơ sụp đổ tại Mỹ. Mọi người trong Thế giới Thứ ba nêu câu hỏi: tại sao Hoa Kỳ lại kê một toa thuốc khác cho bản thân nó?
Đây không chỉ là vấn đề khác biệt nhau về tiêu chuẩn. Bởi vì các nước phát triển nhất quán đi theo các chính sách tiền tệ và tài chính để chống lại yếu tố chu kỳ (countercyclical) (như họ đã làm trong cuộc khủng hoảng hiện nay), còn các nước đang phát triển lại buộc phải tuân theo các chính sách ủng hộ chu kỳ (cắt giảm chi phí, tăng thuế và lãi suất), nên biến động ở các nước đang phát triển là lớn hơn mức lẽ ra sẽ có, trong khi tại những nước phát triển khác là nhỏ hơn. Điều này làm chi phí vốn dành cho các nước đang phát triển tăng cao hơn tương đối, và lợi thế giảm đi tương đối, so với các nước phát triển.[338]
Nhiều quốc gia trong thế giới đang phát triển đã khốn khổ khi bị ức hiếp nhiều năm qua: thông qua hiến pháp kiểu Hoa Kỳ, đi theo các chính sách của Hoa Kỳ, tham gia vào việc bãi bỏ quy định, mở cửa thị trường cho các ngân hàng Hoa Kỳ để có thể học hỏi được các ngân hàng “tốt” – và không phải tình cờ – bán các doanh nghiệp và ngân hàng của mình cho Hoa Kỳ, đặc biệt là với giá rẻ trong thời gian khủng hoảng. Họ đã biết rằng đây sẽ là một vết đau, nhưng cuối cùng, họ được hứa hẹn rằng như vậy sẽ tốt hơn. Nước Mỹ gửi các vị Bộ trưởng Tài chính của mình (thuộc cả hai đảng) đi khắp hành tinh để truyền bá phúc âm. Trong mắt của nhiều người trên khắp thế giới của các nước đang phát triển, có những cánh cửa quay, cho phép các nhà lãnh đạo giới tài chính Mỹ chuyển dịch liên tục từ Phố Wall đến Washington rồi trở lại Phố Wall, đã đem đến cho họ sự tin cậy nhiều hơn, vì những người này dường như có thể kết hợp được sức mạnh của tiền bạc và quyền lực chính trị. Các nhà lãnh đạo tài chính Mỹ đã đúng khi tin tưởng rằng những gì là tốt đối với nước Mỹ hay thế giới cũng là tốt cho thị trường tài chính, nhưng họ đã sai khi nghĩ về điều ngược lại, rằng những gì là tốt cho Phố Wall cũng là tốt cho nước Mỹ và thế giới.
Sự vui thích trước thất bại của người khác không phải là yếu tố quá lớn để thúc đẩy việc nghiên cứu kỹ lưỡng hệ thống kinh tế Mỹ của các nước đang phát triển. Thay vì vậy, biết được loại hệ thống kinh tế nào có thể có hiệu quả đối với họ trong tương lai là một nhu cầu có thực. Thật vậy, những nước này đều có lợi ích khi trông đợi sự phục hồi nhanh chóng của nước Mỹ. Họ trực tiếp biết rằng hậu quả đối với toàn cầu từ cuộc suy thoái của Mỹ là rất lớn. Và nhiều người ngày càng tin rằng những lý tưởng về thị trường tự do và không được kiểm soát mà nước Mỹ đã dựng nên chỉ là những thứ cần phải được từ bỏ, hơn là được nắm bắt.
Ngay cả những người ủng hộ cho nền kinh tế thị trường tự do bây giờ cũng nhận ra rằng cần có một số quy định. Nhưng vai trò của chính phủ còn vượt xa hơn các quy định – một số ít quốc gia đang bắt đầu nhận ra. Ví dụ, Trinidad đã thuộc lòng bài học rằng rủi ro phải được quản lý và chính phủ phải có một vai trò tích cực hơn trong việc hướng dẫn – họ biết họ không thể định hình lại nền kinh tế toàn cầu, nhưng họ có thể giúp các công dân của mình đối phó với những rủi ro. Ngay cả các học sinh bậc tiểu học cũng được giảng dạy về các nguyên tắc của rủi ro, các yếu tố trong việc sở hữu nhà, sự nguy hiểm của cho vay cắt cổ, và các chi tiết về vay thế chấp. Tại Brazil, việc sở hữu nhà đang được phát triển thông qua một đơn vị công, đảm bảo rằng các cá nhân nhận vay thế chấp là hoàn toàn trong khả năng quản lý của mình.
Suy cho cùng, tại sao những người Mỹ chúng ta lại phải quan tâm đến việc thế giới đã thất vọng với mô hình của chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ? Ý thức hệ mà chúng ta phát triển nay đã bị hoen ố, đó là điều chắc chắn, nhưng có lẽ đây cũng là một điều tốt khi vết ố là không thể sửa chữa được. Liệu có phải rằng chúng ta không thể tồn tại – chứ đừng nói là phát triển mạnh – nếu không có ai đi theo đường lối Hoa Kỳ?
Chắc chắn, các ảnh hưởng mà chúng ta đã gây ra rồi cũng sẽ dịu lại, nhưng dưới nhiều góc độ, chúng đã có những tác động nhất định. Chúng ta từng đóng một vai trò then chốt trong việc quản lý vốn toàn cầu, bởi vì những người khác tin rằng chúng ta có tài năng đặc biệt để quản lý rủi ro và phân bổ các nguồn lực tài chính. Hiện nay không còn ai tin điều này nữa, và châu Á – bây giờ đang nắm giữ phần lớn các khoản tiết kiệm của thế giới – đã phát triển các trung tâm tài chính của riêng mình. Chúng ta không còn là nguồn vốn chính yếu của thế giới nữa. Ba ngân hàng đứng đầu thế giới hiện nay là của Trung Quốc; ngân hàng lớn nhất của Mỹ đã rơi xuống vị trí thứ năm.
Trong khi đó, các phí tổn cho việc đối phó với cuộc khủng hoảng hiện đang làm giảm đi các nhu cầu khác, không chỉ đối với những người sinh sống trong nước, như đã thảo luận trước đây, mà còn đối với những người ở nước ngoài. Trong những năm gần đây, mức đầu tư cho cơ sở hạ tầng của Trung Quốc tại châu Phi còn lớn hơn số tiền đầu tư của Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng Phát triển châu Phi kết hợp lại, và lớn hơn rất nhiều so với lượng đầu tư của Mỹ. Bất cứ ai đến thăm Ethiopia hoặc một loạt các nước khác trong châu lục này đều có thể nhận thấy sự thay đổi, với những con đường cao tốc mới đã liên kết những thành phố và thị trấn từng bị chia cắt trước đây, tạo nên một hình thái địa kinh tế mới mẻ. Người ta không chỉ cảm thấy sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với cơ sở hạ tầng, mà còn trong nhiều khía cạnh phát triển khác – ví dụ như thương mại, phát triển các nguồn lực, hình thành các doanh nghiệp, và thậm chí là cả nông nghiệp. Các nước châu Phi đang chạy đến Bắc Kinh để nhận được sự hỗ trợ trong cuộc khủng hoảng này, chứ không phải là đến Washington. Và người ta không chỉ cảm thấy sự hiện diện của Trung Quốc duy nhất tại châu Phi: tại Mỹ Latinh, châu Á, Úc hay bất cứ nơi nào có hàng hóa hoặc nguồn tài nguyên. Sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc là điều mà mọi người đều khao khát. Trước cuộc khủng hoảng, Trung Quốc đã góp phần vào sự tăng trưởng xuất khẩu và giá xuất khẩu, dẫn đến sự tăng trưởng chưa từng có ở châu Phi và nhiều quốc gia khác. Sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra, nó có khả năng làm điều đó một lần nữa – thật vậy, nhiều quốc gia đã thu được những lợi ích từ sự tăng trưởng mạnh mẽ của Trung Quốc trong năm 2009.
Tôi lo lắng rằng, khi nhiều nước đang phát triển ngày càng thấy rõ hơn những sai lầm trong hệ thống kinh tế và xã hội Hoa Kỳ, họ sẽ rút ra những kết luận không chính xác về loại hệ thống nào sẽ phục vụ họ tốt nhất. Một vài quốc gia sẽ học được những bài học đúng đắn. Họ sẽ nhận ra rằng điều cần thiết cho sự thành công là một chế độ trong đó vai trò của thị trường và chính phủ là cân bằng và một chính phủ mạnh mẽ trong việc thực thi các quy định có hiệu lực. Họ cũng sẽ nhận ra rằng cần phải kiềm chế sức mạnh của các nhóm lợi ích đặc biệt.
Tuy nhiên, đối với nhiều quốc gia khác thì những hậu quả chính trị sẽ phức tạp hơn, và có thể là rất thảm thương. Nhìn chung, các nước từng đi theo chủ nghĩa cộng sản, sau sự sụp đổ của chế độ thời hậu chiến, đã chuyển đổi đi theo con đường của chủ nghĩa tư bản, nhưng một số nước đã dịch chuyển theo một phiên bản lệch lạc của nền kinh tế thị trường: họ thay thế Các Mác bởi Milton Friedman và coi ông này như một vị thần. Thứ tôn giáo mới này cũng không giúp họ đạt hiệu quả. Nhiều quốc gia có thể kết luận: không chỉ đơn giản là chủ nghĩa tư bản không được kiểm soát, đường lối kiểu Mỹ đã thất bại, mà đúng là bản thân khái niệm về kinh tế thị trường đã thất bại, và thực sự nó không khả thi trong bất kỳ trường hợp nào. Chủ nghĩa cộng sản kiểu cũ sẽ không quay trở lại, nhưng một loạt các hình thức can thiệp quá mức vào thị trường sẽ tái hiện. Và những hình thức này cũng sẽ thất bại.
Những người nghèo sẽ phải gánh chịu hậu quả từ chủ thuyết hoàn toàn tin tưởng vào thị trường. Kinh tế học “từ trên đi xuống” đã không hiệu quả. Nhưng những người nghèo có thể phải gánh chịu một lần nữa nếu chế độ mới lại không có được sự cân bằng hợp lý, với sự can thiệp quá nhiều vào các thị trường. Một chiến lược như vậy sẽ không mang lại sự tăng trưởng, và không có sự tăng trưởng thì không thể xóa đói giảm nghèo theo cách bền vững. Không thể có một nền kinh tế thành công mà không dựa nhiều vào các thị trường. Các hậu quả đối với sự ổn định toàn cầu và sự an toàn của Hoa Kỳ là rõ ràng.
Đã từng có sự đồng thuận về các giá trị được chia sẻ giữa nước Mỹ và những người Mỹ thuộc giới tinh hoa có học thức cao trên khắp thế giới, nhưng cuộc khủng hoảng kinh tế đã làm suy yếu niềm tin của giới tinh hoa này, những người đã từng ủng hộ chủ nghĩa tư bản kiểu Mỹ. Những người từng phản đối hình thức phóng túng của chủ nghĩa tư bản Hoa Kỳ nay đã có nhiều cơ sở hơn để rao giảng cho một triết lý rộng hơn, phản đối thuyết thị trường.
Niềm tin vào dân chủ cũng là một nạn nhân khác. Từ các nước đang phát triển, người ta quan sát Washington và thấy một chế độ nhà nước đã cho phép Phố Wall tự viết ra các quy tắc để phục vụ cho chính mình, đưa toàn bộ nền kinh tế toàn cầu vào rủi ro, và sau đó khi ngày đại họa xảy đến, Washington lại quay sang những người ở Phố Wall và các thân hữu của họ để xoay sở cho việc phục hồi – theo những cách thức đem lại cho Phố Wall các khoản tiền vượt ra ngoài những giấc mơ điên cuồng nhất của những tay tham nhũng nhất tại các nước đang phát triển. Có lẽ họ đã thấy nạn tham nhũng kiểu Mỹ là tinh vi hơn – dù những túi tiền không được chuyền tay nhau trong góc khuất nhưng vẫn là điều bất lương. Họ đã nhìn thấy việc tái phân phối của cải được tiếp diễn theo hướng dồn lên cho tầng lớp trên cao, rõ ràng là bằng phí tổn của các công dân bình thường khác. Họ đã thấy rằng các tổ chức có trách nhiệm giám sát sự phát triển của bong bóng, như Cục Dự trữ Liên bang chẳng hạn, đã nhận được nhiều quyền lực hơn như là phần thưởng sau những thất bại của nó trong quá khứ. Nói tóm lại, họ đã thấy một vấn đề căn bản về trách nhiệm chính trị trong nền dân chủ Hoa Kỳ. Nhìn thấy tất cả các điều này, họ chỉ cần bước thêm một chút nữa để kết luận rằng có một điều gì đó rất không ổn, và có lẽ chắc chắn là bản thân nền dân chủ cũng bất ổn.
Sau cùng thì nền kinh tế Hoa Kỳ cũng sẽ phục hồi, và theo một mức độ nhất định thì vị thế của Mỹ trên trường quốc tế cũng sẽ phục hồi. Dù muốn hay không, những hành động của Hoa Kỳ cũng được phân tích chi tiết. Người ta thi đua với những thành công của Hoa Kỳ. Nhưng các thất bại của quốc gia này – nhất là các thất bại đã dẫn đến cuộc khủng hoảng này và dễ bị chế giễu là thói đạo đức giả – cũng luôn luôn bị khinh miệt. Dân chủ và các nguồn lực thị trường là những yếu tố cần thiết cho một thế giới công bằng và thịnh vượng. Nhưng một “chiến thắng” của nền dân chủ tự do và nền kinh tế thị trường cân bằng không phải là điều tất yếu sẽ đến. Cuộc khủng hoảng kinh tế, phần lớn được tạo ra từ các hành vi (sai lầm) của Hoa Kỳ, đã là một tai họa lớn trong cuộc đấu tranh cho những giá trị căn bản này, gây thiệt hại nhiều hơn bất cứ điều gì mà một nền chuyên chế độc tài đã từng thực hiện hoặc tuyên bố trước kia.
MỘT TRẬT TỰ MỚI CHO NỀN KINH TẾ TOÀN CẦU: TRUNG QUỐC VÀ HOA KỲ
Cuộc khủng hoảng hiện nay là rất sâu sắc và rất đáng lo ngại rằng nhiều thứ sẽ thay đổi, bất chấp các nhà lãnh đạo có cố gắng thay đổi hay không. Những thay đổi sâu sắc nhất có thể liên quan đến mối quan hệ, đôi khi còn trục trặc, giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc. Trung Quốc còn phải đi một chặng đường dài nữa trước khi nó vượt qua Hoa Kỳ xét theo GDP – trong “sức mua tương đương” phản ánh sự khác biệt trong chi phí sinh hoạt, Trung Quốc vẫn còn cách biệt đến một nửa so với Hoa Kỳ – và thậm chí con đường còn xa hơn nữa để Trung Quốc bắt kịp mức thu nhập bình quân đầu người với Mỹ – hiện chỉ số này của Trung Quốc vẫn chỉ là khoảng 1/8 so với Mỹ.[339] Nhưng Trung Quốc đã lập được một số kỷ lục rất ấn tượng. Năm 2009 nó dường như có khả năng trở thành nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất thế giới, nhà sản xuất xe hơi lớn nhất thế giới, và nhà sản xuất hàng đại trà lớn hơn.[340] Trung Quốc cũng xấp xỉ với Hoa Kỳ xét về lượng khí thải carbon để trở thành người dẫn đầu thế giới trong khía cạnh này.[341] Tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc, mặc dù đã chậm hơn so với giai đoạn trước khi khủng hoảng, vẫn còn cao hơn hẳn so với Hoa Kỳ, với tỷ lệ 7% một năm (năm 2009 thì sự chênh lệch còn nhiều hơn với mức 10%), và với tỷ lệ này thì khoảng cách trong GDP được cắt giảm một nửa sau mỗi mười năm. Hơn nữa, trong vòng một phần tư thế kỷ tiếp theo, Trung Quốc có thể sẽ trở thành nền kinh tế thống trị tại châu Á, và nền kinh tế châu Á có thể sẽ lớn hơn nền kinh tế Hoa Kỳ.
Mặc dù nền kinh tế của Trung Quốc hiện vẫn còn nhỏ hơn rất nhiều so với Hoa Kỳ, nhưng nhập khẩu của Hoa Kỳ từ Trung Quốc là cao hơn nhiều so với xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Trung Quốc, và những sự mất cân bằng lớn trong thương mại đang làm cho tình hình ngày càng căng thẳng khi tỷ lệ thất nghiệp của Hoa Kỳ tăng lên. Mối quan hệ có thể là cộng sinh – Trung Quốc giúp tài trợ những khoản thâm hụt tài chính lớn của Hoa Kỳ; nếu không có hàng hóa rẻ tiền của Trung Quốc thì tiêu chuẩn sống của nhiều người Mỹ có thể sẽ thấp hơn đáng kể, và Hoa Kỳ mang đến các thị trường dành cho nguồn cung tăng trưởng chưa từng có của Trung Quốc – nhưng trong thời kỳ Đại suy thoái, trọng tâm là công ăn việc làm. Hầu hết người Mỹ không hiểu các nguyên tắc của lợi thế so sánh – rằng mỗi quốc gia sản xuất ra các hàng hóa mà nó làm tương đối tốt hơn; và họ khó có thể nắm bắt được vấn đề rằng Hoa Kỳ đã bị mất nhiều lợi thế so sánh của mình trong nhiều lĩnh vực sản xuất. Nếu Trung Quốc (hoặc bất kỳ quốc gia nào khác) cạnh tranh vượt được Hoa Kỳ, họ tin rằng quốc gia đó nhất định phải làm một điều gì đó không công bằng: lợi dụng tỷ giá hoặc trợ giá cho sản phẩm của mình, hoặc bán sản phẩm với giá dưới tổng chi phí (được gọi là “bán phá giá”).
Trên thực tế, cuộc khủng hoảng đã làm mọi thứ đảo lộn. Mỹ bị cáo buộc là đang trợ cấp lớn và bất công (cho các ngân hàng và các công ty xe hơi). Một khoản cho vay từ FED với lãi suất gần bằng không dành cho một công ty lớn, mà lẽ ra doanh nghiệp này phải trả một mức lãi suất rất cao trên thị trường mở – nếu nó có thể nhận được tài trợ – cũng có thể được coi là một hình thức trợ cấp lớn. Duy trì các mức lãi suất thấp là một trong những cách thức quan trọng để các quốc gia “quản lý” tỷ giá hối đoái của họ (khi lãi suất thấp, lượng vốn chảy ra khỏi đất nước và đến những nơi có thể có được mức lợi nhuận cao hơn), và nhiều người châu Âu tin rằng Hoa Kỳ đang sử dụng tỷ giá hối đoái thấp để có được lợi thế cạnh tranh.
Trong khi cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều áp đặt các hành động bảo hộ (Hoa Kỳ hành động một phần là để phản ứng lại áp lực từ liên đoàn lao động; Trung Quốc hành động một phần nhằm trả đũa và phần nào vì đây cũng là một yếu tố trong chiến lược phát triển của họ) nhưng mức độ còn hạn chế, đến thời điểm cuốn sách này được phát hành. Nhưng như tôi đã trình bày trước đây, người ta thừa nhận rằng cần làm gì đó đối với sự mất cân bằng toàn cầu, trong đó sự mất cân đối thương mại giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc là phần quan trọng nhất.
Trong ngắn hạn, Hoa Kỳ nhận thấy việc điều chỉnh là dễ dàng hơn so với Trung Quốc. Trung Quốc cần phải tiêu dùng nhiều hơn, nhưng khó có thể lôi kéo các hộ gia đình tiêu dùng nhiều hơn trong khi họ đang phải đối mặt với sự bất ổn mức độ cao. Tuy nhiên, các vấn đề phát sinh của Trung Quốc do tỷ lệ tiết kiệm cao tại các hộ gia đình là ít hơn so với thực trạng là thu nhập hộ gia đình chiếm tỷ lệ nhỏ hơn trong GDP so với tỷ lệ của hầu hết các quốc gia khác. Lương thấp đảm bảo cho mức lợi nhuận cao cho doanh nghiệp, và áp lực đối với việc phân phối lợi nhuận là nhỏ. Kết quả là các doanh nghiệp (cả doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân) đều giữ lại một phần lớn thu nhập của họ. Nhưng thay đổi sự phân phối thu nhập ở bất cứ nước nào cũng là điều khó khăn.
Mô hình tăng trưởng của Trung Quốc được dẫn dắt bởi nguồn cung: lợi nhuận được tái đầu tư, sản xuất tăng nhanh hơn tiêu dùng, và sự chênh lệch được xuất khẩu. Mô hình này đã đạt hiệu quả – tạo công ăn việc làm ở Trung Quốc và giữ giá cả thấp trong phần còn lại của thế giới – nhưng cuộc khủng hoảng cho thấy rõ một sai lầm trong mô hình. Trong giai đoạn suy thoái, Trung Quốc rất khó có thể xuất khẩu được phần thặng dư; trong dài hạn hơn, khi thị phần của nhiều mặt hàng đã tăng cao, nó sẽ khó duy trì được tốc độ tăng trưởng của mình. Điều này vẫn đúng ngay cả khi không có phản ứng bảo hộ tại nhiều đối tác kinh doanh của Trung Quốc – chỉ có TV và nhiều hàng tiêu dùng khác được người phương Tây chọn mua – nhưng không có gì lạ, khi Trung Quốc đã chứng tỏ khả năng không chỉ với những mặt hàng được sản xuất giản đơn mà còn là một loạt các dòng sản phẩm rộng, thì sự bảo hộ mạnh mẽ phải được gia tăng.
Nhiều người tại Trung Quốc nhận ra là họ phải thay đổi chiến lược – hỗ trợ nhiều hơn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ví dụ, thông qua việc xây dựng thêm các ngân hàng địa phương và khu vực. Tại hầu hết các quốc gia, các doanh nghiệp loại này là đội quân chủ lực trong việc gia tăng số lượng công ăn việc làm. Tăng trưởng việc làm sẽ dẫn đến mức lương cao hơn, và điều này sẽ làm thay đổi việc phân phối thu nhập theo cách thúc đẩy tiêu dùng trong nước nhiều hơn. Một số khoản lợi nhuận của doanh nghiệp rõ ràng phát sinh từ sự thất bại của Trung Quốc trong việc tính phí một cách phù hợp đối với việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên (kể cả đất). Trong thực tế, các công ty lớn đã được giao các tài sản này, đó là các tài sản thực sự thuộc về nhân dân; nếu, chẳng hạn, họ bán đấu giá những nguồn tài nguyên, thì sẽ tạo ra một phần thu nhập khổng lồ. Nếu Trung Quốc thu lại phần lợi nhuận từ các tài sản này để dành cho tất cả nhân dân, nó sẽ có thêm kinh phí để tài trợ cho y tế, giáo dục, các chế độ hưu trí, và điều này sẽ làm giảm phần nào nhu cầu tiết kiệm cao của các hộ gia đình.
Trong khi chiến lược tăng trưởng mới này nghe có vẻ hợp lý, thì những lực lượng chính trị mạnh mẽ đã dàn trận chống lại nó: ví dụ, các doanh nghiệp lớn và các quan chức trong đó vẫn tận hưởng chế độ hiện hành; họ hy vọng bằng cách nào đó có thể giữ được sự bền vững. Những lực lượng chính trị này cũng sẽ phản đối việc xác định tỷ giá hối đoái cao cho đồng tiền Trung Quốc, theo đó vừa làm giảm sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu Trung Quốc vừa gia tăng tiền lương thực tế của người lao động. Những người ở phương Tây tranh luận cho sự cần thiết của các ngân hàng lớn và các doanh nghiệp lớn khác cũng ủng hộ các nhà tư bản công nghiệp mới này. Họ cho rằng Trung Quốc cần có các công ty lớn, ngang bằng nhau (đôi khi được gọi là “những nhà vô địch quốc gia”) để cạnh tranh trên toàn cầu. Hiện vẫn còn quá sớm để biết cách thức của cuộc đấu tranh này.
Gói kích thích kinh tế của Trung Quốc – một trong những gói lớn nhất thế giới (một cách tương đối so với quy mô của quốc gia này)[342] – đã phản ánh những căng thẳng trong chính sách kinh tế. Phần lớn số tiền này đã đến với cơ sở hạ tầng và để giúp “làm xanh” nền kinh tế. Một hệ thống đường sắt cao tốc mới có thể tác động đến Trung Quốc, tương tự như việc xây dựng tuyến đường xe lửa liên lục địa sau cuộc Nội chiến đã làm thay đổi Hoa Kỳ. Nó có thể giúp củng cố nền kinh tế mạnh mẽ hơn, khi địa vị kinh tế thay đổi gần như chỉ sau một đêm. Các gói kích thích kinh tế cũng công khai khuyến khích tiêu dùng, đặc biệt là trong các khu vực nông thôn, và khuyến khích mua các sản phẩm đang phải đối mặt với sự sụt giảm đáng kể trong doanh số bán ra nước ngoài. Nó cũng làm gia tăng nhanh chóng các khoản chi tiêu cho y tế và giáo dục nông thôn. Đồng thời, người ta nỗ lực để củng cố cho một số lĩnh vực ngành nghề trọng điểm nhất định, như xe hơi và thép. Chính phủ lập luận rằng nó chỉ đơn giản là cố gắng “hợp lý hóa" sản xuất – tăng cao hiệu suất – nhưng các nhà phê bình lo ngại rằng những nỗ lực này có thể làm trầm trọng thêm các vấn đề về dư thừa nguồn cung và/hoặc có thể làm giảm hiệu quả cạnh tranh. Điều này sẽ tăng lợi nhuận doanh nghiệp và hạ thấp mức lương thực tế, làm xấu đi tình hình tiêu dùng dưới khả năng.
Có vài điều không chắc chắn tương đương, liên quan đến phản ứng của Mỹ trong dài hạn đối với cuộc khủng hoảng này. Như tôi đã làm rõ trong các chương trước, Hoa Kỳ cần tiêu dùng ít hơn trong dài hạn, và khi các hộ gia đình ít sẵn sàng và ít khả năng đi vay cùng với sự thịnh vượng của họ đã giảm bớt, dù việc điều chỉnh của Hoa Kỳ là tương đối nhanh. Nhưng như tôi đã trình bày trong chương 7, khi các hộ gia đình tiết kiệm nhiều hơn, thì chính phủ phải đi vay nhiều hơn. Nhu cầu tài trợ từ bên ngoài vẫn còn lớn. Sự mất cân bằng toàn cầu – đặc biệt là do thâm hụt thương mại khổng lồ của Mỹ và thặng dư của Trung Quốc tuy nhỏ hơn nhưng dai dẳng – vẫn còn đó. Điều này sẽ gây ra căng thẳng, mặc dù âm thầm, vì Hoa Kỳ biết rằng nó phụ thuộc vào nguồn tài chính từ Trung Quốc.[343]
Nhưng bên trong Trung Quốc, tâm lý miễn cưỡng cho chính phủ Hoa Kỳ vay ngày càng tăng cao, khi lợi nhuận thấp mà rủi ro lại cao. Cũng có những lựa chọn thay thế – Trung Quốc có thể đầu tư vào các tài sản thực tại Mỹ. Nhưng khi Trung Quốc cố gắng làm điều đó, đôi khi nó gặp phải sự phản kháng (như khi Trung Quốc cố gắng mua lại Unocal, một công ty dầu tương đối nhỏ của Mỹ với hầu hết các tài sản thực sự ở châu Á). Hoa Kỳ cho phép Trung Quốc mua lại những xe hơi gây ô nhiễm cao nhất, xe Hummer, cũng như khối laptop của công ty IBM, nay đã trở thành Lenovo. Trong khi Hoa Kỳ đang có vẻ cởi mở đối với đầu tư trong nhiều lĩnh vực, nó có một khái niệm rộng về các lĩnh vực ngành nghề là rất quan trọng đối với an ninh quốc gia và chúng được bảo vệ để không bị đầu tư, và điều này có nguy cơ làm xói mòn các nguyên tắc cơ bản của toàn cầu hóa: nước Mỹ đã nói với các quốc gia đang phát triển rằng họ phải mở cửa thị trường của mình để có hình thức sở hữu nước ngoài như một phần trong nguyên tắc cơ bản của cuộc chơi.
Nếu Trung Quốc bán ra một lượng đồng đô la đáng kể trong gói dự trữ của mình, tỷ giá đồng Nhân dân tệ (NDT) so với đô la Mỹ sẽ cao hơn, theo đó sẽ cải thiện cán cân thương mại song phương của Hoa Kỳ với Trung Quốc. Tuy nhiên, chỉ có thể làm ít hơn những gì người ta hy vọng đối với sự thâm hụt thương mại tổng thể của Hoa Kỳ – Hoa Kỳ sẽ chỉ mua hàng dệt may từ một nước đang phát triển khác. Nhưng điều này sẽ có nghĩa là Trung Quốc sẽ tổn thất lớn khi nắm giữ một lượng trái phiếu chính phủ ngắn hạn do Hoa Kỳ phát hành và các tài sản khác có giá trị danh nghĩa tính bằng đô la.
Theo một khía cạnh nhất định thì dường như Trung Quốc đang trong thế “kẹt”. Nếu bán ra lượng đô la, nó phải chịu thiệt hại lớn về dự trữ và xuất khẩu. Nếu giữ lại đồng đô la, nó trì hoãn được những tổn thất về dự trữ, nhưng sự điều chỉnh cuối cùng sẽ phải diễn ra theo một tình huống nào đó. Có lẽ những lo lắng về việc mất mát trong kinh doanh đã được phóng đại: Trung Quốc hiện đang cung cấp dịch vụ tài chính “dạng bán lẻ trực tiếp” – có nghĩa là, nó cung cấp tiền cho những người nào mua hàng hóa của mình. Thay vì cho Hoa Kỳ vay tiền để mua hàng hóa của mình, Trung Quốc có thể cho những quốc gia khác trên thế giới vay – và nó đang tích cực làm điều này – hoặc thậm chí cho công dân của mình vay tiền.
MỘT HỆ THỐNG DỰ TRỮ TOÀN CẦU MỚI
Quan tâm đến việc nắm giữ đồng đô la Mỹ, tháng 3/2009, người đứng đầu ngân hàng trung ương Trung Quốc đã bày tỏ sự ủng hộ một ý tưởng đã có từ lâu: thành lập một loại tiền tệ dự trữ toàn cầu.[344] Keynes đã phát triển ý tưởng này từ 75 năm trước, và đó là một phần trong khái niệm ban đầu của ông về Quỹ Tiền tệ Quốc tế.[345] Ngoài ra, sự ủng hộ cho ý tưởng này còn đến từ nơi khác – một ủy ban bao gồm các chuyên gia của Liên Hợp Quốc – thảo luận việc tái cấu trúc hệ thống kinh tế và nền tài chính toàn cầu, do tôi chủ trì.[346]
Các nước đang phát triển, dẫn đầu là Trung Quốc, hiện đang nắm giữ hàng nghìn tỷ đô la dự trữ, số tiền này họ có thể rút ra sử dụng trong trường hợp có khủng hoảng như Đại suy thoái. Trong chương 1, tôi đã nhấn mạnh rằng cuộc khủng hoảng này cho thấy vấn đề về sự suy giảm trong tổng cầu. Đáng buồn thay, cho đến nay, cả chính quyền Mỹ cũng như nhóm G–20 thậm chí còn chưa bắt đầu thảo luận về căn nguyên này, chứ đừng nói đến việc hành động. Lượng cấp phát hàng năm từ một loại tiền tệ dự trữ toàn cầu mới sẽ có nghĩa là các quốc gia không còn phải dành riêng ra một phần thu nhập hiện nay của họ để bảo vệ chống lại các bất ổn toàn cầu, mà thay vì thế, họ có thể để dành loại tiền “vừa được phát hành”. Theo đó, tổng cầu trên toàn thế giới sẽ tăng và nền kinh tế toàn cầu được củng cố.
Còn có hai lý do quan trọng khác cho sáng kiến này. Lý do đầu tiên là hệ thống hiện nay không ổn định. Các nước hiện nắm giữ đồng đô la để đảm bảo cho đồng nội tệ và đất nước của họ như một loại bảo hiểm chống lại những biến động của thị trường toàn cầu. Khi đồng đô la được những người nước ngoài dùng làm dự trữ ngày càng nhiều hơn, sự lo lắng về khoản nợ ngày càng tăng của Mỹ ở nước ngoài cũng lớn hơn.
Còn có một lý do giải thích tại sao hệ thống hiện thời góp phần vào sự mất ổn định. Nếu một số nước nhấn mạnh đến thặng dư thương mại (xuất khẩu cao hơn nhập khẩu) để có được lượng dự trữ, thì các quốc gia khác phải có thâm hụt thương mại; tổng thặng dư phải bằng tổng thâm hụt. Tuy nhiên, thâm hụt thương mại có thể là một vấn đề – các quốc gia với thâm hụt thương mại liên tục có nhiều khả năng phải đối mặt với một cuộc khủng hoảng kinh tế – còn các nước đã làm việc chăm chỉ có thể sẽ không gặp nguy cơ này. Nếu một số quốc gia thoát khỏi sự thâm hụt thương mại, thì mức thâm hụt của một số nước khác phải tăng (nếu các quốc gia có thặng dư không thay đổi hành vi của họ), do đó thâm hụt thương mại cũng giống như một củ khoai tây nóng. Trong những năm gần đây, hầu hết các nước đã học được cách làm thế nào để tránh thâm hụt, với kết quả là Hoa Kỳ đã trở thành “giải pháp cuối cùng của sự thâm hụt”. Về lâu dài, vị thế của Mỹ rõ ràng là không thể bảo vệ được. Tạo ra một loại tiền tệ dự trữ toàn cầu với lượng cấp phát hàng năm sẽ cung cấp một vùng đệm. Một đất nước có thể chịu thâm hụt thương mại quy mô nhỏ và vẫn có thể dự trữ cho mình, bởi vì nhận được sự phân bổ tiền tệ dự trữ toàn cầu mới. Khi các nhà đầu tư thấy lượng dự trữ, họ sẽ có niềm tin.
Các quốc gia nghèo đang cho Hoa Kỳ vay hàng trăm, thật ra là hàng nghìn tỷ đô la với mức lãi suất thấp (trong năm 2009 là gần bằng không). Việc họ làm điều đó ngay khi có rất nhiều dự án trong nước với tỷ suất lợi nhuận cao là minh chứng cho tầm quan trọng của việc dự trữ và độ lớn của sự mất ổn định toàn cầu. Trong khi các chi phí để duy trì dự trữ là rất cao, các lợi ích vẫn còn cao hơn chi phí. Giá trị của các khoản viện trợ nước ngoài ngấm ngầm mà Hoa Kỳ nhận được, qua việc đi vay với lãi suất thấp hơn mức có thể có, theo một số tính toán là vượt quá tổng giá trị viện trợ ra nước ngoài mà Hoa Kỳ thực hiện.[347]
Một loại tiền tệ dự trữ hiệu quả cần phải có giá trị lưu trữ tốt – một loại tiền tệ ổn định – nhưng đồng đô la Mỹ đã rất dễ biến động và có thể sẽ vẫn tiếp tục như vậy trong tương lai. Nhiều nước nhỏ hơn đã không còn giữ phần lớn dự trữ của mình bằng đồng đô la, và thậm chí cả Trung Quốc cũng được báo cáo là có một phần tư hoặc nhiều hơn trong số dự trữ của mình là bằng các loại tiền tệ khác. Câu hỏi đặt ra ở đây không phải là: liệu thế giới sẽ cùng nhau di chuyển ra khỏi hệ thống dự trữ bằng đồng đô la hay không, mà là: liệu thế giới có làm điều đó sau khi suy nghĩ kỹ và làm một cách thận trọng hay không. Nếu không có một kế hoạch rõ ràng thì hệ thống tài chính toàn cầu sẽ trở nên bất ổn hơn.
Một số người tại Mỹ vẫn chống lại các động thái nhằm tạo ra một hệ thống dự trữ toàn cầu. Họ chỉ nhìn thấy lợi ích khi có thể vay với chi phí thấp, nhưng họ không nhìn thấy các loại chi phí, mà tổng số là rất lớn. Phát hành và xuất khẩu trái phiếu chính phủ ngắn hạn để chúng nằm trong lượng dự trữ của nước ngoài sẽ không tạo ra công ăn việc làm; trong khi xuất khẩu hàng hóa là chắc chắn sẽ tạo ra nhiều việc làm nhất. Mặt trái của nhu cầu cần có trái phiếu chính phủ Hoa Kỳ ngắn hạn và tiền để dự trữ là sự thâm hụt thương mại của Mỹ, và thâm hụt thương mại làm suy yếu tổng cầu của đất nước. Để bù đắp, chính phủ tiến hành sự thâm hụt tài chính.[348] Đó là tất cả đối với một “sự cân bằng”: để tài trợ cho sự thâm hụt, chính phủ bán trái phiếu ngắn hạn ra nước ngoài (một cách khác để nói rằng chính phủ đi vay tiền), và phần nhiều trong số trái phiếu này sau đó được đưa vào phần dự trữ.
Với một loại tiền tệ dự trữ toàn cầu mới, các quốc gia sẽ không cần phải mua trái phiếu chính phủ ngắn hạn của Hoa Kỳ để dự trữ. Tất nhiên, điều đó cũng có nghĩa là giá trị của đồng đô la Mỹ sẽ giảm, xuất khẩu của Mỹ sẽ tăng, nhập khẩu của Mỹ sẽ giảm, tổng cầu sẽ mạnh mẽ hơn, và yêu cầu đối với chính phủ phải chịu thâm hụt lớn để duy trì nền kinh tế có đầy đủ việc làm sẽ giảm đi. Khi đã biết rằng khó có thể đi vay thì sự hoang phí của người Mỹ sẽ bị hạn chế, củng cố cho sự ổn định toàn cầu. Nước Mỹ, cả thế giới nữa, sẽ hưởng lợi từ hệ thống mới này.
Đã có những sáng kiến để dàn xếp việc dự trữ cho các khu vực. Sáng kiến Chiang Mai ở Đông Á cho phép các quốc gia trao đổi lượng dự trữ với nhau; để đối phó với cuộc khủng hoảng, họ tăng quy mô của chương trình lên đến 50%.[349] Thế giới có thể dịch chuyển vào hệ thống gồm hai (hoặc ba) loại tiền tệ, trong đó cả đồng đô la và đồng euro đều được sử dụng. Nhưng một hệ thống như thế này còn có thể bất ổn hơn cả hệ thống hiện có. Đối với thế giới, điều đó có nghĩa là nếu đồng euro được dự đoán là sẽ tăng giá trị tương đối so với đồng đô la, thì các nước sẽ bắt đầu chuyển sang nắm giữ euro. Khi họ làm điều này, đồng euro mạnh hơn, củng cố niềm tin của các quốc gia – cho đến khi có một sự kiện nào đó, một biến động chính trị[350] hoặc kinh tế, khởi đầu quá trình ngược lại. Đối với châu Âu, việc này sẽ gây ra một vấn đề đặc biệt, vì các nước trong Liên minh châu Âu bị hạn chế trong khả năng tiến hành thâm hụt tài chính nhằm bù đắp cho lượng cầu suy yếu.
Một hệ thống dự trữ toàn cầu dựa trên đồng đô la đang gặp phải thách thức, nhưng các nỗ lực để tạo ra một sự thay thế mới chỉ được bắt đầu. Các quan chức ngân hàng trung ương ít nhất cũng đã học được bài học căn bản về quản lý sự thịnh vượng – đa dạng hóa – và trong những năm qua đã có nhiều nơi dịch chuyển lượng dự trữ ra khỏi đồng đô la. Trong năm 2009, nhóm G–20 đã thống nhất phát hành một lượng lớn (tương đương 250 tỷ đô la) Quyền rút vốn đặc biệt (SDR: Special Drawing Rights), đây là một loại tiền tệ dự trữ toàn cầu do IMF tạo ra. Nhưng SDR có những hạn chế đáng kể. Chúng được phân bổ cho các quốc gia trên cơ sở “hạn ngạch” của IMF dành cho chúng (phần đóng góp thực sự của các nước) – trong đó Hoa Kỳ nhận được phần lớn nhất. Nhưng rõ ràng là Hoa Kỳ không có nhu cầu nắm giữ khoản dự trữ, đơn giản là vì nó có thể in tiền đô la. Hệ thống sẽ làm việc tốt hơn nhiều nếu như lượng dự trữ được phân bổ cho các quốc gia mà nếu không được phân bổ thì họ sẽ gia tăng phần dự trữ của mình; hay nói cách khác là các phần dự trữ toàn cầu mới sẽ đến với các nước nghèo đang cần hỗ trợ.[351]
Mọi chuyện sẽ còn tốt đẹp hơn nếu hệ thống mới được thiết kế để ngăn cản thặng dư thương mại. Hoa Kỳ vẫn thường lớn tiếng phê phán Trung Quốc về thặng dư của quốc gia này, nhưng trong trật tự hiện nay thì các quốc gia đều có động cơ mạnh mẽ để duy trì lượng dự trữ, và họ dùng thặng dư để tăng thêm dự trữ. Những quốc gia nào có lượng dự trữ lớn sẽ có tình trạng tốt hơn nhiều trong giải quyết khủng hoảng này so với những nước không có dự trữ thích hợp. Trong một hệ thống dự trữ toàn cầu được thiết kế tốt, các nước có thặng dư liên tục sẽ bị giảm bớt khoản phân bổ tiền tệ dự trữ, và điều này, đến lượt nó, sẽ khuyến khích họ duy trì sự cân bằng tốt hơn. Một hệ thống dự trữ toàn cầu được thiết kế tốt có thể tiến xa hơn trong việc ổn định nền kinh tế toàn cầu, bởi vì nếu tiền tệ dự trữ toàn cầu được tung ra nhiều hơn khi tăng trưởng toàn cầu là yếu, nó sẽ kích thích tiêu dùng – đồng thời là sự tăng trưởng và nhiều công ăn việc làm hơn.[352] Với sự hỗ trợ từ Hoa Kỳ, một hệ thống dự trữ toàn cầu mới có thể được nhanh chóng hình thành. Câu hỏi đặt ra là liệu có hay không và khi nào thì chính quyền Obama mới nhận ra mức độ thiết yếu của hệ thống này đối với Hoa Kỳ và thế giới. Rủi ro ở đây là nước Mỹ sẽ chôn đầu của mình trong cát. Thế giới sẽ dịch chuyển ra khỏi hệ thống dự trữ bằng đồng đô la. Nếu không có sự thống nhất về việc tạo ra một hệ thống dự trữ toàn cầu mới, thế giới có khả năng dịch chuyển ra khỏi đồng đô la và đi vào một hệ thống dự trữ với nhiều loại tiền tệ khác nhau, tạo ra bất ổn tài chính toàn cầu trong ngắn hạn và trong dài hạn là một chế độ còn bấp bênh hơn hệ thống hiện nay.
Cuộc khủng hoảng này hầu như chắc chắn đã đánh dấu một sự thay đổi trong trật tự kinh tế và chính trị toàn cầu. Quyền lực và tầm ảnh hưởng của Hoa Kỳ sẽ bị giảm bớt; còn của Trung Quốc thì tăng thêm. Ngay từ trước khủng hoảng, một hệ thống dự trữ toàn cầu phụ thuộc vào một loại tiền tệ của một quốc gia đã dường như không đồng bộ với tiến trình toàn cầu hóa trong thế kỷ XXI – nhất là với tình hình thay đổi thất thường của đồng đô la trong nền kinh tế và chính trị Hoa Kỳ.
HƯỚNG ĐẾN CHỦ NGHĨA ĐA PHƯƠNG HÓA THƯƠNG MẠI (MULTILATERALISM)
Sau thảm họa của cuộc Đại Suy thoái và Thế chiến thứ hai, một trật tự toàn cầu mới đã được hình thành và một tập hợp các định chế mới đã được thiết lập. Bộ khung này đã làm việc trong nhiều năm nhưng nó ngày càng trở nên không phù hợp trong việc quản lý hệ thống kinh tế toàn cầu đang phát triển. Cuộc khủng hoảng hiện nay đã cho thấy toàn bộ các hạn chế của nó. Khi Hoa Kỳ cố gắng loay hoay tháo gỡ các vấn đề trong nước, phần lớn nỗ lực để tái tạo lại thế giới như những gì đã có trước khi khủng hoảng xảy ra, thì người ta cũng làm tương tự trên trường quốc tế. Trong khi giải quyết hậu quả của cuộc khủng hoảng toàn cầu cách đây 10 năm, người ta đã thảo luận nhiều về những cải cách trong "cấu trúc tài chính toàn cầu”. Người ta hoài nghi rằng những người muốn giữ nguyên hiện trạng (bao gồm cả những người từ Mỹ và các thị trường tài chính phương Tây khác đã hưởng lợi từ cách thức vận hành, và các đồng minh của họ trong chính phủ) đã “đại ngôn” để bao che cho chương trình thực của họ: người ta chỉ nói và chỉ nói suông, cho đến khi cuộc khủng hoảng đã đi qua, và với kết thúc của cuộc khủng hoảng thì cũng không còn gì cần giải quyết nữa. Trong những năm sau cuộc khủng hoảng 1997 – 1998, người ta đã làm rất ít việc rõ ràng; làm quá ít đến mức không thể ngăn chặn được một cuộc khủng hoảng lớn hơn. Liệu điều này có xảy ra một lần nữa?
Hoa Kỳ, nói riêng, cần làm những gì có thể làm nhằm củng cố cho chủ nghĩa đa phương hóa thương mại (multilateralism) – có nghĩa là dân chủ hóa, tiến hành cải cách, cũng như tài trợ cho IMF và Ngân hàng Thế giới sao cho các nước đang phát triển nhận thấy ít có nhu cầu hơn để quay sang sự hỗ trợ song phương khi cần thiết (cho dù là từ Trung Quốc, Nga hoặc châu Âu). Nước Mỹ phải quay lưng lại với chủ nghĩa bảo hộ và các hiệp định thương mại song phương của thời kỳ Bush. Những điều này đã làm xói mòn hệ thống thương mại đa phương mà rất nhiều quốc gia đã làm việc tích cực để tạo ra trong 60 năm qua. Hoa Kỳ cần hỗ trợ để thiết kế nên một hệ thống quản lý tài chính toàn cầu được phối hợp kiểu mới (mà nếu không có hệ thống này thì các thị trường tài chính có nguy cơ bị phân mảnh) và hỗ trợ cho hệ thống dự trữ toàn cầu mới đã được mô tả như trên. Nếu không có những nỗ lực này, thì các thị trường tài chính toàn cầu có nguy cơ rơi vào một kỷ nguyên mới của sự bất ổn và thế giới lại tiếp tục một kỷ nguyên suy yếu kinh tế. Nói rộng ra, Hoa Kỳ cần hỗ trợ và tăng cường sự điều tiết bằng hệ thống quy định trên phạm vi quốc tế, nếu không thì mọi chuyện sẽ đều là bất khả thi.
Trong những năm nước Mỹ hân hoan chiến thắng, giai đoạn từ khi Bức tường Berlin sụp đổ đến khi Lehman Brothers sụp đổ, nó đã không sử dụng quyền lực và tầm ảnh hưởng của mình để định hình sự toàn cầu hóa theo cách thức công bằng, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển. Chính sách kinh tế của Hoa Kỳ đã dựa vào các lợi ích cho bản thân quốc gia nhiều hơn là dựa trên các nguyên tắc – hay chính xác hơn, là dựa trên những ham muốn và ác cảm của các nhóm lợi ích đặc biệt đã từng, và sẽ tiếp tục, đóng một vai trò quan trọng trong việc hoạch định nên chính sách. Châu Âu không những đã kêu gọi việc giải quyết những mối quan ngại về người nghèo tại các nước đang phát triển, mà nhiều quốc gia châu Âu đã thực sự chuyển tiền của họ đến những nơi mà họ đã nói đến. Trong những năm dưới thời chính quyền Bush, nước Mỹ thường xuyên hành động nhằm làm suy yếu chủ nghĩa đa phương hóa thương mại.
Quyền bá chủ kinh tế của Mỹ sẽ không còn được thừa nhận theo cách thức mà nó từng có trước kia. Nếu Hoa Kỳ muốn nhận được sự tôn trọng của các quốc gia khác, nếu muốn gây ảnh hưởng như đã từng làm, nó sẽ phải giành được điều đó không chỉ bằng lời nói mà còn bằng hành động, thông qua cả việc nêu gương ngay trong nước – bao gồm cả cách đối xử với những bên chịu thiệt thòi – lẫn những gì thực hiện ở nước ngoài.
Hệ thống kinh tế toàn cầu đã không làm việc như nhiều người hy vọng. Toàn cầu hóa đã dẫn đến sự thịnh vượng chưa từng có cho nhiều quốc gia, nhưng trong năm 2008 nó đã giúp lan tỏa sự suy thoái kinh tế của Hoa Kỳ đến các nước khác trên thế giới – đến những nước đã quản lý tốt hệ thống tài chính của họ (tốt hơn nhiều so với Hoa Kỳ) và cả những quốc gia đã không quản lý tốt, lan sang những nước đã thu hoạch được rất nhiều trái ngọt từ toàn cầu hóa và cả những nước được hưởng lợi ít hơn. Không ngạc nhiên là những nước mở cửa nhiều nhất, chịu ảnh hưởng toàn cầu hóa nhiều nhất, là những nước bị ảnh hưởng tồi tệ nhất. Ý thức hệ về thị trường tự do đã được dùng làm nền móng cho các định chế và hiệp định xây dựng nên khuôn khổ cho tiến trình toàn cầu hóa; tương tự như vậy, các ý tưởng này đã làm cơ sở cho việc bãi bỏ quy định – yếu tố đóng một vai trò lớn trong việc tạo ra cuộc khủng hoảng hiện nay, chúng củng cố cho quá trình tự do hóa thị trường vốn và thị trường tài chính – yếu tố quan trọng trong việc làm cho khủng hoảng lây lan nhanh chóng ra toàn cầu.
Chương này đã trình bày việc cuộc khủng hoảng có thể sẽ làm thay đổi trật tự kinh tế toàn cầu như thế nào, bao gồm sự cân bằng quyền lực kinh tế toàn cầu – và một số cải cách quan trọng, bao gồm cả việc tạo ra một hệ thống dự trữ toàn cầu kiểu mới, có thể giúp phục hồi sự thịnh vượng và ổn định toàn cầu như thế nào. Nhưng trong dài hạn, thành công trong việc duy trì sự thịnh vượng toàn cầu phụ thuộc vào sự hiểu biết tốt hơn về việc nền kinh tế thực hiện các chức năng của nó như thế nào. Và điều này sẽ đòi hỏi không những sự cải cách nền kinh tế, mà còn cả trong kinh tế học. Đó là chủ đề của chương kế tiếp.

