Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 4

IV.

TÀ ĐẠO, HỦ TỤC

Tà đạo là những tổ chức, giáo phái mà mục đích, quan niệm và hình thức hoạt động ngược với đạo giáo chính thống hoặc áp đặt trái với tự nhiên, cuộc sống, có khi mang yếu tố mê tín dị đoan, gây hậu hoạ xấu cho xã hội, con người.

Hủ tục là những tập quán, quan niệm lạc hậu, dã man không còn phù hợp với xã hội tiến bộ và coi trọng quyền bình đẳng của con người.

Về khía cạnh nào đó, tâm linh, mê tín dị đoan sinh ra tà đạo, hủ tục. Ngược lại tà đạo, hủ tục làm méo mó tâm linh, gây ra mê tín dị đoan, cuồng tín.

Tà Đạo

Đâu đó ở một số quốc gia có những môn phái hình thành ngoài các đạo chính thống có lịch sử lâu đời như Phật giáo, Công giáo. Theo các nguồn thông tin trên mạng và báo chí, thì các môn phái này cũng mệnh danh là “giáo phái” này, nọ như: Thiền vô vi, Pháp luân công, Khí công, Vô thượng sư, Võ lâm, Dưỡng sinh, Nhân điện, giáo phái đa thê…

Mới đầu, do một cá nhân hoặc một nhóm người manh nha thành lập, cũng có định hướng, mục đích cho giáo pháp “hướng thiện”, võ thuật, rèn luyện thân thể, nâng cao sức khoẻ cho con người, kể cả lợi dụng uy tín, đạo pháp, luân lý của các đạo giáo chính thống, thậm chí luồn lách cả vào tín ngưỡng, tâm linh để tạo dựng uy tín cho môn phái mới của mình. Chính vì thế các giáo phái này tỏ ra hấp dẫn, thu hút khá đông người nhẹ dạ, cả tin hăng hái tham gia vào môn phái.

Thế nhưng dần dần sự truyền giáo và hoạt động của các loại hình giáo phái cứ pha trộn, bóp méo, trở thành “tà đạo” và can thiệp cả vào chính sự, tôn giáo, quốc gia, lôi kéo, tụ tập, hành xử gây rối loạn trật tự công cộng, làm bức xúc trong cộng đồng, bận tâm pháp chế nhà nước.

Quá trình hoạt động, tà đạo cũng như những tin thất thiệt, tin đồn nhảm nhí, nhưng có tổ chức, nếu không ngăn chặn kịp thời sẽ gây hậu quả khó lường.

Một số nước đã từng có những Tà đạo hoạt động trái pháp luật. Các luận điệu phản động thì rêu rao là “tự do nhân quyền”, nhưng trước những tác động xấu gây bức xúc cho cộng đồng và tai hoạ cho xã hội, nhà nước đó đã phải ra tay dẹp bỏ. Ở những vùng dân tộc thiểu số và nơi người dân hạn chế hiểu biết, thường bị Tà đạo lợi dụng, nảy sinh, lôi kéo và phát triển.

Những năm của thập niên 80-90, thế kỷ XX, tại Nhật Bản xuất hiện Giáo phái Aum Shinrikyo, do Giáo chủ Shoko Asahara khởi xướng. Theo thông tin “Hồ sơ mật” trên báo An ninh thế giới, số 1172, của Lê Miên Tường, lấy từ CNN, BBC News:

“Asahara sinh ra trong một gia đình nghèo, đông con, làm nghề chiếu cói ở tỉnh Kumamoto, từ nhỏ đã bị ảnh hưởng bởi bệnh Glocom về mắt bẩm sinh, nên mù mắt trái, còn mắt phải cũng chỉ nhìn rất yếu, do vậy được đưa vào trường dành cho người mù. Sau tốt nghiệp trung học năm 1977, Asahara tiếp tục học châm cứu và y học truyền thống Trung Quốc. Năm 1981, Asahara bị kết tội hành nghề y trái phép và phải nộp một khoản tiền lên đến 200.000 yên. Vào thời điểm này, Asahara bắt đầu tìm hiểu về tôn giáo: Thuật chiêm tinh Trung Hoa và các đạo Lão, Khổng, rồi sau đó là Hindu, Phật giáo, Yoga Ấn Độ.

Sau khi trở về từ Ấn Độ vào năm 1987, Asahara nói với các học trò rằng mình đã đạt được mục đích cuối cùng là sự khai sáng. Những môn đệ gần gũi nhất cung cấp tiền và Asahara sử dụng để mở khoá học Yoga nâng cao kéo dài vài ngày, thu hút rất nhiều người quan tâm đến cải thiện đời sống tinh thần. Từ đó, tổ chức dần dần lớn mạnh, có lúc lên tới 50.000 người. Năm 1987 cũng là năm Shoko Asahara đổi tên mình và xin phép chính quyền thành lập giáo phái Aum Shinrikyo. Asahara viết rất nhiều sách về tôn giáo. Cuốn nổi tiếng nhất là “Vượt qua sự sống và cái chết”, “Kinh Mahayana” và “Sự khởi đầu”.

Giáo phái Aum Shinrikyo hoạt động như là một giáo phái thần bí, tập hợp một nhóm người và rao giảng về ngày tận thế từ những năm 1980. Đến đầu những năm 1990, bắt đầu rao giảng tư tưởng giết người và tiến hành sản xuất chất độc sarin. Ngày 20 tháng 3 năm 1995, các thành viên của Aum Shinrikyo rải chất độc sarin trên tàu điện ngầm Tokyo, làm chết 13 người và khoảng 5.500 người khác bị thương, chấn thương thần kinh và hệ hô hấp, gây chấn động kinh hoàng cả thế giới.

Trước hành động nguy hiểm của giáo phái Aum Shinrikyo, nhà nước Nhật Bản đã phải ra tay. Nhiều tín đồ đã bị bắt giữ, nhiều cơ sở giáo phái bị bao vây. Toà án ra lệnh bắt Giáo chủ Asahara. Sau đó Asahara bị kết 27 tội danh giết người trong 13 bản cáo trạng khác nhau. Bên công tố lập luận rằng Asahara “ra lệnh tấn công hệ thống tàu điện ngầm Tokyo” nhằm mục đích “lật đổ chính quyền và đưa bản thân lên vị trí Nhật Hoàng”.

Asahara bị tuyên án tử hình bằng cách treo cổ vào ngày 27 tháng 2 năm 2004. 200 thành viên và lãnh đạo giáo phái thần bí Aum Shinrikyo đã bị bắt giữ, một số trốn chạy sau 17 năm, đã bị truy nã và tận diệt”.

Tà đạo “Đạo tràng Thanh Hải Vô Thượng sư” do Đặng Thị Trinh, còn gọi là Nguyễn Thị Thanh Hải, xuất thân từ thôn Vĩnh Bình, xã Phổ Ninh, huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi, sau những năm sống ở nước ngoài, đến năm 1989 lập ra tại vùng núi Bạch Hoa, Đài Loan, mệnh danh là “Thanh Hải Vô thượng sư”.

Năm 1991, tìm cách thâm nhập vào Việt Nam, tà đạo Thanh Hải câu kết với một số Việt kiều có tư tưởng phản động rồi dùng mọi hình thức rải tờ rơi, phát hành băng, đĩa CD ca nhạc, rao giảng, tuyên truyền, kích động, lôi kéo nhằm lung lạc, mê hoặc lòng người để thực hiện âm mưu gây rối trật tự xã hội, mất đoàn kết trong cộng đồng và chống phá nhà nước. Ở nhiều địa phương, đám “đồng tu” ngồi thiền tập trung, xem băng hình của “sư phụ”, bán kinh sách, tổ chức đón “sứ giả” từ nước ngoài về truyền “tâm ấn”. Tờ bướm phản động quảng cáo cho tà đạo tại Việt Nam bị quần chúng nhân dân cảnh giác, phát hiện và kịp thời thông báo cho các cơ quan chức năng.

Mặc dù triển khai ra hàng chục tỉnh thành phía Nam, Tây Nguyên nhưng với những chiêu lừa đảo, xuyên tạc, bất minh, tà đạo này bị chính những người trong cuộc thức tỉnh, hiểu ra, bỏ cuộc và nhiều đồng tu, cộng sự đã tẩy chay, đốt bỏ băng hình, kinh sách rồi trình diện với cơ quan pháp luật của nhà nước.

Bài viết “Xử phạt Tiên nữ giáng trần”, trên trang mạng Yahoo, tác giả Xuân Bình - Đại Dương cho biết về Nguyễn Kim Hà ở xã Cầu Khởi, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh tự xưng là “Tiên nữ út” của Phật Bà Quan Thế Âm từ trời đầu thai xuống, sáng lập ra “giáo phái” mới có tên “Cao Đài đại đạo tứ kỳ phổ độ”.

Đây là hình thức truyền bá đạo trái pháp luật và chữa bệnh phản khoa học, lừa đảo những người nhẹ dạ cả tin, gây mê tín dị đoan trong nhân dân. Nguyễn Kim Hà đã tập hợp những người thiếu hiểu biết, bị bệnh tật làm đệ tử gia nhập môn phái với các pháp danh “Na Tra”, “Đại Thánh”. Sau khi nhập giáo phái, được “tiên nữ” dùng nước lã khấn vái, niệm thần chú và cho người bệnh uống. “Tiên nữ” còn tuyên truyền, sau khi uống nước và “chịu khó” cúng lễ vào các ngày mùng 8, 12, 18 âm lịch hàng tháng sẽ khỏi bệnh!?

Trước hoạt động trái pháp luật và gây mê tín dị đoan của “Giáo phái Cao Đài đại đạo tứ kỳ phổ độ” do Nguyễn Kim Hà “sáng lập”, cuối tháng 8 năm 2011, chính quyền xã Cầu Khởi đã đưa Nguyễn Kim Hà cùng các đối tượng ra cảnh cáo trước nhân dân và xử phạt về hành vi hoạt động mê tín dị đoan.

Đâu đó, ở miền núi phía Bắc, Tây Nguyên, từng có một số người mệnh danh đạo này, đạo nọ, nhen nhóm mầm mống phản động nhằm lừa dối, lôi kéo đồng bào tham gia vào những hoạt động gây mất trật tự an ninh. Nhưng rồi những tổ chức sai trái này cũng bị thất bại.

Câu hỏi đặt ra là tại sao đang yên, đang lành mà có người lại tự nhiên đi theo những cái vu vơ như vậy để chuốc hoạ vào thân, có khi còn vi phạm pháp luật và mang tiếng phản động, hại nước! Cho dù có mê hoặc, dùng tiền mua chuộc nhưng tà đạo vẫn hiện nguyên hình những âm mưu thâm độc, bất chính chống lại nhân tâm con người.

Thời gian qua đi, nhưng để lại cho những kẻ tạo ra tà đạo bất chính và những ai còn mê hoặc bài học về lòng tin, sự minh triết trong sứ mệnh an bình cho bản thân, quốc gia, dân tộc. Đồng thời cũng cảnh báo mọi người hãy nâng cao hiểu biết, vững vàng bản lĩnh, cảnh giác với mọi âm mưu, thủ đoạn làm lung lạc tinh thần, phá vỡ lòng tin, làm đảo lộn cuộc sống của chính bản thân mình và xã hội, ảnh hưởng đến an ninh đất nước.

Hủ tục

Mỗi quốc gia có nhiều dân tộc khác nhau. Mỗi tộc người lại có những phong tục, tập quán khác nhau. Trong các phong tục, tập quán đó có rất nhiều phong tục, tập quán hay trở thành giá trị văn hoá truyền thống, nhân văn được bảo tồn hoặc là di sản văn hoá của thế giới được giữ gìn, tôn vinh, bảo vệ.

Phong tục, tập quán là những kinh nghiệm, quan niệm, thói quen và thường gắn với tâm linh có khi cả mê tín dị đoan của mỗi tộc người ở từng vùng. Phong tục Tết cổ truyền, cưới hỏi, tang gia, sinh hoạt, làm ăn… đều mang những sắc thái vừa chung lại vừa riêng rất đa dạng, phong phú. Cái hay, cái đẹp thì cần gìn giữ, phát huy để trở thành giá trị văn hoá chung, nhưng cũng còn nhiều “hủ tục” lạc hậu gây không ít phức tạp, khó khăn cho đời sống, xã hội, vi phạm đạo đức, pháp luật, nhất là tâm linh của con người.

Trong thời đại mà nền văn minh đang chuyển những bước khổng lồ, chúng ta không thể tưởng tượng lại còn những hủ tục làm nhức nhối lòng người.

Theo tư liệu đăng tải trên các phương tiện thông tin, báo chí, rất nhiều hủ tục đau lòng vẫn cứ diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi.

Tư tưởng trọng nam gắn sâu, bắt rễ vào quan niệm của người phương Đông mà sinh nhiều hệ luỵ đáng buồn. Một gia đình sinh hai con gái xinh xắn, đã cố tình sinh con thứ ba, may sao là con trai. Từ đấy, đứa con trai trở thành quý tử, được nuông chiều và mặc nhiên hai chị phải ra rìa trong đối xử của người lớn. Sự mất công bằng đã nảy sinh bực tức của hai chị đối với em trai, cho rằng tại vì nó mà nên như thế và cũng thành kiến cả với cha mẹ về chuyện trái khoáy này. Thế là sự mâu thuẫn, bất hoà cứ thế diễn ra hàng ngày, làm cho không khí gia đình không còn đầm ấm, hạnh phúc như xưa. Hậu hoạ của vấn đề này còn gây ra sự lựa chọn giới tính, nạo phá thai, vừa vi phạm đạo đức vừa đe doạ tính mạng thai sản. Các cậu ấm được nuông chiều sinh ra hư hỏng, làm đau lòng cha mẹ. Lựa chọn giới tính sẽ làm mất cân bằng sinh thái, thừa nam, thiếu nữ, gây ra biến động xã hội khó lường.

Đôi trai gái yêu nhau tha thiết, rồi chỉ vì xem tuổi theo lối cổ xưa cho là xung khắc, không hợp, mà gia đình không cho lấy nhau. Đôi bạn trẻ đã tìm đến cây cầu, dòng sông để bảo vệ cho mối tình nặng sâu, trong sáng của mình. Ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên vẫn còn có nơi tệ nạn thách cưới bằng trang sức, trâu bò, lợn, gà rất nặng nề. Ngay tại một thành phố hải cảng tầm cỡ ở Bắc bộ mà lễ ăn hỏi thuê tới 11 xe Taxi, mỗi xe thuê một người ngồi với một mâm lễ vật gồm trầu, cau, chè, thuốc, bia hộp, bánh Phu - Thê, con lợn quay… vô cùng tốn kém. Thế mà sau cuộc cưới là nợ nần, sinh mâu thuẫn, đánh nhau, rồi lôi nhau đi ly dị. Đồng bào một số dân tộc thiểu số phía Bắc, nhất là người Mông còn hủ tục cướp vợ, mặc dù cô gái không đồng ý hoặc tảo hôn, không thực hiện luật hôn nhân và gia đình, trai gái lấy vợ, lấy chồng rất sớm, có khi chỉ chín, mười tuổi, đang còn đi học.

Bất bình đẳng trong xã hội và tính “gia trưởng” ở người chồng sẽ gây ra bạo lực gia đình, khủng bố tinh thần người vợ, nhiều khi trở nên rất nặng nề, phá vỡ hạnh phúc, thậm chí gây ra án mạng.

Một cô gái 23 tuổi, người dân tộc Mơ Nông ở huyện Nam Trà My lỡ trót có thai với người yêu và bị dân làng buộc vào tội chửa hoang. Theo phong tục thì tội này phải tự đi đẻ ở ngoài rừng, cách ít nhất một con suối, sau một tháng mới được về. Muốn đẻ trong làng thì phải cúng con heo lớn và một con gà để trừ tà. Nếu không, trong làng sẽ xảy ra ốm đau, chết chóc, con gái trong làng sẽ bắt chước chửa hoang. Không có gà, heo để chuộc tội với làng nên khi chuyển dạ, cô đã phải vào rừng sinh con và sống một mình, chỉ nhờ vào những người qua lại làm cho túp lều nhỏ và cho ăn uống, con thì không được tắm mà chỉ lau chùi. Một tháng sau dân làng mới chấp thuận cho cô trở về.

Sau 20 ngày cụ Phạm C, 85 tuổi ở thôn Xuân Thiên Thượng, xã Vinh Xuân, huyện Phú Vang, Thừa Thiên Huế qua đời do tuổi già, một cháu gái 6 tuổi là bà con xa bị bệnh nặng. Gia đình không đưa đi khám chữa bệnh ở bệnh viện mà đi xem bói. Thầy liền phán rằng: Cháu bé bị “người âm” trong họ làm cho ốm đau đấy! Cụ C liền bị nghi ngờ là “con ma trùng” tìm cách bắt người trong họ. Thế là gia đình cháu gái kia đã đào trộm mộ cụ C trong đêm rồi cho rơm và xăng vào đốt và yểm bùa. Khi gia đình cụ C phát hiện, vác dao đòi chém gia đình đã xâm phạm mộ người nhà mình. Xã Xuân Thiên Thượng đã khẩn cấp mời hai gia đình về trụ sở xã tường trình. Cả hai bên đều thừa nhận hành vi mê tín dị đoan theo người xưa truyền lại rằng, nếu trong dòng họ có hai người chết tiếp theo nhau, thì con cháu phải quật mộ người chết trước đem chôn nơi khác mới được yên ổn!

Tại miền sơn cước huyện Tam Đường và biên giới Mường Khương, tỉnh Lai Châu, người dân tộc thiểu số còn tin vào thầy bói, thầy mo bảo: “Con ma ở trong đứa trẻ đã chết, nếu không chặt con ma thì ma tiếp tục đầu thai về nhà, sau này đẻ con sẽ bị chết.” Thế là nhà nào có con bị bệnh, cha mẹ mời thầy về cúng mà không sống liền bị cha đứa bé, hoặc thuê người mang ra rừng, ra suối chặt xác đứa trẻ thành 4 mảnh đốt cho cháy xém rồi ném ra bốn phía để trị con ma không về nhà nữa!

Một số vùng xa xôi ở Tây Nguyên, tin vào hủ tục “dọ-tơmamí” của người Jrai, Bana mà có những em bé sơ sinh là nạn nhân suýt bị chôn sống. Hủ tục đau lòng này diễn ra khi người mẹ sinh con, vì lý do nào đó mà bị chết hoặc khi sinh ra không có cha, hoặc bị dị tật là đứa trẻ phải chôn sống theo mẹ hoặc bị chôn sống. Người Hrê nghi ai trộm cắp, ém bùa làm chết gia súc thì đòi bắt trói và ném đá cho đến chết, dù có khi chỉ là những tin đồn nhảm, vu vơ.

Hình nhân thế mạng là một hủ tục bắt nguồn từ “tục tuẫn táng” dã man từ thời vua, chúa Trung Hoa xưa. Để vua chúa chết xuống âm phủ có người hầu hạ mà triều đình phong kiến cho chôn tỳ thiếp, quân hầu là người sống đi theo. Về sau nhân đạo hơn là dùng hình nộm bằng tre nứa, quấn bằng rơm rạ hoặc nặn bằng đất sét, ngoài dán giấy rồi vẽ mặt mũi, lễ xong đốt hình nhân cùng vàng mã. Nếu cúng Thủy thần, Long vương, Hà bá thì kết bè chuối đặt hình nhân lên thả trôi sông. Có người nghe theo bói toán nhảm nhí mời thầy về cúng bái, đốt hình nhân thế mạng. Đây cũng là dịp cái xấu, cái ác và mê tín dị đoan có cơ hội nảy sinh. Khi có người tư thù, ghét bỏ bèn nghĩ cách làm hình nhân, đề tên họ của kẻ thù vào ngực hình nhân rồi đem cắm ra ngã ba đường, thắp hương lên đầu hình nhân với mong muốn thần linh bắt tội người đó. Hành vi mất đạo đức này đã bị chính quyền phong kiến ra lệnh cấm. Thế mà trong xã hội văn minh ngày nay hủ tục hình nhân nhảm nhí, mê tín dị đoan cùng vàng mã vẫn còn có những thầy cúng thiếu hiểu biết bịa đặt ra để lừa gạt người nhẹ dạ cả tin.

Còn rất nhiều hủ tục trong cưới hỏi, tang gia, cúng bái, vàng mã nhiêu khê, phiền phức, tổn hại tiền của, mất thời gian, không còn phù hợp với xã hội văn minh mà vẫn chưa dứt bỏ được.

Ở một số nước trên thế giới, nhất là các nước vùng Ảrập, Châu Phi còn có những hủ tục ghê sợ và rất dã man. Cameroon có hủ tục “là ngực”, các bà mẹ thường dùng những hòn đá, vỏ quả dừa hoặc các vật dụng khác hơ nóng lên rồi lăn vào bầu vú của bé gái khi thành niên cho xẹp đi. Việc làm đau đớn này với mục đích cho các thiếu nữ kém hấp dẫn đi để tránh khỏi nguy cơ bị đàn ông quấy rối tình dục và mang thai khi mới lớn. Có đến 80% phụ nữ trẻ ở Cairo, nơi có nền văn minh Ai Cập mà còn phải đối mặt với nỗi đau của hủ tục rất man rợ, đau đớn là cắt bỏ bộ phận sinh dục ngoài âm vật. Đây là tục lệ, tập quán lâu đời từ gốc những người châu Phi. Cùng với khăn bịt kín mặt và không được giao tiếp với đàn ông, mục đích của việc cắt âm vật làm cho người phụ nữ không còn khoái cảm khi quan hệ tình dục và tránh những quan hệ ngoài hôn nhân mà ép vào khuôn khổ để chăm sóc gia đình nhà chồng.

Tại nhiều nước như: Albania, Bangladesh, Brazil, Đan Mạch, Ecuadov, Đức, Ấn Độ, Iraq, Israel, Pakistan, Saudi Arbia, Thuỵ Điển, Uganda, Anh, Mỹ… còn xảy ra hiện tượng Honor Killing (giết vì danh dự) của gia đình. Vì lý do từ chối hôn nhân, nạn nhân của vụ hiếp dâm, tìm cách ly dị, ngoại tình, của hồi môn bị chê là ít nên có khi còn thiêu cháy cô dâu. Ở Ghanar, một gia đình có thể bị trừng phạt cho tội lỗi bằng cách phải biến đứa con gái còn trinh tiết của mình thành nô lệ tình dục cho gia đình bị xúc phạm.

Chỉ vì hủ tục phải lo của hồi môn khi con gái đi lấy chồng mà nhiều gia đình ở Ấn Độ đã loại bỏ thai nhi là gái, gây ra sự chênh lệch nam nữ. Khi người con gái đi lấy chồng, cũng vì không có của hồi môn mà bị gia đình nhà chồng thiêu sống, để lại những nỗi đau lòng do hủ tục lạc hậu, dã man. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, còn xảy ra án mạng về cái chết của Arzu Yildirim, người mẹ của hai đứa con, đã bị người yêu cũ sát hại chỉ vì không yêu mình. Cô gái 19 tuổi Hatice Firat, bị giết ngày 28 tháng 2 năm 2011 do tội dám bỏ nhà đi sống với bạn trai, mà gia đình nạn nhân cho là đã làm ô uế danh dự gia đình. Cảnh sát đã bắt giữ 11 người thân trong nhà, trong đó có người anh trai của nạn nhân là nghi can mất tình máu mủ gây ra sự thảm khốc cho chính em gái mình.

Đầu tháng 5 năm 2011, đôi tình nhân trẻ Rajlv Verma và Renu Pal ở bang Uttar, Ấn Độ yêu nhau đã bị ném đá đến chết chỉ vì không môn đăng hộ đối, do hoàn cảnh chàng trai ở tầng lớp thấp trong xã hội. Hai người bỏ trốn, rồi sau một ngày trở lại đã bị hàng trăm người trong gia đình cô gái ném đá vào đôi tình nhân cho đến chết chỉ vì sự xấu hổ của gia đình nhà gái, mà người cầm đầu lại chính mẹ cô. Mặc dù một số can phạm đã bị bắt giữ, nhưng hủ tục này vẫn tồn tại. Trong nhiều trường hợp, hội đồng làng còn khuyến khích, thậm chí dung túng cho việc giết người này mà nhà nước chưa dẹp bỏ được.

Rất nhiều hủ tục lạc hậu, dã man, đau đớn vẫn diễn ra ở nhiều nơi, nhiều vùng, nhiều dân tộc theo tập tục, tín ngưỡng khác nhau trên thế giới mà mọi tổ chức quốc tế và mỗi quốc gia đang nỗ lực tìm mọi cách hạn chế hoặc tiến tới loại bỏ hẳn khỏi đời sống, xã hội. Tuy nhiên, những phong tục, tập quán bắt rễ, chôn sâu vào tâm thức con người, nhất là ở những vùng, những bộ tộc lạc hậu, chưa tiếp xúc với nền văn minh thì không dễ gì một sớm, một chiều mà loại bỏ được. Đó là di thức tinh thần phải từ từ và chuyển hoá dài lâu.

Cần có những thể chế, luật pháp và giáo dục thức tỉnh ý thức con người ở mỗi quốc gia mới có thể dần dần mang lại cuộc sống lành mạnh, văn minh.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.