Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 5
V.
TÍN NGƯỠNG DÂN GIAN
Trong cuộc sống, rất nhiều hiện tượng diễn ra phong phú, tự nhiên và có sức sống lâu bền ăn sâu vào tâm thức con người. Phong tục, tập quán thờ cúng, lễ hội dân gian đậm đà bản sắc, chứa đựng tín ngưỡng tâm linh và giá trị nhân văn sâu sắc. Đó là những biểu tượng tinh thần, hướng thiện đồng thời cũng ẩn chứa suy tư về đời sống xã hội, nhân sinh.
Tâm linh Quốc Tổ
Mỗi người sinh ra trên đất nước của mình. Nơi sinh ra ấy được gọi với cái tên thiêng liêng, thân thương, giàu hình tượng và thật tự hào, đó là Tổ Quốc. Dân tộc Việt Nam có truyền thuyết lịch sử cách đây hàng nghìn năm là một dòng tộc Lạc Long Quân - Âu Cơ, con Rồng cháu Tiên, cùng chung nguồn cội từ các Vua Hùng dựng nhà nước Văn Lang và trở thành biểu tượng huyết thống muôn đời của khối đại đoàn kết dân tộc.
Cùng với lịch sử Hùng Vương, còn có một địa danh liên quan đến thời đại vua Hùng, mà báo Tiền phong đầu năm 2012 có đăng tải bài “Đầu năm thăm lăng ông nội vua Hùng” của Thọ Bình - Bá Kiên cung cấp một số tư liệu như sau:
“Lâu nay, con dân nước Việt luôn hướng về đất Tổ ngày 10 tháng 3 âm lịch, nhưng ít ai biết, dịp tháng Giêng còn có ngày giỗ Thủy tổ nước Nam Kinh Dương Vương, là ông nội vua Hùng ở làng Á Lữ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh.
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư: “Vua Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông đi tuần thú phương Nam, đến núi Ngũ Lĩnh (nay thuộc tỉnh Hồ Nam, Trung Quốc) lấy một nàng Tiên, sinh ra con tên là Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Bắc), phong cho Lộc Tục làm vua phương Nam (từ núi Ngũ Lĩnh về phía Nam), tự xưng là Kinh Dương Vương. Kinh Dương Vương làm vua năm Nhâm Tuất (2879 TCN), lập nước, lấy quốc hiệu là Xích Quỷ. Kinh Dương Vương lấy con gái Thần Long là Long Nữ, con vua hồ Động Đình, đẻ ra Sùng Lãm (Sùng Lâm?). Sau này Sùng Lãm kế vị xưng là Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai (con của Đế Nghi), tên là Âu Cơ, đẻ một lần trăm người con. Một hôm Lạc Long Quân bảo Âu Cơ: “Ta là giống Rồng, Nàng là giống Tiên, thủy hoả khắc nhau, chung hợp thật khó”. Vợ chồng từ biệt nhau, chia 50 con theo mẹ lên miền núi, 50 con theo cha xuôi về miền biển, phong cho con trưởng là Hùng Vương, nối ngôi vua. Theo truyền thuyết ấy thì vua Hùng là cháu nội Kinh Dương Vương.
Sinh thời, Kinh Dương Vương đi kinh lý khắp núi cao, rừng sâu, biển xa nước Việt, trông nom, gây dựng, mở mang, gìn giữ bờ cõi giang san, lấy đức cảm hoá dân. Trên đường đi kinh lý, Ngài qua đất Phúc Khang (làng Á Lữ ngày nay) phát hiện ra thế đất quý, có tứ linh: Long, Ly, Quy, Phượng, có sông núi bao quanh, Rồng chầu, Hổ phục. Ngài đã đem theo những cư dân Việt cổ quy tụ về lập nên những xóm làng đầu tiên. Vùng đất Phúc Khang bắt đầu trỗi dậy sức sống mãnh liệt và trở thành “Thánh địa” của thị tộc, bộ lạc người Việt. Kinh Dương Vương còn cho xây một toà hành cung ở chốn này để quy tụ những hiền tài khắp vùng luận bàn việc non sông xã tắc. Nước cường, dân thịnh, trăm họ yên vui
Sau này, để ghi nhớ công lao của đấng Tổ tiên, người dân nơi đây dựng lăng, lập miếu thờ để con cháu đời đời ghi nhớ. Bởi thế ngôi đền Kinh Dương Vương tại thôn Á Lữ, thiết kế thờ cả tam vị Thánh Tổ gồm Thủy Tổ Kinh Dương Vương, Cha Lạc Long Quân và Mẹ Âu Cơ. Hiện nay giới sử gia, chưa xác định được ngôi đền thờ tam vị Thánh có từ bao giờ, chỉ biết nó được trùng tu, tôn tạo lại thời Lê - Trịnh (cuối thế kỷ XIV). Sau đó, đến thời vua Gia Long, trùng tu lại đền Kinh Dương Vương. Năm 1940, vua Bảo Đại tôn tạo hai đại tự “Nam Tổ Miếu” (thờ Thủy Tổ) và Thần Truyền, Thành Kê (thờ các vị thánh, thần).
Hàng năm, người dân thôn Á Lữ, xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, đều tổ chức lễ hội Kinh Dương Vương. Lễ hội chính thức được tổ chức vào ngày 18 tháng Giêng (ngày mất của Kinh Dương Vương). Dân làng cùng khách thập phương tổ chức dâng hương, tế lễ tại đền và lăng. Nhiều hoạt động văn hoá, thể thao, giải trí được tổ chức như đấu vật, cờ tướng, biểu diễn các loại hình nghệ thuật, hát dân ca quan họ Bắc Ninh”.
Trải qua chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước, hun đúc lên khí phách Tổ tiên Hùng Vương dựng nước và truyền thống đoàn kết, thương yêu “uống nước nhớ nguồn” trong cộng đồng dân tộc Việt. Truyền thống ấy trở thành tín ngưỡng linh thiêng trong đạo thờ cúng Tổ tiên của người Việt Nam hướng về đất Tổ. Nhân dân Việt Nam lấy nơi phát tích lịch sử Vua Hùng làm nơi thờ tự Tổ tiên và vinh danh công đức các vua Hùng gọi là Quốc Tổ.
Khu quần thể di tích Hùng Vương - Đền Hùng được xây dựng ngay nơi kinh đô Phong Châu của nước Văn Lang xưa để tưởng nhớ và thờ phụng các Vua Hùng, tại núi Nghĩa Lĩnh, xã Hy Cương, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ ngày nay và cũng để mọi người dân Việt Nam hướng về Quốc Tổ.
Quần thể đền Hùng xây dựng từ thời vua Đinh Tiên Hoàng. Đến thời Hậu Lê, thế kỷ XV, được hoàn thiện, cho đến ngày nay bổ xung thêm một số công trình mới. Từ Cổng đền đến Đền Hạ, Nhà Bia, chùa Thiên Quang, Đền Trung, Đền Thượng, Cột đá thề, Lăng Hùng Vương, Đền Giếng, Đền Tổ mẫu Âu Cơ, Bảo tàng Hùng Vương, Hồ được xây dựng theo kiến trúc tâm linh dân gian và mô tả sinh động về truyền thuyết thời đại Hùng Vương. Huyền thoại quá khứ lịch sử Mẹ Âu Cơ sinh hạ bọc trăm trứng, các Vua Hùng cùng Lạc hầu, Lạc tướng nghị sự bàn việc nước, các lễ nghi, tín ngưỡng về cư dân nông nghiệp. Lăng Hùng Vương biểu tượng cho thời đại dựng nước hài hoà cùng với các công trình Nhà bia, Đền Tổ mẫu Âu Cơ, Bảo tàng mới được xây dựng, thành một không gian bảo tồn truyền thống thiêng liêng của vùng đất Tổ.
Đây cũng là nơi Giỗ Tổ Hùng Vương vào ngày 10 tháng 3 âm lịch hàng năm, trở thành Quốc Giỗ của người Việt, làm nên giá trị độc đáo có một không hai trên thế giới mà dân tộc Việt Nam có quyền tự hào là đất nước có chung ngày Giỗ Tổ.
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba.
Khắp nơi truyền tụng câu ca:
Nước non vẫn nước non nhà Việt Nam.
Quốc giỗ là dịp tưởng niệm 18 đời vua Hùng có công dựng nước Văn Lang, khai sáng lịch sử dân tộc và thể hiện đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam. Vào ngày này, người Việt ở khắp nơi hành hương về đền Hùng để dâng hương và tham dự lễ hội. Ngoài các nghi lễ truyền thống, hội đền Hùng còn có nhiều hình thức sinh hoạt văn hoá đặc sắc như hát xoan, đánh trống đồng, làm bánh chưng, bánh dầy…
Giỗ Tổ Vua Hùng từ lâu đã trở thành Lễ Hội truyền thống thiêng liêng tưởng nhớ và biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng, đồng thời nhắc nhở con cháu hướng về cội nguồn dân tộc cùng nhau đoàn kết thương yêu, dựng xây và bảo vệ đất nước, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn quân tiên phong khi Người thăm Đền Hùng ngày 19 tháng 9 năm 1954, trước khi về tiếp quản Thủ đô ngày 10 tháng 10 năm 1954:
“Các vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước”.
Lễ hội Đền Hùng gồm có phần Lễ và phần Hội được cử hành “Lễ rước kiệu Vua”, “Lễ dâng hương” cùng các hoạt động văn hoá truyền thống dân gian với sự tham gia của các vị lãnh đạo của nhà nước cùng hàng triệu người từ khắp miền Tổ quốc và kiều bào từ ngoài nước hành hương về đất Tổ. Nhiều địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Cần Thơ, Đà Nẵng và các khu văn hoá, du lịch, vui chơi, giải trí trong cả nước cũng xây dựng đền thờ Hùng Vương và lễ hội được tổ chức trang nghiêm cho người dân đến dâng hương tưởng nhớ về tổ tiên cội nguồn dân tộc.
Hùng văn tế lễ cùng với tái hiện truyền thuyết thời đại Hùng Vương làm cho “Lễ hội đền Hùng” trở lên độc đáo, sâu sắc.
Lễ hội Đền Hùng hàng năm đặc biệt thu hút tâm linh tín ngưỡng của nhân dân cả nước và kiều bào Việt Nam ở nước ngoài hướng về ngày Giỗ Tổ. Đền Hùng là biểu tượng văn hoá, tinh thần vô giá và Lễ hội Đền Hùng trở thành tín ngưỡng linh thiêng của sức mạnh trường tồn tinh thần dân tộc Việt Nam đúc kết qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước, giữ nước.
Lễ hội đền Hùng
(nguồn Google hình ảnh - Lễ hội đền hùng)
Với giá trị độc đáo, đặc biệt về văn hoá tinh thần, tâm linh tín ngưỡng, “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” đã được UNESCO công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại”. Tại vùng đất tổ Phú Thọ còn là nơi phát tích của di sản Hát Xoan, một loại hình văn hoá độc đáo của dân ca nghi lễ từ thời Hùng Vương, âm nhạc tín ngưỡng cung đình, đã được UNESCO công nhận là “Di sản văn hoá phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp của nhân loại” từ tháng 11 năm 2011. Đó là niềm tự hào cho biểu tượng của dân tộc Việt Nam vinh danh trong cộng đồng quốc tế, là sức mạnh của quốc gia, dân tộc muôn đời.
Thờ cúng Tổ tiên
Người Việt Nam đề cao việc thờ cúng, trong đó có thờ cúng Tổ tiên. Từ ngàn xưa ông cha người Việt đã tạo dựng nên nếp sống đạo đức, hiếu nghĩa để gìn giữ nét đẹp gia phong trong cộng đồng qua những lễ nghi, tín ngưỡng dân gian sâu sắc.
Tín ngưỡng phổ biến của người Việt Nam là thờ cúng tổ tiên. Trên khắp mọi miền đất nước, hầu như gia đình nào cũng có một bàn thờ gia tiên ở vị trí trang trọng nhất. Người Việt Nam quan niệm rằng dù người đã khuất, nhưng hồn người vẫn về với con cháu trên trần gian. Người đã khuất và người đang sống vẫn có những mối quan hệ tâm linh, cho nên người sống sướng khổ thế nào, vui buồn ra sao thì cũng không được quên người đã khuất.
Đạo thờ cúng tổ tiên còn là biểu hiện lòng biết ơn, tưởng nhớ của con cháu đối với người đã sinh thành và dưỡng dạy mình. Thờ cúng tổ tiên chính là thể hiện đạo làm người và tình hiếu nghĩa đối với ông cha.
Các dòng họ đều có nhà thờ gia tộc và mỗi gia đình người Việt đều dành nơi trang trọng thờ tự tổ tiên. Đơn giản là bàn thờ, bát hương; Đầy đủ thì có ngai thờ, bài vị, lư hương, lục bình, đại tự, hoành phi, câu đối. Đến ngày kỵ, giỗ, lễ, tết là con cháu sắm hoa quả, đồ ăn thức uống lên bàn thờ thắp hương thành kính tưởng nhớ tổ tiên với mong muốn an bình, khoẻ mạnh, làm ăn phát đạt, tốt lành. Xong tuần hương là con cháu cùng nhau chung vui ăn uống, đoàn kết trong tình thương yêu đầm ấm gia đình, thân tộc. Có gia đình còn sắm thêm nhạc lễ trống, chuông, mõ và tổ chức cúng bái, tế lễ linh đình, xin âm dương cho thêm linh thiêng, huyền diệu.
Người xưa cho rằng từ đường, thờ tự là nơi quy tụ linh khí quan trọng nhất của từng dòng họ. Đặc biệt trong những ngày giỗ, tết còn là nơi tụ hội con cháu quanh năm hương khói tưởng nhớ gia tiên; Nơi giáo dục truyền thống, tôn vinh công lao dưỡng dạy của tổ tiên, gia đình, phát huy phẩm chất đạo đức, tài năng của dòng tộc; Nơi gặp gỡ huyết thống, người thân đoàn kết thương yêu, giúp đỡ nhau phát huy nét đẹp dòng họ, gia phong để trở thành người có ích cho gia đình, quê hương, đất nước.
Ngày nay, điều kiện kinh tế khá lên, đôi khi tín ngưỡng cũng hoà trộn mê tín dị đoan. Lễ nghi thông thường có nơi được thần thánh hoá cùng sự khoa trương tiền của và tham vọng hão huyền. Quan niệm “trần sao âm vậy” là nguồn gốc cho mê tín dị đoan phát triển và gây ra không ít phiền phức, lo âu. Người ta ngồi đồng, gọi hồn cả buổi, cả ngày rất mất thời gian, đốt vàng, đốt mã đầy sân, làm giấy sớ vô cùng nhiêu khê, lãng phí. Về tâm linh và năng lực ngoại cảm có khi cũng giải phóng được phần nào cho tư tưởng, tinh thần con người, nhưng chủ yếu là gây ra phiền phức, suy tư cho người đa sầu, đa cảm, còn đối với người có bản lĩnh thì thấy không cần phải làm thế để làm gì.
Người ta còn đua nhau xây mộ, dựng nhà thờ cho thật to, thật đẹp. Mỗi khi tạo dựng công trình là một cuộc vận động tự tâm, quyên góp. Người đi xa, làm ăn phát đạt thì cúng với lòng thành, đôi khi cũng có khuếch trương tiền của. Người không làm ăn được thì đi vay, đi mượn mà lòng nghĩ ngợi, suy tư. Dù muốn hay không cũng phải vui vì là tâm linh mồ mả, thờ phụng, rồi hàng năm, theo tuần tiết góp công, góp của, góp tiền và tụ hội về tưởng nhớ tổ tiên. Các đồ thờ tự, trang phục tế lễ được mua sắm, chỉnh trang lộng lẫy. Ngày giỗ tổ cử hành nghi lễ dài dòng tới vài ngày. Gia đình đến lượt làm xôi, thịt mang đến nhà thờ giỗ tổ, ăn uống, chia phần. Sinh hoạt cộng đồng tạo nên nét đẹp của nếp sống họ hàng, gia tộc. Tín ngưỡng dân gian Việt Nam tràn đầy ý nghĩa giáo dục tốt đẹp, nhân văn.
Các cụ ta xưa lo việc thờ cúng rất đơn giản với lòng thành nên sự hội tụ những lúc cúng giỗ gia tiên là sự gặp mặt vui vẻ gia đình, họ tộc. Vì thế những gì gây ra chuyện không vui chắc sẽ làm cho tiên tổ phải chạnh lòng. Đã từng xảy ra chuyện xây dựng từ đường rõ to mà anh em, họ tộc bất đồng, mất đoàn kết. Cúng giỗ tổ tiên là bày ra ăn uống, rượu bia quá thái, say sưa, cậy vai cậy vế, lôi nhau ra nói xấu rồi đánh chửi nhau ngay tại nhà thờ tổ. Thế nên mới có người vì quá bức xúc mà bảo: Họ hàng thì phải vui vẻ, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, chứ thế này thì thà chơi với người ngoài mà hợp tính hợp tình, ăn uống với nhau vui vẻ, yêu quý, giúp đỡ nhau còn sướng hơn nhiều!
Trong cuốn “Gia lễ xưa và nay”, tác giả Phạm Côn Sơn cho rằng:
“Trong việc cúng tổ tiên, ông bà, chẳng nên làm lấy có hay chỉ để khoe khoang với thiên hạ. Phải lấy tâm thành, kính trọng làm gốc. Người xưa quan niệm rằng trong lòng nghĩ thế nào thì quỷ thần đều biết rõ (Tâm động quỷ thần tri).
Cúng bái mà chỉ làm cho có hình thức, thiếu lòng thành kính tức là thiếu sự hiếu thảo ngay lành. Không một vị tổ tiên nào chứng giám cho những con cháu có cúng mà không có kính. Thà là chén cơm, đĩa muối mà lòng thành còn hơn mâm cao cỗ đầy mà tâm địa dửng dưng”.
Tín ngưỡng tâm linh là sự thanh thản trong tâm hồn, giải phóng những rắc rối, lo âu bằng lòng thành tâm, trong sáng. Sự tôn kính tổ tiên bằng niềm tin chân thành và sự tưởng nhớ cha ông chứ không phải gán ghép vào những việc làm mê tín dị đoan, lãng phí, phi thực tế. Bày đặt dài dòng, nhếch nhác tạo ra sự khác thường với bản chất chất phác của ông cha đều là xúc phạm đến gia phong, tiên tổ.
Mỗi gia đình nơi bàn thờ hoặc từ đường tổ họ thường có cuốn “Gia phả” ghi chép tỷ mỷ thứ tự, cụ thể tổ tiên, cụ kỵ, ông bà cùng ngày sinh, ngày mất để con cháu tra cứu thực hành nghi lễ thờ cúng hàng năm. Về thứ bậc gia phả gia đình, người xưa ghi theo hệ thống “cửu tộc” (chín đời): 1- Cao tổ - Kỵ nội. 2- Tằng tổ - Cụ nội. 3- Tổ - Ông nội. 4- Khảo - Cha. 5- Kỷ thân - Chính mình. 6- Tử - Con. 7- Tôn - Cháu. 8- Tằng tôn - Chắt. 9- Huyền tôn - Chút. Nếu tiếp đời thứ 10 gọi là Viễn tôn các Chít xa về sau. Mỗi đời nếu có ảnh chung gia đình và riêng từng người càng tốt. Trong gia phả cũng ghi chép lịch sử, công đức của dòng họ, gia đình và những người đóng góp đồ tế lễ, xây dựng nơi thờ tự.
Xưa kia, con người sống trong cộng đồng, họ tộc ở nông thôn không mấy đi xa. Mà có ai đi đâu rồi cũng trở về quê cha đất tổ. Ngày nay, xã hội khác rồi, con cháu lớn lên học hành chỉ mong ước ra đi, kể cả ra nước ngoài học hành, làm ăn, sinh cơ lập nghiệp. Ở đâu có điều kiện là các cháu không về nữa, với ý nghĩ trên đất nước đâu cũng là quê hương, ở đâu cũng có thể thực hành thờ phụng, nhớ về tiên tổ. Rất nhiều gia đình con cháu đi hết, chỉ còn lại ông bà, cha mẹ tuổi già, sức yếu với nhà cửa, vườn ao rộng thênh thang. Có lẽ chỉ ít năm sau, khi mọi người khuất núi cũng không có ai ở, kể cả nhà thờ xây thật to rồi mà con cháu cũng chẳng về thờ phụng cúng giỗ tổ tiên. Con cháu xa xôi mãi tít nơi đâu sống theo thời hiện đại, hàng năm chỉ có mấy ngày về thăm ông bà, cha mẹ rồi lại ra đi. Chỉ tội cho các cụ ở nhà luẩn quẩn ra vào mỏi mắt chờ mong, ôn lại chuyện cổ tích xa xưa mà luyến tiếc đất đai, gia sản, nhà thờ. Cả đời chắt bóp, dành dụm dựng xây để sắp trở nên vắng vẻ, bỏ hoang mà vẫn phải vui khi con cháu đi xa thành đạt. Lẽ hiển nhiên của thời đại mới, nhưng tâm lý chung các cụ rất lo đạo đức truyền thống sẽ dần không giữ được khi cuộc sống hiện đại ngày càng phát triển, đổi thay. Không khéo dễ trở nên trái khoáy do lối sống và xung khắc thế hệ thì thật đáng buồn!
Thế nên trong xã hội mà con người đang tiến tới nền văn minh thì sự hiểu biết càng thẩm định và giải quyết hợp lý cho tâm linh giải thoát hài hoà cùng nếp sống hiện đại. Tín ngưỡng lành mạnh về tổ tiên chính là loại bỏ những hạn chế, mê tín, lỗi thời cho sự phát triển của thời đại mới. Ông cha không thể hài lòng và còn rất buồn khi con cháu cứ luẩn quẩn trong vòng lạc hậu, mê muội, đói nghèo và hẳn sẽ rất vui khi thấy con cháu trưởng thành, thông minh làm nên sự nghiệp cùng sự phát triển hiện đại của quê hương, đất nước, toàn cầu.
Thần linh
Trong tâm linh người Việt, Thần linh là những vị thần linh thiêng được tôn kính trong tín ngưỡng dân gian. Đây là những vị thần siêu hình trong huyền thoại, truyền thuyết và là những anh hùng, vĩ nhân đặc biệt được tôn lên là “Thánh” linh thiêng trong lịch sử. Đó là Thổ công, Hà bá, Sơn thần, Thần tài, Thành hoàng, Hùng Vương, Tứ bất tử, Bà Trưng, Bà Triệu, Bà chúa Kho, Lý Thái Tổ, Đức thánh Trần, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh… Ngoài ra còn có nơi thờ các yêu thần, tà thần theo quan niệm hoặc sự tích vùng quê như: Thần ăn mày, thần ăn trộm, thần trẻ con, thần rắn, thần rết, thần cụt đầu...
Thổ công
Thổ là đất, Thổ công là công việc về đất đai, nhà cửa nói chung. Cho nên Thổ công là vị thần quan trọng nhất trong nhà “đệ nhất gia chi chủ”. Là thần có công cai quản, giữ gìn đất đai, gia sản, nhà cửa, bếp núc được dân gian tôn kính, tin cậy đối với mỗi gia đình. Thổ công được coi là có vai trò chính điều hành công việc trong năm, đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch cuối năm có trách nhiệm lên Thiên Đình báo cáo về mỗi gia đình ở Hạ giới, nên được hình tượng hoá và phong làm “Ông Táo quân”, còn gọi là “Táo Công”.
Trong dân gian còn gọi là Táo thần, Táo Vương, Táo Vương gia, Táo quân Bồ Tát. Táo quân còn có nhiều thủ hạ, gồm ngũ phương, ngũ đế táo quân, tằng táo, tổ táo, táo con, táo cháu, vận hoả tướng quân, tiến hoả thần mẫu… tất cả 36 thần, chuyên làm nhiệm vụ quản lý ăn ở của nhân gian, ghi chép hành vi thiện ác của mỗi gia đình. Táo quân được coi là cát nhân của trần gian.
Sự tích về Táo Quân xuất phát từ Trung Quốc, được giải thích bằng truyền thuyết về mối tình tay ba rất éo le và đầy cảm động, nhằm nhắc nhở con người phải biết trân trọng, giữ gìn hạnh phúc gia đình.
Có nhiều truyền thuyết về Táo quân: Ngay từ đời nhà Hạ, Thương, Chu đã thờ Táo quân. Vào mùa Hạ nhà Vua dẫn bá quan đích thân đi tế bái thần Táo quân. Thần dân cũng theo đó mà thờ Táo quân tại nhà, hàng ngày thắp hương cúng bái. Có chuyện lại cho rằng thần Táo quân là con của Chuyên Húc Thị, tên là Lê. Có nơi thì nói Táo quân là một sĩ nhân họ Trương bị chết đói. Thượng đế thương ông khi còn sống không gặp phúc nên phong làm Táo quân quản việc ẩm thực ở nhà bếp. Có chuyện cho rằng Táo quân là Thần Kỳ ở Thiên Đình, chỉ vì háo sắc, lười biếng bị đuổi xuống trần gian cho làm thần coi bếp núc để được hàng ngày nhìn thấy phụ nữ làm bếp. Có người cho rằng Táo quân là một phụ nữ giỏi làm việc bếp núc. Tuy nhiên, có hai truyền thuyết được chú ý hơn cả là câu chuyện tình tay ba éo le và đau xót.
Chuyện thứ nhất, vợ chồng Trọng Cao và Thị Nhi lấy nhau đã lâu mà không có con. Có lần vì mâu thuẫn, Trọng Cao đánh vợ. Thị Nhi giận chồng bỏ đi và gặp Phạm Lang rồi hai người lấy nhau.
Một thời gian sau, Trọng Cao hết giận, đi khắp nơi tìm vợ và trở thành người hành khất. Một hôm, Trọng Cao đến một nhà ăn xin, lại đúng là nhà vợ chồng Thị Nhi, nhưng Phạm Lang đi vắng. Trọng Cao và Thị Nhi đều nhận ra nhau và cùng tâm sự nỗi niềm của mình. Đến khi thấy Phạm Lang sắp về, Thị Nhi liền bảo Trọng Cao tạm ẩn vào đống rơm rồi sẽ tính sau. Thị Nhi cũng vào trong nhà ngủ một giấc. Phạm Lang vừa về đến nhà liền tính chuyện đốt rơm lấy tro để ngày mai bón ruộng và lấy lửa đốt đống rơm.
Trọng Cao vì đi nhiều mệt và đói, nằm vào đống rơm ngủ say nên bị đốt chết. Thị Nhi ở trong nhà chạy ra, đau đớn quá bèn nhảy vào đống rơm chết. Phạm Lang thấy thế thương xót cũng nhảy vào theo vợ để cùng chết. Thế là thảm cảnh diễn ra trong phút chốc đã thiêu cháy mối tình éo le và bi thương của cả ba người.
Thượng đế thấy ba người có nghĩa mà phong cho làm Táo quân và phân cho công việc: Phạm Lang là Thổ Công trông nom việc trong bếp. Trọng Cao là Thổ Địa trông coi việc nhà. Thị Nhi là Thổ Kỳ trông nom việc chợ búa. Vì vậy, mà thành bộ ba Táo Quân: Thổ Công, Thổ Địa, Thổ Kỳ, gồm hai nam một nữ.
Chuyện thứ hai kể rằng: Ngày xưa có hai vợ chồng vì nghèo quá phải bỏ nhau. Sau người vợ lấy được người chồng giàu có. Một hôm vợ chồng nhà giàu đốt vàng mã thì thấy một người ăn mày đến nhà xin ăn. Người vợ nhận ra đó chính là người chồng cũ của mình, thương quá bèn mang rất nhiều tiền bạc, thóc gạo ra cho. Người chồng giàu có liền nghi ngờ, làm cho người vợ vừa thương chồng cũ vừa uất ức quá đâm đầu vào bếp chết.
Thương vợ cũ, người chồng ăn mày liền lao vào bếp chết theo vợ. Ân hận và đau khổ, người chồng giàu có cũng đâm đầu vào bếp cùng chết.
Thượng đế thấy ba người có nghĩa bèn phong làm “Vua Bếp”.
Trong dân gian từng nói về sự kiện này:
Thế gian một vợ một chồng
Chẳng như Vua Bếp hai ông một bà.
Câu chuyện tình nghĩa bi thương đã trở thành tín ngưỡng dân gian, coi là những vị thần của gia đình và trở thành tục thờ Táo Quân. Cứ đến ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm là Thổ Công - Táo Quân lên chầu Trời báo cáo Thượng Đế về những công việc thấy được ở trần gian. Vì là phải khách quan trình báo cả công và tội của gia chủ qua một năm; Đồng thời lĩnh hội tinh thần năm mới sắp đến, cho nên các gia đình vào dịp này sắm sửa mũ, áo, hia chỉnh tề, lo mua cá chép cho Táo Quân cưỡi lên Thiên Đình báo cáo điều hay lẽ phải cho mình. Trang phục cho Táo Quân gồm hai mũ nam có hai cánh chuồn vút lên, một mũ nữ không có cánh chuồn. Nếu dùng một mũ thì chỉ là mũ của Thổ Công thôi. Mũ mỗi năm đổi theo một màu hợp với ngũ hành Kim - Trắng, Thủy - Đen, Mộc - Xanh, Hoả - Đỏ, Thổ - Vàng của năm ấy. Cúng xong để mũ, hia lên bàn thờ chờ đến 23 tháng Chạp năm sau và mang mũ, hia cũ của năm ngoái đi đốt. Cá chép là cá tươi, rất to được phóng sinh ra sông suối, ao hồ để hóa Rồng cho Táo Quân cưỡi lên chầu Trời báo cáo Thiên Đình. Việc phóng sinh cá còn mang ý nghĩa tốt đẹp giữ gìn, bảo vệ động vật, môi trường. Có tài liệu nói mua ba con cá chép, nhưng trong dân gian thường chỉ mua một con và cũng là cá nhỏ (có lẽ do cá to bất tiện và chắc là thả con cá to thì phí quá, nên người ta chỉ mua cá chép nhỏ?), cúng xong đem thả xuống sông, hồ, chỉ một ông Thổ công đại diện lên báo cáo Thiên Đình chăng?
Người ta cũng thường vẽ ông Táo đội mũ, đi hia, cưỡi cá chép bay trong mây lên chầu Trời, nhưng thường không có quần. Thế nên mới có thơ vui rằng:
Năm ba ông Táo dạo chơi Xuân
Đội mũ, mang hia, chẳng mặc quần.
Thượng Đế hỏi rằng sao chướng vậy?
Tâu rằng: Hạ giới nó duy tân.
Ngày xưa, người Trung hoa đã nghĩ đến tục hối lộ nên ngày 23 tháng Chạp lễ tiễn Táo về Trời thường có rượu, có đường phèn hoặc khi hoá vàng, đốt mũ, cho thêm một gói kẹo, có khi còn có kẹo mạch nha để trét vào miệng Táo. Rượu là để uống say sẽ không báo cáo tỷ mỷ những sai sót, khiếm khuyết và đường để Táo quân lên Trời tâu cáo những lời ngọt ngào, tốt đẹp, che bớt tội lỗi cho gia chủ. Người ta còn làm bánh trôi, bánh chay, bánh dẻo với hàm ý sẽ dính chặt lưỡi Táo quân không nói được việc trần gian cho Thượng đế! Chuyện như phi lý và tiêu cực đối với Thần Táo nhưng cũng gợi lên tâm lý hướng thiện cho đạo đức, nhân tính con người.
Vị trí thờ Thần Táo Quân thường đặt trên bếp nấu hoặc góc bếp là chỗ của Táo Quân và về phía Nam hợp với ngũ hành Táo Quân thuộc “Hoả” cũng là việc Thiên Tử xưa thường tế Táo vào mùa Hạ là mùa Hoả vượng. Bài vị là giấy đỏ viết “Định Phúc Táo Quân” và ngày nào cũng phải thắp hương. Người Việt, một số nơi không thờ Táo Công ở bếp mà cúng trên bàn thờ với ý nghĩa là Thần Thổ Công - Thần linh bản địa của nhà chứ không chỉ là việc bếp núc. Bát hương thờ Thổ Công đặt cao hơn, ở chính giữa bàn thờ. Mỗi khi cúng gia tiên thì phải khấn vái Thổ Công trước, để ngài cho phép tổ tiên về nhà tận hưởng cúng giỗ cùng con cháu.
Có nhà còn dán đôi liễn bên cạnh Táo quân:
Thượng Thiên ngôn hảo sự
Hạ giới giáng cát tường.
Tạm dịch:
Lên Trời nói điều tốt
Xuống Trần ban phúc lành.
Hình tượng Táo quân được dân gian hoá thành tín ngưỡng lành mạnh về sự tôn vinh Thần Lửa, giáo dục lòng chung thủy, vị tha giữa vợ chồng để giữ yên bình cho hạnh phúc và hướng con người tới đạo đức nhân sinh, ăn ở cho tốt lành để khỏi ân hận với tội lỗi của chính mình. Lễ nghi, trang phục trong lễ Táo Công cũng là biểu tượng tôn thờ lòng tin và tình nhân ái tốt đẹp trong dân gian.
Thế nhưng ngày nay do hiểu sai hoặc không hiểu ý nghĩa tốt đẹp về lễ Ông Công - Ông Táo mà người ta sinh ra mê tín dị đoan, đến ngày 23 tháng Chạp giáp Tết cổ truyền đi mua đủ mọi thứ tiền âm phủ, vàng mã, nhà lầu, quần áo giấy rất đắt tiền, thậm chí mua cả o sin, rồi máy bay giấy cho ông Táo đi Thiên Đình và về cho nhanh! Mua cá chép về cúng xong đem thả xuống nước và vứt luôn túi nilon đựng cá trôi đầy mặt sông hồ.
Thế nên quá cường điệu, thần thánh hoá trong lễ nghi và việc làm thiếu ý thức khi phóng sinh cá mà xả rác xuống sông hồ đều không phải với tâm linh trong sáng về Lễ ông Công - ông Táo.
Thần Tài
Còn gọi là Thần gia, Tài thần Bồ tát, là vị thần cát tường của dân gian mang tài lộc đến cho con người. Vì thế trong nhiều gia đình, nhất là những nhà buôn bán, làm ăn phát đạt đều có thờ Thần Tài. Người ta còn linh thiêng hoá Thần Tài mà siêng năng thờ phụng để cầu mong vận may mắn luôn đến với nhà mình.
Sự tích Thần tài kể rằng: Ngày xưa ở Trung Quốc có một người lái buôn tên là Âu Minh tính tình thật thà, tốt bụng. Một hôm đi qua hồ Thanh Thảo, trong lúc mưa to, gió lớn, Thủy thần hiện lên trao cho một đứa trẻ tên là Như Nguyện (có tài liệu nói tên Như Nguyệt, là bé gái) và bảo: “Ngươi là người chịu khó, chuyên cần, đức độ, ta cho nhà ngươi đứa trẻ này về nuôi sẽ làm ăn phát đạt”.
Mang Như Nguyện về nhà nuôi, quả nhiên Âu Minh làm ăn thuận lợi, ngày càng giàu có. Vào một dịp Tết, Như Nguyện mắc lỗi, Âu Minh bực mình liền đánh Như Nguyện. Như Nguyện quá sợ hãi chui vào đống rác rồi trốn đi mất. Từ đó Âu Minh làm ăn sa sút, khuynh gia bại sản. Mọi người thấy thế nói rằng, Thần đã đưa Như Nguyện là Thần Tài đến cho mà Âu Minh không biết giữ, nên mới thành như vậy. Cái tên “Như Nguyện” cũng nói lên khát vọng tốt đẹp, mong được như ý muốn của con người chăng? Thế rồi dân làng ngưỡng mộ lập bàn thờ Như Nguyện và gọi là “Thần Tài”.
Từ đó, việc thờ Thần Tài được mọi người trân trọng và phát triển trở thành tín ngưỡng dân gian thờ cúng ở khắp mọi nhà. Người ta coi Thần Tài là vị thần trông coi tiền tài, vàng bạc, là dấu ấn của thời kỳ kinh tế thương nghiệp. Hàng năm, vào những ngày Tết Nguyên Đán, nhất là sáng mồng Một, người ta kiêng quét nhà hót đổ rác vì sợ đổ mất thần tài trong đống rác, trong năm buôn bán, làm ăn sẽ không lợi.
Tại các gia đình, am thờ Thần Tài thường để chỗ mặt đất ở góc nhà nơi đống rác, hướng ra phía cửa, quản được sự ra vào của khách. Người ta còn tính hướng tốt hứng dòng sinh khí bên ngoài vào nhà, có khi dùng phương pháp “điểm thần sát”, chọn các cung Thiên lộc, Thiên quý, hướng am thờ theo cung tốt của gia chủ… Trong giữa am dán Bài vị giấy đỏ viết mấy chữ kim tuyến vàng (xưa thường là chữ Nho) “Tài thần chi vị”. Ngoài dán hai bên hai câu đối đỏ, chữ vàng:
“Thổ năng sinh bạch ngọc
Địa khả xuất hoàng kim”
(Nghĩa là đất đai sinh vàng ngọc).
Giữa để một bát hương nhỏ, một bên là tượng Thần Tài, một bên là Thổ Địa (Thần Đất), còn gọi là Ông Địa. Ông Địa là vị thần hộ mệnh của xóm làng, cai quản vùng trời, đất đai, phù hộ con người và gia súc, giúp mùa màng bội thu, làm ăn tấn tới. Ở dưới, một bên là nậm rượu, một bên để choé nước. Tiếp ra, một bên để cây đèn, một bên để lọ cắm hoa và cành vàng lá ngọc. Giữa đặt mâm bồng đựng hoa quả, đồ thờ. Ngoài cùng, một bên là ống đựng hương, một bên là cây nến, giữa để bộ chén nhỏ đựng nước. Hàng ngày, gia chủ đều mang hoa quả, thay nước, thắp hương, những người kinh doanh, buôn bán càng coi trọng, tin tưởng vào Thần Tài, mỗi khi đầu tư vốn kinh doanh người ta đều cầu khấn Thần Tài.
Cầu kỳ hơn, người ta còn đưa triết học phương Đông và khát vọng nhân sinh vào việc thờ phụng Thần Tài. Bài vị dán trong am thờ, trên là “Tứ Quý Hưng Long”. Năm hàng chữ dọc xuống ghi “Tiền Hậu Địa Chúa Tài Thần. Lộc thu chính trực khai hoa. Tiên cô Tiên hữu chi thần vị. Kim chi thăng hoa phát nghiệp. Ngũ phương Ngũ thổ Long thần”. Dưới tượng Thần Tài ghi “Tài nguyên phong tiến”. Dưới tượng Thổ Địa ghi “Kim ngọc mãn đường”. Có gia đình còn thờ một “Ông Phúc” lớn hơn, ở chính giữa, nét mặt rạng rỡ, với đầy đủ bài vị, nén vàng nén bạc, dưới ghi “Môn đăng hỷ tài”, sau lưng ghi chữ “Phúc”, có người gọi là “Ông Phát”. Ở am thờ, phía trong là ba hũ nhỏ đựng đầy gạo, muối, nước và chỉ đến cuối năm mới thay. Giữa để bát hương.
Tiếp ra có thêm ông Cóc (còn gọi là ông Khiết).
Trang mạng “trieuxuan.info” nói về tín ngưỡng dân gian “Thờ Cóc Vàng”: Cóc Vàng hay còn gọi là cóc ba chân. Theo truyền thuyết Cóc Vàng có thể nhả ra vàng, là vật vượng tài. Ngày xưa có tu sĩ tên là Lưu Hải đã dùng kế để thu phục Cóc Vàng và thành tiên. Sau đó trong nhân gian liền lưu truyền thuyết: “Lưu Hải chơi Cóc Vàng, bắt cóc nhả ra tiền vàng”. Lưu Hải công lực cao thâm, đệ tử của Lã Động Tân, thích chu du tứ hải, hàng yêu phục ma, bố thí tạo phúc nhân thế. Một ngày nọ, ông đã hàng phục được con yêu tinh Cóc Vàng làm hại nhân gian lâu năm. Trong lúc thu phục, Cóc Vàng đã bị thương và cụt mất một chân, cho nên sau này Cóc Vàng chỉ có ba chân. Từ đó, Cóc Vàng thuần phục dưới trướng của Lưu Hải, chuyên nhả ra tiền vàng để giúp cho dân nghèo và được gọi là Chiêu Tài Thiềm (Cóc Vàng mời gọi tiền tài).
Cũng từ tích truyện này mà người ta sáng tạo ra hình tượng Lưu Hải ngồi trên lưng cóc, vai đeo xâu tiền, tay cầm cần câu móc đồng tiền vàng giơ lên nhử cóc rất sinh động.
Tạo hình con Cóc Vàng rất nhiều, thường là ngồi trên thỏi vàng, trên lưng của Cóc Vàng đeo xâu tiền vàng, thân thể béo tròn, toàn thân toát lên vẻ phú quý, giầu sang, có ngụ ý “thổ bảo phát tài, tài nguyên thăng tiến” (nhả ra của quý làm cho chủ nhân phát tài, có Cóc Vàng trong nhà tiền bạc cứ lũ lượt theo vào), cho nên trong nhân gian có câu: “Đắc kim Thiềm giả tất phú quý” (người có được Cóc Vàng chắc chắn sẽ giầu to). Bày Cóc Vàng trong nhà hoặc trong cửa hàng chắc chắn tiền sẽ vào như nước, đại phú, đại quý.
Từ xưa có câu “Thiềm cung triết quế” dùng để ví von với người thi đỗ tiến sĩ. Theo truyền thuyết trong Nguyệt Cung có con cóc ba chân vì thế mà người ta gọi Nguyệt Cung là Thiềm Cung (nghĩa Hán Việt: Thiềm là Cóc). Ngày nay Cóc Vàng trở thành vật trang trí của rất nhiều gia đình, nó không chỉ là trang sức mà còn có tác dụng chiêu tài (mời gọi tiền), tránh tà (trừ tà), hộ gia (bảo vệ cho gia chủ). Đặt Cóc Vàng trong nhà cũng phải đặt đúng cách, quay đầu cóc ra để giúp bạn hút tiền, phần đuôi cóc đặt thêm tiền vào biểu thị việc có thể cuộn tiền gấp đôi. Buổi sáng quay đầu cóc ra ngoài thì nói: “Đi ra ngoài kiếm tiền đi”. Buổi tối quay đầu cóc vào thì nói: “Đem tiền về nhà nhé!”.
Theo nguồn Trung tâm nghiên cứu Lý học Đông phương, tác giả Achau - Thiên Đồng có bài “Ông Khiết - Một biểu tượng minh triết của văn minh Lạc Việt” lý giải khá sâu sắc về tượng hình “Ông Khiết - ông Cóc” xuất phát từ triết lý văn minh Việt cổ. Trên lưng cóc có 7 chấm tạo hình sao Bắc Đẩu - Đại Hùng tinh định hướng vũ trụ bầu trời; Đồng thời chữ hình con nòng nọc hàm chứa văn tự “Khoa đẩu” đầy tính triết lý của nền văn minh Việt cổ, một thời huyền vĩ ở miền nam sông Dương Tử (có tài liệu còn cho rằng hình tượng con nòng nọc - con của cóc, hàm ý về sự phồn thực sinh sôi). Tượng ông Cóc thường là màu vàng, trên đầu đội âm dương, bát quái, miệng ngước lên ngậm đồng tiền vàng “ngậm miệng ăn tiền”, khi rút đồng tiền ra thì “cóc mở miệng”, biến cái không tưởng “gan cóc tía” thành cái có thể “mở miệng” mà hãnh diện với đời! Hình tượng cóc còn tạo thêm hai bên hai cái râu diễn tả câu thành ngữ dân gian Việt Nam “Bao giờ cóc mọc râu” đầy ẩn ý. Thờ Cóc cũng còn là thờ “Cậu ông Trời”, dân gian tôn vinh lên trên cả thế lực cai quản vũ trụ mà cho Cóc ngồi trên Bát quái. Có khi người ta còn tạo hình cóc ngồi trên đống tiền vàng và sáng quay ra để hút tiền từ bên ngoài, tối quay vào để mang tài lộc, may mắn về cho gia chủ. Người ta còn có nghệ thuật chế tạo ông cóc để khi dội nước nóng vào là toàn thân ông cóc biến thành màu vàng rực rất sinh động, ly kỳ.
Khi khai quang Cóc Vàng, chọn một ngày nắng đẹp, lấy thùng nước giếng và thùng nước mưa cho vào đồ chứa đã lau rửa sạch sẽ, rồi tắm rửa cho Cóc. Theo tập tục, tượng Ông Cóc mới mua phải được đem ra chùa để tượng Cóc nghe kinh, tức “Khai quang điểm nhãn” vài ngày rồi mới chính thức đưa về nhà thờ.
Giữa bàn thờ để tách chén theo hình ngũ phương, ngũ hành tương sinh (hành Thổ ở giữa), tứ hướng. Ba hoặc năm ly nước để hàng ngang theo hình chữ nhất. Ngoài cùng là đồ thờ cúng trái cây, lọ hương, lọ hoa.
Thờ cúng Thần Tài đơn giản chỉ là một am nhỏ ở góc nhà nhưng lại có vị trí đặc biệt trong tâm linh của con người nên rất được tôn thờ và hương khói hàng ngày, cầu cúng quanh năm.
Người ta còn cho rằng, Thần Tài rất quan trọng trong sự nghiệp làm ăn, gia cảnh, việc sơ suất về Thần Tài là điều tối kỵ, cho nên trong dân gian rất sợ mất Thần Tài. Thực ra đây chỉ là quan niệm theo mê tín dị đoan, chứ nhiều gia đình chẳng thờ Thần Tài mà vẫn cứ giỏi làm ăn, phát đạt và cũng có nhà thờ cúng thần tài rất hoành tráng mà trộm cắp, lừa đảo cứ vào quấy phá, tai hoạ liên miên, mưu sinh chẳng ra gì. Thế nên, do con người cả thôi, đâu phải tự Thần Tài.
Xưa kia, người Việt chưa có thờ Thần Tài. Việc thờ cúng Thần Tài được đưa từ Trung Quốc sang và phát triển tại một số tỉnh phía Nam, chủ yếu là trong cộng đồng người Hoa ở thành phố Hồ Chí Minh. Từ sau giải phóng, năm 1975, Thần Tài được một số người ở phía Bắc thờ cúng tại nhà mình rồi phát triển thành nét văn hoá trong cộng đồng.
Ngày nay, nhiều gia đình còn tu bổ, mua sắm, trang trí am thờ Thần Tài bằng những đồ thờ tự, đèn nến, điện… màu sắc rất đẹp, nhỏ gọn hợp với am thờ. Trong am thờ cùng với Thần Tài còn có Thổ Địa, là hai vị Thần biểu tượng cho thần cai quản nhà đất yên bình và mong làm ăn phát đạt giàu có, cho thêm linh thiêng, ý nghĩa. Hình tượng một ông béo, đầu chít khăn hồng, dáng thương gia, ngồi thanh thản, ung dung, tay cầm nén vàng, nén bạc, tay cầm điếu thuốc, nét mặt tươi cười sảng khoái; Một ông gầy, kiểu đạo sĩ, tay cầm quạt, thư thái ngồi vuốt râu thấp thoáng trong am thờ đầy vật chất, hoa quả, khói hương huyền ảo, làm cho tâm linh gia chủ càng thêm thăng hoa, vui tươi, mãn nguyện.
Trong dân gian cũng hình thành bài “Văn khấn Thần Tài” khá độc đáo và đầy đủ như sau:
“Nam mô A Di Đà Phật (đọc 3 lần).
Con lạy chín phương Trời, mười phương chư Phật.
Kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị chánh đức Tôn thần. Kính lạy chư vị các quan Thần linh cai quản bản địa.
Cung thỉnh Đông trù Tư mệnh, Táo phủ thần quân. Cung thỉnh Ngũ phương, Ngũ hổ, Long thần. Cung thỉnh bản gia, bản thổ, tiền hậu địa chủ Tài thần.
Tín chủ con là… Ngụ tại…
Hôm nay là ngày… tháng… năm….
Con thành tâm biện lễ, nén hương ngát, bát nước trong, lễ vật kim ngân, nhang đăng, trà quả và các vật phẩm kính dâng ra trước án, kính thỉnh Thần Tài cùng chư vị lai lâm trước án, chứng giám lòng thành, chấp hưởng lễ vật, chấp sự kêu cầu, phù trì chúng con an ninh khang thái, vạn sự tốt lành, gia đạo hưng long thịnh vượng, lộc tài tăng tiến, tâm đạo mở mang, sở cầu tất ứng, sở nguyện tòng tâm… Đầu năm chí giữa, nửa năm chí cuối được tai qua, nạn khỏi, điều lành mang đến, điều dữ mang đi, cầu tài được tài, cầu lộc được lộc, cầu bình an được bình an. Có người, có của, được nhân an, vật thịnh, đi đến nơi về đến chốn, làm ăn được thông đồng bén giọt, đầu xuôi đuôi lọt, vạn sự như ý.
Nay con làm lễ bạc, tâm thành, nhất tâm kính lễ.
Nam mô A Di Đà Phật (3 lần).
Trong dân gian rất coi trọng Thần Tài, cho rằng là những vị thần mang lại phúc đức, tài lộc cho mọi người và thờ phụng tại nhà. Không chỉ Thần Tài, Thổ Địa mà tất cả những thần khác cũng được cho là Thần Tài như: Thần tài Văn có Tài Bạch Tinh Quân và Tam Đa - Ba ông Phúc Lộc Thọ (mong cầu giàu có, con cháu đầy đủ, khoẻ mạnh, trường thọ). Thần tài Võ có Triệu Công Minh và Quan Thánh Đế. Tất cả đều là tích của Trung Quốc.
Theo trang mạng “Doanh nghiệp” thì Thần Tài Võ, Triệu Công Minh là vị thần trong chuyện Phong Thần. Ông được Khương Tử Nha sắc phong làm “Chính nhất Long Hổ Huyền Đàn chân quân” thống lĩnh 4 vị thần: Chiêu Bảo, Nạp Chân, Chiêu Tài, Lợi Thị. Ông vừa giúp tăng tài, tiến lộc vừa có thể hàng phục yêu ma, nên một số người Hoa cũng thích thờ ông, hay đặt tượng ông nơi Tài vị, để vừa giúp vượng tài vừa giúp bình an.
Tài liệu trên trang mạng duk.vn kể về tích truyện dân gian một người dân ở núi Võ Đang bên Trung Quốc như sau:
“Ở vùng núi Võ Đang có một ông già tên là Triệu Công Minh nhà rất nghèo. Ngày ngày ông xách giỏ đi khắp nơi xin quần áo cũ để mặc và xin cơm cặn canh thừa để ăn. Nghèo thế nhưng ông có nuôi một con chó đen già và một con vịt lông vằn không đẻ trứng.
Gần nhà ông có một phú hộ tên là Tiền Viên Ngoại, giàu có nhưng tính rất xa xỉ và bất nhân, cơm ăn không hết đem đổ xuống cống, áo mặc cũ đem bỏ vào đống rác. Ông lão nhà nghèo họ Triệu thấy vậy, gom hết quần áo cũ đem phân phát cho người nghèo, hót canh thừa cơm cặn về nuôi chó và vịt. Bỗng một hôm, con vịt đẻ ra 10 quả trứng vàng, con chó già khạc ra 10 thoi bạc. Từ đó thành lệ, mỗi ngày chó và vịt đều khạc ra vàng bạc cho nhà lão Triệu. Lão Triệu trở nên rất giàu có. Trong khi đó nhà Tiền Viên Ngoại càng lúc càng nghèo vì tính xa xỉ.
Một thời gian sau, Tiền Viên Ngoại phải đi ăn xin, khi gặp Triệu Công Minh, lão cảm thấy rất xấu hổ. Họ Triệu thông cảm, giúp cho Viên Ngoại một số tiền kha khá để lấy vốn làm ăn. Nhưng lão Viên Ngoại quen tính tiêu xài xa xỉ nên dần dần hết vốn, trở lại nghèo khổ. Lão Viên Ngoại liền sinh ác tâm, ghen ghét bèn tính giết Triệu Công Minh để chiếm đoạt tài sản. Lão Viên thừa lúc vắng vẻ, đốt nhà của Triệu cháy ra tro, nhưng họ Triệu không chết. Con vịt biến thành chim Phượng bay lên trời, con chó già biến thành con cọp đen xông ra cắn chết lão Viên. Tất cả vàng bạc của Triệu biến thành đá và Triệu Công Minh biến thành Thần Tài. Dân chúng lập miếu thờ Triệu Công Minh, gọi là “Thần Tài miếu”.
Còn Quan Thánh Đế là Quan Công (Quan Vũ), nhân vật trung thần, uy dũng, tiết nghĩa của nhà Thục trong thiên truyện Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, Trung Quốc.
Đất nước Việt Nam ngàn năm văn hiến với lịch sử oai hùng đã sản sinh rất nhiều tài văn, tài võ kiệt xuất. Lý Thường Kiệt, Chu Văn An, Nguyễn Trãi, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du, Hồ Chí Minh… là những vĩ nhân, danh sĩ, danh nhân văn hoá thế giới; Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, Võ Nguyên Giáp… nổi danh là những anh hùng kiệt xuất, tướng tài quân sự trên trường quốc tế. Đó là những thần linh, thần tài mang lại phồn vinh, hạnh phúc, yên bình cho dân tộc, đất nước, quê hương, xứng đáng được tôn vinh, đâu chỉ là những hình tượng siêu hình ở nước ngoài.
Thần tài văn và Thần tài võ đều mang khát vọng của con người hướng tới đạo đức, hạnh phúc, đầy đủ, an lành.
Chuyện Thần tài là những huyền tích dân gian, mang theo khát vọng tốt đẹp của con người vươn tới sự an bình, no đủ và chống lại những thế lực gian tham, độc ác. Tuy nhiên, cũng vì quá cuồng tín mà chính con người lại thần thánh hoá mang theo tham vọng hão huyền trở thành mê tín, dị đoan, phi thực tế trong việc thờ cúng Thần Tài.
Chúng ta tôn trọng tín ngưỡng dân gian tốt đẹp, nhưng phải sống thực với cuộc sống nhân văn, có ích cho cộng đồng, quê hương, đất nước, đó mới là Thần Tài đẹp nhất ở trần gian.
∗∗∗
Trong dân gian Việt Nam còn thờ nhiều Thần linh, Sơn thần, Hà bá. Người ta dựng miếu nhỏ thờ Thần linh chung của từng vùng. Xây đền, miếu, phủ thờ các Thần linh trong truyền thuyết, huyền thoại như Hùng Vương, Thánh Mẫu; Tam phủ: Bà Trời - Mẫu Thượng Thiên, Bà Chúa Thượng - Mẫu Thượng Ngàn, Bà Nước - Mẫu Thoải; Tứ phủ: Gồm ba bà trên và thêm Bà Mẫu Địa Phủ; Tứ Pháp: gồm các thần Mây - Pháp Vân, Mưa - Pháp Vũ, Sấm - Pháp Lôi, Chớp - Pháp Điện; Tứ bất tử: Tản Viên, Thánh Gióng, Chử Đồng Tử - Tiên Dung, Liễu Hạnh; Bà Chúa Kho, Thành Hoàng, Tổ nghề; Anh hùng, vĩ nhân kiệt xuất của dân tộc như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Lý Thường Kiệt, Ngô Quyền, Lý Thái Tổ, Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Trần Nhân Tông, Quang Trung, Chủ tịch Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp…
Đó là những truyền thuyết nhân văn, những anh hùng, những nhân tài xuất chúng, họ là những thần linh, những vị “Thánh” trong lòng dân tộc mà người đời sau mãi mãi biết ơn.
Hàng năm, các lễ hội truyền thống dân gian được mở nhằm tôn vinh những giá trị tinh thần nhân văn, đạo đức, hướng con người đến cuộc sống yên bình, yêu thương cộng đồng, đất nước. Tín ngưỡng truyền thống dân gian hoà quyện cùng hiện đại tạo nên nét đẹp tâm linh dân tộc trường tồn.
Tín ngưỡng Thần linh thức tỉnh tâm thức con người hướng về cội nguồn, ghi ân tiên tổ và tự giáo dục cho mình đạo đức sáng trong, khát vọng cuộc sống thanh bình, quốc gia phát triển. Tuy nhiên, cần tránh sự cuồng tín làm mê hoặc lòng người bằng hành vi mê tín dị đoan, thần thánh hoá, ma quỷ hoá làm cho lòng người sợ hãi. Lễ bái dài dòng mất thời gian, đồng bóng, vàng mã tốn kém cùng tham vọng hão huyền và những việc làm phản văn hoá, gây rối trật tự an ninh, mất vệ sinh công cộng thì còn gì ý nghĩa linh thiêng trong thờ phụng Thần linh.
Tín ngưỡng Linh vật
Trong dân gian, nơi thờ tự và ở đình chùa, cùng với nghệ thuật kiến trúc xây dựng, tạc tượng, điêu khắc đại tự, hoành phi câu đối mang triết lý giáo dục nhân văn Á Đông, còn có những vật dụng mang trong nó ý nghĩa tâm linh sâu sắc. Đó là các đồ thờ: Tam sự, Tứ linh (Long, Ly, Quy, Phượng), Hạc…
Bộ Tam sự, Ngũ sự
Tam sự gồm một lư hương và hai cây đèn, làm bằng gỗ hoặc đồng, thường được đúc bằng đồng. Tam sự có thêm bình hoa hoặc hai con Hạc, thành bộ Ngũ sự (năm hiện vật). Lư hương (còn gọi là Đỉnh, đúc bằng đồng) đặt ở giữa, hai bên là hai cây đèn. Lư hương để cho hương trầm vào đốt trong những ngày giỗ, tết, hương toả ra thơm ngát, chuyển tải lòng thành, cao quý, thanh khiết của con người nơi thờ tự. Lư hương tròn tượng hình vũ trụ, trái đất, khói hương toả ra, vươn lên cao giao hoà âm dương, đất trời, nối dương gian với thần linh, tiên tổ. Mùi hương thơm có tác dụng thanh lọc không khí trong lành, hoá hung khí, làm tăng cát khí, thăng hoa thư giãn tinh thần, tăng tiến tài lộc. Hai cây đèn tượng trưng cho hai vầng nhật nguyệt, ánh lửa cháy bập bùng, vươn lên vũ trụ huyền ảo, lung linh góp phần cùng các vật dụng thờ cúng càng tôn vẻ uy nghiêm, linh thiêng cho nơi thờ tự.
Tứ linh, Ngũ linh
Theo tư liệu trang mạng “Ý nghĩa hình tượng các con vật trên kiến trúc đền, chùa, lăng tẩm, miếu mạo ở Việt Nam” và Wikipedia tiếng Việt, nêu lên những ý nghĩa sâu sắc về một số linh vật, là những con vật linh thiêng, như tứ linh (bốn con vật: Long - Rồng, Ly - Lân, Quy - Rùa, Phượng - Loan - Phượng Hoàng). Có nơi còn thêm con Hạc. Tứ linh bắt nguồn từ bốn chòm sao ở bốn phương trời là bốn linh thần mang yếu tố lửa, nước, đất, gió tạo nên trời đất: Thanh Long, Bạch Hổ, Huyền Vũ, Chu Tước. Những linh vật tạo nên biểu tượng thanh cao, gắn kết triết lý nhân sinh trong đời sống dân gian, được dùng để tôn vinh, thờ tự. Trong tứ linh Long, Ly, Quy, Phượng thì có con Rùa là có thật, còn ba con, Rồng, Ly, Phượng là tưởng tượng; Con thứ 1 - Long, thứ 3 - Quy là giống đực, con thứ 2 - Ly, thứ 4 - Phượng là giống cái.
Long - Rồng: Trong tín ngưỡng, Rồng đứng đầu tứ linh (Long - Ly - Quy - Phượng). Nơi đình, chùa, ở trên mái đầu đao, cửa chùa, trong nội thất, thường là trên nóc đình, chùa có tạo hình con Rồng (còn gọi là Long). Ở đầu đao thì đầu rồng đua ra vươn lên. Trên tường hay nóc đình, chùa, trên đồ thờ tự lại tạo hình điêu khắc rất tinh xảo “lưỡng Long chầu Nhật” (hai con Rồng chầu mặt Trời, thường lầm tưởng là hai con Rồng chầu mặt Trăng - chầu Nguyệt). Hoặc gọi “lưỡng Long tranh Châu” (hai con Rồng tranh hạt châu, biểu tượng của vũ trụ). Hoặc hình tượng Rồng ngậm hạt Châu.
Rồng là con vật không có thật mà được hình tượng hoá thành nghệ thuật tạo hình chuyển tải triết lý phương Đông. Chữ Rồng trong tiếng Việt hay chữ Long trong tiếng Hán đều bắt nguồn từ tiếng Krông, Klong... trong tiếng Đông Nam Á cổ xưa, có nghĩa là sông nước, được coi là chúa tể cai quản sông nước. Rồng tổng hòa cho trí tuệ, sức mạnh và sự linh thiêng: Thân rắn, mắt tôm hùm, sừng hươu, tai thú, đầu lạc đà, miệng lang, vảy cá chép (81 vảy dương, 36 vảy âm), chân cá sấu, móng chim ưng, mũi, bờm, đuôi sư tử. Rồng chủ nguồn nước, là chúa tể của sông hồ, biển cả, mang lại sức sống mãnh liệt, cho mùa màng tốt tươi. Rồng có vảy và mang dáng cá chép, biểu tượng cho sức mạnh “cá chép vượt vũ môn” trong khoa bảng. Chân Rồng có bốn móng, Rồng tượng trưng cho nhà vua thì có năm móng. Vì thế, Rồng được xếp đứng đầu trong tứ linh, đại diện cho vũ trụ, uy lực của tự nhiên. Các triều đại phong kiến xưa đã lấy hình tượng con Rồng làm biểu tượng quyền uy của triều đình, thiên tử, vua chúa, nên có: Điện Rồng, phủ đầu Rồng, sân Rồng, áo Long bào (áo lụa màu vàng có thêu hình Rồng) cho vua mặc.
Trong dân gian cũng lấy hình tượng con Rồng đưa vào các trang trí, hoạ tiết trên đồ thờ tự như đại tự, câu đối, bát hương…
Dân tộc Việt xuất xứ từ tổ tiên con Rồng cháu Tiên (Lạc Long Quân - Âu Cơ) và nhiều địa danh trên đất nước Việt Nam cũng mang tên Rồng: Thăng Long - Hà Nội (Rồng bay), Hạ Long - Quảng Ninh (Rồng xuống), Bạch Long Vĩ (đuôi Rồng trắng), Hàm Rồng (Thanh Hoá), Cửu Long (chín con sông ở Nam Bộ như chín con Rồng)… Rồng là biểu tượng của sức mạnh tâm linh, mang trong mình sức sống mãnh liệt gắn với huyền tích văn hiến dân tộc.
Về hình tượng “Lưỡng Long chầu Nguyệt”, hay “Lưỡng Long tranh châu” cũng có những lý giải khác nhau. Theo Báo Khoa học và Đời sống số xuân 2012, nhà nghiên cứu Nguyễn Vũ Tuấn Anh cho rằng: Hình ảnh hai con rồng chầu vào hình tròn, được hiểu như là “lưỡng Long chầu Nguyệt”, tức là chầu mặt trăng, nhưng tại sao lại có hình vòng lửa bùng cháy? nên có thể do ảnh hưởng từ tranh dân gian “Lý Ngư vọng Nguyệt” (cá chép ngóng về bóng mặt trăng dưới nước). Đôi rồng hướng về quả cầu lửa không thể là “chầu Nguyệt” (chầu Trăng) mà có thể là “tranh Châu” (hạt Châu). Trong cuốn sách nghiên cứu về văn hoá dân gian Việt Nam của nhà nghiên cứu Việt Nam học người Pháp là Le Brenton, ông cho rằng hình ảnh “Lưỡng Long chầu Nguyệt” là có thật và nó bị lai tạo hình ảnh rồng và tính đặc trưng trong quan niệm của người Trung Hoa.
Rồng là biểu tượng của sức mạnh vũ trụ, là hai lực tương tác Âm - Dương. Hạt Châu là biểu tượng của Thái cực, của vũ trụ. Nếu Rồng mà ngậm hạt Châu cũng là ngậm Thái cực. Nhưng chỉ một, chứ không thể hai Rồng đều ngậm Châu, bởi không có hai vũ trụ! Hình tượng “lưỡng Long chầu Nhật” có ý nghĩa là chầu vầng thái dương nên mới có tạo hình vành ngọn lửa, cũng là biểu tượng của Thái cực - vũ trụ.
Con Rồng Việt Nam xuất hiện từ thời nhà Lý (thế kỷ XI), rồi đến Trần, Lê, Nguyễn được sáng tạo hoàn chỉnh gắn với triết lý nhân văn và chiến công suốt chiều dài lịch sử của dân tộc và đi vào ký ức tâm linh người Việt cho đến ngày nay.
Ly - Lân: Gọi là Kỳ Lân, vì con cái gọi là Lân, con đực gọi là Kỳ. Đầu nửa rồng nửa thú, sừng nai, tai chó, trán lạc đà, mắt quỷ, mũi sư tử, miệng rồng, thân ngựa, chân hươu, đuôi bò. Tuy là con vật không có thật nhưng là biểu tượng cho sức mạnh và trí tuệ, lại rất hiền lành. Hình tượng Kỳ Lân thường được điêu khắc gỗ, đá hay đúc đồng ở nơi cửa chùa, trên lư hương, đỉnh đồng. Khi đốt hương, khói toả từ miệng há của Kỳ Lân (có nơi gọi là Nghê) rất huyền ảo lan toả ra không gian.
Nơi cửa chùa, Văn Thù Bồ Tát cưỡi con sư tử xanh mang dáng dấp Kỳ Lân càng tăng thêm uy nghi bảo vệ Phật pháp.
Quy - Rùa: Rùa là loại bò sát rất đặc biệt, có thân hình chắc chắn và tuổi thọ rất cao. Rùa có thể nhịn ăn, nhịn uống nhiều ngày và mang trên mình những vật nặng. Cho nên Rùa được coi là sự thanh cao, thoát tục, giàu bản lĩnh và tượng trưng cho sự trường tồn, bất diệt. Bụng rùa phẳng tượng trưng cho đất - âm, lưng khum tượng trưng cho trời - dương. Rùa là biểu tượng Lạc Thư của Kinh Dịch. Hình tượng Rùa thường được khắc hoạ đội bia đá, hoặc mang trên lưng cuốn thư. Một số nơi đình chùa những con rùa đá còn đội trên mình những cây cột rất lớn giữ vững cho không gian tâm linh, phật pháp. Mai rùa thường thể hiện hình bát giác của Bát quái. Người ta còn tôn Rùa lên là “Thần Kim Quy” đầy quyền uy. Vì thế, hình tượng con Rùa có giá trị vũ trụ, âm dương, chuyển tải thông tin, văn hoá, tâm linh.
Phượng - Loan: Chim Phượng Hoàng (Phụng) là con mái, con trống gọi là Loan, được mô tả có mỏ diều hâu dài, tóc trĩ, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim ưng, đứng trên hồ sen. Hình tượng chim Phượng mang ý nghĩa: Đầu đội công lý, mắt tượng trưng mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, lông là cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, là tượng trưng cho cả vũ trụ. Khi Phượng ngậm lá đề hoặc cành hoa Sen đứng trên đài sen là mang theo đạo pháp Phật giáo.
Quan niệm của người Việt Nam cho rằng chim Phượng xuất hiện báo hiệu cho sự thanh bình. Chim Phượng cũng là hình tượng hoá, không có thật, nhưng lại mệnh danh là loài chim đẹp nhất trong 360 loài chim. Thân hình quyến rũ, mềm mại, sự thanh lịch, vẻ duyên dáng của chim Phượng mà thành tượng trưng cho nữ tính, phái đẹp, của tầng lớp quý phái “mắt Phượng mày Ngài”. Loan - Phượng biểu tượng cho hạnh phúc lứa đôi, nên trong cưới hỏi người ta têm trầu cánh phượng và gọi là “Kết duyên Loan Phượng”.
Con Hạc: Trong các chùa, đền, miếu ở Việt Nam thường có đôi con Hạc đúc bằng đồng hoặc điêu khắc bằng gỗ tốt, sơn son, đứng trên lưng Rùa đối xứng chầu vào trung tâm nơi đỉnh đồng hay bát hương. Đây là hình tượng biểu hiện sự hài hoà đất trời, âm dương. Hạc tượng trưng cho sự tinh tuý, thanh cao, sống ở trên trời là dương. Rùa tượng trưng cho sự trầm mặc vững chắc, sống ở dưới nước là âm.
Theo truyền thuyết thì hai con Hạc và Rùa rất thân nhau. Một con trên cạn, biết bay lên trời, một con biết bò và bơi dưới nước. Khi trời làm mưa lũ, ngập úng, Rùa đã giúp Hạc đến nơi khô ráo. Khi trời hạn hán, Hạc lại giúp Rùa đến vùng có nước. Tính tương thân tương ái nói lên lòng chung thủy, giúp đỡ nhau trong gian nan, hoạn nạn giữa những người bạn tốt. Hai con Hạc và Rùa thường đúc bằng đồng, miệng Hạc ngậm hai đài hoa để thắp đèn nến, đứng chầu ở hai bên, đèn nến thắp là ngọn lửa vươn lên bập bùng trong khói hương huyền ảo mang theo ý nghĩa hài hoà vũ trụ, âm dương, chuyển tải thông tin, thắp sáng tâm linh, Phật pháp.
Một số người còn dùng hai con cò. Nhưng các nhà điêu khắc lại không làm hai con vươn cao cổ chầu vào nhau, mà một con vươn cổ lên, một con uốn cổ về phía lưng, với giải thích con đực thức canh cho con cái ngủ, hàm ý cho sự thanh bình và chỉ để chơi.
Dân gian rất trân trọng những linh vật trong thờ cúng. Cứ đến cuối năm chuẩn bị đón năm mới là người ta dùng nước sạch, có hương thơm lau rửa và đánh bóng sáng rồi đặt lên bàn thờ để cầu cúng quanh năm với mong sáng đẹp, làm ăn phát đạt, cuộc sống an bình.
Ngũ quả
Trang mạng “Thăng Long - Hà Nội” nói về “ý nghĩa của mâm ngũ quả trong ngày Tết cổ truyền”: Trong dân gian, trên bàn thờ cúng, nhất là trong những ngày Tết còn có mâm ngũ quả. Hình tượng trên mâm ngũ quả là những triết lý nhân văn Á Đông về ý nghĩa màu sắc, ngũ hành, hương vị với đời sống con người cư dân nông nghiệp.
Trước hết là sự tôn kính tổ tiên nhân những ngày lễ trọng, rồi đến khát vọng tốt đẹp cho nhân thế. Ở mâm ngũ quả thường có đại diện của năm màu ngũ hành với những hình thái giàu biểu cảm.
Nải chuối xanh là hành Mộc, mùa Xuân. Những quả chuối ngửa lên như bàn tay hứng lấy vũ trụ và mang theo ý nghĩa nâng niu, bao bọc cho mọi sự nhân gian.
Quả Phật Thủ màu vàng đại diện cho hành Thổ, trung ương, đặt vào lòng nải chuối. Phật Thủ có cánh múi như những ngón tay chụm lên và được hình tượng như bàn tay Phật hiện hình với nhân gian để phổ độ từ bi, mang đến tốt lành.
Quả Hồng, Táo màu đỏ đại diện hành Hoả, mùa Hạ mang dương khí, may mắn đến với nơi thờ tự.
Quả có màu trắng như Lê, Lựu đại diện hành Kim, mùa Thu mát mẻ, thanh bình.
Quả Nho, Mận, Hồng Xiêm màu sẫm đại diện cho hành Thủy, mùa Đông, bảo tồn âm khí, cân bằng và là nguồn cho sự sống.
Thực tế trên mâm ngũ quả ngày nay không chỉ năm loại quả với 5 màu mà còn có nhiều loại quả, có khi là 7 (Thất tinh, Bắc đẩu vũ trụ), hoặc 9 (Cửu tinh, vĩnh cửu dài lâu), 10 (thập toàn, trọn vẹn) và được trình bày rất đẹp, cùng với hương cây, hồn quả làm cho không gian nơi thờ cúng rực rỡ, ngát thơm, hài hoà, sinh động, hội tụ nét đẹp văn hoá, tín ngưỡng dân gian.
Điều lý thú theo quan niệm từng vùng mà trên mâm ngũ quả cũng có khác nhau. Không ưa cay đắng thì không để ớt. Kiêng “quýt làm cam chịu” thì không để Cam. Nghe âm “chuối” giống như âm “chúi” cho là nguy khó thì không dùng chuối. Dâu chín là tang thầm, có chữ “tang” thì không dùng dâu…
Những đồ thờ tự, nhất là cành cây dùng treo các vật dụng như cành phan chẳng hạn, người ta để nguyên cành lá, tránh dùng dao phạt chặt chém đầu ngọn, vì cho thế là chặt mất mọi điều, không còn vươn lên được nữa!
Thế mới hay, dù là mang bản sắc văn hoá nhân sinh nhưng cũng hàm chứa nhiều quan niệm dân gian phong phú.
∗∗∗
Linh vật trong thờ cúng được dân gian hoá, thổi vào đó những quan niệm triết lý Á Đông và trở thành phong tục lễ nghi mang ý nghĩa giáo dục. Người có điều kiện tài chính và hiểu được ý nghĩa tâm linh thì mua sắm đầy đủ cho thêm mãn nguyện. Người hoàn cảnh khó khăn, không lo được đầy đủ thì trên bàn thờ đơn giản có nải chuối xanh, quả bưởi, rồi thắp nén tâm nhang cũng là tâm đức con người đối với thần linh, tiên tổ.
Lễ hội dân gian
Lịch sử đất nước, con người Việt Nam là lịch sử cư dân nông nghiệp với những phong tục, tập quán văn hoá Á Đông, tôn vinh Đạo thờ cúng và sống trong tình nghĩa quần thể cộng đồng.
Trên mặt Trống Đồng, cách đây hàng ngàn năm, tổ tiên người Việt đã đúc kết về nền văn minh nông nghiệp. Các hoa văn, hoạ tiết trên mặt trống mô tả khá sinh động, với những triết lý sâu sắc về đời sống cộng đồng cư dân Việt Nam thời tiền sử.
Truyền thống văn hoá ngàn đời đã hình thành những giá trị văn hoá tốt đẹp trong nếp sống, lối sống và nâng lên tầm cao nghệ thuật văn hoá, ứng xử tràn đầy triết lý nhân văn.
Từ cuộc sống cư dân nông nghiệp, gắn bó với làng quê, thương yêu, đùm bọc, lao động sản xuất, người ta nghĩ đến sức mạnh tinh thần, vui chơi, giải trí. Sau những tháng ngày lao động nhọc nhằn, con người tìm đến nét đẹp tâm linh, giao hoà cùng thiên nhiên, cỏ cây, đất trời cho thêm phần thăng hoa cuộc sống.
Người ta tạo dựng đình chùa làm nơi gửi gắm khát vọng tinh thần, tôn vinh, tạ ơn trời đất, thánh thần cho được an bình, làm ăn thắng lợi và cùng chung niềm vui cuộc sống. Thế là lễ hội ra đời ở mỗi làng quê, mang theo giá trị tinh thần phong phú, đặc sắc. Người ta đến lễ hội để thực hành tín ngưỡng dân gian, hướng đến những thế lực siêu nhiên thánh thần, những anh hùng, vĩ nhân, thành hoàng mà cầu mong cho mưa thuận gió hoà, mùa màng, canh tác thuận lợi, tốt tươi, hướng điều thiện, trừ cái ác. Rồi người ta lại cùng nhau chung vui những trò vui truyền thống dân gian, diễn dựng các tích trò cho tinh thần thăng hoa, con người thêm phấn khởi, khoẻ mạnh, để khi lễ hội khép lại, trở về tiếp tục cuộc sống lao động, mưu sinh tốt đẹp, an bình.
Lễ hội dân gian là hình thức sinh hoạt văn hoá cộng đồng, được tổ chức để tôn vinh truyền thống dân tộc, cầu mong cuộc sống phồn thịnh, mùa màng tốt tươi và cũng là dịp vui chơi, giải trí. Những ngày lễ hội, các hoạt động tế lễ, rước kiệu, diễn trò chơi dân gian… diễn ra vô cùng phong phú, vui tươi, nhộn nhịp. Lễ hội có tác dụng củng cố mối quan hệ cộng đồng, đề cao truyền thống văn hoá, giải toả nhu cầu tâm linh và làm cho con người gắn bó với quê hương, đất nước.
Lễ hội hoàn chỉnh gồm có hai phần: Lễ và Hội. Phần Lễ là thực hành tín ngưỡng dân gian, gồm nghi lễ dâng hương, tưởng niệm, rước Thần linh, Thành hoàng, hướng tới tâm linh, khát vọng tốt lành cầu mong thánh thần, trời đất. Phần Hội, phát triển những nét đẹp độc đáo, đa dạng, phong phú về văn hoá, phong tục, tập quán sinh hoạt cộng đồng cư dân, tôn vinh truyền thống tốt đẹp qua các loại hình nghệ thuật và tích trò.
Tâm linh và văn hoá được gắn kết hài hoà tạo nên sức hấp dẫn, phong phú làm nên giá trị vô cùng đặc sắc của lễ hội mang đậm truyền thống dân gian.
Lễ hội có nhiều loại với ý nghĩa đặc sắc: Lễ hội tín ngưỡng nông nghiệp, ngư nghiệp như “Xuống đồng”, “Cầu Ngư”; Lễ hội văn hoá như “Du Xuân”, “Lim - Quan Họ”, “Óc Om Bok”; Lễ hội lịch sử như “Đền Hùng”, “Phù Đổng”, “Đền Trần”, “Đống Đa”; Lễ hội dân tộc “Đâm Trâu” ở Tây Nguyên; Lễ hội phồn thực giao duyên như “Ném Còn”; Lễ hội thi tài như “Chọi trâu”; Lễ hội làng nghề như “Lệ Mật”; Lễ hội thượng võ như “Vật - Liễu Đôi”; Lễ hội tôn giáo như “Chùa Hương”, “Yên Tử”...
Ngày nay còn có loại hình Festival hàng năm, lễ hội các ngành nghề kết hợp giữa dân tộc và hiện đại nhằm tôn vinh những giá trị tinh thần cùng lao động sáng tạo của thời kỳ mới, càng làm cho hoạt động văn hoá thêm đa dạng, sinh động, vui tươi.
Lễ hội tại các làng quê, hay ở những nơi chùa chiền núi non, khu văn hoá, du lịch đều có sức thu hút tâm thức con người, tạo nên hiện tượng xã hội cực kỳ huyền diệu trong lịch sử văn hoá người Việt. Người ta háo hức, say mê tham gia vào lễ hội ở làng quê, hành hương mải miết về lễ hội xa xôi nơi rừng xanh núi thẳm, đến di tích, danh thắng, du lịch với tâm nguyện thư giãn, thăng hoa, khát vọng cháy bỏng của tâm hồn. Người ta hoá thân, nhập cuộc, hoà vào với thiên nhiên, cỏ cây, đất trời, núi sông, biển cả, giao hoà tín ngưỡng tâm linh cùng đời sống nhân sinh thực tại lành mạnh, thanh bình.
Lễ hội là nơi hội tụ tinh hoa văn hoá truyền thống, sáng tạo nghệ thuật xây dựng đình chùa, tài năng phong phú, đa dạng của văn nghệ dân gian. Vì vậy, mà lễ hội có sức sống lâu bền và ngày càng được trân trọng, giữ gìn, phát triển. Đây quả là giá trị tinh thần vô giá và lành mạnh của ý nghĩa lễ hội đối với cuộc sống con người.
Lễ hội diễn ra vào thời điểm công việc nhà nông đã tạm ổn, có thời gian thư giãn, nghỉ ngơi, khi giao tiết, chuyển mùa, thường vào đầu năm âm lịch, mùa Xuân “Tháng Giêng là tháng ăn chơi” và tiết mùa Thu mát mẻ, thư nhàn.
Lễ hội xưa kia, chủ yếu là ở tại làng, theo:
“Trống làng nào làng ấy đánh
Thánh làng nào làng ấy thờ.”
Sau dần ảnh hưởng rộng ra cả một vùng, như “Lễ hội Lim - Quan họ”, có lễ hội mang tính toàn dân tộc như “Lễ hội Đền Hùng”, “Lễ hội chùa Hương”.
“Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày giỗ Tổ mồng Mười, tháng Ba.”
Hiện nay, trên cả nước, hàng năm có tới hàng ngàn lễ hội dân gian. Lễ hội phát triển ở khắp mọi nơi, với rất nhiều loại hình phong phú, đặc sắc. Không chỉ lễ hội làng, mà từng dòng họ, khi giỗ tổ cũng trang phục, tế lễ theo hình thức lễ hội. Thế nên, cả đất nước thời hoà bình, không có chiến tranh, chỗ nào và lúc nào cũng có lễ hội. Ở vùng quê, quanh năm lam lũ vất vả, thì lễ hội là nơi có dịp gặp gỡ, đoàn kết, giao lưu, cùng chung khát vọng hạnh phúc, sinh sôi, vui vẻ, thanh bình.
Có điều rằng, vì quá cuồng tín mà lễ hội nhiều nơi trở nên kệch kỡm, đua đòi bày vẽ không đúng cách, rất mất thời gian ăn chơi lãng phí. Hoặc lại biến tướng lễ hội theo tín ngưỡng dân gian lành mạnh thành mê tín dị đoan, mơ ước, tham vọng hão huyền phản văn hoá, khoa học. Người ta cứ mệnh danh tâm linh mà làm càn, làm bậy, hù doạ người nhẹ dạ cả tin bằng những trò lừa bịp bói toán, đồng bóng nhảy múa luyên thuyên, nhằm vơ tiền hót bạc, đốt vàng mã mất rất nhiều tiền và phát sinh những trò mê hoặc gây nên sợ hãi cho con người. Những người tàn tật, lang thang, kể cả “giả vờ” nghèo khổ hoặc dùng “khổ nhục kế” lợi dụng để chèo kéo, xin ăn làm cho không gian lễ hội trở nên phản cảm.
Có lần, một cán bộ phòng văn hoá huyện nói rằng: “Các kỳ lễ hội Phủ Dầy hàng năm đông đến nỗi chen chúc, người nọ đội lễ, vàng mã, chỉ nhìn lưng, ngắm gáy người kia chứ có vào lễ bái gì được đâu. Ai đi xe máy vào mắc kẹt, không sao nhích được, thế là máy cứ nổ hết cả xăng, đến khi thoát ra được thì không đi được nữa. Có nhiều người bị bọn trộm cắp, bất lương len lỏi vào móc sạch tiền, hoa tai, dây chuyền, vàng bạc, điện thoại di động đắt tiền, mất hàng triệu đồng, đến là khổ!”.
Theo thông tin đại chúng thì hiện nay, trên phạm vi cả nước hàng năm có khoảng 7000 lễ hội (nguồn báo Tiền phong còn cho biết tới 9000), thực sự là con số đáng để suy ngẫm. Nếu là sự thăng hoa văn hoá đích thực thì thật đáng mừng cho một đất nước thanh bình, giá trị nhân văn thăng hoa, phát triển. Nhưng cũng tự hỏi rằng có phải loạn lễ hội hay không, khi mà mở ra quá nhiều nhưng những giá trị văn hoá truyền thống không phát huy, gìn giữ được? Cả đất nước sinh ra đủ mọi thứ lễ hội, ăn chơi lãng phí thời gian, tiền của, trong khi lại rất cần dành cho những việc làm có ích, từ thiện khác như học hành, nghiên cứu, xuất khẩu trí tuệ, phát minh ra những sản phẩm hiện đại, văn minh để mà tự hào và làm giầu cho đất nước, như các nước tiên tiến đã và đang làm? Chúng ta không thể vui khi đâu đâu cũng thi nhau xây dựng chùa chiền, nhà thờ, tắm mình trong tưởng niệm cổ xưa, nhưng lại không có những công trình khoa học phát minh nào đáng giá, mà những khoa học công nghệ cao đều phải nhập từ ở nước ngoài. Cúng bái thì la liệt, khắp nơi, nhưng chẳng có một thành công nào về về tri thức hiện đại được giải Nobel danh giá. Thời đại mới phải là sự vinh danh trí tuệ sánh với toàn cầu.
Con người bị cuốn vào vòng mê muội mê tín, vàng mã, đồng bóng kéo theo lạc hậu, đói nghèo, nảy sinh tệ nạn xã hội trộm cắp, đưa tâm thức trở về thời tiền sử!
Trên trang mạng “Thời sự trong nước” đầu năm 2012 có đăng tải bài “Phản cảm ở chốn linh thiêng” nói về việc “Cần phải trả lại vẻ đẹp cho các lễ hội”, cảnh báo rằng:
“Nhiều cảnh chướng tai gai mắt như chen chúc gây tắc đường, chen lấn, xô đẩy nhau rất mất trật tự. Các đại gia kinh doanh giầu có vung tiền mua bán mê tín dị đoan. Tệ nạn mê tín, đồng bóng, vàng mã nảy nở. Thịt thú rừng “đặc sản” bán tràn lan. Đệ tử, chúng sinh rải tiền công đức vô tội vạ bất cứ chỗ nào. Kẻ lợi dụng lễ hội chèo kéo khấn vái thuê với những lời cầu xin vật chất nghe rất phản cảm, có cả một đội ngũ thanh niên hoá vàng thuê kiêm… xin tiền du khách. Nạn lừa đảo, trộm cắp tràn lan, lấy trộm đồ đạc, rạch túi xách tay. Giá dịch vụ giữ xe, ăn uống, nhà nghỉ tăng vô tội vạ. Hoạt động cờ bạc trá hình diễn ra nhan nhản… Cơ quan chức năng đành chịu bó tay, không cách gì dẹp bỏ tận gốc.”
Trong trả lời phỏng vấn báo Tiền phong, Giáo sư - tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu, văn hoá tín ngưỡng Việt Nam, cho rằng:
“Lễ hội hiện nay đang đứng trước thực trạng đơn điệu hoá giống nhau quá, lễ hội làng này giống với làng kia, tỉnh này giống với tỉnh nọ. Như vậy người ta chỉ cần xem lễ hội một làng thôi, không cần xem làng kia nữa. Như thế rất phản văn hoá.
Lễ hội cũng đang bị trần tục hoá. Ngày xưa, người dân đến với lễ hội với tinh thần thành kính, tri ân trong sáng. Bây giờ người ta đến lễ hội với tất cả sự thực dụng, cầu xin khấn vái. Rồi người tổ chức lễ hội cũng rất thực dụng. Thành ra, lễ hội mất thiêng.
Bên cạnh đó, lễ hội cũng đang bị thương mại hoá. Nhiều nơi tổ chức nhằm kiếm chác, tìm cách chặt chém, làm sao được lợi. Người đến lễ hội thường cầu cúng xin xỏ chứ không phải để chiêm tưởng.
Một thực trạng cần lên tiếng nữa là lễ hội đang bị “nhà nước hoá”. Chính quyền địa phương can thiệp vào lễ hội nhiều quá. Chẳng hạn như ở lễ hội khai ấn đền Trần, chính quyền đứng ra tổ chức đóng ấn. Những lễ hội bị biến thái chủ yếu do sự can thiệp thái quá của chính quyền. Trong một số lễ hội còn diễn ra những màn tuyên truyền không phù hợp, ông chủ tế lại đứng ra báo cáo thành tích sinh đẻ có kế hoạch.
Vai trò của tín ngưỡng, tâm linh là hướng thiện, tránh điều ác. Nhưng không có nghĩa là người ta đi chùa chiền lễ hội cúng vái nhiều là không có tội ác. Cái ác có trong xã hội và xuất hiện do nhiều yếu tố. Đi chùa lễ Phật nhiều có khi lại thể hiện một sự khủng hoảng lòng tin. Khi người ta bơ vơ, mất niềm tin thì rất dễ bị lợi dụng. Lễ hội cũng là tấm gương phản chiếu nhân tâm của xã hội.”
Nhà nước ta rất tôn trọng tự do tín ngưỡng và luôn luôn chủ trương giữ gìn và phát huy nền văn hoá truyền thống, độc đáo, giàu bản sắc dân tộc Việt Nam, nhưng cũng chống mê tín dị đoan làm tổn hại đến đời sống tinh thần lành mạnh trong cộng đồng, mất trật tự an ninh, để vươn lên xã hội tốt đẹp, văn minh hiện đại.
Lễ hội dân gian tức là từ nhân dân, do người dân tổ chức, tạo dựng, nên mỗi lễ hội mang sắc thái tiêu biểu đặc trưng của từng nơi, từng vùng và có riêng ý nghĩa rất đặc sắc. Trả lại lễ hội cho dân, chính quyền địa phương và Nhà nước chỉ tạo điều kiện, giúp đỡ bảo đảm cho tín ngưỡng được lành mạnh, an toàn.
Lễ hội dân gian cổ truyền cần được bảo tồn với đúng giá trị nhân văn tốt đẹp, lành mạnh của hình thái lễ hội truyền thống dân gian, nét độc đáo của đất nước Việt Nam văn hiến muôn đời.
Lễ Tết cổ truyền
Lễ, Tết là phong tục, tập quán truyền thống dân gian của dân tộc, mang theo giá trị tinh thần và nét đẹp đời sống tâm linh người Việt. Trong Tết có Lễ thực hành nghi thức tín ngưỡng của con người đối với trời đất, thần linh, tiên tổ.
Hàng năm, có rất nhiều Lễ, Tết có ý nghĩa sâu sắc gắn với đời sống con người. Đó là Tết đón năm mới, tết đầu Xuân, tết về mùa màng, tết theo lễ giáo, tết của các dân tộc thiểu số, đồng bào miền núi...
Sách “Tìm hiểu phong tục Việt Nam: Nếp cũ - Tết lễ - Hội hè” của tác giả Toan Ánh và kho tàng truyện Cổ tích Việt Nam, mô tả về Lễ, Tết với những truyền tích dân gian rất sinh động, phong phú.
Tết Nguyên Đán
Theo sách “Tìm hiểu phong tục Việt Nam” của Toan Ánh, Nhà xuất bản Thanh niên - 1992:
Tết Nguyên Đán, Nguyên là bắt đầu, Đán là buổi sớm mai; Là tết mở đầu một năm, tiễn năm cũ mừng năm mới, mang theo những ước vọng may mắn, mới mẻ, tốt lành đến với con người.
Tết Nguyên Đán, gọi tắt là “Tết” có nguồn gốc từ Trung Quốc, từ đời Ngũ Đế, Tam Vương.
“Đời Tam Vương, nhà Hạ, chuộng màu đen nên chọn tháng đầu năm, tức tháng Giêng, nhằm tháng Dần (con cọp), do đó Tết Nguyên Đán vào tháng Dần và lấy tên mười hai chi đặt cho mười hai tháng.
Nhà Thương thích màu trắng, lấy tháng Sửu (con trâu), tháng Chạp làm tháng đầu năm.
Đến nhà Chu (1050-226 TCN), ưa sắc đỏ, chọn tháng Tý (con chuột), tháng Mười một làm tháng Tết.
Các vua chúa xưa đã theo ngày giờ, lúc tạo thiên lập địa, nghĩa là giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người mà đặt ra ngày tết khác nhau.
Đến đời Đông Chu, Khổng Phu Tử ra đời, đổi ngày tết vào một tháng nhất định: Tháng Dần.
Mãi đến đời nhà Tần (thế kỷ III TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi (con lợn), tức tháng Mười.
Cho đến khi nhà Hán trị vì, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần (tức tháng Giêng) như đời nhà Hạ. Từ đó về sau không còn thời nào thay đổi về tháng Tết nữa.
Đến thời Đông Phương Sóc, ông cho rằng ngày đầu năm là tạo thiên lập địa, mồng Một có thêm giống Gà, ngày thứ hai có thêm Chó, ngày thứ ba có Lợn, ngày thứ Tư sinh Dê, ngày thứ Năm sinh Trâu, ngày thứ sáu sinh Ngựa, ngày thứ Bảy sinh loài Người (gọi là Nhân Nhật) và ngày thứ Tám mới sinh ra ngũ cốc. Nhân ngày Nhân Nhật, người ta làm lễ cúng trời đất.
Vì thế, ngày Tết thường được kể từ ngày mồng Một cho đến hết ngày mồng Bảy”.
Tết Nguyên Đán vào lúc giao mùa, qua mùa Đông rét buốt, khô hanh, đón mùa Xuân ấm áp, lất phất mưa Xuân, cỏ cây đâm chồi nảy lộc, mang theo chứa chan hy vọng mà cầu chúc cho nhau: Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh.
Tết Nguyên Đán gắn với những phong tục, tập quán phong phú, ý nghĩa nhân văn sâu sắc.
Người ta thường nói đến “giáp tết” và bắt đầu cho năm mới là “Lễ Trừ Tịch”.
Lễ Trừ Tịch vào lúc giao thừa, giờ phút cuối cùng của năm cũ chuyển sang năm mới. Đó là giữa giờ Hợi ngày 30 (tháng thiếu là 29) tháng Chạp âm lịch của năm cũ sang giờ Tý mồng Một tháng Giêng của đầu năm mới.
Theo tác giả Toan Ánh, trong “Tìm hiểu phong tục Việt Nam”: “Lễ trừ tịch theo người Tàu, còn là một lễ trừ ma quỷ. Tục Tàu xưa vào ngày trừ tịch, 30 tết, dùng 120 trẻ con khoảng 9 đến 10 tuổi, mặc áo thâm, đội mũ đỏ, cầm trống vừa đi vừa đánh để khu trừ ma quỷ, do đó có danh từ “Trừ tịch”. Lễ cử hành vào lúc giao thừa nên còn gọi là “Lễ Giao thừa”.
Quan niệm xưa, vào lúc giao thừa, người ta mang lễ ra cửa nhà thắp hương để “tống cựu nghinh tân” tiễn đưa Vương hiệu “bàn giao công việc” năm cũ và nghinh đón Vương hiệu hành khiển năm mới, với ý niệm “thần nhà trời” thay nhau cai quản năm mới mang theo khát vọng tốt lành; Đồng thời thắp hương ở bàn thờ chính trong nhà tưởng nhớ gia tiên, đón giao thừa, mừng năm mới.
Tại bàn thờ thắp nén hương thơm khấn lễ giao thừa, sau đó lễ cúng Thổ Công, rồi gia tiên. Trong ánh sáng đèn, nến huyền ảo, rực rỡ và hương thơm lan toả không gian, gia đình xum họp vào lúc giao thừa đón giờ phút Tết Nguyên Đán lung linh, kỳ diệu.
Giờ phút giao thừa là thời điểm thật đặc biệt, tinh thần phấn chấn với ước vọng những điều tốt đẹp đang đến với mỗi con người. Tiếng chuông chùa, chuông nhà thờ rung ngân trong không gian đất trời linh thiêng, huyền diệu. Ngày nay, các phương tiên truyền thông Phát thanh, Truyền hình phát đi hình ảnh người lãnh đạo cao nhất của nhà nước chúc mừng đồng bào, đất nước đón chào năm mới, chúc Tết, mừng Xuân.
Đây cũng là thời điểm quan trọng trong mỗi gia đình, nên nhà cửa được tu sửa, trang hoàng sạch, đẹp, ai cũng trân trọng, vui mừng, mọi người chúc cho một năm mạnh khoẻ, an khang. Người ta nâng chén rượu đầu năm chúc nhau thêm một tuổi, cùng thưởng thức bánh chưng, dưa hành, mứt tết... mừng vui đón Tết đến, Xuân về. Rồi từ giao thừa ai cũng tự đề cao ý thức trân trọng, giữ gìn trong giao tiếp, đối nhân xử thế sao cho thật tốt đẹp với nhau. Con cháu chúc sức khoẻ, mừng tuổi ông bà, cha mẹ. Ông bà, cha mẹ lì xì mừng tuổi (từ “lợi thị” của Trung quốc, nói trại ra là “lì xì”, có nghĩa là được may mắn. Tục này cũng chỉ cho trẻ con và những người trẻ chưa có vợ, có chồng) và khuyên dặn con cháu chăm ngoan, giữ gìn khi nói năng, không quấy khóc, không cãi nhau, vệ sinh nhà cửa gọn, sạch để đón năm mới tốt đẹp, yên vui. Có người còn ra đường tận hưởng không khí giao thừa, giao hoà trời đất, hái lộc và thực hành tục xông nhà mình đầu năm. Người lại “khai bút” sáng tác văn thơ, vẽ tranh, viết câu đối Tết...
Đến giao thừa, tại các đình chùa tiếng chuông ngân rung, đền miếu cũng thắp hương kính lễ Thần linh, Thành hoàng cầu cho một năm mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi, lòng người phấn chấn, náo nhiệt, hân hoan.
Người ta đến xông nhà, mừng tuổi, chúc tết với tình cảm chân thành, cùng nâng chén rượu đầu năm, tăng thêm tình thân yêu, trân trọng với nhau.
Tết Nguyên Đán là tết trọng đại nhất của năm. Đây là dịp những người thân trong gia đình đoàn tụ, nhất là những người đi xa cũng bằng mọi cách về với gia đình xum họp trong những ngày tết, vui mùa Xuân mới. Các cụ cao niên nhân đây làm lễ thượng thọ. Con cháu tính ngày khai trương công việc, học hành, làm ăn, buôn bán cho phát lộc, phát tài. Các địa phương, họ tộc chuẩn bị cho mùa Lễ hội dân gian nhân đầu Xuân Mới.
Tết là những ngày vui, “vui như tết” nên ai cũng ước vọng tốt lành. Vì vậy, người ta lại sinh ra quan niệm kiêng kỵ. Những điều không hay, không đúng thì chẳng riêng gì ngày Tết, mà ngày thường cũng nên cẩn thận như làm những việc không đúng lúc, nói năng không khéo, mâu thuẫn, cãi nhau... Còn những điều phi lý, vô căn cứ mà cũng cứ kiêng thì rất không nên. Người ta kiêng đầu năm ra ngõ gặp đàn bà, là sự xúc phạm một nửa nhân loại, những người mẹ sinh ra mọi người trên thế gian này, có người còn là anh hùng, thiên tài của quốc gia, thế giới. Kiêng người xung tuổi xông nhà chúc mừng năm mới, kiêng đến nhà có người sinh đẻ, kiêng khen trẻ đẹp, dễ thương, kiêng gặp người thân bá vai, bá cổ... đều là những điều kỳ quặc, không nên.
Cùng với những phong tục, vật phẩm, trong dịp Tết còn có cây Nêu, hoa Đào, hoa Mai, bánh Chưng, bánh Dầy... góp phần làm nên nét đặc sắc truyền thống và sức sống mùa Xuân; Đồng thời cũng mang theo ý nghĩa tốt đẹp về truyền tích dân gian phong phú.
Điển hình, đặc trưng của Tết Nguyên Đán Việt Nam mang hồn dân tộc:
“Bánh chưng xanh, thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ”
“Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh”.
Ngày nay, vì sự an toàn, tục đốt nổ pháo đã bãi bỏ. Tuy mất đi cái rộn rã giao thừa xưa chìm trong tiếng pháo râm ran, nhưng vẫn đượm đà không khí Tết.
Sự tích “Cây Nêu ngày Tết”, tác giả Toan Ánh kể rằng:
“Ngày xưa, lâu lắm rồi, Quỷ chiếm đoạt tất cả đất đai. Mỗi năm, chúng bắt người phải nộp lúa ngày càng tăng. Chúng nghĩ ra “ăn ngọn cho gốc” và dùng áp lực bắt người thực hiện. Thế là cứ sau vụ gặt, đồng ruộng chỉ còn trơ những gốc rạ.
Phật thấy Quỷ tàn ác và muốn giúp người, đã khuyên không trồng lúa mà trồng khoai lang. Vì “ăn ngọn cho gốc” nên mùa thu hoạch Quỷ chỉ có toàn là dây lá, còn người được củ. Quỷ lại hậm hực nghĩ thay lệ mới “ăn gốc cho ngọn”. Phật lại bảo người trồng lúa. Quỷ mất ăn, tức quá lại đòi “ăn cả gốc và ngọn”. Phật lại cho người giống ngô để gieo khắp mọi nơi. Đến mùa, người cứ bắp ngô mà bẻ mang về, còn để lại “cây và gốc” cho Quỷ.
Tức giận, Quỷ bắt người phải trả tất cả đất, không cho trồng cấy nữa. Phật lại bàn với người nói với Quỷ cho thuê một miếng đất để trồng một cây tre và treo lên ngọn chiếc áo cà sa của Phật. Bóng áo cà sa đến đâu thì người được sử dụng đất đến đó. Quỷ tính toán thấy lợi liền đồng ý giao ước: Ngoài bóng tre là của Quỷ, trong bóng tre và có vệt vôi trắng là đất của Phật, người được sử dụng.
Khi người trồng cây tre xong, Phật đứng trên ngọn tre tung áo cà sa thành một bóng tròn, rồi hoá phép cho cây tre cao lên tận trời xanh. Thế là mặt đất trở nên âm u do bóng tre cứ lan rộng ra, Quỷ phải lùi mãi, cuối cùng chúng không còn đất, phải chạy ra biển Đông và trở thành “Quỷ biển Đông”.
Nhưng Quỷ vốn âm mưu thâm hiểm, không chịu, liền tính chuyện đưa quân là bầy thú hung dữ, chó, ngao, bạch xà, hắc hổ... vào chiếm lại đất. Phật lại dùng gậy tầm xích giúp người đánh Quỷ. Trận chiến diễn ra không dứt. Quỷ biết Phật hay cúng thờ hoa quả, oản, chuối, cơm nắm, trứng, nên chúng mang rất nhiều ném vào chỗ Phật. Phật bảo người nhặt lấy làm lương thực và dùng những thứ Quỷ sợ là máu chó, lá dứa, tỏi và vôi bột để trị chúng. Thế là người dùng máu chó vảy ra, Quỷ sợ hết hồn, người lại giã tỏi phun ra, hơi tỏi khó chịu, chúng liền bỏ chạy.
Quyết không chịu, lần thứ ba Quỷ lại mang cơm nắm, trứng luộc đến ném. Người thu được để làm lương thực và dùng vôi bột vung ra, rồi lấy lá dứa quất vào chúng. Quỷ thất bại, kéo nhau chạy ra biển Đông, không dám làm gì nữa. Nhưng chúng rập đầu kêu khóc xin Phật cho phép hàng năm được vài ngày vào đất liền thăm phần mộ tổ tiên của chúng. Vì nhân từ, đức độ, Phật đồng ý, thế là hàng năm cứ đến ngày Tết Nguyên Đán là Quỷ vào thăm đất liền.
Để đề phòng Quỷ dữ, vào dịp Tết, người ta trồng cây tre làm “Cây nêu”, ngụ ý như Phật đã làm khi trước, cho quỷ không dám bén mảng đến chỗ người ở. Trên cây nêu có khánh sành, mỗi khi gió đu đưa thì có tiếng động phát ra nhắc bọn Quỷ nghe mà tránh. Trên ngọn cây nêu có buộc một bó lá dứa hoặc cành đa mỏ hái cho Quỷ sợ. Ngoài ra còn vẽ hình cung nỏ hướng mũi tên ra phía Đông và rắc vôi bột vòng quanh xuống đất nơi gốc cây nêu, hoặc các gốc cây quanh nhà vào những ngày tết để ngăn, trừ Quỷ”. Thế nên có câu ca dao:
Cành đa, lá dứa treo cao
Vôi bột rắc ngõ, chớ trêu mọi nhà.
Quỷ vào, rồi Quỷ lại ra
Cành đa, lá dứa thì ta cứa mồm.
Theo truyền tích xưa mà trở thành tục trồng “Cây nêu ngày Tết” tại nhà, ở đình, chùa, nơi lễ hội đầu năm. Người ta còn rắc vôi bột hoặc quét vôi ở cửa nhà, ở cổng, vào các gốc cây trước khi đón giao thừa để trị Quỷ, đồng thời cũng có tác dụng diệt vi khuẩn, côn trùng và coi hướng Đông là “hướng Quỷ”.
Ngày nay, xã hội văn minh, mấy ai nghĩ rằng có Quỷ, có ma. Tục trồng “Cây nêu” chỉ còn ở một số nơi lễ hội đầu năm như là một nét đẹp nhớ về truyền thống giáo dục của dân gian nhân Tết đến, Xuân về. Ở vùng quê, vẫn còn một số nơi quét vôi vào cây cối, cổng, cửa nhà nhưng rất ít người hiểu rõ về tục này trước ngày đón Tết.
Trong ngày Tết, mỗi gia đình thường có cành hoa Đào, hoa Mai là đặc trưng cho năm mới đến. Cành Đào, cành Mai tô điểm cho không gian linh thiêng và cũng nói lên khát vọng tốt lành của con người trong những ngày vui Tết, đón Xuân.
Truyền thuyết về cành đào kể rằng: “Xưa kia ở núi Sóc Sơn, có một cây đào khổng lồ, cành lá xum xuê, toả bóng mát cả một khu đất rộng. Trên cây đào này có hai vị thần tên là Trà và Uất Luỹ, thường dùng uy quyền che chở cho dân lành. Quỷ dữ, ma quái đều khiếp sợ hai vị thần, đến nỗi chỉ trông thấy cành đào là thất kinh mà bỏ chạy.
Cuối năm nọ, hai thần phải lên chầu trời, lợi dụng cơ hội đó ma quỷ ra sức tung hoành, quấy phá cuộc sống của nhân dân. Để đối phó với chúng, người ta bảo nhau bẻ cành đào về cắm trong nhà. Quả nhiên, ma quỷ thấy cành đào đều cuống cuồng bỏ chạy.
Từ đó, hàng năm cứ sắp đến tết, mọi người lại đi mua sắm cành đào về cắm trong nhà để xua đuổi ma quỷ, không cho chúng quấy phá. Dần dần người ta thấy màu tươi thắm của hoa đào vừa đẹp, vừa hài hoà với câu đối đỏ, bánh chưng xanh và không khí tưng bừng ngày tết, nên cứ đến tết là ai cũng đi sắm cành đào và trở thành một nét đẹp trong thuần phong mỹ tục của người Việt khi Tết đến, Xuân về.
Hoa đào thích hợp với không khí lạnh của mùa đông phía Bắc lại nở đẹp vào dịp đầu Xuân, càng tôn thêm vẻ đẹp tinh thần, đặc trưng cho ngày Tết và mùa Xuân”.
Sự tích cây Mai được Hà Nghinh Phong tóm lược như sau: “Ngày xưa, có một cô gái tên Mai, là con một người thợ săn rất giỏi võ thuật và can đảm. Lên mười tuổi cô đã được người cha huấn luyện trở thành nữ hiệp tinh thông võ thuật. Lúc ấy, có một con yêu tinh đến quấy phá. Dân làng rất lo sợ và treo giải ai giết được con yêu quái sẽ được trọng thưởng. Thế là hai cha con cô gái lên đường tìm diệt yêu tinh. Hai cha con cô diệt được yêu tinh và trở nên nổi tiếng khắp vùng. Vài năm sau, người cha lâm bệnh. Cô gái ngày càng võ nghệ tinh thông. Rồi lại có con yêu tinh xuất hiện. Dân trong vùng lại khẩn thiết nhờ cha con cô diệt trừ yêu quái. Trước khi cha con cô gái lên đường, người mẹ may cho cô một bộ đồ gấm màu vàng rất đẹp, cô rất thích và hứa ngày trở về sẽ mặc.
Hai cha con cô gái lên đường lội suối, băng rừng tìm nơi yêu tinh để diệt. Vì người cha sức yếu không giúp được gì, nên cô gái một mình chống chọi với yêu tinh. Nhờ sức mạnh tinh thần và tài nghệ võ thuật, cô đã tiêu diệt được yêu tinh là một con rắn. Nhưng trước khi chết, yêu tinh đã dùng đuôi quấn và xiết chết cô gái.
Cảm thương trước nghĩa cử cao đẹp của cô gái và lời cầu xin của người mẹ, Táo Quân đã xin Ngọc Hoàng cho cô gái sống lại và về với gia đình trong chín ngày. Thế là cô gái đã trở lại hình hài như xưa về với gia đình chín ngày, từ 28 tháng Chạp đến mồng sáu Tết thì biến mất. Về sau cha mẹ và người thân mất hết, cô hoá thành một cây hoa mọc bên ngôi miếu mà người dân đã lập nên để cúng bái tưởng nhớ cô. Thấy cây hoa lạ mọc bên miếu cứ trổ hoa vàng suốt chín ngày Tết nên dân làng lấy tên cô gái đặt cho cây hoa là cây Mai và chiết cành mang về trồng khắp nơi để trừ ma, đuổi quỷ, mang lại niềm tin, may mắn cho gia đình mỗi độ Tết đến, Xuân về”.
Bánh Chưng xanh ngày Tết là đặc sản độc đáo mang theo truyền tích cội nguồn dân tộc trong “Sự tích Bánh Chưng Bánh Dầy”:
“Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ 6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ý định truyền ngôi cho con.
Nhân dịp đầu Xuân, Vua họp các hoàng tử lại, bảo rằng: - Con nào tìm được thức ăn ngon lành, để bày cỗ có ý nghĩa nhất thì ta sẽ truyền ngôi cho.
Các hoàng tử đua nhau đi tìm kiếm của ngon vật lạ dâng lên vua cha, với hy vọng có được ngai vàng. Người con trai thứ 18 của Hùng Vương là Lang Liêu (còn gọi là Tiết Liêu), tính tình hiền hậu, đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. Vì mẹ mất sớm, thiếu người dạy dỗ, nên ông lo lắng không biết thế làm nào.
Một hôm Lang Liêu nằm mộng thấy có vị Thần đến bảo: “Này con, vật trong trời đất không có gì quý bằng gạo, vì để nuôi sống người. Con hãy lấy gạo nếp làm bánh hình tròn và hình vuông, tượng trưng cho Trời Đất. Lấy lá xanh bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng hình cha mẹ sinh thành.”
Lang Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật thơm ngon làm bánh vuông tượng hình Đất, bỏ vào nồi luộc chín gọi là Bánh Chưng và giã xôi làm bánh tròn tượng hình Trời, gọi là Bánh Dầy. Bánh Chưng thì lấy lá xanh bọc bên ngoài tượng hình cha mẹ yêu thương, đùm bọc con cái.
Đến ngày hẹn, các hoàng tử đem trình lên vua cha đủ mọi thứ sơn hào, hải vị. Hoàng tử Lang Liêu chỉ có cặp Bánh Chưng Bánh Dầy. Vua Hùng lấy làm lạ hỏi thì Lang Liêu đem chuyện Thần báo mộng kể lại và giải thích về ý nghĩa của Bánh Chưng Bánh Dầy. Vua cha nghe xong, nếm thử thấy ngon, khen có ý nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại cho hoàng tử thứ 18 là Lang Liêu.
Từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán, dân chúng làm Bánh Chưng, Bánh Dầy để dâng cúng Trời Đất, Tổ tiên, nhớ về người con hiếu thảo và tôn vinh tinh hoa nghề nông của người Việt”.
Ngày Tết quả là những ngày vui tươi, đầm ấm, tinh thần thoải mái, trong sáng, thăng hoa mang theo bao khát vọng tốt đẹp, thanh bình trong tâm linh con người và cũng bắt đầu cho một năm phấn đấu làm ăn mong sao cho tốt đẹp, an lành.
Ngoài Tết Nguyên Đán, trong năm còn nhiều Lễ Tết dân gian, làm nên những giá trị tinh thần nhân văn, phong phú. Sách “Tìm hiểu Phong tục Việt Nam” của tác giả Toan Ánh và truyện cổ tích, dân gian giới thiệu khá chi tiết, sinh động về một số Lễ Tết chính trong năm, đó là: Lễ Thượng Nguyên, Rằm tháng Giêng. Lễ Tịch điền. Tết Hàn Thực, mồng 3 tháng Ba. Tết Thanh Minh, trong tháng Ba. Tết Đoan Ngọ, mồng 5 tháng Năm. Lễ Thất Tịch, mồng 7 tháng Bảy, mưa Ngâu. Tết Trung Nguyên, Rằm Tháng Bảy - Lễ Vu Lan. Tết Trung Thu, Rằm tháng Tám. Tết Trùng Cửu, mồng 9 tháng Chín. Tết Cơm mới. Tết Trùng Thập, mồng 10 tháng Mười. Lễ Táo Quân 23 tháng Chạp.
Lễ Tịch Điền
Lễ Tịch Điền, còn gọi là Lễ Hạ Điền, tức là xuống ruộng, làm ruộng. Đây là lễ theo truyền tích vua Thần Nông, vị hoàng đế Trung Hoa đầu tiên đã dạy nhân dân nghề làm ruộng. Lễ Thần Nông tổ chức hàng năm vào ngày lập Xuân.
Xưa kia, mỗi khi mùa Xuân đến, nhà Vua ngự trên cỗ xa, đem theo cầy bừa tới chỗ ruộng để Tịch Điền. Vua trực tiếp xuống ruộng cầy ba luống, sau đó các vương tôn công hầu cầy năm luống, công khanh đại phu cầy bảy luống, sĩ cầy chín luống. Sau đến lượt dân chúng cầy bừa tiếp thửa ruộng đó, một thửa ruộng dành riêng lấy hoa màu dùng trong việc cúng lễ. Về sau thêm các nghi lễ rườm rà, cúng bái, ca hát...
Lễ Tịch Điền du nhập sang Việt Nam. Vua Lê Đại Hành đã cầy hai lần (năm đầu tiên là năm Đinh Hợi - 987, tại chân núi Đọi, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam). Tương truyền ruộng này một lần cày được một chum bằng vàng, một lần được một chum bằng bạc, do đó còn có tên là “Kim ngân điền”.
Triều Nguyễn cũng tổ chức Lễ Tịch Điền với nghi thức rất tỉ mỉ, có tế, nhạc rồi nhà vua cầy bằng một chiếc cầy sơn vàng, tay trái cầm roi, dắt hai con bò có phủ lụa vàng. Hai vị quan đi theo sau, người bưng thúng thóc, người vãi thóc.
Vua cầy ba đường, rồi giao cầy và roi cho hai quan theo hầu và các quan theo thứ bậc đều phải cầy. Cầy xong, vua trở về Đại Nội, các dụng cụ cất vào kho, bò giao cho làng sở tại để trông coi thửa ruộng cho đến mùa gặt.
Ngày nay, tiếp tục phát huy tinh thần tôn vinh nghề nông, Lễ Tịch Điền hàng năm được tổ chức sau Tết, vào ngày đầu Xuân. Lễ diễn ra tưng bừng, Chủ tịch nước ra tận nơi, xuống ruộng cầm cầy đi đường cầy đầu tiên mở đầu cho một năm sản xuất nông nghiệp và chúc bà con nông dân, chúc đồng bào cả nước năm mới làm ăn thắng lợi.
Lễ Thượng Nguyên
Là lễ đầu năm mới, vào ngày Rằm tháng Giêng, sau Tết Nguyên Đán. Người xưa coi lễ Rằm tháng Giêng rất quan trọng trong năm, nên có câu:
Lễ quanh năm không bằng Rằm tháng Giêng.
Theo đạo Phật, ngày mồng một và ngày Rằm hàng tháng là ngày Phật, các tín đồ đến chùa cầu kinh, niệm Phật. Nhưng ngày mồng Một đầu tháng là ngày tiết trời về đêm rất tối, không có Trăng. Ngày Rằm thì Trăng sáng, mà lại là ngày Rằm đầu tiên trong năm nên mọi phật tử đến chùa lễ Phật. Rằm tháng Giêng còn là ngày “Vía Thiên Quan”, tại các chùa làm “Lễ dâng sao” để giải trừ tai ách quanh năm.
Theo các sách Trung Hoa, lễ Thượng Nguyên trước kia là Tết Trạng Nguyên. Nhân dịp này, nhà vua mời các trạng để thết tiệc và vào vườn Thượng Uyển vãn cảnh, làm thơ. Tết Trạng Nguyên sau đổi thành Tết Thượng Nguyên.
Tết còn có tên là Tết Nguyên Tiêu, người ta kết đèn hoa, bơi thuyền.
Tết Nguyên Tiêu trở thành nét văn hoá, hàng năm, vào Rằm tháng Giêng mở “Hội Nguyên Tiêu”. Tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội và nhiều nơi, vào ngày này tổ chức “Ngày Thơ Việt Nam” hội tụ các thi sĩ, văn nhân cùng người yêu thơ để sáng tác, ngâm, vịnh, bình thơ.
Nhiều nơi, vào ngày Rằm tháng Giêng, các gia đình lại gói bánh chưng và cúng lễ rất to để cầu thần linh, tiên tổ.
Tết Hàn Thực
Là tết ăn đồ lạnh, vào ngày mồng 3 tháng Ba âm lịch.
Tết Hàn thực xuất phát từ câu chuyện từ thời Xuân Thu, vào năm 654 TCN tại nước Tấn, một nước chư hầu của nhà Chu có loạn. Vua Văn Công nhà Tấn lúc đó là Trùng Nhĩ phải đi lánh nạn. Trong số bầy tôi cùng đi với Trùng Nhĩ có Giới Tử Thôi. Chúa tôi long đong suốt 19 năm trời qua nhiều nước, đến một ngày trên đường bị thiếu lương thực, không kiếm đâu ra thức ăn. Giới Tử Thôi liền cắt thịt đùi mình nấu dâng cho chúa. Trùng Nhĩ ăn xong hỏi ra mới biết, rất thương xót Giới Tử Thôi đã hy sinh vì mình.
Sau những năm gian khổ, Trùng Nhĩ mới khôi phục được nước, lên làm vua, tức là Tấn Văn Công. Nhà vua liền ban thưởng cho những người có công, nhưng vô ý quên mất Giới Tử Thôi. Giới Tử Thôi không oán giận, cho rằng mình chỉ là bầy tôi, chưa có công lao gì lớn. Vì vậy, Giới Tử Thôi về nhà đem mẹ vào ẩn ở núi Miên Sơn.
Đến khi vua Tấn Văn Công nhớ ra công trạng của Giới Tử Thôi, cho người đi tìm không được, liền sai người đốt rừng Miên Sơn, có ý cho rừng cháy, mẹ con Giới Tử Thôi phải ra để nhà vua trọng thưởng. Nhưng mẹ con Giới Tử Thôi không ra mà chịu chết cháy trong rừng.
Nhà Vua càng thương xót, cho lập miếu thờ, hàng năm tới ngày mồng 3 tháng Ba, tức ngày mẹ con Giới Tử Thôi bị chết cháy, cấm dân gian không được dùng lửa để tưởng nhớ Giới Tử Thôi. Trong ngày này người ta làm đồ ăn từ hôm trước đã nguội lạnh, do đó gọi là Tết Hàn thực và trở thành tục lệ dân gian.
Người Việt Nam cũng có Tết Hàn Thực để cúng gia tiên, nhưng không kiêng lửa, cũng không ăn đồ lạnh làm từ hôm trước mà làm bánh trôi, bánh chay bằng bột gạo nếp, bắt nguồn từ thời Hùng Vương. Bánh được làm bằng kỹ thuật bột nhào nặn hình tròn làm bánh Trôi trong có nhân đường phên, bánh Chay trong có nhân đỗ xanh, không có thịt mà là ăn chay nên gọi bánh chay, thả vào nước sôi. Nước sôi lên làm cho bánh cứ chìm xuống lại nổi lên “ba chìm bảy nổi chín lênh đênh” nên gọi là bánh trôi, cho đến khi chín thì nổi hẳn, vớt ra. Bánh Trôi cho vào đĩa, bánh Chay cho vào bát có nước bột sắn nấu với đường trắng, rắc thêm mấy hạt vừng rang lên trên, đem để vào bàn thờ cúng Thổ công, gia tiên rồi mới ăn. Bánh trôi, bánh chay có vị thơm, dẻo, bùi của gạo nếp, đậu xanh, vừng, vị ngọt mát của bột sắn và đường, thật là đặc sản đặc biệt, đặc trưng của Tết Hàn thực dân gian.
Bánh Trôi, bánh Chay còn là tượng hình vũ trụ, hình trứng mang ý nghĩa rộng lớn, sinh sôi.
Xưa kia, vào hội đền Hùng mồng 10 tháng Ba và hội đền Hát Môn, nơi thờ Hai Bà Trưng vào mồng 5 tháng Ba, dân làng làm một mâm bánh trôi 100 chiếc, cúng xong chia đôi, 50 chiếc đặt trên bè sen thả xuống sông, còn 50 chiếc đem đặt lên núi để nhắc lại tích xưa bọc trăm trứng con vua Lạc Long Quân và Âu Cơ, chia đôi theo mẹ lên rừng, theo cha xuống biển. Những bánh Trôi này được người ta giành lấy sau khi thả trôi sông và để lên núi, với ước vọng sẽ được phúc.
Ngày nay, không còn mấy nơi theo phong tục Tết Hàn Thực, nhưng bánh Trôi, bánh Chay vẫn được dân gian làm vào dịp mồng 3 tháng Ba và ở những nhà hàng chuyên làm bán quanh năm như một cách giữ gìn nghệ thuật ẩm thực đặc sắc của truyền thống dân gian.
Tết Thanh Minh
Thanh là khí trong, Minh là sáng sủa. Thanh Minh là không khí trong trẻo, sáng sủa. Đó là cảnh sắc đất trời sau tiết lập Xuân đã trở nên quang đãng, thanh cao, thường sau khoảng 45 ngày, bắt đầu từ trong tháng Ba đến đầu tháng Tư âm lịch.
Thanh Minh trở thành một trong 24 tiết khí lịch Á Đông, nên gọi là Tiết Thanh Minh. Thời tiết đẹp, nên theo Phan Kế Bính thì tục người Tàu nhân ngày này giai nhân tài tử đưa nhau đi tảo mộ, gọi là Đạp Thanh (bước lên cỏ xanh). Trong thiên truyện Kiều của Đại thi hào Nguyễn Du cũng nói đến tiết Thanh Minh:
Thanh minh trong tiết tháng Ba,
Lễ là Tảo mộ, hội là Đạp thanh.
Nhân ngày trời quang mây tạnh, người ta đi qua những thảm cỏ xanh rì trong sắc Xuân thăm viếng mộ người thân, sửa sang cho sạch sẽ. Sau đó trở về cúng lễ gia tiên, tưởng nhớ người đã khuất. Tảo mộ tiết Thanh minh thường gây cho con người niềm xúc động nhớ tới người thân của mình.
Tiết Thanh minh cũng theo tích xưa trở thành phong tục gắn với việc tảo mộ, mang theo ý nghĩa cộng đồng. Tuy nhiên, trong các dịp lễ trọng khác như Rằm tháng Bảy, ngày kỵ giỗ, ngày cuối năm con cháu vẫn cùng nhau đi sửa sang, thắp hương phần mộ tổ tiên, ông bà, người thân đã khuất.
Tết đoan Ngọ
Tết Đoan Ngọ là tết mồng 5 tháng Năm âm lịch hàng năm.
Tác giả Toan Ánh dẫn theo sách “Phong Thổ ký” thì Tết đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương.
Đoan nghĩa là mở đầu. Ngọ là giữa trưa. Đoan Ngọ là bắt đầu lúc giữa trưa. Dương là mặt trời, là khí dương. Đoan Dương nghĩa là bắt đầu lúc khí dương đang thịnh.
Tết Đoan Ngọ vào tháng Năm, là lúc bắt đầu trời nắng to, khí dương thịnh lúc mặt trời giữa trưa. Theo địa bàn thì phương Nam là chính Ngọ, mà Ngọ là dương, nên còn gọi là Tết Đoan Dương, tháng Năm cũng là tháng Ngọ trong năm. Người Trung Hoa còn gọi Tết Đoan Ngọ là Trùng Ngũ, tức là hai con số 5, mồng năm, tháng Năm.
Ban đầu ngày Đoan Ngọ chỉ là đánh dấu một khoảng thời tiết mới. Đây cũng là lúc mùa Hạ oi bức dễ sinh bệnh tật, nên người ta cầu cúng để được bình yên, tránh được ốm đau, bệnh tật do thời khí gây ra. Người xưa cho rằng trong bộ phận tiêu hoá thường có sâu bọ gây hại cho người. Quanh năm các loài sâu bọ này ở sâu trong bụng, chỉ ngày mồng 5 tháng Năm là chúng ngoi lên. Vì thế mà ngày này, trong dân gian sinh ra tục sáng sớm chưa ăn gì, súc miệng xong rồi ăn những thứ chua, cay, nóng như ăn quả mận, đào, sấu, rượu nếp... gây cho sâu bọ “say” và vị cay đắng để “diệt sâu bọ”, khảo cây cối cho khỏi sâu bọ phá hoại hoa quả, cho nên còn gọi là “Tết giết sâu bọ”.
Các cụ ta xưa còn khuyên con cháu, sáng sớm mồng 5 tháng Năm chớ ngồi lên bậc cửa để tránh mụn nhọt ở mông!? Trẻ nhỏ thì được bôi Tam thần vào thái dương, vào má và cho uống một chút, hoặc làm “bùa ngũ sắc” bằng vải năm màu theo ngũ hành, khâu bao lấy hùng hoàng, hạt mùi, ớt, khế, na, hồng... cho đeo để an thần, trừ ma quỷ, tránh giật mình.
Ngày 5 còn có những tục tắm nước lá thơm, tìm hái thuốc vào giờ Ngọ của ngày Đoan Ngọ, treo Ngải trừ tà, thăm hỏi, tết thầy, tết lẫn nhau. Cũng có nhiều sự tích minh hoạ cho Tết đoan Ngọ càng thêm ý nghĩa nhân văn.
Sau này người ta gắn thêm vào Tết mồng 5 tháng Năm chuyện Khuất Nguyên, chuyện Nguyễn Triệu và Lưu Thần vào núi Thiên Thai tìm thuốc.
Sự tích Khuất Nguyên: Khuất Nguyên, họ Tam Lư làm chức Tả Đồ nước Sở, dưới triều vua Hoài Vương vào thời Thất Quốc, có tài và liêm chính.
Khi Sở Hoài Vương sang Tần, ông hết lòng can ngăn nhưng Hoài Vương không nghe, rồi bị chết ở nước Tần. Vua Tương Vương kế nghiệp Hoài Vương không những không nghe lời ông mà còn bắt đi đày.
Ông làm bài thơ “Hoài Sa” rồi buộc đá vào người, trầm mình xuống dòng sông Mịch La tự tử. Hôm đó là ngày mồng 5 tháng Năm.
Được tin, nhà Vua rất hối hận và thương tiếc, truyền cho dân làm cỗ đem ra tận bờ sông cúng ông và ném cỗ xuống sông cho ông hưởng, nhưng cỗ bị cá tôm ăn hết.
Ông báo mộng cho nhà Vua và xin nhà Vua nếu thương ông thì lấy lá bọc cỗ lại, buộc bằng chỉ ngũ sắc, bỏ xuống sông, cá tôm sẽ không ăn.
Theo lời báo mộng của Khuất Nguyên, Vua ra lệnh làm theo. Từ đó vào ngày mồng 5 tháng Năm, người dân Trung Quốc làm cỗ cúng linh đình trên các bờ sông rồi lấy lá bọc lại, buộc chỉ ngũ sắc ném xuống dòng nước để tưởng nhớ Khuất Nguyên. Tại sông Mịch La, người nước Sở mở hội rất vui, ngoài việc cúng lễ, còn tổ chức đua thuyền trên dòng sông để tìm và tưởng nhớ một đại thần trung nghĩa - Khuất Nguyên.
Ngày nay tết mồng 5 vẫn còn trong dân gian, nhưng cũng chỉ làm lễ, thắp hương lên bàn thờ gia tiên, dùng các sản vật, hoa quả tươi mát của mùa hè như dưa hấu, chè đỗ đen... và những quan niệm diệt sâu bọ, khảo cây cối cũng không còn như xưa nữa.
Lễ Thất Tịch
Tết vào ngày mồng 7 tháng Bảy âm lịch, còn gọi là “Lễ Ngâu” gắn với sự tích vợ chồng Ngâu, tức Ngưu Lang - Chức Nữ.
Tháng Bảy là tháng mưa nhiều, nhất là ở miền Bắc, mưa rả rích suốt ngày. Người ta cho đây là những giọt nước mắt của vợ chồng Ngâu mà gọi là “Mưa Ngâu”, nói về mối tình éo le, dang dở.
Chức Nữ, con gái yêu của Ngọc Đế có nhan sắc và tài nữ công khéo léo. Ngưu Lang chỉ là một chàng chăn trâu có tâm hồn thi sĩ, biết yêu thương tha thiết, có tài thi phú. Trai tài, gái sắc nặng lòng yêu nhau. Trước mối tình đằm thắm ấy, Ngọc Đế tác thành cho đôi lứa. Đôi uyên ương chung hưởng hạnh phúc, nhưng mải mê say mối duyên nồng, chàng và nàng đều sao nhãng công việc. Nàng biếng thoi dệt, biếng chỉ khâu. Chàng biếng luyện văn, chẳng màng đèn sách. Cả đàn trâu cũng không ai buồn chăm sóc.
Thấy vậy, Ngọc Đế nổi giận, đày hai người ở hai bờ sông Ngân và mỗi năm nhờ đàn quạ đen bắc cầu, gọi là “cầu Ô Thước”, đôi bên chỉ được gặp nhau một lần vào dịp tháng Bảy.
Ở hai bên bờ sông Ngân, chàng Ngưu chăn trâu đợi ngày gặp gỡ người yêu, còn nàng Chức phải dệt lụa, vá may để đền lỗi cũ.
Hàng năm, tháng Bảy tới, đôi bên gặp nhau. Cả hai xúc động, nhớ thương, đầm đìa nước mắt. Nước mắt của đôi uyên ương rơi xuống trần gian gây nên những ngày mưa liên miên, dầm dề mà kéo dài cả tháng mưa Ngâu.
Ngày hai bên gặp nhau ngày mồng 7 tháng Bảy, nên gọi là ngày Thất Tịch.
Tục nói rằng, ngày ấy ở trần gian không có quạ, vì quạ đã lên sông Ngân bắc cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ qua để gặp nhau.
Chuyện mưa Ngâu cũng trở thành điều ám chỉ cho những mối tình trắc trở và trong dân gian xưa thường kiêng một số việc như không cưới, không làm nhà, chữa bệnh trong tháng Bảy, chỉ vì chuyện buồn “nước mắt Nàng Ngâu” hay là do mưa gió dầm dề không lợi cho công việc, mặc dù chàng và nàng được gặp nhau xúc động chia sẻ nhớ nhung thương nhớ, mừng vui mà khóc?
Tết Trung Nguyên
Tết Trung Nguyên vào ngày Rằm tháng Bảy âm lịch.
Theo tín ngưỡng, thì Rằm tháng Bảy là ngày “xá tội vong nhân”, những vong hồn tội lỗi được ân xá. Rằm tháng Bảy còn gắn với việc đền ơn, báo hiếu công lao cha mẹ theo tích từ Kinh Vu Lan bồn, đệ tử tôn giả Mục Kiền Liên được Phật bày cho cách cứu mẹ khỏi tội lỗi, thoát ngục A Tỳ vào ngày Rằm tháng Bảy. Do kiếp trước bà gây nhiều nghiệp ác, bị Diêm Vương đày vào nơi quỷ đói. Theo Thượng toạ Thích Thanh Quyết, Phó chủ tịch Học viện Phật giáo Việt Nam, trong trả lời phỏng vấn của phóng viên báo “Đất Việt”, ngày 12 tháng 8 năm 2011, nhân Lễ Vu Lan rằm tháng 7 cho biết:
“Theo Kinh Vu Lan bồn, đệ tử Phật là ngài Tôn giả Mục Kiền Liên dùng thiên nhãn trông thấy thân mẫu bị đoạ vào đường quỷ đói, gầy ốm, chỉ còn da bọc xương, ngày đêm khổ não, ngài dùng bát đựng cơm đưa đến dâng mẹ. Nhưng do mẹ ngài chịu quả báo của nghiệp ác nên cơm biến thành lửa. Ngài Mục Kiền Liên bèn xin đức Phật chỉ dạy cách giải cứu mẹ thoát khỏi nghiệp khổ.
Phật dạy vào ngày rằm tháng 7 là ngày chư tăng tự tứ, kết thúc ba tháng kiết Hạ an cư. Khi đó công đức tu hành tăng lên rất nhiều, nên có thể nhờ vào phúc đức của tăng chúng để cứu bạt chúng sinh. Nếu dùng thức ăn uống đựng trong bồn Vu Lan cúng dường Tam bảo vào dịp này sẽ được vô lượng công đức, cứu được cha mẹ bảy đời… Ngài Mục Kiền Liên làm theo lời Phật dạy đã cứu được mẹ. Từ đó, mới có Lễ Vu Lan bồn, là nghi thức cầu siêu cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ, thân thuộc nhiều đời, được cử hành vào ngày rằm tháng 7 âm lịch hằng năm”.
Truyền tích của Trung Quốc, trong tháng 7 còn có “cúng cô hồn”, “Phóng diệm khẩu”, tức là cúng bố thí và cầu nguyện cho loài quỷ đói miệng lửa, gắn với chuyện A Nan Dà (gọi tắt là A Nan). Chuyện do tác giả Thi Trân kể rằng: Một buổi tối, A Nan đang ngồi trong tịnh thất thì thấy một con ngạ quỷ thân thể khô gầy, cổ nhỏ mà dài, miệng nhả ra lửa bước vào. Quỷ cho biết ba ngày sau A Nan sẽ chết và sẽ luân hồi vào cõi ngạ quỷ miệng lửa, mặt cháy đen như nó. A Nan sợ quá bèn nhờ quỷ bày cho cách tránh khỏi tai họa. Quỷ đói nói: “Ngày mai ông phải thí cho ngạ quỷ chúng tôi mỗi đứa một ít thức ăn và soạn lễ cúng dường Tam Bảo thì ông sẽ được tăng thọ, còn tôi sẽ được về cõi trên”. A Nan đem chuyện bạch với Đức Phật. Đức Phật bèn cho bài chú “Cứu bạt diệm khẩu ngạ quỷ Đà La Ni”. A Nan đem tụng trong lễ cúng và được thêm phúc thọ. Từ tích truyện này mà sinh ra việc cúng “Phóng diệm khẩu”, nghĩa là “thả quỷ miệng lửa”.
Người ta còn cho rằng tháng 7 là tháng “mở cửa mả”, có rất nhiều quỷ đói lên quấy phá dương gian nên phải cúng đồ ăn cho chúng, để chúng khỏi quấy nhiễu.
Như vậy, lễ trong tháng 7 có hai sự kiện mang ý nghĩa khác nhau. “Lễ Vu Lan” vào ngày rằm để báo hiếu cha mẹ. Đồng thời trong cả tháng xá tội và cúng thí cho những vong hồn (cô hồn) vật vờ đói khát.
Nhân ngày Rằm tháng Bảy, tại các gia đình làm lễ cúng gia tiên và con cháu thường đến nơi phần mộ sửa sang, thắp hương cho người đã khuất. Điều đáng lưu tâm là quan niệm “trần sao âm vậy” và mê tín dị đoan đã làm nảy sinh tệ nạn đốt vàng mã cho “người âm” nhân ngày “xá tội vong nhân” rất tốn kém, lãng phí.
Tại nhà chùa, các tăng ni, phật tử tụng kinh, niệm Phật cầu siêu cho các vong linh. Xưa kia, ở chùa còn tổ chức lễ dâng sao giải hạn và nấu cháo cho vào các đài làm bằng lá mít cắm ở hai bên vệ đường để độ tâm, phân phát cho những vong hồn chúng sinh tha phương, cô quả, tàn tật.
Tết Trung Thu
Là tết vào giữa mùa Thu, Rằm tháng Tám âm lịch.
Nguồn gốc Tết Trung Thu từ đời nhà Đường, Trung Quốc, thời vua Duệ Tôn, niên hiệu Văn Minh.
Một năm, vào đêm Rằm tháng Tám, trời rất đẹp, trăng lên tròn trong, sáng tỏ, gió mát hây hây. Trước cả nh đẹp của đất trời, nhà Vua ngự chơi ngoài thành mãi tới khuya. Lúc đó có ông già đầu bạc trắng như tuyết, chống gậy tới bên nhà Vua._
Nhìn dáng vẻ khác thường của ông già, nhà Vua đoán ngay là một vị tiên giáng thế. Ông già kính cẩn chào nhà Vua, rồi hỏi:
- Bệ hạ có muốn lên cung trăng không?
Vua trả lời:
- Có!
Ông già liền đưa chiếc gậy chỉ lên trời, hoá phép ra chiếc cầu vồng, một đầu để vào cung Trăng, còn đầu dưới đặt xuống đất.
Ông Tiên đưa nhà Vua trèo lên cầu vồng, chẳng bao lâu đã tới cung Trăng. Phong cảnh nơi đây thật đẹp, khác xa nơi trần thế. Có những nàng tiên nhan sắc với xiêm y lộng lẫy, hát ca, nhảy múa vô cùng quyến rũ. Nhà Vua đang say sưa với cảnh đẹp nơi tiên giới thì Tiên ông đưa nhà Vua trở lại trần gian.
Về tới hoàng cung, nhà Vua còn luyến tiếc cảnh đẹp ở cung Trăng. Và để kỷ niệm ngày du Nguyệt, nhà Vua đặt ra Tết Trung Thu. Trong tết này người ta uống rượu và ngắm lên cung Trăng, nên còn gọi là “Tết trông Trăng”.
Truyện Cây Đan Quế (cây Quế đỏ) trong sách Trung Hoa nói về Ngô Cương trên cung Trăng như sau:
“Xưa kia Ngô Cương tu đắc đạo, nhưng vì làm nhiều điều càn bậy trong chốn cung tiên, bị Ngọc Hoàng nổi giận bắt đầy vào cung Trăng, giao cho việc chặt và bóc vỏ cây Đan Quế. Đây là loại cây sống hàng vạn năm, cao một trăm linh năm thước, gốc rất to và rắn như thép, Ngô Cương không thể nào chặt được. Ngày này qua ngày khác, Ngô Cương vẫn mải miết cố chặt để thực hành theo lệnh của Ngọc Hoàng. Vì vậy, ngày nay mỗi khi nhìn lên cung Trăng, người ta vẫn thấy hình chấm đen dưới bóng cây xum xuê cành lá mà thường gọi là chú Cuội, đó chính là bóng chàng Ngô Cương đang miệt mài chặt cây Đan Quế”.
Truyện dân gian Việt Nam về “Thằng Cuội” lại cho rằng, Cuội là một kẻ luôn luôn “đi nói dối cha, về nhà nói dối chú”, nên mới có câu: “Nói dối như cuội”. Cho đến khi Cuội lừa được ông lão Trượng hiền lành. Ông lão cho Cuội một cây đa thần có thể dùng lá chữa được người chết đi sống lại và dặn về trồng phải luôn tưới cho cây. Ông lão cũng bảo là cây đa rất kiêng nước tiểu. Trồng cây ở hướng Đông thì mọi người phải đi tiểu về phía Tây, nếu không thì cây sẽ bay lên trời.
Về nhà, Cuội trồng cây đa và dặn vợ phải nhớ như vậy, rồi hàng ngày đi vào rừng đốn củi. Một hôm vì mải mê công việc, vợ Cuội quên không tưới cây. Khi Cuội về đến ngõ, vợ Cuội mới nhớ đến việc tưới cây, nhưng sợ đi múc nước thì Cuội biết, liền chạy đến gốc cây đa tốc váy và tiểu tiện vào đấy. Nàng vừa tiểu xong thì bỗng nhiên cây đa từ từ lung lay nhổ gốc bay lên.
Cuội về tới nơi, thấy vậy liền cầm cán cuốc vừa đi làm về bổ vào gốc cây kéo xuống, nhưng cây đa vẫn bay lên kéo theo cả Cuội vào cung Trăng. Từ đó, Cuội ở trên cung Trăng chăm sóc cho cây đa và hàng ngày đứng dưới gốc cây đa nhìn xuống hạ giới.
Một tích nữa về Tết Trung Thu Rằm tháng Tám là truyện dân gian Việt Nam “Chuyện Thằng Cuội”.
Từ đời ông bà xa lắc xa lơ, ở một làng nọ có gia đình sinh ra cậu con trai, đặt tên là Cuội. Chẳng may, cha mẹ mất sớm, Cuội được dân làng chăm nuôi ngày một lớn khôn. Nghĩ đến công ơn của dân làng mà Cuội không biết lấy gì đền đáp.
Ở vùng đó có một tên quan rất tàn ác, ức hiếp dân làng mà không ai làm gì được. Nhiều lần Quan cũng hăm doạ Cuội nhưng cuội đều tìm cách thoát được và còn lừa lại Quan. Cho đến một lần Cuội lừa cho Quan nổi tính tham lam cho đan chiếc giỏ thật to, chui vào rồi bảo mấy tên lính khiêng đi theo Cuội ra bờ biển để xuống biển lấy vàng. Vì lòng tham nên mất hết trí khôn, Quan bị lính ném xuống biển và mấy tên lính nổi tính tham cũng nhảy xuống biển theo Quan lấy vàng mà chết. Diệt được tên Quan tham lam, độ c ác là Cuội phần nào đền được công lao cho dân làng._
Dân làng rất biết ơn Cuội và hỏi Cuội có mong muốn gì không? Cuội còn chưa biết làm sao thì vào một đêm ngắm lên bầu trời thấy Trăng đẹp quá, Cuội nảy ra ý muốn lên cung Trăng xem sao. Dân làng liền chiều theo ý Cuội, ngày đêm chặt cây làm chiếc thang thật dài bắc lên tới tận cung Trăng và chuẩn bị tư trang, lương thực cho Cuội lên đường. Vào đúng ngày Rằm tháng Tám, trời trong, đầy sao, Trăng tròn tỏ, Cuội tạm biệt dân làng bước theo bậc thang, ròng rã một thời gian mới tới cung Trăng. Chị Hằng xinh đẹp trên cung Trăng vui mừng đã ra đón Cuội. Rồi để Cuội không còn đường về, chị Hằng liền đạp cho chiếc thang rơi xuống hạ giới.
Trên cung Trăng với chị Hằng thật là sướng vui nơi tiên cảnh, trong mỗi ngày trên cung Trăng bằng hàng năm dưới hạ giới. Một thời gian, Cuội bỗng nhớ dân làng thuở xa xưa và bàn với chị Hằng là muốn trở về thăm lại bà con. Mãi chị Hằng mới đồng ý, nhưng không biết làm cách nào để xuống được dưới trần gian. Cuội liền nghĩ ra chặt cây đa làm thang để bắc xuống hạ giới. Thế là Cuội dùng rìu chặt gốc cây đa. Nhưng kỳ lạ thay, cứ chặt cả ngày được đến đâu, về nghỉ thì sáng hôm sau ra thấy nó lại liền nguyên như cũ. Cuội bèn tính chặt suốt ngày đêm và bảo chị Hằng hàng ngày mang cơm ra gốc đa vừa ăn vừa chặt. Đã qua mấy ngày, cho đến một hôm vì quá mệt, Cuội gác chân vào chỗ gốc đa vừa chặt nằm thiếp đi lúc nào không biết. Khi tỉnh dậy thì chỗ chặt đã liền lại giữ chặt một chân của Cuội vào gốc cây đa. Cuội đành ngồi ôm gốc đa ngắm nhìn xuống hạ giới.
Cũng từ đó, ở dưới hạ giới, vào những đêm trăng, nhất là đêm Rằm tháng Tám, mùa Thu trời trong, trăng sáng tỏ, nhìn lên cung Trăng thấy có một chấm hình đen dưới gốc cây to lớn xum xuê, đó chính là Cuội đang ngồi ôm gốc cây đa lưu luyến nhìn xuống trần gian.
Thế rồi hàng năm, cứ đến ngày Rằm tháng Tám, dân làng ở hạ giới lại tổ chức cỗ linh đình và nhìn lên cung Trăng, ngắm cái bóng đen dưới gốc cây đa để tưởng nhớ về “chú Cuội”.
Trong dân gian lại có câu ca dao dí dỏm nói về “Thằng Cuội” rằng:
Thằng Cuội ngồi gốc cây đa
Để trâu ăn lúa, gọi cha ời ời
Cha còn cắt cỏ trên trời
Mẹ còn cưỡi ngựa đi mời quan viên.
Tết Trung Thu cũng được gắn với một hình thức rất sinh động là múa Sư Tử, hay còn gọi là múa Lân. Truyền tích về Sư Tử như sau:
“Vào đời nhà Đường, có một bà lão tuổi đã cao, nhưng không có con cái họ hàng, quanh năm chỉ làm nghề khâu vá quần áo đem ra chợ bán để nuôi thân. Một hôm vào ngày Rằm tháng Tám, bà đến một làng kia nhận quần áo về nhà may. Khi trở về lúc tối trời, bà thấy dân làng thi nhau thắp đèn bày cỗ, ăn uống vui vẻ. Hỏi thì dân làng cho biết là họ ăn mừng tết Trung Thu. Bà nghĩ cũng sẽ mua ít bánh, trái hoa quả về để trông Trăng.
Trên đường về, khi qua khu rừng vắng vẻ thì có con Sư tử xông ra. Đây là con sư tử thường bắt người để ăn thịt. Biết không tránh được, bà bèn van xin nó cho bà về ăn tết trông trăng cho bõ công đã mua bánh trái hoa quả, sau đó sẽ nộp mình cho nó ăn thịt. Sư tử ưng thuận, quay đi nơi khác để bà lão về nhà bình an vô sự.
Bà lão bày cỗ thưởng trăng, nhưng khi trăng bắt đầu mờ dần trong bóng mây, bà chợt nhớ tới giờ phút phải đi gặp Sư tử, bà khóc lên thảm thiết. Tiếng khóc của bà kinh động tới quỷ thần. Quỷ thần liền sai một con Rết tới trước mặt bà ra hiệu cho bà yên tâm, nó sẽ giúp bà để trừ con Sư tử hung dữ.
Dù không hiểu hết ý của con Rết, nhưng bà cũng yên lòng trước cử chỉ thân thiện của nó. Vừa lúc đó, con Sư tử tới đòi ăn thịt bà, con Rết liền nhảy ra cắn chết nó.
Ngày hôm sau, bà loan tin với dân làng việc thần linh đã sai con rết giết được con Sư tử hung ác. Tin đến tai nhà Vua, Vua ban thưởng cho bà lão”.
Từ tích truyện này, hàng năm vào Tết Trung Thu, có trò múa Sư Tử, minh hoạ lại chuyện con Sư tử và bà lão gặp nhau rất sinh động. Người ta làm một cái đầu Sư tử thật to, có cái đuôi dài và hình thành đội múa Sư tử gồm: Một người đội đầu Sư tử, một người đeo mặt nạ cầm đuôi, một người đeo mặt nạ bà lão có cái bụng to tay cầm quạt mo hoặc gậy và một người thắt khăn đỏ đánh trống cái.
Đây là trò chơi với cách diễn có nghi lễ theo nhịp trống dẫn dắt rất hay, tạo thành một nghệ thuật vô cùng sôi động, hấp dẫn. Vào đêm hội Trung thu, người đội đầu Sư tử và người cầm đuôi đứng vào vị trí là trống bắt đầu đánh vào trò diễn. Khi tiếng trống đánh từ từ ba hồi thì Sư tử cũng từ từ nghênh nghênh đầu tiến lên rồi cúi đầu lùi lại ba lần theo nhịp trống để lễ vào trò. Dứt ba lần Sư tử lễ chào là trống đánh vào nhịp sôi động cắc tùng tùng, tùng tùng... người múa đầu Sư tử, người cầm đuôi nhảy múa theo nhịp trống; Đồng thời bà lão cũng xuất hiện chờn vờn múa nhử Sư tử. Tiếng trống cắc tùng tùng, tùng tùng... càng dồn dập, trò diễn ra càng lúc càng cuốn hút. Cao trào lên cao thì Sư tử và bà lão cũng múa lên sôi động vòng quanh khu vực sân chơi. Cho đến khi tiếng trống dằn nhẹ xuống, Sư tử và bà lão cuốn vào nhau. Rồi bất thần tiếng trống rung lên dồn dập tùng tùng tùng tùng... thì Sư tử buông bà lão, chạy ra dâng cao đầu lên, cũng là lúc người khác chạy nhanh vào thay cho người múa đầu Sư tử, người cầm đuôi, và người làm bà lão cũng thay bằng kíp khác. Tiếng trống lại theo nhịp cắc tùng tùng, tùng tùng... trò múa Sư tử cứ thế thay nhau diễn ra trong suốt đêm vui Trung thu tràn đầy sôi nổi.
Ngoài những sự tích ly kỳ, hấp dẫn, còn một số chuyện về Tết Trung Thu như con Thiềm Thừ, con Thỏ Ngọc... càng minh hoạ cho Tết Trung Thu với Chị Hằng trên cung Trăng thêm sắc màu dân gian huyền thoại.
Tết Trung Thu là tết có nhiều truyền tích phong phú, vì vậy cũng diễn ra nhiều hình thái vui chơi từ trong gia đình, ra ngoài xã hội. Từ thiếu nhi cho đến người lớn đều tham gia nhiệt tình, tích cực, sáng tạo làm nên sự phong phú, đặc sắc của Tết Trung Thu. Đó là làm cỗ trông Trăng, làm bánh Trung Thu, chơi đèn kéo quân, đèn ông sao, đèn lồng, cùng nhau múa hát và chơi các trò chơi dân gian. Đến dịp Tết Trung Thu thì đủ các loại hoa quả, bánh trái, trò chơi tràn ngập khắp nơi, thật là vui tươi, rực rỡ.
Ngày nay, từ thành phố đến các làng quê, Đoàn thanh niên cùng với gia đình, mọi tổ chức xã hội tổ chức cắm trại và chăm lo ngày hội Tết Trung Thu dành cho thiếu nhi, tiếng hát lời ca của trẻ nhỏ hoà cùng tiếng trống ếch cắc, tùng, tùng, tùng tùng... râm ran khắp thành thị, ngõ xóm, phum sóc, làng quê làm cho không gian càng náo nhiệt, tưng bừng.
Tùng dinh dinh, tùng dinh dinh...
Ánh trăng sáng ngời toả sáng nơi nơi
Tùng dinh dinh, tùng dinh dinh...
“Cầm tay mình cùng đi chơi
Trăng đã lên sáng đầy trời
Tình tang tình anh em ơi
Ca lời vang khắp nơi...
Nhờ có Bác nên hàng ngày
Em được vui hát đùa.
Rằm Trung Thu
Chúng em nhớ ơn Bác Hồ Chí Minh...”
Tết Trung Thu gắn với tích chuyện dân gian đầy chất nhân văn. Với những thiên cổ tích kỳ thú nên Tết Trung Thu mang tính giáo dục hướng thiện, lúc đầu là của người lớn, sau chuyển thành ngày Tết cho Thiếu niên, Nhi Đồng. Rồi từ trách nhiệm và cùng vui chung niềm vui với con em mình, Tết Trung Thu trở thành ngày hội cho cả người lớn chăm lo cho trẻ nhỏ, thực sự mang theo tinh thần “Tất cả vì tương lai con em chúng ta” nhằm giáo dục tình yêu thiên nhiên, đất nước, con người.
Tuy nhiên, những năm gần đây do xã hội phát triển và quan hệ con người cũng nảy sinh quan niệm khác đi mà Tết Trung Thu cũng có khác xưa. Trước kia, Trung Thu chủ yếu dành cho trẻ em nên những hình thức tổ chức và trò chơi thực sự mang tâm hồn trẻ thơ rất trong trắng, chân thành, mộc mạc, trong sáng, như chơi đèn kéo quân, rước đèn ông sao, múa Sư Tử, chơi những con gà, con lợn nhỏ xíu bằng bánh đựng trong những chiếc ổ gà, chiếc rõng lợn đan bằng tre nho nhỏ, xinh xinh, giá chỉ vài, ba đồng, mang ý nghĩa giáo dục nghề nông mà trẻ em rất thích. Ngày nay, lợi dụng Tết Trung Thu, trước đó hàng tháng, người ta làm những chiếc bánh to, hình thức rất cầu kỳ, rất đắt tiền, không dành cho Thiếu Nhi, mà để kinh doanh và đem đi “Kính biếu” nhau nhằm phục vụ mục đích không lành mạnh của người lớn, làm mất đi tính hồn nhiên, trong sáng của Tết Trung Thu dành cho tuổi thơ, của nét đẹp truyền thống đã bao đời!
Tết Trùng Cửu
“Tết Trùng Cửu”, ngày 9 tháng Chín vào tháng cuối mùa Thu. Tiết Thu mát mẻ, ngày Thu đẹp sắp đi qua, chuẩn bị vào mùa Đông tiết trời giá rét. Người ta lưu luyến mùa Thu mà tổ chức Tết Trùng Cửu, nhân đó mà đi du khảo, lên núi, lên non cho thanh thản tâm hồn, các văn nhân làm thơ, vịnh cảnh.
Tết Cơm mới
Tết Cơm mới, còn gọi là Thường Tân. Đây là dịp vào tháng Mười đã vào vụ gặt lúa mùa.
Xưa kia, đồng đất thâm canh chỉ có hai vụ, vụ chiêm vào tháng Năm, vụ mùa vào tháng Mười. Lúa vụ mùa thường là lúa ngon, đặc biệt các loại thóc vụ mùa như nếp Hương, nếp Thầu dầu, Tám râu, thóc Dự rất thơm, dẻo và ngon để chuẩn bị ăn vào dịp Tết. Vì thế, mùa cơm mới đến với con người mang theo biết bao ý nghĩa làm nên thành quả từ lao động vất vả, nhọc nhằn để có niềm vui ăn bữa cơm lúa mới.
Tháng Mười cũng là tháng vừa qua độ mùa Thu, chưa vào rét đậm mùa Đông, lại được mùa lúa mới làm quà cho chuẩn bị Tết đến, Xuân về. Người ta mang những lon gạo mới thơm ngon biếu ông bà, cha mẹ, thầy học, thầy lang, bạn bè... thể hiện tấm lòng chân thành, kính trọng với những sản vật quý của miền quê và công lao tháng ngày lao động.
Ngày nay không còn giống lúa ngon như xưa, mà thay là những giống lúa ngắn ngày, năng suất cao và trồng xen kẽ nhiều vụ. Tết cơm mới cũng không còn nữa.
Tết Trùng Thập
Là Tết vào ngày 10 tháng Mười, theo tục lệ nhà Phật, gọi là lễ Hạ Nguyên, là dịp cuối năm, để chuẩn bị sang đầu năm vào Tết Thượng Nguyên, Rằm tháng Giêng năm mới.
Theo tác giả Toan Ánh, đây là tết của các ông Lang, ông Đồng, bà Cốt. Còn trong dân gian chỉ sửa lễ cúng gia tiên, có nơi giã bánh dầy, nấu chè kho cúng thần, cúng gia tiên rồi đem biếu mọi người, nhất là các ông Lang, ông Đồng, bà Cốt.
Lễ Táo Quân
Lễ Táo Quân vào ngày 23 tháng Chạp, cuối năm âm lịch, là lễ tiễn đưa Thổ Công lên chầu Trời (xem phần Thổ Công). Đây cũng là Tết cuối cùng của năm cũ đi qua, trước khi bước sang chu kỳ năm mới. Trong dân gian rất coi trọng phong tục Lễ Táo Quân, coi như là việc chiêm nghiệm một năm làm ăn, sinh sống và hướng tới những suy nghĩ tốt lành cho tiếp năm sau.
Người ta lại đặt câu hỏi vui rằng, Táo Công đi vào lúc nào trong ngày 23. Số 23 được giải thích là thời khắc Ngũ hành (2 + 3 = 5) của vạn vật cuối cùng trong năm. Đến khi nào về và có làm lễ đón Ngài trở lại trần gian tiếp tục “điều hành” năm mới tới cho thật hay, thật tốt hay không?
Không thấy tài liệu nào nói Táo Quân đi vào giờ nào, có tài liệu nói ngày 28, có tài liệu lại cho rằng mãi đến ngày 30 tháng Chạp giáp Tết, Ngài mới quay về hạ giới, nhưng không nói cụ thể thế nào. Vì thế, nên người ta cũng chỉ biết đến ngày 23 tháng Chạp thực hành Lễ Táo Quân, tiễn ông lên Trời báo cáo với Ngọc Hoàng công việc một năm qua của gia đình nơi hạ giới, trần gian. Ngày 23 được giải thích là 2 + 3 = 5, tức là số Ngũ hành của vạn vật cuối cùng của năm. Và vào giờ "Thìn" (Rồng), cá chép sẽ hóa Rồng đưa Táo Quân lên Thiên Đình chăng?
Trong ngày 23, cùng với làm lễ tiễn Thổ Công, mua mũ, hia theo ngũ hành năm tới và cá chép cho Thổ công, nhiều người nhân dịp này lại bày ra cúng bái linh đình, mua nhiều vàng mã, không hợp với truyền tích về “Lễ Táo Quân” mà thành mê tín dị đoan, lãng phí.
∗∗∗
Lễ, Tết dân gian cổ truyền là nét đẹp văn hoá, được đúc kết qua quá trình sống, lao động của cư dân nông nghiệp. Nó chuyển tải thông điệp tinh thần, tín ngưỡng tâm linh của con người và trở thành phong tục, tập quán phong phú mang đầy triết lý nhân văn.
Lễ, Tết cũng là dịp để con người tận hưởng những giá trị thăng hoa tinh thần qua sinh hoạt văn hoá và hưởng thụ thành quả từ mồ hôi, sức lao động sáng tạo bằng sản vật quý giá thu được qua từng vụ, từng mùa trong năm.
Qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, Lễ, Tết Việt Nam ảnh hưởng từ Trung Quốc, nhưng được Việt hoá trong các phong tục, tập quán sản sinh từ đặc trưng văn hoá, nếp sống và kết quả lao động của người Việt.
Truyền tích qua Lễ, Tết mang ý nghĩa giáo dục rất cao, đồng thời cũng thức tỉnh con người lẽ sống tốt đẹp ở đời đối với cộng đồng. Mỗi Lễ, Tết làm nên giá trị kỳ diệu, đặc sắc của người Á Đông, trong đó có nét độc đáo văn hoá Việt Nam. Trí tưởng tượng cao siêu, tâm hồn cực kỳ lãng mạn, bay bổng của người xưa đã gắn thực tiễn cuộc sống với khát vọng nhân sinh vào trong truyền thuyết, cổ tích, làm cho ý nghĩa của Lễ, Tết càng thêm lung linh, huyền diệu. Thiên thần, Ngọc Hoàng, Tiên, Phật... luôn luôn là đại diện cho ước vọng cuộc sống phồn thực, hạnh phúc, thanh bình về sự ấm no, viên mãn, mùa màng thắng lợi, bội thu đến với con người; Đồng thời cũng tỏ rõ thái độ không dung tha với cái xấu xa, tội ác qua hình tượng quan tham, ma quỷ, thú vật hại người.
Những hình tượng của truyền thuyết, cổ tích hình thành, hoàn thiện trong dân gian chứa đựng yếu tố tinh thần tốt đẹp, trong sáng, hướng thiện. Từ hiện thực đời sống được điển hình hoá, thậm chí cường điệu hoá, phi thường hoá nhằm nói lên khát vọng cháy bỏng của con người vì cuộc sống yên bình, hạnh phúc. Song cũng từ đó con người lại suy diễn, thêu dệt làm cho nó trở nên hoang đường, kỳ bí, như cho rằng hướng Đông là hướng Quỷ và “vẽ ra” cách trị Quỷ, hoặc có khi thành ám ảnh tâm linh, mê tín dị đoan, kiêng kỵ mỗi khi đến ngày Lễ, Tết.
Ngoài Lễ, Tết chính chung của người Việt, còn có Lễ Tết của từng dân tộc với những nét độc đáo, đặc sắc riêng như Tết của đồng bào Thượng ở miền Nam và Di Linh, Tết của đồng bào Kơ Ho ở cao nguyên Trung Bộ, Tết của đồng bào Chăm, Tết của đồng bào Khơ me ở Nam bộ... với rất nhiều tập tục, làm nên sự phong phú, đa dạng về văn hoá truyền thống của cộng đồng dân tộc Việt Nam.
Hình thành từ xã hội cổ và kéo dài trong nếp sống nông nghiệp, Lễ, Tết mang đậm nét tinh hoa văn hoá truyền thống dân gian xa xưa. Ngày nay, tập tục tốt đẹp của Lễ, Tết vẫn được gìn giữ, phát huy. Trong xã hội đổi mới, hội nhập toàn cầu, những di thức tinh thần cổ xưa cần chọn lọc, đề cao cái tốt, cái đẹp, loại bỏ tập tục cổ hủ, mê tín để hài hoà giữa truyền thống và hiện đại cho cuộc sống thật sự lành mạnh, vui tươi, phù hợp với thời đại mới.

