Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 6
VI.
PHONG TỤC, TẬP QUÁN
Cưới hỏi
Cưới hỏi là một trong ba việc hệ trọng của đời người: Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà. Theo quan niệm xưa của cư dân nông nghiệp thì việc lo làm ăn phải đặt lên hàng đầu. Chịu khó lam lũ lao động thì mới có và cũng là để giáo dục đức tính chịu khó, cần cù lên trước đã rồi mới tốt cho những việc sau.
Là việc quan trọng cho cả đời người nên người xưa rất cẩn thận trong việc lấy vợ, lấy chồng. Rồi qua thực tế cuộc sống đúc rút ra nhiều kinh nghiệm mà thành phong tục giúp cho hạnh phúc vẹn toàn hơn. Vì thế mà tục lệ cưới hỏi mang theo ý nghĩa giáo dục sâu sắc, bao gồm những việc làm rất hay, đồng thời cũng nhiều phức tạp, nhiêu khê pha trộn yếu tố tâm linh, khoa học và mê tín dị đoan.
Đất nước Việt Nam có 54 dân tộc thì cũng có ngần ấy sự khác nhau bổ sung phong phú vào tục lệ cưới hỏi, đồng thời cũng làm thành nét đặc sắc riêng của từng dân tộc. Nhưng tục lệ cưới chung nhất của người Việt xưa đều có các việc chính là: Kén chọn (tìm hiểu), Chạm ngõ (chạm mặt để hai gia đình gặp mặt nhau), Ăn hỏi (đặt vấn đề chính thức về việc cưới), Cưới (đến làm thủ tục đưa, đón cô dâu về nhà chồng), Lại mặt (sau ngày cưới vợ chồng dẫn nhau về lại nhà vợ), Nộp cheo (lễ ra mắt làng xóm, họ hàng).
Kén chọn: Đây là việc đầu tiên rất quan trọng của cha mẹ thời xưa mà ngày nay đã thay bằng tìm hiểu yêu nhau của đôi bạn trẻ. Trong xã hội phong kiến xưa việc kén vợ, kén chồng là do cha mẹ, mà chủ động là nhà trai và phần lớn là do người làm mối, môi giới, nếu không sẽ bị cho là “phải lòng nhau” mang theo nghĩa xấu. Đã kén tức là phải thật kỹ. Trước hết là xem tuổi can chi, niên mệnh của nam nữ có hợp hay không, hợp thì tiếp tục các bước tiếp theo, không hợp thì còn tính toán đã. Hai gia đình thông gia “môn đăng hộ đối” có tương xứng về nhà cửa, vai vế, hoàn cảnh kinh tế hay không. “Lấy vợ kén tông, lấy chồng xem giống”, nhà trai xem lai lịch, sức khỏe nhà gái, “công dung ngôn hạnh”, duyên dáng cô dâu tương lai, nhà vợ thì xét tư chất, đạo đức, dòng giống thông thái, thành đạt xã hội, quan trường của nhà trai.
Từ quan niệm như vậy nên về mọi việc “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”. Mong muốn được vẹn toàn, tử tế cho con là điều hay, nhưng cũng gây biết bao phiền phức cho đôi lứa, yêu nhau mà không dám ngỏ lời, ưng rồi mà không lấy được chỉ vì mê tín dị đoan xung tuổi hoặc gia đình không tương xứng với nhau.
Ngày nay, xã hội ngày càng phát triển, mọi giao lưu văn hoá được thiết lập, hiểu biết của con người cũng đã khác xưa. Tuổi trẻ có điều kiện gặp nhau, tìm hiểu nên những hạn chế lạc hậu nặng nề cũng được loại bỏ. Việc kén chọn thay vào là qua tìm hiểu của đôi bạn trẻ rồi thông báo, xin phép cha mẹ là xong, coi như bước quan trọng đầu tiên này không còn rắc rối như xưa nữa.
Dạm ngõ: Còn gọi là “Lễ vấn danh”, chạm ngõ, chạm mặt, xem mặt, có khi vừa dạm vừa hỏi mà gọi là “dạm hỏi”, là cuộc hành hương sau bước kén chọn, tìm hiểu đã xong, nhà trai hẹn ngày đến để biết nhà gái. Đây là lần gặp mặt đầu tiên của hai gia đình để chính thức cho mối quan hệ biết nhau, hiểu nhau. Cha mẹ mối mai mà đôi trai gái chưa gặp được nhau sẽ biết mặt nhau nên còn gọi là “xem mặt”. Cuộc gặp mặt diễn ra vui vẻ, không có vấn đề gì thì hai gia đình sẽ tính toán thời gian để làm “lễ ăn hỏi”.
Trong trường hợp này, hai bên khi gặp nhau thường giữ ý, giữ tứ trong giao tiếp sao cho cẩn thận, không để xảy ra sơ xuất gì là tốt. Tuy nhiên, cũng có trường hợp chỉ vì câu nói không khéo mà để ý nhau, thậm chí mâu thuẫn dẫn đến cuộc lương duyên không thành, mọi sự chấm hết.
Ngày nay, các bạn trẻ học hành cùng nhau, giao lưu quen biết từ lâu thì không còn việc xem mặt như xưa, mà chỉ là để hai gia đình gặp biết nhau và bàn chuyện lo cho các con những bước tiếp theo. Có khi cả hai gia đình đã biết nhau, thậm chí quen thân nhau thì việc “dạm ngõ” chỉ là lễ nghi, thủ tục.
Ăn hỏi: Khi đã thiết lập tốt mối quan hệ hai gia đình, nhà trai tính chuyện chọn “ngày lành, tháng tốt” và thông báo cho nhà gái sẽ đến đặt trầu cau. Thành phần có đại diện của hai bên, cha mẹ, chú bác, anh em, bạn bè và người bê tráp để làm thủ tục, nói chuyện. Đây là lễ dâng lên gia tiên, chính thức xác nhận mối quan hệ thông gia, đồng thời cũng ngầm ý công khai chắc chắn mối lương duyên của đôi trai gái, mặc dù chưa cưới nhưng “ván đã đóng thuyền” có nơi có chốn rồi. Vì thế còn gọi là “lễ đính hôn”, cô gái từ nay thành “vợ sắp cưới” và chàng trai thành “rể tương lai” của hai gia đình, họ được phép gọi là bố mẹ hai bên và xưng con với gia đình.
Xưa kia không có đăng ký kết hôn tại cơ quan chính quyền nên “lễ đính hôn” là rất quan trọng. Ngày nay, bạn trẻ yêu nhau phải đến chính quyền địa phương đăng ký kết hôn mới là hôn nhân hợp pháp.
Lễ ăn hỏi theo phong tục từng nơi cũng có khác nhau. Trước khi sắm lễ, thường do hai bên thống nhất và hỏi bên nhà gái có yêu cầu gì thêm không. Đây coi là lễ trọng gồm các mâm quả (còn gọi là Tráp, Quả khem) phủ vải đỏ, đầy đủ trầu cau, bánh cốm, bánh phu thê (xu xê) hoặc bánh chưng, bánh dầy, chè, thuốc có khi còn có xôi gà hoặc cả con lợn quay. Ngày nay còn có bia lon, gia đình khá giả còn cho phong bì tiền, nhẫn, hoa tai, dây chuyền vàng vào nữa. Cũng có nơi, tuỳ phong tục, hoàn cảnh mà đơn giản, gia đình nhà gái cũng không yêu cầu gì khó khăn. Tráp lễ tuỳ nơi, tuỳ hoàn cảnh từ 3 quả, 5 quả, 7 quả, 9 quả, thậm chí tới 11 quả phải thuê 11 Taxi, 11 người ngồi đi theo, rất nhiêu khê, nặng nề, tốn kém.
Xe đi ăn hỏi. (ảnh Đức Thịnh)
Lễ vật mang đến nhà gái đều có ý nghĩ sâu sắc: Trầu cau là đại diện cho nhân duyên, ăn vào môi càng tươi đỏ, người thêm ấm áp, tình thêm duyên dáng mặn nồng. Bánh phu thê, bánh cốm, bánh chưng, bánh dầy tượng trưng cho trời đất, âm dương. Số lượng lễ vật phải là số chẵn, bội số của 2, tượng trưng cho đôi lứa. Tráp quả thì là số lẻ: 3 quả (đại diện cho Tam Tài), 5 quả (ngũ hành sinh sôi vạn vật), 7 quả (thất bảo, quý giá, tốt đẹp), 9 quả (vĩnh cửu muôn đời). Ngày nay tuỳ phong tục, hoàn cảnh, điều kiện từng nơi mà đi 3 hoặc 5, 7, 9 quả. Con số lẻ tượng trưng cho sự phát triển và là số dương, là trai, đến đây ghép lại thành đôi trọn vẹn. Bởi vậy mà bên trai, cứ mỗi quả một chàng trai trẻ thanh tú, chưa vợ làm nhiệm vụ nâng, đến bên nhà gái cũng phải có bằng ấy cô gái trẻ đẹp, chưa chồng ra đón lấy. Quả tròn màu đỏ, phủ vải đỏ hình vuông viền kim tuyến vàng, biểu tượng cho trời đất, âm dương, giữa có chữ “Phúc” tròn màu vàng biểu hiện cho sự vuông vắn, vẹn tròn, hạnh phúc. Người ta còn dán trái tim nhỏ màu đỏ có chữ phúc màu vàng trên các quả cau và têm những miếng trầu “cánh Phượng” rất đẹp, tượng trưng cho hạnh phúc lứa đôi và thường thuê nhà hàng chuyên nghiệp làm. Lễ vật phải được xếp đặt gọn gàng, thẩm mỹ. Các thiếu nữ đón lễ cũng mặc áo dài màu đỏ là biểu tượng cho niềm khát vọng hạnh phúc, vui tươi. Cũng có những đôi trai gái qua công việc này tình ý với nhau mà nên đôi lứa.
Đoàn của cả hai bên đều được chuẩn bị rất chu đáo, tương xứng, trang phục đẹp, trưởng đoàn chững chạc, giỏi giao tiếp, nói hay, súc tích.
Gia đình nhà gái đón tiếp nhà trai bằng tiệc trà lịch sự, nói chuyện và tiến hành trao lễ cho nhau. Bà mẹ bên trai trao từng mâm lễ vật cho bà mẹ bên gái nhận rồi để lên bàn thờ thắp hương. Lúc này gia đình bên gái cho phép con gái ra chào bên trai và cùng chú rể thắp hương tiên tổ rồi cả hai ra mời trầu nước họ hàng. Cuối cùng hai bên gia đình thống nhất việc chuẩn bị lễ cưới cho các con.
Lễ ăn hỏi xong được nhà gái lại quả cho nhà trai một ít, trầu cau đều phải dùng tay xé, tuyệt đối không được dùng dao cắt, kiêng sự cắt chia thô bạo, còn lại chia ra mang đi biếu họ hàng nội ngoại, bạn bè, bà con thân thiết để thông báo tin vui hạnh phúc đến với mọi người.
Lễ ăn hỏi còn mang ý nghĩa chân thành của nhà trai cảm ơn công lao sinh thành, nuôi dưỡng người con gái để sắp đón về làm con và tấm lòng quý mến đối với con dâu tương lai của nhà mình. Đồng thời cũng là chút góp vào chi phí thêm cho nhà gái. Tuy nhiên, cũng có nhà gái khá giả, tư tưởng tiến bộ không yêu cầu gì, điều kiện đến đâu thì hai bên thông cảm làm đến đó, chỉ cần đơn giản mà trân trọng là được, tránh quan niệm sai lầm không hay về sự cầu kỳ, nhiêu khê, thách cưới, gả bán mà phải là một nghi lễ tràn đầy nhân văn, cảm thông, tốt đẹp.
Lễ cưới: Mọi thủ tục quan trọng về thông gia, công nhận con dâu, con rể đã được xác nhận ở lễ ăn hỏi. Việc tổ chức lễ cưới tiếp theo là sự gặp mặt vui mừng giữa hai họ, bạn bè để chúc mừng hạnh phúc cho gia đình và đôi trai gái.
Trước khi tiến hành tổ chức lễ cưới, theo luật hôn nhân ít nhất một tuần, đôi trai gái phải đến cơ quan chính quyền của một trong hai bên làm “Đăng ký kết hôn” để được công nhận hợp pháp trước pháp luật. Thời gian từ sau đăng ký kết hôn đến trước ngày tổ chức lễ cưới là để phòng những rắc rối liên quan tới hôn nhân. Mọi việc đều tốt lành thì lễ cưới được hai bên gia đình thực hiện. Đăng ký kết hôn là thủ tục bắt buộc khi kết duyên và cũng là cơ sở cho việc sau này nếu sống không hạnh phúc, phải đưa ra Toà án, đại diện cho chính quyền có cơ sở giải quyết huỷ kết hôn để được ly hôn theo pháp luật.
Theo phong tục Á Đông việc xem ngày giờ tốt được xác định để đón dâu và tổ chức lễ cưới. Tuy mang màu sắc mê tín dị đoan, nhưng từ lâu đi vào tâm thức chưa dễ gì loại bỏ, cho nên nhiều khi gặp phải những ngày mưa to, gió lớn, rét buốt, heo may hoặc mùa hè nóng nực. Mặc dù ở các nước, nhất là những nước tiên tiến, người ta chỉ tổ chức ngày vui vào ngày lễ, chủ nhật, ngày nghỉ, đẹp trời.
Đến ngày, hai bên đều chuẩn bị tài chính, nhân lực thực thi công việc. Bên nhà trai chuẩn bị lễ đón dâu, một người đứng tuổi, chững chạc, có vai vế, đức độ, không có tang gia, gia cảnh hạnh phúc, không goá vợ, giỏi nói năng, đối đáp, làm trưởng đoàn cùng gia đình và mấy bạn trai trẻ đẹp, chưa vợ làm phù rể để đến nhà gái. Người ở nhà thì dựng rạp, trang trí, âm thanh, làm cỗ và lo chương trình “Lễ thành hôn” khi đón cô dâu về. Nhà gái cũng dựng rạp, làm cỗ và chuẩn bị đoàn tương xứng tiếp đón nhà trai, bạn thân của cô dâu gồm những thiếu nữ xinh đẹp, chưa chồng để phù dâu.
Ngày nay ở thành phố người ta không tổ chức ở nhà mà thuê nhà hàng hoặc trung tâm văn hoá để tổ chức lễ cưới.
Khi đoàn của nhà trai đến gần nhà gái thì dừng lại chỉnh trang trang phục và chờ. Trong khi đó, mẹ chú rể đi trước vào nhà gái để làm thủ tục xin con dâu. Thủ tục xin dâu xong, thì đoàn của nhà trai vào và trưởng đoàn hai bên thực hiện nghi thức xin đón dâu về. Lúc này chú rể được phép mang hoa vào cửa buồng trao hoa, đón cô dâu ra chào mọi người và cô dâu lưu luyến chia tay gia đình rồi cùng chú rể về nhà chồng. Chú rể mặc comple lịch sự, cô dâu mặc bộ áo cưới kiểu mới màu trắng, nhiều tầng. Ngày nay có đám cưới chú rể và cô dâu vẫn trang phục áo dài, khăn xếp màu đỏ truyền thống rất đẹp theo văn hoá cổ truyền.
Ở phía Bắc hiện nay vẫn còn tục cổ hủ mẹ cô dâu không đưa con gái về nhà chồng. Xưa kia có nhiều trường hợp mẹ và con gái tình nghĩa nặng sâu, khi con gái đi lấy chồng vì nhớ thương mà buồn nhớ, khóc lóc, nên sợ đến nhà con rể khi về sẽ diễn ra cảnh mẹ con bịn rịn chia tay khóc lóc làm ảnh hưởng đến ngày vui. Để tránh điều đó xảy ra nên gia đình không muốn cho người mẹ đưa con gái về nhà chồng. Nhưng ở phía Nam thì không như vậy mà các bà mẹ vẫn đi theo đoàn đưa rước con gái về nhà trai, rất tươi cười vui vẻ. Ngày nay quan niệm khác rồi, không còn chuyện bịn rịn, nhớ thương kiểu xưa nữa mà trở thành niềm vui hạnh phúc khi con đi lấy chồng thì làm sao phải tránh đi cùng con gái của mình.
Theo tục lệ dân gian thì lễ đón dâu còn nhiều chi tiết rất tỷ mỷ như: Mẹ trao cho con gái chiếc kim gài đầu với ngầm ý dặn con cẩn thận trong quan hệ vợ chồng, tục chăng dây ở cổng làng cô dâu, lễ tế tơ hồng, nghe lời cha mẹ dặn, lễ hợp cẩn, trải chiếu gường… nhằm giáo dục, nhắc nhở và mong đôi bạn trẻ sống hiền thảo, thuận hoà, thương yêu, hạnh phúc. Ngày nay, xã hội đổi mới, các bạn trẻ tiếp cận hiểu biết qua thông tin sách báo nên những chi tiết rườm rà đã được lược bỏ mà không ảnh hưởng gì đến ngày vui hạnh phúc lứa đôi.
Nhiều nơi, các cơ quan, đoàn thể đã tổ chức cưới tập thể cho nhiều đôi bạn trẻ rất trang trọng và các bạn đều mặc trang phục áo dài, khăn xếp truyền thống thật đẹp, lịch sự, tiết kiệm .
Ở đám cưới, người ta thường dùng chữ “Song Hỷ” theo kiểu chữ Hán, nói lên niềm vui mãn nguyện hạnh phúc của con người. Song Hỷ, tức là hai niềm vui, bắt nguồn từ tích Vương An Thạch, người nước Lỗ ở Trung Quốc đối câu đối mà được cả hai niềm vui là tìm lấy được vợ đẹp và thi đỗ đạt cao. Ngày nay, theo thời đại mới, có nơi thay bằng trang trí hiện đại hoặc lại dùng ảnh và chữ tên cô dâu, chú rể phóng to hết mặt phông mà không dùng hai chữ “Hỷ” liền nhau nữa.
Lại mặt: Sau lễ cưới, ngày hôm sau gọi là “nhị hỷ”, ở xa thì đến ngày thứ tư thì gọi là ”tứ hỷ”, cô dâu chú rể cùng trở lại nhà gái nên gọi là “lại mặt”. Vợ chồng mang theo ba lá trầu, ba quả cau cùng lễ chay hoặc mặn về cúng gia tiên, coi như sự trình báo việc hôn lễ viên mãn nên còn gọi là “lễ phản bái”. Đây là buổi gặp mặt vui vẻ về kết quả của cuộc hôn nhân với gia đình bên vợ.
Ngày xưa, có khi cuộc “lại mặt” trở thành nỗi buồn do sự không trọn vẹn trong đêm tân hôn của đôi lứa. Sự trinh tiết của người con gái không hoàn hảo là cái thủ lợn bị cắt mất một tai. Hủ tục lai căng, phản văn hoá này từ lâu đã bị loại bỏ. Ngày nay, tuy vẫn còn coi trọng trinh tiết, nhưng do quan hệ giao tiếp của tuổi trẻ khác xưa thì cưới hỏi chỉ là thủ tục hợp pháp mà thôi, thậm chí có đôi do quá yêu nhau trước đó nên chỉ mấy tháng sau cưới các bạn đã sinh con rồi. Vì thế, cưới xin chỉ còn là thủ tục, chuyện xem ngày, giờ trở thành mê tín dị đoan, hài hước. Có điều cần thiết là chính các bạn trẻ nên ý thức được những quan hệ lành mạnh trước hôn nhân.
Nộp cheo: Đây là nghi lễ đối với làng xóm để được công nhận và hoà nhập với cộng đồng bằng bữa mời ăn uống vui vẻ. Ngày xưa, đôi vợ chồng còn phải nộp vật liệu để tu bổ các công trình đường xá, đình chùa trong làng, xã.
Ngày nay, tục lệ này không còn nữa. Mọi quan hệ đã có trong buổi mời gặp mặt thân mật ăn uống trong ngày cưới rồi. Còn mọi sự đóng góp theo quy định chung tuỳ theo yêu cầu ở địa phương, điều kiện và lòng hảo tâm của mỗi gia đình cùng với làng xóm, quê hương.
Xưa kia, cưới hỏi có vai trò rất quan trọng cho mối lương duyên hạnh phúc. Ngày nay, việc tìm hiểu và đăng ký kết hôn là quyết định cho cuộc hôn nhân bình đẳng, hợp pháp. Tuy nhiên, hạnh phúc cho cả cuộc đời chủ yếu lại do đối nhân xử thế. Có người cưới hỏi rất cẩn thận, xem ngày giờ rõ kỹ, tổ chức cưới đàng hoàng, linh đình, to tát nhưng hạnh phúc chẳng được bao lâu thì cuộc sống mâu thuẫn, bất hoà, tan đàn, xẻ nghé. Có người yêu nhau mà hoàn cảnh rất khó khăn, cưới xin rất là đơn giản, hoặc vì lý do nào đó chỉ đăng ký kết hôn xong, chẳng có điều kiện làm lễ lạt, cưới xin rồi họ cùng nhau đi xa làm ăn. Kể cả việc cầu cúng tại nhà, cầu kinh, làm phép ở nhà thờ cũng không có. Thế mà cuộc sống vợ chồng chăm sóc, yêu thương, ít năm sau gia đình, con cái đàng hoàng, thành đạt, cho đến về già họ vẫn rất quý nhau, cuộc đời thật là mãn nguyện, hạnh phúc. Vậy nên, hạnh phúc phụ thuộc rất nhiều vào kỹ năng sống, tâm lý, đối xử với nhau chứ không phải là việc xem ngày giờ, lễ lạt và cách cưới hỏi thế nào.
Việc cưới hỏi ở đồng bào các dân tộc vùng cao còn có nhiều tục lệ văn hoá dân gian như hát đối đáp giữa bên trai với bên gái, thổi khèn, thổi kèn lá tỏ tình, hò hẹn nơi “chợ tình” miền núi đầy bản sắc và rất nên thơ.
Không ai phủ nhận giá trị văn hoá, nhân văn, đạo đức của phong tục tốt đẹp. “Phú quý sinh lễ nghĩa” cũng làm thay đổi lối sống nghèo khó. Tuổi trẻ này nay ở những nhà giàu có còn thuê chụp hình làm Album ảnh, quay phim video, in đĩa VCD, DVD, thuê hội trường, nhà hàng, ôtô, váy cưới, khoán dẫn chương trình lễ cưới, đặt tiệc sang trọng chi phí tới nhiều triệu đồng. Có điều kiện thì làm đủ đầy cho cuộc đời thêm ý nghĩa, bởi người ta thường nói: “Cả đời có một lần”. Còn tuỳ thuộc hoàn cảnh để mà ứng xử sao cho không có “tiếng xấu để đời”, do đua đòi, lãng phí, tốn kém, nợ nần. Người ta còn phải cưới chui, cưới chạy cực kỳ giản đơn do lỡ đã quá yêu nhau hoặc tang gia bối rối, thế mà đứa trẻ sinh ra kháu khỉnh, rất ngoan, lại thật thông minh. Kết quả của hạnh phúc là sự khôn ngoan, chứ đâu phải ở sự đua đòi hình thức và phung phí tiền của?
Ở các vùng dân tộc thiểu số hoặc đâu đó còn những hủ tục tảo hôn, cướp vợ, đòi hỏi, thách cưới nặng nề, nghi thức rườm rà, mê tín dị đoan, tốn tiền của, mất thời gian cũng cần loại bỏ cho cuộc sống lành mạnh, tốt đẹp, tươi vui.
Phong tục cưới hỏi xét về truyền thống cổ xưa thấy cũng rất hay, nhìn theo nếp sống năng động ngày nay lại thành nhiêu khê, tốn kém và mất thời giờ. Cho nên có bạn trẻ đi du học ở nước phương Tây về, làm ăn thành đạt thì vừa nửa đùa, nửa thật nói: “Cưới xin con cháu yêu nhau mà các cụ làm rắc rối, phiền phức quá. Quan niệm mua bán, rẻ rúng, lễ nghi rườm rà trong cưới xin là lạc hậu rồi. Tuổi trẻ bây giờ đơn giản lắm, cứ yêu là lấy, không ai ngăn cản được đâu. Ngăn cản, cấm đoán con cháu yêu nhau là phạm luật pháp, mà càng ngăn càng hỏng việc, hậu quả khó lường. Ở nước ngoài, tuổi trẻ yêu nhau, dẫn nhau đến nhà thờ làm lễ, sau đưa nhau đi nhà hàng gặp nhau, ăn uống với gia đình, bạn bè xong là đi du lịch rồi mới về tổ ấm. Đến thế hệ con của chúng con, chúng nó yêu nhau, đi đăng ký kết hôn, rồi gia đình hai bên mời nhau ra nhà hàng vui một bữa là xong. Đơn giản thế cho nhanh, thoải mái.”
Hạnh phúc không phải là tổ chức đám cưới rõ to, gia đình kinh tế giàu có mà ở tình thương yêu giữa hai con người, sự hiểu biết, kỹ năng trong ứng xử, sinh hoạt và xây dựng cuộc sống gia đình. Có được những cái cơ bản thì sẽ làm nên hạnh phúc và sẽ có tất cả.
Yêu thương và hôn nhân là giữ gìn lòng chung thủy để làm nên hạnh phúc trọn đời. Song trong cuộc sống vợ chồng làm sao tránh được những bất hoà, xô xát, biết nhường nhịn, cảm thông thì “gương vỡ lại lành”. Nhưng khi không thể nào hàn gắn được mà theo nếp xưa, cố giữ, thì cả hai mang theo nỗi khổ suốt đời. Vậy kiểu giản đơn như lớp trẻ mà giải phóng cho nhau có khi lại là hạnh phúc.
Hạnh phúc là từ “nhân duyên”, không kể giàu sang, hèn kém, có kể chi sung sướng hay khổ đau. Đến với nhau là cảm mến, tự nguyện, hết lòng, sẵn sàng cho cuộc yêu thương “đồng cam cộng khổ” đi suốt cuộc đời, thủy chung đến “đầu bạc răng long” và cả về nơi nghìn trùng chín suối. Mấy ai khi yêu nhau lại ra đủ điều kiện và đòi mỗi tháng anh đưa đây mấy chục triệu đồng! Nhưng trên đời ai biết được có ngờ đâu, khi cưới đòi cưới cho thật to, đua đòi mọi thứ cho thật tốn tiền. Khi thành vợ thành chồng là cậy quyền tinh tướng, không giỏi giang, chẳng làm ra nhiều tiền mà cứ đòi cuộc sống kệch cỡm, giàu sang. Thế là hạnh phúc nát tan, gia đình đổ vỡ, vợ chồng đưa nhau ra toà ly dị.
Không có tình yêu thương thực sự, không có hiểu biết về giá trị sống, không có kỹ năng, văn hoá ứng xử và giữ gìn hạnh phúc dài lâu thì mọi việc diễn ra cho đám cưới thật to, thật hoành tráng, xem tuổi, xem ngày giờ thật kỹ… đều trở thành vô nghĩa. Không có tình yêu không hạnh phúc. Khi về già mà không còn tình yêu thương cũng là bất hạnh.
Nói về việc xem tuổi kết hôn, sách “Lịch vạn niên thế kỷ XXI”, Chu Văn Khánh biên soạn cho rằng: “Khoa học và thực tế đã khẳng định hạnh phúc gia đình hoàn toàn không phụ thuộc vào tuổi vợ chồng. Do vậy chỉ nên coi việc xem tuổi kết hôn như một phong tục lâu đời để suy ngẫm và tham khảo.”
Theo sinh khắc âm dương, can chi, ngũ hành thì việc tính tuổi, chọn tuổi, xem ngày cho hôn nhân nhiều khi rất phản nhau: Hợp can lại khắc chi, thuận âm dương lại nghịch ngũ hành… Do vậy, có trường hợp theo cung bát quái cho là tuyệt mạng mà vẫn sống thuận hoà, làm ăn tấn tới. Trong khi đó có đôi xem rất tốt cho hôn nhân thì lại mâu thuẫn, ly dị bỏ nhau. Hoặc có đôi vợ chồng mâu thuẫn, người vợ mê tín đã đi xem ông thầy, ông liền phán rằng: - Duyên phận của cô chỉ đến đấy thôi! Lại bị mấy bà chị xúi thêm vào, cô vợ liền quyết tâm làm đơn ly dị.
Từng có chuyện hai bên gia đình đã chuẩn bị xong cho ngày cưới, thì một người đến chơi, cho ngay một câu: - Sao lại cưới vào ngày Không phòng? Thế là cả nhà sinh ra lo sợ bàn cãi rất lôi thôi. Thật là tai hại!
Ngày nay, tự do hôn nhân, nên nhiều bạn trẻ có khi “quá tiên tiến” yêu say đắm trước mà cha mẹ không hề biết gì. Do vậy việc xem tuổi, ngày, giờ không còn ý nghĩa, mà phải lo nhanh cho đôi lứa kịp có gia đình “hạnh phúc” để chăm sóc, nuôi con.
Thế nên sự hài hoà giữa phong tục dân gian và nếp sống hiện đại mới là yêu cầu của con người văn minh trong thời đại mới.
Sinh đẻ
Cuộc đời con người ai cũng trải qua vòng “Sinh - Lão - Bệnh - Tử” mà bắt đầu từ sự sinh ra. Hình thành “tiên thiên” từ trong bụng mẹ, qua “9 tháng 10 ngày” là thành “hài nhi” bé nhỏ. 9 tháng 10 ngày mang thai cũng là thời gian để tính thêm một tuổi âm lịch (còn gọi là tuổi Mụ, theo quan niệm do các bà Mụ nặn ra) của đứa trẻ lớn lên sau này. Quá trình mang thai đến khi sinh nở, các bà mẹ xưa phải kiêng cữ lắm, ăn uống, đi lại, sinh hoạt đều phải giữ gìn.
Từ bào thai rồi thành hài nhi đều là sinh linh mang kiếp người nên có đủ yếu tố nhân sinh, đạo đức, sinh tử luân hồi theo giáo lý đạo Phật. Những “thiên thần” bé nhỏ được nâng niu, ấp ủ, coi như báu vật của tạo hoá và do những “ông Tiên”, “bà Mụ” độ trì từ giấc ngủ, nụ cười, giấc mơ đến cái rướn người, giật mình, thức giấc. Thế nên, tất cả những diễn biến sơ sinh đều được đưa vào tâm linh, cầu xin, hồn vía, “nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa”. Ngoài việc xem giờ sinh có thuận lợi cho sự nuôi dưỡng hay không, người ta còn lập ngay cho đứa trẻ lá số Tử vi để dự đoán đời người. Khen trẻ một câu cũng phải “trộm vía!”. Trẻ khó chịu, ốm đau, giật mình, nhất là ngã xuống ao, xuống sông cũng cúng ông Tiên, bà Mụ, “đốt vía”, “chiêu hồn”. Và người ta sinh ra trái khoáy, thích bảo đứa trẻ “xấu lắm”, “dễ ghét”... vì sợ khen nó dễ ốm đau!; Nhưng nếu khen “khôn”, “đẹp”, “dễ thương” thì lại rất kiêng! Còn thời hiện đại, lại sinh ra chuyện ngộ nhận, khen trẻ quá đáng “cháu cái gì cũng biết”, thậm chí tâng bốc lên như những “thần đồng”!
Ngày nay, với sự theo dõi, hướng dẫn của chuyên môn y tế, các sản phụ đều được tư vấn về dinh dưỡng, ăn uống, giúp đỡ, chỉ định theo dõi thai nhi từ khi mang thai đến khi sinh đẻ an toàn, khoẻ mạnh, tránh được rất nhiều tai biến đáng tiếc cho người mẹ và trẻ sơ sinh. Khoa học y học về sinh sản có thể tính toán, chẩn đoán biết giới tính, ngày sinh, tháng đẻ và can thiệp tốt nhất cho “mẹ tròn, con vuông” an toàn, khoẻ mạnh. Thế mà cũng rất lạ là vẫn có người còn xem giờ để điều chỉnh đẻ hoặc mổ đẻ với mong muốn cho con trẻ thông minh hay “làm quan” như quan niệm xưa? Trẻ ốm đau, khó chịu, quấy khóc mà thành “khóc dạ đề”. Khóc dạ đề tức là khóc về đêm (dạ là đêm). Theo Đông y, do bệnh tật, âm dương thiên lệch, đến đêm âm thịnh gây khó chịu mà khóc thì phải khám, chữa, cho uống thuốc để cân bằng âm dương cho trẻ. Viêm cấp phế quản, phổi, viêm não, tai nạn phải vào ngay bệnh viện cấp cứu kịp thời chứ không thể cúng bái ông Tiên, bà Mụ, chao hồn, đốt vía mới mong thoát khỏi tử thần.
Xưa kia, xã hội lạc hậu, các bà đỡ chỉ biết đỡ đẻ thông thường, dùng tre nứa cắt rốn để tránh nhiễm trùng. Những ca đẻ ngược, đẻ khó chỉ kêu cầu thần linh, trời đất nên người mẹ khi sinh là “sinh đẻ cửa mả”, trẻ sơ sinh bệnh cấp chết yểu rất nhiều. Trẻ sinh vào giờ rất tốt nhưng vẫn sốt cao, co giật do viêm phổi, viêm màng não cấp không sao cứu được mà thành “bà Cô”, “ông Mãnh” và đổ cho thần linh, ma quỷ, trở nên sợ hãi. Vì thế mà khi người mẹ lâm bồn sinh nở, người ta mong cho “Mẹ tròn Con vuông” như sự vẹn nguyên, thần kỳ của trời “tròn” đất “vuông”, mới thật sự an tâm.
Có vùng dân tộc thiểu số còn có hủ tục lạc hậu, dã man, người mẹ khi sinh vì lý do nào đó bị chết, thì đứa con cũng bị chôn theo.
Những loại giờ kim sà, thiết toả, quan sát, tướng quân, diêm vương, dạ đề, theo mùa và theo lục Giáp, lục Bính, lục Mậu, lục Canh, lục Nhâm can dương hợp với con trai, lục Ất, lục Đinh, lục Kỷ, lục Tân, lục Quý can âm hợp với con gái. Trẻ sinh vào “giờ sạch” tức là tốt, không phạm gì. Còn nếu phạm vào giờ không tốt thì ốm đau, khó nuôi, quấy khóc, phải chú ý cho cẩn thận và “thầy” phán là phải đem bán vào nương nhờ cửa Phật, cửa Thánh hoặc làm con nuôi người khác. Đến năm 12 tuổi thì sắm lễ đến đền, chùa mà “xin” con về. Việc làm con nuôi người khác thì vẫn coi như một người con trong gia đình cha mẹ nuôi mãi sau này.
Xưa kia do hiểu biết và y học còn hạn chế mà các “thầy” vẽ ra như thế để ổn định tâm linh cho con người. Thời đại ngày nay đã khác thì mấy ai còn bán con như thế nữa.
Theo sách “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” thì:
“Xưa kia, người ta quan niệm rằng, đứa trẻ được sinh ra là do các vị Đại Tiên (Bà chúa Đầu thai), Tiên Mụ, mà trực tiếp là 12 Tiên Nương (12 bà Mụ) nặn ra ban cho. Vì vậy, khi đứa trẻ chào đời được 3 ngày (?) gọi là “đầy cữ” (theo các tài liệu khác và xưa nay thường cho là 7 ngày là một cữ), đầy tháng (được 1 tháng), đầy năm, bố mẹ, gia đình còn bày ra việc cúng Mụ để tạ ơn. Việc tổ chức có các lễ vật phải thật chu đáo, gồm 12 đôi hài xanh giống nhau cho 12 bà Mụ và một đôi cùng màu nhưng to hơn cho Bà Chúa Mụ. Nén vàng xanh, miếng trầu cánh phượng, bộ đồ chơi bát đĩa, phẩm oản, bánh kẹo, đều được làm mỗi thứ thành 12 phần để thành hai hàng hai bên cho 12 bà Mụ và một phần to hơn ở giữa cho Bà Chúa. Một đĩa cua, ốc, tôm, một đĩa lễ mặn xôi, chè, gà, ngày nay còn có bánh sinh nhật. Cắm nến cho tất cả các bà Mụ và theo vía con trai là 7, con gái 9 ngọn, rồi cầu cúng bà Mụ cho trẻ hay ăn, chóng lớn và xin các Mụ ban cho đứa trẻ mọi điều may mắn, khoẻ mạnh, tốt lành”.
Ông Tiên, bà Mụ chỉ là hình tượng hoá hình ảnh tâm linh về ước vọng tốt đẹp cho tuổi thơ của con trẻ. Quan niệm đó chỉ ở những người theo lối cổ xưa, ngày nay không ai làm nữa.
Theo thuyết định mệnh, người ta cho rằng khi hình thành bào thai con người có một vì tinh tú nào đó trên bầu trời chiếu vào để khi sinh ra mang theo những dự kiện cho số mệnh, đời người!
Tất cả những yếu tố, dự kiện được người xưa đúc rút qua thực tế vừa có khoa học của vận khí, âm dương, ngũ hành, vừa là giải pháp tâm linh cho con người an tâm tư tưởng và cũng mang theo màu sắc mê tín dị đoan.
Ngày nay theo khoa học, không còn quan niệm như xưa và thấy không nên làm thêm rắc rối, chỉ theo nếp sống mới, tổ chức chúc mừng, tròn năm có bánh sinh nhật vui vẻ mà thôi. Những đôi vợ chồng trẻ thời hiện đại khá về kinh tế, khi con sinh nhật một năm lại mời cả nhà đi dự tiệc chúc mừng. Có cha mẹ thuê nhà hàng sang trọng, lịch sự, trang trí thật đẹp, ý nghĩa, có hình ảnh từ 1 tháng đến 12 tháng của con trong đủ một năm và đặt tiệc lớn mời gia đình, anh em, bạn bè cùng đến chúc mừng cho bé. Tuy nhiên cũng có phiền phức, khi người được mời dự sinh nhật đứa trẻ lại phải lo có quà tặng sao cho tương xứng với lễ nghi tốn kém, rườm rà. Vì thế, nên chăng chỉ cần làm sinh nhật cho con sao cho đơn thật giản trong gia đình thôi, để dễ đối xử, bởi không phải ai cũng giàu sang, lắm tiền nhiều của như mình đâu?
Xã hội ngày nay mở ra kỷ nguyên văn minh của khoa học là hạnh phúc cho mọi gia đình. Lòng tin đặt vào đúng chỗ và thừa hưởng tiến bộ y học mới là giải pháp tốt nhất cho sức khoẻ người mẹ và sự an toàn, thông minh của những đứa con. Các bậc cha mẹ và gia đình cũng cần học tập, nghiên cứu, tiếp thu kiến thức khoa học nuôi con để tránh quá lạm dụng dinh dưỡng, vật chất, thuốc men bừa bãi gây ra bệnh béo phì mà trẻ thở thành “Em chã” (Chuyện trong một bộ phim, có đứa trẻ béo phì. Khi mọi người cứ cố cho bé ăn thêm nữa, bé không thể nào ăn được, nên cứ mỗi khi bị ép ăn, lẽ ra phải nói: “Em chả ăn nữa đâu!”, nhưng vì chưa nói sõi và không nói được dài dòng, bé chỉ nói được câu: “Em chã!”. Từ đó mỗi khi thấy đứa trẻ nào quá béo mập, người ta cứ gọi vui “em chã!” là thế). Trẻ béo phì sinh ra bệnh tật tim mạch, suy thận, đái đường khó chữa. Những hậu quả của thiếu hiểu biết thì chẳng có ngày giờ tốt, ông Tiên, bà Mụ và cử hành sinh nhật đầy tháng, đầy năm cầu kỳ kiểu gì giải thoát được.
Thời đại văn minh ngày nay, mấy ai quan niệm sinh con nhiều, mà chỉ nghĩ làm sao chăm sóc cho con thật khoẻ, thật thông minh; Đồng thời thực hiện nếp sống văn minh, kế hoạch hoá gia đình, không gây áp lực dân số cho xã hội nên người ta chỉ sinh một hoặc hai con. Để làm được như vậy, con người văn minh đã dùng các biện pháp tránh thai là việc bình thường. Ấy thế mà vẫn có người theo quan niệm cổ hủ, cho việc nạo hút thai là ác, là giết người, để lại phạm vào tội sinh con phá kế hoạch!
Tình mẫu tử cũng làm nên đặc trưng cho giáo dục. Người mẹ thường rất thương yêu con mình, có khi chăm con, bênh con không phải lối. Đối với người mẹ, cứ ôm chặt lấy con thôi, dù nó có khoẻ mạnh hay ốm đau, thông minh, hay ngu dốt. Thế nên, hình ảnh người mẹ cứ kéo con đến ôm vào lòng, nhưng với người cha lại đẩy ra xa cho nó tự chạy tới, nói lên bản tính yêu thương, dưỡng dạy bản lĩnh cho con giữa cha và mẹ cũng có khác nhau. Bởi thế, câu “con hư tại mẹ, cháu hư tại bà” là nét chấm phá điển hình về mối quan hệ giáo dục con cháu của phái nữ. Đặc tính của tình mẫu tử - mẹ con nhiều khi được nâng lên rất cao, mặc dù công trạng của người cha rất lớn đối với gia đình, nhất là người cha nóng tính, gia trưởng, ít quan tâm đến con lại càng thấy rõ.
Khi người ta yêu nhau, lấy nhau thành vợ chồng, việc sinh con mới chỉ là quan hệ bản năng con người. Mấy ai nghĩ rằng sẽ sinh ra được đứa con thế này thế nọ. Người ta vô tư trong sinh hoạt sinh lý, tình dục thật thoải mái rồi sinh con, thế thôi. Mặc dù có mong ước sinh ra con khoẻ mạnh, thông minh, tử tế thì đứa trẻ ra đời, ngoài thể chất bẩm sinh còn phụ thuộc rất nhiều yếu tố chăm sóc, giáo dục.
Nho học ngày xưa từng nói về sự sinh dưỡng trẻ theo khoa học. Sách “Tam tự kinh” viết”:
“Nhân chi sơ, tính bản thiện
Tính tương cận, tập tương viễn.
Cẩu bất giáo, tính nãi thiên
Giáo chi đạo, quý dĩ chuyên.”
Nghĩa là: Con trẻ từ “Tiên Thiên” như “Trời cho” trong bụng mẹ, mới sinh ra tính vốn hiền lành. Lúc còn nhỏ tính mọi trẻ cũng gần giống nhau. Sau “Hậu Thiên” sống ở trên đời mới nảy sinh khác biệt, tốt xấu không giống nhau. Nếu không tăng cường giáo dục, dạy dỗ thì tính vốn hiền cũng sẽ thay đổi. Và giáo dục là phải chú ý giáo dục điều tốt, trước sau như một.
“Dưỡng bất giáo, Phụ chi quá
Giáo bất nghiêm, Sư chi nọa.
Tử bất học, phi sở nghi
Ấu bất học, lão hà vi?”
Nghĩa là: Nuôi con mà không dạy bảo, đó là lỗi của người cha. Dạy bảo mà không nghiêm, đó là lỗi của người thầy. Còn nhỏ lớn lên mà không chịu học thì đến khi già còn làm gì được nữa.
Trong xã hội văn minh, ngày nay người ta đã nghiên cứu về sự nuôi dạy trẻ phát triển chỉ số thông minh IQ, coi đó là yếu tố hàng đầu, giúp mang đến thành công của con người. Tuy nhiên, không chỉ thế mà thấy còn một yếu tố rất quan trọng nữa đó là “Trí tuệ xã hội”, gọi là SQ. Tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, trưởng khoa tâm lý học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh cho biết:
“Trí tuệ xã hội (SQ) là quan niệm đã phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới, nhưng vẫn còn mới ở Việt Nam. SQ là năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong hoàn cảnh có tương tác với người khác, tức là khả năng tiếp cận các quan hệ xã hội. Bầu không khí trong gia đình tác động rất lớn đến sự phát triển trí tuệ cho trẻ. Cha mẹ cần lưu ý cung cấp cho trẻ chế độ dinh dưỡng hợp lý, khoa học nhằm phát triển thể chất và hướng óc quan sát, khả năng suy luận của con mình”.
Theo các nhà nghiên cứu thì trẻ em khi sinh ra có 7 giác quan. Ngoài 5 giác quan thông thường còn có 2 giác quan là: Tiên tri và Thần giao cách cảm nên thường có liên lạc và gây nên xung động được với người mẹ. Nó cũng không phải là di truyền và khi lớn lên cứ giảm dần 2 giác quan đó.
Đối với các “Thần Đồng”, còn nhỏ đã rất thông minh, nhưng do không biết cách chăm sóc, giáo dục, không kiên trì rèn luyện, không có ý chí đến cùng thì lớn lên cũng chỉ là những đứa trẻ bình thường mà thôi. Hoặc thái quá trong cách giáo dục thì “thần đồng” lại trở thành thần kinh, ngớ ngẩn.
Việc chăm sóc, giáo dục con khoẻ mạnh, đạo đức, giỏi giang là ở sự khôn khéo, tri thức, tài năng của cha mẹ cùng với truyền thống, đạo đức gia đình, phương pháp rèn luyện, học tập và tác động xã hội.
Trong gia đình giàu có, thiếu cơ bản là giáo dục, cái gì cũng chiều chuộng, mua sắm, ăn mặc đủ đầy, thừa thãi mà con béo phì, bệnh tật, học dốt, đua đòi, hư hỏng, vô lễ là điều bất hạnh. Nhà hoàn cảnh nghèo khó, éo le, thậm chí tật nguyền mà con khôn ngoan, lễ phép, khoẻ mạnh, đạo đức tốt, biết thương mẹ cha, yêu quý anh chị em, chăm ngoan, học giỏi thì hồng phúc không có gì bằng. Con cái là của để dành. Như thế thì “phú quý sinh lễ nghĩa” không đúng chỗ sẽ hết thời, giàu sang tất phải đổi ngôi, suy ngẫm ở đời ắt có “giá treo, giá trả”.
Sinh nhật, Thượng thọ
Người theo đạo thờ cúng coi trọng việc cúng giỗ, nhưng việc sinh nhật lại không mấy quan tâm. Những năm gần đây, do ảnh hưởng nếp sống phương Tây, việc tổ chức sinh nhật cho con trẻ đầy tháng, đầy năm và các bạn trẻ tổ chức sinh nhật chúc mừng nhau đã được tổ chức. Đối với người lớn tuổi, chủ yếu chỉ tổ chức thượng thọ chẵn năm cao niên. Việc tổ chức sinh nhật hàng năm cho mọi người mới có ở một số cơ quan công sở. Nhân ngày sinh, đoàn thể, cơ quan mua hoa quả, bánh kẹo chúc mừng và có điều kiện thì tặng món quà nho nhỏ tại cơ quan để làm kỷ niệm. Hoặc cá nhân mời đồng nghiệp, bạn bè ra nhà hàng chúc nhau nhân sinh nhật, còn chưa có mấy người nghĩ đến kỷ niệm ngày sinh tổ chức tại gia đình.
Kỷ niệm sinh nhật là nét đẹp, việc hay nên làm tại nhà để ông bà, cha mẹ, con cháu cùng quan tâm đến sự lớn lên, trưởng thành và sức khoẻ của mỗi thành viên. Có thể chúc mừng nhau, cùng vui bữa cơm ghi nhớ hàng năm, nếu có điều kiện tặng nhau tấm bánh, đồng quà, quần áo cho thêm phần kỷ niệm vui vẻ. Niềm vui thiết thực ai cũng được chung vui. Khi mất đi rồi, cúng giỗ chỉ là tưởng niệm, nên dù có mâm cao cỗ đầy cũng không được hưởng.
Sinh nhật là việc của cá nhân, gia đình cũng chỉ đơn giản, gọn nhẹ, vui vẻ chứ không nên mở rộng, khuếch trương, làm to, tổ chức lớn gây tốn kém và phiền phức đến nhiều người. Bạn bè, làng xóm thật thân thiết, thông cảm thì có thể mời đến, hoặc người ta biết mà vui vẻ nhiệt tình thì có thể đến cùng chung vui với gia đình, chúc nhau khoẻ mạnh.
Gia tộc, gia đình còn có nét đẹp nữa là mừng thượng thọ để tôn vinh công đức, giáo dục rèn luyện sức khỏe khi mỗi người trong dòng tộc đạt đến tuổi cao. Sách “Gia phả dòng tộc” của tác giả Gia Cát biên soạn nói về phong tục thượng thọ như sau:
“Thời xưa, tuổi thọ con người còn ngắn, đến 50 tuổi là thọ, nên đến 50 tuổi đã tổ chức chúc thọ. Ban đầu những tuổi 50, 60, 70 được coi là những mốc quan trọng trong cuộc đời con người. Người sống đến tuổi này là đã vượt đến mốc “thọ”. Để trải qua những mốc này dễ dàng, người xưa tổ chức mừng thọ.
Theo thạc sĩ Nguyễn Mạnh Linh, lễ mừng thọ không phải tổ chức đúng tuổi 50, 60, 70… mà tổ chức trước một năm. Bởi quan niệm xưa cho rằng “thịnh tất suy”, “cùng tất phản”, “thập toàn là đủ, đủ là hao tổn”… số 10 là số tròn, đầy đủ, lên tới cực điểm. Nên tổ chức vào đúng tuổi như vậy có nghĩa là đã hết thọ, rất không may! Tổ chức trước một năm sẽ có nghĩa là tuổi thọ kéo dài mãi mãi. Ngoài ra, 9 lại là con số may mắn, chín còn gọi là cửu (vĩnh cửu) đồng âm với lâu dài, có nghĩa là trường thọ, rất thích hợp cho kỷ niệm, chúc mừng.
Tổ chức mừng thọ vào năm 9 còn chia ra “9 thực” là 59, 69, 79… và “9 ảo” là tổng của hai số năm tuổi bằng 9, như 63, 72, 81… Những năm “9 thực” là tổ chức mừng thọ, còn những năm “9 ảo” là mời sư thầy về niệm kinh, để cầu bình an.”
Ngày xưa, nhân tuổi thượng thọ, có người còn mặc quần áo đẹp cho ông bà, cha mẹ, mời ngồi vào ghế, rồi con cháu vái tay “cúng sống” chúc mừng thọ để tỏ lòng tôn kính, hiếu thảo. Đó là “Tục khao lão”, bậc cao niên thượng thọ ngồi chỉnh tề, con cháu theo thứ bậc đứng hai bên, nam bên trái, nữ bên phải, làm lễ tế ba tuần rượu, có ban nhạc vui tươi, trọng thể. Tế sống cha mẹ mỗi lần hai lạy, khác tế thần, tế tổ bốn lạy. Ngày nay, không còn làm như thế nữa mà mừng thượng thọ theo nếp sống mới.
Tổ chức sinh nhật hàng năm và thượng thọ cho mọi người là việc làm hay, nhưng nên làm đơn giản, ý nghĩa, chỉ trong gia đình, con cháu, tránh khoa trương, khoe của, bày đặt tốn kém, cúng bái linh đình, mời gọi tràn lan gây phiền phức cho mọi người thì lại chẳng hay.
Việc mừng thọ ngày nay còn được chính quyền địa phương tổ chức long trọng hàng năm vào đầu năm mới, có “Hội người cao tuổi” trao tặng “Giấy chứng nhận thượng thọ”, các đoàn thể chúc mừng. Những cụ đạt đến 90, 100 tuổi còn có chế độ đãi ngộ tuổi già, được nhà nước tặng thưởng, chủ tịch nước tặng quà chúc mừng thượng thọ.
Sinh nhật và mừng thọ thật ý nghĩa, gia đình vui vẻ, hạnh phúc biết bao.
Lễ Tang
Chết là kết thúc một cõi nhân sinh, chấm hết một đời người, là quy luật của tự nhiên “Sinh - Lão - Bệnh - Tử”. Con người đến với cái chết theo nhiều cách, do tuổi già, bệnh tật hoặc những sự biến bất ngờ trong điều kiện, hoàn cảnh khác nhau mà gọi bằng những cái tên tự hào, thanh thản hay bi thương, đau xót: Chết, mất, hai năm mươi về già, tạ thế, qua đời, viên tịch, đi, hy sinh, quyên sinh, tự vẫn, tự tử, về với cõi Niết Bàn, Thượng Đế, chuyển sang kiếp khác…
Con người sinh ra, sống ở trên đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay có biết bao mối quan hệ, tình yêu thương, ghét bỏ, hận thù cùng chiến công và tội lỗi. Khi ra đi vào cõi vĩnh hằng vừa để lại trên cõi dương gian vừa mang theo về nơi ngàn trùng chín suối tình thương, nỗi nhớ, mãn nguyện hạnh phúc và những trăn trở, đắng cay. Khi chết, để lại cho dương thế biết bao công việc về ân tình, đạo hiếu, trăn trở, lo toan. Vì thế, về cái chết có cả một nghi lễ với những tập tục rất chu đáo, tỷ mỷ để tri ân, chia sẻ với con người.
Tập tục Lễ Tang ở Việt Nam được tổng kết qua sách “Thọ Mai gia lễ” có dựa theo “Chu Công gia lễ” của Trung Quốc thời xưa nhưng không rập khuôn, bắt chước.
Tác giả “Thọ Mai gia lễ” là Hồ Sĩ Tân (1690-1760), hiệu Thọ Mai, người làng Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Ông đậu tiến sĩ năm 1721, năm thứ 2 triều Bảo Thái, làm quan đến Hàn lâm Thị chế.
Trong “Thọ Mai gia lễ” có trích dẫn một phần của “Hồ Thượng Thư gia lễ”. Hồ Thượng Thư tức Hồ Sĩ Dương (1621-1681) cũng người làng Hoàn Hậu, đậu Tiến sĩ năm 1652, tức năm thứ 4 triều Khánh Đức, Thượng thư bộ hình, tước Duệ Quận Công.
Tập tục Lễ Tang còn được các bậc trí giả, nhà nho sau này như Phan Kế Bính nghiên cứu, bổ xung thêm cụ thể, chi tiết và lưu truyền làm cẩm nang hướng dẫn việc Lễ Tang. Cho đến ngày nay, một số thủ tục rườm rà, lỗi thời, mất thời gian, tốn kém, không phù hợp đã được lược bỏ nhưng những tập tục chủ yếu vẫn còn áp dụng trong dân gian.
Theo “Thọ Mai gia lễ” và các sách về tập tục, lễ nghi thì việc chuẩn bị cho người sắp chết, rồi khi chết, chôn cất cho đến đắp mồ, sửa mả, cúng giỗ những năm sau đó đều rất chi tiết, cụ thể.
Ám ảnh của cái chết thường ảnh hưởng sâu vào tâm thức con người, nhiều khi gây hoang mang, sợ hãi, nhất là những người thiếu bản lĩnh, nên đối với sự chết đều được chuẩn bị và lo toan rất cẩn thận, chu đáo, để tâm linh thanh thản không vướng bận ưu phiền, lo sợ cho cõi dương gian.
Lễ Tang thể hiện mối quan hệ nhân sinh, đạo hiếu, nghĩa tình gia đình, anh em, con cháu với người đã khuất cho tròn “nghĩa tử là nghĩa tận”. Qua đây càng thấy giá trị nhân văn, sâu sắc của sự sống và tình nghĩa con người; Đồng thời cũng dạy cho người ta những bài học ở đời sống sao cho tốt đẹp hơn. Bởi vì có những cái chết rất đỗi bình thường, có cái chết rất thương tâm, ai oán, có cái chết là niềm vui hay nỗi niềm xót xa. Người thì chết do tuổi già, kẻ lại chết khi còn nhỏ bé. Có cái chết làm cho anh em thêm đoàn kết, nhưng cũng có cái chết gây nên gia đình nhiều sự bất hoà. Có cái chết yên ấm tại gia đình, có cái chết khổ sở ngoài đường, ngoài chợ hay tai nạn thảm khốc, đớn đau. Có cái chết làm cho tâm linh yên vui, ổn định, nhưng cũng vì lý do nào đó mà có cái chết gây ra lo sợ cho cả gia đình, nhiều đời con cháu. Và theo quan niệm của Phật giáo thì khi chết chỉ là giai đoạn chuyển tiếp luân hồi từ kiếp này sang kiếp khác mà thôi. Thế nên tập tục, lễ nghi trong lễ tang càng được người đời đặc biệt quan tâm, chú ý mà ăn sâu, bắt rễ vào tâm thức trong suốt chiều dài lịch sử đời sống tâm linh dân gian người Việt, với mong hoá giải cát hung, cho cuộc sống an bình, tốt đẹp.
Chết có đáng sợ không và đến với cái chết như thế nào?
Con người khi già là đi vào cõi chết, hoặc bệnh tật, tai hoạ bất thường mà chết khi còn đang trẻ đều là sự kiện đặc biệt ở đời. Quy luật “sinh - lão - bệnh - tử” không ai tránh khỏi nên thanh thản mà đi. Vì bệnh tật mà đột ngột qua đời thì không ai mong muốn. Tai hoạ bất thường không kịp đắn đo, suy nghĩ, ai cũng thương tâm. Sự biến bất ngờ ập đến, biết phải chết mà không sao thoát được. Ngoài những nguyên nhân khách quan, về chủ quan ai cũng muốn sống. Đời người chẳng được là bao, như một sinh vật sinh ra, lớn lên trên đời, giao lưu nơi này, chốn nọ, yêu thương, ghét bỏ, buồn vui, loanh quanh ở một vùng trên mặt đất, rồi ngắn thì bệnh tật, tai hoạ, dài thì đến tuổi già mà chết hoà vào đất đai, cát bụi.
Khi sống, có người có ích cho đời, chiến công vinh quang hiển hách, có người vô dụng, có người gây nên biết bao giăng mắc trên cõi dương gian, có người để lại ân nghĩa, tình thương, nỗi nhớ, có người mang theo tội ác, oán thù. Người vô tư, thánh thiện coi cái chết nhẹ như lông hồng. Hoà Thượng, Thiền sư Yoga đắc đạo cao siêu, ung dung ngồi thiền viên tịch. Người tham lam, hám sống lại rất sợ chết. Kẻ gian ác thì chết đi cho đáng đời. Người bệnh tật hiểm nghèo, biết tạo cho mình sự ra đi thật nhẹ nhàng. Người quá bi kịch, khổ đau, ốm lâu dai dẳng thì nghĩ sống làm gì, muốn chết đi cho xong. Có người lại cho rằng chủ yếu là khi sống, chứ khi đã chết là hết nên rất là thanh thản. Chiến tranh, binh đao, mũi tên, hòn đạn gây nên biết bao cái chết cho những anh hùng và thương tâm cho nhiều binh sĩ. Lại còn biết bao mối quan hệ gia đình, người thân, xã hội làm cho con người lưu luyến không muốn chia xa. Những khao khát, mơ ước cả đời chưa thực hiện được cũng không muốn ra đi khi còn dang dở. Ấy thế mà có người, có kẻ mới mười mấy tuổi đầu, sức thanh xuân đang phơi phới mà gây sự đâm nhau hậu quả là kẻ chết người phạm vòng lao lý, thật là đáng tiếc!
Và nghĩ đến khi chỉ còn là một xác chết vô hồn, giá lạnh đem chôn vào với đất đai, cát bụi, chấm hết vĩnh viễn một đời người không còn bao giờ nhìn thấy trên dương gian nữa mà xót xa, luyến tiếc và sợ hãi vô cùng!
Có biết mình sắp chết hay không?
Phần lớn người ta không thể tiên lượng được cái chết của mình, nhất là những trường hợp “đột tử” càng không thể biết trước. Tuy nhiên, do kinh nghiệm xưa hoặc chuyên môn thầy thuốc đông y theo tứ chẩn (vọng - nhìn, văn - nghe, vấn - hỏi, thiết - bắt mạch) và tính xung khắc can chi, âm dương, ngũ hành của mệnh, tuổi mà dự đoán cho cái chết. Người ta khi cảm thấy lạnh từ xa của các chi vào trong cơ thể và mạch tim, nhịp thở yếu đi làm cho con người khó chịu, sẽ có biểu hiện qua “thất mạch” là đang dần dần đến với cái chết (bảy loại mạch gồm: Tước trác - chim sẻ mổ thóc là Can tuyệt, Ngư trường - cá lượn là Tâm tuyệt, Ốc lậu - nhà dột là Vị tuyệt, Hà du - tôm lội là Đại tràng tuyệt, Đàn thạch - rắn chắc là Thận tuyệt, Giải sách - cởi giây là Tỳ tuyệt, Phủ phí - nước sôi là Phế tuyệt. Thấy các loại mạch này buổi sáng thì chiều chết, buổi tối thì sáng mai chết).
Người xưa còn tụng kinh để thông thoát âm dương cho người dễ chết đều là giải pháp tư tưởng. Các nhà ngoại cảm với khả năng đặc biệt của mình, hoặc người xem biến sắc qua nhân tướng mà biết về cái chết. Có người do linh tính mách bảo hay “điềm gở” mà tự nói ra cái chết của chính mình. Có người ốm đau lâu ngày không chết mà khoẻ mạnh trở lại bình thường. Có trường hợp đã chết lâm sàng, cho vào áo quan bỗng nhiên sống lại! Có người do lưu luyến con cháu và hy vọng qua được hiểm nghèo mà tạo nên sức mạnh thần kỳ, hoặc do con cháu bồi bổ sâm nhung mà kéo dài thêm sự sống. Trước cái chết, người ta thường hy vọng và tìm cách kéo dài thêm sự sống để từ từ “đi” vào cõi vĩnh hằng. Thế nên người xưa mới có tục hú hồn khi cho xác chết vào quan tài và ngày nay phải dùng cách kiểm tra tim mạch, hơi thở cho người vừa mất, đề phòng những đáng tiếc xảy ra, người chưa chết hẳn mà bị đem chôn.
Sự hấp hối trước cái chết có khi linh thiêng, kỳ diệu đồng thời cũng ẩn chứa những sợ hãi, lo âu. Có người trước khi chết, vì lý do nào đó của thể chất, tinh thần mà cơ thể kích động lên mạnh mẽ, có khi rất kỳ lạ, biểu hiện u uất, mắt trừng trừng trợn ngược, nhe răng, thân hình run rẩy, vật vã, quằn quại… rất kinh hồn, sợ hãi!
Trong dân gian còn nghiệm ra rằng, thấy “chim sa, cá nhảy” vào chỗ người ốm mệt, đêm khuya thanh vắng nghe tiếng “chim lợn kêu”… là điềm báo có người sắp chết? Nghe thì thật hoang đường, nhưng có lẽ ẩn chứa sự thần kỳ của khoa học.
Có trường hợp người đã hôn mê sâu mà rất khó chết. Nhưng do mê tín thế là mỗi người đến thăm lại xúi cho một câu, làm cho người nhà càng lo sợ nghe theo đi nhờ thầy xem cho căn số. Thầy nghe trình bày rồi phán ngay rằng: “Nặng căn, nặng số lắm nên mấy ngày nay lúc tỉnh lúc mê, còn “hãm” đấy chưa “đi” được đâu. Về phải cúng mà giải thoát thì mới “đi” được!”. Thế là thầy vẽ ra đủ loại lễ vật gạo, trứng, hương, hoa… bảo cúng chỗ này chỗ kia, cứ làm thế, chỉ ba ngày nữa là “đi” đấy! Người nhà răm rắp làm theo, đúng ba ngày thấy chết thật thì quá linh thiêng. Nhưng đến ba ngày không chết, là bảo do cúng mà hồi khoẻ lại! Người đã hôn mê sẽ xảy ra hiện tượng lúc tỉnh lúc không. Còn khi đã mất hết sự sống thì có làm gì cũng không thể nào sống lại được nữa. Vậy mà người ta cứ lo sợ cuống lên đi xem chỗ này chỗ nọ. Lại còn nghe theo người khác bảo trèo lên dỡ nóc mái nhà cho âm dương thông thoát cho dễ chết! Linh nghiệm chả thấy đâu, ngói dỡ tung ra lại thêm dột nát, hoặc lỡ ngã xuống thì gẫy chân tay, chấn thương sọ não, chết người. Ngày nay nhà đúc bê tông và là nhà tầng cả rồi, cứ thế mà đục ra hay sao, hoặc ở bệnh viện thì dỡ cái gì? Dù cho rằng vẫn có người cho là khoa học, nhưng mang theo hình thái mê tín nên ngày nay không làm như vậy nữa. Thế nên, người đến thăm cũng có người hiểu biết, cảm thông, tử tế, nhưng cũng không thiếu gì người u mê, mê tín dị đoan xui dại cho thêm lo sợ, phiền phức, tốn công sức, trong khi đang lo sợ cuống lên, nghe lời xúi dục là cứ làm càn bừa bãi.
Chuẩn bị trước khi chết:
Mấy ai muốn chuẩn bị cho mình cái chết. Thế nhưng đến gần với cái chết hoặc biết mình không thể sống lâu được nữa, người ta có thể chuẩn bị đón nhận cái chết của mình và gia đình, con cháu làm công việc chuẩn bị cho người sắp chết. Đó là sự chăm sóc ân cần, dặn dò, di chúc, chuẩn bị đồ dùng vật dụng, quan tài, lễ tang, phần mộ… cho người sắp chết.
Có người biết sắp chết đã gọi con cháu, đặc biệt là con trai cả và cháu đích tôn đến để dặn dò, khuyên bảo. Trước lúc lâm chung, con cháu thường đến bên cạnh mà thăm hỏi, động viên và hỏi xem có dặn gì không? Có nhiều lý do, nếu riêng tư sẽ dặn từng người hoặc không thì gọi cả con cháu đến mà dặn. Cũng có người ốm đau, mê mệt chẳng dặn được điều gì, để lại lòng cảm thương, luyến tiếc cho cả người thân.
Tuy nhiên, có một việc mà phần lớn người chu đáo, khi còn tỉnh táo thường làm là “Di chúc”. Di chúc có khi bằng lời nói dặn dò, băng ghi âm, nhưng thường bằng văn bản. Theo luật pháp của nhà nước thì di chúc có hiệu lực pháp lý là được lập khi người đó còn tỉnh táo, viết rõ ràng, có chữ ký hoặc điểm chỉ, có người làm chứng và được chính quyền xác nhận. Đây là việc rất quan trọng, nhất là đối với những gia đình giàu có mà anh em bất hoà, để giải quyết những phức tạp về quan hệ gia đình, dân sự sau này. Mối quan hệ gia đình gồm cha mẹ, anh em, con trai, con gái, con dâu, con rể, con đẻ, con nuôi, cháu chắt… nhiều khi do hiểu biết, quan niệm, tính tình khác nhau nên rất phức tạp. Thực tế cũng có chuyện xảy ra thật vô phúc, đau lòng, sau khi người chết, từng xảy ra tranh chấp nhà đất, gia sản, trở thành mối bất hoà thậm chí hận thù giữa các con cháu mà phải nhờ đến pháp luật.
Các cụ ta xưa còn cẩn thận lo cả việc làm sẵn quan tài để ở nhà vì không muốn làm phiền con cháu hoặc sợ rằng con cháu sẽ không làm được chu đáo cho mình. Tự nhiên trong nhà lúc nào cũng thấy để chiếc quan tài gây ra sợ hãi cho mọi người. Hiện nay, mua chiếc quan tài cũng không khó khăn, nên không ai làm như thế nữa. Có người còn xem ngày, giờ để phục nhân sâm cho người chết tránh vào những giờ xấu, trùng tang, trùng phục… cho con cháu an tâm. Hoặc vì quá hiểu chuyện ma mỵ của trùng tang mà nói lệch giờ chết vào cung tốt nhất cho khỏi lo miệng thế gian dựng chuyện sợ hãi.
Khi hấp hối, người nhà chuẩn bị quần áo mới và các vật dụng cần thiết, nấu nước trầm hương hay ngũ vị để lau người cho người chết.
Việc làm khi người chết:
Đây là trường hợp người mất tại nhà, có điều kiện mới lo đầy đủ. Còn những trường hợp tai nạn, thương vong khác thì phải tuỳ hoàn cảnh mà lo chôn cất cho chu đáo là được.
Khi người vừa mất, dù mắt đã nhắm (cá biệt cũng có trường hợp mắt vẫn còn mở, thường bị dựng đặt lên là đời còn uẩn khúc nên khi chết không nhắm được mắt!), con trai hoặc cháu đích tôn, dùng khăn thấm nước nóng, đặt lên mắt rồi vuốt cho nhắm lại. Sau đó đưa xác chết nằm xuống đất vài phút để tiếp âm với ý nghĩa “sinh ra bởi đất thì chết lại trở về với đất”, rồi đặt lên giường. Về khoa học, đây cũng là cách điều hoà âm dương cho thi hài người chết.
Mộc dục (Tắm gội): Theo gia lễ thì phải có một con dao nhỏ, một tấm khăn sạch, một cái lược, một cái thìa, một ít đất ở bếp, một nồi nước ngũ vị hương. Ngày nay đã lược bỏ những gì không cần thiết. Người cha thì con trai, người mẹ thì con gái tắm, rửa cho cha mẹ. Vây màn che kín gió, rồi quỳ khóc và nói rằng: “Chúng con xin tắm gội cho Cha (Mẹ) để sạch bụi trần”. Tiếp đó lấy khăn thấm nước ngũ vị lau mặt, lau người cho sạch sẽ, lấy lược chải tóc, buộc tóc, cắt móng tay, móng chân, mặc quần áo. Móng tay để phía trên, móng chân để phía dưới quan tài, dao lược, thìa mang đi chôn. Thi hài đặt ngay ngắn trên gường, mặt phủ bằng miếng giấy hoặc chiếc khăn trắng chờ đến giờ liệm nhập quan.
Trên đầu người chết đặt ghế con để một cây đèn dầu, một bát cơm úp, dựng đôi đũa tre cắm vào bát gạo giữ một quả trứng và thắp hương, trên bụng để một con dao sắt, dưới gầm giường người ta còn đốt than. Tất cả việc làm này là để tiêu trừ âm khí, tử khí và đề phòng xung điện khi có mèo nhảy qua mà xảy ra hiện tượng “quỷ nhập tràng”. Quả trứng là biểu tượng cho vũ trụ và sự sinh sôi tái tạo, nói lên khát vọng của con người không phải chết là hết và trứng cũng có tác dụng hút âm khí, tử khí. Người Công giáo còn cho trứng là ngôi mồ của Chúa, từ đó mà sống lại. Đó là ý niệm tâm linh mang theo khát vọng tốt lành.
Phạm hàm: Khi người chết tắt thở, người nhà lấy chiếc đũa để vào ngang mồm cho không ngậm lại rồi lấy ít gạo nếp xát cho sạch, ba đồng tiền mài cho sáng, nhà giàu còn dùng vàng, ngọc trai để bỏ vào miệng.
Tang chủ quỳ khóc mà rằng: “Nay xin phạm hàm, phục duy hâm nạp”. Người chấp sự lần lượt xướng: “Sơ phạm hàm”, tang chủ xúc một ít gạo và một đồng tiền tra vào mồm bên phải, “Tái phạm hàm”, một ít gạo và một đồng tiền cho vào bên trái, “Tam phạm hàm”, cho một ít gạo và một đồng tiền vào giữa. Xong bóp mồm ngậm lại, phủ mặt như cũ.
Theo quan niệm xưa, phạm hàm là để cất dấu tiền của vào miệng cho vong hồn người chết được siêu thoát, đồng thời đề phòng ma quỷ cướp đoạt và có điều kiện chi phí trên đường qua 18 cửa âm ty, địa ngục. Xét thấy rườm rà, phi thực tế và mê tín dị đoan nên thủ tục này cũng loại bỏ. Ngày nay, ở thành phố, người bệnh đưa vào bệnh viện, khi chết, vệ sinh sạch sẽ, mang vào nhà xác rồi đưa ra nhà tang lễ làm lễ phúng viếng, sau đó xe tang chở đi hoả táng hoặc nghĩa địa an táng, không có làm những thủ tục phạm hàm như xưa nữa.
Quỷ nhập tràng:
Là hiện tượng xác chết tự nhiên bật dậy, có khi còn đổ theo người, nhưng thường là ngã xuống ngay tức thì. Người ta còn minh hoạ có xác chết co giật cánh tay, mắt mở trừng trừng. Đây là hiện tượng rất hiếm gặp, nhưng đã từng xảy ra. Người ta cho đó là ma quỷ nhập vào ứng báo cho điều gì không hay nên gây ra rất sợ hãi cho con cháu. Rồi người ta tô vẽ lên rằng nếu sống lại thì đó chỉ là xác chết người cũ, còn linh hồn sẽ là của một con quỷ, ban ngày sinh hoạt như thường nhưng đêm nó đi tìm người và động vật hút máu, mà gọi là “quỷ nhập tràng”.
Qua thực tế, hiện tượng “quỷ nhập tràng” chỉ xảy ra khi có con mèo bất ngờ nhảy qua thì lập tức xác chết dựng đứng lên. Do vậy, nhà có người qua đời chưa an táng, người ta thường bỏ màn và cắt cử con cháu thay nhau canh giữ để phòng có mèo quanh quất nhảy qua. Cũng có trường hợp hắt chén rượu qua hoặc nhỏ giọt nước mắt vào xác chết cũng xảy ra hiện tượng như thế, nên rất tránh những sơ xuất của động tác mạnh hoặc khóc lóc để nước mắt nhỏ vào thi hài. Đây có lẽ là nhắc nhở cho cẩn thận thôi, về khoa học thì có thể là sự kích hoạt điện trường đột ngột, hiếm gặp của hiện tượng này.
Khoa học ngày nay nghiên cứu thấy hiện tượng “quỷ nhập tràng” chỉ là xung điện cực mạnh, bất ngờ giữa các sinh vật là con mèo và xác chết tương tác hút nhau xảy ra như thế. Người đang tại đấy chứng kiến thấy quá sợ hãi mà bỏ chạy, đã tạo ra luồng không khí trống và sức hút điện trường nên xác chết lập tức đổ theo mà dựng lên là xác chết đuổi theo người. Vì thế, để đề phòng, ngoài cách canh giữ mèo nhảy qua, người ta để một con dao sắt lên bụng người chết để khống chế điện trường khi bất chợt xảy ra.
Trong bài viết: “Quỷ nhập tràng - mèo nhảy qua xác chết và những điều hé lộ” đăng trên phụ san “Tuổi trẻ và đời sống” của Báo “Tuổi trẻ Thủ Đô” 5-12-2011, tác giả Minh Quang nêu lên hiện tượng “quỷ nhập tràng” đều có xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Người ta còn thêu dệt rằng, có khi là con mèo, nhất là mèo đen nhảy qua thì xác chết sẽ sống lại thành ma cà rồng. Thế rồi phải gìm chặt xác chết xuống tấm phản gỗ bằng hai cây đinh dài, cho người chết an nghỉ vĩnh hằng để nếu có bị mèo nhảy qua thì cũng không thể “thức tỉnh” được! Rồi phải dỡ mái nhà để ánh sáng xuyên xuống và rắc những hạt cải ra khắp nhà để trừ ma quỷ.
Bài báo viết: “Con mèo đã gieo rắc nỗi sợ hãi lên những gia đình có người chết. Hiện tượng ma quái đó đã từng xảy ra ở nhiều nơi. Nhưng coi đó là hiện tượng quỷ nhập là điều không thể chấp nhận được. Thế nên người ta cố lý giải nó bằng khoa học. Một số người cho rằng con mèo mang điện tích dương và người chết mang điện tích âm, khi mèo nhảy qua, lực hút trái dấu của điện tích sẽ làm cho cái xác bật dậy. Nghe thì có vẻ khoa học, nhưng xét kỹ thì rất vô lý. Nếu con mèo có lực hút mạnh khoảng 50 kg để hút một cơ thể bật dậy thì phải có thêm một chiếc dây thừng buộc con mèo đó vào xà nhà. Nếu không thì lực hút đó sẽ làm cho con mèo chỉ nặng vài kg bị dính chặt vào xác chết nặng hơn nó rất nhiều”.
Bài báo cũng giải mã bí ẩn rằng: “Khi một người tắt thở là người đó đã chết. Nhưng trong khá nhiều trường hợp, trước khi chết hẳn, cơ thể trải qua trạng thái chết lâm sàng. Lúc này các biểu hiện tuy giống như đã chết nhưng các tế bào cơ thể vẫn còn hoạt động có khi kéo dài hàng chục giờ. Khi rơi vào trạng thái chết lâm sàng rồi thì khả năng tự sống lại là rất hiếm. Nếu được kích thích bằng sốc tim có thể sống lại nhưng thường chỉ trong một thời gian ngắn.
Cơ thể vận động được là do nhận thông tin truyền từ não bộ dưới dạng tín hiệu điện. Khi đó, cơ sẽ co duỗi nhịp nhàng và tạo nên các tác động. Khi chết lâm sàng, tín hiệu điện từ não không còn và các tế bào cơ trong trạng thái lỏng. Vì thế, khi được kích thích bằng luồng điện tương tự những xung điện phát ra từ não, các cơ đó sẽ co lại, làm co duỗi các tế bào cơ đang thả lỏng trong trạng thái chết lâm sàng tạo ra hiện tượng xác chết cử động.
Khi con mèo nhảy qua một cơ thể trong trạng thái đang chết lâm sàng, cơ thể đó bị bật dậy là điều hoàn toàn có thể. Đó là hiện tượng co cơ, nhất là cơ bụng, một hệ thống cơ rất khoẻ, khi nó co lại khiến cơ thể được coi là đã chết bật dậy. Sự tác động co cơ tuỳ vào từng trường hợp mà mạnh hay nhẹ. Nếu đủ mạnh, xác chết có thể ngồi bật dậy, còn nếu nhẹ, nó chỉ tạo ra một vài cử động khẽ như hơi rung lên, co tay, chớp mắt...
Không chỉ con mèo mà bất cứ con vật nào nhảy qua xác chết cũng có thể xảy ra hiện tượng như thế. Thậm chí nếu đưa một đồ vật tích điện qua cái xác chết cũng có thể xảy ra hiện tượng co cơ. Chỉ vì con mèo là con vật thường luẩn quẩn trong nhà và hay nhảy nhót lung tung, nên chúng được coi là thủ phạm tạo ra hiện tượng “Quỷ nhập tràng” rùng rợn như vậy”
Tuy nhiên, không phải bất cứ trường hợp con mèo nào nhảy qua xác chết nào cũng có hiện tượng đáng sợ này. Nó chỉ xảy ra với điện tích của con mèo và xác chết tương ứng, đủ mạnh do thể chất đặc biệt của từng người còn lưu giữ được khi đang trong trạng thái chết lâm sàng bị bất thần kích hoạt mà thôi. Còn những xác chết đã chết hẳn, hoặc tín hiệu điện trường không còn đủ mạnh, sẽ không còn xảy ra kích hoạt sự co cơ để sinh ra hiện tượng “Quỷ nhập tràng” nữa.
Thế nên mới có chuyện, một người chưa hề chứng kiến hiện tượng kỳ thú và đáng sợ “quỷ nhập tràng” mà bán tín bán nghi, không tin. Vốn là người xưa nay nổi tiếng nghịch ngợm, anh ta không biết làm cách nào để thử nghiệm xem sao. Cho đến ngày mẹ anh mất, anh liền bí mật mang con mèo đến bên thi hài mẹ và ném nó qua trước sự bất ngờ chứng kiến của nhiều người! Mọi người vô cùng sợ hãi nhưng chẳng thấy có hiện tượng gì xảy ra. Câu chuyện hoàn toàn có thật là do sự tò mò và bạo gan của người con. Tuy nhiên, về tâm linh và đề phòng xác xuất có thể xảy ra thì không nên làm như thế.
Khâm liệm, nhập quan: Các con cháu vào, trai bên trái, gái bên phải và theo y hiệu lệnh của người chấp sự. Người chấp sự xướng: Tự lập (đứng gần vào), “cử ai” (khóc lên), “quỳ”. Chấp sự cẩn cáo rằng: “Nay được giờ lành, xin rước nhập quan”, “cẩn cáo!”. Lại xướng: Phủ phục (lễ xuống), hưng (dậy), bình thân (đứng thẳng). Những thủ tục hô hoán rườm rà này, ngày nay không làm nữa mà con cháu chăm lo cẩn thận để chuẩn bị đưa thi hài người thân vào quan tài là được. Còn chuyện có người khóc, có người không tuỳ từng cảm xúc và theo Phật giáo thì khi chết là “chuyển kiếp” nên không phải khóc lóc buồn đau làm cho linh hồn người quá cố không yên.
Sau đó con cháu đứng ra hai bên. Mọi người giúp việc nâng thi hài êm ái đặt vào quan tài. Chú ý: quần áo và những gì người đang sống dùng chung thì không được cho vào quan tài.
Đồ khâm liệm: Trước kia nhà giàu thường cho gấm vóc, tơ, lụa. Nhưng thường là tấm vải trắng gấp kín thi hài là được, rồi buộc ba mối ở đầu, bụng, chân cho chặt. Tuy nhiên, cũng có người trước khi chết lại yêu cầu con cháu khi khâm liệm phải mặc chỉnh tề toàn bộ comple, thắt cavat, đi giầy rồi hãy cho vào quan tài. Con cháu cũng cứ thế làm theo lời người dặn. Chế độ phong kiến Trung Hoa xưa còn chôn theo đồ vật, có thời còn sinh ra tục “Tuẫn táng” rất dã man chôn theo cả người hầu, tuỳ tùng. Sau đó thay bù nhìn làm bằng cỏ, rồi làm bằng gỗ mà thành “hình nhân thế mạng” mê tín dị đoan.
Người ta còn tin theo thầy phù thủy, đục sao Bắc Đẩu thất tinh lên mảnh ván mỏng rồi cho vào đáy quan tài. Khi nắp quan tài gắn kỹ rồi, trên nắp quan tài đốt 7 ngọn nến (tượng trưng cho thất tinh, 7 ngôi sao). Lại xem ngày giờ nhập quan, tránh tuổi sát kỵ, xung khắc, rồi dùng bùa dán trong và ngoài quan tài. Thầy xem người chết phải giờ xấu, nhất là giờ “trùng tang” thì bỏ cỗ tổ tôm hoặc cuốn lịch “Thông thư Hoàng lịch” (lịch Tàu) vào quan tài để trấn yểm tà ma. Hành vi mê tín dị đoan này thực ra là do cuồng tín của mấy thầy phù thủy chỉ là làm phép an thần hoặc lại gây cho con cháu tang chủ thêm lo âu, sợ hãi.
Vật dụng lót quan tài: Thời xưa, người chết không mấy ai chôn ngay, do còn lưu luyến hoặc phải sắm lễ vật, chọn ngày, giờ, xem đất, chờ con cháu ở xa chưa về đầy đủ và mọi người đến phúng viếng. Qua vài ngày, mùi tử thi hôi hám bốc ra. Để tránh mất vệ sinh, dưới đáy quan tài thường lót bằng các loại hút ẩm, ngăn giữ hôi hám như: Lá chuối, giấy bản, chè búp, bỏng nếp, hoặc khăn vóc, áo nhiễu… Ngày nay thì dùng tấm ninol lót dưới và lưới lót để khi cải táng dễ lấy xương cốt. Người ta còn làm trong quan, ngoài quách, ở giữa đổ cát vàng. Ngày nay, theo quy định của vệ sinh y tế là sau khi chết 24 giờ phải đưa đi an táng để đảm bảo môi trường trong sạch cho nên cũng không ai dùng vật liệu lót quan tài nữa. Trừ trường hợp vì lý do luật pháp, hình sự phải để xác chết lại chờ xét nghiệm, người ta lưu vào trong phòng lạnh có đủ điều kiện giữ gìn xác chết cho đến khi được phép mang đi chôn hoặc hoả táng.
Thiết linh: Là lập bàn thờ tang, đặt di ảnh. Khi chưa chôn, mỗi lần chỉ vái hai vái. Theo nguyên lý âm dương, khi chưa chôn được coi như còn sống, nên 2 lạy tượng trưng cho âm dương nhị khí hoà hợp trên dương thế, tức là còn sự sống (kể cả có trường hợp do chết lâm sàng mà sau đó tỉnh lại). Sau khi mai táng mới lạy bốn lạy theo đạo thờ người chết, tượng trưng cho tứ thân phụ mẫu, bốn phương (Đông thuộc dương, Tây thuộc âm, Nam thuộc dương, Bắc thuộc âm) và tứ tượng (Thái Dương, thiếu Dương, Thái âm, Thiếu Âm). Tức là bao gồm cả cõi âm, cõi dương và hồn trên trời và phách dưới đất.
Thành phục - tang phục: Con cháu đứng trước bàn thờ chính thức làm lễ phát tang, mặc đồ tang phục. Trước khi chưa phát tang thì chủ tang chưa tiếp khách. Sau lễ phát tang, mặc đồ tang phục thì chủ tang đứng cạnh bàn thờ để đáp lễ và chỉ vái một vái cảm ơn những người đến phúng viếng.
Về việc để tang: Theo “Thọ Mai gia lễ” thì có ba cha: Cha sinh, bố dượng, bố nuôi. Tám mẹ: Mẹ đẻ, dì hai, mẹ nuôi, mẹ dưỡng, xuất mẫu, giá mẫu, thứ mẫu, nhũ mẫu. Có quy định ý nghĩa cho 5 loại tang phục theo huyết thống và thân sơ là: Đại tang, Cơ niên, Đại công, Tiểu công, Ty ma. Tang phục bằng vải thô xấu, sau này thường dùng vải màn sô.
Đại tang (Khăn trắng, áo sô), tang ba năm: Con tang cha, mẹ. Vợ tang chồng. Tang phục có hai loại Trảm thôi và Tề thôi.
Con để tang cha thì quần áo sổ gấu gọi là Trảm thôi (trảm là chém, thôi là áo tang). Con để tang mẹ, vợ để tang chồng khi cha chưa mất thì quần áo không sổ gấu gọi là Tề thôi (tề là bằng, áo tang bằng phẳng). Theo tục ngữ “Cha buông, Mẹ vén”. Nhưng nếu mẹ mất sau khi cha đã mất thì cũng dùng Trảm thôi như cha. Áo sô, khăn sô có hai dải sau lưng gọi là khăn ngang. Nếu hai cha mẹ đã mất thì thắt hai dải bằng nhau, nếu còn mẹ hoặc cha thì thắt hai dải dài, ngắn lệch nhau.
Con trai cả phải chống gậy. Con trai chết thì cháu đích tôn thay cha chống gậy. Tang cha thì gậy Trúc, tròn, tượng trưng cho trời - dương, cứng cáp, cương trực của cha. Tang mẹ thì gậy Vông, nửa trên tròn tượng trưng cho trời, nửa dưới cắt vuông tượng trưng cho đất - âm, thuần hậu của mẹ. Tình yêu thương của mẹ đối với con mềm mại, vô bờ không có gang tấc. Gậy Trúc và Vông đều chống gốc xuống dưới. Độ cao gậy vừa tới ngang tim, để chống tựa vào nỗi đau, thương nhớ từ trái tim mình. Cha đưa, là đi sau quan tài, đi theo tiễn đưa. Mẹ đón, là đi giật lùi trước quan tài, vì mẹ là phái yếu phải dẫn đường, đón mẹ. Chống gậy cũng là để tựa vào cho vững vàng khi tinh thần xót xa, đầu óc không tỉnh táo khi đưa tang, tránh vấp ngã. Ngày nay, xã hội và tinh thần con người không còn như xưa, quan niệm về hiếu nghĩa tiến bộ nên việc chống gậy cũng nhiều nơi không còn nữa.
Ngày xưa, đường xá chật hẹp, gập ghềnh, lởm chởm, bụi cây, gai góc loà xoà ra hai bên. Có người vì quá nặng lòng, thương nhớ mẹ cha, người thân mà khóc lăn lóc ra đường, đập đầu vào vách đá, nhao cả xuống huyệt gây thương tích cho nên mới phải cuốn cái mũ bằng rơm hoặc bẹ chuối để tránh tổn thương sọ não, dây chuối buộc thắt lưng gọn vào cho tang phục khỏi loà xoà vướng mắc rào gai. Xưa kia làm gì có nhiều loại dây như bây giờ, chỉ có dây bẹ chuối khô hoặc dây đay là tiện và dân dã mà xong là có thể vứt bỏ cho tiện. Người ta còn cho rằng cây chuối có nhiều lớp bẹ ôm vào nhau. Khi bẹ chuối già héo đi vẫn không rời ra mà bó chặt vào cây, nên dùng bẹ chuối cũng là nghĩa thủy chung, bền chặt.
Trong đám đưa tang xưa còn thấy con gái và con dâu thỉnh thoảng lại nằm lăn xuống mặt đường, với ý nghĩa lấp đầy vào chỗ đường gập ghềnh, trũng bước chân trâu, để quan tài khiêng đi qua không chòng chành, cho yên vị người quá cố. Hoặc còn có chuyện tránh không đưa đám tang qua cửa chùa để con trai khỏi phải nằm xuống đường cho quan tài đi qua? Tất cả đều với mục đích hiếu nghĩa với cha mẹ.
Thời đại văn minh ngày nay không còn cảnh đường xá xấu và quan niệm như xưa nên những tang phục và cách hành xử này đã lược bỏ. Ở thành phố và các nước Châu Âu, tang phục được thay bằng trang phục màu sẫm tối, băng đen và đưa tang bằng phương tiện xe tang văn minh, gọn sạch, nhẹ nhàng, thuận tiện hơn rất nhiều.
Thời gian đại tang 3 năm, đời sau giảm bớt còn 2 năm 3 tháng tức là sau giỗ đại tường 2 năm, thêm 3 tháng dư ai (buồn đau thêm chút nữa, cho nguôi dần).
Cơ niên (Khăn trắng), tang một năm: Chồng tang vợ. Cháu nội tang ông bà nội. Cháu tang bác, chú, thím, cô, dì.
Đại công (Khăn trắng), tang 9 tháng: Anh chị em con chú, bác ruột tang nhau. Cháu dâu tang ông bà, bác, chú, thím, cô ruột nhà chồng.
Tiểu công (Hoàng tang - Khăn vàng), tang 5 tháng: Chắt để tang cụ. Cháu tang anh chị em ruột ông nội và anh em con chú bác ruột của cha. Cháu ngoại tang ông bà ngoại và cậu, dì. Ông bà, chú, thím, cô ruột tang con của cháu.
Ty ma phục (Hồng tang - khăn đỏ), tang 3 tháng: Chít để tang kỵ nội (ngũ đại - năm đời). Cháu tang bà cô và chị em con chú bác ruột của bố. Con tang bố dượng.
Ngày nay, nhiều nơi không còn quan niệm như xưa nên đã lược bỏ những tang phục không còn phù hợp. Người ta chỉ thắt khăn gọn trên đầu, đeo băng tang đen vào cánh tay hoặc cài băng tang đen vào ngực áo là được và đưa tang bằng xe đi hoả táng. Trong khi lại có người đi đâu cũng mang khăn tang, đến 49 là cả nhà lại mặc tang phục.
Sau khi phát tang, ở một số nơi còn khôi phục lại thủ tục cúng cơm rất rườm rà, đôi khi không phù hợp với thực tế gia cảnh.
Đưa tang, An táng: Ngày xưa theo thôn ấp, lệ làng, lễ nghi địa phương, dân tộc. Ngày nay, một số nghi thức rườm rà đã lược bỏ, ở các địa phương có tổ chức của thôn xóm, phố phường, cơ quan lo làm lễ truy điệu, phúng, viếng theo hương ước chung. Có trang trí lễ tang, hội trống kèn, bát âm cử ai, đưa tiễn bằng đòn khiêng, xe tang ra nơi hạ huyệt. Cách làm gọn nhẹ, ý nghĩa, nhất là ở thành phố tổ chức tại các nhà tang lễ của các bệnh viện lại càng văn minh, chu đáo, nhẹ nhàng. Tuy nhiên, cũng còn có nơi thiết bị âm thanh quá lớn và kéo dài ngày đêm làm ảnh hưởng đến trật tự xóm làng. Lễ nghi rườm rà, thuê khóc hộ, người chấp sự nói năng dài dòng, rất mất thời gian.
Ngày nay ở một số nơi người ta làm lại những lễ nghi cổ xưa, tưởng như đã được đổi mới lược bớt đi. Có đám tang, khi bắt đầu đưa quan tài mẹ là bảo người con trai cả nằm ngửa dưới đất cho quan tài đi qua, rồi lại nằm sấp, sau đó là chui qua quan tài, tất cả là ba lần để thể hiện đạo hiếu nghĩa với mẹ. Người xưa cho rằng làm như vậy mới thể hiện được lòng tôn kính người mẹ đã sinh ra và vất vả cả đời dưỡng dạy cho con khôn lớn.
Chúng ta không vì tiến bộ xã hội mà bác bỏ ý nghĩa lớn lao, sâu nặng về hiếu nghĩa của con người. Nhưng thực tế thấy rằng, có người khi cha mẹ còn sống chẳng chăm sóc được là bao, thậm chí còn gây nhiều chuyện làm đau lòng mẹ, lúc bình thường không lo cho mẹ từng bữa ăn, giấc ngủ, khi ốm đau không chăm sóc đến nơi đến chốn, thế mà lúc mẹ chết đi thì khóc lóc thảm thiết bi thương, vậy mà bắt nằm xuống đất để sám hối thì có ích gì? Đó chỉ là trường hợp cá biệt, còn ai mà chả thương yêu, kính trọng mẹ cha. Ngày nay, tiến bộ xã hội cũng cho con người có điều kiện chăm lo cho cha mẹ khác xưa, ăn uống đầy đủ, có nhà lầu, xe hơi cho cha mẹ ở và đưa đi du lịch. Đó thực là hiếu nghĩa của con người mới. Thế nên, một số thủ tục, lễ nghi cổ được lược bỏ nhưng vẫn đảm bảo đạo hiếu của con người theo lối sống hiện đại, văn minh.
Nhiều đám tang còn mang tiền, vàng mã rắc trên dọc đường với quan niệm chi phí đi đường và ban phát cho ma quỷ, chúng sinh không theo bám đám tang gây nặng nề, phức tạp. Việc làm mê tín dị đoan này rất lãng phí tiền của, mất vệ sinh đường xá và gây bực mình cho khách qua đường. Các Thiền sư nhà chùa cũng khuyên không nên làm như thế.
Xưa kia người ta còn nhờ thầy xem đất, định hướng khi chôn với mong muốn vào nơi đất lành, đất phát hoặc yểm bùa vào mộ khi chết vào giờ xấu, trùng tang cho con cháu yên tâm, làm ăn suôn sẻ, tốt lành, phát đạt. Hoặc để quan tài chôn theo hướng của từng năm can chi. Ngày nay, dù đã có người hiến tạng, hiến xác, hoả táng, điện táng, mà vẫn còn những người nhất quyết phải làm theo kiểu xa xưa như thế!
Xã hội văn minh ngày nay, việc an táng đã chuyển dần việc chôn cất xuống đất thay vào việc hoả táng, điện táng cho hợp vệ sinh và không phải lo việc cải táng phiền phức sau này.
Theo sách “Thọ Mai gia lễ” thì còn nhiều việc phải làm trong đám tang rất tỷ mỷ như: Triêu điện, Tịch điện, Thượng thực, Trả lệ làng, Chuyển cữu, Cất đám, Nghi trượng đi đường, Trạm Trung đồ, cúng Quy lăng, Chiêu hồn nạp táng, tế Đề chủ, Tiểu trường, Đại trường, Đàm tế… Nhưng xét thấy quá rườm rà, không còn thích hợp nên đời sau cứ loại bỏ dần.
Ở một số nơi còn duy trì nếp Phật giáo, những phật tử quy vào chùa, khi chết cũng được rước di ảnh theo kiệu của chùa, có các phật tử đi theo nâng dải cầu Kiều, cầm cành Phan đi trước quan tài để tiễn đưa vong linh về cõi Phật. Hoặc chưa quy vào chùa thì khi chết, mời sư đến cúng và đưa ra chùa quy âm để đến 49 sẽ làm tại chùa rước vong, quy theo Phật.
An táng (còn gọi là hung táng) xong, rước vong linh về nhà thờ cúng. Lúc này lại tập trung con cháu trước bàn thờ riêng của người quá cố và người chấp sự diễn lại lễ cúng cơm quá rườm rà như sau lễ phát tang. Với nhận thức tiến bộ, nhiều nơi lễ cúng cơm không làm như thế nữa mà chỉ để cơm canh lên bàn thờ rồi con cháu thắp nén nhang kính cẩn tưởng nhớ người đã khuất là được.
Lễ ba ngày - Tế ngu: Sau an táng về nhà làm “lễ Tế ngu”. Ngu nghĩa là yên, là lễ cho vong hồn được yên ổn, không phải vơ vất. Lễ ngay ngày hôm an táng gọi là “Sơ ngu”. Sau đó gặp ngày nhu, can âm Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý thì làm lễ “Tái ngu”, gặp ngày cương, can dương Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm thì làm lễ “Tam ngu”. Theo sách cổ như vậy, nhưng ngày nay có nơi chỉ cúng sau ba ngày, gọi là lễ mở cửa mả. Ngày đó con cháu ra sửa lại mồ mả cho yên mộ phần và cũng là tưởng nhớ người đã khuất.
Cũng từ đây cho đến khi Trừ phục, mãn tang, trong thời gian này, nhất là thời gian đầu con cháu ít đến, hoặc nhân lễ, tiết mà đến thăm mộ thì chỉ sửa sang xung quanh, không được trèo lên mộ và không được dùng mai, thuổng đụng vào phần mộ. Đó là kiêng khi mới chôn cất, xác chết đang phân rữa, không vệ sinh, hoặc leo trèo lên dễ làm lún sụt và người quá cố cũng không được yên vị trong phần mộ.
Lễ Chung thất - 49 ngày: Sách “Thọ Mai gia lễ” nói về tang gia cho rằng: Cúng 49 ngày hay còn gọi là Lễ Chung thất là từ sách “Xuân Vũ Dật Thưởng” của Trung Quốc, chép rằng: “Người ta khi mới sinh thì 7 ngày là một “lạp” còn gọi là một “cữ”, mới mất 7 ngày là một “kỵ”. Mỗi một Lạp sinh ra một vía, mỗi một Kỵ tan đi một vía”. Vì thế, người mất cứ 7 ngày lại cúng một lần và cho rằng người có 7 vía, nên qua 7 lần 7 là 49 ngày gọi là tuần chung thất, là tuần thất cuối cùng. Người Việt ta không theo lễ 7 ngày một tuần, mà chỉ cúng theo tuần chung thất 49 ngày.
Theo thuyết của Phật giáo, con người sau khi chết có người được siêu thoát về thế giới cực lạc, sau 49 ngày thì chuyển nghiệp, đầu thai làm kiếp khác. Hoặc người ta còn qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày đi qua một điện ở âm ty (tức là một tuần, nhưng không phải nghĩa của tuần lễ theo dương lịch). Đây là thời kỳ rất đau khổ của con người! Khi rời cõi dương gian, chu du chưa định vào đâu, sau 7 tuần là 49 ngày thì vong hồn mới được phán xét xong và siêu thoát. Việc tắm vong, quy vong, triệu hồn... được thực hiện rất tỷ mỷ, mất nhiều thời gian.
Vì thế có người sau khi chết, đến tuần 7 ngày, con cháu đã mời thầy đến “lập đàn” tụng kinh, cúng bái hàng buổi, vàng mã đầy nhà tốn đến mấy chục triệu đồng!
Tài liệu “Bí mật Tiền kiếp Hậu kiếp; Luân hồi - Tái sinh” còn cho rằng:
“Sau khi con người trút hơi thở cuối cùng thì cái mà ta gọi là “linh hồn” tuy đã thoát ra khỏi thể xác nhưng lúc này còn như ở trạng thái tự do, chưa nhập vào một thân xác mới, giai đoạn này phải trải qua một thời gian là 49 ngày. Linh hồn trong 49 ngày này được gọi là “Thân Trung ấm”, một cái thân khác với nhục thể đã bất động là thân xác. Thân Trung ấm còn gọi là Thần thức. Lúc này thân xác không còn biết gì nữa. Linh hồn đang ở trạng thái Thần thức. Thần thức sẽ rời khỏi thể xác. Thời gian tách rời nhanh hay chậm tuỳ thuộc vào nhiều vấn đề, trong đó có hai trường hợp chính là: Thân Trung ấm ở ngay thân xác, trường hợp này hiếm, chỉ có những bậc chân tu, đức độ, đã rũ sạch nghiệp quả. Hoặc Thân Trung ấm rời khỏi thân xác sau một thời gian, có thể nửa ngày, vài ngày hoặc lâu hơn là 49 ngày.”
Thuyết nhà Phật cho rằng, Thân Trung ấm là giai đoạn “Du hồn” chuyển tiếp kiếp người để đi đầu thai, chứ không phải hết. Nên khi người chết không nên buồn khóc, làm cho linh hồn người chết không yên.
Sự kiện Đức phật Thích ca Mâu ni sau 49 ngày thiền định tại gốc cây bồ đề, đã thăng hoa giải thoát vào cõi Niết Bàn thành Phật, mà các đệ tử, chúng sinh lấy đó làm tâm nguyện, sau khi rời cõi nhân gian có 49 ngày để được giáo hoá giải thoát đi theo Đức Phật về với Niết Bàn.
Vì những ý nghĩa như thế, nên khi người qua đời kể từ ngày chết, tính đến đủ 49 ngày (thất thất lai tuần, tức bảy lần bảy là 49), con cháu cúng tại nhà và đến chùa cúng chúng sinh quy thành phật tử vào chùa theo Phật, tụng niệm cho vong hồn người quá cố giải thoát, sám hối và giũ bỏ mọi khổ đau, tội lỗi ở cõi dương gian để được trong sạch đi vào cõi vĩnh hằng Niết Bàn theo Phật. Tại chùa diễn ra lễ rước vong, chi phí cho chúng sinh, hối lộ ma quỷ bên đường, đò giang qua sông… cho “an toàn” để đưa người quá cố về nơi cực lạc.
Đó là những gia đình có điều kiện và theo đạo Phật. Còn đối với người không theo đạo Phật hoặc nghèo khó thì người ta không có 49, hoặc chỉ làm mâm cơm đơn giản để lên bàn thờ với lòng thành kính khấn vái, tưởng niệm người đã khuất và cầu mong cho gia đình con cháu mạnh khoẻ, hạnh phúc, cuộc đời an lạc, thái bình.
Cúng cơm 100 ngày: Quan niệm xưa thì trong 100 ngày vong hồn người chết còn phảng phất, vừa rời khỏi dương gian chưa định về đâu mà còn luẩn quẩn lưu luyến với gia đình, con cháu. Nên từ ngày an táng, hàng ngày đến bữa ăn con cháu đều phải mang một bát cơm úp, canh, rau… gia đình ăn gì thì mang thứ ấy cùng một cái bát, một đôi đũa đặt lên bàn thờ thắp hương mời người quá cố rồi mới ăn cơm. Đây là việc làm tưởng nhớ tới người vừa mới đi xa, như vẫn còn lưu luyến đâu đây với gia đình cho đến khi cúng 100 ngày cũng là đến tuần “tốt khốc” về với gia tiên.
Về việc này đã có người cha rất yêu quý con, khi con gái bị chết do tai biến sinh đẻ, đến bữa ăn nào ông cũng bảo gia đình để thêm cái bát và đôi đũa vào mâm cùng gia đình suốt các bữa cơm trong 100 ngày. Người nhà và người ngoài từng khuyên bảo rằng, nhớ thương thì để trong lòng, làm thế con cháu và mọi người càng thêm lo âu, đau xót, nhưng ông nhất quyết không nghe mà tiếp tục làm sau đó nữa. Thế mới hay tình nghĩa có người sâu nặng, đặc biệt đến thế nào, cho dù cho đó là việc làm thái quá.
Về cấu tạo thể chất và trường sinh học thì khi cơ thể chết, điện trường vật lý vẫn có thể tồn tại, lưu lại trong không gian huyết thống, hội tụ điện trường sinh của gia đình mà chưa giải thoát đi được. Vì vậy, mà có trường hợp “thần giao cách cảm” ảnh hưởng vào giấc mơ, chiêm bao của con cháu, đặc biệt có trường hợp còn xảy ra như hiện tượng ngoại cảm hay hội chứng ảo ảnh, một người nào đó trong gia đình nhìn thấy người đã khuất, mà cho là người chết hiện về.
Lễ Tốt khốc: Được 100 ngày thì làm lễ Tốt khốc. Tốt khốc nghĩa là thôi khóc, ngừng khóc. Tức là nỗi niềm thương nhớ cũng đã nguôi ngoai, an ủi âm dương cách biệt dần dần trở lại bình thường, cho đỡ nhớ thương để vong hồn còn phảng phất, lưu luyến chưa đi xa được thanh thản. Trong thời gian này nhiều người nặng lòng thương nhớ cũng hay làm mơ gặp lại người đã khuất, có trường hợp quá ưu tư, sầu muộn mà thành bệnh phải chữa chạy một thời gian mới bình phục.
Đây cũng là lễ thôi không cúng cơm nữa và bỏ bàn thờ tang để đưa lên bàn thờ cùng gia tiên, nhưng riêng bát hương không chung với tổ tiên. Tuy nhiên, cũng có người quá nặng lòng với lối cổ, vẫn tiếp tục duy trì bàn thờ và cúng cơm thường ngày cho đến xong tang.
Lễ Trừ phục: Sau hai năm, cộng thêm 3 tháng dư ai (dư ai, tức là nỗi buồn phiền, thương nhớ thêm chút nữa cho cho thoả nguyện), tổng cộng thành 27 tháng, chọn một ngày tốt trong vòng ba tháng dư ai để làm “lễ Trừ phục”, xong tang, bỏ tang phục. Gồm có 3 lễ: Lễ sửa mộ, đắp sửa mộ thành mộ tròn. Lễ đàm tế, cất bỏ khăn tang, huỷ đốt các đồ vật lễ tang. Lễ định linh vị, đưa bát hương, linh vị nay thay là di ảnh vào bàn thờ chính cùng gia tiên. Có người cũng không để ảnh vào bàn thờ, vì cho rằng sau này ai cũng thế thì lấy đâu chỗ mà để ảnh. Nếu có ảnh cần lưu giữ thì để vào khung ảnh treo ra chỗ khác hoặc cho vào sổ ảnh, hay cuốn gia phả, tránh để lâu ngày hương khói ở bàn thờ ám muội vào trông càng thương cảm. Từ đấy con cháu thôi để tang, bỏ tang phục và việc thờ cúng như tục lệ tổ tiên.
Xưa kia quan niệm “trần sao, âm vậy” nên vào những ngày này người ta cúng theo vàng mã, kể cả hình nhân để có người hầu hạ, giúp đỡ… rất nhiêu khê, lãng phí, tốn kém và mê tín dị đoan. Hủ tục này ngày nay tưởng đã bị loại bỏ, thế mà vẫn còn những người lắm tiền, nhiều của dị đoan, cuồng tín mua những đồ hàng mã hiện đại nhà lầu, xe hơi, ti vi, tủ lạnh, điện thoại di động, cả những con voi, con ngựa rất to, lai căng cũ mới, kệch cỡm rất vô nghĩa, lãng phí, tốn tiền để đốt đi.
Cải táng: Theo “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính thì: “Sau ba năm đoạn tang, hoặc vài ba năm nữa thì người nhà lo chuyện cải táng cho người đã khuất.” Cải táng, còn gọi là “cát táng”, tức là đào mộ, thu rửa xương cốt cho vào tiểu sành sạch sẽ, bền chắc đưa an táng vào nơi khác và làm bia đá khắc họ tên, năm sinh, ngày mất rồi xây mộ vĩnh viễn để hương khói tưởng nhớ hàng năm. Công việc này nhiều khi cũng rất phiền toái, phức tạp vì người ta cho rằng, âm phần mồ mả ông cha đều quan hệ đến đời sống con cháu trên dương thế. Người xưa khi tiến hành cải táng cũng sinh mê tín dị đoan, nhờ thầy xem ngày, giờ, đất đai rất kỹ với mong muốn phần mộ cải lên phải yên lành, nơi an táng mới phải là nơi đất phát, cho con cháu làm ăn, sinh sống khoẻ mạnh, yên bình, phát đạt.
Đã từng có những ngôi mộ khi cải táng, mở ra có mạng tơ hồng, khi không khí vào là tiêu tan, hoặc có khi thi hài còn nguyên vẹn. Những trường hợp như thế, thường gây ra lo sợ cho con cháu, cho rằng “mả kết”, biết mà để thế không cải thì rất tốt cho con cháu, nhưng đụng vào sợ rằng sẽ có báo ứng không hay. Cho nên khi gặp như vậy là lấp lại ngay, không cải táng nữa và mang theo nỗi lo âu những mong một là yên bình, làm ăn phát đạt, hai là sợ ảnh hưởng gì đến tai hoạ con cháu sau này. Vì vậy, nhiều gia đình trước khi cải táng, đã đi xem đủ mọi nơi. Mỗi thầy nói một kiểu, thầy này bảo mộ kết không cải được, thầy khác nói cải được, thế là con cháu bất đồng, cãi nhau, không dám quyết.
Chuyện “mộ kết” đã từng có thật xảy ra. Các nhà phong thủy xưa hay lợi dụng hiện tượng này mà vẽ ra đủ thứ hoang đường làm lung lạc tinh thần tang chủ. Đây không phải là sự linh thiêng, ma quỷ gì mà là khoa học. Do chất đất của nơi để mộ có loại khí, chất (như các mỏ hoá chất) mà các loại vi khuẩn không thể sống được để xâm nhập vào, nên xác chết không bị phân huỷ mà người ta gọi là “đất dưỡng thi”. Cũng như các nhà sư xưa từng dùng thủ thuật xông, tẩm ướp xác qua nhiều năm mà khoa học đã phát hiện chứng minh cho sự kỳ diệu này. Hoặc do điều kiện bất thường của tử thi, hầm mộ mà có hiện tượng “giăng tơ hồng”, khi mở ra, không khí vào là tan đi. Có người có thể chất đặc biệt hoặc ngày nay lúc người ốm đau dùng nhiều loại thuốc, trong đó có các loại kháng sinh ngấm vào cơ thể, nên khi chết đã kháng các vi khuẩn, vi trùng không thâm nhập được. Có trường hợp trong chiến tranh, người hy sinh được bọc vào túi ninol quá kín, lại để vào khu đất rất khô cũng ngăn trở sự phân huỷ mà xác chết còn nguyên. Hoặc vì lý do nào đó không còn mồ mả, xương cốt, người ta lại nghĩ ra cách dùng “xương dâu, đầu gáo”, tức là chặt cành dâu thay làm xương (dâu còn gọi là tang, nên ở cửa nhà người ta kiêng trồng cây dâu), lấy gáo quả dừa làm sọ, cho vào tiểu đem chôn, coi như hài cốt của người đã mất, rồi xây mồ như những người bình thường khác!
Ở một số vùng dân tộc thiểu số còn có tục Thiên Táng cổ xưa, tức là xác chết trong quan tài để nổi trên mặt đất, hoặc treo lên trên mặt đất rất mất vệ sinh, không hợp với nếp sống mới nên nhiều nơi đã loại bỏ. Đồng bào dân tộc Việt Bắc và Tây Nguyên còn làm nhà mồ, trong đó để những đồ dùng vật dụng như của người sống, có nơi thay bằng hàng mã nên làm cho tục dùng và đốt vàng mã có cơ hội phát triển.
Người theo đạo Phật thì chết đem chôn, sau mãn tang sẽ cải táng. Trong khi đó người theo đạo Thiên Chúa thì người chết đi vào cõi vĩnh hằng được sám hối, rửa tội để lên Thiên Đường theo đức tin của Chúa, chôn xong là xây mồ chắc chắn luôn, không có 49, không 100 ngày, không cải táng và không cúng giỗ. Các nước tiên tiến và các thành phố theo nếp sống văn minh người ta hoả táng, điện táng, chỉ để lại lọ tro nhỏ hoặc không cần để lại gì cả, rất sạch sẽ mà con cháu không phải phiền phức, lo sợ sau này do chuyện mồ mả, cải táng, tro than.
Ni cô Huyền Trang, Phạm Thị Bạch Liên, pháp danh: Diệu Thông, nguyên là chiến sĩ biệt động Sài Gòn cùng đồng đội lập chiến công vang dội đánh Mỹ, những năm 70 của thế kỷ XX, từng là hình ảnh đặc sắc trong bộ phim “Biệt động Sài Gòn”, trong tập tài liệu “Lược sử về chiến công của Ni cô Huyền Trang” cũng “di chúc” dành những vật dụng của mình để làm từ thiện. Còn về hậu sự, Ni cô nhắn gởi rằng:
“Kính nhờ nhà nước cùng huynh đệ
Thiêu giúp hài cốt là ân huệ
Để đất trồng rau giúp dân nghèo”.
Trong bài báo “Táng tục chết chung hòm” đăng tải trên báo “Cảnh sát toàn cầu” số 80, ngày 13-10-2011, tác giả N.Thành Sỹ nói về tục táng người chết của người dân sống dưới chân núi Nứa, ở xã Long Sơn, thành phố Vũng Tàu, hàng trăm năm qua duy trì tục lệ chết chung hòm như sau:
“Khi nhà có người chết chỉ việc liên lạc với Nhà Lớn, thỉnh bao quan về mở nắp đậy, tắm rửa sạch sẽ và quấn vải kín toàn thân cho người chết, để vào bao quan rồi chụp lại, thắp đèn nến đưa ra nghĩa trang. Lúc chôn chỉ cần mở nắp bao quan, khiêng thi hài cho xuống mộ cùng với những người đã chết trước. Sau đó bao quan được đưa về chỗ cũ chứ không chôn cùng người chết.
Đặc thù mai táng ở Long Sơn khác những nơi khác là không để lâu quá 24 giờ theo quy định “Sáng tử chiều táng. Chiều tử sáng táng”.
Mộ ở Long Sơn rất lạ, không có bia, không xây dựng cầu kỳ, đậm triết lý “sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách”. Quy định tang lễ ở Long Sơn có phần kỳ lạ, tiến bộ. Việc an táng, hạ huyệt không xem ngày giờ cát hung, gia chủ không nhận tiền phúng viếng, không có cảnh khóc lóc ỉ ôi, đốt rải vàng mã, kèn trống nỉ non... Cũng không có chuyện phải mổ heo mổ gà, ăn uống linh đình. Người đến chia buồn với gia đình thường xách theo bánh trái, chè xôi góp sức theo tinh thần việc đại sự của nhà hàng xóm cũng là việc của nhà mình.
Khi hạ huyệt là thủ tục xả tang được tiến hành tại chỗ. Nguyên nhân của việc táng và xả tang nhanh, theo giải thích của các cụ: “Ông Nhà Lớn trước kia quy định như vậy là nhằm mục đích thực hành tiết kiệm, giảm các thủ tục rườm rà... Con cháu đời sau thấy quy định đó hay, thiết thực nên cứ thế làm theo”.
Các cụ ở đây cho biết: “Việc an táng bằng bao quan còn có thông điệp khác là thể hiện sự bình đẳng giữa các thành viên trong cộng đồng, rằng khi nhắm mắt xuôi tay, kẻ hèn người giầu, thường dân hay người có chức sắc cũng ngang hàng như nhau. Mồ mả quy định không lập bia, khắc hình cũng nhằm tránh nạn háo danh hay khoe mẽ giữa các dòng họ. Nói chung khi sống và lúc chết, các thành viên ở cộng đồng đều cố gắng thực hiện đúng tôn chỉ “sống đồng tịch đồng sàng, chết đồng quan đồng quách”.
Táng tục kỳ lạ “chết chung hòm” ở Long Sơn là vậy. Xét trong bối cảnh hiện nay, khi chủ trương tiết kiệm trong tang ma được nhà nước phát động thì rõ ràng, táng tục này đã thể hiện những ý nghĩa sâu xa, hợp lòng người. Đây có lẽ là lý do mà người dân Long Sơn gìn giữ, noi theo cả trăm năm qua.
Rất lấy làm tiếc là lẽ ra, táng tục này cần được tuyên truyền, phổ biến để các nơi học tập, nhất là giữa lúc tại nhiều địa phương đang chạy đua việc xây dựng mồ mả như những cung điện, thành quách, khắc bia, tạc ảnh ở nghĩa địa lãng phí vô cùng, trong lúc người sống thì phải nhịn ăn nhịn mặc để xây nhà cho người chết!”.
Vậy thì, theo quan niệm nhân văn, việc an táng để bị “chôn” xuống đất thấy rất đáng thương, tốn thêm đất, lại sinh lo sợ và mất vệ sinh khi cải táng, bốc mộ sau này. Thời đại văn minh, nếu con người khi chết hiến xác cho khoa học y học, sau đó thực hành “Điện táng” là được đưa vào “Đài hoá thân hoàn vũ” để giải thoát linh hồn về với vũ trụ thì ý nghĩa tốt đẹp biết bao.
Dự kiện cát hung
Người chết dù cách chết thế nào cũng vẫn ám ảnh vào tâm linh người sống. Có trường hợp do các “thầy” phán bảo phạm vào giờ xấu, trùng tang hay bị sài… càng gây cho gia đình tang chủ, họ hàng biết bao lo âu, sợ hãi. Vậy có nên sợ hãi đến thế hay không?
Sài: Sài là gì, tại sao mà sài và giải quyết nó như thế nào? Theo Từ điển tiếng Việt thì Sài có hai loại: Sài đẹn và Sài giật, Sài kinh. Sài đẹn thường xảy ra ở trẻ em dưới một tuổi, quặt quẹo, ốm đau do mắc nhiều bệnh lâu khỏi, trong người khó chịu mà quấy khóc. Sài giật và Sài kinh là bệnh ở cả trẻ em và người lớn, ốm đau, lên cơn thần kinh, co giật. Thế nhưng tại sao, mỗi khi người đến đám tang, đều được khuyên bảo: “Cẩn thận, khéo sài đấy, uống thuốc sài đi!”
Đám tang người chết mà người đời hay gọi với cái tên gây sợ hãi là “đám ma!”. Thế nên bao giờ đến đám ma cũng mang theo ám ảnh vào tư tưởng, thần kinh, con người thường có cảm giác sợ hãi, nhất là những người yếu bóng vía dễ bị giật mình, hoảng sợ, tâm thần không yên. Đồng thời ám khí lúc ốm đau, tử khí trong đám ma, có người sau khi chết, để mấy ngày chờ con cháu nơi xa về mà tử thi đã bốc mùi. Những nguyên nhân đó vừa tác động đến tâm linh, tư tưởng vừa ảnh hưởng vào thực thể con người mà gây ra khó chịu, bệnh tật. Thứ hai là cùng với âm khí là các món thức ăn cúng bái cũng lạnh lùng, có khi làm không được vệ sinh, ăn vào dễ gây rối loạn tiêu hoá, nhức đầu, chóng mặt, đau bụng, nôn mửa, đi ỉa chảy, có nơi còn ngộ độc nhiều người phải đi cấp cứu. Hai nguyên nhân gây nên triệu chứng tâm thần không yên, khó ngủ, có khi kinh sợ mà sinh phát sốt, co giật và đau bụng đi ngoài, trở thành điển hình của chứng “sài” mà dân gian thường thấy.
Để giải quyết chứng sài cần có hai giải pháp. Một là phải trấn an tinh thần, tư tưởng. Tức là động viên và nói là cho một liều thuốc sài thì tư tưởng đã thấy phấn khởi, yên tâm mà khỏi đến một nửa triệu chứng sợ hãi. Thứ hai là chế “Thuốc Sài” bằng các vị thuốc đông y theo phương an thần và kiện tỳ vị. Thuốc sài gồm các vị thuốc an thần, định trí và kiện tỳ, định vị, chống đau bụng, ỉa chảy, bên ngoài bọc áo bằng Thần sa màu đỏ để an thần, làm nên đặc hiệu của thuốc sài. Như vậy, khi được dùng thuốc sài trước hết thấy tư tưởng an tâm, sau đó là uống thuốc vào có tác dụng an thần, bụng dạ khoẻ mạnh mà hết sài. Đối với trẻ em, cũng cho các cháu uống theo liều trẻ em cho khỏi mắc sài và giải quyết cho tư tưởng quan niệm về “sài”.
Tuy nhiên, chữa chứng sài cũng chỉ cần cho những người thiếu bản lĩnh, yếu bóng vía, hay sợ hãi, sức khoẻ kém. Còn người khoẻ mạnh, bạo dạn, thì dù có đến đám ma này rồi đám ma khác cũng chẳng bị sài đẹn bao giờ, còn nếu có dùng thuốc sài cũng là để cẩn thận, đề phòng mà thôi.
Trùng tang, Nhập mộ: Đây là hiện tượng gây ra sợ hãi nhất cho gia đình có tang. Khi người nhà sắp lâm chung, tắt thở là con cháu phải theo dõi, nhớ giờ, rồi tìm thầy bấm tuổi xem có phạm vào “Trùng tang”, giờ xấu hay không và nếu có phạm thì nhờ thầy giải giúp.
Đồn đại trong dân gian thì trùng tang rất đáng sợ, “Trùng” sẽ về bắt người! Vậy “trùng” là gì, tại sao lại về bắt người khác phải chết? Đó là câu hỏi hư vô đưa con người vào tâm lý lo âu, sợ hãi.
Sách “Thọ Mai gia lễ” và các tài liệu về lễ tang không thấy nêu ra hoặc lý giải cụ thể, chính xác về hiện tượng đáng sợ này. Nghĩa của “Từ điển Tiếng Việt”, thì Trùng tang là: “Có tang liên tiếp, tang này chưa hết đã chịu tang khác, do có trùng, theo quan niệm mê tín.”
Trên thực tế, từng có chuyện ở một gia đình, trong một thời gian xảy ra chết liên tiếp nhiều người trong huyết thống, mà người ta cho rằng hiện tượng trùng tang là có thật và gọi là “Trùng tang liên táng”.
Theo tư liệu trên trang mạng “Diễn đàn Lý học Đông phương” về “Trùng tang liên táng và cách giải”, tác giả Lê Bá Trung cho biết có một số cách xem trùng tang, nhưng thông dụng nhất là cách xem trùng tang liên táng như sau:
- Tuổi Thân, Tý, Thìn chết vào năm, tháng, ngày, giờ Tỵ.
- Tuổi Dần, Ngọ Tuất chết vào năm, tháng, ngày, giờ Hợi.
- Tuổi Hợi, Mão, Mùi chết vào năm, tháng, ngày, giờ Thân.
- Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu chết vào năm, tháng, ngày, giờ Dần.
Những trường hợp chết vào ngày, giờ trên gọi là ngày, giờ Kiếp sát (theo Tứ trụ), dân gian gọi là Cướp sát. Sợ nhất là trùng năm. Khi liệm, chôn, người trong thân tộc cũng phải tránh những năm, tháng, ngày, giờ trên ứng theo tuổi. Và cần tìm thầy gấp để trấn, trị trùng. Nếu không, thì nhanh có thể là 3 giờ trùng đã phát huy tác dụng, hoặc 3 ngày, 3 tháng, lâu dài có thể tới 3 năm mới hết!
Trùng ngày nặng nhất: Trùng thất xa. Trùng tháng nặng nhì: Trùng tam xa. Trùng giờ nặng ba: Nhị xa. Trùng năm nhẹ nhất: Trùng nhất xa.
Theo Địa Chi trùng trong 12 tuổi con giáp, thì chết bất kỳ năm, tháng nào cũng kỵ 4 ngày Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Mức độ “trùng nhẹ”, hay còn gọi là “trùng phục” theo dân gian.
Cách khác, người ta sử dụng một đồ hình Bát Quái, có định các tháng vào các cung và ngày vận hành cho tất cả các tháng. Sau đó theo chiều thuận tính ngày và tuổi của người chết về sự trùng khớp, nếu vào các cung “Cấn” là nhất xa sát, cung “Chấn” là nhị xa sát, cung “Tốn” là tam xa sát, là phạm trùng tang. Nhẹ là cung nhất xa sát, nặng là cung tam xa sát.
Còn theo sách “Gia phả dòng tộc” của Gia Cát biên soạn thì:
“Trùng tang có nghĩa là năm sinh của người mất trùng với giờ ngày tháng năm mất. Như người tuổi Tý, chết vào giờ hoặc ngày, tháng, năm Tý… Khi đó phải an táng đặc biệt, thường đóng quan tài vào canh ba, canh năm, rồi bí mật mang đi chôn, người nhà không mặc áo tang, không khóc. Đợi 7 ngày sau mới thông báo cho mọi người và làm tang giả bổ xung?
Trùng tang liên táng là người mất phạm vào giờ, hoặc ngày, hoặc tháng, hoặc năm nhưng trong ngày đó lại là ngày Thiên Quan, Thiên Đức, Thiên Xá, Thiên Phước, Thiên Giải thì khỏi lo.
Thần trùng không phải là loài sâu bọ hay ma quỷ gì, việc “bắt trùng” hay “nhốt trùng”… chỉ là bịa đặt ra để lừa gạt những người sợ hãi và nhẹ dạ cả tin.
Có nhiều thuyết về cách chọn ngày xử lý Trùng tang, nhưng phổ biến là cách xem như sau: Tuổi người chết là Thân, Tý, Thìn chết vào một trong bốn dự kiện là năm Tỵ, hoặc tháng Tỵ, hoặc ngày Tỵ, hoặc Giờ Tỵ thì khi liệm, chôn, cải táng tránh ngày Tỵ. Tuổi Tỵ, Dậu, Sửu chết vào năm Dần, hoặc tháng Dần, hoặc ngày Dần, hoặc Giờ Dần thì tránh ngày Dần. Tuổi Dần, Ngọ, Tuất chết vào năm Hợi, hoặc tháng Hợi, hoặc ngày Hợi, hoặc giờ Hợi thì tránh ngày Hợi. Tuổi Hợi, Mão, Mùi chết vào năm Thân, hoặc tháng Thân, hoặc ngày Thân, hoặc giờ Thân thì tránh ngày Thân.
Khi phạm trùng tang, theo người xưa, một trong các cách hoá giải là dùng “Linh phù”, viết 4 chữ mực đỏ (chữ Nho) trên giấy vàng, đặt lên quan tài, theo cách sau đây: Tháng Giêng, tháng Hai, tháng Sáu, tháng Chín, Tháng Chạp thì viết “Lục Canh thiên hình”. Tháng Ba viết “Lục Tân thiên đình”. Tháng Tư viết “Lục Nhâm thiên lao”. Tháng Năm viết “Lục Quý thiên ngục”. Tháng Bảy viết “Lục Giáp thiên phúc”. Tháng Tám viết “Lục Ất thiên đức”. Tháng Mười viết “Lục Bính thiên uy”. Tháng Mười một viết “Lục Đinh thiên minh”.
Sách cổ xưa, người ta dựa vào đồ hình của 12 địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi mà quy vào cho nó những dự kiện cát hung để hoá giải trùng tang. Trên đồ hình được mã hoá: 4 cung Thìn, Tuất, Sửu, Mùi là “Nhập Mộ” (không vướng bận trần gian, con người đến số, về với đất đai, mồ yên mả đẹp, an lành); 4 cung Tý, Ngọ, Mão, Dậu là “Thiên Di” (do Trời định, đưa đi, ngoài mong muốn, nhưng phải chịu với số mệnh); 4 cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi là phạm “Trùng tang” (ra đi còn u uất, giăng mắc với họ hàng thân tộc mà luẩn quẩn thành “ma Trùng” về bắt người).
Đồ hình địa chi này được vận hành theo chiều thuận từ cung Dần cho nam, và nghịch từ cung Thân cho nữ. Người ta tính liên tục vào số tuổi, giờ, ngày, tháng, năm của người chết (theo âm lịch). Trẻ 1 đến 9 tuổi không tính. Nếu vào 4 cung Thiên di và 4 cung Nhập mộ thì khỏi lo. Nhưng nếu vào 4 cung Trùng tang thì phải nhờ thầy trấn, giải. Trong đó, nhẹ nhất là cung “Nhất xa”, vừa là cung “Nhị xa”, nặng nhất là cung “Tam xa” và còn cho rằng, Trùng ngày nặng nhất là “Thất xa”, trùng tháng nặng nhì là “tam xa”, Trùng giờ nặng thứ ba “Nhị xa”, Trùng năm nhẹ nhất “Nhất xa”. Tức là khi phạm trùng tang, nếu không giải được, trùng sẽ về bắt người bất cứ lúc nào, theo số lượng ít, nhiều khác nhau, từ nhẹ là 1 người, vừa là 3 người, 5 người, đến nặng tới 7 người, hoặc có thể hơn; và chỉ bắt người cùng huyết thống, còn con dâu, con rể thì không! Trên thực tế ít xảy ra quá nhiều người, vì rằng đã tìm mọi cách trấn trừ?!
Như vậy đã có mấy loại chết, mấy cách xem phạm phải trùng tang (!?). Không có giải thích khoa học nào về các cách xem này mà chỉ ấn định về sự hung dữ của nó là “trùng” về bắt người phải chết! Theo mấy cách xem trùng tang trên đây thì cách nào là đúng? Dựa vào cách này thì lại không khớp với cách kia mà trở nên phi lý, không thể tin được! Còn nếu theo tất cả các cách xem trùng tang như thế thì có rất nhiều người khi chết phạm trùng tang, không loại này thì loại kia. Cách giải trùng tang cũng bày đặt ra như hoả mù càng làm cho tang gia thêm bối rối, sợ hãi!
Người ta lại nghĩ ra việc hoá giải bằng phép “nhập mộ”, nêu ra cách giải bằng tính giờ, ngày, tháng, năm và tuổi của người chết theo toạ độ 12 địa chi xem có “nhập mộ” hay không. Nếu được nhập mộ vào bốn cung mang hành Thổ là Thìn, Tuất, Sửu, Mùi, tức là nhập được vào với Đất (thổ là đất) thì khử được trùng tang. Được tất cả bốn nhập mộ thì quá tốt, hoặc chỉ được một nhập mộ cũng là an tâm rồi. Còn không được nhập mộ nào là phải chém hình nhân, làm “Bùa Linh phù” yểm dán vào quan tài và đem đóng ở cổng và bốn góc Đông, Tây, Nam, Bắc ngôi mộ để chặn trùng về bắt người!? Theo cách của nhà Phật: Trước khi liệm, dùng 6 lá “Linh phù Lục tự Đại minh” bằng giấy vàng, kích thước 31 x 10,5cm, viết 6 chữ đỏ: Úm, Ma, Ni, Bát, Minh, Hồng, nhưng là kiểu chữ Phạn, theo chiều dọc từ trên xuống, dán vào thành trong quan tài tại các vị trí đầu, chân, hai vai, hai bên hông. Những linh phù này có tác dụng trấn tà khí của linh hồn!
Khi chôn, thì nam 7, nữ 9 quả trứng đã luộc chín, để trên nắp quan tài nơi vùng bụng, dùng một cái niêu đất úp lên trứng, sau đó lấp đất. Cách làm này là để thu nốt tà khí còn sót lại.
Một trong những cách phối hợp hoá giải Trùng tang liên táng là “Thuốc Trấn trùng”, gồm 9 vị thuốc chủ yếu là an thần, thơm, khử mùi tử khí: 1- Thần sa 3 đồng cân, 2- Chu sa 2 đồng cân, 3- Hồng hoàng 5 đồng cân, 4- Thương truật, 5 đồng cân, 5- Địa liền 5 đồng cân, 6- A nguỳ 3 đồng cân, 7- Huyết giác 3 đồng cân, 8- Đại hồi 5 đồng cân, 9- Quế chi 5 đồng cân (1 đồng cân tức 1 tiền = 3,25g). Dùng chỉ ngũ sắc (biểu tượng Ngũ hành) kết thành phù “Tứ tung ngũ hoành” để trên mặt thuốc, gấp gói cho vào túi vải yểm trong quan tài.
Lại còn cách tính vào bốn cung Trùng tang Dần, Thân, Tỵ, Hợi và bốn cung Thiên di Tý, Ngọ, Mão, Dậu thì phải đổi ngày, giờ chôn, hạ huyệt? Rồi những người xung khắc tuổi, nhất là người trong gia đình đều nên tránh đến gần, đặc biệt là lúc khâm liệm…
Câu hỏi đặt ra là, tại sao người tử tế khi chết vào những ngày, giờ theo tuổi hoặc một trong 4 cung địa chi mang tên “trùng tang” lại hoá thành linh hồn ma quỷ ghê gớm để bắt người thân của mình phải chết? Khi dùng các phép trấn yểm để “giam hãm”, “nhốt”, “trừ khử” trùng tang có thành tàn ác trong hành xử với linh hồn người thân tử tế của mình hay không? Và như thế, linh hồn người quá cố có trở nên oan khuất?
Chuyện Trùng tang được dựng lên rất ly kỳ, rùng rợn.
Xét về xung khắc âm dương, ngũ hành, can chi, cung mệnh với tuổi, giờ, ngày, tháng, năm của người chết thì những thông số liên quan này không có căn cứ khoa học mà chỉ là ma trận gây ra nỗi lo sợ cho tang chủ. Người ta cũng chẳng hiểu đúng nghĩa trùng tang là gì mà trở nên hung dữ và cái phép tính nhập mộ và làm bùa kia là cái gì huyền bí, siêu phàm mà ngăn chặn được ma quỷ bắt người phải chết?!
Người ta còn đồn thổi về chuyện ngôi chùa chuyên “nhốt Trùng” và lỡ hôm nào không nấu cháo cúng bái là lợn gà xung quanh chùa lăn ra chết!
Thế nhưng những ông thầy cứ theo sách vở cổ xưa mà phán rằng “chết phải Trùng”, rồi bấm bấm đốt ngón tay doạ vào giờ độc (giờ Kim sà, Thiết toả), ngày rất xấu (ngày Trùng tang, Trùng phục) càng làm cho tang chủ sợ hãi, răm rắp làm theo. Cho dù chỉ là cái vu vơ, trong khi thầy cũng chẳng hiểu và giải thích được khoa học của nó như thế nào. Điều hiển nhiên rằng, người thân, ông bà, cha bác không ai hại con cháu bao giờ, cũng không có lý do gì và tại sao lại hại con cháu!? Vì thế “ma quỷ hoá trùng tang” lại càng là chuyện hoang đường mang đầy nghi hoặc.
Thực tế có một số trường hợp xảy ra trong một gia đình có người mới chết, sau đó một thời gian lại có con cháu hay người nhà ốm chết, có khi đến vài người cũng sinh bệnh mà chết. Có trường hợp số người chết đều là con cháu trong nhà, lại chết cùng triệu chứng giống nhau. Những cái chết liên tiếp, đôi khi đột tử bất ngờ, cách chết na ná như nhau hoặc chết còn rất trẻ càng làm cho con cháu, gia đình, họ hàng rất sợ. Khi các thầy cúng phán bảo phải giải trùng tang là bằng mọi giá gia đình đều nhờ thầy hoá giải. Vì vậy, những cái chết, dù chết cách nào của người thân mà trùng vào thời gian người quá cố thường bị huyền bí hoá lên thành mê tín dị đoan, gọi là “trùng tang!”, ma quỷ về bắt người nhà, làm cho mọi người rất hoang mang và vô cùng sợ hãi.
Nhiều nhà nghiên cứu đã từng quan tâm nhằm khám phá hiện tượng bí hiểm này. Trong bài viết trên trang mạng về Trùng tang liên táng, của Vương Hà nêu lên những sự trùng hợp ngẫu nhiên, đồn đoán về nơi “nhốt trùng” ở ngôi chùa Hàm Long, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh và hoá giải về vấn đề này, tác giả cho biết:
“Từ những năm trước đây, nhiều nhà khoa học đã tìm cách tiếp cận, lý giải hiện tượng dân gian này. Các nhà vật lý ngày nay cho biết, khi còn sống, Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương (Hội Vật Lý Việt Nam) đã đưa khoa học vào nghiên cứu bước đầu vén bức màn bí mật về hiện tượng gọi là trùng tang. Theo kiến giải của cố Giáo sư Nguyễn Hoàng Phương: “Vì trong mối quan hệ này không có sự tiếp xúc xác thịt trực tiếp giữa hài cốt người chết và tần số của trùng nên tất yếu phải có phần sóng vô hình của đôi bên tham gia vào. Đó có thể là một hiện tượng cộng hưởng sóng mang tính chất huyết thống, dòng họ. Do tần số đôi bên khác nhau nhiều, nên theo lý thuyết về nhạc, loại cộng hưởng này mang tên cộng hưởng Harmonic (tần số này là bội số của tần số kia). Đó là cơ chế cộng hưởng Harmonic hình thái huyết thống.
Chính điều này, các nhà vật lý hiện tại như Giáo sư, Viện sĩ Đào Vọng Đức, Phó giáo sư, Tiến sĩ Hà Vinh Tân người bỏ nhiều thời gian nghiên cứu, lý giải các hiện tượng tâm linh huyền bí cũng giải thích trên lý thuyết sóng điện tử và trường năng lượng. Điều này cũng xuất phát từ những kiến giải của giáo sư Hoàng Phương.
Lý giải vì sao khi lo tang ma cho người quá cố, mọi thành viên trong gia đình thấy mệt mỏi và sau đó có người ngã bệnh, Lương y Trần Bình (Thanh Xuân, Hà Nội) cho rằng: “Khi con người chết đi đều đã để lại tử khí. Khí này cộng hưởng với mùi khói hương, sự đông đúc của người sống khiến không khí ngột ngạt. Vì vậy, vớ i người sức đề kháng kém sẽ dễ bị nhiễm tử khí kéo theo các bệnh như: Chướng khí, ăn không tiêu, đau đầu, chóng mặt, buồn nôn… Nhiễm tử khí lâu ngày sẽ có hiện tượng giống như bệnh nan y, khiến không ít người hoang mang._
Lương y Trần Bình kể: “Tôi đã gặp vài trường hợp như vậy. Sau khi gia đình có người mất, vài người nhiễm bệnh, họ cũng tốn đến 30 triệu đồng để cúng giải trùng tang. Nhưng khi đến, tôi chỉ hướng dẫn lấy lá đinh lăng và lá nhãn tươi sắc uống vậy là tứ chứng tiêu tan”. Ông còn cho biết: Với những người khi thân nhân qua đời đã sẵn nỗi đau buồn, nếu lo trùng tang, gặp được thầy tốt khuyên nhủ thì tinh thần vững vàng mà qua khỏi. Nhưng trái lại, gặp phải thầy bói tham tiền, hù doạ thêm đủ điều để cốt sao hành nghề cúng bái thu tiền thì bệnh thêm nặng. Đó là bệnh trong tâm tưởng. Còn chuyện hoá giải trùng tang là gỡ đi sự lo lắng trong tâm tưởng của con người mà thôi”.
Hiện tượng gọi là “trùng tang” có thể quan tâm đến các yếu tố: Tư tưởng, tinh thần; Gen, bệnh di truyền; Virus lây lan; Nhiễm độc, nhiễm trùng và trùng hợp ngẫu nhiên.
Tư tưởng, tinh thần: Trong gia đình có người chết đi để lại cho con cháu nỗi đau thương vô hạn. Trong số con cháu, cũng có người quá cảm thương mà ngày đêm vật vã không nguôi nỗi đớn đau. Đêm đêm không sao ngủ được, ám ảnh, mơ màng lúc nào cũng thấy người chết hiện về dặn dò hoặc khóc than, có khi doạ nạt, hoặc quá sợ hãi, làm mơ thấy người chết. Thậm chí do ám ảnh, do thầy doạ hay làm mơ người chết “phải trùng” bảo sẽ về “bắt người”, mà ngày đêm lo sợ, dằn vặt không ăn, không uống mà sinh bệnh tật, ốm đau, cho đến khi quá nặng qua đời. Hoặc các triệu chứng tâm thần thái quá lại kết hợp với chứng “sài” càng làm cho cơ thể suy sụp nhanh chóng mà chết, thành sự trùng tang.
Gen hoặc bệnh di truyền: Khoa học y học ngày nay đã chứng minh con người cùng huyết thống thường có gen hoặc những bệnh di truyền mà mang theo những căn bệnh giống nhau. Người chết có triệu chứng của căn bệnh nào đó thì khi con cháu đau buồn phát bệnh cũng có triệu chứng như vậy mà chết, gây nên trùng tang. Trường hợp các bác sĩ phát hiện ra một gia đình có gen bẩm sinh bệnh tim mạch gây nên những cái chết đột tử cho mấy người trong gia đình mà đều là những người còn rất trẻ. Các bác sĩ dùng phương gắn máy trợ tim và dùng thuốc cho một số người còn lại, đã cứu họ thoát khỏi tử thần, giải được nỗi lo sợ cho gia đình, con cháu.
Virus viêm gan A, B, C, Lao và HIV… là những căn bệnh lây lan do Virus, vi trùng phải chữa lâu dài, có căn bệnh chưa có phương thuốc nào chữa được mà người xưa không hiểu và cũng không có thuốc chữa trị. Những người cùng sống trong gia đình thường dễ bị lây lan từ những virus này, nếu không phòng chống, phát hiện và chữa kịp thời thì sẽ lây sang mọi người. Kết hợp với đau buồn, mệt mỏi, suy kiệt sau đám tang người thân mà dẫn đến tử vong theo cùng căn bệnh.
Nhiễm độc, nhiễm trùng: Khi người chết vì lý do bệnh tật lâu dài nào đó hoặc trong thể chất người bệnh có phản ứng đặc biệt của một loại bệnh lý hay vi khuẩn lạ phát tán ra nhiễm vào con cháu. Người sức khoẻ kém, sức đề kháng yếu mà mắc bệnh rồi sau đó chết theo. Trên thế giới từng đã xảy ra hiện tượng cơ thể một bệnh nhân phát tán ra mùi rất khó chịu làm choáng ngất hàng loạt bác sĩ, y tá, người thân tiếp xúc với người bệnh, phải cấp cứu, gây nên nỗi kinh hoàng cho mọi người.
Sự trùng hợp ngẫu nhiên: Người đang mang bệnh đến thời kỳ nặng hoặc những triệu chứng tai biến huyết áp, tim mạch do áp lực tâm lý đau buồn, sinh tai nạn ở người nào đó xảy ra ngay sau khi người vừa mất mà ngẫu nhiên thành trùng tang.
Ngoài ra còn có những hiện tượng trong cùng một nhà mà gặp nhiều tai hoạ đầy bí ẩn rất đáng sợ. Có gia đình, người bố tự nhiên bị bệnh tâm thần, người con trai cả bỏ nhà đi mất tích, người con gái mắc bệnh hiểm nghèo, người con trai út bị tai nạn giao thông khủng khiếp… Những trường hợp tai hoạ cứ giáng xuống gia đình họ nhưng xảy ra cách xa nhau nhiều năm và ở những hoàn cảnh khác biệt. Đây không phải là trùng tang, và người ta thường liên tưởng đến “động” mồ mả, thần linh, đất đai, phải cầu cúng chứ không cho là những sự cố ngẫu nhiên.
Biết bao nạn nhân của chiến tranh, rơi máy bay, chìm tàu, dịch bệnh sẽ có người trong số đó đã chết đúng ngày giờ gọi là “trùng tang” cũng chẳng thầy nào tính trùng tang cho những nạn nhân xấu số đó, mà có thấy kéo theo chết nhiều người trong gia đình họ đâu? Còn nếu năm sinh thì có thể có nhiều trường hợp trùng với một trong bốn dự kiện năm hoặc tháng, ngày, giờ, nhưng do không để ý đến, cũng chẳng thấy gì. Chuyện tai hoạ nào đó chỉ là hy hữu, ngẫu nhiên. Cho nên từ sợ hãi người chết lại cứ tính chuyện xem ngày giờ, càng chồng chất lên sợ hãi mà sinh bệnh tật, ốm đau, tai hoạ. Cứ như những nơi khác, đạo khác không bao giờ mê tín xem ngày giờ, chẳng thuê thầy tính trùng tang, nhập mộ, chắc hẳn con người sẽ thanh thản, yên bình hơn.
Trùng tang cũng chủ yếu xẩy ra khi người ta ốm đau lâu ngày ở tại nhà và do gia đình quá lo nghĩ, lại cứ chú ý đến giờ chết để tính xem có phạm trùng tang không?
Qua đó có thể phần nào giúp cho suy ngẫm về hiện tượng trùng tang. Yếu tố tâm thần, ám ảnh và nguồn bệnh có vai trò rất đáng chú ý về nguyên nhân gây ra hiện tượng trùng tang. Phép nhập mộ, cầu cúng, yểm bùa cũng có ý nghĩa trấn an tư tưởng con người trong khi hoang mang, khó hiểu, lo sợ. Tuy nhiên, đây là di thức tinh thần đã từ lâu ăn sâu vào quan niệm, lối nghĩ của con người không dễ gì loại bỏ. Chỉ có hiểu biết, bản lĩnh con người và những lý giải khoa học mới thẩm định về những phép thuật mê tín, mơ hồ không có căn cứ khoa học mà thôi.
Đã xảy ra vụ án đau lòng do “sợ trùng tang”, được đăng tải trên báo “Cảnh sát toàn cầu” số 128 năm 2012. Tác giả Xuân Mai cho biết về người cháu đích tôn, Phạm Việt Cường, sinh năm 1982, trú tại phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá, chỉ vì mê tín “Tôi chỉ muốn gia đình mai táng bà nội vào giờ khác tránh trùng tang” gây ra thảm hoạ cho gia đình. Nguyên do là sau khi hoả táng bà nội đưa về nghĩa trang của thị xã, Cường đã cản các cô ruột không chôn bà nội vào giờ Dậu vì sợ trùng tang, song các bà cô không nhất trí, vẫn làm theo ý của mình. Do tức giận, nên khi 11 người trong gia đình đang họp bàn về hậu tang lễ, Cường đã hắt xăng đốt cả nhà. Trong số 9 người bị bỏng, có 4 người gồm cô chú và mẹ đẻ của Cường tử vong ngay, còn những người khác lâm vào nguy kịch. Vụ án kinh hoàng, đau đớn chỉ vì mù quáng bởi “trùng tang”!
Có thể cách hoá giải tuyệt vời nhất trong xã hội văn minh ngày nay là không bấm ngày giờ để gây ra lo âu sợ hãi và đưa vào “Đài hoá thân hoàn vũ” thiêu đốt hết “ma trùng”, linh hồn không phải nhập mộ xuống đất mà bay lên vũ trụ. Như vậy, nỗi lo mang tên “trùng tang” được loại trừ, mọi lo sợ sẽ không ám ảnh nữa.
Ma chơi: Hiện tượng Ma Chơi, tiếng Bắc Trung bộ gọi là “ma trời” như ám chỉ sự “chơi đùa” lởn vởn của những ngọn lửa lập loè xanh nhạt, bập bùng nhảy múa, chốc chốc biến mất rồi lại xuất hiện, loáng thoáng bay lên hoặc chạy đi chạy lại như trêu đùa con người! Hiện tượng ly kỳ này người xưa cho là những oan hồn vất vưởng, nhưng ngày nay đã được giải thích bằng căn cứ khoa học. Ở những nơi có chứa nhiều và hội tụ chất lân tinh, khí Phốt pho như xương cốt, xác chết, phân gio thối rữa… là sinh ra bốc cháy. Nơi tha ma, nghĩa địa tập trung nhiều xác chết nên chất lân tinh bay lên gặp không khí ôxy bốc cháy và trong đêm tối nhìn thấy màu sáng xanh bập bùng mà thêu dệt thành “ma chơi”. Do sợ hãi, “thần hồn nát thần tính” khi gặp ma chơi mà bỏ chạy, luồng khí sẽ cuốn đi, lập tức lửa lân tinh cuốn đuổi theo người mà thành kinh sợ. Ban ngày, hiện tượng này cũng xảy ra nhưng do có ánh sáng nên không nhìn thấy. Ngày nay, người ta đã ứng dụng khoa học này trong việc tận dụng khí thải của các chuồng trại chăn nuôi tạo nên hệ thống khí ga dùng đun nấu trong gia đình.
Rõ ràng sự sợ hãi và thiếu hiểu biết mà sinh ra mê tín dị đoan. Lại gặp những “thầy” không biết gì về khoa học bịa ra chiêu bài lừa bịp là ma quái, làm cho con người sợ hãi. Chúng ta cũng từng chứng kiến một số người vì lý do nào đó làm nhà, căng lều ngay tại bãi tha ma, nghĩa địa cả gia đình sinh sống, ăn ở ngày đêm mà người ta có sao đâu! Tuy nhiên, đó chỉ là trường hợp hy hữu, bắt buộc, vì việc sinh sống như vậy sẽ chịu tác động về tâm lý và thiếu vệ sinh do những ám khí mồ mả ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ con người.
∗∗∗
Người chết và lễ tang là sự kiện hệ trọng của đời người, là biểu hiện đạo hiếu, nghĩa tình của con cháu, gia đình, thân tộc vì “nghĩa tử là nghĩa tận”.
Người xưa đã đưa vào lễ tang những nghi lễ rất cầu kỳ, tỷ mỷ nhằm giáo dục con người và cũng do hạn chế về hiểu biết khoa học mà nhiều lễ nghi quá rườm rà, tốn kém, mất thời gian, lại trở thành mê tín dị đoan, phản khoa học. Có nghi lễ chỉ là hình thức rất nhiêu khê, không giải quyết cho cái gốc về hiếu nghĩa con người.
Không ít người, lúc cha mẹ còn sống chẳng coi ra gì, khi chết thì khóc lăn lóc, rồi bảo đi thuê dàn kèn đồng về thổi cho đám ma thêm hoành tráng! Dân làng ai cũng mỉa mai là làm thế chỉ để khoe khoang tiền của và che dấu tội bất hiếu.
Lòng tôn kính, thương yêu cha mẹ, anh em, con cháu là mối quan hệ khăng khít, chân thành, dài lâu, tốt đẹp trong đối nhân, xử thế thực tế khi còn đang sống với nhau mới là cần thiết. Đời người được bao nhiêu đâu, ai chẳng mong sống với nhau càng nhiều càng tốt. Người già yếu, bệnh tật lâu, hiểm nghèo hoặc tai nạn nặng mà không chết được là nỗi khổ cho họ và đau đớn cho con cháu. Những trường hợp như vậy mà chết càng sớm lại là tốt cho người mong được chết và đỡ xót xa cho người thân. Khi ở với nhau thương yêu, quan tâm, chăm sóc từ cuộc sống thường ngày đến những lúc ốm đau, chứ đừng sống tệ bạc, chết lại làm đám tang to, lập đàn đốt mã, giỗ lớn rất tốn tiền của thì chẳng có nghĩa gì. Thậm chí có người còn mời cả nhạc kèn điếu bên Lương và dàn kèn đồng bên Giáo đến “hoà tấu” inh ỏi cả xóm làng, làm cho người đời mỉa mai: Khoe của, pha trộn kệch kỡm, chẳng ra sao! Đôi khi cúng giỗ cũng trở thành mâu thuẫn, anh em, gia đình mất đoàn kết, ghét bỏ nhau.
Quan niệm và cách hành xử về tang lễ mỗi nơi cũng có sự khác biệt. Như việc kèn trống nhẹ nhàng, vừa phải (ngày nay còn dùng cách mở tụng kinh niệm Phật) là nghi thức tiễn biệt người quá cố cho “linh hồn” thanh thản và người nhà cũng “trả nghĩa” để bớt phần đau buồn. Phần lớn các địa phương ở phía Bắc đều dùng “kèn đám ma” thổi hoà tấu bi ai, não nùng có nơi lại dùng tăng âm làm huyên náo làng xóm, thôn quê. Ở Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, theo quy định nếp sống mới, trong tang lễ có dàn nhạc hoà tấu rất hay, người chết sau 24 giờ phải an táng, để tránh gây mất vệ sinh. Tại thành phố Hồ Chí Minh thì người nhà cho thi hài vào quan tài đóng kín, không biết có dùng phương pháp khử trùng chống phân huỷ không mà để có khi 5 đến 7 ngày. Trong thời gian kéo dài ấy, người ta mời các dân “ca mướn” đến ca hát, kể cả ca vọng cổ mùi mẫn cả phố phường, mời các “vũ đạo” đến nhảy múa, nhà sư đến làm thủ tục lễ tang. Có người nói rằng: Đám ma trong thành phố thì làm rộn rã, kéo dài, trong khi đó đám cưới lại âm thầm mời nhau đến nhà hàng, chúc mừng nhau rồi ai về nhà ấy!
Qua đó thấy lễ tang quả là nhiều vấn đề phải suy ngẫm, sao cho hài hoà giữa tâm linh, phong tục, tập quán, gia phong với quan niệm tiến bộ của xã hội.
Thời đại văn minh, công việc làm cho người chết cũng nhẹ nhàng đi rất nhiều, nhất là những người ở thành phố, ốm đau đưa vào bệnh viện, khi mất lo lau rửa, thay quần áo, rồi đưa vào phòng lạnh. Sau đó đưa ra Nhà tang lễ, đến giờ làm nghi lễ phúng viếng, xong rồi đưa lên xe đi an táng, nhiều người đã chọn cách hoả táng, điện táng. Nghi lễ cho đám tang rất đơn giản, tôn nghiêm, lặng lẽ đầy tiếc thương tưởng nhớ. Tang phục cũng gọn gàng, áo màu thẫm, dán băng đen nhưng vẫn đầy ý nghĩa đạo hiếu, nhân văn, lược bỏ đi tất cả những rườm rà, phức tạp, ồn ào về nghi lễ, tang phục không còn phù hợp với nhịp sống mới, hiện đại.
Có người trước khi qua đời đã di chúc hiến giác mạc, hiến tạng để cứu người và “hiến xác” cho y học lại vinh dự được nhà nước trao tặng “Huy chương vì sức khoẻ nhân dân”. Nhưng con cháu do duy tâm, mê tín, sợ hãi lại cứ đem chôn hoặc lại yêu cầu nhà điện táng cho lấy cả xương chứ không lấy tro, để cho vào tiểu sành chôn cất. Việc làm trái ý này chắc rằng người đã khuất ở nơi chín suối sẽ chẳng yên vui. Thế nên, không phải cứ cho rằng làm như kiểu cổ xưa mới là đạo hiếu, mà rất cần sự thay đổi quan niệm của xã hội văn minh.
Cúng giỗ, tưởng niệm
Cúng là dâng lễ vật tôn kính lên linh hồn người đã khuất theo tín ngưỡng dân gian cổ truyền. Giỗ là nghi thức quan trọng trong việc thờ cúng của người Việt. Người ta quan niệm về ngày giỗ rằng “chung thân chi tang”, nghĩa là ngày tang trong suốt cả đời người. Mỗi năm vào đúng ngày chết của một người, theo âm lịch là một lần giỗ (còn gọi là kỵ nhật), coi là ngày quan trọng để cúng giỗ, tưởng niệm ông bà, cha mẹ, người thân đã mất.
Vì thế, sau mãn tang, hàng năm cứ đến ngày người đã mất là con cháu lại tổ chức cúng giỗ. Đây là dịp chủ yếu để anh em, con cháu gặp nhau, nhất là những người đi xa cũng về xum họp với gia đình để tưởng nhớ người thân đã quá cố, biết ơn công lao sinh thành, dưỡng dạy con cháu. Đồng thời cũng là dịp con cháu, anh em, gia đình, thân tộc gặp gỡ, tăng thêm tình cảm thương yêu, đoàn kết, cảm thông và có điều kiện thì giúp đỡ nhau. Sau đó lại ai về việc nấy, nhưng cùng với những lễ tết cổ truyền thì ngày cúng giỗ gia tiên tạo nên mối quan hệ tình cảm thiêng liêng đặc biệt, cao quý và gìn giữ nét đẹp về gia giáo, gia phong của mỗi gia đình.
Các thiền sư, nhà ngoại cảm cũng khuyên rằng con người hãy sống thật đạo đức, từ tâm, chứ đừng u mê mà làm những điều không phải. Trong chương trình do Hội Phật giáo tổ chức để nhà ngoại cảm nói về cõi âm năm 2010, đăng tải trên mạng Internet, các Đại đức và nhà ngoại cảm nổi tiếng Nguyễn Văn Nhã phân tích rất cụ thể những điều không nên trong việc đốt vàng mã, xây mộ to và cúng bái khuếch trương tốn kém. Các Đại đức và nhà ngoại cảm nói rằng: Đốt vàng mã là của giả, nhà lầu, xe hơi tốt đẹp là làm cho ông bà, cha mẹ đã khuất muôn đời sống dưới âm ty, địa ngục mà “không muốn chuyển kiếp” nữa. Mộ xây kiên cố là nhốt chặt người thân của mình không cho thoát ra để về với con cháu và theo Phật nhập Niết bàn. Cúng giỗ to tát, linh đình, giết mổ nhiều lợn, gà, cá, vịt... là phạm tội sát sinh, càng làm cho ông bà, cha mẹ dưới suối vàng phải chịu thêm tội trước kia không biết dạy con cháu, để bây giờ cứ làm ác, làm bừa, tốn công mất tiền mà giả dối. Hãy để tiền đó mà giúp đỡ nhau, mà làm từ thiện cho xã hội, cho người nghèo khổ thì phúc đức mới cao.
Cúng giỗ là để người thân còn sống có dịp gặp nhau cùng tưởng nhớ người đã khuất mà thắt chặt tình nghĩa thương yêu trong cuộc sống thường ngày thêm sâu sắc, tốt đẹp hơn lên.
Cũng tránh những điều không hay xảy ra mỗi khi gia đình tụ họp cúng giỗ người thân. Đã từng có chuyện nhân gặp nhau kể nể công tội người nọ người kia rồi sinh mâu thuẫn, làm cho cho ngày gặp gỡ tưởng niệm không vui mà lại thêm buồn.
Thế nên hãy lấy tình thương yêu gia đình mà cảm thông, bỏ qua mọi khiếm khuyết cho nhau, để cùng góp phần làm cho ý nghĩa cúng giỗ, tưởng niệm ngừơi thân càng tốt đẹp hơn lên.

