Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 8
VIII.
CÓ GÌ ĐÁNG CHÚ Ý
Cuộc sống thường ngày có biết bao điều diễn ra bình thường, nhưng cũng có nhiều hiện tượng làm cho con người phải suy ngẫm.
Giấc mơ, chiêm bao, ác mộng
Giấc mơ, chiêm bao, giấc mộng là hiện tượng gây ra khó hiểu, thậm chí rất đáng sợ mà thành ác mộng ở con người. Nó xảy ra ở bất cứ lứa tuổi nào, từ trẻ sơ sinh cho đến tuổi già, nhất là trẻ em khi chúng ngủ cứ thấy mỉm cười hay khóc thổn thức. Có người thỉnh thoảng có một giấc mơ, có người lại thường xuyên có những giấc mơ. Giấc mơ xảy ra trong giấc ngủ ban đêm và cả trong giấc ngủ ban ngày. Người ta mơ màng, chiêm bao nhiều khi thấy cứ tủm tỉm cười, nhiều khi thấy miệng kêu lên ú ớ, có khi hét toáng lên và bật dậy, nét mặt đầy vẻ lo âu, sợ hãi. Đó là biểu hiện hay kích động cảm xúc qua những giấc mơ, chiêm bao tốt đẹp, êm đềm hay là cơn ác mộng. Mơ về một tình yêu say đắm, lãng mạn, làm ăn thành đạt thì mãn nguyện, vui tươi. Mơ về sự chết chóc, tại nạn khủng khiếp hoặc vào trạng thái hiểm nguy thì hoảng loạn, thất thần, sợ hãi.
Theo nghiên cứu khoa học thì giấc mơ là trạng thái tinh thần hiện ra trong giấc ngủ. Đã là mơ tức là không ngủ say và cũng không tỉnh hẳn mà là mơ màng trong tâm thức của hoạt động đặc biệt từ vỏ não và não bộ con người. Mà bộ não con người là cơ quan cảm nhận, điều khiển tiếp nhận phản xạ vô điều kiện của thần kinh thực vật và có điều kiện của thần kinh chức năng. Não có khả năng ghi nhớ và tái hiện hiện tượng, sự vật xung quanh tác động đến và những suy tư, tư duy trong nội tại của con người; Đồng thời cũng có khả năng nhận biết, suy diễn và sáng tạo, kể cả bịa đặt những sự kiện có thật hoặc không có thật trên thực tế. Do vậy, mà con người có nhiều khả năng tiềm ẩn, sáng tạo mà thành những sáng kiến, phát minh, cá biệt thành những kỳ nhân, thiên tài và cũng cá biệt trở thành dở hơi, ngớ ngẩn, tội ác; Hoặc là thiên tài về lĩnh vực này mà lại dở người trong những việc làm khác.
Trong công trình nghiên cứu về “Giấc ngủ, giấc thôi miên, chiêm bao”, tác giả người Nga, L. Rôkhơlin đã nêu rất rõ hoạt động ức chế và phản xạ thần kinh trong “Thuyết về giấc ngủ” của nhà bác học Pavlov. Khi nói về “Chiêm bao, nguyên nhân và bản chất của chiêm bao” L. Rôkhơlin cho rằng: “Tất cả những gì ta đã thấy, đã nghe, đã cảm giác được, tóm lại những gì ta đã sống, đều để lại một dấu vết trong não và còn giữ mãi trong trí nhớ. Khi ta ngủ, một số những dấu vết ấy, vì một lý do nào đó, đã được kích thích, nên những hình ảnh và những biểu tượng trong kho ký ức của ta hiện ra dưới hình thức chiêm bao. Do đó chúng ta thấy rằng thực ra chiêm bao không đem lại cái gì mới cho ta cả và không chứa đựng điều gì mà chúng ta chưa từng trải qua trong cuộc sống, hoặc chúng ta chưa nghĩ đến. Những tài liệu thu thập được về tính chất của chiêm bao ở những người thiếu một vài giác quan ngay từ khi đẻ: Mù, điếc là một bằng chứng rõ rệt cho điều nói trên.”
Tác giả cũng dẫn chứng thực nghiệm cụ thể những người mù bẩm sinh, họ cho biết trong giấc mơ họ không hề thấy hình ảnh nào cả mà chỉ cảm giác đồ vật qua tiếng nói mà thôi.
Do hoạt động đặc thù, đặc biệt của bộ não mà hàng ngày con người vừa tiếp nhận cái hay, cái đẹp vừa tiếp nhận cái dở, cái sợ hãi, cái ác qua thực tế và cả hình dung, tưởng tượng trong trí não ra những điều hay, điều dở ở trong chính mình. Tâm lý làm điều thiện và điều ác cũng xuất phát từ não bộ con người. Thế nên mới có người ngay, người tốt, có kẻ xấu, kẻ ác.
Cũng như nghiên cứu về sự lưu hình trong võng mạc của mắt mà con người xem được phim ảnh nhựa qua kỹ thuật 24 hình trong một giây và ghi nhớ hình ảnh sự kiện vào trong trí nhớ. Tai nghe âm thanh mà cảm nhận được âm thanh hay và nhớ vào trong não. Rồi lúc nào đó người ta có thể nhớ, hình dung lại nội dung hình ảnh và âm nhạc trong phim. Có người nhớ rất kỹ được cả bộ phim nhưng có người chỉ nhớ được từng đoạn, có người còn nhớ lộn xộn không theo đúng như nội dung của bộ phim đã xem, thậm chí lại nhớ chắp vá, nhớ nhầm ghép cả sang bộ phim khác hay việc khác.
Như vậy sự hình dung, nhớ lại và tái tạo trong trí nhớ của não từng người có sự khác nhau. Những lúc tỉnh táo đã thế, nên khi không tỉnh táo sẽ còn nhiều sự khác biệt của trí nhớ giữa từng người và ngay trong chính người đó mà không thể biết hoặc dự đoán được.
Trong bài “Sự thật về mối quan hệ giữa giấc mơ và đời thực” của Thiên Minh tổng hợp, đăng tải trên báo “An ninh thế giới” số 1.204 năm 2012 cho biết:
“Người ta thường tin tương lai có trong giấc mơ. Và những cuộc điều tra mới nhất cho thấy khoảng một phần ba dân số trải nghiệm hiện tượng này tại một thời điểm nào đó trong đời của họ. Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln mơ thấy mình bị ám sát vào khoảng hai tuần trước khi ông bị bắn chết. Nhà văn Mark Twain mô tả một giấc mơ mà trong đó ông nhìn thấy thi thể của anh trai ông nằm trong quan tài chỉ vài tuần trước khi người này bị mất mạng trong một vụ nổ. Nhà văn Anh Charles Dickens cũng mơ thấy một phụ nữ mặc đồ đỏ gọi là Miss Napire một thời gian ngắn trước khi nhà văn tiếp đón một cô gái khoác khăn choàng màu đỏ đến thăm và tự giới thiệu là Miss Napier!
Làm sao để giải thích những sự kiện gây ấn tượng như thế? Trong thập niên 50 của thế kỷ XX, nhà tâm lý học người Mỹ Eugene Aserinsky có công đặt nền móng cho ngành khoa học mới mẻ nghiên cứu về giấc mơ. Ông nhận thấy rằng một người trải qua trạng thái giấc ngủ REM (Rapid Eye Movement - giấc ngủ có chuyển động mắt nhanh) có những giấc mơ. Dù một số giấc mơ khá kỳ cục, song vẫn có nhiều giấc mơ liên quan đến những công việc vụn vặt hàng ngày, như giặt giũ, lau nhà... Nếu bạn rón rén đến gần một người đang nằm mơ rồi nhẹ nhàng chơi một bản nhạc, rọi ánh sáng hay bắn tia nước vào mặt người này thì những kích thích bên ngoài sẽ được đưa vào giấc mơ.
Bạn có nhiều giấc mơ và chạm với nhiều sự kiện. Phần nhiều những giấc mơ không liên quan đến các sự kiện và bạn quên chúng ngay. Tuy nhiên, có lúc một số giấc mơ nào đó có liên quan đến sự kiện đời thực. Nếu điều đó xảy ra, bạn sẽ dễ dàng nhớ lại giấc mơ và tự cho rằng mình có khả năng dự đoán tương lai! Thực ra đó là luật xác suất. Lý thuyết này cũng giúp giải thích khía cạnh kỳ lạ của giấc mơ tiên tri.
Phần nhiều những điềm báo trước liên quan đến đau buồn, tai nạn, chiến tranh. Trong khi đó người ta hiếm khi mơ thấy những gì vui tươi, phấn khởi. Các nhà khoa học về giấc ngủ khám phá 80% những giấc mơ không ngọt ngào và thường chỉ tập trung vào những sự việc tiêu cực. Do đó những tin xấu, hơn là những tin vui, dễ kích thích ký ức về giấc mơ. Điều đó giải thích tại sao có quá nhiều những giấc mơ “tiên tri” liên quan đến cái chết và thảm hoạ”.
Mỗi người hàng ngày và trong cả thời gian đã sống tiếp cận với biết bao sự kiện của xã hội, tự nhiên. Từ sinh hoạt thường ngày, tình cảm, sống chung trong gia đình đến sinh hoạt ngoài xã hội, con người chứng kiến những vui buồn, nhớ nhung, xa cách, tiếp cận với hội hè, cưới xin, tai hoạ, tang gia, chết chóc; Rồi sách báo, phim ảnh, truyền hình với những diễn biến thời cuộc, sinh hoạt cộng đồng, chiến tranh tàn phá cùng phim ảnh, nghệ thuật, dã sử, ảo thuật, kinh dị... Tất cả được phản ảnh vào cảm nhận, tri giác, trí nhớ của con người. Nhiều lúc người ta hình dung, nhớ lại những sự kiện có khi đã rất xa xưa, nhưng cũng có khi vừa mới đây thôi. Trong trường hợp nào đó người ta lại có tâm lý giả sử sự việc đó xảy ra đẹp hơn, hay theo hướng khác, hoặc nếu không như thế thì hơn, thậm chí trái khoáy đi càng tốt… Đó là sự chân thành hay phức tạp trong suy nghĩ và tâm lý của con người ngay khi còn tỉnh táo mà đôi khi ta không hình dung được. Thế nên lúc mơ màng, không tỉnh táo nó diễn ra càng không theo như ý muốn con người.
Khi người ta đến với giấc ngủ tức là lúc mọi ức chế lan toả lên vỏ não và não bộ mà chìm vào giấc ngủ say sưa, ngủ như chết vậy. Còn khi vì lý do nào đó bị hưng phấn, kích thích, suy nghĩ hay bệnh tật làm cho khó ngủ hoặc giấc ngủ mơ màng là nguồn gốc xuất hiện của những giấc mơ. Thế là tất cả mớ hỗn độn của trí nhớ được tái tạo thành những giấc mơ.
Mỗi chúng ta do sức khoẻ và tâm lý khác nhau nên khi ngủ có lúc, có người ngủ rất say nhưng có người, có lúc giấc ngủ chập chờn. Người khoẻ mạnh, vô tư nằm là ngủ say, ngáy ầm ầm. Người lo nghĩ, bệnh tật, giấc ngủ mơ màng. Mỗi cuộc đời không ai giống nhau. Người nặng lòng yêu thương cha mẹ, gia đình, người yêu thì lúc nào cũng hình dung gặp gỡ vui vầy. Người căm thù kẻ khác thì nghĩ về tai hoạ, ốm đau, chết chóc. Người đầy đủ, sung sướng, vô lo, vô nghĩ. Người nghèo khổ, khó khăn nghĩ ngợi suy tư. Người mơ ước sung sướng lên đến Thiên đàng, người lại ước sao gặp may mắn cho đời bớt nỗi gian truân, thậm chí do quá gian nan còn nghĩ tiêu cực mong làm sao chết đi cho đỡ khổ. Vì vậy, có người nằm là ngủ say lăn lóc, chẳng mơ mộng gì, người thì giấc ngủ chập chờn, nằm xuống là thấy chiêm bao, cho là bệnh tật, ma quỷ mà sinh lo sợ.
Cũng theo tác giả L.Rôkhơlin (sách đã dẫn): “Ngủ say thì không có mộng. Mộng chỉ xuất hiện khi nào ức chế không sâu, không mạnh và không lan khắp các đoạn của não bộ. Một sự ức chế như thế chỉ làm ngừng hoạt động ở một số vùng của não; Nó làm giảm hoạt động của những vùng này, nhưng làm tăng một cách bất thường hoạt động của những vùng khác. Nhìn toàn bộ, sự hiệp diệu và tác dụng qua lại của các phần não đã bị gián đoạn. Cho nên, đáng lẽ có một hoạt động thần kinh cao cấp điều hoà và có tính thống nhất nội bộ, đặc trưng của trạng thái thức, thì tư duy của người ngủ lại trở nên phi lý, lôn xộn, đặc biệt của chiêm bao”
Giấc mơ, chiêm bao xảy ra khi ngủ mơ màng. Lúc đó hoạt động của vỏ não và não bộ chưa ngủ hẳn mà đang còn kích hoạt và những hình dung, trí nhớ được tái hiện trong tâm tưởng phản ánh về thực tế mà con người đã trải qua, đã nhận biết, kể cả những gì hình dung, tưởng tượng, mơ ước vẫn được hiện lên. Nhưng trong mơ màng mà sự tái hiện không hoàn toàn hợp lý, logic, có khi bị xáo trộn hoặc chắp vá, gán ghép méo mó đi. Vì thế, có giấc mơ có trình tự, êm đềm, có giấc mơ chắp vá nhiều sự kiện hợp lý hoặc có khi lại không hợp lý mà thành kỳ quặc. Có giấc mơ nhớ về kỷ niệm tốt đẹp, nhưng có giấc mơ tái hiện sự hãi hùng hoặc chắp vào những tai hoạ, chết chóc bi thương. Người luôn luôn nặng lòng thương yêu ông bà, cha mẹ, khi sống với nhau rất nhiều kỷ niệm thì khi người thân mất đi, người đó rất hay mơ thấy có sự gặp gỡ, trở về của người đã khuất. Có thể là cuộc gặp gỡ trong mơ diễn ra vui vẻ, nhưng cũng có thể là cuộc chia tay khóc than mà người nằm mơ cũng nước mắt chứa chan, khi tỉnh dậy mắt vẫn còn đỏ hoe, đẫm lệ. Thế rồi vì nhớ thương mà đi mua vàng mã, quần áo về cúng và đốt đi cho người thân đỡ khổ. Có người còn có những giấc mơ gặp tai hoạ y như những sự kiện thấy trên thực tế hay trong chuyện kể, phim ảnh đã từng xem; Hoặc lại diễn ra vô cùng khủng khiếp, bóp cổ, hộc máu, giết người theo hình dung tưởng tượng rất phi thực tiễn mà do chính trong não người đó tạo ra trong giấc mơ. Có khi trong giấc mơ thấy người đã khuất về báo mộng rằng: “Có con ba ba đấy, ra mà bắt!”. Sáng hôm sau, thì thấy con ba ba thật bò vào ở ngay trước cổng. Vốn trong ao nhà từ trước có nuôi rất nhiều ba ba mà người chủ thường nghĩ đến. Cho đến khi giấc mộng “báo” có lẽ là sự trùng hợp ngẫu nhiên khi con ba ba bò lên bờ bò về mà thành ly kỳ, khó hiểu. Vì thế có người cho rằng giấc mơ là báo hiệu cho cuộc đời thực tế. Hoặc là những siêu nhiên, động mồ, động mả mà sinh mê tín dị đoan, nhờ người giải đoán rồi cúng thần thánh, đuổi tà ma. Có người chỉ vì giấc mơ mà đâm ra suy nghĩ, thần kinh, bệnh tật khó chữa mà từ dã cõi đời, thế là người ta lại cho là ma làm, quỷ ám.
Đã từng có giấc mơ mà trong mơ kéo người ra khỏi giường nằm, đi lục tìm mọi đồ vật trong phòng. Một lúc sau, tinh thần mới từ từ tỉnh lại, người đó lại nằm vào gường ngủ. Khi thức dậy họ vẫn không hiểu việc mình đã làm gì trong khi ngủ mơ. Cũng từng có người đang trong đêm mơ màng, cứ thế ra khỏi giường nằm đi ra cửa, ra đường và lội cả qua ao, cho đến khi tỉnh lại mới thôi, người ta gọi đó là hiện tượng “mộng du”. Những trường hợp như thế, nếu không có người khác biết mà giúp đỡ sẽ dẫn đến tai nạn, có người trong mơ còn hành động nguy hiểm cầm dao đâm chém, giết người.
Theo tác giả Di An tổng hợp về giấc mơ, đăng tải trên báo “An ninh thế giới” số 1.112 ngày 16-11-2011, thì: Giấc mơ là một tiến trình thần kinh phức tạp. Vào giai đoạn nửa đầu của giấc ngủ, sóng não chậm xảy ra và giấc mơ lúc này thường không được nhớ lại. Sau đó đến một giai đoạn những giấc mơ sống động hơn xảy ra trong giai đoạn mắt chuyển động nhanh gọi là “Giấc ngủ REM”. Lúc đó, thân thể và trí óc hoàn toàn thư giãn. Do đó giấc mơ trong giai đoạn này thường là dấu hiệu báo về mặt sinh học. Các nhà nghiên cứu Đức xác định những bệnh nhân trầm uất thường mơ thấy những hình ảnh không tốt, gây khó chịu.
Nhà tâm lý học Peter Simor thuộc Đại học Semmelweis ở Budapest, Hungari, nhận xét: “Như thế nào đó, trong giấc mơ, não bộ dò thấy những tiến trình sinh học bị biến đổi trước khi đối tượng nhận thức được”.
Sigmund Freud là người đầu tiên nghiên cứu giấc mơ theo hướng khoa học khi xuất bản cuốn sách “Lý giải những giấc mơ” năm 1899. Còn môn đồ của ông người Thuỵ Sĩ, Carl Gustav Jung (1875-1961), coi giấc mơ là công cụ giúp cho tâm thần tìm kiếm sự cân bằng”.
Chỉ là giấc mơ, chiêm bao nhưng khi tỉnh dậy ta thấy có giấc mơ đúng như đời sống hàng ngày trải qua, có giấc mơ báo cho điều sắp xảy ra như vậy, lại có giấc mơ phi lý, thậm chí rất sợ hãi, may sao lúc đó tỉnh lại, chứ cứ để tiếp tục giấc mơ thì chẳng hiểu sẽ thế nào. Mà chỉ là mơ mộng thôi, chứ là thật thì thật tai hoạ khủng khiếp, không lường!
Là giấc mơ, chiêm bao chứ có phải thực tế đâu, nên có người cho là bình thường. Thế nhưng có người bị ám ảnh lại cho là điềm báo, là thánh thần, ma quỷ mà lo âu, sợ hãi. Tuy nhiên cũng cần cảnh giác với những trường hợp ác mộng, mộng du mà sinh ra tai hoạ. Đồng thời cũng đề phòng có thể là bệnh thần kinh, tâm thần cần phải khám xét, kể cả liệu pháp tâm lý để chữa trị. Các nhà khoa học đã nghiên cứu về giấc ngủ và dùng liệu pháp giấc ngủ để chữa bệnh cho con người.
Giấc mơ, chiêm bao là những diễn biến của tâm thần kinh từ phản xạ, phản ánh của vỏ não và não bộ con người. Nó không phải là tưởng tượng về thần thánh, ma quỷ và cũng không có gì đáng sợ. Giấc mơ, chiêm bao dù có kiểu gì và thế nào thì khi có người gọi hoặc tự nhiên thức dậy là hết, mọi sự sẽ trở lại cuộc sống bình thường mà thôi.
Ảo giác, Mộng du
Ảo giác là hội chứng tâm thần, thần kinh của con người. Những ức chế, phản xạ không hoàn toàn gây nên trạng thái giống như mơ mộng. Con người khoẻ mạnh, tỉnh táo trong điều kiện đầy đủ ánh sáng và sống với cộng đồng thì chẳng bao giờ diễn ra ảo giác. Nhưng khi ở vào tình trạng không hoàn toàn tỉnh táo, tranh tối tranh sáng lờ mờ hay đêm tối, không gian tĩnh lặng thì lập tức thần kinh bị ức chế, nảy sinh tâm lý sợ hãi và bắt đầu lâm vào trạng thái mơ màng, rối loạn. Đây cũng là lúc kích hoạt phản xạ tiềm năng trí nhớ hiện ra, nhưng trong điều kiện rối loạn do sợ hãi, các phản xạ hiện lên trong tâm thức mà nhìn không gian bị méo mó, thậm chí chắp vá vào những hình ảnh không có thật hoặc rất dị dạng, kinh hoàng. Người ta có thể “cảm thấy” hình ảnh muôn hình vạn trạng theo cảm xạ, hay bịa đặt của não bộ mà thành ảo giác, các hình ảnh có khi tươi đẹp, nhưng cũng có thể là những hình ảnh quái dị, ghê rợn.
Có khi do biến chứng của bệnh khác sinh ra loạn thị mà thành ảo giác. Nguyên nhân của bệnh tiểu đường hoặc dị tật về mắt hoặc bệnh mù màu mà có lúc nhìn một thành hai, nhìn thấy nhiễu loạn màu sắc hay chìm vào huyền ảo mung lung.
Trường hợp một cô gái bình thường, khoẻ mạnh, làm việc ở cơ quan chính trị. Cô thường ra về khi đã rất muộn vì nhiều việc cần ở lại làm thêm. Cô cho biết, nhiều khi cô đóng cửa để ra về, lúc mà cơ quan đã vắng, trong không gian lờ mờ, huyền ảo của chiều tối, thì bất thần cô cứ thấy có một bóng người cụt đầu đi đi, lại lại trên tầng trên. Cô rất sợ hãi, nhưng cũng cố trấn tĩnh để khoá cửa rồi đi xuống cầu thang và chẳng thấy xảy ra chuyện gì. Nhiều ngày sau cô đi làm việc, thì lại không thấy gì cả. Nhưng rồi thỉnh thoảng cô lại thấy có hiện tượng khác như có bóng dáng lờ mờ diễn ra. Cô bảo, chẳng thấy làm sao nên cứ làm việc như mọi ngày, rồi cũng bình thường thôi.
Đúng là cô gái bạo gan, chứ phải người khác thì hết hồn, khiếp sợ, không dám làm muộn như vậy nữa, có khi còn sinh bệnh thần kinh khó chữa.
Lại có chuyện một người canh cống thủy lợi, vào một đêm ông đang lúi húi cúi xuống cầm cần cất vó kiếm cá thì bỗng nhiên như có người ôm lấy đằng sau ấn xuống. Ông tỏ ra rất sợ hãi, liền miệng khấn cầu xin được tha cho, ngày mai sẽ làm lễ cảm tạ, thì thấy người trở lại bình thường. Thế là ngày hôm sau ông giữ lời hứa làm bát cơm canh ở nhà, đốt nén hương khấn vái cảm tạ, rồi lại hàng ngày cứ đêm đến ra canh cống như xưa.
Câu chuyện nghe như có thánh thần, ma quỷ. Nhưng có lẽ do khi ông cúi xuống làm động tác cất vó, tư thế cơ thể thay đổi đã làm cho tim mạch bất thường, thần kinh kích động gây hội chứng đè nặng, nghẹ thở như dạng bóng đè. Thế là tư tưởng nảy sinh sợ hãi nghĩ đến quỷ ma. Nhưng khi khấn cầu, tư tưởng lập tức được an định mà tác động trở lại tâm thần, đưa trạng thái tim mạch, thần kinh ổn định và ông không còn thấy có lực đè. Nếu là người quá sợ hãi có thể sinh ra ảo giác hình dung nhìn thấy bóng dáng dị hình mà gọi là “ma”. Còn chuyện ngày hôm sau làm cơm cúng bái chỉ là chuyện giữ lời hứa và ổn định tâm linh, chứ thực ra người cứng bóng vía thì chẳng làm cũng chẳng làm sao.
Trong nhiều bệnh lý tâm thần, kể cả người nghiện rượu, dẫn đến viêm gan, sơ gan cũng gây ra những trận hôn mê gan làm rối loạn tâm thần mà thành ảo giác, nhìn thấy đủ thứ hỗn loạn và nói lảm nhảm, lung tung, phải điều trị một thời gian mới hết.
Ngoại cảm cũng là một trong những nguyên nhân gây ra hiện tượng ảo giác. Người ta cứ thấy như có bóng người hay ma quái hiện lên trước mắt hoặc lừ lừ đi đến gần mình. Có khi do quá nhớ thương người thân đã khuất mà trong tâm tưởng cứ suy nghĩ ngày đêm, nên khi mơ màng là nằm mơ thấy ông bà, cha mẹ, người thân cứ hiện về… Đây là những trường hợp thường làm cho người ta liên tưởng đến thánh thần, ma quỷ. Có người vì quá sợ, sinh ra bệnh tật và cuồng tín mà cầu cúng, đồng bóng sinh ra mê tín dị đoan. Những hiện tượng như vậy thường xảy ra ở người hay suy tư, yếu mềm, sợ hãi, còn những người mạnh bạo, cứng bóng vía, hiểu biết và có bản lĩnh thì không mấy khi thấy ảo giác, sợ hãi bao giờ.
Như vậy, tác động ám ảnh vào tâm lý sẽ sinh ra ảo giác. Mơ ước tốt đẹp, thương nhớ mẹ cha, người thân thì ảo giác và giấc mơ tốt đẹp. Ám ảnh sợ hãi tất sinh ảo giác, giấc mơ ma quỷ, sợ hãi mà thành ác mộng.
Báo an ninh thế giới ngày 16-11-2011, có bài “Giấc mơ dự đoán những vấn đề sức khoẻ”, do Di An tổng hợp: “Một người sau vài đêm liên tục nằm mơ thấy bị một quả chuối đâm vào cuống họng và thức giấc với cảm giác ngạt thở thấy rõ. Luciano Ribeiro Pinto, chuyên gia thần kinh học thuộc Viện nghiên cứu giấc ngủ Sao Paolo, giải thích: “Những cơn ác mộng như thế này xảy ra do sự bất an về thể xác hay thậm chí là dấu hiệu của một bệnh”. Trong một số trường hợp, giấc mơ có thể liên quan đến sức khoẻ của một cá nhân. Một số nghiên cứu được tiến hành cho thấy dường như các sự kiện trong giấc mơ có thể giúp chẩn đoán nhiều vấn đề khác nhau liên quan đến sức khoẻ.
Nhóm các nhà khoa học Đức chứng minh rằng tính trầm trọng của những triệu chứng rối loạn cơ thể tương quan trực tiếp với cường độ của những cảm xúc tiêu cực trong giấc mơ và đối tượng thường xuyên mơ thấy mình bị tấn công và cái chết xảy đến. Nói chung, ác mộng thường là dấu hiệu của một số bệnh như: Parkinson, Alzheimer, tâm thần phân lập, đau tiền đình, suyễn, âu lo và viêm phế quản. Những vấn đề trong giấc mơ thật ra là dấu hiệu về sự mất cân bằng giữa tâm thần và thể xác.
Hiện nay, những chất ức chế serotonin được sử dụng rộng rãi trong điều trị những rối loạn tâm thần như chứng trầm uất, lo lắng và bulimia (chứng cuồng ăn). Những chứng bệnh này khiến cho đối tượng mơ nhiều hơn bình thường và giấc mơ có thể căng thẳng hơn. Những thứ thuốc điều trị chứng suy nhược thần kinh sẽ làm giảm bớt hay ngăn chặn giấc ngủ REM. Trong khi thuốc an thần hay làm giảm căng thẳng thần kinh sẽ gây nên tình trạng ngủ lơ mơ và có xu hướng rút ngắn giấc ngủ REM. Ác mộng nằm trong số những hiệu quả phụ ở những người sử dụng các loại thuốc này”.
Ảo giác và ác mộng làm người ta khó hiểu và lo sợ. Đó là tâm lý của người mê tín dị đoan và người có cấu trúc vùng não gây ra sợ hãi. Vì vậy, không chỉ người bình thường, mà cả người có hiểu biết vẫn luôn luôn sợ hãi, thậm chí rất sợ hãi. Còn người bạo gan, hiểu biết thì cho đó là khoa học của tâm thần kinh con người. Khi cơn ảo giác qua đi, mọi việc trở lại bình thường, vì nó chỉ là ảo giác mà thôi. Tức là cảm giác ảo của con người, như những giấc mơ, hoặc bệnh tật ở vùng cảm xạ và thị giác, chứ không phải là thần linh, ma quỷ.
Người ta còn một chứng bệnh mà Y học gọi là “Mộng du”, là tình trạng đi trong giấc ngủ; Trong dân gian xưa vẫn cho rằng đó là “thần thiêng nhập” hay “ma đưa, quỷ ám”.
Hội chứng mộng du có thể gặp ở bất cứ tuổi nào, bất cứ lúc nào, kể cả trẻ em còn rất nhỏ, mới biết đi. Lúc ngủ ban ngày hay về ban đêm, tự nhiên người ta “thức dậy” đi đi, lại lại, di chuyển đồ đạc, đi vào nhà tắm, vào bếp, ra mở cửa, trèo qua cử sổ... Trẻ em thì ngồi dậy, mở mắt, đi vòng quanh, đến nơi bàn học có ánh đèn, rồi có khi lại trở về giường ngủ. Lâm vào trạng thái mộng du khi suy nghĩ, tư duy bị ức chế bởi huyền ảo của màn đêm, ám ảnh từ những giấc mơ, hoặc ấn tượng về những câu chuyện ly kỳ mà tác phong hành động của họ trở nên vụng về, lóng ngóng và thường dẫn đến những hành vi kỳ lạ như đi tiểu bừa bãi, thu đồ đạc chỗ nọ bỏ chỗ kia... Cho đến khi tự nhiên nằm vật ra, hoặc có người tự trở lại giường nằm ngủ tiếp. Người bị mộng du tự nhiên như bị thôi miên, nửa tỉnh nửa mê, thậm chí tâm thần hoảng loạn, mơ màng, cứ thế mà đi trong đêm, qua cả sông suối, bờ ao, bụi rậm mà vẫn không biết gì. Nếu họ cứ thế qua hồ, ao sẽ bị đuối nước, gặp chướng ngại vật, hố sâu là ngã xuống chấn thương. Cộng với chứng ảo giác, người ta còn hình dung thấy có bóng người như những thiên thần, ma quỷ đến vẫy vời, dẫn dắt và cứ thế đi theo. Vì thế mà có người may không gặp phải tai hoạ, chết đuối, tử vong thì ngày hôm sau, khi gặp họ, thấy như thân tàn, ma dại. Có người sau đó tỉnh lại vẫn còn mang máng biết những gì đã đến với mình, nhưng phần lớn đều không còn nhớ nữa.
Chuyên gia Lê Minh Công ở bệnh viện Tâm thần Trung ương 2 nêu ra trường hợp bệnh nhân nữ H.A, 17 tuổi, là học sinh THPT tại thành phố Biên Hoà, tỉnh Đồng Nai mắc chứng bệnh thường xuyên thức dậy lúc nửa đêm, đi lại trong nhà, đôi khi ra cổng khoảng 10 phút, rồi lại về giường ngủ bình thường mà không nhớ gì cả. Khi cha mẹ phát hiện nói ra thì A mới biết. Các nhà tâm thần học gọi đó là “miên hành”, là trạng thái rối loạn giấc ngủ, thường xảy ra ở giai đoạn 3 và 4 của giấc ngủ. Bệnh nhân đi trong trạng thái vắng ý thức hoàn toàn, có thể ngồi dậy, hay vận động phức tạp như đi, mặc quần áo, nói lảm nhảm, la hét... Miên hành thường xảy ra ở khoảng 4 đến 8 tuổi, nhiều nhất là ở tuổi dậy thì 12 đến 15 tuổi.
Hiện tượng mộng du có khi xảy ra ở tại nhà mình, nhưng có khi xảy ra trong những chuyến đi hành hương, lễ bái. Những người hay sợ hãi, suy tư, kích hoạt đến tâm thần thường là nạn nhân của chứng mộng du. Còn những người bản lĩnh, khoẻ mạnh, sảng khoái, vô tư thì cứ bình yên mà chứng kiến cái mung lung, đáng thương của những người bị chứng mộng du hành tội.
Người ta cho rằng tình trạng lo âu, mệt mỏi, mất ngủ, hoảng sợ ban đêm, ngủ không có giờ giấc, sốt, ốm đau triền miên, thiếu magiê, trào ngược thực quản, sử dụng một số thuốc điều trị bệnh tâm thần, thuốc an thần, thuốc kháng histamin là những nguyên nhân có thể gây ra tình trạng mộng du. Các chuyên gia thần kinh cũng đề cập đến các nguyên nhân như lúc đi ngủ bàng quang đầy nước tiểu, ngủ ở môi trường lạ, nơi ồn ào, có quá nhiều ánh sáng gây khó ngủ, người ngủ bị stress, hoặc có thể liên quan tới rối loạn tâm thần, bệnh não thiếu máu thoáng qua, bệnh mạch máu não, phản ứng với thuốc, uống nhiều rượu, có xảy ra những cơn động kinh cục bộ...
Các thầy thuốc cũng khuyên người bệnh đi khám tìm nguyên nhân để chữa trị. Trong mọi trường hợp phải cẩn thận cài cửa, chú ý phát hiện người bị bệnh và cẩn thận, nhẹ nhàng đưa họ về trạng thái bình thường để tránh tai nạn hoặc quá khích mà sinh ra hành động bạo lực nguy hiểm.
Khoa học ngày nay đã nghiên cứu ra cấu tạo trong não bộ con người có vùng gây ra sự sợ hãi. Từ nghiên cứu này người ta có thể dùng khoa học để tạo ra những chiến binh dũng cảm có sức chịu đựng và chiến đấu phi thường xông pha ngoài trận mạc. Vì thế mà ảo giác và sự sợ hãi chỉ là vấn đề nghiên cứu lý thú của khoa học mà thôi.
Các nhà chuyên khoa tâm thần học cũng đã lý giải về khoa học thần kinh để tìm ra phương cách điều trị cho chứng mộng du. Nó là chứng bệnh thuộc thần kinh liên quan đến tâm, sinh lý và tâm thức con người, chứ không phải thần thiêng nhập vào hành, hay cho là ma đưa, quỷ ám!
Tâm thần Hoang tưởng
Anh hoạ sĩ tốt nghiệp một trường Đại học Mỹ thuật danh tiếng. Ra công tác tại một cơ quan nhà nước anh tiếp tục sự nghiệp sáng tạo của mình và từng đoạt nhiều giải cao trong các cuộc thi sáng tác mỹ thuật. Anh từng tham dự đề tài tranh biếm hoạ và được công nhận là thành viên câu lạc bộ hoạ sĩ hài hước quốc tế. Thế mà tự nhiên chàng hoạ sĩ tài năng này sinh ra chứng suy tư, nghĩ ngợi, thỉnh thoảng như người mất hồn, nhưng rất lạ là hàng ngày anh vẫn làm việc tích cực như bình thường. Cơ quan và gia đình cho rằng anh bị bệnh tâm thần và khuyên nên đi bệnh viện khám bệnh. Thế là anh được vào điều trị ở khoa thần kinh tại một bệnh viện lớn. Một thời gian điều trị, ra viện, tuy sức khoẻ có khá hơn và tiếp tục đi làm việc, nhưng khi nói chuyện với ai, anh vẫn cho rằng có người không tốt cứ muốn hại anh, cảnh sát sẽ bắt anh. Khuyên bảo thế nào anh cũng không nghe. Cho đến thời gian rất dài anh vẫn hàng ngày đi làm việc và vẫn nghĩ về mình như thế.
Có người do bị bệnh khó chữa, lại nghe người khác bảo rằng: Bị bệnh thế, không nên đến các đám ma, dễ bị phát bệnh lắm đấy! Thực ra là sự trùng hợp ngẫu nhiên và một phần cũng do người đời cứ tô vẽ ra hoặc khuyên người bệnh hiểm nghèo nên như vậy cho dỡ tác động tư tưởng vì sợ hãi đám ma mà ảnh hưởng đến sức khoẻ, bệnh tật. Ngẫm thấy một vài trường hợp bệnh hiểm nghèo, đến thăm hỏi đám ma về rồi sau đó chết thật. Thế là sinh ra lo nghĩ, ở đâu có đám ma, kể cả người nhà chết cũng sợ, phải lánh đi chỗ khác, không dám đến gần. Sự ám ảnh gây nên sợ hãi. Trong những trường hợp như vậy, thì giải pháp né tránh lại làm cho người ta yên tâm, tránh hậu quả không hay cho tư tưởng, bệnh tật.
Một căn nhà nằm cùng vài căn nhà khác ngay chỗ ngã ba, có đường chạy thẳng vào nhà. Hàng chục năm làm ăn bình thường, gia chủ chẳng thấy xảy ra sự việc gì rắc rối. Thế rồi một hôm có người bạn đến chơi, anh chủ nhà dẫn anh bạn lên tầng cùng nhau trò chuyện. Sau một hồi ngắm nghía trước sau, anh bạn bảo rằng, luôn có người không tốt, gây khó khăn cho gia chủ. Anh chủ nhà ngẫm nghĩ, “khảo cổ” trong trí nhớ về công việc, làm ăn thấy cũng có một số việc từng xảy ra mâu thuẫn. Thế là từ đấy anh sinh ra căn bệnh đa nghi. Nhiều khi đứng trên tầng hai ngắm nghía, anh mới để ý thấy phía bên kia đường có cái góc nhà, rồi cứ thế cho là nó chiếu xiên sang nhà mình mà thành như vậy. Đến khi vợ chồng có bất hoà, anh cũng cứ vin vào cuộc đời vẫn còn như thế. Rồi trở thành quan niệm cực đoan, mọi việc xảy ra trong gia đình với vợ với con, anh đều cho là đời mình chẳng được tốt lành. Trong khi đó, mấy gia đình cùng ở phía cạnh nhà anh, họ vẫn làm nghề buôn bán, ăn ở bình thường có thấy tai vạ gì đâu?
Thế cho nên tâm tưởng, tinh thần con người không vững, rất dễ bị những “dị nhân hoang tưởng” làm cho mắc chứng hoang tưởng vào mình.
Minh chứng sinh động là một người đàn ông mắc bệnh hoang tưởng từ năm 1984. Sau hai năm chữa chạy không khỏi. Tình cờ người nhà của bệnh nhân đã gặp một người bạn, sau khi cho mượn cuốn sách “Tâm thần học” của nhà xuất bản “MIR” - Matxcơva, người bạn hướng dẫn về bảo bệnh nhân đọc kỹ phần nói về “Tâm thần hoang tưởng”. Thật bất ngờ, sau hai tháng đọc kỹ suốn sách, trạng thái thần kinh của người bệnh đã trở lại bình thường vào tháng 9 năm 1986.
Theo tài liệu “Tâm thần thần học” và các bác sĩ chuyên khoa thần kinh thì đó là hiện tượng tâm thần hoang tưởng, căn bệnh cần giải quyết dần dần. Phải phối hợp liệu pháp tâm lý và sự thương yêu của gia đình, cộng đồng mới làm cho con người tiếp tục cuộc sống bình thường, không chấn thương thêm tâm lý. Đây không phải là ma làm, quỷ ám, động mồ động mả mà sinh hoảng loạn đi gặp “thầy” cúng bái, giải hạn, trừ tà lại thêm tiền mất, tật mang và chuốc lấy lo âu.
Thôi miên
Thôi miên là hiện tượng rất đặc biệt ở con người. Nó chịu sự tác động điều khiển từ một người này sang người khác với những triệu chứng nửa tỉnh, nửa mê làm cho người ta như mắc bệnh thần kinh, rất khó hiểu, thậm chí sợ hãi và cho rằng có phép thuật hay thần thiêng, ma quỷ gì chăng!?
Người thực hành thôi miên có thể điều khiển người khác theo ý muốn của mình, hoặc biến con người bình thường thành “ngu dại” mà hành động như một “người máy”.
Theo nhà nghiên cứu người Liên Xô, L. Rôkhơlin, trong cuốn “Giấc mơ, giấc thôi miên, chiêm bao”, nhà xuất bản Mátxcơva, thì: “Thôi miên là một giấc ngủ đặc biệt do một người gây nên một cách nhân tạo ở người khác, trong lúc đó người bị thôi miên vẫn giữ liên lạc với người gây thôi miên và tuân theo ý muốn cũng như những ám thị của người này.
Từ bao thế kỷ, thôi miên vẫn được xem như là một hiện tượng siêu tự nhiên và được bao phủ bằng một hào quang bí mật.
Việc thực hành thôi miên đã có từ những thuở xa xưa nhất của lịch sử loài người. Ở các nước Ai Cập, Ấn Độ, Hy Lạp cổ đại các thầy tu, các nhà Yoga đã dùng thôi miên và được thần thánh hoá là những lời tiên tri nói lên ý trời. Trong thời trung cổ, các lễ nghi, điều trị thần kinh bằng thôi miên được các thầy tu và các chúa phong kiến tiến hành ”.
Các nhà nghiên cứu của Liên Xô trước đây đã bỏ nhiều công sức để tìm ra luận giải khoa học về hiện tượng thôi miên đầy huyền bí liên quan đến giấc ngủ. Đặc biệt là các công trình của nhà bác học, sinh lý học vĩ đại Nga, Ivan Petrovich Pavlov, ông định nghĩa:
“Giấc ngủ như là một sự ức chế lan toả trong vỏ hai bán cầu đại não và đã tràn xuống những phần dưới đại não. Quá trình đó có sự chuyển tiếp, nó không xảy ra ngay tức khắc mà trải qua nhiều mức độ trung gian, khi ức chế lan đến những điểm riêng biệt của não mà không chiếm toàn bộ phần trên của não, lúc ấy trong não bộ vẫn còn những điểm thức”.
Chính những trạng thái chuyển tiếp từ tỉnh sang ngủ đó mà Pavlov gọi là thôi miên. Theo Pavlov: “Thôi miên là một giấc ngủ không hoàn toàn, một giấc ngủ trong đó một phần não hãy còn thức”.
Ông đã viết về hiện tượng này: “Có một sự kiện ức chế đã chiếm lĩnh các bán cầu, gây giấc ngủ, nhưng dù sao, một số điểm nhỏ mà tôi gọi là những điểm canh gác hoặc thường trực, vẫn ở trong trạng thái tỉnh. Điều đó quan sát thấy ở người thợ xay bột, trong khi đang ngủ say chẳng hạn: Nếu cối xay của anh ta dừng lại, thì anh sẽ tỉnh ngủ. Hoặc người mẹ đang ngủ, các tiếng động mạnh cũng không ngăn trở giấc ngủ, thế mà chỉ những cử chỉ động nhẹ của con làm mẹ thức dậy ngay. Thôi miên cũng thế, nhưng ở đây “điểm thường trực” là phần thức của não bộ làm cho người thôi miên liên lạc được với người điều khiển thôi miên. Cho nên người bị thôi miên nghe được và hiểu được những lời nói của người điều khiển thôi miên, tuy rằng, giống như người ngủ một giấc tự nhiên, người bị thôi miên không thu nhận được những kích thích bên ngoài khác và không phản ứng với những gì xảy ra chung quanh mình.
Sự giống nhau giữa giấc ngủ và giấc thôi miên còn được chuyển từ hiện tượng này thành hiện tượng kia. Nếu vì lý do nào đó, người điều khiển thôi miên không đánh thức người bị thôi miên thì giấc ngủ thôi miên sẽ thành giấc ngủ bình thường. Hoặc khi người đang nói chuyện mà ngủ mơ màng, câu chuyện vẫn được tiếp diễn với người thức thì giấc ngủ sẽ chuyển thành giấc thôi miên. Nó có phần giống như ru ngủ, nhưng có độ nông sâu và mạnh yếu khác nhau. “
Người thôi miên giỏi, chân chính có thể hành nghề chữa bệnh và rèn luyện sức khoẻ bằng thôi miên cùng một lúc cho nhiều người. Và sau mỗi liệu trình thôi miên, họ lại trở về với cuộc sống thường ngày với nếp sống nhân văn, tốt đẹp.
Các nhà khoa học cũng nêu lên tầm quan trọng của thuật thôi miên trong điều trị bệnh và phục hồi sức khoẻ, củng cố hệ thần kinh cho con người.
Nhà bác học Liên Xô, giáo sư C.I. Platônốp đã nghiên cứu thực hành “Thôi miên nghỉ ngơi” cho hệ thần kinh vào điều trị sức khoẻ. Ông đã xác định, một giấc thôi miên chừng 20 phút ở những người mệt nhọc sau ngày làm việc, đã được tăng cường và cải thiện rõ rệt sự tập trung tư tưởng, sự chú ý và trí nhớ. Nhờ thế mà những người ốm kiệt sức về thần kinh, đã trở lại bình tĩnh, ăn uống ngon miệng, ngủ đẫy giấc, khả năng làm việc tăng, sức khoẻ khá lên.
Khi thực hành thôi miên, “ám thị bằng tiếng nói” có tầm quan trọng rất lớn. Nhà bác học Pavlov cho rằng: Trong những hiện tượng thôi miên được thấy ở người, có một hiện tượng làm chúng ta đặc biệt chú ý là “sự ám thị”. Ám thị là phản xạ có điều kiện đơn giản nhất, tiêu biểu nhất của loài người.
Vì sao người điều khiển thôi miên lại có uy quyền lớn như thế, vì sao người bị thôi miên lại tuân theo người kia dễ dàng như thế? Có hai vấn đề cần lưu ý, sự kích thích của lời nói phát ra từ người điều khiển và những biến đổi về phản ứng của bộ não người bị thôi miên đối với kích thích qua lời nói.
Theo Pavlov, thì kích thích tập trung và mạnh mẽ được tác động vào điểm thức của não bộ người bị thôi miên. Ngoài ra các phần não khác của người bị thôi miên đều bị ức chế, cho nên những ý kiến ám thị từ người điều khiển không gặp trở ngại nào. Không một ý kiến, tình cảm, ý muốn trái ngược nào đối lập lại ý kiến ám thị. Tức là các điều kiện thuận lợi nhất cho sự ám thị đã được tạo ra đầy đủ. Người ta cũng có thể làm cho sự ám thị giữ được sức mạnh và tiếp tục tác động sau giấc thôi miên, trong trạng thái thức tỉnh. Đó là “ám thị sau thôi miên”
Nhưng tại sao người bị thôi miên lại chịu điều khiển từ ám thị. Ví dụ như cầm ly nước lã lại bị điều khiển nói nhầm là nước ngọt?
Tác giả Rôkhơlin lý giải: “Nguyên nhân là người bị thôi miên tri giác những kích thích bên ngoài và phản ứng đối với những kích thích ấy theo quy luật của giai đoạn thôi miên trái ngược. Theo quy luật này thì não bộ phản ứng với những kích thích yếu như đối với những kích thích mạnh và phản ứng với những kích thích mạnh như đối với những kích thích yếu. Cho nên trong sự tác động của các kích thích, thì kích thích mạnh tác động trực tiếp lên giác quan là “nước lã” và kích thích lời nói yếu không đúng với thực tế là “nước ngọt”, như vậy kích thích lời nói yếu đã thắng. Bằng những tác động của ám thị lời nói vào thần kinh, tâm lý nên đã điều khiển được con người theo thuật của thôi miên.
Ám thị chỉ có hiệu lực khi nào nó không mâu thuẫn với bản chất con người của người bị thôi miên, những nguyên tắc về cuộc sống và luân lý nói chung của người đó. Cho nên mối nguy hại rất ít. Người ta không thể dùng thôi miên để buộc một người phải phạm trọng tội, phải thay đổi chính kiến, lòng tin hay thế giới quan đã được xây dựng vững chắc.
Thôi miên là thuật của tâm lý, tâm thần kinh, đặc biệt là hoạt động của bộ não, nên cần có hiểu biết khoa học về tâm lý, sinh lý con người. Luật pháp Liên Xô cũng cấm những người không học y khoa thực hành thôi miên, thực hành chữa bệnh, nâng cao sức khoẻ, nhất là tâm thần để tránh những hậu quả xấu do thôi miên gây nên.”
Thực tế trên thế giới và ở Việt Nam đã từng có hiện tượng ám thị, thôi miên.
Rôkhơlin đã miêu tả về một nữ bệnh nhân người Nga, 63 tuổi vào điều trị tại bệnh viện thần kinh của giáo sư Platônốp như sau: “Bệnh nhân cảm thấy bệnh càng nặng thêm trong vòng 4 năm, kể từ khi trong một giấc chiêm bao, bà thấy có một phụ nữ mặc áo dài xanh lơ đã nói với bà rằng: “Chị sẽ chết vì một cơn đau tim!”. Khi tỉnh dậy bà thấy đau ở tim, sợ sệt, lo âu và cứ bị giấc chiêm bao ám ảnh, làm cho bà không tài nào lo công việc gia đình nữa và ý nghĩ tự tử cứ ám ảnh trong đầu.
Tìm hiểu về lai lịch hình thành giấc mộng, dẫn đến căn bệnh của bà, cho thấy những người mê tín dễ bị ám thị. Đó là cách 25 năm về trước, bà đã gặp một mụ bói bài tây. Sau khi nhìn vào lá bài, mụ nói giọng cả quyết: “Chị sẽ chết vì một cơn đau tim! Tim của chị giống như mạng nhện, chỉ cần một cái hẩy nhẹ là chị không còn sống nữa!”. Bà đã trả lời là tim của mình rất tốt, không một lý do gì phải sợ cả. Nhưng mụ bói bài tây nhấn mạnh: “Hiện giờ tim tốt, nhưng sau này nó sẽ đau, tôi không nhầm lẫn trong lời tiên đoán bao giờ”. Khi về dọc đường, lần đầu tiên bà cảm thấy tim mình thắt lại, yếu mệt toàn thân và buồn phiền. Bà đã mất ngủ suốt một tháng và luôn luôn nghĩ đến cái chết. Bà nói rằng: “Chỉ vì sự gặp gỡ tai hại ấy với mụ bói bài mà tôi phải sống như trong mây mù suốt 25 năm qua, do sự ám ảnh không dứt!”.
Giáo sư Platônốp đã chứng minh rằng sau khi bệnh nhân được thôi miên một cách chu kỳ, những mối lo sợ, những ý nghĩ cố định, ám ảnh đã mất đi trong thời gian dài. Lần sau vào lại khoa thần kinh của bệnh viện, bà lại phải qua 6 đợt ám thị và sau một tháng rưỡi điều trị, bệnh nhân đã xuất viện khoẻ mạnh. Bà tiếp tục được thầy thuốc theo dõi trong vòng một năm rưỡi và thấy luôn luôn khoẻ mạnh. Không còn triệu chứng như xưa nữa.
Thôi miên còn đánh thức dậy tiềm năng, trí nhớ và sự tưởng tượng, ám ảnh trong con người. Thôi miên có thể đưa con người vào giấc ngủ, khơi dậy tri thức và điều khiển cảm xạ thần kinh. Chỉ bằng âm điệu lời nói, người thôi miên có thể ám thị khiến người bị thôi miên nói lên những điều do người điều khiển thôi miên chỉ dẫn, trả lời, kể nể, đi hay đứng, cứng đờ, bất động hay mềm nhũn, ly bì…
Theo bài viết “Nhà thôi miên Nguyễn Mạnh Quân”, tác giả Phạm Ngọc Dương miêu tả về thực nghiệm thôi miên của ông cho một cô đồng nghiệp là phóng viên như sau:
“Để chứng minh cho cơ thể con người là một bộ máy phức tạp, kỳ lạ nhất, anh đã thử nghiệm sức mạnh cơ thể. Anh yêu cầu đồng nghiệp nữ của tôi đứng dậy, nhắm mắt và thư giãn. Anh nâng cánh tay cô lên, nói vài câu ám thị, rằng cô có một sức mạnh mãnh liệt. Nói xong, anh gọi tôi đến, đề nghị tôi ấn tay đồng nghiệp xuống. Kỳ lạ thay, tôi lấy sức ấn xuống, cánh tay lại bật lên. Cánh tay yếu đuối của cô bỗng khoẻ một cách kỳ lạ, tưởng chừng có thể đeo được vật nặng vài chục kg. Nhưng khi anh nói câu ám thị khác, thì cánh tay đó liền rơi thõng xuống, cô không còn chút sức lực nào.
Sau khi yêu cầu cô đồng nghiệp của tôi thư giãn, bằng vài câu nói đơn giản, cô đồng nghiệp của tôi mất dần ý thức. Anh Quân nói: “Bây giờ, em sẽ không còn tên nữa. Em sẽ không có tên gì cả”. Nói rồi, anh yêu cầu cô mở mắt và hỏi cô tên gì, cô lắc đầu bảo không biết tên mình là gì cả. Thú thực, tôi sửng sốt về hiện tượng kỳ lạ ngay trước mắt. Cô bạn đồng nghiệp thông minh, sắc sảo của tôi mất sạch trí nhớ, quên cả tên mình.
Anh Quân bảo, còn nhiều hiện tượng lạ hơn nữa. Anh bảo cô, đại loại là: “Trước mắt em là một không gian rộng lớn, bằng phẳng, không có một vật gì cản trở, em hãy đi lại một cách tự do”. Vừa nói xong, cô bạn tôi bước đi, liền va vào đủ thứ, ngã dụi. Theo anh Quân, khi anh nói vậy, lập tức cô không nhìn thấy thứ gì cả, trước mắt là không gian rộng lớn, đẹp đẽ, nên cứ thế rảo bước, nên mới vấp ngã.
Để thử nghiệm ngược lại, anh đưa cô bạn tôi ra hành lang và nói rằng, xung quanh có rất nhiều thứ, cần phải đi lại cẩn thận. Thế rồi, dù hành lang chẳng có vật gì, cô cứ nhón chân từng bước, đi quanh co, né tránh những thứ vô hình.
Điều kỳ lạ hơn nữa, là khi anh truyền ám thị rằng, có một con mèo rất đẹp, cô liền đưa tay bế mèo, thơm mèo, rồi nâng niu, nựng nịu như thể bế mèo thật, rồi cho nó đi tiểu, cho nó ăn. Khi anh nói có cô bé dễ thương, cô liền bồng đứa bé và hôn hít, ru ngủ ầu ơ. Nhìn cô bạn tôi lúc này đúng là đang bị tâm thần nặng.
Để tôi thấy sự kỳ lạ hơn nữa, anh Quân liền truyền ám thị rằng, trước mắt cô là con voi của Hai Bà Trưng, rồi anh yêu cầu cô tả con voi đó. Lập tức, cô bạn tôi tả kỹ lưỡng, chi tiết, hình dáng, độ lớn, sự dũng mãnh của con voi do Hai Bà Trưng cưỡi đi đánh giặc. Cô còn kể hai nữ tướng đánh giặc ra sao, hùng dũng thế nào, cứ như thể cô đang trực tiếp đứng xem hai nữ tướng ra trận.
Sau khi bắt cô bạn tôi diễn đủ trò để tôi hiểu, thì anh đưa cô bạn tôi về thực tại, tức là đưa ý thức trở về điều khiển cơ thể.
Theo lời anh Quân, khi anh đưa ra ám thị, nói đến thứ gì, lập tức bộ não của người bị ám thị sẽ “vẽ” ra hình ảnh đó. Hình ảnh sinh động đến mức y như thật, khiến con người không thể phân biệt được. Nếu anh đưa ra ám thị vào cô bạn tôi, rằng cô là liệt sĩ A nào đó, lập tức cô sẽ là liệt sĩ A, nếu nói cô là Bà Triệu, đưa cho cô thanh đao, thì cô cũng sẽ múa đao, điều binh khiển tướng y như Bà Triệu!”.
Những thực nghiệm khoa học đã chứng minh rằng, thôi miên là khoa học về não bộ, thần kinh và tiềm thức con người. Nó phải qua quá trình thư giãn vào vô thức để tiếp nhận của thuật ám thị. Khi ức chế của não bộ trong điều kiện chưa hoàn toàn thì tác động của ám thị sẽ kích hoạt tâm thức con người hướng theo ám thị. Cũng như các ức chế và phản xạ khác, vai trò của bộ não quyết định mọi phản xạ, tư duy và hành vi của con người. Nó khác với bệnh mộng du tự nhiên, mà có sự tác động của yếu tố ám ảnh, ám thị.
Thuật thôi miên, không phải bất cứ ai cũng làm được. Đây là loại khả năng đặc biệt, chỉ có ở một số người và cũng phải có hiểu biết về năng lực đặc biệt này. Ám ảnh về tâm lý, thần kinh không những sinh ra bệnh tật mà còn là nguyên nhân nảy sinh mê tín dị đoan. Như trường hợp bệnh nhân do ám ảnh bệnh tim, cho đến khi thành bệnh thật sẽ cho là mụ bói bài tây tiên đoán đúng! Ám thị làm chuyển hoá tâm thức, sinh lực của cô phóng viên lại cho thấy ức chế và cảm xạ qua não bộ con người tạo ra những chuyển hoá tâm thần và thể chất rất đặc biệt làm thay đổi tâm thức, hành vi của con người. Khi ám thị tác động vào thì những ám ảnh trong tiềm thức trí nhớ và thực tại được chọn lọc thực hiện mà thành những lời nói, hành vi đáp ứng cho ám thị của thôi miên.
Ám ảnh có tác động rất lớn để tái hiện, chỉ huy lời nói và hành vi trong thôi miên. Các nhà nghiên cứu về Tâm thần học Liên Xô chia các hiện tượng ám ảnh ra hai thể: Thể trừu tượng và thể hình tượng.
Thể trừu tượng, có những suy nghĩ vẩn vơ, ám ảnh tính toán, nhớ lại những tên họ, thuật ngữ, định nghĩa bị quên đi, phân tích các tiếng thành những âm vận riêng. Ám ảnh thuộc loại này giới hạn ở những động tác tư duy, chủ yếu trong phạm vi trừu tượng, đi đôi với thái độ tương đối bàng quan đối với nội dung của nó.
Thể hình tượng, có nội dung xúc cảm, thường là rất nặng nề. Ám ảnh thuộc loại này gồm: Ám ảnh hồi ức, kèm theo cảm giác không gìm nén được. Ám ảnh ác cảm, những ý nghĩ dèm pha, thoá mạ, có đặc điểm xảy ra ngoài ý muốn, trái với ý thức, không đúng sự thật. Ám ảnh ham muốn, có khi trái với lý trí và thường nguy hiểm. Ám ảnh sợ, không thể kìm hãm được, khó khắc phục. Ám ảnh nghi ngờ, trái với ý muốn, lý trí và không gạt bỏ được.”
Những ám ảnh, kể cả tốt lành hay sợ hãi trong tâm trí con người từ quá khứ và hiện tại là “kho tư liệu” phong phú, đa dạng được huy động tái hiện cho thôi miên trở nên ly kỳ, hấp dẫn và đầy huyền bí.
Chính do các yếu tố tâm thần, nên thôi miên không đúng khoa học hoặc làm bừa bãi sẽ gây ra bệnh thần kinh rất khó chữa. Nhiều khi thôi miên chỉ là bệnh hoang tưởng của một số kẻ ngộ nhận là “người đặc biệt” thử nghiệm trên con người và gây ra mê tín dị đoan. Ngoài mục đích khoa học để chữa bệnh, tăng cường sức khoẻ thì không nên lạm dụng thôi miên bừa bãi sẽ vô cùng có hại, gây hoang mang, sợ hãi cho cuộc sống cộng đồng.
Các nhà khoa học đã nghiên cứu, ứng dụng kỹ năng thôi miên và tâm lý vào chữa bệnh cho con người mang lại kết quả khá tốt, tránh được những hậu quả đau lòng do những ám ảnh tâm thần gây ra.
Thôi miên cũng là một trong những hội chứng của thần kinh, tâm thần học. Vì thế, nó cũng dễ trở thành bệnh tâm thần khó chữa, nếu không có bản lĩnh, hiểu biết và thực hành đúng khoa học. Cũng cần cảnh tỉnh với những người mê tín trở nên sợ hãi trước sự huyền bí của thôi miên mà cho là thần hành, ma ám.
Tuy nhiên, thôi miên cũng chỉ có tác dụng với người đi vào thư giãn hoàn toàn và không kiểm soát được ý thức của chính mình. Còn đối với người không tin ở thôi miên, chỉ số thông minh cao, tỉnh táo, có sức mạnh tinh thần, ý thức tự vệ tốt, kháng lại ám thị thì không thể thôi miên được họ. Kể cả tại lớp học thôi miên cũng có người không những không bị thôi miên mà trong quá trình thực hành, họ làm một giấc ngủ ngon lành, sau đó tỉnh dậy ra về, trong khi trong lớp học đang có những người bị thôi miên qua ám thị.
Bóng đè
Bóng đè là hiện tượng một người đang nằm ngủ mơ màng, bỗng thấy bị khó thở, cảm giác chết ngạt, rồi như có một lực nào đó đè chặt cứng mình, không thể nào cựa quậy được. Dù có mơ màng biết, nhưng cố gắng trở mình, vùng dậy cũng không được, miệng kêu lên ú ớ, mong có người cứu giúp mà chẳng thành lời. Cứ thế có khi kéo dài một lúc rất lâu thì tự nhiên trở được mình, tỉnh giấc, hoặc vì kêu lên ú ớ mà người khác đến lay gọi tỉnh lại, thấy thân thể rã rời, mệt nhọc, sợ hãi. Vì trong cơn mê cảm thấy như có ai vô hình đè mình xuống nên có cảm giác “bóng đè”. Hiện tượng này diễn ra ở một người trong đêm, ngay cả trong giấc ngủ bất kỳ lúc nào ban ngày, có khi một lần, nhưng cũng có khi lặp lại nhiều lần trong giấc ngủ, cứ gọi tỉnh lại, sau đó ngủ lại bị “bóng đè”.
Qua cơn “bóng đè”, thường gây cho người ta khó hiểu, nhiều khi rất sợ, có người còn mơ thấy những điều không bình thường mà cho đó là ma quỷ và coi thoát được “bóng đè” là đã thoát chết!
Tác giả Cao Lâm, trong bài viết “Bác sĩ giải mã những giấc ngủ bị “bóng đè” cho biết:
“Tại trung tâm Chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, thành phố Hồ Chí Minh, sau khi được kiểm bằng máy đa ký giấc ngủ cho các bệnh nhân có hiện tượng nhiều lần ngưng thở và bị “bóng đè” thấy có biểu hiện của chứng rối loạn giấc ngủ. Các bác sĩ xác định, lúc vừa vào giấc ngủ nhịp tim của họ thi thoảng loạn nhịp và lưu lượng khí bất bình thường, bệnh nhân có nhiều thời điểm ngưng thở.
Bác sĩ Nguyễn Xuân Bích Huyên, chuyên gia nghiên cứu về giấc ngủ, thuộc Trung tâm chăm sóc sức khoẻ cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh, khẳng định, hội chứng ngưng thở hoặc bất ổn định nhịp tim trong khi ngủ chính là nguyên nhân chính khiến người bệnh có cảm giác bị “đè”.
Hội chứng này làm cho bệnh nhân ngưng thở thường xuyên trong khi ngủ, gây xáo trộn cân bằng giữa Oxy và CO2 trong máu. Não cảm nhận được giảm Oxy và sự tăng CO2 này nên cho tín hiệu xuống để kích thích bệnh nhân thở lại và bệnh nhân thức giấc, đường thở mở ra lại để CO2 thoát ra ngoài và cho Oxy vào. Các đợt thức giấc cần thiết để bệnh nhân thở trở lại và cứu sống bệnh nhân, nhưng lại làm giấc ngủ bị gián đoạn nhiều lần.
Nguyên nhân dẫn đến chứng ngưng thở thường do vòng cổ lớn ở người béo phì, lưỡi to, cằm lẹm, hàm dưới nhỏ, vẹo vách ngăn mũi, polips, amidan to…
Giáo sư, tiến sĩ Võ Văn Tới, trưởng khoa Kỹ thuật - Y sinh, trường Đại học Quốc tế, thành phố Hồ Chí Minh thì cho rằng, hiện tượng bị “cứng người”, bị “đè”, hoặc bị “bóng đè”, ngoài nguyên nhân hệ tim mạch, hệ hô hấp, thần kinh không tốt, bệnh nhân còn có thể đã hoạt động gắng sức trong ngày, bị stress, hoặc tư thế nằm không phù hợp.”
Thưc tế, nhiều người có sức khoẻ rất tốt mà vẫn bị “bóng đè”. Khi trận “bóng đè” đang diễn ra, họ cũng mơ màng biết, cứ gắng vùng vẫy, cựa quậy và rất muốn kêu lên thật to gọi người đến cứu. Thế rồi cố mãi, tự nhiên động đậy được mình, hoặc có người đến gọi, rồi lật người nằm nghiêng đi là hết.
Có trường hợp, khi chuyển đến nơi ở mới hoặc nằm ngủ ở một nơi nào đó cứ hay bị “bóng đè”. Các chuyên gia cho rằng có thể người đó bị dị ứng hoặc ngạt bởi mùi sơn, mùi đồ đạc, mùi ẩm mốc mà chưa quen. Đây có thể còn là địa khí nơi đó không hợp với từng người, ảnh hưởng vào thể chất mà sinh ra. Khi lặp lại nhiều lần, tất sinh sợ hãi, khó ngủ sinh ra ảo giác, lại cho là nơi ấy có ma.
Thế là người ta nghĩ ngay đến việc khắc phục bằng cách đặt dao kéo ở đầu giường để trấn tà ma. Tác dụng của sắt đến sự ổn định ion, điện trường trong cơ thể đồng thời đây cũng là đòn tâm lý, trấn an thôi. Điều mà các chuyên gia khuyên là nên tìm đến nguyên nhân để mà chữa trị. Trước hết là tư tưởng phải vững vàng, thoải mái, lành mạnh, rồi thay đổi tư thế nằm ngủ tránh gây ra rối loạn giấc ngủ, nhất là nằm nghiêng, không bị ép vùng tim thì giấc ngủ ngon, rất ít khi xảy ra hiện tượng “bóng đè”.
Báo Thanh niên đăng tải bài viết của Hạo Nhiên về “Những hiện tượng bóng đè được giải thích dưới góc nhìn của khoa học, đồng thời mở ra hướng điều trị cho chứng rối loạn giấc ngủ” cho biết:
“Trong suốt giai đoạn đầy mộng mị của giấc ngủ, các cơ bắp của chúng ta trở nên cứng đờ, ngăn cản cơ thể phản ánh các hành động diễn ra trong não. Giờ đây, các nhà khoa học tuyên bố đã tìm ra các chất hoá học giúp giữ yên cơ thể trong lúc nạp năng lượng vào buổi tối, có khả năng hỗ trợ công tác điều trị tình trạng rối loạn giấc ngủ.
Các hoá chất não bắt đầu phát huy tác dụng trong giai đoạn gọi là REM, tức khoảng 90 phút sau khi ngủ. Trong khi REM diễn ra, hoạt động của não hết sức kích động, và các giấc mơ đạt mức cao trào. Tuy nhiên các cơ chủ động của cơ thể từ tay, chân, ngón tay, bất cứ phần cơ thể nào được kiểm soát khi thức, đều bị tê liệt. Trạng thái này giúp giữ con người nằm yên trong khi não ra sức kích hoạt mạnh mẽ. Đó là lý do một số người đôi khi trải qua cảm giác bị bất động khi ngủ, hay khi thức giấc rồi nhưng các cơ vẫn trong tình trạng đông cứng, dân gian gọi là “bóng đè”.
Các chuyên gia Patricia Brooks và Jeever của Đại học Toronto (Canada) đã tập trung nghiên cứu vào hai loại thụ quan thần kinh khác nhau ở cơ chủ động, gồm GABAB và GABAA/glycine. Theo đó, tình trạng tê liệt khi người ngủ cần phải có sự góp sức của hai thụ quan này. Việc xác định được quá trình hoạt động của các chất truyền dẫn thần kinh hết sức quan trọng đối với những người bị chứng rối loạn giấc ngủ, đặc biệt là rối loạn hành vi trong giai đoạn REM, điều đó có ý nghĩa bệnh nhân hành động như đang mơ, nói chuyện, đấm đá trong giấc ngủ. Nghiên cứu này hy vọng sẽ cung cấp thông tin để tìm ra liệu pháp chữa trị hiệu quả, vì 80% số trường hợp rối loạn REM sẽ dần phát bệnh thoái hoá thần kinh, như chứng Parkinson”.
Bùa mê dân tộc
Xưa kia, do mưu sinh mà nhiều người miền xuôi lên miền ngược làm ăn. Sống ở miền núi, uống nước suối, ăn rau rừng, mà nước suối từ trong mạch núi chảy ra mang theo đủ tạp chất, cây cỏ, lá rừng thối rữa làm sao không độc hại. Người không quen, ăn uống vào chắc chắn sinh ra bệnh tật. Thời buổi còn rất khó khăn, người ngủ không có mùng màn làm mồi cho muỗi đốt. Vì thế nhiều người sốt rét, ốm đau, thuốc men lại hiếm mà chết nơi rừng thiêng, nước độc. Người có sức khoẻ về được thì thân tàn ma dại, mang theo những cơn sốt rét kinh niên, mặt bủng, da chì do viêm gan, suy thận. Mọi người không hiểu lại nghi hay là ăn phải bùa phải bả. Gặp mấy thầy mo, thầy cúng thì đúng là ma làm, bùa ém thật rồi!
Người khoẻ mạnh chịu được ở núi rừng, quá trình sinh sống với đồng bào dân tộc được bà con giúp đỡ, có khi coi như người của gia đình. Người dân tộc thiểu số vốn thật thà và tin vào tín ngưỡng, phong tục tập quán, tà ma. Nhiều lần lên và ở lâu với bà con, người xuôi cũng rành nếp sống dân tộc miền núi và tình cảm cũng dần thành thân thuộc. Tình thân càng thêm gắn bó, những cô gái dân tộc duyên dáng trong trang phục lộng lẫy, dịu dàng, làm cho lòng người xao xuyến, duyên bén như thôi miên với cảnh với tình. Khi tình đã nở, khi duyên đã đẹp càng thêm say đắm mặn nồng, người thì ở lại rồi nên hạnh phúc. Người còn giăng mắc duyên nợ dưới xuôi phải về, nhưng lòng lại nặng với nghĩa tình nơi xa mà ngày đêm tương tư, thương nhớ. Mấy ai hiểu được sức mạnh thần kỳ của tâm hồn đa cảm đa sầu, tâm can da diết yêu thương? Thế là có người vì thôi thúc con tim hoặc chán vì mâu thuẫn gia đình lại ra đi tìm tới nơi đêm mong, ngày nhớ. Có người không đi được nữa mà sinh âu sầu, nghĩ ngợi, suy tư, ngày không ăn, đêm ít ngủ rồi như người tha thẩn, mất hồn. Có người còn nói ra mồm hoặc trong mơ cứ nói muốn đi lên rừng, lên núi, thành nghi hoặc ăn phải bùa, uống phải bả hay bị người dân tộc “chài” rồi.
Vì thế, những ám ảnh, si mê và thiên hướng thái quá như thôi miên mà thành hiện tượng mồi, chài, đầu độc, ém nhử.
Trong phóng sự “Bùa yêu ở chốn thâm sơn cùng cốc” của Hà Linh trên báo “An ninh thế giới” số 1.205, năm 2012, nói về một số hiện tượng mắc phải “Bùa yêu” ở các bộ tộc ít người, vùng đại ngàn Trường Sơn, phía Tây Quảng Trị và những giải mã bí mật của một số người hiểu biết về bùa ngải:
“... Ông Nguyễn Quang Tám nguyên là cán bộ huyện Hướng Hoá từng được một thầy, người dân tộc Vân Kiều, dạy cho cách “thôi miên” và các loại “bùa ngải”. Ông nói về “bùa yêu” rằng: Đó là chuyện bình thường đối với những bộ tộc ít người ở Trường Sơn. Theo ông, “Bùa yêu” có hai dạng. Thứ nhất là sử dụng thuốc để bắt người khác phải yêu mình, quấn quýt với mình. Cách này chỉ có tác dụng tức thời, tối đa là vài tháng, sau đó thuốc không còn tác dụng. Thường thì người bỏ “bùa yêu” dùng thuốc là thứ được lấy từ các rễ cây, tán thành bột rất mịn và rất bí mật, rồi cho vào áo, sau đó rũ áo này trước mặt người cần bỏ bùa. Chỉ cần ngửi, hít phải loại bột này, người đó lập tức trở nên lú lẫn, làm việc một cách vô thức theo những gì người khác chỉ bảo. Dạng thứ hai, ít gặp hơn, đòi hỏi có kỹ thuật cao, qua quá trình công phu luyện tập, điều khí trong cơ thể... Người bỏ bùa chỉ cần nhìn vào mắt của người mà họ cần bỏ, lập tức người này không còn làm chủ được bản thân, đi theo sự lôi kéo, đề nghị của người kia (?). Dạng này hiện nay chỉ còn rất ít.
Ông Tám lưu ý, cũng không loại trừ những trường hợp chồng theo “gái”, vợ theo “trai” rồi đánh lừa nhau bằng sự huyễn hoặc của “bùa yêu”. Bằng sự hiểu biết của mình, ông đã nhiều lần giúp những người “bị hại”, vạch mặt đối tượng lừa phỉnh người thân, hướng dẫn họ nhờ vào pháp luật, chính quyền, ngành chức năng xử lý vụ việc.
Còn ông Hồ Nợt, dân tộc Vân Kiều, người biết thuật “bùa yêu” cho biết: Người bỏ bùa dạng hai, bên cạnh khả năng điều khiển người khác theo ý mình, còn có một khả năng đặc biệt khác là làm cho người bị bỏ bùa luôn coi người bỏ bùa như thần tượng. Để có được khả năng này, người học “phép thuật” phải thực sự kiên trì, trải qua thời gian tu luyện kéo dài 5 đến 10 năm. Mỗi khi bỏ bùa, các luồng chân khí vận hành, phát ra khoanh vùng, tác động tới vận khí từ trái tim người bị bỏ bùa, gây nên khao khát, ước muốn mãnh liệt mà muốn người kia là người của họ (!?). Theo ông Nợt, việc này có thể chấp nhận được. Còn dùng “thủ thuật” để thoả mãn thân xác với người khác là điều hoàn toàn không nên làm. Ông còn cho biết về việc bỏ bùa, ngải hại người khác, như dùng nhiều loại thuốc độc được chế biến từ rễ cây, lá cây rừng và râu con hổ nuôi trong cây măng rừng là không nên làm, cần phải loại bỏ”.
Qua đó thấy rằng “bùa, ngải” của người dân tộc cũng chỉ là cách dùng thuốc và thủ thuật thôi miên hoặc huyễn hoặc của những thầy bùa mà thôi. Thực tế, chủ yếu chỉ xảy ra ở những người bản lĩnh kém, ít hiểu biết và đã bị si mê mà sinh ra ảo giác, hoang tưởng tinh thần. Chứ đối với những người bản lĩnh, hiểu biết thì mọi thủ pháp của thầy bùa đều vô tác dụng và trở nên hoang đường, lừa bịp.
Người đi, người đến nơi đâu là lẽ thường tình. Tình yêu sét đánh, mê mẩn tâm hồn lại là duyên nợ. Bà con chân thật, làm ăn, trong sáng vô tư, có ai biết bùa ngải là gì, xưa nay chẳng ai biết làm bùa ngải bao giờ. Có chăng chỉ là mấy “Thầy Bùa”, “Thầy Mo” còn sót lại ở thời mới vẫn dùng phép “bùa”, “bả” cổ xưa để mê hoặc, doạ nạt người dân mê tín. Ấy thế mà người đời cứ dựng đặt hoang đường, vu tiếng oan cho là người dân tộc làm bùa chài, bùa nhử. Người có bản lĩnh và liều thì ở cả hai nơi mà có bùa chài, ma ám gì đâu. Cuộc sống vẫn diễn ra bình thường, êm ái, vui tươi, tất cả là do tâm lý, bệnh tật của con người, làm gì có chài mồi, bùa ngải.
Bùa phép, Bùa chú
Xa xưa, trên thế giới đã xuất hiện bùa chú. Từ các phù thủy trong tộc người Maya ở châu Mỹ, rồi Ảrập, đến các đạo sĩ, thầy cúng, thầy mo Trung Hoa, Ấn Độ, Việt Nam “chế tác” ra và những kinh sách của nhiều tôn giáo xuất hiện các loại bùa chú.
Hình thức bùa chú có nhiều loại, căn bản gồm Kinh dịch, Bát quái, Tứ tung, Ngũ hành, Phù Thái cực đồ vẽ dựa trên Đạo đức kinh của Lão Tử về Thái cực vũ trụ, bùa Lỗ Ban về xây dựng, kể cả bùa ngải của người dân tộc thiểu số, đặc biệt là bùa chú, ấn Mật Tông được vẽ rất cầu kỳ, đa dạng, mang theo những triết lý, cùng bí ẩn những công dụng, cách dùng mà thành “Đạo bùa” được thực hành trong dân gian. Đặc điểm của những lá bùa là tổng hợp các yếu tố vũ trụ, bát quái càn khôn, dịch lý, âm dương, ngũ hành, thất tinh, nhị thập bát tú… và chốt bằng loại hình “Khâm lệnh!” thi hành rất ấn tượng. Rồi người ta gán cho nó những công năng huyền diệu như: Giúp gia đình an vui, vợ chồng hoà hợp, giao tế, tiếp xúc, xã giao, may mắn, an thai, ngăn chặn lộn kiếp, trừ tà, trị ma quỷ, giải bệnh, kiện tụng, thương mại, buôn bán, con trẻ khóc đêm, trừ ác mộng, an thần và cả dùng để hại người khác!
Cách làm bùa chú cũng được huyền bí hoá cho thêm linh nghiệm như: Sắc thủy (bỏ vào nước), chú sắc chỉ (đọc chú thổi vào giấy) rồi vẽ bùa, chú thư thần bút (cầm bút định thần, đọc chú 3 lần) hít hà hơi rồi viết, chú thân linh (đọc thầm) rồi viết, vẽ phù (khi vẽ nín hơi, đang vẽ mà hít hơi phải ngừng, sau đó lại nín hơi vẽ cho xong), chú thư vào phù (vẽ xong, hớp một hớp nước, mặt hướng về Đông, định tâm, đọc thần chú 3 lần rồi phun nước vào lá phù) viết tiếp cho xong.
Người dân tộc miền núi còn có rất nhiều cách tỏ ra bí hiểm khi làm bùa, làm Ngải và gọi bằng cái tên khác nhau: Người Thái gọi là “chài”, người Tày gọi là “Mằn”, một số dân tộc lại gọi là “hèm”… Tại các nhà chùa cũng có bùa, nhưng quan niệm của đạo Phật là từ bi nên chủ yếu là hướng tới tâm linh thánh thiện, an lành.
Công dụng của mỗi đạo bùa khác nhau, nên người ta còn nghĩ ra các cách dùng khác nhau mới có tác dụng. Loại dùng đốt, loại dùng đeo, dán, uống, nấu, thoa, rửa, nuốt. Cách làm cho từng loại cũng rất cầu kỳ và ý nghĩa cũng rất tỷ mỷ như: Đốt thì đốt từ đuôi bùa đốt lên, tro bùa còn tồn trữ khí trường, trị liệu và có cả tính âm dương. Bùa đeo thì gấp theo hình bát quái ép cho vào túi đeo vào người, hiệu lực mạnh có thể kéo dài nhiều tháng, có khi vài năm. Bùa dán vào đồ vật, hoặc đốt thành tro trộn với thuốc đông dược dán vào chỗ bị bệnh. Bùa uống thì cho vào ly đốt cháy rồi đổ nước âm dương thủy (nước giếng và sương hay nước mưa) cho lắng xuống rồi uống. Bùa nấu thì nấu với nước sạch hoặc cho thêm vị thuốc vào nấu. Bùa thoa thì đốt thành than, cho nước âm dương thủy vào rồi dùng kiếm ấn hay kim cương chấm vào thoa từ đầu xuống khắp cơ thể, hoặc phun vào chỗ bệnh. Bùa rửa cũng đốt rồi cho nước âm dương vào để tắm rửa. Bùa nuốt thì bỏ vào miệng mà nuốt…
Bùa Thái Công lại liên quan đến một bảo bối “Roi đả thần” của Khương Tử Nha (còn gọi là Khương Thái Công), thời nhà Chu ở Trung Hoa, mỗi khi vung ra là thần tiên phải khuất phục và ma quái đều khiếp sợ. Bùa Thái Công là “Bùa Tứ Tung Ngũ Hoành” vẽ trên tờ giấy hình 5 vạch ngang, 4 vạch dọc cắt nhau theo trục tung hoành. Dưới đề chữ “Khương Thái Công tại thứ” (Khương Thái Công hiện ở đây). Bùa thường được dán trước cửa nhà vào đầu năm hoặc làm bằng tre treo lên cây nêu ngày Tết. Khi đi làm gì hoặc vì công việc mà phải đi, không chọn được ngày giờ tốt thì hoá giải bằng cách vẽ hình bùa Thái Công ở cổng, đọc câu thần chú: “Tứ tung xuất hành, Ngô Công xuất hành, Vũ Vương vệ đạo, suy vưu tỵ bính, đạo tặc bất đắc khởi, bổ lang bất đắc sấm, hành vi qui cố hương, đương ngô gia tử, bội ngô giả vương. Cấp cấp như luật lệnh”. Đọc xong, nện gót chân vào chính giữa chỗ vạch, lấy hòn đá đè lên rồi đi thẳng, không ngoảnh lại, để cầu may, mọi sự sẽ tốt lành.
Còn các loại bùa ngũ sắc làm bằng các hạt mùi thơm, các thứ quả màu ngũ hành, hùng hoàng cho vào túi thắt bằng chỉ ngũ sắc đeo trước ngực cho trẻ ngủ yên, không quấy khóc.
Như vậy, “bùa” (phù) là cách viết, vẽ và “chú” là lời nói (loại ngôn ngữ bí mật, có thể đọc thành tiếng hay đọc thầm, hoặc chỉ nghĩ trong tâm gọi là Mật thanh thần chú hay Mật tâm thần chú) được làm thành “Bùa chú” (còn gọi là Linh phù, tức là Bùa linh thiêng) mà trở nên tác dụng cho đời sống dương gian!
Người ta bịa ra cái “Bùa” rồi thần thánh hoá hoặc gán cho nó một năng lực siêu phàm hoặc ma lực rất ghê gớm. Cứ nói đến bùa là con người sinh ra trạng thái vừa mừng vừa sợ vừa pha lẫn nghi ngờ. Để trấn an thì tin đã có bùa dán, bùa “yểm” vào rồi, tất sẽ thành linh nghiệm. Đó là giải pháp của người xưa hướng thiện cho tâm linh con người. Nhưng cũng nảy sinh những điều kỳ bí xung quanh chuyện bùa chú.
Đã là bùa thì phải ly kỳ, bí hiểm, chứ để cho ai biết là mất linh thiêng!? Kể cả việc làm bùa và truyền nghề làm bùa cũng thành bí mật. Người ta bảo người làm bùa là phải có đức, có tâm, chứ không thì vô cùng tai hại, và không phải bất cứ ai cũng có thể truyền nghề. Có thầy bùa bảo rằng, một năm chỉ truyền nghề có một lần bí mật vào thời khắc giao thừa sắp sang năm mới và chỉ dạy một loại thôi, sang năm mới dạy loại khác. Nếu không chọn được ai truyền nghề thì ở ẩn và chết mang theo.
Thầy cứ bịa ra, cứ thần thánh hoá nó lên, ma quỷ hoá nó ra và úp úp, mở mở càng làm cho tâm linh thêm mơ hồ, khó hiểu. Thế là cái ống tre đã vót nhọn, nút kín, không được cho ai xem, cứ thế bí mật đem đóng vào góc nhà, ngoài cổng, góc mộ mà trấn trùng tang. Cái gói này đã làm kỹ lắm và thầy cầm vái lên vái xuống, bắt quyết, soi gương rồi bảo đem chôn xuống góc nền nhà phía Đông, hoặc phía Tây, yên tâm mà ăn ở. Còn cái vo tròn nho nhỏ bằng giấy bản thì cho vào chén nước cho trẻ uống là hết quấy khóc, trợn mắt, co giật. Làm túi tỏi nhỏ hoặc cái vòng bạc cho trẻ đeo vào cổ để kỵ gió, chống ốm đau. Và còn rất nhiều phép thuật làm cho bùa có công năng kỳ diệu. Được thầy cho bùa là an tâm, đã thấy vơi lo âu đi một nửa. Cuộc sống an bình thì đúng là linh nghiệm, nhưng có biến cố bất thường lại đổ cho căn quả chưa xong mà cuống lên đi cầu cúng giải hạn.
Người ta còn kỳ bí hoá mấy đồ vật quý hiếm, khó tìm như Mã não, Trân châu, San hô… cho vào bát hương để thêm “linh thiêng”, hoặc vị thuốc A nguỳ làm bùa “trị quỷ” cho thật thần thông, hiệu nghiệm!?
Đặc biệt là bịa ra phép “yểm” gây ra thần bí, hoang đường làm cho con người lo sợ! Thật ra là ám ảnh vào tư tưởng, tâm thức con người mà sinh hậu hoạ. Còn cứ bắt thầy đưa bùa cho mở ra xem thì chỉ là mấy thứ đồ vật mà thôi. Bỏ đi cũng chẳng sao, thế nhưng nói “yểm” vào rồi, cấm được mở ra là người mê tín cả tin rất sợ hãi.
Sợ nhất là chết phải “Trùng tang” thì phải “yểm bùa”. Khi thầy phán rằng chết “phải trùng” rồi là sợ hết hồn. Khi đến nhờ thầy làm phép yểm trừ cho, thầy liền ra đòn một câu rất nghiêm trọng rằng: “- Cái này phải cẩn thận đấy, chỉ có ở đây mới đủ thuốc trừ. Phải yểm ngay để chặn trừ trùng tang!”. Với “câu chú” (chú là câu nói, lời dặn có thể là khuyên bảo hoặc đe doạ) mang tính huyễn hoặc, ma mỵ càng tâng thầy lên huyền bí cao tay, đồng thời làm cho gia chủ càng lo sợ, bái phục. Thế rồi thầy bảo kiếm hai cái đinh thuyền (không có thì dùng đinh sắt to cũng được) và thầy gói cho hai gói mà thầy gọi là “thuốc trừ”, trong đó có khoảng một thìa bột thuốc thơm, một túm chỉ màu, một ít thuốc vụn màu đen xám (thầy bảo là máu người?). Tất cả thuốc và đinh được gói vào mấy tờ giấy bùa màu vàng của nhà chùa (đúng ra phải là “Linh phù phán hung biến cát” Mật Tông).
Khi làm việc này, các thầy thường dấu kín, không cho ai nhìn thấy và bảo cấm mở ra, mở ra là mất linh nghiệm! Làm xong bùa, thầy bảo đưa về, một gói cho vào ống tre đóng sâu xuống mộ, một đem chôn trước cổng nhà. Nhưng việc này phải nhờ người khác họ làm thật bí mật, không cho ai biết, khi đi một lối, khi về một lối mới được! Có thầy còn bịa ra bảo bắt con cóc, lấy đinh đóng cho nó ngậm miệng lại và đem chôn cùng bùa ở đầu ngõ, cho khỏi “cóc chết ba năm quay đầu về núi” để “cấm Trùng” về bắt người!?
Nghe thầy làm bùa và chú (nói doạ) gia chủ rất run sợ, răm rắp làm theo. Nhưng khi hỏi mấy thứ ấy tác dụng cụ thể thế nào, thầy cũng chỉ nói đại khái theo lối duy tâm mù mờ, chứ có phân tích được khoa học gì đâu? Thực ra chỉ là đòn tâm lý, cộng với mấy thứ làm tăng công năng an tâm tư tưởng mà thôi. Đinh sắt có tác dụng với điện trường và lại nhọn với hình tượng cắm xuống càng tăng giá trị trừ khử. Thuốc thơm là mấy vị thuốc (ngũ vị hương) có ý nghĩa trừ ám khí. Cái mà thầy gọi là máu người là A nguỳ được cho là có sức mạnh trị quỷ (vì nó rất tanh nồng nên đàn bà có thai không được cầm vào dễ gây nôn mửa mà sẩy thai). Có khi còn cho Nhũ Hương, Một Dược, Tam thần… mấy ai biết là cái gì cho thêm sức mạnh trừ tà. Mấy sợi chỉ là năm màu biểu tượng ngũ hành. Lại bọc vào mấy tờ giấy bùa màu vàng, in chữ đỏ, chữ đen, minh hoạ bát quái, âm dương, thất tinh, cửu tinh, nhị thập bát tú cùng dấu lệnh Ngọc Hoàng, Thượng Đế. Lại kỳ bí hoá nhờ người khác họ, bí mật đi một đường về một đường làm giúp là trấn an cho gia đình, nội tộc. Vì thế mà gói bùa trở nên có sức mạnh ghê gớm án ngữ, trừ khử ma quỷ, làm cho con người an tâm đỡ sinh hậu hoạ do nghĩ ngợi, sợ hãi triền miên gây ốm đau, thần kinh, bệnh tật, chết người mà thành trùng tang. Nếu muốn làm tăng thêm sức mạnh huyền bí, hăm doạ của bùa trùng tang còn một số thứ nữa cho vào, mà nhiều thầy cũng không thể biết.
Khi đã bấm xem trùng tang thì phải làm bùa mới yên cho gia đình con cháu. Hoặc phải tính đến chùa nổi tiếng có thuật “nhốt Trùng” mà gửi thì mới yên tâm. Còn nếu không bấm xem gì thì mặc nhiên khỏi lo bùa chú.
Thế mới có chuyện, gia đình có người chết, vì quá hiểu biết chuyện xem ngày giờ, tử vi, bùa chú, bịa đặt hoang đường, ma mị, ông chủ nhà liền tính chuyện ghi lệch giờ cho thật tốt hoặc thấy ai ra mẽ hỏi chết vào giờ nào để bấm bấm ngón tay tính toán, nhiều khi rách việc, nên ông bảo: “- Chẳng biết chết vào giờ nào, vì lúc ấy con cháu không ai ở đó!”. Mục đích là không cho mấy ông kiến thức chẳng đến đâu, mê tín dị đoan xúi bẩy, rồi lại bùa chú trấn trùng mà thêm lo nghĩ, phức tạp! Thế là mấy ông ngộ nhận rởm buông tay bấm, ngẩn người im bặt, hết hỏi linh tinh, tang lễ diễn ra bình thường, không mang theo lo nghĩ, bất an, phiền phức.
Người dân tộc Mường còn có “Bùa yêu”, do thầy bùa, thầy mo làm ra gọi là gia truyền, mà không phải thầy nào cũng làm được. Khi người nào lấy vợ lấy chồng, chỉ vợ hoặc chồng bí mật đến nhờ làm “bùa yêu” để giữ. Thầy bảo đưa cái áo mang sẵn cho thầy. Thầy mở cái áo ra, dùng ngón tay di di vào vùng ngực hay cổ áo, rồi đưa lên gần mồm lẩm nhẩm đọc “thần chú” khoảng 30 giây, không rõ lời và chẳng biết thầy nói cái gì (cách làm này thầy mo gọi là mèm). Làm xong, thầy đưa trả lại chủ và bảo: “Được rồi đấy, về mà sinh sống làm ăn. Nó (chồng hoặc vợ) không đi với ai đâu”. Nhưng có khi chồng “phải lòng” yêu người khác đi không về, vợ lại đến thầy nhờ giải “bùa yêu”. Thầy bảo, cứ ngồi chờ để thầy xin xem tổ tiên có cho không? Thế là thầy đi vào trong, cầm nén hương đốt rồi giơ lên đầu khấn vái mấy cái. Quay ra thầy bảo: “Được rồi đấy!” và thầy lại cầm cái áo làm y như làm bùa giữ, rồi nói: “Về nhà là mấy hôm nữa nó về thôi”. Gia chủ cứ tin sái cổ, về phấp phỏng chờ. Có trường hợp về thật, thế là buà hiệu nghiệm, nhưng trường hợp chờ chẳng thấy gì thành ra thất bại. Thầy mo còn dùng cách lấy nước xoa lên người, lá cây cho sắc uống, lát gừng (gọi là ngải, cũng coi như một loại bùa)… Nhưng xét ra tất cả chỉ là phép vu vơ, tạo ra ma lực đánh vào tâm linh cuồng tín của người thiếu hiểu biết mà thôi.
Báo “Đời sống và Pháp luật” có đăng tải phóng sự nhiều kỳ của Dương Thuỵ Bình nói về chuyện bùa ngải ở miền núi Tây Bắc, trong đó nói đến vùng đồng bào Mường ở xã Tân Phú có tới 5 ông thầy bùa nổi tiếng đều làm bùa để có nhiều vợ, đẻ nhiều con và rồi đều xảy ra những cái chết kỳ lạ. Bài báo viết: “Theo thống kê của người dân Tân Phú, cứ đều đặn hai năm lại có một thầy bùa không đột tử chết thì cũng treo cổ tự tử. Vậy nên lớp trẻ ở đây không còn tha thiết với nghề làm bùa chú kiếm ăn nữa. Bên bếp lửa những đêm từ mùng 3 đến mùng 8 Tết, những đêm mà thầy bùa truyền nghề (không hiểu vì lý do gì các thầy bùa chỉ truyền nghề vào các tối từ mùng 3 đến mùng 8 Tết), mỗi năm lại vắng bóng đám thanh niên. Lớp trẻ không còn mặn mà với nét văn hoá tâm linh tổ tiên truyền lại nữa”.
Bùa mê, thuốc lú thực ra là phép an thần khi con người gặp khó khăn, hoang mang, hoạn nạn, bệnh tật. Tuy có một phần mang ý nghĩa nhân văn tạo ra sự an tâm và niềm tin cho người duy tâm, yếu bóng vía, đồng thời một phần của khoa học dùng thuốc chữa bệnh. Nhưng khi thần thánh hoá và ma quỷ hoá để lừa bịp thì trở thành không tốt, giả dối, bất lương. Vì thế mà nhiều khi dùng bùa mà hậu quả vẫn diễn ra không sao tránh khỏi.
Người xưa thường ứng dụng âm dương, ngũ hành, bát quái càn khôn, y, nho, kinh dịch, triết tự, bói toán và cả vị thuốc, ván thôi (quan tài đã chôn người chết cải lên), hoá chất để làm bùa. Tuỳ theo từng người, từng việc mà chế ra bùa, có khi rất đơn giản nhưng có khi rất cầu kỳ. Thế nên phần nào tâm linh của sự huyền bí được gắn vào thực tế. Định vị bát hương thường dùng “Thất bảo”, cắt nhỏ giấy trang kim ngũ sắc cho vào giấy đỏ dán kín rồi viết chữ Nho “Thất bảo” ra ngoài là thành huyền diệu. Tam thần (thần sa, chu sa, hùng hoàng) nghiền nhỏ tẩm, gói vào giấy bản cho trẻ uống để chữa sốt cao, an thần chống co giật, là bùa hiệu nghiệm. Thầy làm được bùa, thì ai mà chả muốn xem nó là gì. Khi mở ra mới thấy “bí mật” của các loại bùa chỉ là phép của các nhà thuật sĩ sáng tạo tâm linh mà thôi, chứ thực ra một số lại dùng khoa học, như thuốc an thần chữa co giật, mà thầy bịa ra gán ghép vào bùa cho thêm bí ẩn. Nếu thầy không biết gì về đông y mà cho uống quá liều, hoặc uống nhiều lần sẽ trở thành ngu đần, si ngốc, thậm chí chết người.
Như vậy, trong bùa có thuốc dùng chữa bệnh và còn là khoa học của tâm lý mà các thầy cao tay đã huyền bí hoá, phủ lên lớp bụi mờ bí hiểm. Thậm chí khi cho bùa, thầy còn làm chuyện hoa chân múa tay, miệng luôn hú lên khiến cho mọi người nghĩ rằng thầy đang giao tiếp với thần linh, ma quỷ!
Trong bài viết “Bí ẩn bùa chú cổ”, trên báo “Gia đình và xã hội”, tiến sĩ Cung Khắc Lược đã lý giải về Bùa chú:
“Bùa và Chú là hai từ độc lập. Bùa đơn giản là những vật có thể cầm lấy, sờ thấy. Chú là lời, đặc biệt gắn đến âm thanh nhằm tạo hiệu ứng của người làm bùa.
“Bùa là một từ Việt rất cổ. Người Việt rất thích thú dùng từ “Bùa” của ông cha hơn nên nơi này nơi kia, chỗ này chỗ nọ, họ dùng từ “Bùa chú” thay “Phù chú”của âm Hán Việt. “Chú” có nghĩa là niệm, là đưa vào những lời tốt đẹp, tha thiết nhất để đạt được cái gì đó hoặc tống một cái gì đi. Những lời chú chứa đựng rất nhiều và rất mật. Ngay cả những thầy bùa đôi khi cũng chỉ chú lại theo lời truyền đạt mà không hiểu hết được lời chú đó. Đã có chú thì phải gắn đến lời, dù lời đó để viết vào bùa hay là để chú bằng miệng thì ngôn ngữ thường rất thuần tiếng mẹ đẻ, mang đặc trưng vùng rất cao.”
Tiến sĩ Cung Khắc Lược cũng cho biết về sức mạnh bùa chú Simba như sau:
“Các chiến binh Simba ở Châu Phi xưa kia nổi tiếng dũng cảm nhờ bùa chú. Bùa chú của họ là những vạch sơn có thoa nước bùa linh thiêng vẽ khắp người. Những chiến binh này tin họ được phù phép không sợ đau, không bị gươm giáo đâm nên chiến đấu rất dũng cảm. Trên thực tế, mỗi tiểu đội Simba đều có một bác sĩ riêng chuyên cho họ uống nước được chiết xuất từ các loạ i lá có tác dụng tạo sự hưng phấn. Đây chính là mấu chốt tạo nên sức mạnh tinh thần để họ chiến đấu lăn xả như những chú sư tử châu Phi không biết sợ chết.”_
Bùa chú, bùa phép là cách làm thần thánh hoá lên để trấn an và chữa trị cho gia chủ. Đôi khi nó trở thành sức mạnh ghê gớm điều khiển tâm thức con người theo thiên hướng nào đó của bùa, nhưng cũng có khi gây hậu quả khôn lường. Thầy này ngộ nhận là cao tay bảo yểm bùa cho an lành, nhưng khi có biến cố bất thường thì thầy khác lại bảo “có động”, phải đào lên mới mong giải được?
Người ta còn vẽ ra đủ các thứ bùa: Bùa trấn trạch nhà ở, trấn bệnh trừ tà, đi đường, đi thi… nhiều khi là liều thuốc tốt cho ổn định tinh thần, nhưng chủ yếu gây ra mê tín dị đoan, hoang mang lo sợ, thế là các thầy cúng mặc sức dùng nó doạ nạt, lừa bịp để lấy tiền.
Việc cố tình tỏ ra bí hiểm để giữ nghề và giữ sự linh thiêng của các thầy làm bùa là một trong những điều khiến cho bùa chú trở nên ma mỵ. Bởi họ không những tỏ ra cao tay mà còn bí mật về bài thuốc dùng trong bùa chú. Trong dân gian xưa, việc dùng nước rau ngót để tống thai chết lưu ra, các thầy coi như một loại bùa. Nước rau ngót cho uống vào, cùng với lời chú tăng thêm hiệu quả âm thanh tác động tới sản phụ sẽ làm thai nhi nhanh chóng ra hết. Đây là một phương thuốc dân gian hiệu quả mà không có tác dụng phụ nào.
Người ta cũng úp úp, mở mở cấm dùng A nguỳ cho phụ nữ mang thai. Vì A nguỳ là vị thuốc đông y có mùi vị rất tanh nồng. Khi người ngửi thấy mùi A nguỳ rất khó chịu mà sinh nôn mửa, vì thế dễ bị đẩy thai ra. Thế là nghiễm nhiên A nguỳ trở thành phép làm bùa treo lên cành cây chống loài phá hoại, bảo vệ hoa quả, trị ma, đuổi quỷ.
Bùa phép, bùa chú là phương cách cổ xưa do các thầy bùa sáng tác ra như là một chiêu thức bí hiểm, hướng tâm con người đến những điều tốt lành. Tuy nhiên, nó cũng mang màu sắc mê tín dị đoan, có khi thành trò lừa bịp. Các nhà khoa học và ngay thầy làm ra bùa cũng khẳng định, bùa chú không có sức mạnh siêu nhiên nào cả mà chính là yếu tố tinh thần và các phương thuốc đặc hiệu dùng trong bùa để yểm bùa, bỏ bùa cho người mang bùa làm cho nó trở nên có phép thần thông, ma quỷ! Các thầy cúng, phù thủy, thầy mo thì cứ cho đủ các loại bùa, linh phù với nhiều hình thức khác nhau, có khi chỉ là hình “ông Hổ” để dán lên cửa, lên tường trấn an cho tư tưởng.
Phương cách các thầy trước khi đưa cái Bát Quái cho ai liền cho một câu: - Đã chú vào rồi đấy! Rồi bảo rằng lấy ở chùa lại càng tăng thêm tính thần thông, bí hiểm. Việc thầy đưa cho một tờ giấy đỏ ghi bốn chữ vàng “Ngũ phúc lâm môn” (5 điều phúc đến nhà), bảo đem dán lên cửa cũng là một hình thức “bùa động viên” ước vọng tốt lành cho gia chủ mỗi khi Tết đến Xuân về, hay khi làm nhà mới. 5 điều phúc đó là: “Phúc, Lộc, Thọ, Khang, Ninh”. Phúc: nghĩa là may mắn, tốt lành, con cháu đầy đủ, đồng thời cũng gắn với “đức” mà thành “phúc đức” vẹn toàn. Lộc: là có nhiều tài lộc, quyền lực sang trọng, như điều may mắn được Trời, Phật, thánh thần ban cho. Thọ: là được sống lâu, trường thọ mà hưởng lộc và ở với con cháu đông vui, mãn nguyện. Khang: là khoẻ mạnh. Sống là phải rèn luyện có sức khoẻ để làm việc cho thành đạt. Già vẫn khoẻ mạnh đến khi nhắm mắt xuôi tay mới là sung sướng. Ninh: là mong ước cả cuộc đời bình yên, thanh thản, vui vẻ. Cuộc sống, gia đình luôn được an lạc, sinh sống thuận hoà, con cháu chăm ngoan, giỏi giang thì gia đình hạnh phúc.
Các thầy bùa, phù thủy, thầy cúng, thầy mo còn nghĩ ra ma thuật trừ yểm, thư yểm, bỏ ngải, bỏ bùa để làm cho người khác phải ốm đau, tai hoạ, hoặc lại bày ra cách hoá giải rất thần thiêng, bí hiểm, ly kỳ. Chỉ cần mấy động tác mang tính “bí biểm” và lời nói bâng quơ mà thầy “giả vờ” lừa lại được, cho người an tâm và cũng là phép hoá giải cho bùa hết linh nghiệm!
Bùa chú chỉ là những vật liệu bình thường sử dụng trong sinh hoạt, chữa bệnh và lời nói của “thầy bùa”. Bản thân các vật liệu này không có ma lực, thần thông gì trong việc tiễu trừ ma quỷ, trùng tang. Nhưng chính do bịa ra nó có ma lực và cách huyền bí hoá, doạ nạt, hoang đường lại là đòn đánh rất thâm hiểm vào tâm linh, tư tưởng con người thiếu hiểu biết, nhẹ dạ cả tin mà trở thành ma mỵ, sợ hãi. Trên thực tế có ma quỷ, trùng tang gì đâu mà phải dán, phải yểm, phải trừ? Còn nếu là ma quỷ thật thì mấy thứ vật liệu kia làm gì có phép thần thông để có thể diệt trừ!? Thế nhưng vẫn có những người cứ cho là bùa linh nghiệm mà bị mê muội, sợ hãi. Đối với họ thì giải pháp cho bùa lại thực sự có tác dụng làm tĩnh tâm trở lại.
Qua đó thấy rằng, với mấy thứ đồ vật, vị thuốc và lời nói bịa ra, vừa có tác dụng trấn an vừa đe doạ của những thầy cúng, thầy mo lợi hại đến thế nào. Nó gây ra ám ảnh, tác động vào tâm thức những người mê tín, tin vào bùa ngải và gây ra biết bao hậu hoạ trong dân gian. Đó cũng là sản phẩm của thời xa xưa khoa học và xã hội chưa phát triển, cuộc sống con người phụ thuộc vào thần quyền, bí hiểm.
Xã hội ngày nay đã thay đổi, văn minh vào tận trong nhà. Thế nên, có người chẳng bao giờ nhờ thầy xem xét, bùa ngải làm gì cho thêm phức tạp, rắc rối, lo âu. Có khi thầy cho uống nước ván thôi, ngộ ra có biết thì rất kinh sợ, mà thành phát bệnh vì bùa. Thời đại mới cần có nhãn quan và bản lĩnh mới, con người không thể sống bằng những gì thấy không còn cần thiết nữa.
Tiên tri
Tiên tri được người đời gọi là “sấm truyền”, nó có sức mạnh lan toả ghê gớm như sấm trên trời, mang yếu tố của thần linh.
Thế giới từng chứng kiến một số người có khả năng đặc biệt dự đoán sự kiện, thời cuộc, con người mà người ta gọi là “Nhà tiên tri”, “Quân sư”, “Đạo sĩ”. Năng lực của họ được kiểm nghiệm, chứng minh qua thực tế là đúng, nhưng cũng có xác xuất trường hợp không chính xác.
Chúng ta không thần thánh hoá khả năng siêu việt, dự báo tiên tri của con người. Nó phải minh chứng bằng logic khoa học và ý thức nhận biết qua thực tiễn kiểm nghiệm.
Theo các nguồn thông tin đại chúng và báo chí, trên thế gian từng xuất hiện những người đặc biệt, lừng danh mà khả năng tiên tri của họ làm chúng ta kinh ngạc. Nostradamus, nhà tiên tri đại tài phương Tây đầu thế kỷ XV, với tập thơ tiên tri “Les Centuries” gồm 727 khổ bằng tiếng Pháp, dài 3024 câu, tiên tri về nhiều sự kiện cho tới tận năm 3797, có những sự kiện đã diễn ra gây bất ngờ, kinh ngạc cho thế giới, một trong số đó là tiên đoán sự xuất hiện của tên phát xít độc tài khét tiếng Hitler ở châu Âu, đầu thế kỷ XX, trước khi y lên nắm quyền.
Nhà tiên tri Juseleeno ở Brazin được gọi là “nhà tiên tri kỳ dị nhất thế giới”. Người ta gọi ông bằng những biệt danh: Kẻ kỳ dị, thiên sứ, ác quỷ, thậm chí có người kêu gọi tử hình ông. Lời tiên đoán của Juseleeno cho tới nay chính xác 100%. Juseleeno đã tiên đoán về cái chết của Công nương Diana, nước Anh. Ngày 26-10-1989 ông gửi cho tổng thống Mỹ và lãnh sự quán Anh ở Mỹ một bức thư cảnh báo về Trung tâm thương mại thế giới sẽ bị tấn công, nhưng không xác định ngày. Tuy nhiên, ông cho biết chính xác lần tấn công thứ 2 và đúng như dự đoán, 13 năm sau đã xảy ra sự kiện khủng bố kinh hoàng, hai máy bay đâm vào toà tháp đôi ở nước Mỹ ngày 11-9-2001 làm rung chuyển thế giới.
Juseleeno cũng đưa ra những dự đoán về vius cúm H5N1 lan truyền, rừng Amazon sẽ bị tác động của thiên nhiên, các phương pháp chữa bệnh ung thư, chỉ còn ung thư não là khó khăn. Năm 2000 ông cũng nói về một tiểu hành tinh gần trái đất và cảnh báo với cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) về khả năng hành tinh này đâm vào trái đất, gây ra thảm hoạ diệt chủng tương tự cách đây 65 triệu năm. Hai năm sau, NASA công nhận sự xuất hiện của tiểu hành tinh, gọi là 2002 N77.
Người đàn bà mù, không biết chữ, Vanga Dimitrova, nhà tiên tri nổi tiếng người Bulgaria đã nói cho người nông dân biết về ngôi mộ của con ông và có thể tiên đoán được những sự việc diễn ra trong quá khứ, hiện tại và tương lai cách hàng chục năm.
Nhà tiên tri lừng danh Vanga
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Imges 47 8821tientri 430.Jpg)
Bà Vanga từng dự đoán chính xác về thảm hoạ hạt nhân Chernobyl ở Ucraina, năm1986 và thảm họa tàu ngầm Kursk. Khả năng tiên tri của Vanga khiến biết bao người nể phục. Bà có thể tiên đoán trước chuyện sắp xảy ra chính xác đến 70-80% tất cả các trường hợp. Hàng năm, có khoảng 100.000 người từ khắp nơi trên thế giới đến xin gặp bà. Người yêu rất nhiều, mà kẻ ghét cũng có, đến nỗi bà đã phải ngồi tù vì lời tiên đoán quá chính xác. Còn Vanga giải thích rất đơn giản về khả năng thiên phú của mình, bà nói là bà tự đặt câu hỏi trong đầu, và câu trả lời tự nhiên xuất hiện. Bà luôn luôn có cục đường trong túi. Bà nói rằng, ngủ rất ít, nhưng khi ngủ thì “đi khắp thế giới” và thường gặp “người âm”. Vanga từng tiên đoán về sự nghiệp của Yeltsin ở nước Nga. Hiện tượng Vanga thật là đặc biệt. Sau khi Vanga mất, người ta coi là Thánh, có nơi tại nhà thờ đã để chân dung của bà.
Theo tư liệu MK.ru, trong bài “Hiểm hoạ năm 2014 và 2016” đăng tải trên báo Tiền phong cho biết:
“Nhà tiên tri Vanga tiên đoán về năm 2011 mưa phóng xạ ở Bắc bán cầu và người Hồi giáo tiến hành chiến tranh hoá học chống lại người châu Âu, làm cho người ta liên hệ đến sự kiện động đất, sóng thần làm rò rỉ nhà máy điện hạt nhân ở Nhật Bản và cuộc chiến tại Libya với liên minh châu Âu. Bà còn tiên đoán, năm 2014, đa số người sẽ bị mụn nhọt và các bệnh khác về da và đến năm 2016 châu Âu sẽ trở nên trống vắng mà người ta nghĩ đến hậu quả của chiến tranh hoá học và mong rằng lần này bà tiên đoán sai, cho thảm hoạ không xẩy ra!”
Quân sư Khổng Minh - Gia Cát Lượng, trong thiên tiểu thuyết vĩ đại Tam Quốc diễn nghĩa của tác giả La Quán Trung, Trung Quốc, rất lừng danh về sự tiên đoán thiên văn, thời cuộc, chiến trận, con người.
Nhà tiên tri Việt Nam đầu tiên được biết đến là Thiền sư Vạn Hạnh (938-1025), với những câu sấm truyền về sự xuất hiện nhà Lý. Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà Nho lỗi lạc của Việt Nam cách đây 500 năm (1491-1585), với rất nhiều lời sấm truyền nổi tiếng, trong đó có những điều ứng với thời cuộc trong thế kỷ XX như cuộc khởi nghĩa Yên Bái, Đại chiến thế giới thứ hai, Cách mạng tháng Tám năm 1945 và giải phóng Thủ đô Hà Nội năm 1954.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài, vĩ đại của Việt Nam, danh nhân văn hoá thế giới đã ra đi tìm chân lý cứu nước và Người tiên đoán về sự tất thắng trong cuộc chiến tranh nhân dân, chính nghĩa của dân tộc Việt Nam: Nhật sẽ phải rút, Thực dân Pháp sẽ thua, đế quốc Mỹ sẽ phải cút, Nguỵ sẽ nhào, đất nước Việt Nam sẽ thống nhất, đồng bào Việt Nam xum họp một nhà và đất nước sẽ xây dựng to đẹp, đàng hoàng. Chân lý vì “Độc lập tự do” đã trở thành hiện thực qua tư tưởng, cuộc đời, sự nghiệp và bản “Di chúc” bất hủ của chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của dân tộc Việt Nam, thế kỷ XX.
Gần đây nhất là sự kiện con bạch tuộc có nhiều “dự đoán” khá chính xác về kết quả các trận bóng đá thế giới - World Cup 2010, là một hiện tượng “tiên tri” hay là trùng lặp ngẫu nhiên, vẫn chưa có lời giải?
Khả năng tiên tri không phải là thánh thần mà là tổng hoà của khả năng đặc biệt của con người, trong đó có tố chất của nhà ngoại cảm, năng lực siêu phàm, trí thông minh, khả năng tổng hợp, phân tích để đưa ra dự đoán logic, khoa học cho sự kiện, chính trị, quân sự, xã hội, thời cuộc, thiên văn. Họ là số ít, thậm chí rất hiếm, xuất hiện ở mọi nơi, mọi xã hội, thời đại với nhiều hình thái, trình độ, tuổi tác, trong những hoàn cảnh khác nhau. Có người từ cổ xưa, có người mới xuất hiện. Có người lành lặn bình thường, có người trải qua một biến cố cuộc đời, ốm đau, tai nạn, có người tàn tật, mù loà. Có người nghiên cứu, học hành uyên bác như các quân sư, hiền triết, đạo sĩ ẩn dật. Lại có người trình độ thấp, rất ít học, ít đọc sách, ở các miền quê, nơi non cao rừng thẳm. Có người bôn ba chân trời góc bể, trở thành tướng tài, lãnh tụ. Có người ở thời đại ngày nay, tuổi còn rất trẻ, không hề nghiên cứu nho, y, lý, số, kinh dịch hay khoa học hiện đại. Những triết gia, tri thức học vấn cao thì tiên tri xã hội, thời cuộc, những người bình thường thì tiên tri về sự việc đời thường.
Những tài năng đặc biệt này không phải là thiên thần đầu thai, không bắt nguồn từ dịch lý cổ xưa, bói tiên, bói độn, bói quỷ cốc, bói cỏ thi… mà một số người cứ lấy việc mò mẫm, tìm hiểu Kinh dịch, sách cổ của mình mà gán vào cho họ, làm cho thêm kỳ bí, rắc rối. Họ chỉ là những người sống bình thường như chúng ta, không phải thánh thần, không phải căn số, mệnh trời, không phải ma làm, quỷ ám. Họ cũng không phải ông đồng, bà cốt, mê tín dị đoan, bói toán quàng xiên, lừa đảo lấy tiền. Có trường hợp chỉ đơn giản họ là người có khả năng tiên đoán, thậm chí có người cũng không hiểu linh cảm, năng lực ngoại cảm là gì. Như linh tính mách bảo tự nhiên nói ra hoặc do suy luận rồi nói ra, đoán trước về một điều gì, thế là nghiễm nhiên họ được người đời gọi là “tiên tri”, thế thôi. Cuối cùng họ cũng chịu chung quy luật “sinh - lão - bệnh - tử” như bao người khác, nhưng để lại trên đời biết bao giai thoại, huyền bí, đôi khi như những thiên thần.
Tuy nhiên, không phải nhà tiên tri nào và trường hợp nào cũng đúng. Cũng như khả năng ngoại cảm, khi mà thể chất, tư duy con người thay đổi, họ cũng dự báo không chính xác. Nhưng dù sao thì những hiện tượng tiên tri vẫn đầy bí ẩn, cần phải nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn, khi mà những hiện tượng lạ kì vẫn diễn ra như là sự mặc nhiên như vậy.
Chúng ta không tô hồng, vẽ ra sự huyền bí, cũng không hoang mang, sợ hãi như trước thế lực siêu nhiên, mà hãy tiếp cận với họ như là sự tự nhiên, công nhận những gì qua kiểm nghiệm thực tế đã chứng minh và theo dõi những gì họ còn tiên đoán. Đồng thời cũng công bằng, lành mạnh phán xét những xác xuất có thể tiên lượng sai, là chuyện bình thường đã có thay đổi thể chất và năng lực trong con người họ.
Lời nguyền
Trong lịch sử nhân loại từng tồn tại bí ẩn về những “Lời nguyền”.
Lời nguyền thường được lưu truyền, đồn đại trong dân gian, họăc có khi vì lý do nào đó phát hiện ra thì nó đã có từ rất lâu rồi như “lời nguyền Kim Tự Tháp” ở Ai Cập. Nhưng cũng có lời nguyền vừa được sinh ra do một sự kiện bi thương, như chuyện một cô gái lên cây cầu, để lại lời trăng trối rồi nhảy xuống dòng sông quyên sinh, trở thành nỗi ám ảnh cho người đời và thành lời nguyền trên dương thế.
Hình thái lời nguyền là những lời tri âm dặn lại hay văn bản in ấn, điêu khắc vào nơi được lưu giữ, có khi là vô hình qua truyền tụng hoặc là những dư luận trong một cộng đồng người. Tuy chỉ là rất ít nhưng lời nguyền lại có sức lan toả ghê gớm vì sự linh nghiệm của nó. Đó là lời nguyền về Kim Tự Tháp, lời nguyền của viên kim cương, lời nguyền về một ngôi chùa, lời nguyền về một cây cầu, một hang đá, một dòng sông, lời nguyền của người ra đi, lời nguyền cho một tình yêu bất tử…
Lời nguyền thường để lại dấu ấn đặc biệt, lâu dài và đầy bí hiểm. Nó gây ấn tượng mạnh chấn động tâm linh và thách thức giới khoa học về dự cảm phức tạp, khó hiểu và vô cùng đáng sợ.
Hãy điểm qua một số câu chuyện xảy ra trên thực tế đã được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và sách vở sẽ thấy sự bí hiểm lạ lùng của những lời nguyền.
Lời nguyền Kim Tự Tháp: Đây là sự kiện nổi tiếng nhất, minh chứng về sự linh nghiệm và khó hiểu về lời nguyền xảy ra cách đây hơn 80 năm, tại đất nước Ai Cập. Theo tài liệu đăng trên “Việt Báo” về “Kim Tự Tháp Tutankhamun - Những lời nguyền chưa có lời giải”, mô tả:
“Cho đến nay người ta vẫn nhắc đến một tấn thảm kịch lạ lùng xuất hiện trong Kim Tự Tháp. Ngày 27-2-1929, khi nhà khảo cổ Lord Carnarvon và đoàn thám hiểm của ông đục phá chiếc cửa bí mật của Kim Tự Tháp nổi tiếng Ai Cập để đột nhập vào khu mộ của vua Tutankhamun.
Thế nhưng, khi vào bên trong, đoàn thám hiểm phát hiện ra một hàng chữ trên vách đá với nội dung đầy cảnh báo và đe doạ: “Kẻ nào dám quấy rối giấc ngủ của Pharaon (vua Ai Cập), đều phải chết!” Ít ai ngờ đó lại là lời nguyền rất linh nghiệm, nhất là đối với các nhà khoa học muốn mạo hiểm đột nhập vào ngôi mộ cổ của Pharaon.
Về sau, những người liều dấn thân khám phá Kim Tự Tháp và đến bên quan tài của vua Tutankhamun đều đã phải trả giá.
Trước tiên là cái chết của nhà khảo cổ Lord Carnarvon tại khách sạn lừng danh Continental, sau khi ông buông ra những lời như ngủ mê, ngớ ngẩn: “Tôi cảm thấy thích chốn địa ngục”. Cũng trong thời điểm ấy, con chó ở nhà ông cách xa hàng ngàn dặm cũng tru lên từng cơn rồi lăn ra chết. Sau đó, cũng tại khách sạn này là cái chết của nhà khảo cổ Mỹ Arthur Mace, một thành viên trong đoàn thám hiểm trước đây với Lord Carnarvon, tự nhiên kêu mệt mỏi rồi bất thình lình vùng dậy chạy về hướng Kim Tự Tháp và đòi vào chỗ đặt quan tài của Pharaon Tutankhamun lần nữa mặc dù trong đêm khuya. Thế rồi ông nấc lên và chết. Tấn thảm kịch tiếp diễn với những nhà thám hiểm Kim Tự Tháp ở Ai Cập, như Reid, người đã chiếu tia X qua xác ướp của vua Tutankhamun, nhà công nghiệp Anh là Joel Wool, một trong những người đào hầm mộ của vua Tutankhamun cũng tự nhiên chết sau một cơn sốt lạ kỳ và người thư ký của nhà khảo cổ Carnarvon đột tử trên giường ngủ. Chỉ trong vòng 6 năm, sau cuộc khai quật mở cánh cửa bí mật Kim Tự Tháp, đã có 12 người chết một cách bí hiểm dị kỳ mà những cái chết này cho đến ngày nay vẫn chưa có lời giải đáp.”
Trong bài viết “Lời nguyền của các Pharaon Ai Cập”, trên báo “Sức khoẻ và Đời sống”, tác giả Phạm Tiếp tổng hợp như sau:
Pharaon Tutankhamun, người khi làm vua ở tuổi lên tám kế vị vua Ai Cập Ekhnaton, đã chết đột ngột năm 1353 TCN, ở tuổi 19. Cái chết của Tutankhamun để lại cho hậu thế nhiều nghi ngờ, vì cho rằng ông bị giết hại. Qua các hình ảnh phim chụp điện quang xương sọ của vua phát hiện có một vết giáng mạnh cho thấy có thể là hậu quả bị ám sát do tranh cướp vương quyền (!?).
Ngày 3-11-1922, huân tước Kanaphan và nhà khảo cổ học Howard Carter cùng đoàn khảo sát đã phát hiện lăng mộ Tutankhamun, vị Pharon thứ 18 của Ai Cập. Việc tìm thấy này được coi như là một kỳ tích vì sự nguyên vẹn của lăng, đóng góp lớn cho việc nghiên cứu quá khứ với 5.000 di vật, không chỉ giá trị tinh thần mà giá trị vật chất cũng cực kỳ quý báu qua khai quật. Trong ngôi mộ có khắc những lời nguyền: “Kẻ nào quấy rối giấc ngủ của vị Pharaon này đôi cánh tử thần sẽ giáng xuống đầu y. Ta là người bảo vệ Tutankhamun. Ta sẽ dùng ngọn lửa của sa mạc đánh đuổi những kẻ đào trộm mộ!” Điều kỳ lạ là lời nguyền trong ngôi mộ đã gây cho 22 người tham gia khảo sát lần lượt gặp tai nạn tử vong. Từ huân tước Kanaphan, vợ và người em trai của huân tước, giáo sư Red, nhà sinh vật học Wight, vua đường sắt Mỹ Gerud… người bị nhiễm trùng, người thì bị thần kinh phân liệt, người bị mất tri giác… tất cả cuối cùng đều qua đời, trừ tiến sĩ Carter còn sống đến 65 tuổi nhưng con gái út của ông lại bỗng nhiên tự sát.
Có lập luận cho rằng trong lăng mộ, để đề phòng người xâm nhập, phá hoại nên đã gài sẵn chất độc hoá học, chất phóng xạ hoặc vi sinh vật gây hại cho người. Nhưng rất khó giải thích là tại sao những công nhân Ai Cập trực tiếp khai quật lại bình an vô sự?
Mọi nghiên cứu về bí hiểm này còn tiếp tục, nhưng lời nguyền xưa vẫn còn ảnh hưởng với khá nhiều người.”
Tác giả còn cho biết thêm về chuyện ly kỳ:
“Con tàu sang trọng và lớn nhất thế giới “Titanic”, ngày 15-4- 1912, trên đường đi từ cảng Boston, nước Anh sang Mỹ, sau khi va đập với một tảng băng trôi ở Đại Tây Dương đã gây ra thảm hoạ chìm tàu làm chết và mất tích hơn 1.500 khách và thủy thủ. Trong tai hoạ khủng khiếp này có một điều được nhiều người lưu tâm. Đó là trên tàu có chở một chiếc quan tài bằng đá, hiện vật được tìm thấy trong ngôi mộ cổ ở Ai Cập 12 năm trước đó. Một người Mỹ đã mua nó cho một bảo tàng của nước Mỹ và gửi tàu Titanic chuyển về. Ác nghiệt thay là có dòng chữ khắc trên quan tài: “Tất cả những kẻ chạm vào chiếc quan tài này đều chịu số phận nghiệt ngã; tất cả sẽ chìm xuống đáy đại dương”.
Theo tổng hợp của Khánh Huyền trong bài “Sự thật bất ngờ về vị Pharaon nổi tiếng nhất trong lịch sử”, đăng tải trên báo “Đời sống và pháp luật”, sau khi mô tả về việc khai quật lăng mộ xác ướp nguyên vẹn của Tutankhamun để tìm lời giải cho cái chết bí ẩn của vị vua trẻ chưa đầy 20 tuổi đầy quyền lực này, cho biết:
“Người ta vẫn tin rằng bên trong lăng mộ vẫn còn lời nguyền của xác ướp. Lời nguyền bắt đầu từ việc ngài Carnarvon, người tài trợ cho việc tìm kiếm lăng mộ vua Tutankhamun và nhà khảo cổ học Howard Carter đã tiến vào khu hầm mộ của vua Tutankhamun vào tháng 2 năm 1923. Vào khoảng tháng 6 năm 1923, ngài Carnarvon đã bị một con muỗi cắn vào má và bị bệnh rồi sau đó qua đời. Ngay cả con chó theo chân nhà khoa học cũng được nhiều người đồn đoán là chết theo chủ của nó vào cùng một giờ. Theo các phương tiện truyền thông lúc bấy giờ, sự kiện này đã làm cho nhiều người đi đến kết luận rằng lăng mộ của vua Tutankhamun có lời nguyền. Có nhiều tác giả nổi tiếng đã đưa ra những lý luận của họ trên báo chí, như Marie Corelli, tác giả có tiếng cùng thời đã khẳng định các chủ nhân Ai Cập đã cảnh báo: “Kẻ nào dám quấy động giấc ngủ của Pharaon, đều phải chết”.
Dư luận về lời nguyền chỉ lắng xuống khi bức màn bí mật được vén lên. Chúng ta đều biết người chết có khả năng sinh ra chứng nhiễm trùng có thể rất nguy hiểm cho người sống. Rất có thể rằng những tay ướp mộ cổ đi vào mộ một thời gian ngắn sau cái chết của các vị Pharaon có thể bị nhiễm bệnh và vì vậy sẽ chết. Rất có thể điều này dẫn đến niềm tin xa xưa về lời nguyền của xác ướp.
Rõ ràng rằng cái chết của Carnarvon chỉ là một sự tình cờ ngẫu nhiên bởi lẽ nếu như có thật một lời nguyền thì lời nguyền đó phải nhằm thẳng vào Howard Carter, người khai quật lăng mộ. Nhưng ông lại sống thêm 17 năm nữa, và chết trước sinh nhật lần thứ 65. Trong khi đó ông đã trải qua một thập niên làm việc dưới lăng mộ. Những người khác lại sống rất lâu và hạnh phúc.
Tuy nhiên, chính sự kỳ bí của lời nguyền cũng làm tăng sự hiếu kỳ về đất nước Ai Cập. Có thể nói rằng lời nguyền chính là một phép lành dành cho ngành công nghiệp du lịch Ai Cập.”
“Lời nguyền chết chóc của viên Kim cương màu xanh Hy Vọng”, đăng tải trên VTC News, nói về sự huyền bí như sau:
“Có xuất xứ từ năm 1642. Viên kim cương nguyên thủy được tìm thấy tại mỏ kim cương Kollur ở Golconda và thuộc về bức tượng thần Sita, Ấn Độ. Đây là viên kim cương nổi tiếng với vẻ đẹp lộng lẫy nhờ màu sắc, kích cỡ, độ trong suốt, vẻ đẹp và lịch sử đặc biệt của nó. Viên kim cương có hình trứng, nhiều mặt sáng bóng và màu xanh xẫm rực rỡ, kích cỡ 25,60 x 21,78 x 12 mm và nặng 45,52 cara. Kim cương Hy Vọng được dùng làm mặt của chuỗi vòng cổ và người ta gắn thêm 16 viên kim cương trắng nhỏ khác bao quanh nó. Màu của viên kim cương là sự kết hợp của màu xanh da trời do nguyên tố Bo tạo ra, có trong tất cả các viên kim cương màu xanh và màu xám.
Từ khi bị đánh cắp tại một ngôi đền ở Ấn Độ, nó đã trôi dạt qua rất nhiều nơi và bắt đầu lời nguyền của nó. Điều đặc biệt của lời nguyền này là mang đến cái chết hoặc sự bất hạnh cho người chủ sở hữu nó.
Bắt đầu từ nhà vận chuyển kim cương người Pháp, Jean Baptiste Tavernier năm 1642. Ngay sau khi bán nó cho vua Louis XVI, Tavernier đã gặp thảm kịch khi tới Ấn Độ, ông bị một bầy chó hoang xé xác.
Viên kim cương đựơc nhận danh hiệu “Kim cương xanh của nhà vua” và bị cắt thành hình trái tim. Sự bất hạnh của viên kim cương đã gây hoạ cho vua Louis XVI và hoàng hậu Marie Antoinette. Do đất nước bất ổn, cả 2 đã bị chặt đầu trong cuộc cách mạng Pháp năm 1789. Trong cuộc khủng hoảng chính trị này, viên kim cương bị đánh cắp.
Sau đó viên kim cương được tìm thấy ở London và thuộc quyền sở hữu của hoàng hậu Tây Ban Nha Maria Louisa. Trong thời gian đó, viên kim cương được tạo hình lại bởi một nhà nữ trang người Hà Lan tên là Wilhelm Fals. Ông chết trong đau khổ khi viên kim cương bị con trai mình là Hendrick đánh cắp và ít lâu sau Hendrick cũng tự sát.
Năm 1813, Henry Hope mua viên kim cương và đặt cho nó là “Hope Diamond”. Viên kim cương đã gây cho gia đình Hope sự bất hạnh từ giàu có dẫn đến phá sản. Sau khi Henry Hope chết, viên kim cương được để lại cho người cháu trai ông là Francis Hope. Năm 1901, Francis Hope xin phép toà án cho bán viên kim cương khi bị chìm vào cờ bạc và phá sản.
Viên kim cương tiếp tục qua tay nhiều người và gây nên tai hoạ. Hoàng tử Nga, Kanitowski, bị giết bởi những người cách mạng. Diễn viên Pháp Lorens Ladue, tự sát trên sân khấu. Chủ sở hữu người Hy Lạp, Simon Montharides cùng gia đình qua đời sau một vụ tai nạn ôtô đâm vào vách đá. Nhà vua Thổ Nhĩ Kỳ, Sultan Abdul Hamid II, sở hữu viên kim cương, sau một thời gian ngắn cũng bị truất ngôi năm 1909.
Viên kim cương tiếp tục cuộc hành trình tới Mỹ và thuộc quyền sở hữu của Pierre Cartier. Sau đó ông bán cho một bà giầu có nhưng lập dị là Evalyn Walsh Mclean. Khi nghe lời nguyền của viên kim cương, bà mua về với ý định biến nó thành bùa may, nhưng nó lại mang đến quá nhiều bất hạnh. Con trai bà chết trong một tai nạn ôtô, con gái tự tử, trong khi chồng bà lên cơn điên và cuối cùng chết trong trại thương điên.
Sau cái chết của Evalyn Mclean, năm 1949, viên kim cương được bán cho thương nhân New York, Harry Winston. Có thể bị ảnh hưởng về “Lời nguyền”, Winston đã quyết định tặng viên kim cương cho bảo tàng Lịch sử tự nhiên Smithsonian và nó được trưng bày cho đến nay. Người ta còn cho biết lời nguyền của viên kim cương mạnh đến nỗi James Todd, khi chuyển nó đến bảo tàng trong một chiếc hộp bằng đồng, đã gãy chân vì bị xe tải đâm. Thảm kịch còn hơn thế nữa, khi vợ ông qua đời sau cơn đau tim, con chó của ông vướng xích và bị thắt cổ chết, cuối cùng căn nhà của ông bị cháy rụi.
May Yohe, diễn viên đã cố gắng đưa lời nguyền lên màn ảnh với 15 tập của bộ phim mang tên “Bí ẩn của viên kim cương The Hope”. Mặc dù nỗ lực của cô đưa lời nguyền đến với mọi người không mang lại kết quả, nhưng sự thật là viên kim cương này đã mang quá nhiều bi kịch thảm khốc đến cho nhiều người, kể cả người chủ sở hữu, người thân, cho đến những người liên quan gián tiếp với họ.”
Trên “Diễn đàn Tuổi trẻ” còn cho biết một số lời nguyền bí ẩn trên thế giới, đó là:
“Lời nguyền Siêu Nhân: Đây là chuyện về những người có liên quan đến nhân vật Siêu nhân trong loạt phim truyền hình và điện ảnh trong gần 100 năm qua.
Hai nạn nhân đầu tiên là hai diễn viên nổi tiếng nhất, George Reeves tự tử, còn Chistopher bị liệt sau khi ngã ngựa. Các nạn nhân khác có Jerry Siegel và hoạ sĩ Joe Shuster, hai người đã tạo ra nhân vật nhưng thu được rất ít tiền bởi công ty DC Comis nắm tất cả bản quyền. Một số người nói rằng Jerry và Joe đã áp đặt lời nguyền lên nhân vật viễn tưởng này bởi họ cho rằng mình bị đối xử bất công so với công sức bỏ ra.
Do khiếp sợ trước lời nguyền này, rất nhiều diễn viên đã từ chối đóng vai Siêu nhân trong những phiên bản mới nhất. Trong số 10 diễn viên tồi tệ nhất, chỉ có Paul Walker là không hề hấn gì, nhưng Pau đã giết chết nhân vật anh đóng hơn là bị Siêu nhân làm cho điêu đứng.
Hòn đá Bjorketorp: Đây là một trong số những hòn đá tìm thấy ở Thuỵ Điển từ thế kỷ thứ VI sau công nguyên. Chúng cao đến 4,2 m, một số hòn xếp thành vòng tròn, trong khi những hòn khác đứng một mình. Trên hòn đá Bjorketorp có khắc dòng chữ: “Ta, chủ nhân của những hòn đá che dấu sức mạnh của chúng tại đây. Anh ta sẽ ngập tràn tội lỗi xấu xa, phải chịu cả cái chết âm thầm nếu là người phá vỡ tấm bia mộ này. Ta tiên đoán được sự huỷ diệt!”. Thế rồi chuyện đã xảy ra. Cách đây lâu rồi, có một người đàn ông muốn dịch chuyển hòn đá để có thêm đất canh tác. Anh ta chất củi xung quanh để nung nóng, sau đó dội nước để làm vỡ hòn đá. Không khí lúc ấy cực kỳ yên lặng. Nhưng khi anh ta vừa châm lửa thì một cơn gió đột nhiên xuất hiện chuyển hướng ngọn lửa khiến cho tóc của anh bốc cháy. Anh ta lăn lộn để dập tắt lửa, nhưng nó đã lan ra quần áo bùng cháy thiêu anh trong đau đớn tột cùng.
Lời nguyền Tippecanoe: Vào năm 1840, William Henry Harrison lên nắm chức tổng thống Mỹ với khẩu hiệu “Tippecanoe và Tyler Too” (ám chỉ việc ông tham gia vào trận chiến Tippecanoe năm 1811). Một năm sau, W Harrison qua đời. Kể từ đó cho đến khi Ronald Reagan lên nắm quyền, năm 1981, mỗi tổng thống được bầu lên đều ra đi khi vẫn còn đang ở nhiệm kỳ của mình.
Đó là các vị tổng thống: W Harrison, năm 1840, chết tự nhiên. Lincoln, năm 1860, bị bắn chết. Garfi eld, năm 1880, bị bắn chết. McKinley, năm 1900, bị bắn chết. Harding, năm 1920, chết tự nhiên. F Roosevelt, năm 1940, chết tự nhiên. Kennedy, năm 1960, bị bắn chết. Một điều thú vị là nếu âm mưu ám sát nhắm vào Reagan thành công, thì ông cũng đã chết trước khi kết thúc nhiệm kỳ đầu tiên của mình.
Trong số những tổng thống Mỹ đó, có Kennedy lại bị những tai ương liên tiếp ập đến gia đình một cách kỳ lạ như một lời nguyền. Gia đình Kennedy có vài thành viên chết trẻ, đó là hai anh em John F Kennedy và Robert F Kennedy bị ám sát khi đang nắm quyền, con trai của John F Kennedy, thiệt mạng trong một trong một tai nạn máy bay. Chị gái của John F Kennedy, phải vào viện dưỡng lão vì bị phẫu thuật thuỳ não nhầm. Joseph Kennedy chết trong thế chiến thứ 2, Edward Kennedy Jr phải cắt cụt chân năm 12 tuổi, Michael Kennedy chết trong một tai nạn trượt tuyết.”
Còn rất nhiều lời nguyền linh nghiệm như: “Lời nguyền Bambino” ám chỉ chuỗi đen đủi cho đội bóng chày Boston Red Sox, luôn luôn hứng chịu thất bại sau khi chuyển nhượng cầu thủ. “Lời nguyền của dê Billy” linh nghiệm về lời người chủ dắt con dê vào sân đấu bóng chày, khi bị đuổi ra khỏi sân gây nên thất bại cho đội bóng. “Lời nguyền từ chiếc Porsche của Jammes Dean” gây ra tai nạn thảm khốc liên tiếp khi sử dụng chiếc xe và lấy các bộ phận của nó thay thế cho xe khác. “Lời nguyền của phù thủy nước Anh” ứng nghiệm, gây ra đau đớn khắp người và bệnh vẩy nến cho những người đào vào mộ tìm thấy hài cốt của 17 phù thủy, trong đó có 16 nữ và 1 nam, chôn tại nghĩa trang của nhà thờ St Andrew’s, sau khi bị treo cổ tại Town Moor, ngày 21-8-1650, do thời đó thành kiến và buộc tội, truy sát phù thủy.
Oetzi là xác ướp tự nhiên có tuổi đời 5.300 năm, được phát hiện năm 1991 trong lớp băng vĩnh cửu trên núi Tyrol, Italia. Theo những người tin vào truyền thuyết thì linh hồn Oetzi rất tức giận vì bị phá giấc ngủ kéo dài 53 thế kỷ” nên đã làm cho những người thám hiểm phát hiện hoặc nhìn thấy xác ướp của ông bị những cái chết đầy bí hiểm.
Đâu đó, ở Việt Nam từng lưu truyền, đồn đại về những lời nguyền, bí ẩn về những dòng sông, cây cầu, hang đá, ngôi chùa, ngôi mộ, dòng họ hay chỉ là vật dụng trang sức...
Về tập tục lạ ở vùng cao, báo Thanh niên (3-4-2012) đăng tải bài “Mã não quyền uy” của tác giả Nguyễn Phúc cho biết:
“Chẳng biết từ bao giờ, người phụ nữ vùng cao Trường Sơn có tục đeo vòng Mã não. Không riêng gì đồng bào Pa Kô, Vân Kiều mà cả người Tà Ôi ở Thừa Thiên - Huế cũng còn giữ tập tục này. Bởi khi sinh ra, mỗi bé gái đều có một chiếc vòng mã não cho riêng mình. Đó là chiếc vòng chỉ có một hạt mã não, là vật thiêng để Giàng Cợt (thần hộ mạng) trú ngụ. Ông Caray Sức, cán bộ văn hoá xã Tà Rụt, người được mệnh danh là nhà “Pa Kô học” nói: “Vòng mã não này sẽ là linh hồn của mỗi người, sẽ ứng với cuộc đời người đó, không được cho, tặng cho bất kỳ ai. Nếu lỡ làm mất thì phải làm lễ cúng để làm lại vòng khác và khi chết cũng sẽ được chôn theo”
Khi tình yêu xuất hiện thì cũng là lúc vòng mã não thể hiện uy quyền. Từ xưa, vòng mã não luôn là thứ không thể thiếu trong việc cưới hỏi của người Pa Cô, Vân Kiều. Đó có thể là vật thách cưới mà bên nữ yêu cầu phải có hay đơn giản là một kỷ vật biểu trưng cho tình yêu của chàng trai dành cho bạn tình của mình. Tuỳ vào điều kiện, “vòng mã não tình yêu” có thể gồm 3 hạt trên một xâu hoặc 4 hạt trên một xâu gồm 2 chuỗi.
Tương truyền, hễ con gái nhận vòng mã não của người khác giới có nghĩa là trái tim đã thuộc về người đó. Vậy nên, dù cô gái có xinh như đoá hoa rừng thì các chàng trai bản cũng không dám để ý đến nếu cô đã đeo lên cổ một chuỗi hạt vòng mã não thề hẹn. Vì thế, nó cũng gây nên ngang trái, khi có chàng trai yêu cô gái nhiều năm, định ngày dạm hỏi thì thấy “dấu hiệu” nàng đã thuộc về người khác.
Mỗi thăng trầm trong đời người phụ nữ ở đây ít nhiều có liên quan đến chiếc vòng mã não. Khi còn là con gái, nếu không có vòng mã não của thần bổn mạng đẹp thì trai bản không yêu. Lựa chọn chiếc vòng nào cũng giống như việc chọn một người chồng, tốt xấu ra sao không thể thay đổi. Khi có gia đình mà trên cổ không đeo thật nhiều vòng mã não cũng không được kính trọng.
Người phụ nữ Pa Kô khi đã có tuổi thì không bao giờ bỏ những thứ như vòng bạc, chuỗi mã não ra khỏi người, vì như vậy rất dễ bị ốm. Họ cho rằng những đồ vật ấy đều có hồn vía và gắn liền ở trong đó rồi. Cho người khác mượn có nghĩa là cho cả linh hồn nên sự giầu sang, quyền lực cũng theo đó mà tiêu tán!
Theo những người già ở xã A Ngo, huyện Đakrông, tỉnh Quảng Trị, vì mỗi vòng Mã não đều ứng với từng người, nên tự thân chúng cũng có lời nguyền. Điều kiêng kỵ nhất là vòng mã não bị mất, bị sứt mẻ vì như thế tai ương sẽ giáng lên đầu chủ nhân. Trước đây, phụ nữ trong những gia đình giàu có, khi thấy vòng mã não bị rạn, sứt họ phải nhường chuỗi mã não cho người nghèo, chấp nhận nhường một ít tài lộc của mình để người khác gánh tai ương cho. Sau đó, họ sẽ làm lễ cúng tạ tội, xin đeo một chuỗi mã não mới để thay đổi vận mạng của chính mình.
Người trẻ hiện nay của những bản làng trên dãy Trường Sơn không còn tôn sùng vòng mã não như thế hệ trước. Dẫu họ đều có vòng mã não 1 hạt để thần bổn mạng trú ngụ nhưng chỉ đeo khi có việc cúng quảy trong nhà”.
Mã não chỉ là một loại khoáng sản, đá quý như các loại ngọc quý khác, dùng chế tác đồ trang sức và mỹ nghệ. Nhưng khi cho nó là vật quý hiếm và gán cho nó những ma mỵ, ly kỳ thì trở thành ám ảnh vào tâm thức con người. Vì ảnh hưởng của sự huyền bí, thần thánh hoá về mã não dễ trở thành chuyện dựng đặt để rồi mang theo những “lời nguyền” hư vô của người cuồng tín, tác động mạnh đến tâm linh, sinh ra những hệ luỵ mê tín dị đoan. Biết đâu có người bảo tìm được tảng Mã não to tướng, rất đẹp, mang để vào nơi đỉnh núi đắc địa nào đó lập đàn cúng bái mặc định cho sự linh thiêng, rồi mệnh danh tâm linh, đồn thổi vào những điều kì dị, hoang đường sẽ dễ dàng trở thành huyền bí lung lạc, đe doạ những người nhẹ dạ cả tin!
Trên trang mạng Eva.vn, đăng tải bài “Bí ẩn những lời nguyền ở hang Nủa, Thanh Hoá” cho biết, dù có tin hay không nhưng những gì xảy ra thì người dân cứ cho những lời nguyền của hang Nủa ở bản Pù Luông là có thật:
“Mấy năm trước, khi biết tin đã có người phát hiện dấu vết sinh sống ở trong hang, đào được một ít vàng nên ông Khánh cũng lặn lội tìm đến và đào được một cái bình sứ nhỏ, có hoa văn rất lạ. Không có vàng cũng được mấy thứ đồ cổ có thể bán cho dân buôn, nên ông hí hửng ra về. Ông kể: “Thế nhưng đến chỗ cột đá và bệ rồng, bỗng dưng tôi nghe thấy một tiếng gầm… rồi một luồng gió cực mạnh ào ào thổi đến, cây đèn măng xông cháy nổ, cháy sém hết quần áo, tôi đau quá nằm ngất không biết gì nữa”. Khi tỉnh lại, thần hồn nát thần tính, ông Khánh vội nhanh chóng thoát thân. Một thời gian sau ông trở nên điên khùng, lơ nga lơ ngơ hàng tháng trời, cúng bái, chữa chạy mãi mới ổn định.
Một người tên là Hoàng ở thị trấn Cành Nàng cách đó 40 km, vào hang Nủa chơi lấy được hai vật trông giống 2 đồng tiền xu, mang về, từ đó liên tiếp làm ăn thất bại, liền đem trả lại chỗ cũ. Thế nhưng một năm sau bị tai nạn đá đè chết khi đang ngủ ở công trường dưới chân núi.
Một thanh niên ở bản Hin gần đó vào bẻ thạch nhũ trong hang về làm đồ trang sức. Rồi khi đi qua bãi nổ mìn khai thác đá bị đá văng gây tai nạn. Vết sẹo do đá văng, ai nhìn cũng thấy giống cửa hang Nủa đến thế!? Về sau, anh ta cứ dở dở, hâm hâm, bỏ nhà ra đi không thấy về.
Cho đến một hôm có đoàn khảo sát địa chất đến muốn làm phép thử nước. Thế là 3 người khệ nệ mang một bao tải muối chui vào hang Nủa. Nhưng vừa vào thì có cảm giác như động đất rung chuyển, bầu trời xám xịt, rồi mưa lớn đổ xuống ầm ầm. Cả đoàn sợ quá lên xe chạy thẳng, không dám quay lại làm nữa.”
Báo điện tử “Người đưa tin” nói về “Bí ẩn lời nguyền ở ngôi chùa không có nhà sư”, như sau:
“Ngôi chùa bề thế, có độ tuổi đến vài trăm năm, rêu phong cổ kính nhất nhì miền Bắc, thế nhưng không có bóng dáng áo thâm. Chùa không có sư ở, có vẻ lạ lùng trên đời, ấy là chùa Keo Hành Thiện, thuộc huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định.
Chuyện kể rằng, khi Thiền sư Không Lộ (1016-1094) dựng chùa, dân chúng nơi đây không mấy mặn mà khói nhang, nên Đức Thánh Tổ nổi giận. Trong một đêm mưa gió bão bùng, Đức Thánh đan không biết bao nhiêu rọ tre, cho tất cả tượng Phật vào đó, rồi ngài ngả nón làm thuyền vượt sông Hồng sang đất Thái Bình.
Đến giữa sông, ngài ngoảnh cổ lại và nói một lời nguyền rằng: “Sẽ không có vị sư nào đến ở ngôi chùa trên”. Câu ấy cứ tồn tại theo miệng nhân thế cho đến bây giờ, nó làm cho ngôi chùa càng tăng thêm tính dã sử.
Thế nhưng một sự thật kèm theo là sau này, vị sư nào trụ trì đến ở cũng sinh bệnh tật, có vị chết bất đắc kỳ tử, có người sợ “lời nguyền” nên sớm bỏ đi. Cho đến bây giờ, cũng chẳng sư nào ở ngôi chùa này, làm cho tích chuyện thêm kỳ bí.
Tại ngôi chùa chỉ có một dòng họ qua 20 đời thay nhau làm thủ từ. Ông thủ từ cho biết: “Cách đây vài năm, có một vị sư khăn gói từ Thái Bình sang, quyết tâm xin ở lại tu đạo và cũng là nghiên cứu, hoá giải lời nguyền nhưng rồi cũng phải ra đi. Lúc đó, ông bảo tôi là bị nhức đầu, suy nhược thần kinh, không đủ khả năng để tịnh cái tâm, phải đi mới ổn!”
Theo diễn đàn Yamaha Motor Vietnam, Bí ẩn lời nguyền trên cây “cầu ma”, mô tả:
“Một nữ sinh xinh đẹp, nặng lòng yêu đương bị người yêu ruồng bỏ sau khi “ăn trái cấm”. Cô tìm đến cây cầu gieo mình xuống dòng nước với cái thai trong bụng.
Người đời đồn rằng cô gái ấy đã để lại lời nguyền độc ác đầy ứng nghiệm cho cây cầu. Bây giờ, nơi cây cầu cô sinh viên đó nhảy xuống đã có tên cầu hẳn hoi, mà cái tên cũng rất thảm thương như dấu ấn bi thương để “tưởng niệm” các cô gái chết trẻ vì tình. Người ta kể rằng, vì cây cầu là nơi nhiều cô gái ở tuổi “ô mai” tìm đến nhảy xuống dòng sông tự vẫn vì tình nên dân gian đặt tên cho cầu là “cầu Đa cô”.
Đi tìm tung tích lời nguyền, thì 21 năm về trước, trong lớp K9, trường Cao đẳng Sư phạm Đà Nẵng (nay là trường Đại học Sư phạm Đà Nẵng), có Hoàng T.N, quê ở Hoà Vang, nổi tiếng xinh đẹp, nên được nhiều chàng trai để ý. N học rất giỏi, chăm chỉ, bạn bè, thầy cô trong trường ai cũng quý mến. Năm thứ 3, cô phải lòng một chàng sinh viên Đại học Bách khoa Đà Nẵng. Quá say mê yêu đương, sức học của N giảm hẳn. Cái gì đến đã đến, N có bầu đến tháng thứ 4 mới biết. Chàng trai biết tin như bừng tỉnh cơn mê, anh ta hứa về quê xin cha mẹ cho cưới, nhưng rồi không thấy quay trở lại…
Thầy Nguyễn Khắc Sinh kể: Vào một đêm trăng sáng vằng vặc lạ thường, nửa đêm, khi các phòng đã tắt đèn đi ngủ, thì N mở cửa đi ra. Thấy N vẫn mặc quần áo ngủ nên mọi người không để ý. Đến khi đợi mãi không thấy N trở về.
N bần thần đi ra cây cầu cách một cây số, nằm ở phía Nam trường học. Nhiều người đi chợ đêm thấy cô đứng trên đó khóc thống thiết gọi mẹ, gọi cha, gọi tên người yêu và oán rằng sẽ chết. Mọi người càng can ngăn, N càng hung dữ. Trước khi lao mình xuống dòng nước, N la lên thảm thiết: “Tôi chết cho thằng đó phải chết. Những ai yêu như tôi sẽ phải chết như tôi, tại cây cầu này!”
Người ta phải dùng rào gai buộc đá kéo và hai ngày sau mới tìm thấy xác cô”.
Trong một chương trình trên Truyền hình Việt Nam tháng 9 năm 2011, giới thiệu về chùa Thiên Mụ ở Huế có nhắc đến lời nguyền về tình yêu đôi lứa. Dân gian ở vùng này đồn rằng, những lứa đôi trai gái yêu nhau thì chớ đến chùa, không lên tháp Phước Duyên! Vì những ai yêu nhau, khi đến nơi đây, trở về không lý do này thì lý do khác cũng sẽ chia tay?
Không biết có phải lời nguyền hay do ngẫu nhiên mà một số bạn sinh viên nói rằng, thực tế có những đôi khi đến chùa đã nảy sinh mâu thuẫn, về sau thôi nhau thật.
Nhà sư trụ trì chùa Thiên Mụ cho biết đại ý: Chùa ở nơi xa trung tâm, không gian lại tĩnh lặng. Trước kia, nhiều khi các bạn trẻ đến đây thường thể hiện chuyện yêu đương thái quá, không phù hợp với chốn thâm nghiêm ở cảnh chùa. Có lẽ vì thế mà ai đó đã đặt ra chuyện để làm cho mọi người có ý thức giữ gìn thanh tịnh chốn chùa chiền.
Người ta còn đồn đại về chuyện một chuyên gia người Nhật bị tử nạn khi sang làm công trình cầu tại Bãi Cháy ở Hòn Gai, tỉnh Quảng Ninh như một lời nguyền. “Linh hồn” chuyên gia này cứ thỉnh thoảng lại hiện lên ở dưới chân cầu để báo ứng, và cũng đã có chuyện người nhảy cầu tự tử. Câu chuyện cứ thêu dệt càng trở nên hoang đường, kỳ bí.
Đặc biệt sức mạnh tình yêu lứa đôi thường hay được thần tượng hoá và ra giá bằng một lời nguyền:
“… Em nguyền chỉ lấy một Anh làm chồng.
Một là lấy, hai không là chết
Chết còn hơn bị ép tình duyên.
Tình duyên đâu phải uy quyền
Tình duyên đâu phải bạc tiền bán mua!”
(Đồi Thông hai mộ)
Và người ta giữ lấy lời nguyền. Còn khi bước qua lời nguyền, hoặc rũ bỏ lời nguyền sẽ trở nên bi kịch.
Trong dân gian còn rất nhiều chuyện, kể cả gắn vào ngoại cảm để minh hoạ như những lời nguyền làm cho nó trở nên bí hiểm.
Chuyện về những lời nguyền cho thấy thường do chính con người dựng đặt mà ra. Nó không phải tự nhiên, không có thánh thần, ma quỷ nào làm ra cả. Cách đây hàng hàng ngàn năm, người Ai Cập cổ đại dựng nên Kim Tự Tháp huyền bí và viết vào tường đá một lời đe doạ. Viên kim cương “Hy Vọng” cũng do con người làm ra, những lời nguyền cũng được dựng nên vô hình trong tâm thức. Cho đến các hình thái gọi là “lời nguyền” trên hòn đá, chuyện các đời tổng thống Mỹ, chuyện về hang đá, chiếc vòng Mã não, cái chết ở những cây cầu, chùa không có nhà sư… tất cả đều có nguyên nhân từ con người. Về quan niệm lời nguyền, có hai hình thức: Tâm linh có hình và tâm linh vô hình. Lời nguyền bằng tâm thức qua hình thái những chữ, những câu ghi trên vật dụng (Kim Tự Tháp), đồ vật có thật (vòng mã não, đồ cổ trong hang đá) hay câu nói truyền lại mai sau (lời nhà sư nói lại, lời cô gái trước khi nhảy cầu), đưa con người vào thế giới tâm linh qua hình tượng có thật. Lời nguyền qua tâm thức lưu truyền vô hình, như vòng mã não, viên Kim cương là hữu hình, là đồ trang sức, tự nó không có lời nguyền. Khi con người dùng nó, lại thần thánh hoá, gán cho nó như có lời nguyền, hoặc vô tình hay ngẫu nhiên trùng lặp những sự tai ương thì lại cho rằng “lời nguyền” của nó phát tác. Sự trùng lặp ngẫu nhiên của các đời tổng thống Mỹ cũng mặc nhiên tâm truyền là “lời nguyền” trong đó. Nhưng khi đến tổng thống Ronald Reagan thì bị hoá giải và từ đó cũng mất tiêu khái niệm lời nguyền về ngôi nhà Trắng và tổng thống Mỹ?
Tính chất chung của lời nguyền đều mang hàm ý cảnh báo hoặc đe dọa, làm cho nó trở nên bí hiểm và sợ hãi. Có khi lời nguyền dành cho tất cả mọi người, như “Lời nguyền Pharaon - Kim Tự Tháp”, vòng mã não, lời nguyền viên kim cương Hy Vọng, lời nguyền hang đá. Nhưng cũng có lời nguyền chỉ dành cho cá nhân hoặc số ít người, thường là câu chuyện của tình yêu “không lấy được nhau thì nguyền chỉ có chết”.
Lời nguyền không phải ngay từ đầu đã hình thành và trở nên bí hiểm. Nó có thể chỉ là một ý đồ nhằm bảo vệ an toàn mãi mãi cho sự bền vững, lưu truyền như lời ghi trên vách đá Kim Tự Tháp. Cũng có khi chỉ là nơi muốn lưu giữ bí mật lâu dài nhưng không có di chúc lại điều gì như các đồ vật cổ trong các hang đá, đền chùa. Nhưng cũng có khi chỉ là hiện vật, không hề có lời ghi, câu dặn gì cả như viên ngọc màu xanh “Hy Vọng”… Nhưng đến khi phát hiện ra hoặc đụng chạm vào tự nhiên xảy ra những tai hoạ và lặp lại nhiều lần liên quan đến nó thì người ta mới gán ghép cho nó là có lời nguyền!
Cũng còn rất nhiều chuyện diễn ra trên đời như kẻ cắp vào lấy đồ thờ cúng ở đền, chùa, sau đó về nếu thấy ốm đau, hoạn nạn thì người ta cho là quả báo chứ không cho là có lời nguyền. Và có lẽ là để giáo dục con người và răn đe kẻ trộm cắp, bất lương mà dân gian đặt ra như thế. Còn nếu chẳng thấy kẻ cắp làm sao, do tên cướp quá “cứng bóng vía”, táo tợn và không biết sợ hãi, thì “quả báo”, “lời nguyền” đều vô tác dụng.
Đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm cách giải mã cho bí hiểm lời nguyền. Dù hình thái nào, thì lời nguyền cũng là do con người dựng lên, làm ra. Vì thế, nó phải có ẩn dấu huyền bí về nhân tố con người. Phải chăng trong đó có tâm thức tinh thần và thực thể của biện pháp khoa học làm nên bí ẩn?
Nếu như, một dòng chữ có ma lực thị uy cho tư tưởng, tinh thần người ta khi đụng chạm vào, nhìn thấy như ở Kim Tự Tháp, nó sẽ trở nên ám ảnh kinh sợ. Đây là mấu chốt cần có ở một công trình kỳ vĩ, bí ẩn để đầu độc về tinh thần con người mỗi khi ai tiếp cận, có hành vi đụng chạm vào nó. Cùng với thế, có thể người ta đã nghĩ đến chuyện cài đặt, ngâm tẩm vào nơi đó những loại chất độc hại, hoặc do lâu đời mà phát sinh những loại siêu vi khuẩn, để khi mở ra có sức phát tán mạnh mẽ, nhiễm vào con người. Khủng bố về tâm thần, nghĩ suy, ức chế thần kinh ngày đêm do lo nghĩ, sợ hãi tất sinh điên dại. Nhiễm độc, nhiễm trùng sinh ra bệnh tật, ốm đau. Khi cả hai vào một con người phải thành đại hoạ, bệnh tật, nguy kịch, đột tử, chết người.
Cũng từ áp lực tinh thần, tâm lý sợ hãi do ám ảnh bởi lời nói và câu chuyện bi thương, lại bị khủng hoảng vì đang có chuyện đau buồn, thì người ta dễ làm theo những gì ám ảnh để mong giải thoát. Vì vậy, địa điểm ở cây cầu đã xảy ra thảm cảnh, ngộ ra như một thứ thôi miên đưa người cùng cảnh đến đấy quyên sinh mà trở thành giai thoại bi thương ghê sợ của lời nguyền.
Như vậy, con người phải có hai điều kiện là bản lĩnh rất vững vàng và thiết bị bảo vệ an toàn tuyệt đối sẽ là hoá giải cho những lời nguyền? Nếu như một người vô tâm, vô thức, không bao giờ có khái niệm sợ hãi về tinh thần thì có lẽ chẳng bao giờ nghĩ có lời nguyền và mình phải chết, còn nếu vì lý do gì mà chết thì chỉ là chuyện ngẫu nhiên. Hoặc khi nơi bí hiểm, hang sâu có chất độc và con người biết cách phòng tránh độc hại thì khi đến đó những cái chết cũng khó xảy ra.
Lời nguyền trước hết gây nên áp lực rất lớn về tâm thức, tinh thần. Áp lực ấy lâu dài, mạnh mẽ sẽ trở thành hội chứng tâm thần dẫn đến những hậu quả không lường. Cùng với tác động mạnh về thể xác thành nguyên nhân của nhiều bí ẩn đau thương, tai hoạ. Đây cũng là câu hỏi mà khoa học cần làm sáng tỏ.
Xã hội văn minh ngày nay với những thiết bị khoa học công nghệ thông minh làm ra những sản phẩm hấp dẫn, cùng với hiểu biết của con người đã vượt xa những lạc hậu thì giá trị sử dụng vật chất cổ xưa sẽ bị đẩy xuống và những lời nguyền cũng dần dần đi vào quá khứ của tâm thức con người hiện đại.
Cũng như tất cả mọi sự trên đời, lời nguyền đều trôi vào dĩ vãng, có lời nguyền thật sự mất đi, không linh nghiệm nữa, chỉ còn là dư âm trong dân gian đồn đại mà thôi. Nó không là năng lực ngoại cảm, cũng không giống như khái niệm “linh hồn”. Và lời nguyền cũng chỉ xảy ra ở một số ít người, tuy để lại ám ảnh mang nhiều bí hiểm, hoang đường nhưng không trở thành bi kịch cho cả số đông. Nó không là thánh thần, ma quỷ mà chỉ là di thức tâm thần và thực thể dẫn đến biến cố đau thương, tạo nên bức màn huyền bí về nhận thức trong cộng đồng người.
Ngày tận thế
Lịch sử hành tinh chúng ta đang sống đã từng có thời kỳ huỷ diệt. Các công trình nghiên cứu khoa học về Vũ Trụ, Trái Đất thấy rằng hoạt động biến thiên của vũ trụ, thiên hà gây ra những bắn phá, va đập giữa các thiên thạch, hành tinh; Vận động trong lòng trái đất gây ra những biến đổi địa hình là nguyên nhân sự huỷ diệt. Chứng tích cho thấy thời kỳ tiền sử, nạn Hồng Thủy của kỷ Băng Hà khiến loài Khủng Long tuyệt chủng xác xuất phải hàng trăm triệu, thậm chí hàng tỷ năm mới có thể xảy ra trên Trái Đất.
Ngày nay, với sự phát triển thần kỳ của khoa học mà con người đã và đang phát minh, sáng tạo nhằm thực sự phục vụ lợi ích con người, nhưng đồng thời cũng có thể huỷ diệt toàn nhân loại. Khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến, thông minh ứng dụng vào đời sống hiện đại nhưng cũng tạo ra hạt nhân nguyên tử đe doạ gây thảm hoạ hủy diệt, hiệu ứng công nghiệp phá hỏng tầng khí quyển gây mất an toàn sự sống, băng tan ở các cực của Trái Đất nhấn chìm lục địa.
Như vậy, có ba nguyên nhân gây ra hậu quả kinh hoàng cho hành tinh và sự sống. Đó là Thiên, Địa, Nhân. Ta gặp ở đây sự thú vị từ Thiên - Địa - Nhân vốn là gốc hình thành sự sống lại là Thiên - Địa - Nhân huỷ diệt nhân loại; Tức là vũ trụ với những giao thoa bạo liệt, trái đất với biến đổi địa hình, nứt vỡ và con người với những tham vọng đen tối.
Câu hỏi đặt ra là sự huỷ diệt hay ngày tận thế có thể xảy ra hay không và khi nào? Chứng cứ khoa học, khảo cổ và nghiên cứu địa lý thế giới đã vén bức màn bí ẩn, huyền diệu từ hàng triệu, trăm triệu và hàng tỷ năm bởi những sự kiện dữ dội huỷ diệt sự sống trên trái đất. Vết ăn mòn các chân núi trên vịnh Hạ Long là di tích của thời kỳ biển tiến xa xưa. Xương hoá thạch của loài Khủng Long là bằng chứng một sự huỷ diệt do va chạm thiên thạch vũ trụ vào Trái Đất. Sự trôi dạt địa hình tạo thành các lục địa của địa cầu. Trong tương lai liệu có xảy ra sự nứt vỡ, trôi dạt biến dạng ghê gớm hơn nữa của lục địa không? Con người phát minh ra nguyên tử hạt nhân với sức mạnh ghê gớm ứng dụng vào đời sống, làm vũ khí răn đe chiến tranh và kho dự trữ hạt nhân ở các quốc gia ẩn chứa thảm hoạ huỷ diệt loài người. Đó là chưa nói đến biến đổi khí hậu, môi trường, bùng nổ dân số dẫn đến mâu thuẫn, đói nghèo, dịch bệnh gây nên đại hoạ toàn cầu.
Hiện nay, các nhà khoa học thiên văn trên thế giới đang cảnh báo hiện tượng thiên thạch bay gần và có khả năng đâm vào trái đất, nếu con người không có cách gì phòng tránh, sẽ gây ra những thảm hoạ khủng khiếp. Những vận động, xung lực dữ dội trong lòng trái đất có thể nứt vỡ, di chuyển lục địa, phun trào núi lửa và nổ tung hành tinh chúng ta đang sống. Tham vọng đen tối và hiếu chiến của con người gây ra chiến tranh liên miên, khủng bố tàn bạo trên khắp hành tinh, nếu không ngăn chặn được có thể là những ngòi nổ cho hành động điên rồ tiến hành chiến tranh hoá học, ấn nút hạt nhân huỷ diệt sự sống trên trái đất. Nó là nhãn tiền do con người chứ không cần phải trải qua hàng tỷ năm như từng xảy ra do vũ trụ, tự nhiên xa xưa. Nếu thế, sẽ là rất bi thương về Trời - Đất - Con Người trong thảm hoạ của “ngày tận thế”!?
Một trong những câu chuyện có liên quan đến “ngày tận thế” là lịch cổ tôn giáo Tzolkin (lịch thiêng) của người Maya, một tộc người thời cổ đại ở Mexico, vùng Trung Mỹ, cách đây khoảng 4000 năm. Nôi của nền văn minh Maya có từ khoảng mười vạn năm trước, đây cũng là nơi xuất hiện các thầy phù thủy đầu tiên của loài người. Theo lịch này, một tháng có 20 ngày, một năm chỉ có 260 ngày. 360 ngày là 1 Tun, 20 Tun là 1 Katun, 20 Katun là 1 Baktun và chỉ tính đến 13 Baktun là một chu kỳ lớn (5.125 năm). Điểm kết thúc của lịch Maya là cái Baktun thứ 13 của ngày cuối cùng được đánh dấu là 13.0.0.0.0. Theo các nhà nghiên cứu thì thời điểm đó tương ứng với lúc 10 giờ sáng ngày 21 tháng 12 năm 2012. Mặc dù không chỉ đích danh là “ngày tận thế”, nhưng sự chấm hết của chu kỳ lịch cổ Maya làm cho con người hiểu như là sự chấm hết, một thảm hoạ kinh hoàng diệt vong của nhân loại?!
Nhân chuyện này, các nhà chiêm tinh, tiên tri, tôn giáo, những người có đầu óc suy diễn, hài hước, hình dung tưởng tượng, kể cả những kẻ dựng chuyện, bịa đặt, phù thủy, mê tín dị đoan tha hồ đưa ra những dự báo kinh sợ, bi hài. Đó là: Không phải lịch của người Maya kết thúc mà là lúc thế giới kết thúc. Vào lúc đó quỷ địa ngục xuất hiện và đó là ngày cuối cùng của chúng ta, ngày đại hoạ, thế giới diệt vong. Biến động gây ra các thảm hoạ chết chóc trên trái đất. Có nhà tiên tri còn đưa ra ước tính khoảng 207 triệu người, tức khoảng 3% dân số trái đất sẽ bị bay khỏi địa cầu vào ngày 21 tháng 5 năm 2011. Thế mà ngày 21 tháng 5 năm 2011 đã đi qua bình an vô sự! Những năm tháng tiếp theo liên tục xảy ra động đất và thiên tai khủng khiếp, cho tới ngày 21 tháng 12 năm 2012 trên trái đất không còn sự sống (!?). Và rồi từ ngày 21 đến ngày 23 tháng 12 năm 2012 không có mặt trời. Không gian vũ trụ không chỉ ba chiều mà thành bốn chiều, phải niệm “A Di Đà Phật”...
Các nhà khoa học tính toán, 5 chu kỳ lớn là 26.000 năm, là thời gian hệ mặt trời, trong đó có trái đất đi qua độ dày đĩa mặt phẳng xích đạo của dải Ngân Hà. Nó sắp xếp thẳng hàng hệ mặt trời với trung tâm thiên hà theo mặt phẳng chính. Người Maya gọi hiện tượng này là “Cây Thánh”. Khi đó lực hấp dẫn tác động lên hệ mặt trời sẽ cực đại, nhiều thảm hoạ xuất hiện như bão mặt trời, đổi cực trái đất… đồng nghĩa với nguy cơ trái đất diệt vong!
Cơ quan Vũ trụ NASA, Mỹ, cũng tính toán năm 2012 các hành tinh trong hệ mặt trời thẳng hàng với nhau. Lực hút từ một loạt hành tinh thẳng hàng sẽ làm nhiều điểm trên mặt trời bắn tung các cơn bão lửa về phía các hành tinh, với những mảnh vụn của mặt trời chứa đầy điện tích. Hiện tượng này ảnh hưởng vào trái đất gây nhiễu loạn điện từ; Đồng thời có thể gây ra sự đổi cực của mặt trời và có thể kéo theo sự thay đổi cực trái đất. Hiện tượng này được các nhà khoa học tại NASA đưa ra nhân biến cố sau động đất ở Chi Lê và thảm hoạ kép động đất và sóng thần ở Nhật Bản đã làm dịch chuyển trục trái đất vài cm và rút ngắn thời gian của một ngày chút ít. Biến động đột ngột, rất lớn có thể xảy ra, đến nỗi nhà tiên tri Edgar Cayce cho rằng trái đất sẽ đổi cực và nhiều vùng đất sẽ biến mất.
Tuy nhiên, đó là những dự đoán. Dự báo lần này phần nào đó có sự trùng hợp một số hiện tượng vũ trụ, thiên nhiên cổ xưa và hiện tại. Nếu không đúng như thế thì có nhân tố nào hoá giải? Còn đúng như thế, là sự thần kỳ của người Maya và là thảm hoạ không gì tránh khỏi! Một số người ở Châu Âu và Mỹ hoảng hốt, lo xa đã lục tục tính chuyện kéo nhau lên núi non xa xôi, hẻo lánh, hiểm trở để tránh đại hoạ. Người ta còn cho rằng nền văn minh nhân loại sẽ làm lại từ đầu!?
Theo thông tin Yahoo! Tin tức đầu tháng 3 năm 2012:
“Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) xác nhận một thiên thạch có đường kính 60m có khả năng va chạm với trái đất trong 11 tháng tới. Đó là thiên thạch mang tên 2012DA14, được một số người ngắm sao Tây Ban Nha phát hiện hồi tháng 2. Dự kiến thiên thạch sẽ tiếp cận gần nhất với trái đất vào ngày 15 tháng 2 năm 2013, khi khoảng cách giữa hai bên nằm dưới 27.000 km.
Để ngăn chặn nguy cơ xảy ra ngày tận thế, các nhà khoa học đã gợi ý dùng sơn hoặc súng cỡ lớn để chống lại thiên thạch. Giới chuyên gia vẫn tin rằng, nhân loại cần tới một con tàu vũ trụ, có thể bắn thiên thạch hoặc đơn giản là đâm thẳng vào thiên thạch, khiến nó vỡ thành nhiều mảnh hoặc đảo hướng đi khỏi trái đất. Khó khăn nhất của kế hoạch trên là nhân loại không còn đủ thời gian để chế tạo tàu vũ trụ phục vụ cho mục đích ngăn chặn thiên thạch.
Nhà khoa học Aleksandr Devaytkin, lãnh đạo đài quan sát thiên văn Pulkovo, Nga nhận xét: Thiên thạch có thể đi chệch hướng, nhưng như thế sẽ trở nên nguy hiểm hơn khi quay trở lại trái đất vào năm 2056. Các chuyên gia khoa học Nga nói rằng, dường như việc nhận thấy nguy hiểm trong không gian vẫn là lĩnh vực con người chưa có sự kiểm soát và hệ thống phòng vệ trước thiên thạch vẫn chỉ là khoa học viễn tưởng. Tuy vậy, việc trái đất gặp gỡ 2012DA14 chưa chắc đã mang tới sự huỷ diệt. Chuyên gia Dunham nói: “Thiên thạch có thể vỡ thành nhiều phần khi đi vào bầu khí quyển. Trong trường hợp này, phần lớn các mảnh vỡ sẽ không bao giờ tới được bề mặt trái đất.”
Nhưng nếu thiên thạch không vỡ, sẽ là một câu chuyện hoàn toàn khác. Hiện điểm rơi của thiên thạch vẫn chưa được xác định.”
Theo Yahoo! Tin tức, đầu năm 2012 đăng tải về “5 Kịch bản tận thế trong năm 2012”, tác giả Minh Long nói về hậu quả khủng khiếp đó là:
1- Địa cầu bị một hành tinh có tên Nibiru sẽ lao trúng trái đất vào ngày 21-12-2012. Hành tinh này do người Sumer, sống ở thiên niên kỷ thứ tư trước Công nguyên, đạt tới trình độ khoa học rất cao, trước khi diệt vong tìm thấy. Sau đó họ xác định được năm đó sẽ đụng địa cầu? Nhưng các nhà khoa học nghiên cứu chương trình các vật thể gần trái đất của NASA tuyên bố: “Nibiru là một trò đùa nực cười vì nó không hề tồn tại!”
2- Các hành tinh xếp thành hàng thẳng tắp trong ngày 21-12- 2012, làm xáo trộn năng lượng địa cầu nhận từ mặt trời tăng vọt, dẫn đến tình trạng huỷ diệt trên hành tinh trái đất. Tuy nhiên, khoảng cách giữa mặt trời và mặt phẳng Ngân Hà vào khoảng 67 năm ánh sáng. Vì thế ngày mà mặt trời di chuyển qua mặt phẳng sẽ chỉ xảy ra trong vài triệu năm nữa, chứ không phải năm nay. Các nhà khoa học cũng cho rằng: “Hiện tượng các hành tinh xếp thẳng hàng sẽ không xảy ra vào ngày 21-12-2012. Ngay cả khi hiện tượng đó xảy ra, nó cũng chẳng gây nên bất kỳ vấn đề nào”.
3- Bão mặt trời. Mặt trời thường xuyên phóng ra những luồng hạt mang điện tích. Hiện tượng đó xảy ra thường xuyên và tăng, giảm theo chu kỳ gần 11 năm. Khi những hạt mang điện tích tới trái đất, chúng có thể tạo ra cực quang, phá hỏng vệ tinh nhân tạo và đường dây điện, không gây nên tác động lâu dài với trái đất. Các tài liệu ghi nhận địa cầu từng hứng chịu một trận bão mặt trời siêu mạnh vào năm 1859. Song nhà khoa học Yeomans nói: “Chúng ta chưa tìm được bằng chứng nào cho thấy một siêu bão mặt trời sẽ bùng phát vào 21-12”.
4- Từ trường địa cầu đảo ngược. Người ta cho rằng hai cực địa lý, hai cực từ của trái đất sẽ hoán đổi vị trí trong năm 2012, khiến nhiều hiện tượng bất thường xảy ra, như địa cầu sẽ di chuyển hỗn loạn. Những nhà khoa học cho rằng, sự đảo ngược của từ trường địa cầu khó xảy ra vì lực hút của mặt trăng khiến chuyển động xoay của trái đất luôn ổn định. Hai cực từ của địa cầu có thể đảo ngược, song sự kiện ấy chỉ xảy ra theo chu kỳ 500.000 năm. Ngay cả khi hai cực từ địa cầu hoán đổi vị trí, loài người sẽ không phải đối mặt với bất kỳ hiểm hoạ nào. Việc duy nhất là làm đổi hướng của la bàn.
5- Thiên thạch đâm vào trái đất. Địa cầu thường xuyên hứng chịu sự bắn phá của các sao chổi và thiên thạch. Song những vụ va chạm lớn hiếm khi xảy ra. Vụ va chạm lớn nhất đã từng diễn ra chừng 65 triệu năm trước, khiến loài khủng long tuyệt chủng. Giới thiên văn liên tục quan sát những vật thể gần địa cầu. Nguy cơ đụng độ giữa một thiên thạch lớn với trái đất là rất nhỏ. Chưa có một phát hiện bằng chứng về việc một vật thể lớn nào đó sẽ đâm trúng trái đất trong năm 2012.
Gần đây đã có những đồn thổi, tiên tri về “ngày tận thế” gây hoang mang, lo sợ trong cộng đồng thế giới. Nhưng rồi thời gian qua đi, dự đoán cũng chỉ là dự đoán, trái đất và con người cho đến hôm nay vẫn chưa chứng kiến sự huỷ diệt khủng khiếp nào xảy ra như dự đoán.
Yahoo! Tin tức ngày 14 tháng 3 năm 2012, đăng tải tổng hợp của Hạo Nhiên trên báo Thanh niên Online “NASA bác bỏ ngày tận thế” như sau:
“… Sẽ chẳng có sự kiện huỷ diệt trái đất nào giống các tin đồn về khả năng tận thế như suy đoán từ lịch cổ của người Maya. Don Yeomans, người đứng đầu chương trình các vật thể gần trái đất của NASA/JPL, giải thích lịch của người Maya không ám chỉ rằng thế giới chấm hết vào ngày đó, mà đơn giản là chấm dứt một chu kỳ thời gian. Giống như lịch hiện đại chấm dứt một năm vào ngày 31-12 và chu kỳ mới nối tiếp ngay vào ngày 1-1.
Về hành tinh có tên Nibiru di chuyển chớp nhoáng xuyên qua Hệ mặt trời vào đúng thời điểm định mệnh chỉ để đâm vào trái đất đúng dịp tháng 12- 2012, chuyên gia Yeomans nói: “Hàng ngàn nhà thiên văn học dõi mắt lên bầu trời mỗi đêm, làm sao lại không phát hiện ra sự lảng vảng của một hành tinh nào gần trái đất được? Khả năng hành tinh Nibiru xuất hiện cũng thấp ngang với chuyện từ trường trái đất đảo cực, nếu ai nghĩ đến vấn đề này”
Còn “Bão mặt trời”, các nhà khoa học NASA giải thích: “Đúng là bão bùng ngoài không gian đang đổ xuống trái đất, nhưng đây chỉ là một phần chu kỳ hoạt động bình thường của mặt trời. Bức xạ từ các vết loá trong khí quyển mặt trời có thể phá huỷ vệ tinh, nhưng từ trường trái đất sẽ điều chỉnh nhằm bảo vệ cư dân địa cầu trước những đợt tấn công của tia vũ trụ, và những vết loá này không gây hại đến sức khoẻ con người”.
Một số người theo thuyết tận thế cho rằng sự thẳng hàng của các hành tinh sẽ gây nên những hiệu ứng thảm khốc về triều cường, có thể nhấn chìm bề mặt trái đất bằng cơn đại hồng thủy, hoặc xé toạc các đại dương, gây động đất, sóng thần. Chuyên gia Yeomans khẳng định là chẳng có hiện tượng thẳng hàng nào diễn ra trong tháng 12- 2012. Chỉ có 2 thiên thể tác động được đến trái đất trong Hệ mặt trời là mặt trăng và mặt trời, nhưng chuyện thẳng hàng giữa chúng là quá bình thường, hậu quả chỉ là khiến thủy triều trên địa cầu cao hơn thường lệ mỗi tháng.
Chuyên gia Yeomans còn minh hoạ, kể từ buổi bình minh của lịch sử loài người, không dưới hàng trăm ngàn giả thuyết được đưa ra từng dự đoán về sự lụi tàn của trái đất. Tuy nhiên, sau bao nhiêu năm, con người vẫn sống khoẻ cho đến tận bây giờ để tiếp tục bàn chuyện về… ngày tận thế”.
Báo “Thanh niên Online” 25-10-2012 đăng tải bài “Người Maya phản đối tin đồn về ngày tận thế” của Phúc Duy cho biết như sau:
“(TNO) Người dân tộc Maya ở Guatemala ngày 24-10 cáo buộc chính quyền và các công ty du lịch lợi dụng tin đồn ngày tận thế trong lịch của người Maya để kiếm tiền, tin tức từ AFP.
“Chúng tôi kịch liệt phản đối những lời nói dối, bịa đặt, tin đồn về người Maya để trục lợi, kiếm tiền”, AFP dẫn lời ông Felipe Gomez, lãnh đạo Liên đoàn Oxlaljuj Ajpop của người Maya vào ngày 24-10.
Theo AFP, các chuyên gia cho biết đối với người Maya cổ đại, năm 2012 chỉ là cột mốc kết thúc một trong số những chu kỳ thời gian trong lịch sử của người Maya, chứ không phải tận thế.
Theo cộng đồng người Maya, bộ văn hoá và các công ty du lịch ở Guatemala đã lợi dụng tin đồn về ngày tận thế, hiểu sai về chu kỳ thời gian của người Maya, để tổ chức các sự kiện kiếm tiền từ những du khách hiếu kỳ, theo AFP. Cũng theo AFP, trên một nửa dân số Guatemala (gần 15 triệu người) có nguồn gốc tổ tiên là người Maya”.
Báo An ninh Thế giới tháng 3-2012 đăng tải bài “Tiến hoá sinh học của nhân loại “kịch trần” hay chưa?” của tác giả Trần Thanh Tịnh cho biết:
“Theo ý kiến của Tiến sĩ Nazaretyan, những kỹ nghệ mới đang đe doạ trực tiếp loài người chúng ta. “Cha đẻ của công nghệ nano”
Kim Eric Drexiler đã cảnh báo về việc nảy nòi ra các vi khuẩn nano và chúng sẽ xâm nhập vào cơ thể con người tuỳ theo đặc điểm gien của từng cá nhân. Còn nhà khoa học lừng danh và cũng là một nhà lập trình nổi tiếng người Mỹ Bill Joy đã nhận định rằng, thế kỷ XX là thế kỷ của vũ khí huỷ diệt hàng loạt và thế kỷ XXI sẽ trở thành thế kỷ của những công nghệ huỷ diệt hàng loạt. Liệu chúng ta có thể thích nghi được với những nguy cơ mới hay không? Mọi sự phụ thuộc vào chúng ta. Nếu chúng ta trở thành một xã hội nhân văn thì chúng ta sẽ sống sót, còn nếu chúng ta chỉ đua theo những tân kỳ công nghệ thì chúng ta sẽ bị diệt vong.”
Một số chuyên gia thừa nhận hiểm hoạ có thể tiêu diệt loài người bởi siêu núi lửa, thiên thạch tối hay bệnh ung thư.
Như vậy thì “ngày tận thế” không chỉ là tai hoạ từ vũ trụ, thiên nhiên mà còn do chính con người gây nên bằng những phát minh khoa học, nếu không được kiểm soát. Có thể có những đe doạ khủng khiếp cho loài người và minh chứng về ngày tận thế?
Thử giả thiết rằng, hàng tỷ năm sau hoặc xa hơn nữa, nếu vì lý do nào đó hành tinh chúng ta đang sống sẽ nổ tung, hoặc bị hút vào “hố đen” theo vần vũ của vũ trụ thì thực sự là thảm hoạ! Mọi sự sẽ chấm hết. Chỉ còn là vũ trụ bao la vô định...
Chúng ta hãy theo dõi, chứng kiến diễn biến của vũ trụ, khoa học tự nhiên và mong rằng “ngày tận thế” sẽ không là sự thật như đã từng diễn ra, trái đất vẫn cứ quay trong sự bình yên. Các dự đoán đều có xác xuất bình thường. Khoa học ngày nay có thể giải mã cho những hiện tượng thiên nhiên. Mọi việc sẽ diễn biến theo chiều hướng tốt lành và nếu có, chỉ là những đột biến của vũ trụ, thiên nhiên mà con người có dịp được chiêm ngưỡng đầy thú vị.
“Ngày tận thế” không thể từ phán xét của thánh này, nhà tiên tri nọ, mà phải từ cơ sở dự đoán khoa học cùng nỗ lực của các tổ chức quốc tế và hành động vì con người của các nhà lãnh đạo ở mọi quốc gia với trách nhiệm lớn lao vì sự sống nhân loại trên khắp toàn cầu.
Thần thánh, ma quỷ
Thánh thần, ma quỷ đều là khái niệm siêu hình trong di thức tâm linh hoặc ảo giác của con người về tín ngưỡng hay mê tín dị đoan. Khi tôn vinh truyền thuyết, phong tục, tập quán tốt đẹp, anh hùng, vĩ nhân trong lịch sử và ước vọng an lạc, thanh bình thì người ta thần thánh hoá lên, tôn thờ thành tín ngưỡng dân gian trong cộng đồng. Những hiện tượng ly kỳ, khó hiểu gây hoang mang, sợ hãi thì ma quỷ hoá hiện tượng siêu nhiên mà thành ma quỷ.
Xa xưa, trong hoang sơ nguyên thủy là sống vô thức, vô tư, trong sáng, không có thần thánh, ma quỷ. Khi ý thức phát triển, cuộc sống sinh mâu thuẫn, tội ác, cùng với biến đổi của tự nhiên tác động vào cuộc sống và ý thức con người mà manh nha khái niệm thánh thần, ma quỷ.
Người ta cầu mong an bình, hướng thiện, tôn thờ tâm linh, khát vọng tốt lành mà cầu cúng, xây dựng am, miếu, đền, chùa, nhà thờ hướng về tín ngưỡng thánh thần. Hoang mang trước tội ác, bệnh tật và những hiện tượng kỳ bí, sợ hãi mà phát sinh hoang đường, ma quỷ. Huyền thoại, truyền thuyết, cổ tích, thượng đế, thần linh, thành hoàng, đức Phật, đức Chúa, anh hùng dân tộc, vĩ nhân, thiên tài, danh nhân văn hoá được con người thần thánh hoá và tôn thờ ở đền, miếu, chùa chiền, nhà thờ mang ý nghĩa nhân văn, tốt đẹp. Đâm chém, giết người, tang gia, chết chóc, tai hoạ đau thương, ngoại cảm, chiêm bao, ảo giác, hình nhân gây nên sợ hãi đều cho là ma quỷ và đưa vào đêm tối, âm ty, địa ngục mà thành mê tín dị đoan.
Hai hiện tượng vừa mang màu sắc tâm linh vừa mê tín dị đoan cứ song hành tồn tại, làm nên bức màn huyền bí trong tâm thức con người và tạo ra những xung động của cuộc sống. Khi tâm linh kích động gây ra hiệu ứng sức mạnh tinh thần sẽ dẫn đến hành động không lường. Người ta đổ dồn theo tín ngưỡng tâm linh tới nơi đền chùa, lễ hội và hành hương lên tới hàng triệu người về thánh địa linh thiêng. Đó là những sức mạnh tâm linh hướng thiện, nhưng đồng thời cũng có khi lại mệnh danh, lợi dụng tâm linh thánh thần biến thành tà đạo, gây ra bạo loạn, làm mất trật tự an ninh xã hội, quốc gia. Biến tướng tâm linh thành ma quỷ làm lung lạc tinh thần, đưa con người vào mê tín dị đoan, sợ hãi, lừa đảo, tội lỗi.
Xưa kia con người sống trong hoang vu, âm u, dân cư thưa thớt, hiểu biết còn hạn chế, lại bị những tác động của thiên nhiên, bệnh tật, mơ mộng, ảo giác mà thành thần thánh, ma quỷ. Ngày nay, xã hội đổi mới, nhà cửa, đô thị xây dựng hiện đại, văn minh, con người đông đúc, ngày đêm sống trong ánh sáng điện đèn, sử dụng ti vi, máy tính thì thần thánh, ma quỷ cũng chẳng thấy đâu. Còn nếu có thì chỉ là người tâm lý bất an, mê tín dị đoan hoặc thầy bịa ra hành nghề cúng bái.
Khái niệm thần thánh là mơ ước, khát vọng tốt lành, hướng thiện. Theo đó, thần thánh được hình dung, tưởng tượng là đấng cao siêu trên Trời, nơi Thượng Đế và tôn vinh, khâm phục, mong chờ có sự chở che, phù hộ. Ma quỷ là những siêu linh nảy sinh từ tâm lý sợ hãi, ảo giác. Trong đó hiện tượng siêu nhiên “ma quỷ” gây nên tâm lý hoang tưởng, bất an. Theo đó, ma quỷ được vẽ ra là những dáng hình quỷ quái, ghê sợ luôn hiện hình trong hoang vu, đêm tối, hoặc như những “mụ phù thủy” hại người! Báo “Sức khoẻ và đời sống” đăng tải bài tổng hợp của Nguyễn Thanh Hải “Khoa học lý giải về con phố ma ám” ở Scotland, với những hình bóng và ánh sáng không rõ nguồn gốc của những hồn ma trong lòng con phố ngầm Real Mary King’s Close. Bài báo viết:
“Ông Richard Wiseman, công tác tại trường Đại học Herfordshire là một chuyên gia chuyên nghiên cứu về các hiện tượng “hồn ma” tại Anh. Ông đã cùng với nhóm nghiên cứu của mình tiến hành sử dụng các công cụ để đo ánh sáng, độ ẩm của không khí, âm thanh và cả từ trường. Từ kết quả có được thông qua đo đạc đã chỉ ra rằng nếu như một toà nhà “bị ám” thường phải dựa trên một nền tảng có thực nào đó và phải sử dụng những phương pháp như thế để tiến hành xác định nguyên nhân các hiện tượng sinh ra “hồn ma”. Khi không một ai đủ khả năng để có thể chứng minh rằng ma quỷ là chuyện huyễn hoặc, không có thực thì các nhà nghiên cứu đã đề xuất một số giải thích khác nhau về nguyên nhân vật lý hay tâm lý gây nên những hiện tượng siêu nhiên này. Nói một cách đơn giản, một số người có thể bị ảo giác hay phản xạ nhầm lẫn, sợ hãi bóng tối và những âm thanh không rõ hướng… và quy kết rằng do ma làm.
Ở một số khu vực bị nghi là “ma ám”, các nhà nghiên cứu đã đo điện từ trường và nhận ra rằng điện từ ở đó mạnh hơn bình thường hoặc những xáo động điện trường bất thường. Những khám phá này có thể là hiện tượng gây ra tại địa phương đó như từ các thiết bị dùng điện hoặc cấu tạo của địa mạo địa lý, hoặc nó là một phần của từ trường Trái Đất. Một số nhà điều tra về các hiện tượng dị thường nghĩ rằng nguồn gốc các hiện tượng siêu nhiên “bóng ma” là do từ trường tạo ra. Những ý kiến khác cho rằng điện từ hay từ trường đã tác động lên sóng não con người, gây ra hiện tượng ảo giác, hoa mắt hay các triệu chứng thần kinh khác. Một số nhà nghiên cứu còn lập luận rằng nhiều người thường báo cáo về các hiên tượng “hồn ma” xảy ra vào ban đêm mà hiếm thấy vào ban ngày. Bởi vì gió mặt trời đã tương tác với từ quyển của Trái Đất, khi đó từ trường Trái Đất trải dài khi màn đêm buông xuống.
Một số nhà nghiên cứu đưa ra giả thuyết rằng lĩnh vực này sẽ tương tác nhiều hơn với bộ não con người, tác động của điện từ vào bộ não người. Ví dụ, điện từ kích thích các góc cuộn của não bộ, từ đó có thể gây cảm giác như đằng sau bạn có ai đó muốn bắt chước những cử động của chính bạn. Kích thích điện từ cũng tác động lên những vùng khác nhau của não gây nên hiện tượng người bị ảo giác hay đối mặt với hiện tượng cận lâm sàng. Những khu vực lạnh lẽo chính là nơi gây ra những hiện tượng dị thường bên trong những toà nhà bị cho là “ma ám”. Một vài cuộc thực nghiệm đã chứng minh rằng ở tần số sóng ánh sáng thấp còn gọi là “sóng siêu âm” có thể gây nên những hiện tượng dị thường bị quy kết là “hồn ma”. Điều này bao gồm cảm giác căng thẳng và khó chịu cũng như cảm giác đang đi lạc vào trong một căn phòng vắng lặng, u tối. Các sóng siêu âm có thể làm rung động mắt người, khiến cho người ta nhìn thấy những vật mà bình thường không nhìn thấy. Thường dạng sóng này có tần số thấp hơn 20Hz, khiến người ta nhìn thấy những vật không bình thường. Đôi khi các nhà nghiên cứu còn truy vấn ra nguồn gốc của âm thanh. Những nhà nghiên cứu hoài nghi nhất đều tin rằng tất cả các hiện tượng hồn ma đều có thể có những giải thích xác đáng nhất. Những người cố gắng chứng minh về sự tồn tại của các hồn ma nói rằng có những sự kiện có thể tìm được lời giải, song lại có những sự kiện chỉ có thể hiểu là hiện tượng siêu nhiên. Dù ma quỷ là chuyện bịa thì nó đều gây cho một số người tâm lý sợ hãi xen lẫn tò mò thú vị”.
Những nghiên cứu khoa học đã phần nào giải thích về các hiện tượng siêu nhiên. Thánh thần là sản phẩm tinh thần do con người sáng tạo, dựng lên qua hình thái tâm linh nhằm mục đích hướng thiện, giáo dục tốt lành, rồi cũng chính từ đó lại là nguồn gốc biến tướng thành mê tín dị đoan. Ma quỷ là do tâm lý sợ hãi và ảo giác hoặc năng lực cảm xạ ngoại cảm khi con người ở vào hoàn cảnh mông lung, u tịch ức chế mà sinh ra. Như vậy, linh thiêng thì hoá thần thánh, sợ hãi thì thành ma quỷ mà thôi.
Người ta cũng chỉ theo và tôn sùng quan niệm cái gì mình theo, mình thích, ngoài ra, thì chẳng có ý nghĩa gì. Vì thế, người theo đạo thờ thần thánh này chẳng bao giờ làm theo đạo thờ thần thánh khác cũng chẳng làm sao. Cũng như người theo bên Giáo chẳng có bàn thờ cúng tổ tiên mà chỉ đến nhà thờ cầu kinh, sám hối, rửa tội; Người theo bên Lương chẳng nghĩ đến nhà thờ mà cứ cầu cúng, hương khói quanh năm. Còn người “vô thần” không theo bên nào thì chẳng cúng bái, cũng chẳng nhà thờ mà có sao đâu, cuộc sống của họ rất thanh thản, vui tươi, khoẻ mạnh.
Các Mác đã nói: “Không phải thần đã tạo ra loài người mà chính loài người đã dùng óc tưởng tượng của mình mà tạo ra thần vậy.” Và “… Thần thánh chẳng qua là thần thánh hoá sức mạnh của trần gian.”.
Lê Nin cũng cho rằng: “Sự sợ hãi đã tạo ra thần linh”.
Trong cuốn sách “Thế giới có gì thần bí” của Nguyễn Hoàng Điệp - Hoài Giang, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc ấn hành năm 1996, trong phần “Người tạo ra thần và các quy luật của tự nhiên” lý giải 4 vấn đề: 1- Một thời chưa có khái niệm thần linh. 2- Không phải thần đã tạo ra loài người. 3- Thiên nhiên - quy luật và con người, (trong đó có nhịp điệu vũ trụ ảnh hưởng tới đời sống con người, nhịp sinh học và dự đoán tương lai cho cá nhân). 4- Bí mật của mộng mị và những giấc mơ kỳ lạ. Cuối cùng, tác giả kết luận:
“Rõ ràng thời kỳ sơ khai, người nguyên thủy chưa biết đến tín ngưỡng tôn giáo, chưa có ý niệm về mê tín, dị đoan. Dần dần con người thực sự muốn tìm cách giải thích sự vật xảy ra xung quanh mình mà vốn hiểu biết còn hạn chế, nên họ không thể biết được ý nghĩa thực của sự vật. Con người bất lực trước thiên nhiên, lại có ước vọng lớn về săn bắt, sản xuất sinh sản bảo tồn nòi giống. Từ đó, con người cảm thấy mình yếu đuối, thấp kém trước uy lực của tự nhiên. Và vì vậy, họ đã tin vào thần linh, ma quỷ. Ý thức ấy được củng cố và nối tiếp qua nhiều thế hệ, đời này qua đời khác trở thành một sự thật hoang tưởng. Đó chính là mầm mống của mê tín, dị đoan.
Như vậy, mê tín, dị đoan là hành động vô căn cứ, nó được tiến hành dưới những hình thức các ma thuật do con người tự bày đặt ra với sự lừa bịp của những người buôn thần bán thánh, thiếu hiểu biết khoa học.
Ngày nay dưới ánh sáng của khoa học, con người tin vào khả năng sức lực của mình đang vươn lên làm chủ bản thân, xã hội và làm chủ thiên nhiên.”
Thần thánh là khát vọng tâm linh hướng thiện. Ma quỷ là ám ảnh, ảo giác, bệnh tật, sợ hãi. Con người nghĩ ra thánh thần, ma quỷ, bởi không có tư duy, suy tưởng của con người thì không có khái niệm thánh thần, ma quỷ. Thượng đế, Cực lạc, tôn giáo, đạo giáo cũng sinh ra từ quan niệm của con người rồi trở thành tín ngưỡng hay mê tín dị đoan.
Quan niệm thái quá về thần thánh, ma quỷ dễ sinh ra áp lực tinh thần, nếu không hiểu biết, có bản lĩnh và tỉnh táo sẽ sinh ra nhầm lẫn tín ngưỡng tâm linh với mê tín dị đoan.
Thử khảo nghiệm về những người bẩm sinh vừa điếc vừa mù, chúng ta sẽ phần nào thấy được trong họ không có khái niệm thánh thần, ma quỷ, bởi họ không hề bị ám ảnh do tác động nào mà trở nên “vô tư” trong cuộc sống!
Mấy ai biết rằng cái siêu hình, không tưởng lại trở thành sức mạnh ghê gớm. Chỉ có điều khi thiên hướng của con người thái quá, không cân bằng lại được thì bằng mọi giá cứ quyết đi theo, trở thành đệ tử của thánh thần, ma quỷ. Còn nếu hiểu đó chỉ là tâm linh hình tượng và những đặc biệt về khoa học con người sẽ bớt đi sự cuồng tín, cuộc sống ắt êm ái, thanh bình.
Màn đêm kỳ ảo
Màn đêm buông xuống, không gian bỗng trở nên kỳ ảo, mông lung. Một ánh sáng loé lên, một âm thanh đột ngột trong đen tối bao trùm u tịch làm cho cảm giác con người lung linh, rờn rợn, rùng mình.
Người ta chìm vào trong đêm tối với biết bao suy tưởng, hình dung, mơ màng, trắc ẩn. Chỉ có một mình, trong căn nhà tĩnh lặng, hoặc nơi bờ ao, bụi rậm, hay qua bãi tha ma, nghĩa địa tràn ngập bóng đêm, chính là lúc thử lòng can đảm, bạo gan hay run sợ ở mỗi con người.
Màn đêm huyền ảo là nguyên nhân sinh ra biết bao hình dung, tưởng tượng, dựng đặt siêu hình. Người ta vì sợ hãi mà thành bệnh tâm thần, ảo giác, đêm mơ màng, thấy bóng hình ma quỷ, siêu nhân. Chìm vào giấc chiêm bao thấy tổ tiên, ông bà, người thân đêm đêm về báo mộng. Người yếu tim, thấy sợ hãi, kinh hoàng. Người mạnh bạo cho rằng mê tín. Đêm mông lung cứ thấy kéo dài do cảm giác sợ hãi, lo âu. Các thầy mo, thầy cúng nhân lấy đó hành nghề mà diễn đạt thành thánh thần, ma quỷ, yểm bùa, cúng bái.
Đêm kỳ ảo, làm nảy sinh bao quan niệm bi hài. Thần thánh, quỷ ma đều nảy sinh, sống trong màn đêm, ảo giác. Đến khi, trong đêm bừng rực ánh sáng đèn hoặc sáng ra bình minh rạng rỡ, cả ban ngày tràn đầy ánh sáng, thì có cố tìm cũng chẳng thấy ảo giác, sợ hãi, thần linh, ma quỷ ở đâu!
Sớ
Là loại hình văn bản bằng giấy, xưa thường là giấy bồi mỏng kiểu giấy bản, màu vàng. Các ông đồ viết chữ Nho, nên giấy được gấp nếp theo hàng dọc cho hợp với chữ viết từ trên xuống và từ bên phải sang trái. Ngày nay các nhà sư, thầy cúng viết bằng cả chữ Nho và chữ Quốc ngữ tiếng Việt trên cùng một lá sớ hoặc riêng cho từng loại chữ, cũng viết từ trên xuống dưới, từ phải qua trái. Giấy tốt hơn và có các màu trắng, hồng, vàng.
Có nhiều loại sớ nội dung phù hợp với từng việc như: Sớ làng, sớ họ, cúng gia tiên, ông bà, cha mẹ, giao thừa, phúc thọ, tang gia, thanh minh, vu lan báo hiếu, dâng sao giải hạn, sám hối, lễ mẫu, thổ công, bán khoán, đức ông, đức Thánh Trần, tạ mộ, tảo mộ, trạng mã, sớ hầu, cầu tự, khánh thành và sớ nhà Chùa…
Cách viết và cách đọc sớ cũng rất đặc biệt. Sớ bằng chữ nho hay quốc ngữ thường viết khác với các loại văn tự bình thường là theo hàng dọc từ trên xuống, từ bên phải sang bên trái. Chữ viết phải đẹp, viết phải thật cẩn thận, rõ ràng, vì mỗi loại sớ có nội dung và tính chất khác nhau, nếu không tập trung, chú ý rất dễ bị nhầm. Cũng như viết gia phả, người viết sớ khi viết phải thật nhập tâm, suy nghĩ lung tung là viết sai ngay. Chỉ nhầm một chi tiết là phải bỏ cả lá sớ viết lại lá khác, gây phiền phức, mất thời gian, lãng phí giấy mực.
Ngày nay, sớ được in nội dung sẵn, bằng cả chữ Nho, chữ Việt và có rất nhiều loại phục vụ cho những mục đích khác nhau. Người mua sớ về chỉ việc điền thêm những gì còn để trống là xong.
Tờ sớ được đựng trong bao sớ hình chữ nhật để bỏ được tờ sớ vào trong. Bao sớ làm bằng giấy màu vàng dùng cúng Phật ở chùa, màu đỏ dùng cúng thánh thần, gia tiên. Giấy gấp khổ to hơn, theo hình chữ nhật dài để gấp nếp tờ sớ bỏ vào trong. Ngoài bao sớ in một bài vị tạo dáng hình nhân ngồi trên toà sen, phần tròn trên in nhật nguyệt âm dương, dọc xuống là hàng chữ nho: “Từ quang phổ chiếu”, tiếp xuống có bốn chữ “Phụng hành pháp sự”, dưới là dấu vuông đỏ nhà Phật, bên trái ghi chữ “Tiến”, bên phải ghi chữ “Tấu”, dưới ghi hai chữ “Cẩn phong”.
Người ta còn cho kèm vào bao sớ một “lá bùa lệnh” của nhà Phật. Bùa lệnh hình chữ nhật bằng giấy vàng, trên in chữ “Bùa lệnh”, dọc xuống là hàng chữ nho: “Ngọc Hoàng Thượng Đế” có dấu vuông đỏ nhà chùa đóng lên trên. Bên trái có hai chữ: “Nhật tinh”, bên phải có hai chữ “Nguyệt tinh”. Dưới là ba chữ “Lệnh khâm sai”.
Như thế ta thấy thủ tục và sức mạnh “hành chính”, pháp đình thượng đế đã thể hiện ngay trên bao sớ cho cõi nhân gian!
Nội dung sớ rất phong phú, loại nào có nội dung của loại ấy. Đây là loại văn cúng tế thay lời của người sống ở dương gian để nói (cẩn cáo, trình bày) với thượng đế, thần linh hoặc người đã khuất, chứ không phải nói về người dương hay về người âm. Theo quan niệm “sống gửi, thác về” tức là kiếp sống trên đời chỉ là tạm thời, chết mới là nơi ở chính vĩnh cửu, mà trở thành giáo dục đạo lý hướng tới tâm linh tín ngưỡng, tổ tiên, ông bà.
Xưa kia theo Nho giáo, chủ yếu dùng chữ Hán, nội dung lá sớ nhiều khi ngôn từ khó hiểu. Lá sớ được gấp dọc, ở mặt ngoài, trên có chữ “Thiên vận”, dưới là dấu vuông đỏ nhà chùa, tiếp xuống là niên (năm), nguyệt (tháng), nhật (ngày), tiếp xuống là xưng danh loại gì và thượng sớ (kính dâng). Dưới cùng chú thích thêm là loại sớ gì. Vào đầu sớ thường bằng từ “Duy”, gần như nghĩa của từ xưng danh “nay”, “hôm nay”.
Sau đó là đến quốc hiệu, địa phương, như nước Việt Nam, địa danh tỉnh, huyện, xã, thôn, nhưng đều viết theo lối đọc ngược, như: Đông Thượng thôn, Trung Đông xã, Trực Ninh huyện, Nam Định tỉnh, Việt Nam quốc. Đến ngày, tháng, năm cũng vậy, ghi theo âm lịch như sau: Tuế thứ niên (năm) Tân Mão 2011, ngũ nguyệt (tháng) 5, nhị thập thất nhật ngày 27. Chú ý, nếu số ngày bé hơn 10 thì phải thêm chữ “sơ” ở trước để tương ứng với số 0, ví dụ ngày 9 thì viết là “sơ cửu nhật”.
Tiếp theo là ghi họ tên chủ sớ, rồi vào phần nội dung tờ sớ. Người ta còn ghi danh sách nội ngoại gia tộc vào tờ sớ để xướng lên (đọc) cùng nội dung lá sớ.
Trong nội dung của từng loại sớ soạn sẵn cho từng việc gì, kể những nét chính, vắn tắt, nổi bật về lịch sử, nguồn gốc, tính chất, ảnh hưởng của sự kiện, vấn đề muốn nêu ra trong lá sớ, cả kính cẩn, kính thỉnh, cẩn dĩ, tâm thành, lễ vật, thỉnh cầu, vấn an, thụ lộc. Văn sớ được chau chuốt, chọn lọc, bằng văn xuôi giàu ý nghĩa, nhưng cũng nhiều loại được sáng tác thành văn vần rất sinh động đầy cảm xúc. Trong một số loại sớ còn có thêm phần phụ đặc sắc cho sự việc đề cập đến như câu “thần chú” gọi hồn cho người đã khuất về mà nghe sớ.
Tờ sớ liệt kê “trước linh vị” kính thỉnh tên của nội dung hướng đến như thần linh, người đã khuất. Về tên người thì xướng “hiển khảo” là đàn ông, “hiển tỷ” là đàn bà, “hiển tổ khảo”, “cao tằng tổ khảo” cụ kỵ, tổ tiên…
Cuối cùng là kê khai sơ lược vật phẩm dâng cúng, còn chi tiết đã ghi vào “tờ cấp” rồi.
Kết thúc bằng: Cẩn chiêu cáo vu, hay cẩn cáo! Nay ta gọi là cảm tạ, thượng hưởng, như là lời kính dâng, tạm biệt vậy.
Ngày nay, tờ sớ kiểu cổ có cả chữ nho và chữ quốc ngữ tiếng Việt vẫn còn dùng tại một số nơi chùa chiền, thờ tự và trong dân gian. Cùng với sớ, trong nghi lễ còn dùng chủ yếu là những bài văn khấn được Việt hoá bằng văn tự tiếng Việt trong các tuyển tập “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” của nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, “Văn cúng gia tiên” của nhà xuất bản Văn hoá dân tộc và “Khoa cúng tổng hợp” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, mang tính đại chúng, ai cũng đọc được và tiện cho việc phục vụ tín ngưỡng thờ cúng trong dân gian.
Đọc sớ là một nghệ thuật, không phải ai cũng đọc được. Giọng đọc phải hay, truyền cảm và chính xác. Cũng phải nhập tâm mới có thể đọc sớ hay và phải đọc nguyên bản đã viết, không được tự ý sáng tác thêm hay bớt nội dung, vì khi viết đã rất cẩn thận rồi. Sớ có loại cần đọc to, có loại đọc thầm và có loại không cần đọc. Như loại “tờ cấp” thì chỉ đặt lên bàn thờ, không cần cẩn cáo (đọc). Xưa kia các thầy cúng, đồ nho đọc sớ bằng văn tự chữ Hán. Ngày nay, vừa đọc chữ Hán vừa đọc chữ Việt hoặc chỉ đọc theo Quốc ngữ tiếng Việt. Người đọc sớ dùng giọng ngân nga, làm cho người nghe cảm xúc, mủi lòng, khiến cho thần linh, tiên tổ cũng rưng rưng xúc động mà quan tâm, phù hộ độ trì cho cõi dương gian. Trước khi đọc, ông thầy cầm bao có sớ dâng lên ngang trán, kính cẩn vái ba cái, rồi rút lá sớ ra chuẩn bị đọc. Khi ông thầy đọc sớ thì gia chủ, thường là người chủ chính hoặc đích tôn của gia đình phải quỳ chắp tay và đội bao đựng sớ lên đầu. Rồi ông bắt quyết, huơ hương, huơ gương trừ đuổi tà khí yêu ma, trong tiếng trống mõ râm ran, con cháu chắp tay lĩnh hội, cúi đầu lễ bái.
Lá sớ cúng xong đem đốt cùng vàng mã. Các bài cúng khấn gia tiên trong sách in hoặc ghi chép thì cất đi để sử dụng cho các lần sau.
Sớ là hình thức mà người theo đạo thờ cúng dùng để hướng con người đến tín ngưỡng tâm linh nhằm giáo dục lòng hướng thiện và tri ân người đã khuất. Nội dung sớ mang tính giáo dục đạo hiếu, đặc biệt là trân trọng giá trị nhân văn, nhân bản, củng cố lòng tin cho con người. Ngay trong việc làm và viết tờ sớ cũng rèn cho người ta tính cẩn thận, nhập tâm văn hoá đối nhân, xử thế ở đời. Nhưng nếu cứ trông vào tờ sớ để mong được mọi điều, khỏi ốm đau, thi đỗ cao, thành đạt quan trường mà không cần nỗ lực của bản thân thì lại trở thành mê tín.
Xưa kia và cả ngày nay, một số người vẫn còn dùng sớ như là một việc làm cho tín ngưỡng dân gian. Nhưng nó rất nhiêu khê, phiền phức, mất thời gian, đôi khi mang màu sắc mê tín dị đoan, lo âu suy nghĩ và phải nhờ thầy cúng chỉ bảo, viết sớ, cúng bái. Thậm chí thầy cũng chẳng đọc nội dung tờ sớ thế nào, còn tín chủ càng không bao giờ hiểu từ ngữ, nội dung tờ sớ nói gì, nếu không chú ý nghe và được giảng giải. Ai có cố xem cũng rất khó hiểu về những từ ngữ, ý nghĩa, câu cú nửa Nho nửa Việt viết trong tờ sớ. Cứ thế, mua sớ về, điền vào mấy chỗ còn trống đem cúng bái rồi đốt đi, cuối cùng người ta chỉ biết đơn giản là làm sớ cúng rồi, là xong.
Vì thế mà nhiều nơi, nhiều người, nhất là những người theo xu hướng nhịp sống hiện đại thấy không cần thiết, nên không ai dùng hình thức này nữa. Người ta chỉ với tấm lòng thành hướng về tín ngưỡng dân gian, nhớ về ông cha, tiên tổ, thắp nén hương tưởng nhớ, tri ân, chứ không bắt buộc phải làm những việc bận tâm thêm, khi mà đối nhân xử thế tử tế, tốt lành trên thực tế lại không làm được.
Văn cúng khấn
Là văn bản hoặc thuộc lòng để đọc hoặc khấn khi cúng bái, tế lễ của người theo đạo thờ cúng.
Có nhiều loại văn khấn khác nhau cho từng mục đích cầu cúng. Văn khấn tổ tiên, chùa đền, phật thánh, thần linh, táo quân, thổ địa, thần tài, trừ tịch, giao thừa, đầu năm, dâng sao, giải hạn, thanh minh, kỵ giỗ, tơ hồng, hoá vàng, lễ tang, cải mộ… Văn cúng khấn được chia thành hai loại: Văn lễ thường và văn lễ tang.
Lễ thường có: Văn cúng giỗ. Văn cúng các ngày lễ, tiết. Văn cúng trong các ngày không định kỳ.
Lễ tang có: Điếu văn. Văn lễ tang từ khi mất đến mãn tang. Văn lễ tiết trong vòng tang.
Ngoài ra còn có văn tế thánh thần, cô hồn, thập loại chúng sinh…
Văn khấn do các nho sĩ thời xưa “sáng tác” ra và qua nhiều đời bổ xung, hoàn thiện dùng cho cộng đồng. Văn khấn xưa được viết theo chữ Hán (chữ nho) và rất nhiều từ cổ nên khó hiểu. Rồi người ta Nôm hoá, Việt hoá văn bản để cho người đời sau không biết chữ nho cũng có thể hiểu được.
Nội dung văn cúng khấn thường mang ý nghĩa thành kính, tưởng nhớ về thần linh, tổ tiên và giáo dục con người tri ân công đức thần linh và người đã khuất.
Nghệ thuật văn cúng khấn rất phong phú, thường là văn xuôi hay thể phú, nhịp điệu, hoặc làm thành vần điệu đọc lên nghe rất hay như một áng văn chương tuyệt tác. Cách đọc, giọng đọc thì chậm rãi, ê a nghe càng trôi chảy. Nhiều khi còn thêm hoà tấu của bát âm tế lễ càng làm cho văn khấn thăng hoa vào tâm hồn người. Văn lễ tang thì thảm thiết, bi ai cùng nhạc kèn lâm khốc, khiến cho người nghe cũng bùi ngùi rơi nước mắt.
Văn cúng khấn thường có ba phần:
Phần mở đầu bằng dự lệnh từ “Duy” theo âm Hán, hay bắt đầu bằng “Hôm nay” theo tiếng Việt. Tiếp đến là ngày tháng năm (theo Hán văn thì đảo ngược tên địa danh: Trực Trung xã, Trực Ninh huyện, Nam Định tỉnh). Xưng vị trí người chủ việc cúng khấn (Tín chủ theo âm Hán, Con theo âm Việt). Nhân dịp gì. Nêu lễ vật cúng lễ.
Phần tiếp theo nêu vị trí người hoặc việc hướng đến để cúng khấn như thần linh, tổ tiên, cụ kỵ, ông bà... Cụ ông là Tằng Tổ Khảo, cụ bà là Tằng Tổ Tỷ. Ông là Tổ Khảo, bà là Tổ Tỷ. Bố là Hiển Khảo, mẹ là Hiển Tỷ. Anh là Thệ huynh. Em là Thệ đệ. Bác là Bá. Chú là Thúc. Cô, Dì là Cô di, Tỷ muội. Nhưng người ta thường khấn chung là: Cao Tằng Tổ Khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, nội ngoại gia tiên.
Phần cuối là mục đích, nội dung trình bày về việc cúng khấn. “Thượng hưởng” (mong chứng minh, chấp nhận lễ, hưởng lộc). Rồi “Cẩn cáo” (trình báo, xin phép hết).
Xin trích một mẫu chung văn lễ thường, theo “Tập văn cúng gia tiên”, do Tân Việt sưu tầm, lược dịch, chỉnh biên, nhà xuất bản Văn hoá dân tộc ấn hành năm 2004.
Bằng âm Hán:
Duy!
Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đệ… Thập… niên, tuế thứ…, … nguyệt, … nhật…, … tỉnh, … huyện, …. Xã, … thôn.
Tín chủ, hoặc trưởng nam (hoặc tự tôn) … cung thừa mẫu mệnh, hiệp dữ chu thúc, dữ đồng bào đệ, tị, muội, nội ngoại tử tôn, hôn, tế đẳng toàn gia kính bái.
Kim nhân: Hiển khảo (tỷ) hoặc Tổ khảo (tỷ) hoặc Tằng Tổ khảo (tỷ) … huý nhật.
Cẩn dĩ: … Chi nghi, cung trần bạc lễ.
Hiển: … Tôn linh vi tiền, cảm kiền vu cáo.
Viết: … (theo nội dung từng lễ).
Kính thỉnh: Hiển: …
Hiển: …
Hiển: …
…
Kính kỵ: … liệt vị chư tiên linh, cập phụ vị, thương vong đẳng tòng tự, đồng lai hâm hưởng.
Kính cáo: Bản gia Đông trù Tư mệnh, Táo phủ Thần quân, bản gia tiên thánh, tiên sư, bản viên Thổ công, bản đường Ngũ tự tôn thần, mặc thuỳ chiếu giám, đồng lai giám cách, tích chi hanh cát.
Cẩn cáo!
Bằng Tiếng Việt:
Hôm nay!
Ngày …, tháng …, năm…, tức là năm thứ… Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Tại: Thôn…, xã…, huyện…, tỉnh…
Con (trai trưởng hoặc cháu đích tôn) là: … vâng theo lệnh mẫu thân và các chú, cùng với anh rể, chị gái và các em trai gái dâu rể, con cháu nội ngoại kính lạy.
Nay nhân ngày giỗ của … đã tới (hoặc sắp tới) gọi là theo nghi lễ cổ truyền, có kính cẩn sắm các lễ vật gồm …
Kính dâng lễ mọn biểu lộ lòng thành.
Trước linh vị của: Hiển … chân linh.
Xin kính cẩn trình thưa rằng: … (theo từng nội dung của lễ).
Xin kính mời: Hiển: …
Hiển: …
Hiển: …
…
Cùng các vị tiên linh tổ bá, tổ thúc, tổ cô và các vong linh phụ thờ theo tiên tổ cùng về hâm hưởng.
Kính cáo: Liệt vị tôn thần, Táo quân, Thổ công, thánh sư, ngũ tự gia thần cùng chứng giám và phù hộ cho toàn gia được mọi sự yên lành tốt đẹp.
Cẩn cáo!
Hai văn bản trên đây vẫn còn mang theo dáng cổ, nên dần dần dân gian cũng chỉnh sửa cho hợp với thời đại mới, dễ hiểu hơn. Người ta còn đưa việc tụng niệm Đức Phật để mở đầu và kết thúc cho bài cúng khấn. Người chấp sự đốt nén nhang, vái ba cái (có khi miệng còn xuýt xoa cho thêm kính cẩn) và nói:
Nam mô A Di Đà Phật ( đọc 3 lần)
Kính lạy: Cao tằng Tổ khảo, cao tăng Tổ tỷ, thúc bá, đệ huynh, cô di, tỷ muội, bà cô, ông mãnh (nay nên thay bằng Tổ tiên, ông bà, chú bác, anh em cùng các vong linh).
Hôm nay là ngày …, tháng …, năm…. ở thôn …, xã …, huyện …, tỉnh ….
Nhân ngày … (nêu mục đích của việc cúng bái).
Con tên là: …, trưởng nam, cùng gia đình, con cháu sắm sửa lễ mọn hương hoa, trầu nước kính dâng lên tiên tổ, cụ kỵ, ông bà, cha bác, anh em, nay nhân ngày … để tưởng nhớ và mong cầu tổ tiên yên vị, phù hộ độ trì cho con cho cháu mạnh khỏe, làm ăn tấn tới phát đạt, gặp mọi sự lành, tránh mọi sự dữ, cầu tài được tài, cầu lộc được lộc, tai qua nạn khỏi, đi đến nơi về đến chốn, mọi sự bình an, vạn sự như ý.
Kính mong tổ tiên, cụ kỵ, ông bà, cùng các vong linh về chứng minh, chứng giám, thụ hưởng.
Nam mô A Di Đà Phật (đọc 3 lần).
Trong các trường hợp khác, tuỳ mục đích mà chỉnh sửa hoặc thêm vào cho phù hợp như:
Kính lạy: Chín phương Trời, mười phương chư Phật, Đông trù tư mệnh, Táo phủ thần quân, Các quan thần linh cai quản bản địa…
Thời nay, nhiều người không biết cúng khấn và cho rằng phải tự mình cúng khấn mới thực là lòng thành nên không mời thầy, mà chỉ thành kính để lễ vật lên bàn thờ, thắp nén nhang (hương) tưởng nhớ, vái ba hoặc bốn vái rồi khấn mấy câu chân thật xong, cắm nén hương vào bát hương. Chờ cho hết tuần nhang, gia chủ đến vái tạ lễ, rồi hạ đồ ăn thức uống xuống cả nhà cùng ăn, cũng tràn đầy không khí đoàn kết, thương yêu, vui vẻ, chứ đâu cứ phải cúng khấn dài dòng, lê thê mới là đạo hiếu?
Đối với tang lễ, cũng có nhiều bài văn cúng lễ cho từng việc. Đặc điểm văn của lễ tang thường bi ai, buồn thảm tạo nên cảnh tượng nhớ thương, đau xót. Vào đầu thường là: Than ôi!…, Than rằng!…, Hỡi ôi!… và lời văn vần vò, người xướng lên lại dùng giọng ai oán, buồn đau xoáy vào tâm can con người. Cộng hưởng với nhạc kèn lâm khốc, nam ai càng làm cho không khí lễ tang thêm đau buồn, bi luỵ. Có trường hợp, con cháu ở xa về hoặc người đến viếng lại nhờ ban tổ chức làm riêng cho bài văn hay lời thơ phú vần vò xướng lên nghe thật ai oán để “khóc hộ” cho mình tri ân người quá cố. Nhiều nơi người ta còn dùng cả dàn loa kích lên vang động cả xóm làng, huyên náo cả phố phường, chuyện của riêng nhà mình mà làm ảnh hưởng đến văn hoá cộng đồng.
Văn lễ tang thực ra là một dạng điếu truy điệu và “khóc than” thương nhớ, tiễn biệt người khuất đi. Theo quan niệm nhà Phật thì khi người ta chết trong 49 ngày là trong thời kỳ “thân trung ấm” để “chuyển kiếp” này sang kiếp khác, nên không phải sầu đau, bi luỵ. Đám tang ở phía Nam còn kéo dài dăm bảy ngày và mời ca đoàn, vũ đoàn đến ca múa tưng bừng cho đến khi đưa đi chôn cất. Ngày nay, trong thời đại đổi mới văn minh, những dạng văn lễ tang bi ai đã loại bỏ, không mấy nơi dùng nữa.
Trong khi đó tại các đám lễ tang ở thành phố theo nếp sống mới cũng chỉ có bài điếu truy điệu ngắn gọn và mọi người đến phúng viếng, chia buồn, không dùng kèn trống, chẳng có sư, chẳng có thầy cúng, cũng chẳng có bài cúng khấn nào khác, rồi xe tang đưa đi hoả táng, điện táng, sạch sẽ, gọn gàng. Chỉ thế thôi, mà vẫn trang nghiêm, không ồn ào, rắc rối, đảm bảo vệ sinh mà đầy sự tôn kính, nhớ thương sâu sắc.
Trong các loại sách về phong tục, tập quán văn hóa, thờ cúng đã giới thiệu về việc cúng bái và những bài văn khấn. Cuốn “Khoa cúng tổng hợp” của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, “Tập văn cúng gia tiên” của nhà xuất bản Văn hoá dân tộc, “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” của nhà xuất bản Văn hoá thông tin là những tài liệu quý sử dụng cho việc cúng khấn, tế lễ.
Trong đó cuốn “Văn khấn cổ truyền Việt Nam” của nhà xuất bản Văn hoá thông tin là đầy đủ và rất phù hợp với hiện nay. Cuốn sách có năm phần: Phần I là văn khấn theo các lễ tiết trong năm, có 9 loại với 20 bài; Phần II là văn khấn theo các nghi lễ của lễ tục vòng đời, có 11 loại với 45 bài; Phần III là văn khấn thần linh tại gia, có 4 loại với 4 bài; Phần IV là văn khấn tại Chùa, có 7 bài; Phần V là văn khấn cúng lễ tại đình, đền, miếu, phủ, có 8 bài. Tất cả là 84 bài văn khấn được Việt hoá và biên soạn dễ hiểu, dễ dùng.
Việc cúng khấn là cách làm lễ nghĩa của thời xưa và trở thành nghi lễ cổ truyền của người Việt Nam được gìn giữ, theo đuổi đến bây giờ. Việc cầu khấn là để bày tỏ lòng thành tâm của người làm lễ dâng hương trước tín ngưỡng dân gian, thần linh, Phật pháp, tổ tiên và người đã khuất; Đồng thời cũng bày tỏ mong muốn vươn lên cuộc sống nhân sinh đạo đức, hạnh phúc, an bình, tốt đẹp hơn.
Đã cúng khấn là phải có lễ bái, vái lạy. Bái là phủ phục xuống để tỏ lòng tôn kính. Vái là chắp hai bàn tay lại để trước ngực rồi đưa lên ngang đầu, cúi đầu xuống rồi ngẩng lên theo nhịp vái. Tuỳ theo từng việc mà vái 2, 3, 4 hay 5 vái. Người mới chết chưa chôn thì 2 vái (trời đất, âm dương), cúng bái bình thường, tổ tiên thì vái 3 cái (Tam bảo, Tam tài), người sau khi chôn cất thì vái 4 cái (tứ thân phụ mẫu, bốn phương, tứ tượng), người xưa vái lạy vua thì vái 5 cái (ngũ hành, hoặc bốn phương và vua là trung ương ở giữa).
Văn khấn nên ngắn gọn, dễ hiểu, thiết thực, đầy đủ ý nghĩa giáo dục và dễ thuộc là được rồi. Không nên đưa những tên thần siêu hình và những vương hiệu hành khiển của người khác, không thực tế, không liên quan gì đến truyền thống văn hoá Việt Nam vào văn khấn. Thực tế còn có trường hợp cúng bái kéo dài rất mất thời gian, văn khấn đã lòng thòng lại cứ ê a đọc đi đọc lại lê thê, chuông trống mõ khua vang kéo dài, ồn ào, nghe đến sốt ruột mà mất linh thiêng.
Nhịp sống hiện đại hôm nay, với tốc độ đổi mới phi thường của toàn cầu, không còn phù hợp lối sống chậm chạp, lề mề của xã hội nông nghiệp xưa nữa. Dù đã lược bỏ đi những rườm rà, mất thời gian, nhưng vẫn là di thức tinh thần của tâm linh chưa thể đổi mới hẳn được, nhất là ở những nơi tập tục còn nặng nề và quan niệm của người đời còn quá mê tín, duy tâm.
Quẻ thẻ
Quẻ hay còn gọi là Thẻ là loại hình văn bản hay thẻ tre được dùng trong việc cúng khấn và bói toán tại đền chùa của người theo đạo Phật.
Quẻ hay Thẻ, thường có ở nơi chùa chiền, thờ tự, hội hè, là một hình thức mang tính chất dự đoán cát hung, mê tín, bói toán diễn ra vào đầu năm mới hoặc khi đi trẩy hội, lễ chùa đền. Nó ra đời cùng với nhu cầu tâm linh nơi hành hương, cầu xin, lễ bái.
Người ta vào nơi thờ tự, đền chùa dâng lễ, thắp hương xin “quẻ thẻ” (miền Nam gọi là “xin xăm”), rồi xóc xóc chọn rút lấy một quẻ thẻ bất kỳ trong ống là quẻ thẻ bằng tre, hoặc chọn lấy một quẻ bằng tờ giấy trắng gấp nếp thành bốn phần đã ghi nội dung trong đó.
Quẻ thẻ bằng tre, tức là làm bằng thanh tre, vót nhẵn, dẹt, dài, có viết chữ Nho, thường là một câu văn ngắn gọn hay câu thơ, rút từ các điển tích cổ xưa, chủ yếu là của Trung Quốc. Người ta sẽ căn cứ vào văn tự trên thanh tre này mà luận đoán vận hạn cho đương sự chủ thẻ trong năm đó, hoặc xa hơn nữa là trong cuộc đời? Ngày nay, người ta đã thay chủ yếu các quẻ thẻ bằng tờ giấy trắng gấp đôi hay gấp làm tư. Trong tờ giấy này in các câu văn vần hoặc những câu thơ cô đọng, được soạn sẵn theo dự kiện cát hung của bản mệnh con người, hoặc theo cung mệnh Tử vi. Văn thư trong quẻ thẻ thường có vần điệu khá hay dễ cuốn hút người đọc, thực sự là món đòn tâm lý cao tay của những “đạo sĩ” ẩn dật.
Điều đáng chú ý là nội dung của các loại quẻ thẻ là minh hoạ về từng dự kiện có cả cát hung, hên xui, may rủi chung chung cho từng loại, chứ không cụ thể cho trường hợp nào cả. Quẻ thẻ cũng được soạn ra nhiều mẫu khác nhau. Khi một người bất ngờ rút được quẻ thẻ nào đó, dù chẳng phải nói về cuộc đời mình, nhưng khi đọc trong cái chung chung ấy cứ suy ngẫm thấy có cái cũng từa tựa, giống như một vài sự kiện hoặc không là dự kiện này thì dự kiện khác của chính mình mà cho là đúng. Các nội dung trong thẻ chỉ do một vài người ngồi soạn in ra, có khi phát hành cho rất nhiều nơi cũng là những quẻ thẻ ấy, chứ không phải một thầy nào trực tiếp làm quẻ thẻ cho riêng mình như lập lá số Tử vi. Thế mà cái chung chung mông lung cứ cảm hoá người đời tin vào hiện thực cụ thể, chỉ vì nó ứng vào người này một vài dự kiện, người kia một vài dự kiện hơi giống, hơi đúng mà thôi.
Sức hút mạnh nhất của hình thức này là giới tăng ni, phật tử, con nhang, đặc biệt là những người đang trong hoang mang, hoạn nạn và tuổi trẻ mong ước, cầu duyên.
Chúng ta cùng đọc vài quẻ thẻ sau đây:
Quẻ số 11 Bản mệnh:
Nghĩ nỗi trăm năm cũng chán tình
Nào đềm vân cấu cuộc tang thương
Một mình trong ánh phù sinh nhỉ
Phảng phất chồi hoa ở bóng gương.
Gia trạch:
Sự nhà lúng túng chửa ra sao
Ngó cửa vườn Xuân gió lọt vào
Nắng Hạ mưa Thu rầu rĩ lắm
Phải tường cành ngọn biết tiêu hao.
Cầu tài:
Bể bạc rừng tiền biết thế thôi
Của Trời tham tiếc đứng mà coi
Thang thuyền ta sẽ đi tìm thú
Chớ để tay không chịu bó ngồi.
Cầu mưu:
Lòng người sông núi dễ thăm dò
Nào lúc mưu mô lúc chuyện trò
Thử bấm đôi tay mà tính lại
Cơ quan ai đã đặt bày cho.
Xuất hành:
Bôn tẩu đường trường đỡ tốn công
Thiếu gì kẻ đợi với người mong
_Bước chân lội sâu chưa đi tới
Đứng lại mà nghe ngoảnh lại trông.
Phần mộ:
Long Hổ cứ tìm mạch đất chung
Một hai động địa chửa an lòng
Tìm Sơn tìm Thủy di ngay lại
Thôi chớ bàn chi nghĩa cát hung.
Hôn nhân:
Gửi tin nhắn cá với tin sương
Duyên kiếp này đây bén lửa hương
Dữ trước lành sau duyên số định
Cho ai tròn quả lại lành gương.
Tử tức:
Vun đắp cây xanh được lá xanh
Khai hoa kết quả một hai cành
Phúc dầy tiên ấm lưu truyền lại
Có lúc khô chồi có lúc vinh.
Tật bệnh:
Phải khi gió thoảng lúc mưa trêu
Ba bốn phần xuân vũ ít nhiều
Di táng tiên phần cho khỏi động
Tiêu tan thoát nạn biết bao nhiêu.
Thất vật:
Vận nhà nên mắc phải mưu gian
Nghĩ ngẩn tìm ngơ lúc luận bàn
Lấy của thay người thôi chớ tiếc
Trời cho kim ngọc lại chan chan.
Tổng đoán:
Tuổi xanh lại gặp hồi đen
Cửa nhà lúng túng bạc tiền tiêu hao
Cầu mưu ra sự thế nào
Đường đi khuất lối ra vào bận chân
Động về nhị đại âm phần
Diện tiền Thủy phản phải cần đi ngay
Nhân duyên trước dở sau hay
Hào con mừng rỡ sum vầy cỏ hoa
Bệnh thời động mộ ông bà
Nỡ còn thất vật hỏi mà tiếc chi.
Quẻ số 30
Bản Mệnh:
Gặp khi cá nước với mây hồng
Mở mặt non sông quyết vẫy vùng
Là cũng duyên ưa là phận đẹp
Thuyền quyên rầy đã biết anh hùng.
Gia trạch:
Vận đỏ sui nên gặp chuyện hay
Ra vào buôn bán được hồi may
Nhà lan thơm thoảng mùi hương xạ
Bởi có công cao có đức dầy.
Cầu tài:
Câu rằng vận cả vận hơn tài
Cầu một nhưng mà lại được hai
Có của có người thêm mọi vẻ
Ấy là khổ tận đến cam lai
Cầu mưu:
Một sự nên rồi mọi sự nên
Mưu gì chẳng bận cũng chẳng phiền
Cùng ai gắn bó câu gì đấy
Chờ một đôi tuần nữa thấy ngay.
Xuất hành:
Cao sâu chẳng ngại có thang, thuyền
Trơ lợi đường danh lúc mở mang
Xem hội Đền, Chùa ta sẽ tới
Sẽ quỳ sẽ thắp một tuần nhang.
Phần mộ:
Cách mặt u minh dễ hỏi han
Biết đâu xấu tốt nữa mà bàn
Một ngôi đất phúc là căn bản
Xin chớ tin quàng miệng thế gian.
Hôn nhân:
Nữ giá Nam hôn nguyện tử binh
Mẹ cha đã đặt chốn duyên lành
Đôi ta xưa có lời giao kết
Một dải tâm kia một chữ tình.
Tử tức:
Tốt đất xem chừng có tốt hoa
Chi lan đầy cửa phúc đầy nhà
Nhân đồ kia phải vun chồi đức
Mầm mống ngày thêm nảy nở hoa.
Tật bệnh:
Chồi hoa gió thoảng với mưa rào
Thay vẻ xuân xanh có khác nhiều
Sẵn có tâm hương thêm bệ ngọc
Thử xem tươi tốt lại trăm chiều
Thất vật:
Vô nghĩa lòng kia dạ bất nhân
Vườn khuya đây đã có hoa thần
Tin đi tức lại xuân còn đó
Đừng đạp hoa thừa nữa bận chân.
Tổng đoán:
Mừng nay gặp hội tao phùng
Khác nào cá nước mây rồng duyên đưa
Sự nhà vận đỏ xui hên
Tài hay cầu được mưu liền nghĩ ra
Lễ gần rồi đến lễ xa
Một mồ tiếp phúc kể đà mấy năm
Hôn nhân kết nghĩa đồng tâm
Tử cung nhờ được ơn đầm tốt tươi
Bệnh kia cầu đến Bụt, Giời
Thần tài vượng thế của rồi thấy ngay.
Sẽ có hai người rút được hai quẻ thẻ vô tình trên đây, không phải lập cho mình mà do bất ngờ rút được trong chùa. Đọc xong nội dung hai quẻ, thấy mô tả về vận mệnh, nhà cửa, đất đai, làm ăn, mồ mả, con cái, bệnh tật, của cải cho từng đương sự. Cách đưa ra các sự kiện rất chung chung, có cái nói nước đôi, hiểu thế nào cũng được, hiểu cho ai cũng được. Cái đáng chú ý ở đây là khi ngẫm nghĩ kỹ về từng vấn đề, rồi liên hệ với bản thân thế nào cũng có cái đung đúng như chuyện của nhà mình vậy. Thế là quẻ trở thành thần diệu, linh thiêng vì là được lấy ở chốn đền chùa. Có nơi còn có đội ngũ người chuyên luận đoán thuê cho người rút được thẻ để lấy tiền.
Người ta còn khảo cổ dịch lý trong Kinh dịch làm ra quẻ bói toán rất phức tạp và cứ quan trọng hoá cái gọi là uyên thâm để đưa vào đời sống hiện đại, khi khoa học đang bùng nổ từng ngày, không cần mấy cái quẻ bói ấy làm gì!
Quẻ thẻ là hình thái nhuốm màu mê tín. Có những điều trong quẻ báo tốt lành thì tâm trạng phấn khởi, vui tươi. Nhưng những điềm xấu lại gây ra tâm lý lo âu, sợ hãi, làm cho cuộc sống bất an. Người hiểu biết thì cho là môn giải trí, bình luận hiện tượng thơ văn dân giã khi du lịch theo tín ngưỡng chùa chiền. Người mê tín dị đoan sẽ để lại hậu quả nặng nề trong tâm thức, tâm linh không tốt, làm yếu đi bản lĩnh con người.
Vì thế, các cơ quan văn hoá đã phải thu gom lại hàng đống, khi kiểm tra thì thấy chỉ có mấy loại nội dung giống nhau chứ có gì đặc biệt đâu và đem tiêu huỷ.
Hãy cho quẻ thẻ là hiện tượng văn hoá, vui chơi, giải trí thì con người sẽ trở nên lành mạnh, vui tươi. Mọi sự kiện cuộc đời đâu có đơn giản chỉ ở mấy câu thơ vần điệu nơi chốn đền chùa như thế?
Vàng mã, hình nhân
Tục đốt vàng mã thường diễn ra cùng với việc thờ cúng trong dân gian. Nhưng trong Phật pháp và Kinh nhà Phật không hề có việc đốt vàng mã. Các thiền sư, hoà thượng có chức sắc trong giới Phật giáo cũng nhiều lần kêu gọi mọi phật tử, nhân dân không nên làm theo tục mê tín và giả dối này.
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, diễn ra phong trào Chấn hưng Phật giáo trên thế giới, trong đó có Phật giáo ở Việt Nam.
Vào những năm 20 của thế kỷ XX, với nhiều hoạt động, hội Phật giáo miền Bắc đã có phong trào vận động Phật tử và nhân dân xoá bỏ hủ tục đốt vàng mã.
Câu hỏi đặt ra là tục đốt vàng mã là gì và tại sao lại trở thành vấn đề quan tâm của xã hội như vậy?
Hãy trở về nguồn gốc để tìm ra nguyên nhân đích thực của tục đốt vàng mã và sự sinh sôi nảy nở của nó.
Trong bài khảo cứu về vấn đề vàng mã, tác giả Nguyễn Mạnh Hùng mô tả như sau:
“Hình thức này bắt đầu xuất hiện từ thời nhà Hạ, ở Trung Quốc vào năm 2205 TCN với tục lệ chôn theo người chết các Minh khí hay còn gọi là Quỷ Khí (của giả) như đàn sáo, chuông khánh, trống phách… Đến thời nhà Ân, năm 1765 TCN, không chôn Minh khí mà chôn Tế khí, tức là đồ thật cho người chết.
Thời nhà Chu, năm 1122 TCN, để hạn chế chôn vật dụng thật cho người chết, đã chia ra làm hai bậc: Quý và Tiện. Bậc Quý từ Thiên Tử đến quan đại phu, được dùng cả Quỷ khí và Tế khí. Bậc Tiện từ sĩ phu đến thứ dân, chỉ được dùng Quỷ khí. Tuy nhiên, thực tế với tầng lớp vua chúa và quan lại nhà Chu, đồ chôn theo người chết không những giảm mà còn tăng lên, không chỉ là Quỷ khí, Tế khí mà còn vợ con, người hầu... Những người bị chôn sống theo vua chúa gọi là Tuẫn táng.”
Sách Tả truyện chép: “Đời vua Văn Công thứ sáu, vua Trần Mục Công tên là Hiếu Nhân chết, ba anh em họ Tử Xa rất tài đức, tử tế là Yểm Tục, Trọng Hành và Chàm Hổ đều bị chôn sống theo Mục Công. Người đời đều thương tiếc ba anh em nhân đức đó và vô cùng oán hận triều đình.
Tục Tuẫn táng quá dã man, độc ác nên bị lên án, phản đối, người ta lại dùng loại “Sô linh” là người làm bằng cỏ để thay thế cho người thật. Đây là nguồn gốc cho hình thức mê tín “Hình nhân thế mạng” sau này.
Thời Chu Mục Vương, năm 1001 TCN, do quan niệm sô linh không có mỹ thuật nên Yển Sư đã làm người giả bằng gỗ, gọi là Mộc ngẫu hay còn gọi là Dũng (có tài liệu gọi là Dõng, tức là bù nhìn làm bằng gỗ có tai, mắt, mũi và cử động được)..
Cho đến thời nhà Hán, theo tinh thần Nho giáo của Khổng Tử và Mạnh Tử phản đối việc làm Mộc ngẫu, lại quay về với tục chôn đồ thật theo người chết. Sau khi cúng lễ, vật dụng và tiền bạc thật được đem chôn xuống mộ, còn những người hầu kẻ hạ thì không chôn sống mà cho lưu cư trông coi phần mộ.
Thời nhà Đường, quan Trưởng sử Vương Dư đã làm ra tiền vàng bằng giấy để dùng trong đám ma, tế tự, chôn xuống mộ và rải dọc đường hoặc đem đốt đi. Như vậy, Vương Dư là người đầu tiên nghĩ ra vàng mã.
Dưới thời vua ẩn Đế, năm 948, đồ mã trở nên kém phổ biến, Vương Luân là người dòng dõi nhà Vương Dư đã lập mưu cho người giả chết để khôi phục lại nghề sản xuất vàng mã.”
Theo tài liệu của Ts Nguyễn Mạnh Cường (Viện nghiên cứu Tôn giáo) thì: “Vào thời Đông Hán, Trung Quốc, cách chúng ta hơn 2000 năm, có người tên Thái Luân làm nghề sản xuất giấy. Thái Luân có người anh ruột tên là Thái Mạc và chị dâu là Tuệ Nương sống ở quê. Thấy nhu cầu giấy của thị trường, Tuệ Nương bàn với chồng lên Kinh đô theo học nghề làm giấy. Thái Mạc ở với em học làm giấy được 3 tháng thì nằng nặc đòi về quê mở xưởng. Thái Luân là em nên phải tuân theo, dù biết rằng Thái Mạc làm giấy chưa được tốt.
Thái Mạc đã rất cố gắng nhưng giấy làm ra xấu và khó viết chữ nên bị ế không ai mua.
Thấy vậy, Tuệ Nương bàn với chồng một mưu kế để cùng thực hiện. Một hôm, Tuệ Nương lăn đùng ra chết. Gia đình Thái Mạc làm ma cho nàng. Đến ngày thứ ba, trước khi đi chôn, Thái Mạc đem một ôm giấy ra đốt bên cạnh quan tài vợ.
Thái Mạc đốt giấy xong thì nghe tiếng Tuệ Nương ở trong quan tài kêu gọi chồng. Mọi người đang vô cùng hoảng sợ, thì Tuệ Nương từ trong quan tài bước ra, vừa đi vừa hát:
“Dương gian tiền năng hành tứ hải
_Âm gian chí tại tố mãi mại
Bất thị trượng phu bá chí thiêu
Thủy hằng phóng ngã hồi gia lai”
Nghĩa là: “Trên dương gian đồng tiền có thể làm được mọi việc ở khắp nơi. Dưới âm phủ giấy cũng có thể dùng để mua bán. Nếu chồng không đốt cho giấy thì ai cho tôi về dương gian”.
Hát rồi hai vợ chồng tỏ ra rất vui mừng, mang thêm hai bó giấy nữa ra đốt.
Mọi người chứng kiến đều tin là đốt giấy thành tiền cho người âm phủ rất có lợi và linh thiêng, nên Tuệ Nương chết ba ngày mà sống lại được. Thế rồi ai cũng về nhà lấy tiền đến nhà Thái Mạc mua giấy. Tuệ Nương không lấy tiền của hàng xóm mà biếu mỗi nhà một bó giấy, vì tình nghĩa xóm làng và vui mừng mình vừa được sống lại. Mọi người đều vui vẻ nhận giấy mang về đưa đến phần mộ tổ tiên để đốt với mong người âm có điều kiện tiêu dùng, mà không biết đó là màn kịch ma quỷ do vợ chồng Tuệ Nương dựng lên để bán giấy.
Việc bịp bợm “thần diệu”, ma quái của vợ chồng Tuệ Nương đốt giấy nhanh chóng lan truyền đi khắp vùng. Mọi người đổ xô đến nhà Thái Mạc mua giấy về đốt, với mong muốn gửi tiền cho người thân ở cõi âm dùng chi tiêu cho đỡ khổ. Thế là chỉ vài ngày kho giấy nhà Thái Mạc được mọi người mua hết sạch, không còn nữa để bán.
Ngày Tuệ Nương sống lại là ngày mồng 1 tháng Mười. Sau này người ta cho ngày này là ngày Tam Công Tào, ở địa phủ có thể nhận tiền mua chuộc, đút lót của của người thân. Vì thế nhân dịp này mọi người mang giấy đến phần mộ tế lễ và đốt giấy gửi tiền cho người âm, cũng là để thực hành tệ nạn mua chuộc ở âm phủ và tưởng nhớ, tạo điều kiện sinh hoạt cho người đã khuất.”
Sách “Bàn về đồ mã” của báo “Đuốc Tuệ” có bài “Gửi kho âm phủ trả nợ Tào Quan” viết:
“Cái tục này từ ở bên Tàu nhập vào. Sách Liêu Chí chép: Tục lệ nước Liêu, đến tháng 10 cả quan, dân trong năm Kinh đem nạp các thứ vàng mã vào kho hội lại kinh sư. Đến ngày Rằm, nhà Vua với quan nước Phiên sắm sanh rượu thịt, lễ vật, viết một tờ trạng bảng bằng chữ của nước Phiên mà dâng cúng cho ông Thần ở núi Mộc Diệp, rồi đốt kho vàng mã ấy gọi là “ký khố” (gửi vào kho).
Đời sau người ta bắt chước theo đó, nên lúc còn sống làm ra tục cúng lễ gửi vào kho Minh Phủ, để sau khi chết xuống đó lấy tiêu xài, hoặc trả nợ Tào Quan hối lộ ma quỷ để mong thoát khỏi tra tấn, tù tội”.
Về việc trả nợ Tào Quan, sách của Hội Phật giáo Việt Nam nói rằng: “Dùng đàn lễ trả nợ bồi hoàn của người đi trước vướng nợ trần gian, xâm phá lấy của chùa đền miếu, cướp bóc, giết người, ngoại tình, tham nhũng… nên kiếp sau con cháu phải trả hoặc do người dương làm những điều phạm kỵ đến văn hoá truyền thống trong đạo giáo… Chương trình làm đàn lễ trả nợ Tào Quan thường kiêm vào đàn cúng 49 của người đã mất, giải hạn đầu năm hoặc rằm tháng 7 xá tội vong nhân. Đàn lễ được làm theo thứ tự các khoa: cúng Phật, cúng Nhương tinh (dâng sao giải hạn?), trả nợ Tào Quan”.
Tục đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy, thì trong bài “Nguyên nhân tục đốt vàng mã”, Hoà thượng Tố Liên viết:
“Vào thời vua Đạt Tôn, nhà Đường, năm 726 ở Trung Hoa, thời kỳ Phật giáo cực thịnh, một vị sư tên là Đạo Tăng muốn cho dân chúng theo Phật giáo, bèn lợi dụng tục đốt vàng mã của người dân, vào tâu với nhà Vua rằng: Rằm tháng Bảy là ngày của Diêm Vương ở âm phủ xét tội vong nhân, nhà Vua nên chiếu chỉ cho phép thiên hạ nhân dịp này cúng gia tiên, đốt nhiều vàng mã để các vong nhân dùng. Có lẽ còn có ý vừa để người âm dùng vừa có để mà đút lót khi cần thiết để được xá tội vong linh! Vua Đạt Tôn nghe thấy phải và đang muốn được lòng dân, liền hạ chiếu cho thiên hạ theo như lời tâu của Đạo Tăng. Thế là nhân dân Trung Hoa được dịp thi nhau đốt vàng mã vào ngày Rằm tháng Bảy để kính biếu tiên tổ.
Nhưng chẳng bao lâu lại bị giới tăng sĩ Phật giáo công kích, bài trừ, vì cho rằng việc đốt vàng mã vào ngày lễ trọng của Phật giáo đã làm cho cái lệ ngày Rằm tháng Bảy không còn ý nghĩa tốt đẹp nữa. Phần lớn dân Trung Hoa thời bấy giờ tỉnh ngộ, cùng nhau bỏ tục đốt vàng mã, làm cho các nhà sinh sống bằng nghề làm vàng mã lâm vào thất nghiệp, nhất là nhà sản xuất Vương Luân, dòng dõi của Vương Dư đã bịa đặt chế ra đồ vàng mã.”
Tác giả Tố Liên còn cho biết một giai thoại về âm mưu làm người chết giả của Vương Luân để phục hưng lại nghề làm vàng mã. Vương Luân đã cùng các bạn đồng nghiệp chọn lấy một người giả vờ ốm mấy hôm rồi loan tin đã chết. Xác chết giả được khâm liệm vào quan tài, đã đục sẵn lỗ ở chỗ kín đáo dưới đáy quan tài để thở và hàng ngày cho ăn uống. Trong khi xóm làng đang thăm viếng đông, Vương Luân cùng gia đình mang rất nhiều đồ vàng mã tiêu dùng, trong đó có cả hình nhân thế mạng để bên quan tài cúng cho người chết. Đàn cúng đang diễn ra, mọi người khóc than, khấn vái thì bỗng nhiên quan tài rung động, ai cũng hết hồn. Vương Luân liền giả vờ ngạc nhiên tìm cách mở nắp quan tài, thì xác chết giả từ từ đứng dậy và nói rằng: “Các thần thánh trong Tam phủ, Tứ phủ vừa nhận được hình nhân thế mạng cho tôi và tiền bạc, đồ mã nên tha cho hồn vía tôi sống lại về nhân thế”. Mọi người tưởng thật và tin rằng hàng mã có tác dụng cho người âm phủ dùng và người dương thế cũng nhờ có của đút lót mà được sống lại, tăng thêm tuổi thọ.
Từ đấy nghề làm vàng mã lại phục hồi không những đáp ứng cho thân nhân mà cả thần linh, quan chức âm phủ và ma quỷ đều dùng.
Tác giả Hoàng Liên Tâm, trong bài “Đốt vàng mã, một thói tục mê tín cần huỷ bỏ” cho biết về tục đốt vàng mã:
“Nguyên do, từ đầu nhà Hán nhà Vua muốn thực hành lời dạy của Đức Khổng Tử: “Sự tử như sự sinh, sự vong như sự tồn”, nghĩa là thờ người chết như thờ người sống, thờ người mất như thờ người còn. Nên khi nhà Vua băng hà, phải bỏ tiền bạc thật vào trong áo quan để Vua tiêu dùng. Sau đó quan bắt chước vua rồi dân bắt chước quan. Ai cũng chôn tiền thật theo người chết. Bọn trộm cướp biết, nên chúng đào mồ những người giàu có, như mộ Vua Hán Văn Đế bị bọn trộm khai quật lấy hết vàng bạc châu báu. Về sau từ quan đến dân thấy việc chôn tiền bạc quá tốn kém, và để tránh trộm cắp mới sinh ra dùng giấy làm tiền giả, vàng giả thay thế. Dân gian bắt chước mà thành tập tục. Đến năm Khai Nguyên thứ 26, tức năm 738 Dương lịch, vua Đường Huyền Tông ra sắc dụ cho phép dùng tiền giấy thay cho tiền thật trong việc cúng tế cầu siêu. Việc sử dụng vàng mã bắt đầu chính thức từ đấy và sau đó du nhập vào Việt Nam theo người Trung Hoa trong thời kỳ đô hộ.”
Tác giả Hoàng Liên Tâm còn chứng kiến một chuyện buồn cười, mỉa mai như sau: “Một phụ nữ trung niên cùng cô con gái đến mua vàng mã về cúng cho ông chồng xấu số mới chết, nào nhà lầu, xe hơi, điện thoại di động, ti vi, xe máy, quần áo, tiền USD. Họ còn mua thêm một cô gái chân dài bằng giấy, đi giầy cao gót, mặc váy ngắn, áo lửng. Khi bà mẹ cầm “cô gái” trong tay thì cô con gái cầm ngay chiếc kéo nhỏ đâm lia lịa vào mặt hình nhân thế mạng. Giải thích cho việc làm kỳ quặc này của cô con gái với người xung quanh, người mẹ trẻ nói: “Bố cháu làm tổng giám đốc, nay xuống dưới ấy cũng phải gửi cho ông ấy cô thư ký, nhưng phải làm cho nó xấu xí đi để khỏi trở thành bồ nhí của bố cháu!”
Những chuyện hoang đường, hài hước trên đây đủ nói lên sự gian dối, lừa bịp của hình thức vàng mã. Tuy nhiên, với hạn chế hiểu biết của con người thời xa xưa, trong xã hội lúc đó tầng lớp đạo sĩ mày mò suy đoán, bày ra những phép thuật kỳ bí, áp đặt mê tín vào dân chúng. Cùng với mánh khoé của bọn bất lương dựng bịa ra ma lực của vàng mã nhằm vơ vét tiền của người lương thiện để làm giàu. Những nguyên nhân đó bao phủ lên bức màn huyền bí, mông lung, ăn sâu vào tâm thức đưa con người vào u mê, cuồng tín không dứt ra được.
Tài liệu “Bàn về đồ vàng mã” của báo “Đuốc Tuệ” do Khánh Anh phụng sao lục, phân tích khá sâu sắc về nguồn gốc ra đời, phê phán thói tục và những thiệt hại về việc đốt vàng mã của người xưa và kết luận:
“Những cái thuyết: Chôn đồ mã, gửi kho là cái hủ tục bởi mê tín bên Tàu nó truyền nhiễm qua Việt Nam; Chứ nguyên lai đạo Phật, đạo Nho không bao giờ có.
Xét như Kinh Vu Lan Bồn, thì Phật dạy sám hối những điều thật dụng, trước cúng tam Bảo, sau dâng chúng Tăng, để cầu siêu cho “thất thế phụ mẫu”; Chứ không nói đến một đồ vật giả gì hoặc chôn, hoặc đốt.
Trong Kinh Lễ thì đức Khổng Tử nói rằng: “Ai bày ra hình nhân thế mạng để chôn theo người chết, đó là kẻ bất nhân”
Mạnh Tử cũng nói: “Ai làm ra Bồ nhìn (Bù nhìn) con gỗ bởi cái lệ chôn sống người, là kẻ tuyệt tự”
Ông Vương Nhật Hưu là tiến sĩ, làm quan đến chức Quốc học sĩ, cũng nói: “Đã khảo cứu hết Kinh sách, không thấy chỗ nào có sự gửi kho và trả nợ trong đạo Phật”
Vậy hiện nay, chúng ta lẽ nào lại làm những cái ác tục mà Đức Thích Ca và Khổng Tử không làm?”.
Hàng ngàn năm đô hộ, dùng chính sách ngu dân để cai trị của bọn xâm lăng, cùng với những hủ tục lạc hậu, cổ xưa đã đầu độc vào đời sống, ăn sâu vào di thức tinh thần con người dưới nhiều hình thức mang danh Nho giáo, tín ngưỡng, tâm linh, trong đó có tục bịa đặt vàng mã. Đây là vết nhơ không những rất khó gạt bỏ mà đôi khi có cơ hội lại trỗi dậy dưới nhận thức mơ hồ cho là tâm linh, đạo đức. Khi mà bản lĩnh con người nhỏ bé trước thế lực thần linh siêu hình và hiểu biết bị lũng đoạn bởi cuồng tín thì mọi tệ nạn, hủ tục lạc hậu hoành hành, phát triển. Vì thế chúng ta không ngạc nhiên việc cầu cúng, đồng bóng, vàng mã ngày càng mọc lên như nấm ở khắp mọi nơi.
Trước đây, khi cuộc sống lạc hậu, nghèo khổ, bệnh tật, chiến tranh, giặc giã, nhiều khi tinh thần bị khủng hoảng, người ta tìm đến tâm linh để mong thư giãn, giải thoát, nhưng cũng rất đơn giản, bình dân. Ngày nay, xã hội đã nhiều thay đổi, đời sống đang vươn lên đầy đủ, tiếp cận với biết bao thiết bị khoa học tiên tiến, hiện đại, thông minh không phải do thần linh, ma quỷ đem lại thì chúng ta rất ngạc nhiên vẫn có người, kể cả người có học lại khuếch trương “phú quý sinh lễ nghĩa”, chìm đắm vào cõi cuồng tín hư vô về những cái không đâu từ thời cổ ở nước khác đưa sang đô hộ mà tự đầu độc vào mình?
Người ta cúng bái mọi lúc, mọi nơi, đốt vàng, đốt mã tiêu tốn vô cùng lãng phí rất nhiều tiền, chỉ vì quan niệm ấu trĩ, ngây thơ “trần sao âm vậy!”.
Tệ nạn vàng mã gây ra mê tín dị đoan, đầu độc tinh thần u mê sợ hãi. Đốt vàng đốt mã làm khói bụi, nhếch nhác, hoả hoạn cháy nhà. Tiền của tiêu vong cho nghề hàng giả. Mang đồ vứt ở nền nhà, ngoài sân, xó bếp bẩn thỉu đặt lên bàn thờ rồi đốt thành tro than bảo là tiền của để lừa dối tổ tiên.
Thật bi hài cho những việc làm cuồng tín về đốt vàng mã. Rất hoang đường, phi thực tế khi đốt cho các cụ cổ xưa nhà lầu, xe hơi, những con voi, con ngựa to như thật, kể cả xe máy, ô tô, ti vi, máy tính, điện thoại đi động kiểu mới thông minh, mà các cụ đâu có biết các thứ đó là gì. Nhiều khi chi phí hàng chục triệu đồng để đốt vứt đi. Bộ Văn hoá cho biết, năm 2003 cả nước đốt khoảng 50.000 tấn vàng mã, riêng thành phố Hà Nội tiêu thụ trên 400 tỉ đồng cho việc đốt vàng mã. Nếu có những cuộc điều tra thì chắc chắn những năm 2010, 2011 và còn tiếp theo, không ngăn chặn được tệ nạn đốt vàng mã, sẽ là những con số làm nhức nhối lòng người. Với số tiền khổng lồ này có thể xây các công trình phúc lợi và làm từ thiện cho biết bao con người còn hoàn cảnh khó khăn, bệnh tật hiểm nghèo cần được cứu chữa đang cầu mong tấm lòng chia sẻ của chúng ta.
Các thiền sư, hoà thượng, những người tu hành cũng nhiều lần kêu gọi tăng ni, phật tử, người dân hãy hiểu rõ và bỏ thói tục mê tín này. Hoà thượng Thích Thanh Từ, Viện trưởng Thiền viện Trúc Lâm, trong các bài thuyết pháp cho là lỗi lầm này là do quý thầy không giáo dục các tăng ni, phật tử. Hoà thượng Thích Thanh Tứ, ở Trung ương Hội Phật giáo Việt Nam, tại chùa Quán Sứ, Hà Nội cũng lên tiếng về việc đốt vàng mã, Hoà thượng cho biết:
“Nhiều người lúc cha mẹ còn sống thì ngược đãi, đánh đập. Thế mà đến ngày báo hiếu thì những người ấy lại đốt vàng mã thật nhiều để báo hiếu cha mẹ. Hành vi ngược đãi cha mẹ, luật pháp cũng không dung tha, Phật cũng không chấp nhận lễ của những người con bất hiếu đó. Phật dạy, con cái phải thờ phụng cha mẹ, nuôi dưỡng cha mẹ lúc già yếu. Không nên biến ngày Đại lễ Vu Lan trở thành ngày mê tín dị đoan, lãng phí”.
Đạo pháp nhà phật không có tục đốt vàng mã. Hãy nên nhớ về cha mẹ với tấm lòng: “Đi khắp thế gian, không ai tốt hơn Mẹ. Gian khổ cuộc đời không nặng gánh bằng Cha.”của giáo lý nhà Phật.
Tục đốt vàng mã trong dân gian thường gắn với Lễ Vu Lan báo hiếu cha mẹ, xá tội vong nhân vào ngày rằm tháng 7 âm lịch (Phật giáo gọi là cúng dường Trai Tăng, tức là sạch sẽ tội lỗi, để cầu siêu tịnh độ).
Thượng toạ Thích Thanh Quyết, Phó chủ tịch Học viện Phật giáo Việt Nam, trong trả lời phỏng vấn của phóng viên báo Đất Việt ngày 12/8/2011, nhân lễ Vu Lan rằm tháng 7 cho biết:
“Trong đạo Phật không dạy đốt vàng mã cho người quá cố, mà đây chỉ là quan niệm dân gian vì thay tục Tuẫn táng dã man xưa. Ở thời điểm ấy, khi thay Tuẫn táng bằng hàng mã thì có tính nhân đạo, tránh được lòng người oán thán, làm mất nhiều nhân tài, hao phí tiền của. Còn ngày nay cho rằng trần sao âm vậy mà làm theo tín ngưỡng dân gian”.
Câu hỏi rất lý thú đặt ra là: Đốt vàng mã là nghĩ đến báo hiếu, tri ân người đã khuất, vậy theo kiếp luân hồi, tái sinh, người âm đi về dương thế rồi thì ai ở dưới âm ty mà nhận? Hoặc khi trang bị đầy đủ, sung sướng quá, người âm không chịu đi đâu nữa mà đành chịu kiếp giam hãm mãi ở địa ngục, âm ty!
Tệ nạn đốt vàng mã lan ra khắp các vùng quê, góc phố, các nẻo đường như là một thứ bệnh dịch. Nhất là vào mùa Vu Lan và những kỳ lễ, tết, hội hè, đình đám, giỗ chạp, chỗ nào cũng thấy hương khói, cầu cúng, đốt vàng, đốt mã mù mịt cả không gian nhà cửa, chùa chiền. Người ta cuồng tín mua rất nhiều tiền âm phủ, ngựa voi, xe hơi, nhà lầu, máy bay, thậm chí cả o sin cho người âm phủ. Người ta đội mâm đầy ắp hoa quả, tiền vàng âm phủ chen lấn vào chùa, đền, phủ kêu cầu tham vọng, buôn bán nhiều tiền, rồi rắc bừa vàng mã ra đường xá, đốt khói mù mịt cả đình chùa, làm mất vệ sinh, ảnh hưởng văn hoá văn minh nơi công cộng. Nơi những nhà chung cư còn phải làm cái lư hương to tướng để ở dưới sân công cộng cho dân đốt vàng mã. Đã có trường hợp khói bốc vào nhà cao tầng làm cho chuông báo động reo lên báo cháy! Thực tế thói tục đốt vàng mã không có lợi lộc gì, chỉ tạo cơ hội cho những kẻ không nghề nghiệp nghĩ ra làm nghề vàng mã được dịp vơ tiền hót của.
Trước tệ nạn không lành mạnh này, Nhà nước đã phải ban hành Nghị định 75/2010/NĐ-CP về “Quy định xử phạt trong hoạt động văn hoá, trong đó có quy định mức phạt tiền từ 500.000 đến 1 triệu đồng đối với hành vi đốt vàng mã nơi tổ chức lễ hội, di tích lịch sử - văn hóa, nơi công cộng khác”. Nghị định cũng quy định xử phạt hành vi “Tuyên truyền mê tín dị đoan để tiêu thụ hàng mã” ở mức 1 đến 3 triệu đồng.
Cuộc sống văn minh, tinh thần lành mạnh là ở sự hiểu biết, phân định được chân lý và giả dối, đạo đức và bất lương. Nước mắt chảy xuôi, tổ tiên, ông cha không bao giờ yêu sách bắt con cháu phải mua sắm cho mình sự giàu sang vô lối và sẽ càng nổi giận khi con cháu tha về toàn đồ giả của bọn lừa đảo, gian tham. Vậy nên, khi tưởng nhớ ông cha, người thân, phải từ lòng thành, tử tế, chứ đừng mơ ước hão huyền mà thần thánh hoá và ma quỷ hoá hoang đường về chuyện vàng mã trong cầu cúng gia tiên. Tiền mua vàng mã dành cho con cháu ăn mặc, học hành, giúp đỡ cha mẹ, anh em còn khó khăn, khi ốm đau, hoạn nạn mới là hành động tốt đẹp, nhân văn. Hàng năm, trên cả nước, với nhiều nghìn tỷ đồng đem thiêu đốt vào vàng mã quả là số tiền rất lớn có thể giúp cho bao con người, nhiều gia đình còn bất hạnh, nghèo đói, khó khăn. Chúng ta thật sự xúc động khi những người tình nguyện làm từ thiện để có từng xuất cơm chỉ giá 2000 đồng phục vụ cho các bạn học sinh nghèo khi về thành phố dự thi và người lang thang, cơ nhỡ.
Tục đốt vàng mã không liên quan gì đến Phật pháp, chùa chiền mà là tệ nạn mê tín dị đoan ở những người cuồng tín, lắm tiền nhiều của, tham vọng hão huyền, không hiểu gì về tục đốt vàng mã hoặc nguỵ trang cho sự bất hiếu mà thôi.
Ngất ngây Đồng Bóng
Định danh Đồng bóng còn gọi là Lên đồng, Hầu đồng, Hầu bóng, Đồng cốt, là một hình thái mang tín ngưỡng dân gian pha trộn với tâm linh, mê tín.
Đồng bóng còn được giải theo nghĩa đen “đồng” là “trẻ con”; Đồng bóng, tức là mượn tâm hồn trong trắng trẻ thơ dưới bóng của thần linh, vong hồn siêu hình để phán xét, phù hộ cho cõi dương gian. Các ông đồng bà cốt là người lớn thì các thần linh sẽ nhập vào thân xác “vô tư” của họ để giao lưu với người trần thế, linh hồn của người âm theo về chuyện trò với thân nhân đang sống.
Thần linh của Đồng bóng là Ngọc Hoàng, Thượng Đế, Tam toà Thánh mẫu gồm ba vị Thánh mẫu cai quản ba miền vũ trụ: Mẫu Thượng Thiên cai quản miền Trời, Mẫu Thượng Ngàn cai quản miền rừng núi, Mẫu Thủy cai quản miền sông nước. Và còn các Quan lớn, các Chầu, các ông Hoàng Ba, Hoàng Bảy, Hoàng Mười, đến các Cậu, các Cô, các Quận, Trạng… Mỗi một vị là một giá tích trò, tất cả lên tới 36 giá. Khi lên đồng, người ta bắt đầu từ giá cao nhất Ngọc Hoàng, Thượng Đế cho đến các giá tiếp theo. Hoặc tuỳ theo yêu cầu mà chọn thêm, bớt giá, ít thì 9 đến 12 giá, nhiều thì hơn 20 giá, đầy đủ là 36 giá. Thời gian mỗi giá khác nhau, ngắn thì 20 đến 30 phút, dài có thể tới 1 giờ, diễn đủ 36 giá, kể cả giải lao, ăn uống phải đến vài ngày đêm.
Giá đồng là một màn, một tiết mục múa, đàn và hát minh hoạ theo từng tích chuyện với nhạc điệu, ca từ phù hợp với tích giá đó. Người đứng hầu đồng gọi là Thanh Đồng, nam được gọi là “cậu”, nữ thì gọi là “cô” hoặc “bà đồng” mà người đời cứ gán cho họ là người có “căn” mới làm được. Trang phục thường mặc quần áo lụa, mũ khăn rườm rà, màu sắc loè loẹt, mặt tô son phấn, móng tay, móng chân tô son đỏ. Tay cầm cờ hoặc quạt khi múa giá đồng. Vì trang phục loè loẹt, dáng đi xiêu vẹo, múa hát ngất ngư của đồng bóng, nên ngoài đời thấy ai tính khí thất thường, không nghiêm chỉnh, ăn mặc hoa hoét, diêm dúa là người đời cứ cho một câu: “Đúng là đồng bóng!”.
Mỗi khi thay giá, người ta lấy khăn lụa đỏ trùm lên Thanh Đồng, ngất ngư, sau đó bỏ ra lại vào giá mới. Mỗi giá thay một kiểu trang phục khác nhau. Thường có hai hoặc bốn phụ đồng gọi là “nhị trụ hoặc tứ trụ hầu dâng” đi theo để chuẩn bị trang phục, lễ lạt. Khi vào giá, Thanh Đồng đứng hoá thân, các phụ đồng quỳ dưới cũng phụ hoạ nghiêng ngả và múa may theo nhịp hát của Thanh Đồng. Các cung văn là những người đàn giỏi, hát hay đi theo cũng hát và hoà tấu nhạc cụ, chủ yếu là đàn nguyệt, kèm theo có phách, cảnh, sênh, trống chầu, chuông, mõ… Nhạc hoà cùng lời hát xướng, nhảy múa theo tiết tấu của từng giá đồng tạo thành nghệ thuật tổng hợp thật rộn ràng, trầm bổng, du dương, hấp dẫn và quyến rũ. Đúng là một đồng một cốt, hợp ý hợp tình mà nên “đồng cốt”. Nội dung lời hát theo điệu chầu văn hoặc hát có nói lối, nội dung ca ngợi công đức, linh thiêng của thánh thần và vẻ đẹp nơi tiên giới.
Thanh đồng thì cứ thế trùm chiếc khăn đỏ, nghiêng ngả, rồi tung khăn đứng lên, áo quần diêm dúa, đầu đội mũ đủ màu theo từng giá đồng, tay lúc cầm hương, cầm nến lửa cháy đùng đùng, lúc xoè quạt màu vung vẩy, tung tăng nhảy múa, huyền ảo, đu đưa theo nhịp trống, nhạc du dương. Các đệ tử, con nhang cũng ngất ngư, vỗ tay theo nhịp múa, rồi chen chúc dâng lễ lạt, hương hoa và xoè tiền đến tận mặt Thanh Đồng mà chắp tay khấn vái. Thanh đồng giả vờ mỉm cười dùng tay làm phép soi qua sính lễ, rồi hào phóng trả lại tiền, tung ném hoa quả làm lộc cho mọi con nhang. Có khi Thanh Đồng còn nghiện thuốc lá, liên tục các hầu dâng phải che quạt, châm thuốc cho vào cái miệng cho “cậu” hút hít. Nhìn khuôn mặt Thanh Đồng vừa dửng dưng vừa có phần trịnh trọng mà thấy thật hài hước.
Có người không tin, đã thử Thanh đồng bằng cách, đang trong lúc “Cậu” “hiển Thánh”, “nhập hồn” thì rỉ tai doạ cho mấy câu vu vơ, thế là Thanh đồng nhảy dội lên sợ hãi!
Ở Việt Nam, cùng với giá đồng về Mẫu Tam phủ, Tứ phủ, có tín ngưỡng Đức Thánh Trần mang tính thần linh với những màn biểu diễn của Thanh Đồng đi trên than hồng, xiên lình, phun lửa, lên đai (thắt cổ, còn gọi là sát căn) rất ấn tượng như diễn xiếc, làm cho mọi người kính sợ!
Cái nôi phát triển đồng bóng là vùng đồng bằng sông Hồng. Địa danh có hoạt động lên đồng nhiều nhất là Hội Phủ Dầy ở tỉnh Nam Định, nơi được coi là trung tâm thờ Bà Chúa Liễu được suy tôn là Thánh Mẫu, một trong Tứ Bất Tử huyền thoại Việt Nam. Tại đây được tôn tạo khá quy mô, gồm ba lớp điện thờ, mặt đều quay về hướng Nam, có giếng tròn, cột cờ, nhà bia, nhà trống, nhà chiêng. Chúa Liễu và hệ thống Tứ Phủ thờ ở toà điện trong cùng. Mẫu Thượng Thiên hoá thân thành Liễu Hạnh thờ ở trung tâm, bên trái là Mẫu Thoải, bên phải là Mẫu Địa, phía trước là Mẫu Thượng Ngàn tức là Nhạc Phủ. Cùng với phủ chính là quần thể nhiều đền miếu bao quanh.
Trong truyền thuyết dân gian Việt Nam thì Vua Hùng là Ông Tổ, còn Liễu Hạnh là Mẹ (mẫu), Trần Hưng Đạo là Cha, được coi như cộng đồng gia tộc, linh thiêng và đi vào tâm thức, tâm linh người Việt:
Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày gỗ Tổ mồng Mười tháng Ba
Và
Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ.
Xưa kia, lễ hội Phủ Dầy kéo dài mười ngày, bắt đầu từ 30 tháng Hai sang đầu tháng Ba âm lịch với nghi lễ chính rước Thánh Mẫu từ Phủ Chính lên chùa Gôi. Rất nhiều hoạt động tín ngưỡng độc đáo, đặc biệt nổi lên là Hát Văn và Hầu Đồng, một hình thức văn hoá tiêu biểu cho tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu. Người lên đồng để cho hồn các thần linh của tín ngưỡng Tứ Phủ nhập vào thân xác mình, rồi làm các nghi lễ trước bàn thờ, ăn mặc, nhảy múa, phán truyền theo tư cách và địa vị của thần linh ấy. Vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch hàng năm, người dân khắp thập phương đi trẩy Hội Phủ Dầy được hoà vào không gian lễ hội dân gian và chứng kiến nét đặc sắc của nghệ thuật Hầu Đồng, mượn tích xưa mà giáo dục ngày nay.
Tuy nhiên, từ hoạt động tín ngưỡng dân gian, dần dần nảy sinh những ý đồ không tốt. Hình thức lên đồng bị lợi dụng, mang nặng tính mê tín, buôn thần, bán thánh, nên xưa kia bị chính quyền hạn chế nhiều.
Ngày nay, điều kiện kinh tế, xã hội thuận lợi hơn, nên việc cúng bái, hầu đồng có cơ hội phát triển. Màu sắc mê tín dị đoan lại len lỏi vào đời sống văn hoá tín ngưỡng dân gian. Khắp nơi người ta cầu cúng, lên đồng, cúng bái, gọi hồn. Những hoạt động lành mạnh của hầu đồng không còn như xưa, mà trở thành gian dối, lừa bịp lấy tiền. Chẳng hiểu lắm về ý nghĩa tốt đẹp của Hầu Đồng, người ta cứ dựng lên điện thờ tại nhà mình rồi chèo kéo con nhang, đệ tử, ngày đêm tế lễ, đàn hát làm inh ỏi xóm làng, dân cư mất ăn, mất ngủ. Giá đồng chẳng hiểu, hát xướng chẳng thuộc, bớt xén giá đồng, nghêu ngao ẻo lả, múa hát lung tung. Những kẻ cuồng tín cứ thế tụ tập vung tiền, ném của, Thanh Đồng rởm thì vờ vịt giả dại giả điên, nhập thánh phán bảo quàng xiên, nhập hồn doạ nạt tín chủ mơ màng khóc lóc với “người xưa”, bỏ tiền ra mà chạy hạn. Người ta cầu mong buôn gian, bán lậu để lừa đảo mau chóng làm giàu, đốt vàng, đốt mã đầy sân, ra khỏi nơi đồng bóng là chửi bậy, đánh nhau, trộm cắp. Có điều lạ là nhiều khi thấy cả những người có chức sắc, tiến sĩ, bác sĩ, giáo viên cũng trở thành con nhang, đệ tử của kẻ ít học hơn mình!?
Người ta còn tụ tập, góp tiền góp của, thuê xe du lịch, chuẩn bị vàng mã, lễ lạt đắt tiền, thuê cả tốp đồng bóng đi một tua tới nhiều nơi cúng bái, áp đồng suốt mấy ngày liền. Đến đâu là chắp tay phủ phục, chụp ảnh, quay hình về làm thành đĩa VCD, DVD, mỗi chuyến đi tiêu tốn vài chục triệu, về thỉnh thoảng mở lại xem, nghất ngây, say mê, mãn nguyện.
Ấy thế mà sau trò “đồng bóng” oai nghiêm, gặp các “Thanh Đồng” ngoài đời chỉ là những người ăn mặc bình thường, làm ruộng, đi buôn. Có thanh đồng kiêm luôn thầy cúng, hoặc làm nghề quay nước mía, rửa xe, chơi cờ bạc và có khi còn nói tục, chửi thề!
Cô Cao Thị Gấm ở xã Nam Giang, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, từng có một thời say mê đi theo hầu đồng, hầu bóng. Cô cho biết: Khi “nhập đồng” thì mình cứ nghĩ, cứ bịa ra mà nói thôi, chứ có “ông thần”, “bà thánh” nào nhập vào mình mà nói đâu! Cô cũng bảo rằng, theo đồng bóng và cứ nghe “thầy” bịa ra, xúi dại cúng bái linh tinh mất rất nhiều tiền. Có lần vài ba chục triệu, có lần cô mất tới năm, sáu chục triệu. Khi cô hiểu ra, nghĩ càng xót của, phí công mà mụ mẫm cả người. Thế là cô bỏ hẳn đồng bóng, ở nhà chăm sóc cây cảnh. Ai yêu nghệ thuật cây cảnh, đến mua, cô bán là có vài ba trăm triệu, vừa vui, vừa thoải mái, vô tư.
Trong dân gian, nhất là nơi lễ hội, còn có hiện tượng một vài người cứ đến gần từ đường, phủ lễ, hội chùa là tay chân khua múa, miệng nói huyên thuyên, có khi mặc đồ đồng bóng, tay cầm nén hương, vào đền chùa thì đến nơi này, nơi khác, nhảy múa lung tung. Có người ngã lăn đùng, co quắp chân tay, mắt trợn ngược, sùi bọt mép ngay trước cửa đền chùa, hoặc ộc ra máu, phải đưa đi cấp cứu. (Người theo đạo Thiên Chúa cũng từng xảy ra hiện tượng như vậy. Có người cứ đến nhà thờ hay nói đến Chúa thánh linh là như người bị thôi miên, mê man, mắt đỏ ngàu, miệng lưỡi lập tức ứa máu). Người mê tín, duy tâm thì bảo thần thánh, ma quỷ, đức chúa trời nhập vào. Người không mê tín dị đoan cho là điên loạn, dở hơi, vớ vẩn. Các nhà y học thì chẩn đoán hội chứng tâm thần, kích động, ức chế mà sinh tai biến mạch máu não, chảy máu dạ dày, dãn rạn mao mạch mà phải cấp cứu.
Đây là những người quá cuồng tín và mẫn cảm với thánh thần, đồng bóng, ma quỷ mà bị hoang tưởng, thôi miên do thiên hướng thái quá của họ. Họ không có tội tình gì, chỉ là những đệ tử, con nhang u mê, sùng tín và trở thành căn bệnh mỗi khi chạm đến không gian đền, phủ, chùa chiền. Chỉ có điều không cẩn thận họ dễ xảy ra tai nạn hoặc lặp lại nhiều lần mà trở thành bệnh thần kinh, lại đổ cho thần thiêng, ma ám! Còn không thì ra khỏi nơi tế lễ họ sẽ trở lại bình thường.
Nguồn gốc và tính chất của Hầu Đồng gắn với tín ngưỡng dân gian mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc, đưa con người vào cõi tâm linh hướng thiện, tôn vinh công đức hình tượng thần linh, uống nước nhớ nguồn, tích thiện, trừ ác. Nó như một bộ môn nghệ thuật tổng hợp làm thăng hoa giá trị tinh thần không gian lễ hội và đi vào di thức con người khi đến với tín ngưỡng dân gian.
Mọi biến tướng mê tín dị đoan, vơ tiền vét của đều không phải ý nghĩa tốt đẹp của Hầu Đồng. Hầu Đồng đúng nghĩa, không phải là nơi cầu mong danh vọng, buôn gian, bán lậu hão huyền. Và cũng chỉ phát lộc giản đơn hoa quả, chứ không vơ tiền, vét của, móc túi chúng sinh. Phải là nơi linh thiêng, chính điện thờ phụng thần linh chứ không phải bất cứ chỗ nào cũng bày ra cúng cầu và không phải ai cũng có căn duyên mà biết hầu đồng, hầu bóng.
Chính vì ý nghĩa tốt đẹp, đặc sắc, nhân văn của loại hình này mà nhà nước ta có chủ trương gìn giữ, tôn vinh những giá trị tinh thần và làm hồ sơ đề nghị UNESCO xét để công nhận tín ngưỡng dân gian Hầu Đồng của Việt Nam là giá trị văn hoá cần được bảo tồn của nhân loại.
Kiếp luân hồi - Tái sinh
Từ xa xưa cho đến ngày nay đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và cũng biết bao giấy mực viết về hiện tượng “Luân hồi”, “Tái sinh”.
Hàng ngàn năm qua đi và nhất là từ khi các tôn giáo hình thành, phát triển đều ít nhiều quan tâm đến bí ẩn của hiện tượng một số người trong cuộc sống có biểu hiện những hành vi của người xưa đã chết. Người ta cho đó là sự luân hồi, tái sinh kiếp trước của con người và nghiên cứu trở thành triết thuyết của các tôn giáo.
Đó là những hiện tượng khi sinh ra cứ nói mình là người khác, không phải bố mẹ đẻ ra, rồi cứ đòi về “nhà mình” với bố mẹ ở nơi khác, hoặc lại cứ nhớ và kể về “kiếp trước” đã sống như thế nào. Có người còn nói vanh vách về tên ông bà, cha mẹ, anh chị, người thân và những công việc, đồ dùng vật dụng khi mình sống trong “kiếp trước” ở nhà người khác, không phải nơi cha mẹ sinh ra mà mình đang ở. Có người còn mô tả rất cụ thể về nguyên nhân cái chết của mình và tại sao lại đầu thai vào thành người hiện tại. Có người còn nhớ chi tiết cả lời nói của người thân trong “kiếp trước” hoặc nhớ và hát được bài hát mà ở kiếp trước đã được bà hoặc mẹ ở nơi ấy dạy cho. Cũng có người lại bảo mình chính là người thân trong gia đình đã chết trước đó đầu thai lại vào kiếp bây giờ…
Người ta cho những hiện tượng đó là do người chết trước kia đã mượn thân xác của người hiện tại đang sống để “gửi hồn” mình vào, hay nói ngược lại là người đang sống đã có một linh hồn quá cố nhập vào để sống cuộc đời hiện tại.
Những trường hợp như vậy gọi là “ Kiếp Luân Hồi” hay “Tái sinh”. Sự kỳ lạ ấy đã gây ra khó hiểu thậm chí hoang mang, và người mê tín, duy tâm cho là thần thánh, người âm, ma quỷ nhập vào nên rất sợ hãi.
Trong bài “Bí ẩn tiền kiếp, hậu kiếp”, tác giả Đoàn Văn Thông viết:
“Thuyết Luân hồi hay tái sinh có ý nghĩa vô cùng sâu sắc và chi li: Mọi sinh vật, sau khi chết sẽ chuyển hoá từ một thân xác này sang một thân xác khác. Ngay cả loài vật và loài cỏ cây cũng vậy. Luân hồi hay tái sinh là sự chuyển hoá hay sự chuyển sinh, đầu thai của linh hồn. Nói rõ hơn là khi chết, linh hồn sẽ chuyển từ thân xác này để nhập vào một thân xác khác. Khi chết, thân xác huỷ hoại tan rã, chỉ có linh hồn tồn tại.
Theo Phật giáo thì luân hồi, tái sinh là một phản ứng nghịch lại, là một sự báo ứng tự nhiên của mọi hành động. Mỗi hành động đều có phản ứng dội lại cho hành động gây ra. Chữ Luân Hồi theo Phật giáo lấy từ Phạn ngữ là Samsàra.
Con người phải trải qua nhiều kiếp cho đến khi chịu đủ sự trả quả tương xứng về những gì đã làm và không tạo ra nghiệp xấu thì mới mong được tới cõi an lạc mà Phật giáo gọi là Niết Bàn (Nirvana). Những ai phạm điều xấu, ác thì khi chết phải đoạ vào địa ngục và chịu những sự xử phạt công minh.
Thuyết của Phật Giáo nêu lên mười nghiệp dữ là: Sát sinh, trộm cắp, dâm dật, tham muốn, tức giận, si mê... Đối lại là mười nghiệp lành là: Không giết hại, không tham lam, trộm cắp, không giận hờn, không mê muội… Nếu sống tạo nghiệp ác thì khi chết phải chịu luân hồi, tái sinh vào thân phận kẻ chịu khổ đau vì phải trả cái nghiệp xấu ấy. Nếu khi sống tạo nghiệp lành, thì khi chết sẽ luân hồi, đầu thai vào thân xác mới có đời sống sung sướng, tốt lành hơn.
Tóm lại, tất cả những gì mà bản thân đang trải qua ở hiện tại chính là kết quả ở những nghiệp gì mà kiếp trước bản thân đã làm. Tất cả những gì mà hiện tại bản thân hành động thì đó sẽ là cái nghiệp được tạo lập trong hiện tại để có nghiệp báo trong tương lai, tức là sự báo ứng của việc mình làm.”
Hiện tượng kiếp luân hồi từng xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới. Nó bao phủ lên bức màn bí ẩn về tâm linh, ảnh hưởng vào các tôn giáo và chấn động trong cộng đồng ở các quốc gia. Từ lâu, các giáo phái, tôn giáo rất quan tâm đến hiện tượng này và trong thuyết giáo đều đề cập về luân hồi, tái sinh.
Theo tài liệu Persol.usyd.edu.au về “Thuyết luân hồi qua các tôn giáo” thì:
“Ấn Độ, nơi phát nguồn của đạo Phật, trong Kinh Bhagavad Gita của Ấn Độ giáo Bà La Môn có ghi chép giải thích về linh hồn và kiếp luân hồi: “Linh hồn vốn bất sinh bất tử, nó không phải sinh ra lúc trước, nó không thể tái sinh, bất sinh bất diệt, vĩnh kiếp trường tồn và vốn có sẵn từ xưa, nó chẳng hề tiêu diệt khi người ta tiêu diệt thể xác.” Đức Phật Thích Ca cũng dạy môn đệ: “Bậc chân tu công viên quả mãn, đều biết được kiếp trước của mình.”
Dân cổ Ai Cập tin có thần linh bất diệt sau khi thoát xác cần có nơi nương tựa. Vì tin tưởng thế, họ bày ra phương pháp ướp xác chết và xây những Kim Tự Tháp là nơi trú ngụ của linh hồn các bậc đế vương. Họ tin rằng nhờ phép huyền bí, linh hồn người chết sẽ sống lại một cuộc đời mới.
Hy Lạp là nước ở châu Âu, khai hoá rất sớm, tất cả văn hoá Âu châu gốc từ đó mà ra, đã có những nhà hiền triết nêu ra luận thuyết về Luân hồi. Pythagore, một nhà chính trị và tôn giáo cải cách đã xướng lên “Thuyết Luân Hồi” gồm hai phần: Phần Tâm truyền dành cho cao đồ trí thức lĩnh hội về khoa học thần bí. Phần Công truyền để dạy thường dân, trí thức còn kém cỏi. Timée de Locres, môn đồ của giáo chủ Pythagore, bảo rằng: “Linh hồn kẻ hèn nhát chuyển kiếp làm người xấu số để chịu khinh bỉ nhục nhã, linh hồn kẻ sát nhân chuyển kiếp làm ác thú để đền tội, linh hồn kẻ tồi bại vô liêm chuyển kiếp làm heo lợn, kẻ nhẹ dạ hay thay lòng đổi tính chuyển kiếp làm chim bay trên không khí, bọn lười biếng điên cuồng, ngu dốt chuyển kiếp làm thủy tộc.” Một môn đồ khác của giáo chủ Pythagore là nhà hiền triết Platon, nêu ra hai luận thuyết. Luận thuyết thứ nhất, ông cho rằng trên thế gian vì sự tử kế tiếp sự sinh, người ta có thể suy ngược lại rằng sự sinh cũng kế tiếp sự tử. Không có cái gì từ chỗ không mà sinh ra được. Cho nên nếu người chết rồi mà chẳng tái sinh, thì tất cả vạn vật sẽ nối tiếp nhau vào chỗ chết mà tiêu diệt. Thuyết thứ hai, ông căn cứ vào ký ức mà lập luận rằng học hỏi tức là nhớ lại. Ông suy luận, nếu linh hồn chúng ta nhờ học hỏi mà nhớ đã có sống một lần nào rồi trước khi nhập vào xác hiện tại, tại sao chúng ta chẳng tin sau khi lìa bỏ cái xác hiện tại, linh hồn chúng ta sẽ liên tục thác sinh nhiều kiếp khác nữa. Ông còn quả quyết, linh hồn nào đã tấn hoá đến chỗ hoàn thiện, thì không còn chuyển kiếp nữa. Nhưng trước khi lên đến bậc cao siêu ấy, tất cả linh hồn sau khi thoát xác phải xuống địa ngục hàng ngàn năm, đến lúc tái sinh, đầu thai, vì phải uống nước sông Léthé nên quên cả tiền kiếp của mình. Còn Hérodote, một thời được suy tôn là “Ông cha của lịch sử” lại tin rằng, linh hồn trong sạch có thể tấn hoá lên các vì tinh tú.
Đất nước Ảrập, nơi giáo chủ tinh thần Mahomet giáng sinh và đã mất 15 năm công phu suy ngẫm để tìm ra phương pháp cải cách tôn giáo và xã hội cho dân Ảrập. Từ đó Mohamet lập ra Hồi Giáo Islamisme, năm 622, sau Tây lịch. Giáo lý của Hồi giáo được giảng trong Kinh Coran gồm 114 chương bằng chữ Ảrập. Hồi giáo tin có số mệnh, tiền định, cho nên nếu một tai nạn nào xảy ra cho người Ảrập thì họ tự nhủ: “Việc này đã tiền định rồi”. Thánh Kinh Coran, chương XXX cũng chỉ rõ về Thuyết Luân Hồi: “Đức Thượng Đế hoá sinh vạn vật cho luân hồi chuyển kiếp nhiều lần tới khi chúng trở về với Ngài”.
Do Thái Giáo, nguồn gốc đạo Cơ Đốc, có Thánh Kinh gồm hai phần, phần thứ nhất nói về đạo Do Thái, gọi là Sấm truyền cũ hay Cựu Ước, phần thứ hai nói về đạo Cơ Đốc, gọi là Sấm truyền mới hay Tân Ước. Người Do Thái cho rằng cả thế gian đều tin có luân hồi chuyển kiếp, và được nói trong Thánh Kinh và giải rõ hơn trong kinh Phúc Âm Saint Jean: Đoạn thứ 9, Ông Nicodème, hỏi Chúa Giêsu về kiếp tái sinh, Ngài đáp: “Thật vậy! Ta nói cùng người, không ai thấy được cõi Trời, nếu chẳng tái sinh.” Đoạn thứ 3, trong Zohar, biên chép những khoa nội giáo tâm truyền dành riêng cho các bậc tu hành, có nói: “Tất cả linh hồn khổ hạnh tiến hoá từ kiếp này sang kiếp khác, nhưng con người không biết được kiếp tiền định của mình ra sao. Linh hồn không biết được phải luân hồi bao nhiêu kiếp và biết bao linh hồn tại thế còn phải đoạ trần chưa được phản hồi Thánh vức.”. “Tất cả linh hồn sau cùng đều trở về nguyên bản là cõi thiêng liêng, nhưng phải trong sạch như lúc giáng thế, bằng chẳng vậy còn phải đoạ trần nữa. Một kiếp không rồi thì hai, hai kiếp không rồi thì ba, cứ luân chuyển như thế mãi đến khi được hoàn toàn trong sạch mới thoát trần mà về với Thượng Đế”.
Ở Trung Hoa, nơi thịnh hành Tam giáo: Lão giáo - Lão Tử, còn gọi Thái Thượng Lão Quân, Khổng giáo - Khổng Tử và Phật giáo do Sơ Tổ Đạt Ma truyền từ Ấn Độ sang đều có những giáo thuyết về Luân hồi, tái sinh. Lão Tử lập thuyết qua Đạo Đức Kinh là tinh thần của Trời Đất, vạn vật và trong lòng người. Ông không đề cập đến Luân hồi mà nói về Quả báo, tức là mặc nhận có Luân Hồi, vì hai điều ấy phải nối tiếp nhau, có quả báo tức phải có luân hồi mà trả quả”(?). Khổng Tử, nhà tư tưởng lỗi lạc của Trung Quốc xưa, lập ra Lễ, Nhạc, tin có Trời, có Quỷ Thần, có hoạ phúc, tức là lẽ báo ứng và rất chú trọng cúng tế. Ông tin con người có xác, có hồn và cho rằng, khi con người chết, thịt xương chôn dưới đất mục nát và tiêu tan, còn khí thiêng (tức hồn) bay lên trên không rực rỡ.”
Việt Nam qua hàng ngàn năm chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo Ấn Độ, Nho giáo, Đạo giáo, Lão giáo, Khổng giáo Trung Hoa, Thiên Chúa giáo phương Tây và các đạo giáo khác nên rất coi trọng thờ cúng, cầu nguyện và tin vào thần thánh, linh hồn, luân hồi, quả báo, thiên đường, địa ngục để hướng thiện và loại trừ tội ác.
Như vậy, cách đây mấy nghìn năm hiện tượng Luân hồi - Tái sinh đã được các tôn giáo nêu thành triết thuyết, cho đó là sự chuyển hoá sự sống của một sinh vật qua nhiều kiếp theo sự tái sinh.
Kiếp Luân hồi - Tái sinh được người ta dựa vào những hiện tượng đặc biệt xảy ra ở một số người có một số hành vi gọi là “kiếp trước” hay báo ứng của kiếp trước như: Hồn nhập vào nói về kiếp trước. Cho cha mẹ biết mình sẽ tái sinh hoặc đã tái sinh. Đòi về với cha mẹ và về nhà mình ở kiếp trước kia. Nói lại chuyện xưa. Nhớ bài hát khi ở kiếp trước… Việt Báo có đăng tải bài “Có hay không “Kiếp luân hồi” lấy nguồn từ CAND, Sự thật, Thanh niên, viết về hai trường hợp như sau:
“Roberta Morgan, sinh ngày 28-8-1961 ở tiểu bang Minnesota (Mỹ), bắt đầu kể về “Kiếp trước” của mình khi còn là một bé gái. Em kể về “Cha mẹ trước đây” của mình, về chiếc ôtô mà “người cha kiếp trước” từng có và khẳng định đã cùng sống với “Cha mẹ cũ” tại một khu trang trại. Khi em lên 4 tuổi, được dẫn đến trại chuyên thuần ngựa. Roberta rất tự nhiên nói với cha mẹ: “Con từng cưỡi ngựa thuần thục nhiều lần rồi”. Trên thực tế hiện đang sống, em đã trèo lên mình ngựa bao giờ đâu. Em còn đòi mẹ làm những món ăn ngon mà “Mẹ trước đã làm” và mô tả lại món ăn ấy rất cụ thể, chính xác. Cho tới năm 9 tuổi, Roberta Morgan đột nhiên quên hẳn quãng đời “Kiếp trước” và không bao giờ nhớ lại được nữa.
Còn Samlini Pemac, sinh đầu năm 1962 ở Colombo (Sri Lanka). Trước khi biết nói, cha mẹ thấy em rất sợ nước. Mỗi khi tắm cho em, em phản ứng rất dữ dội và khóc thét lên. Em cũng rất sợ ôtô. Khi biết nói, Samlini kể rất tỷ mỷ về “quãng đời trước đây”, em cho biết: “Một hôm “Cha mẹ kiếp trước” cho em đi mua bánh mỳ. Đường phố đang bị lụt, chiếc xe Buyt đi sát, đã hất em xuống nước. Em cố giơ tay quá đầu cầu cứu và hét lên: Mẹ ơi! Sau đó em bị chìm hẳn và chết đuối.”
Theo tài liệu “Bí ẩn tiền kiếp hậu kiếp”, tác giả Đoàn Văn Thông dẫn về trường hợp như sau:
“Nhà nghiên cứu hiện tượng tâm lý Sushil Bose đã tìm gặp trực tiếp những người đã từng nhớ lại tiền kiếp và phỏng vấn họ. Năm 1939, ông đã viết báo cáo chi tiết về cô gái Ấn Độ tên là Shanti Devi. Cô cho biết rất rõ trước đó cô là Lugdi Devi, vợ một người tên là Pandit Kendermath Chơbey. Nhưng rồi bị một tai nạn gây nhiễm trùng và qua đời. Cuộc phỏng vấn trực tiếp diễn ra giữa hai người:
S. Bose: - Shanti hãy thuật lại những gì xảy ra lúc đó?
Shanti: - Khi ấy tôi cảm thấy mơ màng đi vào sâu thẳm tối đen, rồi sau đó lại thấy ánh sáng chói lọi toả rạng dần dần. Đó là thứ ánh sáng chan hoà kỳ diệu làm hoa mắt. Chính vào lúc đó tôi biết mình đã lìa khỏi thân xác mình qua dạng thể một làn hơi và chuyển động lên cao dần.
S. Bose: - Lúc đó Shanti có thấy thân xác mình không?
Shanti: - Lúc đó tôi có cảm tưởng là đã lìa khỏi thể xác, mặc dầu tôi như chuyển động lên cao, nhưng tôi lại không nhìn xuống mà chỉ lo nhìn ngắm cái ánh sáng lạ lùng bao phủ quanh mình. Nếu lúc đó nhìn xuống, tôi có thể thấy được cảm giác đang rời khỏi thân xác mình.
S. Bose: - Lúc đó Shanti có cảm giác đau đớn, mệt mỏi, yếu đuối không?
Shanti: - Không! Trái lại tôi thấy mình nhẹ nhàng thanh thản lạ lùng.
S. Bose: - Sau đó còn điều gì xảy ra?
Shanti: - Trong cái ánh sáng rực rỡ ấy, tôi thấy có bốn người mặc áo dài màu vàng sẫm cùng xuất hiện. Những người này đều rất trẻ khoảng 14, 15 tuổi. Trông họ tươi sáng như những thiên thần. Họ đi về phía tôi với vẻ nhẹ nhàng thanh thoát. Trước mắt tôi là một khu vườn đẹp tuyệt vời, vẻ đẹp mà tôi chưa bao giơ thấy ở trên thế gian. Rồi bốn người nhấc bổng tôi lên trên cao. Tôi cảm thấy niềm lâng lâng khó tả. Tất cả đều chan hoà trong ánh sáng lan toả, ấm áp, lung linh sinh động lạ thường. Điều kỳ lạ là lúc này tôi như không còn lệ thuộc vào những giác quan mà con người lúc đó còn sống để nhìn, để nghe, để cảm xúc”.
Tài liệu “Thuyết luân hồi quả báo”, trích từ Personal.usyd.edu.au nói về trường hợp khá đặc biệt, “Nhớ bài hát kiếp trước.” Năm 1912, tờ Thông thiên học tạp chí “Ubtra”, dưới ngòi bút của đại uý Florendo Battista, người Italia, thuật lại chuyện lạ như sau:
“Tháng 8 năm 1905, lời của Đại uý, vợ tôi có mang vừa được ba tháng. Trong khi nằm trên giường còn thức, bỗng thấy đứa con gái chúng tôi chết hơn 3 năm rồi, hiện hình về nói với mẹ: “Này mẹ, con sẽ trở lại với mẹ nhé!” Nói xong, nó liền biến mất. Vợ tôi đem chuyện ấy kể lại cho tôi nghe và bảo nếu sinh con gái thì đặt tên là Blanche, tên đứa con gái đã qua đời được gặp trong mộng. Tôi cho là do vợ nhớ con mà sinh ra thế.
Sáu tháng sau, vợ tôi sinh được một bé gái giống hệt Blanche. Tôi cho đó là chuyện bình thường, khi mang thai mà hay nhớ ai thì dễ giống người ấy thôi. Càng lớn, con bé càng giống chị. Đến sáu tuổi nó càng giống từ lời nói đến tính nết. Không ai tin nó là con chị chuyển kiếp, nhưng đến khi diễn ra hiện tượng sau đây:
Nguyên hồi trước, chúng tôi giao con Blanche cho một chị vú tên là Marie chăm nom. Cô là người Thuỵ Sĩ, thạo tiếng Pháp. Mỗi lần ru Blanche, cô thường hát bài “Cantilène” bằng tiếng Pháp. Sau khi con bé tôi bất hạnh, chị vú xin về không còn ở với chúng tôi nữa. Từ đó trong nhà không còn nghe bài hát ấy nữa và cũng chẳng ai biết bài hát đó. Chín năm trôi qua, một hôm vợ chồng tôi đang thu dọn gần phòng con Blanche em, bỗng nghe có tiếng ai hát bài hát “Cantilène” ở trong căn phòng ấy.
Chúng tôi bảo nhau cùng vào xem sao, thì rất ngạc nhiên thấy con Blanche em, mắt mở to, miệng hát bài hát ấy theo giọng Pháp như người vú xưa đã hát. Vợ tôi hỏi nó bài hát gì, nó đáp hát bài tiếng Pháp. Trong nhà có ai dạy nó tiếng Pháp đâu. Mẹ nó lại hỏi ai dạy hát, nó nói: “Không ai dạy, tự mình biết thôi.”
Tài liệu này còn cho biết một trường hợp trả lại hồn cũng rất kỳ lạ:
“Năm 1777, Mary Roff , 18 tuổi, ở Watseka, Hoa Kỳ, bị bệnh sau hai tháng thì chết, đã nhập vào Lurancy, về ở với nhà mình và không nhớ gì cha mẹ của Lurancy nữa. Sự thay hồn đổi xác chỉ được 4 tháng, bỗng hồn Mary xuất khỏi xác để nhường cho hồn Lurancy nhập lại, cứ xuất đi nhập lại trong 15 ngày, rồi Lurancy trở lại chính mình. Lurancy không chịu ở nhà Mary nữa và trở về với cha mẹ của mình. Từ đó, những chuyện cũ của Mary, Lurancy đều quên cả”.
Tại Việt Nam, từ lâu đã có hiện tượng ly kỳ Luân hồi - Tái sinh. Tờ “Cao Đài tạp chí”, xuất bản bằng tiếng Pháp, số ra tháng Giêng năm 1931, có thuật lại chuyện một đứa trẻ Việt Nam lên 7 tuổi, tên là Phạm Văn Non ở làng Đức Lập, quận Đức Hòa, Chợ Lớn, nhớ được “tiền kiếp” của nó. Trường hợp khác là một bài báo đăng trong “Đuốc Nhà Nam” ngày 6 tháng 9 năm 1932 nói về một bé trai 4 tuổi, tên là Mọi, tìm được nhà và nhận được cha mẹ mình ở kiếp trước.
Ly kỳ nhất là bài viết “Xôn xao chuyện Luân hồi chuyển kiếp ở Việt Nam” trên Internet, bài “Luân hồi đầu thai tại Việt Nam” trên báo Bưu Điện Việt Nam và “Xung quanh trường hợp cậu bé đầu thai ở Vụ bản” trên báo Đời sống và Pháp luật. Các nguồn thông tin này đều mô tả khá tỷ mỷ về bé trai Nguyễn Phú Quyết Tiến sinh ngày 28 tháng 2 năm 1992, ở thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình tìm về với gia đình và cha mẹ của “kiếp trước”.
“Anh Tân và chị Thuận, dân tộc Kinh, công tác ở thị trấn Vụ Bản, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình, kết hôn năm 1987, đến năm 1992 sinh cháu trai đặt tên là Nguyễn Phú Quyết Tiến. Năm 1997, lên 5 tuổi, chẳng may Tiến bị tai nạn chết đuối. Anh chị rất buồn, nhưng có bà Mế người Mường nói rằng: “Cháu nó linh thiêng lắm, rồi nó sẽ về với bố mẹ thôi!”
Cách nhà anh Tân khoảng 3km, ở xóm Cọi, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn có vợ chồng người dân tộc Mường là anh Bùi Văn Hoan và chị Bùi Thị Dự, ngày 6 tháng 10 năm 2002, sinh một cháu trai, đặt tên là Bùi Lạc Bình.
Đến tuổi đi mẫu giáo và biết nói, Bình làm cho cha mẹ và cô giáo ngạc nhiên là cứ nằng nặc nhận mình là đứa trẻ đã chết cách đây gần 10 năm và cứ đòi về với bố mẹ người đã chết. Đã có lần Bình nói với bố mẹ: “Con là người Kinh, không phải người Mường. Mẹ không cho con về nhà con, con sẽ chết lần nữa!?”
Hai gia đình tìm gặp nhau và đưa Bình về thăm nhà anh Tân, chị Thuận. Bình vẫn rất nhớ đường đi lối lại, tên hàng xóm láng giềng, lại nằm đúng lên giường mà xưa kia Tiến nằm, còn đi lục tìm máy bay và cần câu mà Tiến trước kia vẫn dùng.
Cuối năm 2006, hai gia đình đã nhất trí để Bình đến ở hẳn nhà bố mẹ Tân Thuận và đi học trường mẫu giáo ở thị trấn. Bình cũng cứ nhận tên là Tiến và được bố mẹ đặt cho họ tên Nguyễn Phú Quyết Tiến, đúng với họ tên của con anh chị Tân Thuận đã chết đuối năm 1997. Khi bố mẹ hỏi tại sao con không về nhà ngay mà lại về nhà bố mẹ bên xóm Cọi? Tiến bảo, con cũng đã quay về nhà, nhưng đến cổng, có một người to lớn đứng chặn lại rồi đuổi con đi. Một hôm, đang ở dưới chân cầu Vụ Bản, nơi Tiến chết đuối đã gặp vợ chồng anh Tân, chị Thuận đi chợ về và… Tiến đi theo “lộn” vào Bình. Đây là trường hợp hiếm gặp, trẻ đầu thai, “lộn kiếp” trở về ở với bố mẹ “kiếp trước”, tiếp tục học hành và sinh hoạt như những đứa trẻ bình thường khác”.
Tại xóm Cọi còn có trường hợp bé trai tên là Ly, 7 tuổi, trèo cây ổi bẻ quả, bị rơi xuống, chấn thương sọ não chết, đã đầu thai vào bé gái Bùi Thị Hồng Thắm và nhận ra những người cùng chơi với nhau ở “kiếp trước”.
Trước những hiện tượng ly kỳ ở đâu đó diễn ra như vậy, ngoài các nhà tôn giáo, tâm linh đi theo giáo thuyết của họ, các nhà khoa học cũng phải để tâm nghiên cứu nhằm giải mã xem nó là gì, với nhiều câu hỏi được đặt ra: Con người có linh hồn thật không? Khi con người chết thì linh hồn đi đâu, nếu thoát ra thì thoát như thế nào, tồn tại hay biến mất? Nếu linh hồn thoát khỏi thể xác, cư ngụ vào người khác thì vào ai, bằng cách nào và thể hiện ra sao?..
Theo một số tài liệu được đăng tải trên báo chí và mạng Internet thì trong số những người vì lý do nào đó mà chết đi rồi sống lại, có người cho biết là chính linh hồn họ đã thoát ra nhìn thấy xác chết của mình và những gì diễn ra xung quanh xác chết ấy. Nhưng trường hợp như thế cũng rất hiếm.
Việt Báo dẫn nguồn CAND và Sự thật Thanh niên cho hay:
“Bác sĩ tâm lý học người Mỹ cùng đồng nghiệp thuộc Đại học tổng hợp Virginia đã thử tìm bằng chứng, được tồn tại như một “thực trạng X”, cũng không thể lý giải dưới ánh sáng khoa học được và cho rằng chỉ tồn tại một khả năng duy nhất là giống như ảo giác. Còn nhà phân tâm học người Mỹ, bác sĩ Scot Rogo, đã từng dầy công nghiên cứu các trường hợp liên quan tới “đầu thai” hoặc “kiếp luân hồi”, cũng mới chỉ đưa ra các giả thuyết, chứ chưa dám nêu lên một kết luận khoa học chắc chắn nào cả.
Trước đây nhiều năm, đa số các nhà khoa học phủ nhận sự đầu thai, cho đó là một trò hoàn toàn lừa bịp. Nhưng nay đa phần trong số họ đã thừa nhận hiện tượng này như là một phương cách chữa các chứng khủng hoảng tâm lý.
Còn giáo sư Abraham Kelsy, trưởng khoa y học lâm sàng của Đại học New York, trong thực nghiệm riêng của mình đã dùng những phương pháp giúp bệnh nhân nhớ lại “quãng đời kiếp trước” của họ, và bằng cách này giúp họ giải phóng những vướng mắc hiện tại. Ông cũng giải thích: Cơ thể con người luôn luôn mang sẵn những thứ phi vật chất. Nôm na như người phương Đông gọi là “hồn”. Chính thứ “hồn” này được tái sinh, đầu thai lại, qua các phân tích tỷ mỷ về chất lượng riêng của mỗi cá nhân. Tại sao trong một gia đình, trẻ em thường khác biệt nhau, dù rằng chúng được sinh ra cùng cha cùng mẹ, có một tổng thể gen và lớn lên trong cùng môi trường? Rất nhiều trẻ em, khi đang chơi, luôn có xung quanh chúng “những người bạn vô hình” nào đó mà chúng cho là đang hiện hữu thật sự. Tới 4-5 tuổi, thứ cảm giác ấy đột nhiên biến mất. Các nhà khoa học cho đó chính là kỷ niệm về những người bạn “kiếp trước” của chúng.
Vẫn chưa có một nhà tâm lý học nào có thể giải thích một cách logic về những cá tính khác nhau, cũng như các chất lượng cá nhân khác nhau của các trẻ em được sinh ra từ một gia đình. Trong từng trường hợp thể hiện những dấu hiệu ảnh hưởng từ “kiếp trước”, được giới tâm lý nêu ra các giả thuyết về những biến dạng của tâm lý như: Mê ngủ, nghe hoặc đọc được đâu đó… những người thường nhớ về “kiếp trước”, để chỉ muốn tạo ra ấn tượng về xuất xứ thần thánh của họ. Đa phần trong chúng ta không thể gợi nhớ lại “kiếp trước”, ngay cả qua những cách tân hoàn thiện nhất. Trong trường hợp đó, không tồn tại quan niệm “đầu thai”trong thực tế. Ngoài ra cũng còn nhiều điểm bất đồng ngay cả giữa những người vốn luôn tin vào “kiếp trước”.
Tới giờ, giới khoa học vẫn chưa có sự đồng nhất về thực chất của tiến trình này, đó là cơ sở gây nên sự hoài nghi về khả năng “đầu thai” trong “vòng xoay luân hồi” của mỗi người.”
Theo những hiện tượng có thật trên thực tế và các nhà nghiên cứu về vấn đề này thì hầu hết chuyện “luân hồi”, “đầu thai”, “tái sinh”, “lộn kiếp” chủ yếu diễn ra ở tuổi trẻ em. Khi lớn lên thì những dấu hiệu đó cũng dần dần nhạt phai và biến mất. Còn ở người lớn đều là hiện tượng như khả năng ngoại cảm và có trường hợp được lý giải như là “gọi hồn”, “nhập hồn” hay là sự “quả báo”.
Chúng ta cần phân biệt “luân hồi”, “tái sinh”, “lộn kiếp” với hình thái thuyết “quả báo” và năng lực ngoại cảm đặc biệt của con người. Nó hoàn toàn khác, chứ không thể lầm lẫn sang “quả báo” và ngoại cảm.
“Luân hồi” tức là sự di chuyển cái gọi là “linh hồn” thoát ra của người đã chết “đầu thai”, hoặc chuyển sang “tái sinh” vào thể xác một người khác ở “kiếp sau”. Đứa trẻ vì lý do nào đó chết đi, “linh hồn” thoát ra và tìm đến một thể xác người khác để nhập vào, hoặc có thể báo mộng, sau đó đầu thai rồi ra đời, sống theo “linh hồn” ấy với những suy nghĩ, hành vi của người trước kia đã chết. Nó diễn ra như thật về sự giống nhau với người đã sống ở “kiếp trước”. Đây là hiện tượng rất hiếm hoi, chứ không phổ biến, đôi khi chân chất như đời thường, không cường điệu, sợ hãi mà chỉ gây ra sự kỳ lạ, tò mò.
Quan niệm “quả báo” chỉ là hình tượng nhằm giáo dục, răn đe cho con người hướng đến cuộc sống tốt lành, loại bỏ cái xấu, cái ác. Khả năng đặc biệt của ngoại cảm giúp cho sự mách bảo, dự đoán dự kiện, hoặc liên lạc giữa “linh hồn” âm với nhân sinh trên dương thế và cũng chỉ lúc nhà ngoại cảm còn xung lực tương ứng cùng đối tượng ngoại cảm được hoà đồng, nếu không thì hoàn toàn thất bại. Còn việc người lớn “nhập hồn” hoặc qua mơ mộng mà thấy hoặc nói chuyện người âm, là hiện tượng thức dậy tiềm năng tri giác, trí nhớ tiềm ẩn, hoặc chỉ là ảo giác, rồi lại thoát đi, chấm dứt sự hiện về. Có thể còn là mánh khoé của mấy “thầy” chuyên nói dựa, lừa bịp mà thành.
Vậy tại sao lại có hiện tượng kỳ lạ, đầy bí ẩn của “kiếp luân hồi” mà chưa có khoa học chứng minh, giải đáp?
Đây có lẽ là sự cấu tạo đặc biệt về thể chất ở một số rất ít người khi gặp một tác động thay đổi đột biến trong cơ thể như bất thần tai nạn, chết đuối, hoặc bệnh tật mà khi đột ngột chết đi, lập tức có sự kích hoạt phần dương khí “linh hồn” bay ra không tan mà còn dư sót tồn tại trong không gian. Đến khi gặp sự tương tác về thể chất của cơ thể một người nào đó, nó sẽ bị “hút” nhập “ký gửi” vào thể xác và mang theo “đặc tính” của “linh hồn” xưa ấy mà thành hiện tượng tái tạo cảm xúc của người đã qua. Cũng vì thế, nó tồn tại trong cơ thể người sinh ra sau đó, rồi lúc nào đó khi thể chất thay đổi, “linh hồn ký gửi” ấy lại bay ra khỏi thể xác người đang sống, giống như hiện tượng cảm xạ ngoại cảm và người đó sẽ trở lại cuộc sống bình thường bằng “linh hồn” thực sự hiện tại của mình. Cho đến khi thể chất thay đổi không còn thích nghi với sự “ký gửi” xưa nữa, hoặc “linh hồn” không còn sự bền vững mà tiêu tan thì hiện tượng “luân hồi”, “tái sinh” hoàn toàn mất hẳn. Nó chỉ xảy ra rất hiếm hoi ở một số rất ít người có thể chất cũng rất đặc biệt và lúc còn nhỏ tuổi, khi lớn lên thì không còn nữa. Chúng ta liên tưởng đến 2 giác quan “Tiên tri” và “Thần giao cách cảm” của trẻ em, khi lớn lên cứ mất dần, có thể là một trong những nguyên nhân tạo ra sự kỳ lạ của “Luân hồi” chăng (?).
Vì thế, không phải bất cứ ai cũng có hiện tượng “lộn kiếp” mà ta gọi là “luân hồi”. Người ta còn dựa vào đó mà cho rằng “cái bớt” ở mông hay ở đùi, có khi cả cái sứt môi, mụn ruồi, có thể do di truyền giông giống đứa trẻ đã chết là chuyện của “lộn kiếp”.
Câu hỏi đặt ra là khi “linh hồn” người “kiếp trước” lộn “ký gửi” vào thân xác đứa trẻ hiện tại thì “linh hồn” của chính nó chạy đi đâu, mà không mất đi, để rồi sau khi không còn ký gửi nữa, nó trở lại là chính mình? Trong quá trình tiếp nhận sự “lộn kiếp” ấy, lại không thấy sự pha trộn của hai linh hồn, hai tính cách biểu hiện ra cuộc sống thực tế ngoài đời? Phải chăng phần nhập vào mạnh hơn nên trở thành “đại diện” tạm thời, nhưng vẫn không làm mất đi phần bản chất của đời sống thực tại.
Người ta còn gán ghép cả chuyện những thần đồng thông minh, hoặc chưa đi học mà biết chữ, thậm chí biết ngoại ngữ là “kiếp luân hồi”, “tái sinh”, “lộn kiếp”? Những đứa trẻ đó lớn lên nếu không kỳ công rèn luyện, học tập, cũng chẳng khác gì những bạn bè khác, rất ít trở thành thiên tài, thậm chí có đứa còn khuyết tật không hay về lĩnh vực khác.
Khoa học cũng chưa ghi chép được hình ảnh cụ thể và chứng minh thoả mãn về bí ẩn lý thú của hiện tượng “luân hồi” ở rất hiếm trường hợp diễn ra như vậy. Không có “linh hồn” của sự “luân hồi” nào ở người cho là “lộn kiếp” làm thay đổi hoặc cải tạo được đời sống thực tế của họ, mà nó chỉ là hiện tượng gây ra sự ly kỳ, lý thú mà thôi. Hầu hết mọi người sinh ra, lớn lên cho đến chết vẫn chỉ sống bằng cuộc sống hiện tại với những diễn biến thường ngày trong vui buồn, hên xui, may rủi, sung sướng, tai hoạ, khổ đau theo từng năng lực và hoàn cảnh của đời mình.
“Luân hồi”, “tái sinh” hay “lộn kiếp” là hiện tượng rất đặc biệt ở rất ít người có tồn tại “phần dương” dư sót được cảm ứng với người có khả năng cảm xạ “phần dương” ấy và chỉ diễn ra trong một thời gian nào đó mà thôi. Đây không phải là thần thánh, ma quỷ, nó diễn ra rất tự nhiên, bình thường, không mấy khi gây ra sợ hãi mà chỉ thấy kỳ lạ, tò mò. Vì vậy, cần được hiểu nó như là một hiện tượng đặc biệt của khoa học về con người.
Không thể có chuyện người xưa chẳng biết gì về khoa học, lại bất ngờ thực hiện “kiếp luân hồi” lộn được vào thành các nhà khoa học trẻ tuổi ngày nay để chế ra được ti vi, máy tính, điện thoại di động, máy bay, tàu vũ trụ; Hoặc người tử tế xưa kia lại vì “quả báo” biến thành những tên khủng bố, tội phạm gây chiến tranh giết chết rất nhiều người dân hiền lành vô tội!? Người ta còn vẽ ra đủ thứ cho là liên quan đến “kiếp luân hồi” như sung sướng lên thiên đường, hay khổ đau đày xuống nơi địa ngục! Tất cả chỉ là hình tượng hoá nhằm giáo dục thiện, ác cho con người mà thôi.
Chúng ta không thể gán cho khoa học kỹ thuật truyền cả hình người và tiếng nói từ một Đài Truyền hình tới hàng triệu gia đình bằng “thuyết luân hồi”. Ở đây còn hơn cả kiểu “chuyển kiếp” là không chỉ tiếng nói mà hình còn giống như thật, dù chỉ là hình ảo. Phát minh ra người máy (Robot) cũng ví như tạo ra những điều mới lạ về con người. Chúng ta lại gặp kỹ thuật copy còn kỳ diệu hơn nhiều trong thực hành kỹ xảo vi tính và truyền hình hiện đại mà “kiếp luân hồi” không thể nào sánh được. Thế mà chỉ là kỹ thuật thông minh đầy hấp dẫn và hoàn toàn do con người trẻ tuổi điều khiển, làm chủ, chứ không gây ra hoang mang, khó hiểu, ly kỳ, sợ hãi như “thuyết luân hồi” cổ xưa.
Mọi so sánh đều có giới hạn, nhất là tâm linh và khoa học còn có những khác biệt. Nhưng với những phát minh thần kỳ, khoa học đã và đang khám phá, ứng dụng đột biến trong nghiên cứu sinh học, tạo ra những cơ thể đặc biệt và chữa bệnh cho con người. Khoa học ngày nay có những giải pháp nghiên cứu, quay phim, chiếu chụp trong và ngoài cơ thể, trong não bộ, đưa các thiết bị tinh vi vào trong nội tạng, nhằm tìm ra nguồn gốc những hiện tượng đặc biệt, siêu phàm ở con người.
Với hiện tượng quá hiếm hoi và là sự “ký gửi”, rồi tan biến của cái gọi là “luân hồi”, “tái sinh” như vậy, chỉ là dấu hiệu diễn biến đặc biệt về cơ thể một cá nhân, gần giống như năng lực ngoại cảm và khả năng siêu phàm của nhà ảo thuật, nghệ sĩ xiếc, chứ không thể là tất cả mọi người. Nếu không thần thánh hoá, ma qủy hoá thì hiện tượng lạ lùng này không bị kỳ bí, hoang đường.
Kiếp luân hồi vừa có ý nghĩa giáo dục hướng thiện, nhưng đồng thời cũng rất phi lý, phản lại giáo dục. Kiếp trước đã xấu thì kiếp này lại tiếp tục quả báo không ra gì, tiếp tục quấy phá, đoạ đầy, tức là không thể tác động, giáo dục được, mãi mãi hỏng! Tại sao chết khi còn rất nhỏ, ý thức chưa biết gì, không biết nói, thậm chí còn trong bụng mẹ mà lại nhập vào kiếp sau để thành người biết hết mọi việc mà kể vanh vách về “kiếp trước” của mình?
Hãy coi đó chỉ là “hiện tượng” rất đặc biệt, khác bình thường, ở một vài người, trong một quãng thời gian nào đó họ có xuất hiện chuyện ly kỳ như thế của năng lực siêu phàm của cơ thể. Nó cũng là một dạng đặc biệt của hình thức “gọi hồn”, “nhập hồn” bằng năng lực tri giác, ngoại cảm. Rồi họ cũng như tất cả những thánh nhân, thiên tài, nhà tu hành, thiền sư, linh mục, nghệ sĩ xiếc, nhà ngoại cảm, thầy cúng, thầy bói, thầy mo, kể cả những người tích cực rao giảng về “kiếp luân hồi” đều tuân theo quy luật tự nhiên “sinh - lão - bệnh - tử”. Mọi sự sẽ chấm dứt, khi con người về với cõi vĩnh hằng, thì hẳn “thuyết luân hồi” sẽ là sự lý thú của hiện tượng kỳ lạ gọi là “lộn kiếp” mà thôi.
Thế nên, con người sinh ra, sống ở trên đời, thọ lắm là hơn một thế kỷ, trung bình từ năm, sáu chục năm, bệnh tật hiểm nghèo, tai hoạ thì cuộc đời ngắn lắm chỉ được mấy năm. Vậy thì nên sống thế nào cho hay, cho tốt, rồi cuối cùng cũng trở về với cát bụi, người đưa an táng vào lòng đất, người chìm giữa biển khơi, bay vào không gian vũ trụ, hoặc ngày nay cho vào lò hoả táng, điện táng, thế là hết. Chứ mấy ai có được sự cấu tạo thể chất đặc biệt để có thể thoát “linh hồn” tồn tại, chờ dịp “ký gửi” tiếp vào đâu đó thành “kiếp luân hồi”, để lại “tái sinh”?
Kiếp luân hồi, quy luật sinh tử, giải thoát về cõi Niết Bàn, được hình tượng hoá đưa vào các triết thuyết nhằm giáo dục, thức tỉnh con người tự mình sám hối, rèn dũa cho cuộc đời thêm nhân đức, sống tốt đẹp hơn và thấm nhuần với quan niệm thật nhân văn “giá treo giá trả” mà thôi.
Đi về cõi trước
Con người với những giấc mơ, chiêm bao, ảo giác, nhớ về tiền kiếp xa xăm từng đã có trong thực tế. Nhưng còn một hiện tượng vô cùng kỳ lạ nữa là con người “chứng kiến” được cả những hình ảnh của quá khứ xưa, có khi cách đó hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm mà trên thực tế không còn nữa.
Mới thoạt nghe như là chuyện hoang đường, nhưng lại là sự thật. Vì thế, hãy cho rằng: Mọi chuyện trên đời đều có thể xảy ra.
Tác giả Linh Chi trong bài “Những người đi lạc vào quá khứ hay chỉ là ảo ảnh”, trên báo “Pháp luật và cuộc sống” đã cho biết về những câu chuyện lạ lùng có thật của những người bỗng đi lạc về thời tiền sử:
“Mùa hè năm 1901, có hai người phụ nữ thuộc giới trí thức tên là Anne Moberly, hiệu trưởng trường College St Hugh thuộc đại học Oxford và Eleanor Jordan là nhà nghiên cứu sử và giảng viên về ngôn ngữ Pháp, đến tham quan nước Pháp. Họ rất say mê ngôi biệt điện Versailles nguy nga vĩ đại nổi danh thế giới của các triều đại vua chúa vàng son nước Pháp, được xây dựng bởi vua Louis thứ XIII và sau đó được các vua Louis kế tiếp phát triển.
Hai nhà nghiên cứu đi xe ô tô và khi đến bến xuống xe, họ lạc vào một hướng khác. Trên đường đi họ đã nhìn thấy hình ảnh rất kỳ lạ về cảnh sắc thiên nhiên, sinh hoạt, trang phục của con người cụ thể. Trong tâm trạng hoang mang, đến chiều khi trở về, những gì họ đã thấy như nhà cửa, cây cầu, người đi lại đều tan biến mất. Điều khó hiểu là có hình ảnh cả hai cùng nhìn thấy, nhưng cũng có một số hình ảnh chỉ người này nhìn thấy mà người kia lại không nhìn thấy.
Vốn là người thích mạo hiểm, tìm tòi, nghiên cứu, hai người lại quyết định thử lại lần nữa, nhưng tất cả đều không còn thấy gì nữa. Họ quyết định đến thư viện lớn nhất chuyên về lịch sử ở Paris, tra cứu tài liệu lưu trữ thì những hình ảnh hai nhà du lịch nhìn thấy đều là hiện thực chỉ có ở thời đại cách thời họ sống đến gần 200 năm. Đọc kỹ tài liệu cho thấy, nơi mà hai người đến thăm là khu nghỉ mát nổi tiếng Petit Trianon chính là nơi nghỉ hè của Hoàng Hậu Marie Antoinette. Người phụ nữ ngồi bên giá vẽ mà bà Anne Mobertte nhìn thấy chính là hoàng hậu Marie Antoinette.
“Năm 1964, nhà hoạt động văn học nghệ thuật nổi tiếng Hoa Kỳ tên là Robert Cory đã lái xe trên đường đến Los Angeles. Hôm đó trời quang mây tạnh, bỗng nhiên một trận bão tuyết nổi lên khi ông đang trên dốc núi. Sau đó ông theo biển chỉ đường xuống núi và chứng kiến những đồ vật và hoạt động của hình ảnh con người lầm lì, lặng lẽ. Cho đến sáng hôm sau lại chứng kiến một khách sạn, trong đó phần lớn là người già xa lạ, họ còn nói với ông: “Ông đừng sợ! Chẳng có gì phải sợ cả”.
Theo tài liệu lưu trữ tại thư viện lớn ở đây cho biết, xưa kia nơi đây là vùng thưa dân, nhưng có ngôi nhà Bưu Điện Quốc gia lớn tên là US Post Offi ce National, Indiana. Đó là những năm 1850, 1851… Rồi 80 năm sau đó, nghĩa là vào năm 1930 thì nơi đây biến thành bệnh viện lớn dành cho các cựu chiến binh. Như vậy, ông Cory đã tình cờ đi ngược dòng thời gian và vào quá khứ cách thời đại ông đến hơn cả trăm năm”.
“Hai nhà leo núi là Donald Watt và George Bruce, trong chuyến leo núi tháng 5 năm 1987 đều nhìn thấy rõ có một ngôi nhà hai tầng xây bằng đá hoa cương, bề thế, đầy tiện nghi nằm bên bờ hồ Mullardoch gần Cannich xứ Scotland rất nên thơ. Trước đó, hai người đã nghiên cứu qua bản đồ chi tiết của vùng họ đến và không có dấu vết gì ghi chú về căn nhà này. Sự kiện sau đó làm họ ngạc nhiên là sau một hồi leo núi, khi trở lại không thấy ngôi nhà đâu nữa. Sau đó tìm hiểu các tài liệu về vùng này thì khoảng những năm 1950, ở đây có một số nhà cửa được dựng lên, trong đó có cơ sở của nhà nước. Rồi một trận lụt đã làm ngôi nhà bị chôn vùi xuống đáy hồ. Như vậy, hai nhà leo núi đã nhìn thấy hình ảnh thật của quá khứ trước đó khoảng 30 năm”.
Tài liệu trong cuốn Mystic Place của nhà xuất bản Time Life Book (1991) cho biết:
“Một buổi trưa tháng 8 năm 1936, Stephen Jenkins, 60 tuổi, là nhà nghiên cứu địa chất thường tới vùng Loe Bar, một địa điểm thuộc bờ biển Corish. Trong khi Jenkins đang chăm chú theo dõi các vùng đất thì bỗng nhiên ông vô cùng ngạc nhiên khi thấy trước mắt mình một đạo quân thuộc thời Trung Cổ xuất hiện. Quân phục chứng tỏ họ đang trải qua những cuộc chạm trán trận mạc.
Vừa lạ lùng, vừa kinh ngạc, Jenkins, với tính tò mò, gan dạ và thích mạo hiểm đã không ngần ngại tiến về phía đoàn quân. Nhưng hành động đó đã làm toàn thể đoàn quân thời Trung Cổ biến mất.
Thế rồi 38 năm sau, Jenkins đưa vợ trở lại nơi ông đã từng chứng kiến đạo quân thời Trung Cổ xuất hiện. Tại địa điểm cũ, hai vợ chồng ông được nhìn thấy đoàn quân rõ ràng hơn và bà vợ của Jenkins hoảng sợ cứ níu lấy tay chồng mà tưởng như trong mơ.
Nhiều giả thuyết đã được nêu ra để giải thích cho hiện tượng này. Ngay chính Stephen Jenhins cho rằng có thể đạo quân ma này thường xuất hiện ngay nơi vùng Comish và người may mắn thấy được là do một năng lực tinh thần nào đó phát nguồn từ một giao điểm (node)? Loe Bar vẫn còn đó nhưng nơi mà năm 1936 và năm 1974 Jenkins đã đứng sẽ không nhất thiết luôn luôn đều thấy được hiện tượng xuất hiện đoàn quân thời Trung Cổ, vì còn thuộc vào môi trường, khí hậu, tầm nhìn và nhất là tuỳ từng người đứng ở địa điểm ấy.”
Trong dân gian người Việt cũng từng có người kể rằng bản thân nhìn thấy cảnh vật, người xưa, có khi là những gì đã thân quen, đã biết, nhưng cũng có cái chưa hề biết đến bao giờ.
Sự khác biệt với các hiện tượng khác là trong trường hợp này, người nhìn thấy hình ảnh ảo như thật trong trạng thái hoàn toàn thức tỉnh ở ban ngày có ánh sáng, và kể cả trong ban đêm huyền ảo. Nó có thể xảy ra ở một người, hoặc một số người cùng lúc nhìn thấy và có thể tái hiện trở lại nhiều lần nhìn thấy.
Câu hỏi đặt ra là không phải bất cứ lúc nào và tất cả mọi người đều nhìn thấy, trong khi đó có người nhìn thấy, có người không. Hoặc người này nhìn thấy hình ảnh này lại không nhìn thấy hình ảnh khác trong cùng một lúc ở cùng một nơi, và trái lại, người kia cũng không nhìn thấy hình ảnh mà người này nhìn thấy ở chỗ đó.
Nhiều vấn đề nữa đặt ra là tại sao trong quãng thời gian khá dài hàng chục năm, có khi hàng trăm năm tất phải có nhiều sự kiện xảy ra tại nơi đó, nhưng người ta lại chỉ nhìn thấy một vài hiện tượng nào đó mà thôi. Tại sao chỉ nhìn thấy đoạn đường, cây cầu, hoàng hậu ngồi vẽ, hoặc chỉ thấy đạo quân thời Trung Cổ mà không thấy biết bao chuyện khác nữa qua nhiều năm diễn ra tại nơi ấy? Và tất cả những hình ảnh nhìn thấy, nếu cho là có thật thì chỉ là hình ảnh gây ra tò mò, khó hiểu, có khi sợ hãi trong tâm linh, tư tưởng thế thôi chứ không hề có tác động gì làm tốt hay làm hại cho con người trên thực tế.
Nếu là hình ảnh cách đó hàng trăm năm thì không thể là hiện tượng giấc mơ, chiêm bao, ảo giác, mộng du mà não bộ tái hiện ở con người đang sống, vì họ sinh ra sau đó rất lâu, không hề biết gì về trước đó và cũng chưa bao giờ họ đọc sách báo tìm hiểu về những sự kiện ấy. Còn nếu là người xưa lộn kiếp luân hồi thì không thể chỉ biết một vài “kỷ niệm kiếp trước” vào lúc đó đã biết, cũng không tái hiện chỉ bằng một số ít hình ảnh và ở một vài nơi như vậy. Trong khi còn trẻ và trước đó họ lại chẳng nhìn thấy những hiện tượng gì cho là “kiếp trước” mà chỉ bất ngờ khi thấy những hình ảnh kỳ lạ mà thôi? Nếu là năng lực ngoại cảm thì tự nhiên bất thần một người đó nhìn thấy, chứ không thể hai hoặc ba người bình thường đi với nhau cùng thấy hình ảnh lạ lùng diễn ra trước mắt họ? Nếu có một khả năng siêu phàm về năng lực đặc biệt hay ảo giác, thấu thị mà chỉ ở người nào đó nhìn được ảo ảnh mà thôi. Tất cả diễn ra kỳ lạ, đôi khi làm cho người ta ngộ nhận là những thánh thần, ma quái sinh ra mê tín dị đoan.
Vậy nó là cái gì mà trở thành những điều khó hiểu, làm nên bức màn huyền bí đối với con người? Phải chăng có thể do ảo giác, hay suy tưởng, tái tạo từ trong trí nhớ, kể cả dựng đặt của não bộ của con người? Đó còn là những dấu hỏi lớn dành cho khoa học. Còn nếu có xảy ra với ai, chỉ có thể coi đó là hiện tượng tự nhiên kì lạ mà thôi.
Chết lâm sàng
Lịch sử y khoa thế giới từng chứng kiến những trường hợp đặc biệt, hiếm thấy là người “đã chết” mà tự nhiên tỉnh lại. Người “chết” sau ít giờ hoặc ít ngày mà tỉnh lại từng đã xảy ra. Nhưng có người “đã chết” rất lâu hàng tháng, hàng năm, thậm chí nhiều năm đến hàng chục năm mà tỉnh lại là điều kỳ lạ. Y học ngày nay gọi những “cái chết” đó là “hôn mê sâu”, “chết lâm sàng”, tức là người chưa chết thật mà trong trạng thái hôn mê kéo dài.
Trong bài viết “Những ca hôn mê bí ẩn”, đăng tải trên báo “Sức khoẻ và Đời sống”, lấy tư liệu từ Paris Match, tác giả Duy Anh cho biết:
“Tỉnh dậy sau 16 năm hôn mê liệt giường liệt chiếu - Kỳ tích ấy đã giúp bà Patti White Bull, người Mỹ, có tên trong lịch sử y khoa thế giới với kỷ lục người tỉnh lại sau thời gian hôn mê dài nhất.
16 năm trước, trong lần sinh đứa con thứ 4, Patti gặp một tai hoạ hy hữu: Một cục máu đông xâm nhập vào phổi và cản trở quá trình hô hấp. Tim của bà đã ngưng một lúc, nhưng não do thiếu oxy đã chịu những tổn thất không thể bù đắp được. Sau ba tuần hôn mê sâu, Patti rơi vào trang thái bán thực vật và các bác sĩ tiên lượng đây là tình trạng hôn mê vĩnh viễn. Patti không còn bất cứ cảm giác nào, nhưng đôi mắt thì vẫn mở to, vô hồn.
Cho đến sáng ngày Giáng sinh năm 1989, như mọi ngày, y tá Dona Juarez vào phòng 14, tại Viện điều dưỡng Las Palomas để xoa bóp cho Patti. Sau khi xoa bóp chân tay cho Patti, ra cửa Dona chợt nhớ chưa đắp chăn cho Patti. Dona quay trở lại giường của Patti, vừa kéo chăn lên thì cô nghe tiếng người nói: “Không, đừng làm thế”. Trong phòng không có ai, Dona giật mình hoảng sợ chạy ra cửa phòng thì lại nghe thấy câu nói đó lần thứ hai. Bình tĩnh lại, Dona mới xác định đó chính là tiếng nói của Patti, sau 16 năm hôn mê, đã nói được.
Tất cả các bác sĩ, trong đó có Elliot Marcus - nhà thần kinh học của bệnh viện và cũng là giảng viên đại học New Mexico đã không thể tin được, ông cho rằng đây không phải là chuyện hiếm hoi mà là chuyện không thể. Từ trước đến giờ, trong tài liệu y văn thế giới chỉ mới thấy ghi rằng có một người đàn ông đã tỉnh sau 2,5 năm hôn mê. Nhưng đây những 16 năm! Không chỉ thế, Patti còn nói ngay được và sau đó xin một tờ giấy và một cây bút chì để viết “Ilove you” khi mẹ bà tất tả chạy đến. Thấy chồng và các con, Patti nói ngay “Chào cả nhà!” và bắt đầu trò chuyện, dù đã 16 năm không hề nói gì. Chỉ một tuần sau Patti đi lại được, tự trang điểm và ăn uống bình thường. Bà còn nhờ mẹ đưa lên núi cao để “hít thở không khí trong lành”. Sau đó, các bác sĩ vẫn thường kiểm tra sức khoẻ của Patti và thấy bà khoẻ mạnh bình thường, trí nhớ phục hồi rất tốt.
Đây là trường hợp hết sức đặc biệt về người hôn mê sâu sau nhiều năm mà tỉnh lại, bởi lịch sử y học trước đó mới chỉ công nhận hai trường hợp hôn mê sâu. Thứ nhất là bà Elaine Esposito, bắt đầu hôn mê vào ngày 3-2-1934 tại Bệnh viện Chicago, Illinois, Mỹ. Giấc hôn mê kéo dài 37 năm và 111 ngày. Sau đó, bà qua đời chứ không hề tỉnh lại. Thứ hai nổi tiếng hơn do bệnh nhân có tỉnh lại. Đó là ông Hans Waltraud, bị ngã từ trên cao vào ngày 13-2-1987. Đúng 6 năm sau, ông đột nhiên tỉnh dậy và trở thành bất ngờ của người Áo. Lúc đó người ta cho đây là trường hợp độc nhất vô nhị.
Các nhà khoa học đã đưa ra nhiều giả thuyết về những hiện tượng này. Giáo sư thần kinh học Perter Schboyle của Đại học Liverpool, nước Anh, đưa ra giả thuyết là bộ não của Waltraud đã “tạm đình chỉ hoạt động” trong 6 năm và sau đó “bùng nổ” trở lại. Ông cho rằng, rất có thể các tế bào thần kinh của nạn nhân không sản sinh hay phân chia gì trong suốt 6 năm. Nhưng trước ngày lịch sử tỉnh lại khoảng 2 tuần, não tự động nạp ôxy để chuẩn bị cho sự trở lại sắp tới. Nhưng giới y học lúc đó không công nhận, cho là “phản khoa học”.
Năm 1995, cuộc tranh luận của hai tờ báo uy tín về khoa học ở châu Âu là Science et Vie và La Recherche đề cập đến chuyện xoa bóp cơ thể của các y tá cho bệnh nhân. Tất cả các bệnh nhân liệt giường lâu ngày cần được xoa bóp tứ chi để tránh teo cơ. Có thể tác động này làm máu lưu thông tốt hơn và ôxy đã được truyền lên não? Nhưng lý thuyết này cũng không thuyết phục được toàn bộ giới y học bấy giờ. Nhiều nhà thần kinh học cho rằng, chuyện ôxy có lên não hay không chẳng liên quan gì đến bệnh nhân tỉnh lại cả.
Điều mà các bác sĩ lưu ý là năm 1994, khi chụp cắt lớp bộ não của Waltraud, họ đã phát hiện ra một vệt xám to bằng đầu ngón tay cái. Sau đó vệt xám dần dần thu nhỏ lại và biến mất sau 7 tháng tính từ ngày Waltraud nhỏm dậy. Đến trường hợp của Patti, người ta cũng phát hiện ra một vệt xám trên não tương tự, chỉ có điều, vệt xám đó biến mất muộn hơn, sau 13 tháng. Chính vì vậy mà giờ đây, khi nghiên cứu lại những ca hôn mê đầy bí ẩn trong lịch sử, các nhà khoa học Mỹ đang đi sâu tìm hiểu mối liên hệ giữa vệt xám này với sự hồi tỉnh của bệnh nhân sau chết lâm sàng.”
Trên thực tế đã có nhiều trường hợp người chết sau ít giờ tỉnh lại. Có người cho vào quan tài sau đó sống lại. Cũng đã có trường hợp người chết đưa đi chôn, sau này đào mộ, thấy có hiện tượng di hài trong quan tài không đúng như vị trí khi chôn. Và người ta cho rằng có thể khi bị chôn là lúc người đó chưa chết thật mà chỉ là chết lâm sàng. Nên khi tỉnh lại quẫy đạp mà làm đổi thay tư thế nằm trong quan tài. Vì vậy mới xảy ra chuyện “chết mà chưa chết”, như thương vong trong tai nạn, chiến tranh gấp gáp bị chôn vùi rất thương tâm.
Cũng vì thế mà xưa kia, khi có người chết là người ta có tục “gọi hồn”, hay chờ đợi con cháu đầy đủ mà có thời gian để người chết có thể tỉnh lại. Ngày nay, với thiết bị y tế hiện đại, có thể kiểm tra tim phổi, mạch nhiệt, cơ thể con người khi chết. Tuy nhiên, cũng vẫn có xác xuất hy hữu xảy ra, người chết cho vào nhà xác, phòng lạnh ở bệnh viện mà vẫn còn sống lại! Cũng đã có chuyện không biết thật hay chỉ là bịp bợm của “thầy phù thủy”, “nhà ngoại cảm” mà “hồn người âm” nói chuyện kinh hoàng, rằng khi xưa mình chưa chết mà bị đem chôn!
“Chết lâm sàng” cũng là hiện tượng đặc biệt về con người. Có thể não bộ khi bị hôn mê vì lý do nào đó, vẫn chưa hoàn toàn chết hẳn để trở thành “chết thật” mà nó chỉ “tổn thương tạm thời” phần chỉ huy những hành vi biểu hiện sự sống, làm cho người bệnh tê liệt mọi cảm xúc. Đến lúc nào đó, sự “tổn thương tạm thời” được phục hồi do nhiều tác động, thuốc men, xoa bóp, ăn uống… làm cho sự sống lại được hồi sinh chăng? Đó có thể cũng là cấu tạo thể chất và não bộ rất đặc biệt của bản thân người bệnh mà nếu trong trường hợp người khác sẽ không thể diễn ra sự thần kỳ như vậy. Nó cũng như thể chất và ý chí, có người sức chịu đựng ghê gớm không hề sợ đau đớn và cũng không thấy đau đớn, kêu la như người khác khi cùng trong điều kiện bị thương hoặc tiêm thuốc như nhau.
Các thiền sư đắc đạo có thể ngồi thiền “viên tịch” trong nhiều ngày rồi trở lại tiếp tục cuộc sống tu hành. Những kỳ nhân Yoga, Ấn Độ có thể vận công “thoát xác” đem chôn sống trong nhiều ngày mà khi đào lên lại trở về sự sống bình thường, làm nên sự kỳ vĩ về năng lực siêu phàm tiềm ẩn ở con người. Điều mà chúng ta khó hiểu là tại sao trong thời gian chết lâm sàng, có khi rất lâu, cơ thể không được ăn uống cung cấp dinh dưỡng mà sự sống vẫn tồn tại trong con người để rồi sống lại, mặc dù có thể lý giải do không hoạt động thì không tiêu hao năng lượng?
Vì thế mới tạo nên sự thần kỳ ở năng lực đặc biệt của cơ thể mà người khác không có để trải qua được “cuộc chết lâm sàng”. Cũng bởi năng lực đặc biệt khác nhau, nên có người lâm vào cảnh lâm sàng lâu hay chóng, phục hồi nhanh hay chậm, hoặc không phục hồi được mà tỉnh dậy rồi lại chết hẳn vĩnh viễn luôn.
Những cái “chết lâm sàng” đã từng là cái cớ để các thầy cúng khoa trương bí ẩn, bấm tính xung khắc âm dương, ngũ hành, càn khôn, bát quái vào ngày giờ, sao, tuổi của bản mệnh đương sự. Nó trở nên hoang mang, huyền bí khi xác xuất tự nhiên đúng và cũng dễ giải thoát khi chẳng ứng nghiệm gì.
“Chết lâm sàng” không phải là hiện tượng phổ biến, nhưng thực sự là vấn đề khoa học mà các nhà nghiên cứu cần làm sáng tỏ. Và như thế sẽ có giải pháp đối xử hợp lý nhất, để hiện tượng này không còn là kỳ bí về khoa học nghiên cứu sự sống và cái chết của con người.
Hồn lìa khỏi xác
“Hồn lìa khỏi xác” là hiện tượng cận tử, tức là giây phút “hấp hối” cuối cùng, ranh giới của sự sống tiến đến cái chết của con người. Đây là lúc “linh hồn” của sự sống thoát ra, để chỉ còn là xác chết vô hồn, giá lạnh.
Người xưa thường cho rằng khi đến lúc nhắm mắt, xuôi tay, người ta nấc lên, thở hắt ra, mắt mở thì “linh hồn” bay ra khỏi xác. Có thể trong đêm tối thấy một luồng sáng vụt ra từ đôi mắt của hiện tượng “tinh lạc bay lên”, chỉ còn lại xác chết mà thôi. Tức là dương khí ấm áp đã thoát ra, còn phần âm cơ thể lạnh cứng nằm lại, sự sống hoàn toàn chấm hết! Người ta vuốt cho mắt nhắm lại để người “ra đi” thanh thản vào cõi vĩnh hằng.
Nhưng trong mỗi con người có khi lại không giản đơn như vậy. Mà do thể chất đặc biệt của cơ thể mà hiện tượng “cận tử” cũng diễn ra vô cùng kỳ diệu, lạ lùng.
Điều gì xảy ra khi con người lìa đời, hay xung quanh hiện tượng “cận tử”, “thoát xác” có gì đặc biệt? Đó là vấn đề khoa học quan tâm khám phá những điều dị thường mà không phải lúc nào chúng ta cũng cảm nhận được. Đặc biệt là những người đã trải nghiệm qua “chết lâm sàng”, khi tỉnh lại kể về điều mà họ biết được khi vừa “chết”.
Tác giả Đoàn Văn Thông mô tả trong “Bí ẩn tiền kiếp hậu kiếp”:
“Văn hào nổi tiếng Ernest Hemingway từng kể lại trong một lần bị thương nặng đến thập tử nhất sinh tại chiến trường trong trận chiến thế giới thứ hai. Ông thấy rõ ràng chính ông đã thoát ra khỏi cơ thể của ông giống như hình ảnh của việc lôi cái khăn tay ra khỏi túi áo, rồi sau đó trở lại nhập vào thân xác của chính mình lúc hồi tỉnh… Sự kiện đó là nguyên nhân thúc đẩy nhà văn viết cuốn “Giã từ vũ khí” đầy hấp dẫn.
Cô y tá Linda ở Floria kể rằng chính mắt cô thấy rõ một khối mờ đục có dạng như sương khói thoát ra khỏi cơ thể một người bệnh đúng lúc người ấy tắt thở.
Bác sĩ Josef, một hôm đang ở bệnh viện, ông vào phòng của một nữ bệnh nhân già, thấy bà cứ nhìn chằm chằm vào ông và nói: “Bác sĩ có biết rằng tôi có thể rời khỏi thân xác tôi không? Ngay tại đây, bây giờ, bác sĩ đến phòng 12, sẽ thấy một người đàn bà đang viết thư cho con…” Rồi bà mô tả hình dạng người đàn bà đó và phần đầu của bức thư. Bác sĩ vội đến ngay phòng số 12 ở khá xa và nhìn thấy người đàn bà đang ngồi viết thư thật. Ông liền quay trở lại phòng người nữ bệnh nhân già thì bà đã chết. Bác sĩ cho rằng linh hồn của bà đã rời tới được phòng 12, như vậy nó có khả năng đi xuyên tường, qua cây cối và có thể xuyên qua người khác.
Một trường hợp khác, Jacky C.Bayne, quân nhân Mỹ kể lại rất rõ, trong khi ở chiến trường Việt Nam, tại trận chiến Chu Lai, bị thương nặng, lúc ngất xỉu, đã thấy mình thoát ra khỏi thể xác và nằm trên bàn mổ. Tuy nhiên một số nhà khoa học không tin mà cho là ảo giác.
Nhà phân tâm học Hippolyte Braduc đã tận mắt trông thấy một khối hơi thoát ra khỏi cơ thể vợ ông khi bà trút hơi thở cuối cùng và ông đã chụp được bức ảnh lạ lùng này.
Theo tổng kết của R.Crookall, nhà tâm lý học và là nhà nghiên cứu khoa học thì linh hồn thể hiện dưới nhiều hình dáng, màu sắc. Theo Muldoon thì mờ sáng như sương khói, đôi khi như đầy hơi nước hoặc vầng mây nhỏ màu trắng không hoàn toàn trong suốt. Hình ảnh này chỉ hiện rõ khoảng một vài phút rồi tan biến.
Chính ông Edgar Cayce, người có khả năng xuất hồn để chữa bệnh nổi tiếng ở Hoa Kỳ cũng thường mô tả linh hồn giống như lớp sương hay khói mờ. Maurice và Irene Elliot cũng đã thấy phần thoát ra từ thể xác người chết có màu trắng như lớp sương mù. E.W. Oaten thì cho là “Giống như hơi nước bốc lên.”
Một số nhân chứng mà phần lớn là bác sĩ và y tá cho biết phần sương khói ấy sau khi thoát ra khỏi cơ thể vẫn còn ở cách cơ thể một khoảng mà không rời hẳn. Điều rất lạ là sự xuất hiện của một dải sáng mờ giống như dải lụa nối liền người chết với phần mờ đục như khói sương của cái mà ta thường gọi là “linh hồn”. Nhiều nhân chứng đáng tin cậy còn mô tả, đó là sự xuất hiện của một dải màu sáng trắng xuất phát từ phía sau đầu, tiểu não hay vùng chẩm của người chết nối liền với phần mờ đục hay gọi là linh hồn thoát ra khỏi thể xác người chết. Họ đều chứng kiến rõ ràng một khối hơi thoát ra từ cơ thể người vừa tắt thở và trước đó khối hơi còn nối kết với thân xác bằng một dải màu sáng đục rung động. Khi sợi dây này rung động mạnh và đứt lìa thì chính là lúc người chấm dứt sự sống, có nghĩa là “hồn lìa khỏi xác”, không còn liên hệ gì với thân xác nữa.
Các nhà khoa học cũng đã cố gắng tìm cách để cụ thể hoá hình ảnh rõ ràng và sợi dây bạc bằng những thực nghiệm chứ không chỉ ở lời kể như cố ghi lại hình ảnh về những gì có được lúc con người trút hơi thở cuối cùng. Giáo sư, bác sĩ nổi tiếng thế giới, Schrench Notzing, trong cuốn “Phenomena of Materialisation” (1928 - Kegan Paul), cho rằng qua những ảnh chụp về những gì liên hệ đến khối hơi hay sợi dây bạc, tuy không rõ nét nhưng dù sao cũng là những hình ảnh đáng lưu tâm. Có thể hình ảnh siêu vật thể ấy còn che dấu bên trong nhiều bí ẩn hơn.”
Báo “An ninh thế giới” đăng tải tổng hợp của Thiên Minh về “Điều gì xảy ra sau khi chúng ta lìa đời” như sau:
“Nhà liệu pháp người Mỹ, Mary Jo Rapini đã theo dõi vài trường hợp chết lâm sàng hay cận kề cái chết, khi sống lại kể về những gì họ trải qua khi “chết”. Năm 2003, bà bị chứng phình mạch máu não nghiêm trọng. Bà nhớ mình thấy một quầng sáng màu hồng nhạt lúc “chết”. Khi “sống lại” bà viết một cuốn sách “Chết để sống lại”. Trong sách, bà mô tả: “Quầng sáng bất ngờ phủ lên người và tôi ở trong đó. Sau đó tôi bước vào một căn phòng xinh đẹp. Không giống như giấc mơ, nó rất rõ ràng. Các nhà khoa học nói đó là giấc mơ, nhưng không phải vậy.”
Phóng viên báo chí Bob Woodruff cũng từng trải nghiệm tương tự sau khi bị thương trầm trọng ở Iraq trong năm 2006 do chiếc xe chở ông bị trúng bom ven đường. Woodruff nhớ rõ đã “nhìn thấy” chính thân thể mình trôi bồng bềnh trong một vùng sáng chói loà.
Chiếc ô tô chở linh mục Don Piper, ở thành phố Pasadenna, bang California, Mỹ, đâm sầm vào chiếc xe tải 18 bánh vào năm 1989. Bác sĩ thông báo Piper thật sự đã chết. Bởi vì mạch của Piper không còn đập, nhưng 90 phút sau thì Piper “sống lại”. Ông ngơ ngác giữa những người qua đường đang dừng lại cầu nguyện cho ông tại hiện trường tai nạn. Piper kể lại: “Tay lái ô tô đâm thẳng vào ngực, rồi mui xe sập xuống đầu nặng đến mức không ai có thể sống sót nổi trong tai nạn như thế. Piper hồi tưởng, lúc ấy ông nghe tiếng nhạc réo rắt, hay không tả nổi và ngửi được mùi hương chưa bao giờ cảm nhận được trước đó. Ông nội của Piper đã qua đời cùng với vài người đã chết khác đứng đón chào Piper. Sau khi sống lại, qua hàng chục ca phẫu thuật cố định xương, khi bình phục Piper đã viết cuốn sách “90 phút trên Thiên đường: Câu chuyện thật về Cái chết và Sự sống”.
Trong bài “Phát hiện nguyên nhân hiện tượng cận tử”, tác giả Minh Ngọc tổng hợp theo Daily mail, trên báo “Sức khoẻ và Đời sống” cho biết:
“Ca sĩ Pam Reynolds, trải qua tình trạng cận chết trong một lần phẫu thuật não vào năm 1991. Các bác sĩ phải hút hết máu trong vùng não phẫu thuật để tiến hành xử lý mạch máu bị phình ra. Trong lúc bác sĩ phẫu thuật cho Reynolds, cô đã rơi vào tình trạng cận chết và cảm nhận thấy những hình ảnh bản thân đang bước dần đến ranh giới giữa sự sống và cái chết. Khi tỉnh lại, cô kể rằng, thấy mình thoát ra khỏi thể xác đang nằm trên bàn mổ và lơ lửng trong không trung. Nhìn xuống dưới, Reynolds thấy thể xác cô đang được các bác sĩ tiến hành phẫu thuật. 20 người đang đứng quanh bàn mổ và cô kể lại từng chi tiết các vật dụng y tế mà từng bác sĩ đã cầm trên tay để tiến hành ca mổ cho cô, cũng như việc các bác sĩ đã tiến hành hạ nhiệt độ cơ thể và hút máu ra khỏi não của cô như thế nào… Trong suốt thời gian diễn ra hiện tượng cận chết, theo lời kể của Reynolds, thì cô đã gặp và nói chuyện được với người mẹ và người cậu đã mất của mình. Họ đã yêu cầu cô trở về phòng mổ và sau đó, ca mổ kết thúc.
Kiểm tra lại cuốn băng quay ghi lại các cảnh trong phòng mổ, các nhà khoa học rất ngạc nhiên thấy mọi việc diễn ra đúng như mô tả của Reynolds, mặc dù trong lúc đó, mọi người đều khẳng định hai mắt cô nhắm nghiền và đã ở trong tình trạng gây mê để tiến hành phẫu thuật.”
Nghiên cứu của các nhà khoa học Slovenia về những trường hợp “cận chết”, phát hiện thấy rằng so với trước khi hiện tượng này xảy ra, nồng độ CO2 tập trung trong hơi thở của họ cao hơn nhiều so với khi bình thường. Tiến sĩ Klemenc Ketis, người đứng đầu nhóm nghiên cứu cho biết: Nồng độ CO2 cao chính là nguyên nhân gây mất cân bằng các thành phần hoá chất trong não. Tình trạng này đã kích thích những hình ảnh, cảm giác bất thường ở người bệnh, chẳng hạn như tạo nên cảm giác bồng bềnh như đang thoát khỏi thể xác, cảm giác bị lạc vào một đường hầm tối… Song đó chỉ là những ảo giác do tình trạng não bị ảnh hưởng do nồng độ CO2 cao.
Khi cái chết thông thường diễn ra, ở người bệnh sẽ xuất hiện các dấu hiệu ngừng thở, một vài phút sau, nhịp tim đập chậm lại và ngừng hẳn. Tuy nhiên, nếu quá trình này diễn ra theo trình tự nhịp tim ngừng đập trước do mạch ngừng hoạt động, hơi thở ngừng trong một vài giây, thì thời điểm diễn ra tình trạng chết lâm sàng bắt đầu xuất hiện. Trong tình trạng này, nhận thức thông thường của người bệnh có thể bị mất trong vài giây diễn ra cái chết lâm sàng, song não bộ không hề tổn thương trong suốt thời gian diễn ra tình trạng này.”
Theo tổng hợp của Lê Thu Giang trong bài “Sự thật về hiện tượng thoát xác” trên báo “Sức khoẻ và Đời sống” nói về các cuộc thí nghiệm của các nhà khoa học Thuỵ Điển và Thuỵ Sĩ, hai nhà nghiên cứu Nhật Bản và nhà khoa học Mỹ, bằng các phương pháp khác nhau, thì những người được tham gia làm thí nghiệm đều nói rằng: “Họ đã nếm trải một cảm giác lạ lùng dường như họ ở bên ngoài thể xác của mình và nhìn thể xác đó từ phía ngoài. Họ đã “di dời” ra bên ngoài ranh giới thể xác thực tế của mình.”
Trong tài liệu tiến sĩ Đặng Tuyết Minh đưa ra trên báo “An ninh thế giới” với tựa đề “Ba phút để hồn lìa khỏi xác” có nêu lên một số thí nghiệm của các nhà khoa học về vấn đề cận tử:
“Hai nhà bác học Anton Coenen và Tineke Van Rijn ở Trường Đại học tổng hợp Nijmegen, Hà Lan, đã tiến hành thí nghiệm bằng cách chặt đầu những con chuột trong phòng thí nghiệm. Họ đã ghi được điện não đồ của chúng sau khi “hành hình”, tình cờ phát hiện ra trong những cái đầu đã lìa khỏi xác cảm giác đau không hơn 4 giây và đột khởi não diễn ra được vài phút.
Trước đó hai năm, các nhà khoa học ở khoa Y, Trường Đại học George Washington, Mỹ tiến hành đã ghi nhận được những hiện tượng điện từ sôi động ở trong não của những người vừa trút hơi thở cuối cùng. Và người ta giả thuyết: Các điện não đồ đã ghi lại không phải là cái gì khác ngoài quá trình linh hồn lìa bỏ thân xác con người.
Năm 2009, các nhà khoa học Mỹ đã ghi lại điện não đồ của 7 bệnh nhân hấp hối rồi qua đời vì bệnh ung thư hoặc vì hệ luỵ của những cơn suy tim. Sau khi trút hơi thở cuối cùng thì não của tất cả những người này dường như lại trỗi dậy trước khi lịm tắt. Đó là những xung lực điện từ rất mạnh mà khi còn sống không hề có ở họ. Các nhà khoa học lại đưa ra giả thuyết rằng: Sự trỗi dậy lạ kỳ như thế trong não người đã chết liên quan tới những ảo ảnh dị thường mà người tỉnh dậy sau ca chết lâm sàng vẫn thường hay kể.
Tuy nhiên, cũng còn một giả thuyết khác ít nhiều mang tính khoa học: Quá trình hồn lìa khỏi xác có vẻ giống như sự phóng điện của tụ điện. Và trong những khoảnh khắc đầu tiên sau khi con người trút hơi thở cuối cùng đã “xả” tới 90% lượng điện tích trong não, còn những phần còn lại “xả” dần trong khoảng thời gian từ 9 tới 40 ngày sau đó.
Trong cái đầu chuột đã bị lìa khỏi xác hiện tượng đột khởi não xuất hiện khoảng một phút sau khi chuột bị chém đầu và diễn ra trong khoảng gần 10 giây.
Ở con người não “đột khởi” khoảng 2 đến 3 phút sau khi tim ngừng đập và máu thôi lưu thông lên não. Quá trình diễn ra khoảng 3 phút. Các nhà khoa học gọi hiện tượng bất thường mà họ quan sát thấy là “Lớp sóng tử thần”.
Thế nhưng, nhìn từ góc độ duy vật thì chỉ có thể nói rằng, hiệu ứng mà các nhà khoa học đã quan sát thấy cả ở người và chuột chỉ minh chứng cho một điều duy nhất là: Có một hiện tượng nào đó gắn bó với các quá trình sinh lý học diễn ra trong những bộ não đang dần lịm chết.
Tiến sĩ Chawla nhận xét: “Có thể giải thích một cách không duy tâm về hiện tượng đột khởi của não trong những cái đầu đã lìa khỏi xác hoặc trong những cái đầu không còn được tiếp máu nữa. Tất cả những neuron được liên kết vào một mạch điện. Vì không đủ ôxy nên chúng đánh mất dần khả năng tích các trữ lượng điện. Và chúng “xả” ra, tạo nên những xung động dồn dập.”
Nhà bác học Coenen cũng đồng tình với quan điểm của tiến sĩ Chawla: “Có vẻ như trong bộ não đang lịm chết quả thực xuất hiện hiện tượng “xả” neuron điện. Bởi lẽ, những neuron “sống” thì phải ở dưới một điện thế âm nhỏ nào đó, khoảng 70mili vôn. Chúng duy trì điện thế này bằng cách xuất ra những ion dương. Còn những neuron chết thì thay đổi cực rất nhanh từ âm sang dương. Có lẽ vì quá trình này nên xuất hiện “lớp sóng tử thần”.
Nói tóm lại, không có gì linh thiêng hơn các hiện tượng về điện và chỉ có thế mà thôi.
“Lớp sóng tử thần” cho thấy rõ não thực sự đã chết, chính là một dạng ranh giới giữa cõi âm và dương thế.
Tuy nhiên, theo bác sĩ cấp cứu Lance Becker, thuộc Trường Đại học Tổng hợp Pennsylvania ở Philadelphia lại hơi khác: “Có thể “đột khởi” lại chính là biểu hiện của sự cố gắng của não nhằm khôi phục lại hoạt động của tim”. Ông cho rằng, “lớp sóng tử thần” có thể là tín hiệu cho thấy các neuron chỉ mới ngừng hoạt động chứ chưa bị hỏng hoàn toàn. Và như vậy có nghĩa là sau ngưỡng cửa đó có thể có sự hồi sinh.
Tiến sĩ Chawla không loại trừ, những “đột khởi” điện trong não, những “lớp sóng tử thần” khi hấp hối có thể tạo nên những hình ảnh dị thường nhất, từ ánh sáng cuối đường hầm tới những ảo giác đa màu khác. Chúng soi rọi vào trí nhớ lâu bền như thể rọi đèn pha vào đó. Và khi ấy, trước mắt con người bỗng hiện lên những hình ảnh từ quá khứ sâu xa, hiện lên gương mặt của những người thân đã mất từ lâu. Đấy chính là điều mà những người “trở về từ cõi chết” hay kể lại.
Thế nhưng, các bệnh nhân của tiến sĩ Chawla không trở về được từ thế giới bên kia. Và chúng ta không thể nghe được những câu chuyện kể của họ. Cũng chưa ai ghi lại được điện não đồ của những người đã hồi sinh sau cái chết lâm sàng. Vì thế, những giả thuyết của các nhà khoa học vẫn chưa thể có được kiểm chứng khoa học.”
Từ những hiện tượng và lý giải về “linh hồn”, các nhà làm phim đã từng sáng tạo ra những bộ phim khoa học, kinh dị, viễn tưởng, thần thoại cho hồn lìa khỏi xác, điển hình như phim “Tây Du Ký” của Trung Quốc với rất nhiều pha hoá phép thần thông cho hồn bay ra khỏi xác. Tôn Ngộ Không thoát hồn bay ra khỏi xác rồi nhập vào người khác thật ly kỳ, hấp dẫn. Thiết bị khoa học ngày nay mà quay được con người lúc chết, hồn thoát ra như vậy sẽ góp phần giúp cho lý giải nghi hoặc về tồn tại của linh hồn.
Minh hoạ hiện tượng hồn thoát xác
(nguồn Trang chủ Google hình ảnh - Linhhon.Jpg)
Hiện tượng “hồn lìa khỏi xác” quả là ly kỳ, đầy huyền bí và pha trộn hư vô, lo sợ. Đây là lúc con người lâm vào cảnh hoang mang, rối loạn và sợ hãi nhất. Trước phút giây từ giã cuộc đời, vĩnh viễn không bao giờ còn ở tên dương thế nữa để đi về cõi vĩnh hằng, ai mà chẳng xót xa, lưu luyến, bi thương. Có thể vì lý do nào đó mà có người còn dội lên niềm u uất mà kích mạnh vào tâm thức làm cho thể xác xung động lúc lìa đời. Khi ấy điện trường sinh tạo nên dấu hiệu kỳ lạ khi người ta sắp chết. Có thể do cấu tạo thể chất đặc biệt của người nào đó mà dương khí thoát ra không tan, mà người xưa gọi là “linh hồn” lơ lửng, sau đó ám ảnh tác động vào tư tưởng, ngoại cảm, mơ mộng, ảo giác mà thành những chuyện như thể hoang đường.
Khoa học ngày nay giả thiết rằng, khi “cận tử” và “hồn lìa khỏi xác” có hiện tượng mà mắt thường không nhìn thấy là từ cơ thể xuất hiện một “vầng sáng”, “hào quang” và “linh hồn” con người từ từ bay ra khỏi thể xác. Đó là dương khí thoát ra để lại phần âm thể xác. Nên mới có chuyện “chết lâm sàng” khi sống dậy kể lại những gì “linh hồn” nhìn thấy. Nó vô cùng huyền diệu và đầy biểu cảm. Vì thế mà trong các thiên chuyện cổ, người ta từng mô tả về những phép lạ của linh hồn. Các nhà làm phim lãng mạn ngày nay cũng đã cho ra đời những bộ phim vô cùng tò mò, kinh dị, hấp dẫn về hiện tượng thoát xác và những “linh hồn”, những “bóng ma”.
Khoa học sẽ chứng minh về hiện tượng “hồn lìa khỏi xác” để lý giải đây thực sự là sự kỳ diệu về cơ thể con người. Nó không phải là ma quỷ, thánh thần mà xưa nay lầm tưởng, gây nên biết bao tác động tâm linh, duy tâm, mê tín dị đoan, sợ hãi.
Thiên đường và Địa ngục
Tạo hoá sinh ra con người trên thế gian ngay từ xa xưa đã có cuộc sống bản năng, rồi tiến lên khát vọng tinh thần thăng hoa lãng mạn.
Từ trong lam lũ nhọc nhằn, vất vả, đến khi đời thấy thanh bình, con người lại mơ tới cuộc sống êm đềm, tự do, đầy đủ, sung sướng, cao sang. Họ hình dung về một chân trời mới hư vô mãi nơi trời xanh mà gọi là cõi “Thiên đường” - nơi thế giới “nhà Trời”, nơi độ trì Phật pháp, bồng lai tiên cảnh. Đó còn là vương triều mang tên “Thượng đế” của những con tin sùng đạo, là nơi phật tử, chúng sinh giũ bỏ mọi tội lỗi, khổ đau về cõi “Niết bàn”.
Người ta răn dạy nhau rằng hãy sống sao cho nhân đức, từ bi, cứu khổ, cứu nạn, thương cảm chúng sinh, sám hối, rửa tội, công thành danh toại, thanh thản giải thoát linh hồn để được lên cõi “thiên đường”, quy y về nơi “cực lạc”. Người ta hình dung, tưởng tượng, khát vọng, ước mơ những điều tốt đẹp về cuộc đời, về bản chất “người”, về nhân tình thế thái, về giá trị viên mãn ở trần gian để lên nơi tiên cảnh.
Tại các nơi chùa chiền, theo đạo Phật, thường cấp chứng ngộ từ thấp lên cao, từ chúng sinh lên thành Phật có 9 phẩm. Ai chứng ngộ được cấp bậc nào trong 9 phẩm thì sau khi chết đều được lên cõi Tây phương cực lạc của Đức Phật Di Đà. Hình tượng cây “cửu phẩm”, còn gọi là “Cửu phẩm liên hoa”, chín tầng hoa Sen tượng trưng cho con đường phật pháp ở các ngôi chùa là diễn giải sâu sắc về giáo lý nhà Phật. Các phật tử, chúng sinh hãy tụng kinh, niệm Phật Di Đà: “- Nam mô A Di Đà Phật!..” mà hứng khởi, vô tư, kiên tâm bước lên qua 9 tầng cây cửu phẩm để đắc đạo “Niết bàn”.
Người ta cũng nhìn thấy phần “con” tiềm ẩn trong “con người” gây nên biết bao ích kỷ, đố kỵ, tham lam, dã man, tội ác. Những hành vi “trời không dung, đất không tha” do chính con người gây ra có khi tàn khốc mà phải bị trừng phạt như những tội đồ. Người ta lại hình dung ra “công cụ” tối ưu là nơi “Địa ngục” tối tăm để mà răn dạy cho kẻ bất lương, không còn nhân tính.
Đó là “9 tầng địa ngục” khi phạm vào “ngũ giới” nhà Phật trên cõi dương gian. Và như tác giả Xuân Bình minh hoạ thì:
“Người sau khi chết, “vong hồn” được dẫn qua sông Nại Hà là ranh giới giữa Dương gian và Âm phủ. Mọi đẳng cấp, vinh hoa, phú quý, sang hèn đều bị trút bỏ để trở lại cái nguyên sơ ban đầu. Các vong hồn được dẫn qua “Nghiệt kính đài” để nhìn lại không sót một công hay tội nào. Từng công tội lại được phán quan, lục sự cân đong. Tuỳ mức công tội mà vong hồn sẽ có sáu nẻo đường chuyển kiếp và giải thoát. Ba nẻo “Thiện” làm đế vương, công hầu, khanh tướng, giàu sang, phú quý, goá bụa, cô quả, nghèo hèn. Ba nẻo “ác” là đầu thai thành chim, thú, côn trùng, sâu bọ, cua, cá. Chặng cuối của đầu thai, chuyển kiếp các vong hồn lại một lần nữa phải vượt qua và uống nước “sông Mê”, “bến Lú” để rũ bỏ hết mọi Thiện - Ác, sang hèn của kiếp trước!?”
Trong chùa, người ta đã tạo hình mô tả khá sinh động những hình phạt răn đe ở chốn “địa ngục”. Đây là minh hoạ ba nẻo: Địa ngục, Ngạ quỷ (quỷ đói) và Súc sinh dành cho kẻ gây tội ác không được vãng sinh hoặc tái đầu thai làm người nữa. Với rất nhiều tội lỗi mà hình phạt ở địa ngục (hay âm ty, âm phủ) sử dụng như phanh thây, cưa chân, cho vào cối giã, móc mắt, ném vào vạc dầu sôi, dùng kìm kéo cắt lưỡi, cho rắn cắn, quỷ bắt, hổ vồ…
Ngày nay, tại một số công trình vui chơi, giải trí cũng tạo thành những khu “địa ngục” với 18 loại hình khắc nghiệt để tăng tính giáo dục, răn đe tội ác. Khi vào những nơi này, ai cũng thất kinh, bàng hoàng, sợ hãi và nghĩ rằng không bao giờ gây nên tội ác để khỏi phải bị trừng phạt ghê gớm, đớn đau.
Những công trình tạo hình ở nơi chùa chiền và những bức tranh minh hoạ về “thiên đường” và “địa ngục” có sức thuyết phục và giáo dục rất lớn, đi vào tâm thức con người với những ý nghĩa sâu sắc, nhân văn.
Từ ngàn xưa con người đã nâng khát vọng cao siêu, vượt lên khỏi trần gian để là chốn “Thiên đường”. Nơi trần gian, dương thế, con người ở giữa ngưỡng của vinh quang và nếu không giải thoát để “linh hồn” thăng hoa lên được “thiên đường” mà gây nên tội lỗi thì phận người ắt phải đày ải lâm vào vòng lao lý tận xuống “Địa ngục” âm ty. Đó là cõi “âm phủ” - thế giới của những người âm đang qua ngục hình xét xử giải trừ tội lỗi để mơ lên được Thiên đường.
Theo quan niệm xưa, người ta cho rằng, mặt đất là mặt phẳng, bầu trời là hình bán nguyệt úp lấy mặt đất và con người chết đi chôn xuống dưới đất. Thế là hình thành thế gíơi nhà Trời trên Thượng Đế, có Ngọc Hoàng, các thần, binh và “cuộc sống” Niết Bàn. Nơi đó là cõi Thiên Đường an lạc, sướng vui, không tội lỗi. Ở mặt đất con người sống cuộc đời trần tục, mưu sinh với biết bao mối quan hệ con người cùng nhân tâm, chiến công và cũng nảy sinh hận thù, tội ác. Khi con người chết đi chôn xuống dưới đất là vào cõi âm phủ, âm ty, lại có một “cuộc sống” của thế gíơi “người âm” được “xét xử” công bằng với “nhân - quả” về cuộc sống khi ở trần gian. Vì thế mà thành khái niệm Thiên Đường và Địa Ngục.
Ngày nay, khoa học chứng minh Trái Đất là một hành tinh tròn bay trong không gian. Vũ trụ là bao la, vô tận, chưa khám phá ra hành tinh khác ngoài Trái đất có sự sống, thì làm gì có Thiên Đường, Thượng Đế. Con người sinh ra, sống trên Trái Đất, chết chôn xuống hoà vào đất đai. Sâu trong lòng đất là khối lỏng nham thạch nóng chảy sục sôi, sẵn sàng bứt phá nứt vỡ vỏ Trái Đất phun lên thành núi lửa, thì làm gì có địa ngục, âm ty?
Dù rằng có giả thuyết về hành tinh nào đó nơi xa xôi, có thể có sự sống. Nơi đó từng có loại người nào đó từ thuở xa xưa ở hành tinh ấy viếng tham làm nên nguồn gốc loài người trên Trái Đất, cũng gợi cho khoa học cần tiếp tục khám phá những điều còn bí ẩn của vũ trụ mà thôi.
“Thiên đường” và “Địa ngục” không có thật, mà là hình tượng hoá để con người gửi đi thông điệp cho mọi điều tốt đẹp và cảnh báo trước những mầm mống tội ác, bất lương trong thực tế hàng ngày ở cuộc sống trần gian.
Nhân quả - Quả báo
Sống sao, thác vậy, ở hiền thì gặp lành, làm ác thì gặp ác… là những quan niệm mà người xưa đưa ra về “nhân quả”, “quả báo” mang tính giáo dục, răn đe.
Khi người ta sống tử tế, ăn lên làm ra, giàu sang, phú quý là người đời cho là “kiếp trước” quá tốt, mà “kiếp này” trời cho hưởng lộc. Kẻ dã man, đầu trộm, đuôi cướp, lấy của giết người, lâm vào lao lý, tù đầy, tai hoạ, người đời mỉa mai rằng “kiếp xưa” độc ác nên “kiếp này” phải trả đấy thôi! Người ta còn bảo: “Lộn lại kiếp sau để thụ hưởng sung sướng hoặc trả thù đời” hoặc “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Thật là vinh quang và cũmg vô cùng khủng khiếp!
Nho giáo xưa nói về con người khi sinh ra vốn “tính bản thiện” và sau này xã hội tiến bộ lại cho rằng “phần nhiều do giáo dục mà nên”. Như thế thì sự cải hoá để thay đổi tâm tính ở mỗi người vẫn có nhiều cơ hội làm được, chứ đâu do từ “kiếp trước”?
Đó là lý thuyết của sự công bằng, mang đầy tính nhân bản, có ý nghĩa giáo dục lòng hướng thiện và loại trừ tội ác ở con người.
Chẳng ai sinh ra trên đời mà biết được mình có “kiếp trước” và cái kiếp ấy như thế nào? Nếu như hình thành từ trong thiên hướng, rồi sống trên đời mà không chịu sự tác động của hoàn cảnh, ảnh hưởng của môi trường, tích cực của giáo dục thì thiên hướng sẽ thái quá trở thành cá tính bản chất ở mỗi cá nhân. Đã thành cá biệt bản chất thật là khó sửa, cũng như tính cách nóng nảy, nhu mì, hiền lành hay độc ác, thật thà hay gian trá, yêu thương hay ghét bỏ. Điều hiển nhiên là sống tốt, thì người người yêu mến, đối nhân xử thế tồi sẽ không ai muốn giúp, muốn gần. Không thiếu gì người khi gặp khó khăn, được cưu mang, giúp đỡ thì vui vẻ, tốt lành. Nhưng khi chạm vào lợi ích cá nhân hay “đủ lông đủ cánh” lập tức sinh ra đố kỵ, không vui, thậm chí phản bội mà thành bài học ở đời. Khối kẻ trộm cướp, bất lương mà cứ sống nhơn nhơn, lại nhiều tiền, lắm của. Người tử tế, hiền lành thì vất vả, nghèo khó, tai hoạ, ốm đau, cho là số mệnh. Thế là chẳng có công bằng, cũng không phải là “quả báo”?
Mọi sự diễn ra có khi thật tự nhiên, rất khoa học hay bất bình thường về tâm sinh lý là bị chụp ngay cho cái mũ “quả báo”! Rồi các nhà lý sự cố tình lập ra lý lẽ, biện chứng sao cho thật hợp lý do “nhân quả” mới thôi?
Nhân quả ở thời đại mới cũng thành đổi mới. Nhà doanh nghiệp kinh doanh giỏi giang, phát đạt; Kẻ buôn gian bán lậu, đầu cơ bất chính, lừa đảo vơ vét rất nhiều tiền; Quan chức tham nhũng, chủ đầu tư gặm vào dự án cướp được quả lớn. Thế rồi có khi lợi lộc bất minh lại đưa đi núp bóng người làm từ thiện bằng của giả, công trình kém chất lượng và nghiễm nhiên được tung hứng thành “người đương thời”! Giải thích về “quả báo” thế nào về những loại người như thế? Lẫn lộn “nhân quả”, “quả báo” nhầm người, chẳng biết đâu là vàng thau, chính nghĩa?
Thuyết “nhân quả” đưa ra để nhằm giáo dục bằng khái niệm của “tâm linh”. Đời sống thực tế lấy đó làm phương châm sống rèn dũa đạo đức, lối sống tốt đẹp cho con người, linh thiêng cho tôn giáo, an ninh cho xã hội. Nó không thể là bùa hộ mệnh và có sức cải tạo mạnh mẽ khi lớp trẻ trong thời hiện đại, đua đòi, ngông cuồng, không chịu sự rèn luyện, giáo dục và chẳng bao giờ quan tâm đến khái niệm “nhân quả”, “quả báo” của những người chân tu từ mãi cổ xưa!
Xưa kia và lúc nào, những kiếp trước làm điều không tốt để ngày nay thế giới chiến tranh liên miên, vũ khí giết người hàng loạt, lắm tội phạm cướp của, giết người, tai nạn giao thông tang tóc, nghiện hút ma tuý, nhiễm HIV, viêm gan B, ung thư, hát Karaoke, matxa, buôn gian bán lậu, làm hàng giả, gây ô nhiễm độc hại, sống bất nhân, bất hiếu nẩy sinh nhiều đến thế?! Mai sau, các “kiếp khác” không biết sẽ bị “quả báo” thế nào của kiếp này đang lắm tội như vậy và có lẽ phải là huỷ diệt, chứ mấy tầng địa ngục bịa đặt viển vông kia đã thấm gì!
Thần thánh cũng chẳng can ngăn, làm cho con người đừng gây nên tai hoạ, tội ác để mà chịu đời “quả báo”? Chỉ có con người với đạo đức, lương tâm, sự hiểu biết và tình thương yêu nhân loại của chính mình mới thực sự là “nhân quả” tốt lành. “Quả báo” là ở đạo đức nhân sinh thực tại chứ không phải là của khái niệm “kiếp trước” mơ hồ.
Của Chùa
Chùa chiền, đền miếu là nơi được coi là linh thiêng, không ai dám làm những điều xấu xa, liều lĩnh.
Ấy thế mà có kẻ chẳng sợ cái gì. Chúng không có khái niệm linh thiêng, thần thánh. Đối với chúng, Phật Thánh chỉ là tượng gỗ, cầu cúng không có ý nghĩa gì! Bọn bất lương không kể cái gì, lấy tất từ lư hương, đỉnh đồng, đồ thờ tự, cạy cả khảm trai trên đại tự, câu đối chữ nho, cho đến bê luôn hòm tiền công đức. Trẻ nghịch ngợm còn leo lên tường dùng móc câu lấy cả con gà trên mâm xôi đang cúng, mặc kệ các thầy cứ chắp tay, tụng niệm, chuông mõ râm ran. Không bắt được chúng thì ai cũng bảo: “Lấy của thờ cúng, thế nào cũng ốm đau, tai hoạ. Không biết đường mà trả lại chùa đền, sẽ chết như chơi!”. Nghi kẻ nào, khi thấy nó bị ốm đau, tai nạn, cho ngay là “quả báo”, còn không tìm ra thủ phạm thì chẳng có lý nào, rồi cho vào dĩ vãng, theo thời gian cũng quên luôn.
Đạo nhà Phật không bới lông, tìm vết mà lấy lòng bác ái, từ bi, giác ngộ để phổ độ chúng sinh. Con người tự lấy đó mà tu rèn, tự giác, trân trọng đạo đức ở đời, cớ sao làm điều thất đức, gian manh, tội lỗi?
Của chùa là khái niệm vừa linh thiêng, vừa công cộng, người tử tế vốn chẳng ai dám nghĩ đến lấy về mình. Nhưng khi kẻ tham lam, bất chấp thì lại dễ lợi dụng lòng vô tư “từ bi” nơi thờ cúng mà cướp lấy tự nhiên, mặc cho người đời nguyền rủa sẽ phải chịu tội trước tâm linh, thờ cúng.
Thế mới có chuyện thời nay quan tham, trộm cắp, tham nhũng lấy lắm của công mà được gọi là lấy “của chùa”. Khi Thần Thánh không đủ linh thiêng trừng phạt, tâm linh không còn quan trọng đối với kẻ bất lương thì chỉ còn chính nghĩa và pháp luật là phép hoá giải đạo đức, răn đe cho chúng đối với “của chùa”.
Nói dựa, đoán mò
Nói dựa, đoán mò là chuyện xưa kia người ta hay gán cho người mù làm nghề thầy bói và ngày nay là mấy “thầy”, mấy nhà “nhà ngoại cảm” rởm. Bởi những nhà ngoại cảm giỏi, chân chính thì bằng khả năng thực sự và cái tâm của mình họ không có chuyện nói dựa, đoán mò.
Công bằng mà nói rằng, những thầy bói và một số người mệnh danh cái gọi là “ngoại cảm”, họ rất có khả năng biện chứng logic sự việc, luận giải tâm lý tài tình. Đây là loại đầu óc vô cùng biến báo và đặc biệt sáng tạo. Trước một sự việc, họ có thể chẩn đoán, suy diễn tìm ra tính hợp lý và khoa học của hiện tượng để diễn giải dẫn dắt đến “lòng tin” của con người.
Do thiên hướng bẩm sinh về khả năng suy đoán, tổng hợp mà trước một sự việc họ rất khéo léo khai thác, tập hợp tư liệu, rất tinh quái trong tiếp cận, luận giải. Cho nên, khi lắng nghe hoặc nhìn vào nét mặt người đối diện, họ lựa chiều khai thác sơ hở và tính thật thà của đối tượng để chắp nối chúng với nhau mà đưa ra những dự đoán cho sự kiện làm cho người nghe tin, gật gù sái cổ. Thậm chí có người còn ma quái dùng cách khai thác thông tin từ xa, qua việc tìm hiểu trước hoặc dùng những “vệ tinh” tại chỗ cộng tác gọi điện thoại về để thực hiện ý đồ lừa bịp. Nhiều trường hợp nói dựa, đoán mò như thế đã rất thành công.
Thế nhưng sự thật lại có người không những nói về quá khứ, hiện tại mà còn liều lĩnh dự đoán cả tương lai một cách chính xác lạ kỳ? Những trường hợp nói về quá khứ hay hiện tại có thể là do họ kết hợp được một phần khả năng ngoại cảm hoặc là xác xuất nói đúng trùng hợp ngẫu nhiên. Còn dự đoán tương lai như những nhà tiên tri thì còn phải kiểm chứng.
Vậy thì những người nào hay trở thành đối tượng cho những người nói dựa, đoán mò có cơ hội hành nghề? Phần lớn là những người có hoàn cảnh bi đát, khó khăn, hoạn nạn làm cho cuộc sống bất an, sinh lo nghĩ, cho là số phận và tìm cách giải thoát. Hoặc giàu có tham lam, hoặc người do mê tín dị đoan muốn tìm đến sự may rủi, hên sui để tìm khát vọng hão huyền hoặc trấn an bằng cầu cúng. Biết được tâm lý đa nghi, sợ hãi của người hay đi xem bói, nên thầy cứ cho ngay một câu “nhà có anh A hay chị B không bao giờ thắp cho thần linh hay bà cô, ông mãnh nén nhang... về mà cầu cúng đi!”; chứ không bao giờ thầy nói “chị tốt lắm, hay mê tín, lười làm, chỉ chăm cúng bái mong ước sung sướng thôi”.
Nhân đây, thiết nghĩ cũng nên hiểu thêm về câu ví von hài hước về nghề thầy bói:
Thầy bói xem bói cho người,
Số thầy thì để cho ruồi nó bâu.
Đúng là thầy xem bói cho bàn dân thiên hạ thì người này xấu, người kia tốt, người giàu sang, người hèn kém, người vận hạn, người làm nên. Thầy còn đoán biết cả tương lai để khuyên họ nên làm hoặc nên tránh. Nhưng trớ trêu thay, cuộc đời của thầy lại không đoán được để giải thoát cảnh nghèo hèn, tìm cơ may bỏ nghề thầy bói, đến chỗ sung sướng có hơn không? Vậy thì còn ai tin vào thầy bói nữa!
Xét thực tế thì như vậy. Nhưng nếu là số trời đã định thì lại hợp lý cho việc thầy làm. Bởi nếu con người có số, thì trên lá số đã định cả rồi. Số thầy sinh ra là cảnh bần hàn, nhưng có định mệnh là người giỏi về văn chương, luận lý. Bởi thế mà thầy rất giỏi biện chứng tâm lý, lý giải tài tình nhân tình thế thái mà làm được nghề thầy bói, tranh luận như những luật sư, nói giỏi như những nhà hùng biện, nhưng số phải sống cảnh nghèo hèn, ngồi đầu đường, xó chợ mà luận giải giúp người.
Về thể chất, thiên hướng, tâm lý thì thầy có năng lực tư duy, suy diễn và thích làm nghề luận đoán, giải mã cho người. Đấy là chưa nói đến loại người có tâm lý ưa thích bịa chuyện hoặc ngộ nhận là nhà chiêm đoán giỏi, cùng với động cơ nhặt nhạnh kiếm ít tiền, chứ không có năng lực và thiên hướng làm kinh tế, thăng tiến quan trường.
Vậy thì nói dựa, đoán mò cũng thật có lý, khi luận giải về biện chứng tài tình của những nhà sáng tạo ra môn bói toán, lá số tử vi gắn với những người làm nghề thầy bói.
Bói toán
Ngay từ cổ xưa, cùng với sự ra đời của Kinh dịch, Tử vi, người ta đã nghĩ ra nhiều cách bói toán. Điển hình là bói bằng quẻ Dịch rồi bói Tiên, bói Độn, bói Quỷ Cốc, bói bằng cỏ Thi cho đến bói theo tuổi âm dương, ngũ hành, bát quái, ngày giờ, tháng, năm, tử vi, quẻ thẻ, xem nhân tướng, bàn tay, kể cả xem chân gà và thời hiện đại bói Bài Tây, tiên tri, ngoại cảm.
Người hành nghề bói toán xưa phần lớn là các đạo sĩ, hiền triết, nhà nho, thầy cúng nghiên cứu về những học thuyết cổ, có cả những người mù biết luận tuổi âm dương, ngày tháng cát hung và người có năng lực ngoại cảm. Một số trong những người này có học thức uyên thâm, thông thiên văn, tường địa lý, hiểu biết thời cuộc, nhân tình, thế thái và đặc biệt giỏi suy luận, phán đoán tâm lý, lý giải logic sự kiện, đời người. Thậm chí người ta rất mánh khoé khai thác, tận dụng thông tin để nói dựa, đoán mò và lợi dụng mê tín dị đoan bịa ra bùa phép. Chính cái mạng thiên la địa võng tài tình của “tính toán” như vậy đã dễ dàng “thôi miên” được lòng tin của những người nhẹ dạ, cả tin vào bói toán.
Người có hoàn cảnh phức tạp, oái oăm, đau thương, sợ hãi, tai hoạ liên tiếp giáng xuống cuộc đời thường rối trí, mong muốn tìm ra lối thoát. Đây cũng là đối tượng mà các thầy bói hay hướng tới để phát huy tài năng tiên tri, dự đoán của mình, bởi ở những đối tượng này thường có nhiều dự kiện phong phú, dễ chắp nối, dễ tìm ra “nhân - quả” của diễn biến sự việc. Cho nên khi đưa ra và lý giải sự kiện gần đúng hoặc na ná như của đương sự thì đương nhiên xác định tài năng của thầy bói đúng. Còn khi thông tin bị sai, thầy rất nhanh sử trí bằng cách hoá giải hợp lý do các yếu tố khác xung khắc, triệt tiêu. Vì thế mà đúng hoặc sai, phần thắng vẫn thuộc về thầy. Các đương sự cứ chấp nhận như là sự hợp lý vận hành của số phận.
Bói toán lúc đầu cũng chỉ là khuếch trương thêm cho năng lực tài giỏi, siêu phàm gọi là có học của các đạo sĩ, nhà nho. Nhưng sau dần bị biến tướng do những kẻ ngộ nhận và tìm cách bịp bợm vơ lợi lộc, lấy tiền. Đặc biệt là sự lợi dụng những người vì quá nhiều biến cố không hay trong gia cảnh, cuộc đời, sinh ra lo sợ, tìm đường giải thoát, mà bói toán được tô vẽ, thần thánh hoá và ma quỷ hoá gây ra mê tín dị đoan. Thế là mê tín dị đoan trở thành nguyên nhân thúc đẩy bói toán phát triển. Chính vì vậy mà người bói toán vẫn có cơ hội hành nghề và không ít những đối tượng cuồng tín, si mê tìm đến bói toán.
Vấn đề đặt ra là hầu như tất cả thầy bói đều chỉ là những con người có đời sống rất bình thường như mọi người khác, thậm chí có nhiều thầy khố rách áo ôm, gia cảnh cũng đầy biến cố chẳng ra gì, các kiến thức ngoài đời mù tịt, thế mà lại là thần tượng của người khá giả, tử tế hẳn hoi? Những người mù đeo cái kính đen, ngồi bên cái tráp, tay bấm bấm, miệng hoạt ngôn chỉ dạy, khuyên bảo cho người mắt sáng là hình ảnh điển hình trái ngược về bói toán. Thực ra họ chẳng có ma lực gì ghê gớm mà chỉ do hạn chế hiểu biết, mê tín dị đoan của người khác cứ lần tìm đến cho họ hành nghề mà thôi.
Cùng với những luận giải cố khẳng định cái đúng cho sự kiện, hoàn cảnh, cũng dễ dàng thấy sự bịa đặt, dựng chuyện và phi lý của thuật bói toán lừa bịp. Và khi con người hiểu biết và coi cuộc đời là những diễn biến khoa học, tự nhiên thì bói toán trở nên vô nghĩa, đó chỉ là những thủ pháp làm lung lạc tinh thần, có khi để lại ám ảnh tâm thần vô cùng nguy hại. Thời đại văn minh, mọi hiện tượng đều là khoa học, sống đời sống với đủ tiện nghi thì bói toán là vô tích sự, chẳng để làm gì!
Thầy cúng
Ở xã hội coi trọng “Đạo thờ cúng”, nhà nào cũng có bàn thờ, bát hương, đi theo đó tất nhiên phải cúng bái. Lúc đầu, người ta cũng chỉ theo tín ngưỡng mà thắp hương lễ bái giản đơn. Sau các nhà nho, đạo sĩ cứ nghiên cứu theo lễ nghĩa mà soạn ra các thủ tục, văn khấn cúng cho thêm phần sâu sắc. Lâu ngày thành phong tục cúng bái, rồi người đời cứ sáng tạo ra những chi tiết rườm rà mà thêm rắc rối, phức tạp.
Đáp ứng nhu cầu phức tạp của lễ nghi mà hình thành những người chuyên nghiên cứu về việc cúng bái. Xuất thân là những người dân bình thường, không có gì đặc biệt, họ cố học thêm ít chữ Nho cho ngữ nghĩa sâu xa, tức là giới có học hơn một chút để hành nghề, thuộc làu bài khấn, thạo cách lễ bái, sắm thêm trống mõ, rồi thành “thầy cúng”. Nhiều khi cũng vì là ông “thầy cúng” để tận hưởng cái “oai” người đời nhờ cậy, chứ không toan tính lợi nhuận, trả công.
Sau dần, cái oai đi theo lợi lộc mỗi khi gia chủ cậy nhờ. Nhìn thấy ăn ngon, nhiều người nảy sinh hướng theo làm nghề thầy cúng. Người tìm đường học chút chữ nho, người xin được theo các bậc tiền bối bưng bê, viết sớ. Học được mấy ngón nghề là xoay ra mua trống, mua chuông, mua mõ, rồi nhận đi chập cheng, huơ gương, bắt quyết, cúng bái giúp người. Ấn tượng nhất là phải mặc cho được cái áo và đội mũ màu nâu theo kiểu tu hành cho ra “ông thầy cúng”!
Thời đại ngày nay, có cả mấy ông từng làm cán bộ chính quyền, phụ trách an ninh, tiễu trừ mê tín dị đoan, khi về hưu cũng quay ra học nghề thầy cúng. Khi úp mở hỏi ông, ông mỉm cười bảo chẳng có gì đâu, dân quá mê tín, còn mình đi kiếm thêm chút tiền mà tiêu cho thoải mái.
Nhiều ông thầy lại kiêm cả xem ngày, xem giờ, tử vi, bói toán cho thêm phần đa dạng tài năng. Thế là từ cúng lễ giản đơn, lành mạnh bỗng trở nên huyền bí, linh thiêng, phức tạp. Các thầy cứ mặc sức dựng lên, bịa ra đủ thứ tâm linh, ghép vào mọi thánh thần, ma quỷ, cho bùa dán nhà, cho bùa mang theo đi làm, đi buôn, đi thi, đi học. Nhưng khi hỏi đến việc làm như thế là nghĩa thế nào, nhiều thầy mù tịt, hỏi sang lĩnh vực khác thật sự chẳng biết gì! Hỏi rằng: “Thầy làm nghề thầy cúng đã mấy chục năm, vậy khi ai chết đi, tại sao người ta cứ cúng 49 ngày. 49 chín là gì, tại sao có nơi lại không thấy cúng 49?”. Thế là thầy ú ớ, giải thích chẳng ra tâm linh cũng không ra thực tại!
Đa số thầy cúng đều sưu tầm những loại sách về triết học phương Đông, nho, y, lý, số. Nhưng do trình độ khác nhau, tri thức đâu có uyên thâm, đọc cũng không hiểu hết, có thầy chỉ mò mẫm, thậm chí làm bừa. Nhưng cái bệnh của các thầy là ngộ nhận, cho là mình giỏi, thế là sinh ra đố kỵ nhau, người nọ chê người kia dốt lắm!
Thời của tên lửa, vệ tinh chinh phục không gian vũ trụ mà “thầy” cứ mang tờ giấy sớ viết toàn chữ nho in sẵn, người không học chữ nho chẳng ai đọc được chữ gì, đến thầy cũng chẳng mấy khi đọc xem nội dung nó ra sao, nhưng cứ đưa ra mà phán bảo. Thầy chỉ vào cái dấu vuông in màu đỏ trên tờ sớ, lá bùa nói rằng: “Đây là dấu của nhà Phật, của Ngọc Hoàng, Thượng Đế ở trên trời đã ấn vào “lệnh” cho thần, binh, dân gian hạ giới nhất nhất phải tuân theo. Thầy còn vẽ ra đó là chuyện của cõi âm, chứ không phải dương thế, không thể hiểu được, cứ thế mà làm. Thế là gia chủ, con nhang cứ vểnh tai lên nghe và trố mắt ra mà kinh ngạc, nghĩ thấy đúng là kỳ diệu, nhất nhất làm theo, mang về dán lên bàn thờ, lên tường, lên cửa, khắp nơi cho nó linh thiêng! Nhiều khi xem thầy bấm bấm ngón tay ra vẻ thạo nghề, tính toán ngày giờ cát hung vừa sai vừa luận chẳng ra sao, thế mà gia chủ cứ cho là tâm linh, gật đầu, phủ phục.
Vừa qua tết Nguyên Đán, cúng chán rồi mà vào tháng Giêng, sang đến cả tháng Hai người ta còn cứ sinh ra cúng đầu năm, dâng sao giải hạn. Nhiều người vẫn mê muội nghe thầy bảo rằng cúng đầu năm cầu khấn lấy may, có sao nào hạn thì cắt phéng đi là cả năm hết ốm đau, tai hoạ! Thực tế thì năm nào cũng chỉ mấy người quen mặt, mơ hão thích cúng bái cầu mong, chứ ngoài ra có thấy người khác, kể cả người ở ngay cạnh nhà thầy u mê tìm thầy cúng cho đâu! Thế là thầy vẽ ra đủ thứ giấy sớ, bùa, hình phật xanh xanh, đỏ đỏ dán thành mảng to tướng và giải thích đó là phép giải hạn, cúng sao. Gia chủ lại hỏi cần mua những gì nữa để còn mua sắm thêm cho đầy đủ. Thầy thống kê ra nào hoa quả, xôi thịt, tiền vàng mã, ngựa xe mang về xếp thành đống to tướng. Bày các thứ ra chiếm hết cả gian nhà, có cả hình nhân, cắm cờ, cắm kiếm, thầy gọi là “lập đàn” rồi trống mõ khua bung beng mất đứt nửa ngày, cúng bái ê a, đọc đi đọc lại mấy bài sớ, khấn đến là sốt ruột.
Sợ nhất là khi thầy nhảy múa, huơ cái gương tròn để xua đuổi tà ma và bấm ngón tay vung văng bắt quyết! Ấy thế mà bắt quyết là gì thầy đâu có biết. Trò của người xưa cái gì cũng đưa vào dịch lý, bịa ra hình tượng siêu nhiên. Trên mấy đốt ngón tay vòng quanh bảo là bắt quyết âm dương, ngũ hành, can chi, bát quái. Bấm vào mấy cái cung ma quái và tuổi tác, ngày giờ, rồi day càn khôn bật cho tung tai ương, ma quỷ!? Thầy mo ở miền ngược còn bảo người ốm phải cúng mà đuổi con ma đi. Nhưng may sao có thầy thuốc của trạm xá bộ đội biên phòng khám, điều trị cho bệnh nhân thoát khỏi “con ma” bịa đặt, trở nên khoẻ mạnh.
Thậm chí có thầy còn xúi người khác làm cái “điện thờ” mà sinh lộc. Thế là con tin nghe thầy về lập ngay “điện thờ” hoành tráng tại nhà, hàng ngày hương khói, chập cheng. Sau một thời gian, người thì ốm đau, ra rồ ra dại, phải đi bệnh viện chữa bệnh thần kinh, người thì con cái tai nạn, người thì con đi gây sự, bị người ta nện cho một trận thừa sống, thiếu chết. Thầy lại bảo “không có căn số thụ lộc!”.
Công bằng mà nói rằng xưa kia, và cả ngày nay có một số thầy cúng nghiên cứu hiểu biết, uyên thâm, nhưng cũng không thiếu gì kẻ ít học, ngộ nhận, ranh ma, lừa bịp.
Thực tế rất nhiều thầy cúng, thầy mo thuộc làu làu các bài cúng khấn, cho bùa, nhưng không hề biết về Kinh dịch, bát quái, âm dương, ngũ hành, phong thủy. Bởi có thấy thầy nghiên cứu bao giờ đâu, mà có đọc cũng không hiểu nổi.
Điều trớ trêu thay, thầy học rất ít, nhưng lại sai khiến được cả người có học hàm, học vị hẳn hoi. Kỹ sư, bác sĩ, thầy giáo cấp III, ăn mặc chỉnh tề comlet cavat, có cả cán bộ làm công an, phòng thuế, ngân hàng cũng đến thỉnh cầu thầy cúng đầu năm, dâng sao, trừ sao, giải hạn và nhận mấy cái giấy gọi là “bùa” mang về dán lên tường, lên kèo, lên cột! Thế cho nên có ông vừa là nhà văn, kiêm luôn nhà báo bảo rằng: “Mình đi khắp cuối đất cùng trời, đọc không biết bao sách vở, viết rất nhiều bài về văn hoá, phong tục, tín ngưỡng dân gian, ham nghiên cứu, cái gì cũng biết, thì làm sao lại nghe người văn hoá không hiểu, chỉ dạy cho toàn những thứ linh tinh, mê tín dị đoan!?”.
Đành rằng những chuyện của dĩ vãng cổ xưa hàng ngàn năm ít nhiều mang theo ý nghĩa giáo dục nhân văn. Nhưng cũng có những điều rất vô căn cứ, thế mà bây giờ mang ra làm cho người nhẹ dạ cả tin đang sống trong thời đại văn minh trở về mông muội.
Dưới sự phù phép của các thầy biến tín ngưỡng linh thiêng, lành mạnh trở thành gieo rắc duy tâm, mê tín, dị đoan. Nếu công bằng mà xét thì “thầy cúng” là người vừa có công to lại vừa có tội lớn. Khi vô tư giúp cho người ta hướng tới tâm linh lành mạnh, an tâm, giải thoát trong lúc gia cảnh khủng hoảng, khó khăn lại không dám lấy tiền là cái tâm, cái đức của người đời. Nhưng chẳng hiểu gì mà cứ mệnh danh tâm linh, thần thánh, bày trò niệm chú, bắt quyết như thể có phép thần thông, giao hoà được với thần thiêng, ma quỷ, bịa ra có “động long mạch, thần linh” phải xây cái miếu, áp đặt ngày giờ cát hung, bùa phép, xúi người ta phải cầu cúng quàng xiên, dựng lên đốt vàng đốt mã, trừ ma đuổi quỷ, khóc than gọi hồn, gây ra lo sợ, lung lạc tinh thần, gieo rắc mê tín dị đoan, làm mất thời gian, tốn tiền tốn của, lại là tội lớn. Nếu thần thiêng là có thật thì chắc rằng không thể tha tội cho thầy cúng bịa chuyện, bất lương. Còn có ông thầy cứ ra khỏi nơi cúng bái là hiện nguyên hình kẻ thiếu văn hoá.
Hình ảnh trái khoáy nhất là khi thầy cúng thì tha hồ vẽ ra đủ chuyện cao siêu, hệ trọng làm lung lạc tinh thần gia chủ răm rắp bái phục nghe theo. Thế nhưng khi về nhà, hoặc gặp ở đâu đó thấy thầy buôn bán, rửa xe, nói tục, chửi thề, sát phạt đỏ đen, cờ bạc, thậm chí nhiều chuyện trên đời thì thầy rất là ngớ ngẩn!
Chỉ tội nghiệp cho các con nhang, đệ tử, và người dân vất vả, hiền lành, lẽ ra chỉ cần tự mình lòng thành thắp nén tâm nhang cúng bái với lễ nghi đơn giản theo tín ngưỡng dân gian là được, thì lại cứ mụ mẫm, mê muội đi mời thầy và làm theo những sự điều khiển thật rắc rối, giả dối, lừa bịp, bi hài!
Xem chân gà
Xưa kia, bất cứ cái gì, mấy đạo sĩ, nhà nho cũng đưa ngay vào dịch lý, bát quái, âm dương, ngũ hành mà lý giải cho thêm huyền bí, cao tay. Đến cái chân gà để nhâm nhi uống rượu cho thi vị cũng được thần thánh hoá, linh thiêng hoá vào đời sống con người. Rồi người ta vẽ ra thuật xem chân gà cho thần kỳ, linh nghiệm.
Chân gà xem phải là gà do gia chủ nuôi ở nhà, chứ mua ở chợ về là kém hay. Gà trống, loại gà giò, mào đỏ to, chân vàng, chứ không dùng chân chì (đen) và phải là gà chưa đạp mái. Gà làm sạch lông, cắt chân để làm riêng. Gà luộc vừa phải, không còn đỏ thịt, không chín nhũn. Chân gà thì buộc lỏng bằng chỉ vào hai cổ chân để khỏi bị thắt đứt da, rồi cầm mà nhúng vào luộc và phải biết cách nhúng. Nhúng lâu trong nước sôi sùng sục là nó nứt nát và ngón chân co quắp vừa xấu lại khó xem, không xem được. Chân gà luộc chưa chín hoặc chín quá nhũn bét đều không tốt. Khi nước sôi sùng sục, cầm chỉ nhúng chân gà vào, một lát nhấc ra nhúng ngay vào nước lạnh. Nhúng vào, nhắc ra vài ba lần như vậy, thấy chân gà vừa chín thì nhấc hẳn ra, treo cho nguội. Nếu cổ chân gà hơi bị nứt cũng tạm được, nhưng tránh để chín quá dễ bị nứt toét ra. Chân gà xem là chân gà đã cúng lễ xong rồi. Vì người ta cho rằng khi dâng lên cúng lễ, thần linh, thổ địa, tổ tiên mới cho ứng nghiệm và “uốn” vào hình thái các ngón chân gà thì xem mới có giá trị (?).
Con gà luộc vàng ươm cho cả chân gà đặt vào đĩa, để lên bàn thờ cùng đồ thờ cúng. Cúng lễ xong, con gà đem làm cỗ, còn đôi chân treo lên để xem. Xem chân gà quan trọng nhất là sau khi cúng vào ngày Tết đầu năm mới. Đó là điềm báo cho một năm sinh sống, làm ăn có hên xui gì không và chủ yếu cho năm đó thôi. Ngoài ra, trong những ngày cúng, giỗ trong năm có người cũng xem chân gà để chiêm đoán cát hung cho mình và gia đình.
Ngoài việc chia cung, mệnh, âm dương, ngũ hành, người ta còn làm cả bài Phú bằng văn vần lý giải về các dự kiện trên chân gà. Nói chung là các mã hoá và quy cho các dấu hiệu hiện hình trên chân gà vào luận đoán vận hạn cho gia chủ. Thế là ông “thầy” cầm chiếc chân gà ngay ngắn trên tay, mắt nheo nheo, đầu nghiêng nghiêng ra vẻ chiêm nghiệm, rồi phán bảo như thuộc trong lòng bàn tay.
Chân gà có bốn ngón. Ngón cái ở giữa, hai ngón hai bên và một ngón chỉ. Loại gà hơi già ở chân còn có thêm cái cựa ngắn, nhọn.
Màu sắc chân gà vàng ong, nhuận hồng, tươi cái sẽ làm ăn khá giả. Nhưng có gân máu loang thì lại hao tiền tốn của. Màu trắng, xanh, đen là điềm đau buồn, tang chế. Da gà vàng, sáng thì may mắn, đỗ đạt. Các ngón chân hở thì khó giữ của. Ba ngón chồng lên nhau, tốt nhưng cần chú ý với người trên và phải có người giúp đỡ mới nên. Ba ngón chân chụm đầu là dấu hiệu giúp tốt cho làm ăn. Ngón chỉ đâm nghiêng vào khe hở thì có phiền luỵ, vạ miệng, tai hoạ. Các ngón cong vẹo thì làm ăn vất vả. Giữa lòng chân gà nổi ụ đầy đặn, da hồng thì phát đạt. Da chân xám, gân khô héo thì khó khăn. Bốn ngón dựng thẳng lên mà chân gầy xẹp là không tốt, lại gặp năm tuổi xung càng dễ vận hạn, ốm đau. Ngón chân rời rạc là phải tự mình vượt khó làm ăn, ít người giúp đỡ…
Người ta còn cho rằng: “Thứ nhất kê ba, thứ nhì hoa sú”, tức là ba ngón kê chồng lên nhau, ngón giữa ở trên rồi hai ngón hai bên kê thứ tự xuống dưới và chỗ nứt ở cổ chân gà khi luộc mà xoè ra như cái hoa sú là điềm tốt. Nếu “chỉ cái”, tức là ngón chỉ chỉ vào ngón giữa càng hay. Vết nứt chân gà không xoè hoa sú mà lại như vết chém nứt ra thì lại không hay. Hoặc “kẹp cổ”, tức là ngón giữa thấp xuống và bị hai ngón hai bên kẹp sát lên trên là không tốt, bị người ngoài trấn áp. Lại bị “chỉ cái”, tức là ngón chỉ thẳng vào ngón giữa là đại hung, rất xấu. Ngón giữa kê ba là tốt, nhưng lấy ngón tay đẩy ngược mà không chạm là hay, nhưng thấy có gợn đầu móng chân gà chạm vào là có “động”, phải cầu cúng. Các ngón duỗi ra tự nhiên, màu sắc tươi nhuận là thư thái, tốt lành.
Còn nhiều dự kiện để luận giải về chân gà. Nhưng chỉ mấy nét trên đây đã thấy người ta gán ghép vào cái chân gà vô tri vô giác những khái niệm mơ hồ, không có căn cứ khoa học. Không thể từ màu sắc, hình thù khi luộc chín của cái chân gà lại có thể báo ứng mặc nhiên cho đời sống con người. Dự kiện đưa ra từ luận giải chân gà làm cho con người cứ phải để tâm vào đó, trong cả năm nghiệm xem có gì xảy ra đúng hoặc gần đúng hay trùng lặp ngẫu nhiên là cho ngay là chân gà linh nghiệm, còn không thì cũng quên luôn. Thậm chí nghe ông thầy phán bảo có chuyện không hay rồi sinh lo nghĩ quanh năm. Đến khi không thấy có gì diễn ra như vậy mới thở phào nhẹ nhõm, mà cho đã cúng bái hoá giải được rồi.
Hiện tượng xem chân gà, dù có mệnh danh này nọ, vơ quàng mọi lý sự về dịch lý, bát quái, âm dương, ngũ hành đưa vào lý giải cũng chỉ là bịa đặt, gieo rắc mê tín dị đoan. Hãy đặt ra câu hỏi: Lấy cơ sở nào mà dám bịa ra những điều báo ứng của cái chân gà luộc chín kia vào cho cuộc sống thực tế ở trần gian? Cũng vì vậy mà ngày nay không ai lại ngớ ngẩn tin vào những dựng đặt cổ xưa dùng chiêu bài huyễn hoặc con người nhẹ dạ, cả tin như thế.
Ụ đất thần linh
Một tai nạn trên đường giao thông gây chết người. Nạn nhân được đưa vào nơi vệ đường đắp chiếu và mọi người đi qua thắp nén hương cắm ngay bên cạnh tiễn biệt vong hồn người xấu số khi chờ đưa đi an táng.
Thế rồi nơi tai nạn chết người bỗng trở thành ngọn nguồn của nhiều giai thoại. Người chứng kiến kể lại sự thật, người nghe không rõ lại thêu dệt ly kỳ hay xuyên tạc khác đi. Kẻ bịa chuyện, tung tin đêm đêm đi qua nghe văng vẳng như có tiếng người kêu khóc, bọn thầy lừa bịp thì dựng đứng lên là có bóng dáng oan khuất linh hồn… Thôi thì trăm thứ đồn thổi dựng chuyện, bịa đặt làm cho ai đi qua cũng mủi lòng, xót thương, người nhát gan thì rùng mình sởn tóc gáy. Từ đấy, hàng ngày người qua đó đều cầm một nắm đất hay hòn gạch, hòn đá xếp vào và đốt một nén hương khấn vái, mong cho mọi sự tốt lành. Chả mấy chốc đã thành ụ đất, nghi ngút khói hương, linh thiêng, sợ hãi. Có người tới gần, vì vốn đã nhát gan, lại càng ám ảnh sợ hãi, ảo giác, hoảng loạn sinh ra tai nạn mà thành “cái dớp” đồn đại trong dân gian. Nhưng cũng có người bạo gan bảo, có gì đâu mà sợ và hàng này vẫn cứ đi qua làm đồng, cắt cỏ mà chẳng làm sao. Người thập phương hàng ngày đi qua, kể cả về đêm chẳng ai để ý nên thấy rất êm ả, bình thường.
Đến khi nhà nước có dự án tu tạo giao thông, xe máy ào ào ủi đường, đổ đá, mở rộng, nâng cấp con đường cho cao, cho đẹp. Thế là ụ đất linh thiêng bị san ủi mất tiêu, chỉ còn lại con đường phong quang, bằng phẳng. Người dân đi lại trên đường thuận lợi, dễ dàng, vui tươi, phấn khởi. Mấy người trước đó còn mê tín dị đoan bảo chớ động vào ụ đất mà sinh tai hoạ, kể cả bọn dựng chuyện, thầy rởm nay cũng hớn hở đi trên con đường thênh thang, phẳng lỳ, biển báo giao thông trông càng đẹp mắt, lòng cũng thấy vui.
Thế cho nên thần hồn nát thần tính và nghe kẻ doạ nạt mà sinh mê tín dị đoan. Làm đường đẹp, dẹp chướng ngại đi trở thành an bình như xưa, mà lại có con đường văn minh, thuận tiện. Có khác chi thầy cúng ngộ nhận cao tay, bắt nạt dân lành, bịa ra có “động”, bảo phải xây ngay cái miếu thờ thần linh ở góc vườn mà hương khói. Thế là từ đấy ai cũng tự nhiên mang sợ hãi vào mình, cầu cúng quanh năm, thêm tốn kém, mất đất cấy trồng mà chẳng ai dám sờ vào phá bỏ miếu đi. Có lẽ lại phải chờ đến dự án gì đó, mới giải thoát được nỗi sợ hãi vu vơ do dại dột nghe theo thầy rởm. Cho nên mới có chuyện thầy ra vẻ thần bí, xúi một ông là phải đắp miếu thờ cúng, liền bị ông cho một trận: Đang yên, đang lành, lấy cớ gì mà nói luyên thuyên, chỉ linh tinh, vớ vẩn! Thầy sợ quá liền lủi mất. Ông mỉm cười và sống rất vui vẻ, an bình, chẳng có làm sao. Chung quy đều tại con người!
Bát hương linh nghiệm
Người theo đạo thờ cúng thì phải có bát hương. Cũng quanh cái bát hương mà nhiều chuyện thành giai thoại. Và cái bát hương của người theo đạo thờ cúng trở nên huyền diệu, kéo theo thần linh, ma quỷ và hoạ phúc của chúng sinh.
Các đạo sĩ, nhà nho xưa cứ thần thánh hoá cho cái bát hương thật nhiều dự kiện ly kỳ. Từ việc chọn bát hương thế nào, yểm, định vị vào bát hương những gì, cho tro lúa thơm sạch vào để cắm hương ra sao và làm phép, cúng bốc bát hương thế nào… đều do thầy phán quyết, thầy làm. Người ta còn vẽ ra đủ loại bát hương, thế là gia chủ cứ tuân theo răm rắp, mua đủ loại về mà xếp đặt lên bàn thờ, có khi khắp nhà. Đó là bát hương thờ Phật, bát hương thờ Thánh, bát hương thờ Thần linh, Thổ địa, Gia tiên, bà Cô, ông Mãnh ở trên bàn thờ. Rồi bát hương thờ Thần Tài, Thổ Địa ở dưới đất. Lại còn để bát hương thờ trên nóc tủ, bát hương thờ ở trên bể nước, còn có cả bát hương thờ ở góc vườn. Khắp nhà chỗ nào cũng thấy bát hương. Từ việc về nhà mới, chuyển nhà, làm bàn thờ, đến ụ đất góc vườn… đều bốc bát hương thờ cúng. Bát hương mà không được bốc, cầu cúng cẩn thận là người ta lo sợ có mệnh hệ gì. Nhờ thầy “cao tay” yểm cho cẩn thận và cúng bái hẳn hoi là người ta yên tâm, vui vẻ, tươi như hoa nở. Thật ra ông thầy cứ úp úp, mở mở cho vào mấy loại giấy tang kim màu cắt vụn, dán kín viết bùa “thất bảo” và mấy thứ đồng xu, chỉ ngũ sắc đại diện âm dương, ngũ hành gọi là định vị chân nhang, chứ có thần thông, hoá phép gì đâu. Có khi người ta còn bí hiểm và thần thánh hoá mấy thứ Mã não, San hô, Ngọc trai… vào bát hương cho thêm linh thiêng, sợ hãi.
Người ta giáng vào bát hương những điều mê tín mà gọi là tâm linh, linh diệu rồi huơ gương, bắt quyết, đọc chú an vị chân nhang. Thế là chuyển tải sang con người mang theo tâm linh với biết bao hy vọng, vui buồn, lo âu, sợ hãi, mê tín dị đoan từ ở bát hương.
Rồi người ta cầu cúng quanh năm, khói hương nghi ngút trong nhà, ngoài sân, ngoài vườn, làm cho không gian chìm trong khói bay huyền ảo. Người ta để tâm linh lượn theo hương khói, gưỉ khát vọng cuộc đời, cầu mong hên xui, may rủi qua các chân hương. Lõi hương tốt, đốt quăn xoắn như lò xo vừa đẹp vừa nhiều phúc lộc. Lõi hương kém chất lượng, cháy đến đâu rụi tàn đến đó là người ta thấy trong dạ không vui. Bàn thờ để nơi gió lùa, bát hương bỗng nhiên bùng cháy thì chắc rằng thần linh hay các cụ nổi giận, hoặc điềm báo ứng gia cảnh sắp có hoạ gì (?!). Thuê nhà đến ở là bốc bát hương, khi chuyển đi nơi khác là mang ném bát hương xuống ao, xuống hồ cho khỏi lo nghĩ, sợ là sinh hoạ. Đến ở thuê nhà khác lại mua, lại bốc bát hương. Nhất là các doanh nhân, người buôn bán khi khánh thành, khai trương, mở quán làm ăn là sắm cái bát hương thật to, mời thầy đến bốc chân nhang rồi chuông mõ chập cheng. Thế là trở nên yên tâm, cho là làm ăn sẽ tấn tới, phát đạt, giàu sang. Làm ăn được thì bát hương thật là linh nghiệm. Lừa đảo, gian tham, phá sản lại đổ tội cho việc cầu cúng chưa thật chu toàn!
Nhà chung cư cao tầng, cũng thi nhau đốt hương, lại còn đốt vàng, đốt mã, khói bay nghi ngút, lập tức chuông tự động reo lên báo cháy. Thật là phiền, khi nhân viên an ninh, nhà chức trách phải đến tận nhà bắt ký vào biên bản hứa từ nay không được gây ra mất trật tự, văn minh. Nơi chùa, đền cũng chen lấn xô đẩy, thi nhau đốt hàng bó hương, làm cho bát hương không còn chỗ cắm. Khói bay mù mịt, cả tượng và người không mở được mắt, thì còn đâu thấy sự linh thiêng. Người trước vừa đốt hương thì đã có người đến cầm lấy dụi tắt đi cho khỏi khói. Nhà chùa đâu có khuyến khích chuyện cuồng tín, làm liều, mà đệ tử cứ như thiêu thân làm điều không phải đạo.
Người ta còn lý sự thật hay rằng: Nén nhang là biểu tượng cho trên Thiên là trời, dưới Địa là đất. Khi đốt nén nhang là có sự giao hoà, khói bốc lên trời, toả hương thơm ngát chốn dương gian, chạm tới thần linh, thiên đàng. Nén nhang cứ cháy từ từ rút ngắn xuống nối Dương với Âm, giao hoà Trời Đất, cũng là nối thần linh, hồn thiêng tiên tổ với cõi nhân gian, mang theo triết lý nhân sinh, tạo nên hương vị ở đời. Ai có nói sao, thì bảo: Bát hương thờ cúng là quan trọng lắm, không cẩn thận là không được đâu, chớ có mà cẩu thả!
Tuy nhiên, cũng có người theo tín ngưỡng dân gian thờ cúng Á Đông, nhưng chỉ làm một bát hương đơn giản ở bàn thờ, rửa cát sạch cho vào, thắp nén tâm nhang nhân ngày lễ tết là được. Người mê tín dị đoan, hay ông thầy đến chơi, thấy trên bàn thờ ở nhà gia chủ chỉ có một bát hương thì ra vẻ “thần thiêng” hoạnh hoẹ: - Tại sao nhà chỉ có một bát hương, như thế là thờ gì? Mà sao không cho tro thơm vào cho thơm tho, nhẹ nhàng. Cho cát vào nặng nề khó làm ăn lắm! Ông chủ nhà tươi cười nói: - Cho là thờ Thổ công cũng được mà bảo là thờ cúng cộng đồng tất cả vào đó cũng xong. Hiểu nó thế nào là ra thế ấy. Cát cắm hương càng chắc, không lo xiêu đổ, mà người ta hay nói: “Đãi cát tìm vàng” đấy chứ! Chủ yếu là con người mình sống có tốt không. Nhà thờ rõ nhiều bát hương mà bất nhân, bất hiếu thì có ích gì, trộm cướp, ngu si có khi còn rước hoạ vào thân. Bên công giáo họ có bát hương nào đâu và trên thế giới, có nơi chẳng thờ, không cúng mà vẫn sống tốt đẹp cả đấy thôi.
Chỉ quanh cái bát hương mà tạo ra vòng luẩn quẩn, tốn công, tốn tiền và cứ thần thánh hoá thêm lên mà sinh lo nghĩ, sợ hãi quanh năm. Còn người bình thường, coi cái bát hương chỉ là một cái âu sành sứ, sạch sẽ, cho tro hoặc cát vào để cắm nén hương mỗi khi trân trọng, tưởng nhớ tổ tiên, ông cha theo phong tục tín ngưỡng dân gian thờ cúng, đơn giản và chân thật thế thôi.
Miếu thiêng, Am thờ
Trong dân gian, đâu đó ở khắp làng quê, núi rừng hay nơi vệ đường, vườn cây, gò đống thường thấy xuất hiện những nơi thờ tự nho nhỏ mà người xưa gọi là Miếu thờ, Am thờ và cho rằng nơi ấy rất linh thiêng.
Miếu thiêng: Được dựng lên thờ tự ghi nhớ những người có công, anh hùng, vĩ nhân, thành hoàng hoặc là nơi họ dừng chân, đi qua hay tử tiết. Đó là những bậc cao nhân đại diện cho văn, võ, ngành nghề như: Văn Miếu, Võ Miếu, Y miếu. Người đời tôn sùng, ngưỡng mộ và hương khói quanh năm với tâm thức nhớ tới tiền nhân, vinh danh những người có công với dân với nước.
Am thờ: Thường nhỏ hơn, là nơi thờ cúng những oan hồn không may thương vong do tai bay vạ gió, tai nạn dọc đường hay là nơi thờ phụng những chúng sinh lang thang, những vong linh người chết không nhà. Người ta dựng lên am thờ với lòng thương cảm, chia sẻ xót xa cho tâm linh thảnh thơi, cho cuộc sống mọi người được an bình. Nó cũng ngầm nhắc nhở người đời hãy chú ý nêu cao tinh thần cẩn thận để tránh những rủi ro cho chính mình và sống tốt đẹp hơn.
Am, Miếu vốn mang theo ý niệm linh thiêng từng có tác dụng tích cực giáo dục con người hướng thiện, trừ ác. Những kẻ bất lương, trộm cướp khi đứng trước am miếu, hoặc nghĩ phải nguyện thề trước am miếu cũng trở nên sợ hãi, sám hối, không dám độc ác, làm càn.
Tuy nhiên, thực tế cũng có những điều huyễn hoặc và phủ lên bức màn huyền bí, mê tín dị đoan.
Do tác động vào tâm lý và những ngôi miếu, am thờ lại thường mang vẻ thâm nghiêm, trầm mặc, đôi khi bị một số người mê hoặc mà thần thánh hoá, ma quỷ hoá ra, làm cho nhiều người sợ hãi. Hàng ngày người đi qua lại nhiều lần, có khi vào ban đêm hư ảo, thấy hương khói nghi ngút ven đường do thờ cúng người tai nạn, càng gây nên tác động tâm thần. Vì thế thành bất an trong tư tưởng, nên cứ tới nơi này con người không còn tỉnh táo nữa dễ sinh tai nạn mà thành “cái dớp” lặp lại nhiều lần. Có người còn bị ức chế sợ hãi đến rối loạn thần kinh sinh ra ảo giác nhìn thấy “bóng ma”, kêu la, khóc lóc, đầu tóc rũ rượi, nói năng lảm nhảm như có ma làm. Rồi người ta lại mê tín, tiếp tục cúng vái, cầu xin. Kẻ dựng chuyện vin vào đó tô vẽ lên cho rằng nơi có thần thiêng, ma ám bắt người, trở nên hoang đường, bí hiểm.
Các thầy cúng còn bịa ra là có thánh thần, ma quỷ, bà cô, ông mãnh, động đất cát mồ mả, phải làm ngay cái miếu ở trước nhà, góc vườn, sau nhà mà hương hoa, cúng bái mới giải được tai hoạ, ốm đau. Thế là tự nhiên chỉ vì mấy lời xúi dục vớ vẩn mà thành nạn nhân lo nghĩ cả đời xung quanh cái miếu vô căn cứ của kẻ hợm hĩnh, phán bừa, xui dại, lại không dám phá bỏ miếu đi!
Đốt vía, Chiêu hồn
Chuyện “đốt vía”, “chiêu hồn” hay “chao hồn” được thực hành khi người mẹ sinh con và trẻ bị tai nạn, đuối nước, ốm đau, kể cả với người lớn vừa mất.
Câu hỏi đặt ra từ ngàn xưa là hồn, vía là gì và nó như thế nào?
Theo Từ điển tiếng Việt: “Hồn là thực thể tinh thần mà tôn giáo và triết học duy tâm cho là độc lập với thể xác, khi nhập vào thể xác thì tạo ra sự sống và tâm lý của con người”. Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh: "Hồn là phần tinh thần hay linh tính, là ý thức, tư tưởng của con người."
Tâm hồn hay tinh thần của con người giữ vai trò chủ đạo, mang lại sức mạnh, sức sống cho cá nhân hay tập thể. Linh hồn là tư tưởng và tình cảm của con người, nói chung và còn là linh hồn người chết.
Cũng theo từ điển: “Vía là yếu tố vô hình tồn tại phụ thuộc vào thể xác, được coi là tạo nên tinh thần của mỗi người, khi người chết thì cũng mất đi, theo quan niệm duy tâm. Bóng vía là yếu tố tinh thần, ảnh hưởng đến vận may rủi, lành dữ của người khác, theo quan niệm mê tín”.
Đốt vía là vì cho là có phép lạ tránh được tai hoạ, bệnh tật, theo quan niệm thời xưa.
Quan niệm của văn hoá phương Đông cổ xưa cho rằng con người có ba hồn là: Sinh hồn, sinh lực của thể xác. Giác hồn, thu nhận và thể hiện các cảm giác. Linh hồn, thâm sâu, vi diệu, quan trọng nhất. Người Việt cho rằng con người có ba hồn gồm: Tinh, tức là sự tinh anh trong nhận thức. Khí, tức là năng lượng làm cho cơ thể hoạt động. Thần, tức là thần thái của sự sống. Khi chết thì hồn lìa khỏi xác và đi vào thế giới khác của tâm linh.
Lão Tử cho rằng, hồn là cái thuộc phần khí, nhẹ hơn và phách là cái linh thuộc phần hình của con người. Phần hồn là khí nhẹ, nên khi chết sẽ bay lên, phách nặng theo thể xác tiêu xuống đất. Đàn ông và đàn bà đều có ba hồn phụ thuộc vào tam tiêu: Thượng tiêu là phần ngực trên dạ dày, trung tiêu là phần dạ dày ở giữa bụng, hạ tiêu là bàng quang phần bụng dưới. Đàn ông có ba hồn, bảy phách (Việt Nam gọi là vía) tức là thất khiếu gồm: Hai con mắt, hai lỗ tai, hai lỗ mũi và miệng. Đàn bà có thêm hai lỗ ở bộ phận sinh dục nên thành chín vía. Cho nên gọi nam có 3 hồn 7 vía, nữ có 3 hồn 9 vía. Có tài liệu lại cho rằng, trong chín vía của nữ có thể hai núm vú có vai trò nuôi con?
Trong bài viết về “Ba hồn bảy vía” trên báo Sài Gòn giải phóng, tác giả Lê Anh Minh cho biết, theo Đạo giáo của người Trung Hoa xưa gọi tam hồn là: Sảng Linh, Thai Quang, U Tinh và thất phách (bảy vía) gồm: Thi Cẩu, Phục Thỉ, Tước Âm, Thôn Tặc, Phi Độc, Trừ Uế, Xú Phế. Người Trung Quốc xưa coi nam cũng như nữ chỉ có ba hồn, bảy phách. Còn người Việt Nam lại cho rằng nam có bảy lỗ (thất khiếu), nữ có chín lỗ (cửu khiếu) và gọi nam có ba hồn bảy vía, nữ có ba hồn chín vía. Người ta cho rằng hồn và phách (vía) không thể tách rời nhau, xa nhau là chết. Hoảng sợ quá thì “hồn vía lên mây”. Khi chết thì “hồn bay, phách lạc”.
Cũng liên quan đến hồn vía, trong sách Vũ Xuân Dật Thưởng chép rằng: “Người ta mới sinh, được 7 ngày gọi là một Lạp, còn gọi là Cữ, tức là 1 vía. Đủ 7 vía, tức là 49 ngày thì thành người. Đủ 100 ngày thành một tuổi. Bé trai đủ 7 ngày, gái 9 ngày gọi là đầy cữ”.
Trong sách Vân Đài loại Ngữ, Lê Quý Đôn viết: “Tục nước ta, sinh con được 3 ngày thì làm vài mâm cỗ cúng Thuần Dưỡng Bà. Đến ngày thứ 7, thứ 9, đầy 100 ngày thì làm lễ cáo gia tiên linh đình”.
Trong tang gia cũng vận dụng 7 ngày là 1 ky tang, mất đi 1 vía. Bảy lần cúng ky tang là đủ tuần chung thất, hết vía là 49 ngày. 100 ngày cúng tốt khốc - thôi khóc. Còn theo thuyết nhà Phật thì: Vong hồn người quá cố phải qua 7 lần phán xét, mỗi lần 7 ngày, thành 49 ngày thì hồn mới được siêu thoát.
Như vậy, hồn, vía là khái niệm trừu tượng, vô hình của cổ xưa, đôi khi mang màu sắc tâm linh và mê tín dị đoan. Ngày nay nó là nhân tố tinh thần trong con người thực tại.
Vì gắn với tâm linh, mê tín nên nó trở thành yếu tố giải thoát cho tư tưởng; Nếu xét về thể chất và biến cố đặc biệt xảy ra có thể phần dương thoát ra không tan thì mang theo ý nghĩa khoa học.
Người phụ nữ khi mới sinh con, thân thể còn yếu ớt, lại lo nghĩ, hồn vía chưa ổn định, trong thể trạng âm thịnh dương suy. Trẻ sơ sinh vừa lọt khỏi lòng mẹ, cơ thể còn non ớt, chưa thích ứng với bên ngoài cũng dễ giật mình, khó chịu. Vì thế nên đi sinh con về, trước khi vào nhà, người xưa thường đốt một nhóm lửa cho người mẹ bước qua và nâng đứa trẻ qua ngọn lửa, gọi là “đốt vía” xua đi tà khí, cho tư tưởng an tâm, ổn định lại hồn vía, bồi thêm hơi ấm cho dương khí. Có khi còn cho là ngăn sự “lộn kiếp” với những điều không hay.
Đứa trẻ ốm nặng, đặc biệt đột ngột tai nạn, đuối nước mà chết, người ta cho là hồn vía lúc đó vụt thoát ra khỏi thể xác. Cho nên, khi dùng các biện pháp cấp cứu lúc còn hấp hối hay đã ngừng thở, người xưa thường mang theo cái nón hoặc rổ, rá, mẹt, bảy hoặc chín nắm cơm nhỏ, một ít muối, có khi quả trứng ra chỗ trẻ mắc nạn và hướng vào thể xác đứa trẻ, vừa chao vừa gọi tên, nói: -Ba hồn, bảy vía thằng cu (nam), hoặc –Ba hồn, chín vía con tũn (nữ), mau mau mà về với ông bà, bố, mẹ… Việc làm mang ý nghĩa cho “hồn bay, phách lạc” được “chiêu” về ổn định với thể xác mà sống lại. Xưa kia, đứa trẻ vừa tai nạn, như đuối nước, được vác dốc ngược chạy cho nước ộc ra và hô hấp nhân tạo, nếu trời lạnh thì đốt lửa sưởi ấm, kết hợp với phép chao hồn vía thì sống lại. Còn đã bị lâu, thường ít có cơ hội cứu sống mà thành an ủi tư tưởng cho người thân. Ngày nay, phải nhanh cấp cứu bằng hô hấp, sốc tim mới mong cứu sống.
Đi “đám ma” về, khi tới cổng nhà người ta cũng đốt đống lửa rồi bước qua để xua âm khí, ám khí rồi mới vào nhà cho an tâm.
Người mới chết người ta cũng dùng cách gọi hồn, để mong có thể hồn phách trở về mà sống lại. Khi chôn cất vừa xong, họ lại bảo con cháu đứng ở cửa nhà mà gọi tên người chết để cho hồn vía đang lang thang mà về nơi thờ cúng. Những người chiến binh tử trận, tai nạn chìm tàu trên sông biển không vớt được xác, người ta làm lễ cầu siêu cho vong hồn được linh thiêng, siêu thoát, thả đèn hoa (hoa đăng) cho linh hồn về nơi tịnh độ. Dù thân xác tan nơi chiến địa hay chìm nơi xa tít mù khơi, nhưng cầu siêu cho người quá cố bớt đi oan khuất và tâm linh trần gian được ổn định, an bình.
Nhìn hình thức thì thấy rất huyền bí, duy tâm, nhưng lại phần nào mang nghĩa khoa học, tâm linh, hướng thiện. Tất nhiên, thời nay việc đứng gọi hồn không mấy ai làm nữa, mà phải bằng y tế điều trị và cấp cứu con người.
Cũng vì ý nghĩa như thế mà sinh lắm chuyện bi hài. Có người vì ghét bỏ người khác cũng dùng phương cách đốt, hoặc ém dẹp hồn vía, nói lời phỉ báng, xua đuổi hồn vía kẻ không ưa cho bõ ghét, hả giận. Thật là phản lại đạo đức, nhân văn!
Có thờ có thiêng, có kiêng có lành
Người Việt Nam ta vốn xưa là cư dân nông nghiệp Á Đông, chịu tác động của thiên nhiên, hướng tới linh thiêng, may rủi và phần lớn theo Phật giáo mà coi trọng Đạo thờ cúng. Lâu rồi trở thành nếp sống văn hoá dân gian, cho nên bất kể thế nào cũng thường xuyên hương khói, cầu khấn, hướng về Thần linh, Tiên, Phật, Tổ tiên mà thờ phụng nhằm giải thoát tâm linh, ổn định tinh thần, vui tươi, phấn khởi, tai qua, nạn khỏi, làm ăn tấn tới, phát đạt.
Lễ, tết, tưởng niệm ngày mất của ông bà, cha mẹ, người thân, niềm vui thắng lợi, thi đỗ, thăng quan, tiến chức, gặp nhau khi ở xa về, ốm đau, tai hoạ… tất tật đều cầu cúng, mong cho hạnh phúc, khoẻ mạnh, thành đạt, an bình.
Trong mỗi gia đình người Việt, ít nhất cũng có một nơi thờ cúng. Nhiều gia đình làm bàn thờ lớn, hoành tráng với nhiều loại bát hương, bài vị, hình ảnh, câu đối. Có nhà còn thờ nhiều chỗ trong nhà theo nhiều ý nghĩa khác nhau, thờ phật, thánh, thần linh, tổ tiên, thổ công, thần tài, bà cô, ông mãnh, ngũ hổ, chúng sinh... Người ta cho đó là đầy đủ, linh thiêng và hàng ngày chăm nom, thắp nén hương, cầu cúng với ước vọng cho bản thân, gia đình, con cháu khoẻ mạnh, an vui.
Thế là tâm linh được giải thoát, tư tưởng lúc nào cũng an tâm, mãn nguyện, phấn khởi, lạc quan, sức khoẻ thêm dồi dào khoẻ mạnh, làm cái gì cũng tỉnh táo, phấn chấn, ít gặp tai hoạ, ốm đau. Người ta cũng theo duy tâm mà cho rằng, thành tâm, cầu cúng thì luôn luôn có thần linh, linh hồn người thân đi theo phù hộ, độ trì cho tai qua, nạn thoát, làm ăn may mắn, thuận hoà. Suýt bị tai hoạ hiểm nghèo là cho rằng có người phù hộ mà thoát chết. Thế nên chỉ là quan niệm cầu cúng thì an lành, khoẻ mạnh, chứ có ma lực, thánh thần gì đâu. Thành ra có thờ có thiêng là vậy.
Trong cuộc sống, điều gì cũng có thể xảy ra, kể cả hên xui, may rủi, ốm đau, tai nạn. Có cái đến tự nhiên, có cái bất thường, có cái do khách quan đưa lại, có cái vì chủ quan và có khi do không cẩn thận mà ra. Sức khoẻ con người tốt được là do ăn uống khoa học, rèn luyện thường xuyên. Không kiêng ăn uống khi có bệnh thì bệnh sẽ nặng lên. Không kiêng nắng gió, rét, mưa làm sao chả ốm. Đông y cho rằng, người mà bị tác động của lục khí (phong, hàn, thử, thấp, táo, hoả), lục dâm (trái thường với lục khí) và “thất tình”, tức là mắc phải 7 loại tình chí (hỷ - vui, nộ - tức giận, ưu - lo, tư - nghĩ, bi - buồn, khủng - khiếp, kinh - sợ) sẽ phát bệnh. Vết thương, mụn nhọt, không biết gìn giữ, thuốc men tất sẽ nhiễm trùng. Trên đời có biết bao tai bay, vạ gió, dại dột, thâm thù mà thành tai hoạ, cướp của, giết người, đau thương tang tóc. Người biết lo tính, khôn khéo ngoại giao, tính toán thời cơ, lựa chiều đối xử thì người người giúp đỡ, mâu thuẫn bị triệt tiêu, công việc sẽ tốt lành. Biết kiêng còn có nghĩa là biết khôn, biết khéo là nguyên nhân làm nên thành công mọi việc.
Dù rằng tâm linh là hư vô, thần thánh là tưởng tượng, nhưng cái chính là tư tưởng con người được thăng hoa, giải thoát và sự cẩn trọng là gốc cho mọi sự tốt lành. Cũng vì vậy, mà đối với người đã sẵn có tư chất tốt đẹp trong lòng thì dù không bận tâm lắm đến quan niệm tâm linh, họ vẫn làm được những điều linh thiêng và tốt lành như thế.
Cầu cúng không khỏi bệnh
Trong thời đại văn minh ngày nay mà vẫn không thiếu gì người mê tín dị đoan, mê muội. Hạn chế hiểu biết bị chế ngự bởi quan niệm thánh thần, ma quỷ hoặc hủ tục lạc hậu cổ xưa còn rớt lại trong tâm thức con người. Họ cứ cho rằng con người là do thế lực siêu nhiên, thượng đế, thần thánh sinh ra, điều khiển và phụ thuộc vào yếu tố thần linh.
Cùng với những biến động cuộc sống, khi bệnh tật, ốm đau, họ cho là do có “động” đất đai, mồ mả ông bà, tổ tiên, có báo ứng của thánh thần, ma quỷ. Thế là thay cho việc đi đến các cơ sở y tế khám chữa bệnh, họ tìm đến những thầy mo, thầy cúng, phù thủy, siêu nhân để ký gửi niềm tin, hy vọng thoát qua bệnh tật. Âu đó cũng là giải pháp tinh thần cho tâm linh giải thoát. Trong trường hợp này, nếu là bệnh thần kinh, tâm lý, tâm thần thì phần nào có tác dụng, khi được an ủi, động viên, lập tức bệnh đỡ.
Còn khi mắc phải căn bệnh khó chữa, hiểm nghèo, càng ngày bệnh tật càng tăng, chữa gì cũng không thuyên giảm, thì lo sợ chất đầy, niềm tin bị khủng hoảng, họ cuống loạn lên mà “vái tứ phương”, khẩn cầu vào phép thiêng thần thánh. Người ta cầu cúng đền chùa, am miếu, kể cả “lập đàn” hướng lên trời đất, thánh thần, cầu siêu cho “siêu linh tịnh độ”, tai qua, nạn khỏi, bệnh tật tiêu tan, trở lại tốt lành. Thế nhưng là bệnh hiểm nghèo, khó chữa nên cúng gì cũng không tác dụng, càng cúng, thời gian càng trôi đi, bệnh càng trở nên trầm trọng. Các thánh thần siêu hình đâu có tác động và chữa được bệnh cho con người? Mà thật vô lý, chuyện từ cái mồm bịa đặt của mấy ông thầy, đất đai làm sao mà “động”, và vì sao lại có thánh thần, ma quỷ can thiệp vào sức khoẻ con người? Tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người thân ai lại đành lòng hại con, hại con cháu?
Thế nhưng ông thầy cứ bắt mua hương hoa, lễ oản bày ra tụng kinh, cầu cúng. Vài ba tuần cúng, có khi vài ba ngày cúng, thấy người bệnh khá lên thì bảo do cúng mà đỡ. Chẳng may bệnh cứ nặng ra mà chết, thì lại bảo, do tụng kinh ba tuần là chết được ngay cho thanh thản!
Khi cúng mãi vẫn thấy bệnh tình lúc đỡ lúc không, người ta lại cuống lên, đưa nhanh vào bệnh viện, nhờ can thiệp bằng các thiết bị y tế hiện đại, xét nghiệm, chiếu chụp, siêu âm. Các giáo sư, bác sĩ giỏi, giàu kinh nghiệm tiến hành mổ xẻ, cắt sớm khối u, y lệnh dùng thuốc chuyên khoa, người bệnh mới được cứu sống.
Qua trận “thập tử nhất sinh” trở lại với cuộc đời, người ta mới có thời gian để mà suy nghĩ và nghiệm ra rằng: “Càng ít hiểu biết, càng vu vơ sống với cổ hủ xa xưa, thì càng cúng cầu bệnh càng thêm nặng”. Thế cho nên, danh y Biển Thước mới dạy rằng: Trong sáu loại người không nên chữa bệnh có “người tin thầy cúng, không tin thầy thuốc!”
Cúng loạn cả lên
Cái tệ mê tín dị đoan ăn sâu, bén rễ vào nếp nghĩ con người từ xa xưa, cho đến thời văn minh, hiện đại vẫn không sao bỏ được. Người ta cứ máy móc áp đặt cho Đạo thờ cúng theo tín ngưỡng dân gian và cái gì cũng đổ cho tâm linh mà sinh ra mê muội, cúng loạn cả lên, làm gì cũng cúng, việc gì cũng cầu, bất kể có đáng phải cầu cúng hay không. Nhất là sau tết âm lịch là người ta lại đua nhau cúng bái. Nào là cúng đầu năm, lập đàn giải hạn, cúng đi học, đi làm, cho tai qua, nạn khỏi, may mắn, làm ăn phát đạt, buôn gian bán lậu cho được nhiều tiền. Do quan niệm thần linh, trời đất có thể giúp được mọi điều mà không ít người cho rằng việc cầu cúng sẽ phù hộ độ trì cho làm ăn tấn tới, giải thoát được tai hoạ, ốm đau nên khi có bất cứ việc gì xảy ra là tính chuyện cúng cầu để “vái tứ phương”, rồi cúng ở nhà, cúng ở chùa, ở đền, ở phủ, ở miếu, ở khắp mọi nơi. Nhiều khi chỉ vì bế tắc trong cuộc đời người ta cầu khẩn thần linh mà phải cúng bái. Kể cả cúng bái để mong cầu buôn gian, bán lậu, tham nhũng của công!
Nhiều người nhìn thấy cái nghề này kiếm ăn được nên nghĩ cách tìm đến chuông mõ, đèn nhang và nghiễm nhiên trở thành “thầy cúng”. Có cả ông xưa làm cán bộ xã, phụ trách an ninh hẳn hoi nay cũng tập tẹ học lấy mấy chữ nho rồi cắp tráp đi chập cheng, ê a giấy sớ, xong ra giá cho gia chủ đưa mấy trăm ngàn đút vào túi rồi về, nằm vắt tay lên trán cười thầm, làm một giấc say sưa đến sáng.
Chỉ khổ cho người dân lam lũ làm ăn, cả mùa, cả năm mới kiếm được ít thóc, ít tiền, cứ nghe mấy ông thầy rởm phán bảo, xui khiến, thậm chí doạ nạt là lại lo sợ bỏ tiền của ra cầu cúng. Ngoài lễ tết, kỵ giỗ tổ tiên, ông bà theo phong tục dân gian, người ta cứ phải làm theo những việc nhiêu khê, tốn kém, chẳng đâu vào đâu mà cứ cho là tâm linh, thần thánh. Từ khai móng, đổ mái, lợp nhà, đào ao vượt thổ, đắp mồ, cải mả cho đến con cháu đi làm, đi học, đi xa, về gần, người nhà ốm đau, bệnh tật, thậm chí kể cả đào đất làm cái nhà vệ sinh… tất tần tật đều lo sắm lễ bày ra cúng bái trời đất, thổ địa, thần linh.
Người mê tín, không cúng bái thì tâm tưởng không yên, lo nghĩ mà sinh ốm đau, tai hoạ lại đổ cho tại không cầu cúng. Mà cúng đâu có đơn giản, phải mời thầy, mua sắm đồ ăn thức uống, vàng mã, rượu bia. Lại phải mất thời gian hàng buổi, hàng ngày ngồi chắp tay phủ phục theo điều khiển của thầy. Đã thế, lúc nào cũng lo nghĩ, không biết có được yên lành hay thầy lại còn vẽ ra chuyện gì phải cầu cúng tiếp? Thế là từ cúng loạn lên lại sinh chứng loạn thần kinh, không khéo trở thành bệnh mê cúng bái quanh năm mà thêm khó chữa!
Ông cụ đã gần 90 tuổi, mắc bệnh tiểu đường. Tuổi già, lão hoá, thuốc men không đều đặn, ăn uống chẳng kiêng khem, lại bị bệnh viêm một bên đáy mắt. Bác sĩ bảo không điều trị tích cực, sẽ có chỉ định mổ mắt. Anh con trai thấy vậy, sợ nếu mổ mắt, ông thành bệnh thần kinh? Còn bà vợ ông, hơn 80 tuổi, vốn hay mê tín, đồng bóng, không biết nghe ai xúi, bà bảo rằng, mồ mả tổ tiên ở quê có “động”. Thế là bà điện thoại thẳng về quê nói nhà sản xuất đồ mã làm cho 5 con ngựa, mũ, giầy, gươm đao, rồi bắt con cháu sáng hôm sau dậy thật sớm chuẩn bị xôi thịt, hoa quả, tiền âm phủ, đô la… thuê một chuyến xe chở ông và mấy đứa con từ thành phố tức tốc về quê, mời người ra mộ cầu cúng. Trong khói lửa vàng mã đùng đùng, ông bảo một mắt ông chẳng nhìn thấy gì. Anh con rể thì nói, con mắt bệnh của ông, không điều trị cẩn thận, do lão hoá và biến chứng tiểu đường có lẽ phải mổ bỏ!
Vợ chồng anh con trai làm nghề giết mổ gia cầm, tích góp mấy năm, đến khi làm nhà là anh gọi thợ đến làm. Không mê tín, nhưng thôi thì nghe người ta bảo làm cái lễ mà động thổ. Anh cũng đành làm cho qua chuyện, cho đỡ miệng thế gian eo xèo, sốt ruột. Rồi cứ thế làm một mạch cho đến xong cả hai tầng, không có xem xét gì nữa, anh bảo xem làm gì cho rách việc. Chuẩn bị về nhà mới, mẹ anh đến nhà một “cô” chuyên cúng bái để nhờ xem cho việc về nhập trạch. Bà mẹ về nói lại với anh là đã đi nhờ người làm lễ cúng nhập trạch, các khoản khoảng 2 triệu đồng, chuẩn bị lễ rồi “cô” đến cúng cho, “cô” bảo: “Phải cúng bái cho cẩn thận, không thì làm ăn không ra gì, mà ốm đau đấy!”. Anh không nghe, nói: “Mẹ việc gì phải lôi thôi, rắc rối làm gì, tự nhiên mất toi 2 triệu. Làm nhà còn phải lo chạy thêm tiền mới đủ, con chẳng làm đâu!”. Bà mẹ gọi điện cho “cô”, thông báo con bà không nghe, bảo mất lắm tiền thế. “Cô” liền hạ giá xuống còn 500 ngàn và cô lập đàn cúng ở nhà cô cho. Bà mẹ nói lại với con trai, anh cũng không nghe, mà bảo vợ mua hoa, quả đơn giản về để lên bàn thờ, thắp nén nhang vái gia tiên, ông bà, rồi mời anh em ăn bữa cơm mừng về ở nhà mới.
Một năm sau, vợ chồng anh vẫn làm ăn bình thường, gia đình vẫn vui tươi, khoẻ mạnh, nhà ở lại thoáng rộng, sạch đẹp. Anh mới vui cười bảo mẹ: “Bà thấy chưa, suýt nữa thì khi ấy con phải đi vay tiền mua sách cho cháu bà đi học đấy nhé!”. Mẹ anh cũng mỉm cười, chẳng nói được gì. Thế rồi thằng con anh chăm học, thi đỗ cả hai trường đại học ở mãi Thủ đô. Vợ chồng anh càng vui mãn nguyện.
Nhiều người cũng chỉ theo lễ tiết dân gian, ngày tưởng niệm tổ tiên, ông bà, cha mẹ, người sinh ra mình mà thắp nén hương tưởng nhớ, đơn giản với lòng thành, xong rồi vui vẻ cùng con cháu làm ăn, chẳng phải nghe thầy phán bảo, ai xúi bẩy cúng loạn lên làm gì. Cứ như các đạo giáo khác họ có cầu cúng kiểu thế đâu mà khoẻ mạnh, làm ăn vẫn tốt. Nhiều người buôn bán giàu có, mua cả đất của người chăm cúng mà nghèo. Hoặc như ở thành phố, mua được căn hộ mãi trên tầng cao, thoáng mát, tiện nghi hiện đại, văn minh, đến nhanh mà ở, chẳng dính đến đất cát, mê tín dị đoan; Không phải nghe ai xúi bẩy phù phép phong thủy, bát quái, càn khôn, vòng vo dịch lý, mê tín tử vi, chẳng lo cầu cúng động thổ loạn lên, không cúng bái bung beng làm mất trật tự; Không vàng mã tốn tiền, không khói hương mù mịt làm cho máy báo động tự động reo lên có cháy là nhân viên an ninh xuất hiện, thêm phiền. Thần linh và các cụ nhà ta, ai chẳng buồn lòng khi chúng sinh, con cháu cứ lẩm cẩm quanh cái việc cúng bái vòng vo, nghèo hèn tội nghiệp như thế.
Người mê tín cứ vin vào, mệnh danh tâm linh mà bày ra cúng bái. Đã gọi là “cầu cúng”, “cúng vái”, “cúng bái” bừa bãi, khắp nơi, đủ chốn thì còn gì linh thiêng? Quanh năm, lúc nào, ở đâu cũng chỉ thấy mụ mẫm vì “cầu”, “vái”, “bái” làm cho con người trở nên quá nhu nhược, không có bản lĩnh, chẳng lo tính việc làm ăn thì còn ý nghĩa gì?
Thế nên cuộc đời sảng khoái, vui tươi, thanh thản biết lo tính công việc, làm ăn và tận hưởng những thành quả lao động, sáng tạo của xã hội văn minh là hạnh phúc, ai bằng?
Vô thần, Vô sư, Vô sách
“Vô thần, vô sư, vô sách” ở đây không có ý nói về sự vô tâm, không cần học thầy, không cần hiểu biết. Trong trường hợp này muốn chỉ về hai đối tượng là người không hiểu biết gì và người có hiểu biết nhưng vô tư, không phụ thuộc vào cái gì mà mình không thích.
Con người sinh ra vốn tính khí khác nhau, lại theo thiên hướng, tâm lý, suy nghĩ và ý thích càng chẳng như nhau. Trong lĩnh vực tâm linh cũng vậy, người thì quá coi trọng tâm linh, nhất nhất đều phải tuân thủ, khẩn cầu, đèn nhang, cúng bái, người lại cho là cuộc sống diễn ra bình thường, không phải phụ thuộc vào điều gì cho thêm rắc rối.
Không cứ gì người ít hiểu biết, mà cả người có học vị, bằng cấp, chức sắc hẳn hoi cũng duy tâm, mê tín dị đoan, thậm chí cuồng tín, xì xụp cúng cầu khắp chốn. Và hình như càng giàu sang, thăng quan tiến chức, kể cả tham nhũng, lừa đảo, trộm cướp mà có cũng cho là thánh thần, tổ tiên phù hộ nên kiếm được lắm của, nhiều tiền, càng sùng tín “tâm linh”? Người thì do gia cảnh gặp nhiều tai bay, vạ gió, ốm đau do bệnh tật, chết chóc ngẫu nhiên cũng đổ cho thánh thần, ma quỷ, sinh khủng hoảng tinh thần mà vái lạy khắp nơi.
Trong khi đó có người chẳng tin cái gì, chỉ tôn trọng tín ngưỡng dân gian lành mạnh, chẳng đuổi theo nay cầu, mai cúng. Cũng ví như người sinh ra không được trí khôn, dở dở, ương ương hoặc thiểu năng trí tuệ thì chẳng bao giờ liên quan đến tâm linh, cầu cúng, chẳng biết bận tâm đến nơi mọi người đua nhau lễ bái, cầu xin. Họ vẫn sống bình thản qua ngày trong vô tư, trong sáng, có khi lại khoẻ mạnh phi thường. Có người trí tuệ rất thông minh, uyên bác, đọc nhiều sách vở, đông tây, kim cổ cái gì cũng biết, kể cả tử vi, ngày giờ, ai thích, ai cần đều làm giúp, xem giúp cho họ an tâm. Thế nhưng bản thân, gia đình chỉ làm theo tín ngưỡng dân gian rất là đơn giản. Họ chẳng bao giờ căn cứ vào những rắc rối cổ xưa nhờ thầy bấm tính, không kiêng nguyệt kỵ, sát chủ, thụ tử, tam nương, ngày ba, ngày bảy, cứ theo nha khí tượng báo ngày đẹp trời là khai móng, sửa nhà mà làm cho thuận lợi. Nghiệm lại trong suốt cuộc đời, họ chẳng thấy sợ hãi, lo âu. Thành công, thất bại, ốm đau, tai hoạ, mọi việc may rủi xảy ra là chuyện bình thường. Cuộc đời con người đâu có giống nhau, người thế này, người thế khác, giỏi giang hay kém cỏi, an nhàn hay vất vả là ở hoàn cảnh mỗi người. Ai mà chả ốm đau, phải đi khám chữa. Tuổi cao, sức mòn đều phải tạ thế, nhắm mắt, xuôi tay.
Cứ ngẫm mà xem, mê tín dị đoan mà bị ông thầy bấm quẻ, xem ngày rồi phán cho mấy câu, doạ cho mấy cái là lo phát sốt, ăn ngủ không yên, tâm thần hoảng loạn, cầu cúng lung tung, hao tiền tốn của, lại mất thời gian. Sách vở in đầy ở khắp mọi nơi về thuật xem ngày giờ cát hung, tử vi, phong thủy. Chỉ những người viết sách và một số thầy làm nghề tán tụng cho thật linh thiêng, còn đa số người dân lam lũ làm ăn mấy ai quan tâm đến nó.
Thế nên, có người cho rằng, đi theo cái gì là bận tâm, lo nghĩ thêm cái ấy. Ai theo cái gì thì mặc họ, còn cứ vô tư. Vô thần, vô sư, vô sách, không theo tôn giáo, đạo nào, nghe thì vô lý, vô tâm, nhưng cuộc sống thường ngày lại vô cùng thanh thản. Cũng có người không cúng cầu, đèn nhang, vàng mã nơi chùa, đền; Không xưng tội, rửa tội, làm phép ở nhà thờ; Chẳng chen chúc hành hương về Thánh địa... nhưng vẫn sống có nghĩa, có tình, làm nhiều việc nhân văn, có ích. Cuộc đời tin ở chính mình, tạo cho con người cuộc sống thoải mái, tự do.
Thinh không và thực tại
Từ xưa đến giờ người ta vái tay cầu cúng chỉ là vái lên thinh không, vái trời, vái đất, cầu lên cái vô hình mà gọi là tâm linh, thần thánh chứ thật ra chẳng có gì. Đó là suy nghĩ của người theo hướng “vô thần”, không duy tâm, mê tín dị đoan.
Ngẫm ra thì thấy tâm linh chỉ là cái tâm niệm, nó hư vô chứ chẳng hiện hữu ra cái gì thực tế cả. Thần thánh, ma quỷ là do con người dựng lên, tôn lên, thần thánh hoá và ma quỷ hoá mà thành. Người ta kêu cầu, cúng bái chỉ là hướng tâm thức con người đến với điều thiện ở cõi linh thiêng gọi là Niết Bàn, Thượng Đế để tự giáo dục mình, tìm đến an bình, loại trừ tội ác. Thực tế có thánh thần, ma quỷ nào mang đến cho ta, bắt ta làm được cái này hay cái kia đâu? Mà nếu có thần thánh linh thiêng thật và “cầu được ước thấy” thì đã chẳng xảy ra mọi sự trái khoáy trên đời. Con người làm nên nhân từ hay tội ác, rồi cứ đổ cho công, tội đều ở tâm linh.
Trong câu chuyện vui, có hai người phụ nữ, một theo bên giáo và một theo bên lương chơi thân, nói với nhau rất thực, người nọ nói với người kia: “Bên các bà cúng giả, bên chúng tôi cầu không, chứ có gì đâu!”. Người tôn sùng tín ngưỡng và hành đạo nghe vậy thì cho là nói bừa, báng bổ, không xứng là phật tử, con chiên, phải sửa lỗi, sám hối, cúng cầu, rửa tội và cần trừng phạt xuống địa ngục, âm ty! Người hiểu ra thì bảo: Đó là tâm linh, có thế thật thì cũng nên để trong lòng, không làm theo thì thôi, nói sao cho khéo. Đâu có phải ai cũng hiểu cả chuyện thật ở đời. Không cẩn thận dễ sinh vạ miệng! Người thì suy ngẫm thấy câu nói thật thà, đúng như vậy, chẳng có ý xấu gì.
Nhà nọ có cậu con trai đang học cấp ba, đua đòi đi xe máy thế nào dụi ngay vào bụi rậm, may không chấn thương sọ não mà chỉ toạc ở mu bàn chân. Đi bệnh viện, bác sĩ khâu cho gần chục mũi, tiêm mấy phát chống uốn ván, giảm đau và cho thuốc kháng sinh, dặn về cứ theo đơn mà uống. Ngày hôm sau, chân vẫn sưng đau, người cậu lên cơn sốt nhẹ. Thấy con li bì, bố mẹ hoảng quá bảo nhau hay là năm nay nó vận hạn. Thế rồi vợ chồng đi mua lễ, làm xôi gà mời thầy đến cúng cho tai qua, nạn khỏi để con tiếp tục học hành. Ông thầy đến nhà trống mõ chập cheng đến vài tiếng đồng hồ. Cúng bái xong xuôi, gia đình mời thầy cùng ăn cơm, tạ ơn rồi tiễn thầy về. Ra khỏi cổng, thầy vừa đi vừa lẩm bẩm: “Cúng bái vậy thôi, mai còn sốt lên cao không đi viện có mà bỏ bố!”. Người nhà đang đi theo sau ông, nghe thấy thế liếc mắt nhìn nhau chẳng hiểu thế nào, đành trở vào nhà động viên cậu ấm gắng mà ăn cơm, uống thuốc!
Một cậu bé học giỏi từ khi bắt đầu đi học. Cả thời gian học cấp I, cậu thường được mặc áo mũ cân đai, trao tặng danh hiệu “Trạng Nguyên” tại Văn Miếu - Quốc Tử Giám. Đùng một hôm, cô giáo hiệu trưởng gặp mẹ cậu nói rằng: “Cháu học giỏi, nhưng chị nên đi đến chùa ở chỗ bên hồ mà lễ bái, cho khỏi trục trặc nay mai”. Mẹ cậu rất ngạc nhiên về đầu óc duy tâm, mê tín của một cô giáo, nhưng tin ở con mình nên không đi cầu cúng.
Năm hết cấp II, cậu thi vào trường chuyên, do không đúng nguyện vọng, nên cậu học trường bình thường. Học cấp III, cậu giỏi cả các môn tự nhiên và xã hội. Các bài văn của cậu, nhà trường vẫn lưu lại để làm mẫu cho các bạn tham khảo học văn. Thi đại học, thiếu nửa điểm chuyên ngành yêu thích ở đại học Dược, cậu chuyển sang học trường Đại học Ngoại thương và tiếp tục là một trong những sinh viên học giỏi. Đến lúc này, mẹ cậu mới “khảo cổ” lại lời cô giáo thấy có lẽ vài trục trặc là việc thế chăng? Đúng là không để ý thì thôi, chứ cứ canh cánh bên lòng thế nào cũng thêm lo lắng và sẽ tìm được những cái ngẫu nhiên ứng nghiệm vào mình!
Mùa thi đại học, các sĩ tử chuẩn bị khăn gói lên đường đến các trung tâm cao học thời nay để còn tỷ thí. Đọ sức vượt vũ môn cú này ắt rất gay go. Con lo một, cha mẹ lo mười nên tính phải xem ngày, xem giờ lên đường sao cho tốt phúc. Mấy cha mẹ rủ nhau cùng đến nhà cụ đồ nho nhờ bấm quẻ, định ngày đi thi cho thật hên may, không xui xẻo. Ông cụ bảo ghi tên, ngày tháng năm sinh rồi làm cho lá sớ đăng khoa cúng cho các cô, các cậu. Cụ còn bấm tính cho ngày, giờ đưa các sĩ tử lên Thủ đô cho thật hay, thật tốt. Các sĩ tử thì hẹn nhau, gần ngày thi thế nào cũng đến bằng được Văn Miếu - Quốc Tử Giám xoa thật kỹ các đầu rùa đội bia vinh danh tiến sĩ.
Thế rồi đến ngày thi, giờ điểm danh, các sĩ tử vào đấu trường thử sức. Cô gái ở nhà miệt mài đèn sách, quyết chí năm nay vào trường Y, mai sau thành bác sĩ, nên bài ra cô làm bay, xong trước nửa giờ. Ra khỏi phòng thi cô tươi cười chắc chắn, tự tin thế nào cũng đỗ. Cậu con trai, hàng ngày mê đầu đĩa, chơi game, tụ tập bạn bè nghêu ngao Karaoke, Cafe thâu đêm, suốt sáng thì cắn bút ngồi nghiền ngẫm chẳng giải được bài. Khốn khổ khi thi toàn kiến thức văn, toán, lý, hoá và những môn trong chương trình đã học phổ thông, chứ chẳng ai thi xem ti vi, hát karaoke, chơi game, xem đầu đĩa. Trống đánh thu bài, cậu tiu ngỉu nét mặt u buồn, đã thấy chuyến này trượt là cái chắc! Thế là chuyện cha mẹ sính đi cầu cúng trở thành hài hước, công toi.
Cầu mà được, ước mà thấy thì trên đời này đã không có may, rủi, giàu, nghèo, tai hoạ, chiến tranh, tội ác. Trong gian lao, con người thường mơ cho sự giải thoát, an lạc, thái bình. Khi khủng hoảng, hoang mang con người cũng tìm vào chỗ dựa. Dù có được hay không cũng là tốt nhất cho giải pháp tinh thần. Chỉ có khẩn cầu trời đất, thần linh trong thinh không nhưng cũng giãi bày được nỗi lòng thanh thản. Vô tình đó chính là hình thức cho mình tự giáo dục mình tốt nhất mà thôi. Bởi nếu ngẫm thì thấy bấy lâu nay đúng là vái lên trời mà cầu không, cầu địa! Kể cả lễ quả, hương hoa, cỗ bàn cũng là để trần gian gặp nhau mà hưởng, chứ có tổ tiên, thần thánh nào thụ lộc thật đâu. Cho dù người ta cho rằng, khi cúng giỗ, “linh hồn” tổ tiên cũng về thụ hưởng. Ý nghĩa giáo dục sâu xa cho con người sinh sống, chứ làm gì có ai ngoài tâm đức, tài trí con người. Nhiều người không mê tín ngưỡng, họ vẫn sống rất tử tế, học tập giỏi, rất tài năng. Chẳng thiếu kẻ ra cầu vào cúng khắp chốn nhà thờ, chùa chiền, thế mà cứ ra khỏi nơi thờ tự là đánh chửi nhau, trộm cướp. Có kẻ còn ngang nhiên trộm cắp ngay trong khi hành lễ, đối với họ cầu cúng chẳng có ý nghĩa gì và thần thánh thành vô tác dụng.
Xét ra thì tín ngưỡng tâm linh cũng không phải không có sức mạnh phi thường. Khi người ta sùng tín sẽ làm nên những điều ghê gớm như hàng triệu con tin hành hương về thánh địa thánh thần, hàng ngàn phật tử, con nhang hàng năm đi trẩy hội đền chùa, và còn có những nơi cuồng tín gây ra chiến tranh, chết chóc!
Từ ngàn xưa, người Việt Nam vốn đề cao Đạo thờ cúng Tổ tiên, thần thánh, do xuất phát từ văn hoá cư dân nông nghiệp và chịu áp lực trước biểu tượng thần linh; Đồng thời trải qua hàng ngàn năm đô hộ bằng tư tưởng Nho giáo càng hướng về lễ nghĩa trong giáo dục nhân sinh, nên mặc dù chỉ là tâm linh siêu hình nhưng về ý nghĩa nào đó, vẫn có ý nghĩa nhân văn trong cầu cúng.
Có điều rằng, ai sùng tín tâm linh thì cứ theo cầu cúng, ai không theo tôn giáo nào thì mặc nhiên cứ sống vô tư. Cũng như thinh không là thinh không và hiện tại vẫn là hiện tại, khỏi gây ra mâu thuẫn không đáng có cho đời sống con người.
Tín ngưỡng cộng đồng
Tín ngưỡng tâm linh tuy là siêu hình, tưởng tượng nhưng lại có sức mạnh phi thường. Chạm vào tín ngưỡng có thể an được lòng người, nhưng không khéo cũng làm nên chấn động tinh thần, dẫn đến rối loạn trật tự, an ninh xã hội, thậm chí gây ra bạo loạn, chiến tranh.
Vì tín ngưỡng mà có các công trình vĩ đại về tôn giáo ở khắp mọi nơi. Những pho tượng khổng lồ ở đất nước Trung Hoa, Nhật Bản và Khu tâm linh Bái Đính lớn nhất Việt Nam. Vì cuồng tín về mình, không coi tín ngưỡng khác là gì mà những tượng Phật rất lớn ở Apganixtan bị quân Taliban phá bỏ, quân khủng bố tại các quốc gia đánh bom vào nơi cầu nguyện ở nhà Thờ, bom đạn chiến tranh tàn phá chùa, đền, nhà thờ, am miếu. Vì chống lại nhau, kích động hận thù mà đánh thẳng vào nơi hành hương về Thánh địa.
Sức mạnh tinh thần là nhân tố của các hành vi liên kết, hướng thiện, hoặc lại trở thành ngọn nguồn sinh ra bạo lực, bất đồng. Tín ngưỡng thanh cao mang lại cuộc sống an bình. Cuồng tín thái quá sinh ra hung tàn, bạo ngược. Những tín đồ mộ đạo, đề cao sức mạnh thánh thần dễ liên kết trở nên sức mạnh, nhưng cũng dễ biến thành bạo lực khủng bố, chiến tranh.
Cũng vì thế mà các nhà lãnh đạo ở các quốc gia, vì an ninh đất nước, dân tộc vẫn phải đến với tín ngưỡng cộng đồng dân gian để yên lòng dân chúng. Cũng từng có nhà lãnh đạo khi đến với ngôi đền thờ, trong đó có hình ảnh của kẻ tội phạm chiến tranh, đã gây nên bất đồng ngoại giao với các nước liên quan về quá khứ lịch sử láng giềng. Và cũng từng diễn ra các cuộc “Thánh chiến” đầy bi thương trên thế giới khi quá tôn sùng tôn giáo.
Làm cũng thế, chẳng làm cũng thế
Trên đời rất nhiều việc phải làm. Có việc cần làm, có việc phải làm, có việc không làm không được và cũng có việc làm cũng thế mà không làm cũng thế, chẳng sao!
Những việc thiết thực đến đời sống nhân sinh như cơm ăn, nước uống, quần áo mặc, chạy chữa bệnh tật… thì bắt buộc phải làm. Những việc về tri thức, học hành, có điều kiện và do yêu cầu tự thân, hoà cùng xu thế xã hội thì làm. Về tinh thần, tư tưởng thì tuỳ theo năng lực đến đâu và nhận thức bản thân có thể làm đến đó. Những vấn đề tâm linh, siêu hình thì theo tín ngưỡng, thiên hướng, sở thích, mục đích cá nhân mà làm hoặc không làm tuỳ ở mỗi người.
Người theo tôn giáo nào thì làm theo tôn giáo ấy. Theo Phật giáo thì đến chùa thắp hương, niệm Phật. Theo Công giáo thì tới nhà Thờ làm phép, rửa tội, cầu kinh. Không theo đạo nào thì đọc sách, nghiên cứu khoa học, giải trí, vui chơi. Người mê tín, dị đoan cứ phải cúng cầu, đốt vàng, đốt mã cho “trần sao, âm vậy”. Người không mê tín dị đoan thì chẳng nay cầu, mai cúng cũng chẳng làm sao. Theo tín ngưỡng thì lập bàn thờ, khói hương, cúng bái. Vô thần thì nhà cửa trang trí thoáng, gọn, sạch sẽ, phong quang. Ưa tích dân gian thì thờ Thần Tài, Thổ Địa. Không thích rườm rà, phức tạp thì chẳng thờ gì. Người ưa cúng bái, chuông mõ chập cheng mới thấy tâm hồn hư vô, giải thoát. Người không thích ồn ào làm ảnh hưởng đến hàng xóm, láng giềng thì không trống mõ lung bung mà chỉ thắp nén nhang thơm, thành tâm mà vái cũng xong.
Người Á Đông cứ theo đạo thờ cúng mà bày đặt bàn thờ tại nhà. Người phương Tây theo các đạo khác thì không thờ cúng, chẳng đốt khói hương, mà đến nhà thờ, Thánh địa. Nhà người Việt thì nhà nào cũng có bàn thờ, âm u hương khói. Nhà chung cư hiện đại, thoáng đẹp, văn minh, không có thiết kế bàn thờ, khói hương gây ám muội. Nhà hiện đại văn minh, ai cũng thích, sống thoải mái, khoẻ người, nhưng lại cố sống kiểu cổ xưa, cứ vin vào tâm linh mà bày ra quá rườm rà, có khi hoả hoạn.
Ai chả biết truyền thống văn hoá dân gian, nhưng cho chọn thì mọi người đều thích sống đời sống văn minh, tiện nghi hiện đại, chẳng ai muốn ở nơi chật chội, tù mù. Lớp người cổ xưa cứ níu kéo theo nếp cổ, hơi tý là cho mất tông, mất gốc, làm tổn hại truyền thống ông cha. Lớp trẻ đi du học phương Tây về thì cứ sống theo lối sống hiện đại, phát triển tài năng cho đời sống văn minh. Sẽ có sự thay đổi không thể khác của đất nước công nghiệp hoá hướng tới toàn cầu, trong tương lai, lớp người mới sống đời sống của xã hội mới.
Mọi việc theo phong tục, tập quán, quan niệm từng nơi, từng vùng, theo từng tôn giáo, nhưng có khi còn do quan niệm và ý thích cá nhân. Cho là quan trọng thì thành quan trọng. Cho nó chẳng cần, thì làm hay không cũng chẳng sao, cuộc đời vẫn diễn ra theo nhịp sống của dân gian bình dị hay hiện đại văn minh. Người làm văn hoá cho rằng: Mất truyền thống, mất văn hoá dân gian dân tộc tức là mất hết. Cho nên những nếp xưa của cha ông vẫn phải giữ gìn. Lớp trẻ vô tư thì chẳng mấy quan tâm, cứ máy tính, di động, ăn chơi theo thời đại mới.
Ngẫm theo muôn sự ở đời, chỉ bận tâm cho những đệ tử, chúng sinh ngoan đạo, hướng thần, cuồng tín. Có nhiều việc thích làm thì làm, mà chẳng cần làm cũng có sao đâu?
Đức tin
Đức tin chỉ về giá trị tinh thần, tư tưởng nhân văn và hướng tới hành vi tốt đẹp. Người có đức tin và theo đức tin là người hoàn toàn mong cầu trong sáng, lương thiện. Người ta tin vào đạo đức và lòng nhân ái để sống đời tốt đẹp trên cõi nhân gian. Đức tin đã vượt lên tầm cao từ lòng tin của con người với khát vọng vươn tới hoàn thiện, nhân đạo, lớn lao.
Tất cả những gì liên quan đến lòng tin của con người, cần phải có giá trị chân chính của đức tin mới trở thành thánh thiện.
Uy tín lãnh đạo, thiên tài cùng với đường lối chính sách hợp với lòng người, tạo nên sức mạnh lòng tin mà quốc gia ổn định, thái bình. Nhưng khi mất uy tín, không còn lòng tin nữa thì dẫn đến bất an, chống đối, bạo loạn.
Các đạo, giáo tạo nên đức tin là tạo ra niềm tin, khát vọng tốt lành cho chúng sinh, công chúng. Những tác động làm mê muội con người để điều khiển họ đi theo ý tưởng nào đó thiếu nhân đức là phản lại đức tin. Mỗi con người vì quá cuồng tín tin theo một ý tưởng siêu hình để trở nên hành xác khổ đau, vật vờ, ứa máu hay dẫn đến hành vi ngộ nhận thiên thần cũng không phải tin ở đức tin.
Bởi không thiếu gì phép thuật dẫn dắt, lung lạc lòng tin. Có khi là ý tưởng tốt lành, nhưng cũng có khi mang đầy âm mưu mị dân, mê hoặc. Người ta mệnh danh thánh thần đưa con người vào vòng luẩn quẩn, làm mất lòng tin ở chính mình mà đi theo siêu hình, không tưởng, tách rời cuộc sống nhân sinh, dẫn tới hành vi thái quá. Đó là những dấu hiệu bỏ qua ý tưởng tốt đẹp của thiên thần là cứu nhân, độ thế, cứu khổ, cứu nạn mà gây nên rối loạn trật tự an ninh xã hội, chống phá quốc gia, nhà nước, thực hành thánh chiến, khủng bố, chiến tranh. Hoặc như các tà đạo, mệnh danh và lợi dụng vào cái gọi là “đức tin”, “tôn giáo” để lung lạc tinh thần tín đồ, âm mưu phá hoại an ninh đất nước. Hoặc vì khủng hoảng lòng tin mà sinh mâu thuẫn phân biệt sắc tộc, chủng tộc. Đó không phải là niềm tin tôn giáo mà lại chính là hành động lung lạc dẫn con người đi vào sai lầm, tội ác. Các nhà nước và cộng đồng thế giới đã và đang phải tập trung mọi lỗ lực giải quyết những khủng hoảng về đức tin như thế. Đó là loại “đức tin” trở nên cuồng tín đã bác bỏ giá trị tốt đẹp để thực hành khác đi, phản lại tín ngưỡng tâm linh, chống lại tư tưởng hướng thiện của tôn giáo, thánh thần.
Đức tin đích thực là mang đến khát vọng cuộc sống thanh bình với lòng tin vào chân lý tốt đẹp ở đời. Tôn giáo làm nên đức tin phải là nơi tạo ra niềm tin, vui tươi, trong sáng, chan hoà, hạnh phúc cho mỗi con người. Mọi cám dỗ, mê muội và hành vi làm vẩn đục tâm hồn dân chúng, rối ren cho xã hội phải được loại bỏ, thì mới thực sự có đức tin trong sáng, tốt lành và trả lại đúng nghĩa của đức tin.
Chẳng có gì đâu mà sợ
Mọi việc trên đời đều có thể xảy ra. Có thể là việc tốt lành, nhưng cũng có thể là điều xấu nhất. Đối với con người có bản lĩnh và hiểu biết thì dù thế nào cũng chẳng có gì phải băn khoăn, lo sợ.
Ngay trong lĩnh vực tâm linh hay khoa học cũng có thể diễn ra hai thái cực của sự sợ hãi hay chẳng có gì phải sợ.
Khi những khái niệm mù mờ về thần linh, ma quỷ và sức mạnh siêu hình của tâm linh dễ làm cho con người khó hiểu, lo âu, sợ hãi. Những phát minh khoa học ứng dụng vào nền văn minh nhưng do mục đích đen tối lại biến thành thuốc độc hay vũ khí hoá học, nguyên tử giết người thì trở thành vô cùng đáng sợ.
Tâm linh trong khái niệm tín ngưỡng tốt lành, thánh thần, ma quỷ là hình tượng siêu hình hoặc tôn vinh hay dựng đặt nhằm mục đích giáo dục hướng thiện và ngăn ngừa tội ác đều có ý nghĩa nhân văn, mang yếu tố của khoa học nhận thức, không làm cho con người sợ hãi. Một bóng ma hình thành qua khả năng ngoại cảm hay trong ảo giác ở một vài người mà không xảy ra ở nhiều người khác, là vì những người khác không có khả năng ngoại cảm và không có hiện tượng ảo giác. Hiểu được như vậy, sẽ thấy đó là hiện tượng bình thường, là khoa học, không có gì phải sợ hãi nữa.
Trên thế giới có những người có khả năng rất dị biệt, có những người mắc phải những căn bệnh lạ kỳ, bí hiểm. Nếu chúng ta không biết đến thì không thể tưởng tượng trên đời lại có những con người kỳ lạ và có những căn bệnh ghê sợ như vậy. Những hiện tượng ngoại cảm, yoga, xiếc, ảo thuật, sống ở tha ma nghĩa địa, đào trộm xác chết, ăn các loại côn trùng… đều là khả năng, thiên hướng đặc biệt, kỳ lạ từ ở con người. Tiếp cận với những hiện tượng đó, lúc đầu ai cũng thấy rất kinh ngạc, sợ hãi. Nhưng khi hiểu được khoa học về con người tạo nên những khả năng siêu phàm, lại thấy bình tâm, khâm phục và suy ngẫm có phần lý thú về những hiện tượng kỳ lạ trên đời.
Những hồn ma, bóng quỷ, bùa ngải, bói toán, tử vi… đều là thuật do con người nghĩ ra, dựng lên và lợi dụng tâm linh, dùng thủ pháp tâm lý luồn lách vào sở hở, thiếu hiểu biết của những người nhẹ dạ cả tin để thực hiện ý đồ ngộ nhận thần thiêng, cao tay đạo sĩ. Ngoài mánh khoé tạo dựng lòng tin, ẩn danh thầy này, cậu nọ, cô kia, họ cũng chỉ là những “người trần mắt thịt” rất bình thường, có khi còn nhiều khiếm khuyết, cũng phải sinh hoạt đời thường, cũng ốm đau, bệnh tật, thì có gì phải sợ hãi.
Hiểu biết sâu sắc thế nào là tín ngưỡng dân gian, rạch ròi về mê tín di đoan, duy tâm, cuồng tín thì biết ngay ranh giới của nhận thức thánh thiện hay mê muội của con người, thì có gì đâu mà sợ hãi?
Sự sợ hãi chỉ dành cho những kẻ lừa dối lương tâm, làm điều độc ác, bịa đặt hại người, làm ăn bất chính, mê tín dị đoan, không có lòng tin, thiếu sự hiểu biết. Mỗi con người sẽ ngưỡng mộ trước chân lý, thẳng ngay và đáng sợ trước phi nhân tính, độc ác, tham tàn, bạo ngược.
Người bình thường, với bản lĩnh, tự tin, hiểu biết thì mọi sự việc trên đời đều có nguyên nhân, đều là khoa học, hãy sống cuộc đời bình thản, tự tin, chẳng có gì đâu mà sợ!

