Tâm Linh Và Suy Ngẫm - Chương 9

IX.

NHỮNG LÝ GIẢI THÚ VỊ

Mỗi người, trong cuộc đời ít nhiều từng trải nghiệm về hiện tượng hoặc sự kiện nào đó hư hư, thực thực mà thấy vừa như có thật lại như không có thật. Hoặc chỉ nghe đồn đại, thêu dệt, đôi khi là bình thường, vui vẻ hoặc lại thấy rất kỳ bí, thậm chí vô cùng sợ hãi? Những hiện tượng cứ diễn ra ám ảnh, ăn sâu vào tâm lý tạo nên sự tò mò, suy diễn, muốn tìm hiểu để thanh thản tâm linh con người.

Tổ tiên phù hộ

Quan niệm xưa, khi làm việc gì, người ta cũng mong tổ tiên phù hộ mà thờ cúng chu tất quanh năm. Con cháu làm ăn tốt lành, không gặp tai ương hoặc thoát nạn cũng cho là có tổ tiên phù hộ. Điều tôn kính tổ tiên, mong muốn, ước mơ về con người như thế thật là tốt đẹp. Nó còn mang ý nghĩa theo quan niệm xưa về tâm linh, vong hồn ông bà, tổ tiên thường theo về phù hộ cho con cháu để tai qua, nạn khỏi, làm ăn phát đạt và cũng là hướng về tri ân tiên tổ.

Ngày nay cũng vậy, mỗi khi giỗ tổ, họ hàng đông đúc, lại xét xem có những con cháu nào làm ăn thành đạt là bảo: “Nhờ tổ phù hộ đấy, phải chăm về mà lễ tổ và có gì thì cúng vào nhà thờ họ để được ghi công”. Cháu A, vốn thông minh, chăm chỉ học hành tử tế, làm ăn thành đạt. Trong họ, người bảo do cháu chí thú, khổ công rèn luyện, đêm ngày đèn sách học hành, người thì bảo do hồng phúc tổ tiên phù hộ mới được thế! Lại có người nói: “Học giỏi, thành đạt là do con người có thông minh, chịu khó, có rèn đức, luyện tài hay không. Nhờ thế mà họ hàng mới được vinh danh.” Trong hơi men, rượu vào kích thích, thế là chuyện con cháu họ hàng đưa ra mổ xẻ. Chuyện hay thật nhiều mà chuyện dở cũng có. Có một ông giọng chất phác, thật thà: “Những cái hay thì bảo do tổ họ. Thế còn chuyện có con cháu học dốt, lười làm, hỗn láo, nghiện hút, gây gổ, đánh nhau, trộm cắp, vào tù ra tội thì cũng đổ cho tổ họ bảo nó làm thế hay sao?” Mọi người nghe ai cũng suy ngẫm, truyền thống của dòng họ là cái gốc, nhưng phải có ý chí và nỗ lực của mỗi người, làm thế nào để bản thân và họ hàng, làng xóm đều được tự hào về mình mới là tốt nhất.

Truyền thống dòng họ, gia đình tốt là cái nôi sản sinh, ảnh hưởng phần nào đến con cháu thì đúng rồi. Nhưng cái gì cũng bảo do tổ họ là chưa hẳn đúng! Đó là cái bệnh tôn sùng, ngộ nhận, gán ghép mơ hồ cho tổ tiên đâu đã là phải lẽ?

Xin âm dương

Gia đình có giỗ cụ kỵ, ông bà, mời thầy đến cúng. Qua mấy bài cúng khấn, đến xin âm dương, tức là gieo hai đồng tiền xu bằng đồng, loại tiền của thời phong kiến xưa để cầu xin trời đất, các thần linh, tiên tổ xem có phù hộ, độ trì, tai qua nạn khỏi, chứng giám cho làm ăn yên bình, phát đạt, bỏ qua khiếm khuyết hay không?

Đồng xu đúc bằng đồng thau màu vàng, hình tròn (tượng trưng cho trời, ngày, dương), có lỗ vuông (tượng trưng cho đất, đêm, âm và cũng có thể xâu lại nhiều đồng để cất giữ). Mặt phải là mặt ngửa có 4 chữ nho ghi rõ tiền của thời nào, như “Càn Long - Thông bảo” (tiền của thời vua Càn Long). Mặt trái là mặt sấp chỉ có hình tượng ký hiệu mã đồng tiền. Người ta lau sáng hai đồng xu này và đặt vào đĩa nhỏ để xin âm dương.

Hầu chuyện một ông cụ đã gần 100 tuổi, là người tử tế, rất có kinh nghiệm, làm thầy cúng cho thiên hạ, khi nói về chuyện xin âm dương, cụ cho biết:

“Trước bàn thờ, sau khi cung thỉnh, người chủ hoặc thầy cúng đánh một hồi ba tiếng chuông rồi đọc:

“Kính dâng các chư vị chứng minh cho trần gian xin dụng âm dương uy tín. Khấu đầu bái tạ.

Xin được thiên địa rung, nhật nguyệt vi minh”

Dứt lời, tay cầm dùi đánh ba tiếng chuông, đến tiếng thứ ba thì tay cầm hai đồng xu, một sấp, một ngửa tung nhẹ, gieo đánh “keng” một cái vào giữa đĩa. Động tác này bắt buộc người chủ chính làm, thầy cúng chỉ khấn hộ thôi chứ không được phép xin âm dương.

Sẽ có ba trường hợp xảy ra. Nếu ngửa cả gọi là “tiếu”, tức là cười, chưa chấp nhận. Nếu sấp cả gọi là “kiếu”, không được, không cho. Nếu một ngửa, một sấp là được, chấp nhận, đồng ý. Được thì khấn cảm tạ và rất vui mừng, hể hả. Nếu “tiếu” hoặc “kiếu” thì phải khấn: “Nam mô A Di Đà Phật, xin các ngài đại xá cho những lỗi lầm, sai phạm… chúng con xin lại”. Rồi lại “keng”. Vẫn không được thì khấn lại và làm lần nữa. Qua ba lần xin không được, tức là các ngài không chấp nhận, chứng dám thì thôi, không dám xin nữa và trong lòng cảm thấy lo nghĩ, bất an!”

Cụ còn nói rằng, một số thầy cúng bây giờ chẳng hiểu kỹ về việc xin âm dương đâu, họ cứ làm bừa thế thôi.

Cũng có trường hợp ông thầy cúng làm luôn việc xin âm dương. Thầy keng, keng hai đồng xu hai lần không thấy đồng sấp, đồng ngửa. Thầy bảo: - Chưa được, các cụ chưa cho! Con cháu thấy vậy lo âu, hỏi thầy làm sao bây giờ? Thầy hỏi: - Cúng khấn Thổ công chưa nhỉ? Con cháu nói: - Hình như chưa ạ! Thầy nói: - Thảo nào, Ngài chưa cho các cụ về! Thế rồi thầy khấn Thổ công xong, keng một cái, lập tức một đồng xu sấp, một đồng ngửa. Thầy bảo: - Được rồi! Cả nhà thở phào nhẹ nhõm cả người, các cụ linh thiêng thật!

Đến khi mãn tuần cúng khấn gia tiên, thầy bảo con cháu đốt vàng mã, quần áo giấy cho các cụ. Ngọn lửa bùng bùng cháy lên. Trong đám con cháu có người nói vui: “Mời các cụ nhận lấy, ai chậm là không nhận được đâu!”. Mấy người lớn tuổi bảo: “Chớ nói vậy, chỗ nào cũng đùa được đấy à?”. Thế là tự nhiên thầy vật vã, miệng lảm nhảm, hồn cụ nhập vào bắt đầu kể lể, nói là không nhận được gì cả. Con cháu càng hoảng sợ chắp tay hướng lên bàn thờ khấn vái cho vong linh về mà nhận. Một lát sau thầy mới tỉnh lại, tiếp tục khấn vái cho gia chủ. Hoá ra tại mấy câu nói phạm thượng mà các cụ giận không thèm nhận nên phải kêu cầu mới xong!

Câu chuyện có thật mà như thần thoại. Có lẽ chẳng thần linh hay cụ nào cho hay không cho đồng xu sấp ngửa, mà xem âm dương để làm gì? Chân thật không biết điều chỉnh thì mấy lần keng đồng xu vẫn chưa sấp ngửa, nhưng trong nhiều lần keng cũng sẽ có lần đồng xu sấp ngửa, là xác xuất bình thường. Chưa nói đến mánh của thầy chuyên nghiệp, linh thiêng hoá lên, ma quái hoá ra, dùng ngón tay điều chỉnh cho đồng xu sấp ngửa mà ra thế. Rồi thầy nhanh trí lợi dụng sơ suất của gia chủ để các cụ “nhập vào” cho huyền diệu thêm lên. Chuyện hay thì vui vẻ mà ăn uống, còn nếu thầy phán hoặc nhập hồn, dù có thể có khả năng ngoại cảm mà nói ra điều gì, lợi chẳng thấy đâu lại sinh nghĩ suy, day dứt.

Chỉ là việc keng hai đồng xu mà quy cho dịch lý, tâm linh, trời đất, thánh thần ứng vào động tác hữu hình mang đầy may rủi. Người ta vẫn cho rằng là lẽ nhân sinh, tìm ở đó đôi điều ước mơ, khát vọng. Cho dù chẳng có thần linh nào đứng ngắm và điều khiển cho mấy đồng xu sấp ngửa, nhưng nó thành thói quen của di thức tinh thần của những người nghĩ về lối cổ. Còn nhịp sống hiện đại ngày nay mấy ai còn chiêm tưởng việc xin âm dương, mơ ước siêu hình.

Theo tác giả Bùi Biên Hoà trong “Khám phá quy luật thời gian” thì đây là “phương pháp ngẫu nhiên”. Người ta dùng 3 đồng tiền gieo để tính quẻ Dịch. Kết quả sẽ được tính thành nội quái, ngoại quái của “Dụng” và “Thể”, rồi căn cứ vào đó mà suy đoán cát hung cho đương sự.

Đốt vàng mã

“Trần sao âm vậy” các thầy bảo thế. Cúng bái gia tiên phải mua cho đầy đủ quần áo, ngựa xe, kể cả con voi to như thật, thời đại văn minh phải có xe máy, ôtô con, điện thoại 3G loại xịn, nhà lầu có bồn tắm, công trình vệ sinh ngồi bệt, tự hoại, cả máy tính nữa… Lẫn lộn cả kiểu cũ với mới tốn tiền triệu, có khi mấy chục triệu, cúng xong là con cháu khiêng ra đốt.

Vừa đốt hàng mã đám thanh niên vừa nói vui: “Các cụ nhà ta xưa có ai biết cưỡi voi, cỡi ngựa đâu, mà toàn người già yếu cưỡi đi làm gì ở dưới âm ty ấy nhỉ? Có ai biết đi xe máy mà dám sờ vào chứ chưa nói đến ngồi lên ngã lăn kềnh ra chấn thương sọ não lại phải chết lần nữa thì khổ! Các cụ xưa ai biết công trình vệ sinh hiện đại là gì, vào nhà tắm không biết mở vòi nước thế nào, mở phải nước nóng thì có mà bỏng rát tụt da. Bệ xí bệt thì đến người sống ở nông thôn có khi còn chưa biết sử dụng, cái tai xả nước ở cạnh bồn cũng không hiểu, vậy tốt nhất là các cụ chớ có đụng vào. Còn cái cục nho nhỏ cầm tay có số và màn hình kia chẳng biết là cái gì, để mặc con cháu vứt đi đâu thì vứt.” Chưa nói đến mánh khoé của thầy phối hợp với thợ làm hàng mã vẽ ra làm đủ thứ, một đồng một cốt phối hợp để lấy tiền.

Thế nên mới có chuyện, nhà nọ có bà vợ mê tín dị đoan cứ thích mua vàng mã cúng bái. Ông chồng thì rất ghét đồng bóng, vàng mã linh tinh. Ngày rằm tháng bảy xá tội vong nhân và ngày 23 tháng Chạp cúng Thổ công lên trời, bà vợ tính mua cho đủ vàng mã để cúng cho cẩn thận. Ông chồng không nghe, ông bảo: “Bà đi mua hai cái bánh chưng, hai khúc giò ngon mang về, chia làm hai, một để trên bàn thờ gia tiên, một để chỗ Thần tài, Thổ địa, rồi thắp hương theo tín ngưỡng, xong mang xuống mà ăn. Còn muốn thờ tiền thì lấy tiền thật bỏ lên, xong lấy mà tiêu. Thế là các cụ cũng được ăn, được tiêu của thật, tiền thật mà con cháu cũng được ăn bánh chưng, giò ngon, được tiêu tiền thật, thế có hay không. Việc gì mà mua vàng mã của giả, tốn tiền, không thực tế và chỉ béo cho người thất nghiệp, không biết làm gì, khéo nghĩ ra làm vàng mã để kiếm sống.”. Biết tính ông kiên quyết, nóng nảy, bà vợ đành vui vẻ làm theo ông bảo. Thế rồi mọi việc cũng xong, công việc, làm ăn vẫn bình thường, gia đình vẫn vui, vẫn tốt như mọi gia đình khác, có sao đâu.

Trong bài giảng giải của Hoà thượng Thích Thanh Từ, Viện chủ Thiền viện Thường Chiếu giảng cho Phật tử, trong sách “Tu là chuyển nghiệp”. Hoà thượng nói:

“Có người hỏi tôi:

- Con cháu vì thương cha mẹ, sau khi cha mẹ chết họ mua nhà, xe, giấy tiền vàng bạc thật nhiều đem đốt và cầu nguyện cho cha mẹ được hưởng. Như vậy cha mẹ có được hưởng không?

- Nếu con cháu đốt giấy tiền vàng bạc rồi cầu nguyện cho cha mẹ nhận, tôi e rằng ở tù chứ chẳng được hưởng. Tại sao? Vì mang vàng bạc giả xuống Diêm Vương xài là bất hợp pháp. Nếu đốt nhà lầu xe hơi, cầu cho thân nhân nhận để ở và đi. Theo tôi, nếu ai làm như vậy là hại thân nhân của mình. Vì nếu họ nhận được là họ có nhà lầu để ở, có xe hơi để đi, có tiền bạc để xài, đủ tiện nghi quá thì họ sẽ ở mãi trong cõi âm ty, không đi đầu thai. Đó là trường hợp thân nhân của mình trong sinh tiền chút ít phước lành. Còn nếu là kẻ có tội thì chết đoạ địa ngục bị giam nhốt hành hạ, làm sao mà nhận lãnh tiền bạc, nhà, xe để xài? Đó là chưa nói đến nhà xe, tiền bạc bị đốt thành tro thì làm sao dùng được? Thật là vô lý!”

Vì vậy, có người khi cúng giỗ gia tiên chỉ với lòng thành, đơn giản, đốt nén nhang vái lên tổ tiên, đến khi hết tuần nhang vái xin phép các cụ, rồi con cháu cùng nhau ăn uống vui vẻ. Tưởng nhớ đến tổ tiên để con cháu đoàn kết là tốt rồi. Không cúng lễ dài dòng, không chuông mõ ầm ĩ xóm làng, không xin âm dương, đốt vàng mã vừa mất thời gian, sinh lo nghĩ vừa tốn tiền của, con cháu bất đồng làm cho các cụ buồn thêm. Tiền của để chăm nuôi các cháu khoẻ, mua sách vở cho các cháu học hành thông minh, tử tế thì các cụ mới vui.

Thần thánh, ma quỷ vào nhà

Trong một nhà cũng có hai phe. Ông bố là người theo kiểu cổ, rất sùng cúng bái, bày ra chuông mõ, tế lễ quanh năm. Anh con cả thì không tin cái gì, cho là mê tín, có đi chùa, đền, lễ hội cũng chỉ tham quan, thắp nén hương tín ngưỡng chân thành, còn chị vợ thì suốt ngày cầu cúng, đèn nhang. Người anh trai thứ cứ cho là số mình khổ, hơi tý là mời thầy cúng bái yểm bùa, trong khi đó thì cô em gái chẳng quan tâm cái gì, cứ vô tư buôn bán, lúc nào nét mặt cũng tươi như hoa nở. Chú em rể theo Công giáo không hương khói bàn thờ, cô vợ lại theo đạo Phật, thờ cúng tại nhà không đến nhà thờ cầu kinh, làm phép. Hai vợ chồng cậu cháu đích tôn đều không mê tín dị đoan. Hai vợ chồng chú em út thì vàng mã vào đền, chùa, khói hương nghi ngút.

Chỉ một gia đình nho nhỏ đã nhiều quan niệm khác nhau, vẫn đương nhiên tồn tại, ai thích gì cứ thế mà làm, không ai bài bác, bắt ép ai, cả nhà vui khoẻ, thoải mái, vô tư.

Đến hôm nhà có giỗ mẹ. Cha con, ông cháu hội tụ về đông. Ông bố bảo nhân dịp lập đàn dâng sao, giải hạn cho cả nhà năm nay tai qua, nạn khỏi, làm ăn phát đạt, may mắn, yên bình. Cô em đi xa về nói, hay mơ thấy mẹ thế là khóc hu hu, bảo phải đi mua đầy đủ áo quần, vàng mã cúng rồi đốt cho mẹ có mà dùng. Bà chị hai thì bảo phải mua hình nhân mà chém cho ma tà chạy xa, đỡ quấy nhiễu mà sinh trộm cắp. Chú em nói, hôm nay ông cúng kỹ cả Phật, Thánh, cụ Tổ mấy đời bằng mũ mã, tiền vàng âm phủ, đến chúng sinh bằng cháo hoa, bỏng nổ.

Ông anh cả thấy thế nói vui: “Thế hôm nay, tất cả thần thánh, tổ tiên, chúng sinh, ma quỷ vào cả nhà mình à!”. Cô em gái bảo: “Anh chỉ bài bác, khéo mà phải tội!” Thằng cháu rể nói: “Tất cả là ở lòng thành thôi, chứ đừng mê tín.” Cô em dâu tỏ ra chẳng quan tâm mê tín hay không, bảo chỉ nấu cơm nấu nước cho thật dẻo, thật ngon. Chị dâu bảo: “Các cụ hướng về tín ngưỡng cho thoải mái khoẻ mạnh, con cháu đỡ lo. Việc cầu cúng là việc của người cầu cúng. Bọn trộm cắp bất lương, thì có cúng Giời, nó vẫn cứ trộm cướp, bất lương.” Thằng cháu ngoại làm ăn thành đạt ở xa về cũng góp vui cho câu chuyện: “Cầu cúng mà được thì đã chẳng phải lo nghĩ, làm ăn, đã không tai hoạ, ốm đau đi viện.” Mỗi người một câu, chuyện đang vui rôm rả, ông bố gọi cả nhà vào ngồi chắp tay để còn cầu cúng, đọc sớ, dâng lễ gia tiên phù hộ cho con, cháu. Anh cả thì bảo, ngồi thế đau chân, nên cũng chẳng ngồi.

Sau mấy bài tế lễ, xin được âm dương, ông bảo con cháu đốt vàng mã, xin phép tổ tiên, rồi cùng nhau ăn uống vui vẻ, thuận hoà. Người hỏi thăm nhau, trò chuyện, người tặng vải, tặng quà, người cho tiền, cho sách, hẹn sang năm lại về gặp nhau để cùng giỗ mẹ, giỗ bà.

Thế mới hay, mọi thứ tự do, ai thích cứ làm, mỗi thế hệ một khác, mỗi con người suy nghĩ khác nhau, nhưng không quá mê tín dị đoan, cái đích chung là tình cảm yêu thương, cả nhà đoàn kết, đừng để thành những chuyện bi hài.

Giờ tốt, ngày kiêng

Ông là người hay đọc sách, nghiên cứu đủ loại đông tây, kim cổ, nên vốn hiểu biết của ông cũng kha khá. Cả một thời trai trẻ, ngoài công việc, ông dành rất nhiều thời gian cho sách. Đêm đêm ông thường thức rất khuya chong đèn xem và tra cứu sách. Ông đọc rất kỹ, thậm chí còn lấy bút chì hay bút bi màu đỏ đánh dấu bên lề hoặc gạch dưới chân những dòng, những đoạn, những trang cần chú ý. Qua hàng ngàn trang sách, ông đều có thói quen như vậy, nên những cuốn sách ông giữ gìn cho đến về hưu vẫn còn nguyên dấu vết. Ai mở những cuốn sách trong tủ sách của ông đều không khỏi ngạc nhiên thấy quyển nào cũng được ông đánh ghi đánh dấu như thế. Hỏi ông, ông bảo: Khi đọc thì chú ý đánh dấu cái gì quan trọng, để sau này có cần chỉ cần giở lại chỗ đó, chứ làm sao có thời gian mà đọc lại cả cuốn sách nữa. Thế nên từ ngày về hưu, khi viết cái gì là ông nhớ lại cuốn sách nào đó cần cho công việc thì cứ thế giở ra, đến chỗ đã đánh dấu mà lấy tư liệu.

Để tâm và kỳ công về sách vở nên ông có một số kiến thức về mọi lĩnh vực, kể cả học thuyết phương Đông, xem ngày, xem giờ, tử vi, chiêm đoán, đủ cả. Thấy ông có khả năng như vậy, nhiều người đến nhờ xem ngày, giờ, lập lá số Tử vi, luận cát hung Phong Thủy.

Ông bảo: “Chuyện của ngày xưa, gọi là tinh hoa văn hoá cũng được. Bảo nó là di sản trí tuệ ngàn năm, khảo cứu, bảo tồn để trân trọng vốn quý người xưa cũng được. Ngày nay, thế giới đã và đang đổi thay như vũ bão. Qua một ngày, khoa học kỹ thuật thông minh lại đưa con người đến một thế giới khác thì vốn cổ xưa, chỉ còn dùng tham khảo để biết thôi. Nền văn minh hiện đại với vận tốc phi thường không còn thích hợp với kiểu mũ cao, áo dài, ngồi với bút nghiên nghiền ngẫm mấy trang chữ Nho mà suy đoán trên trời mây, trăng gió. Mọi cái đã được minh chứng bằng khoa học làm sáng tỏ cả rồi, có chăng chỉ tìm về xưa cũ để chiêm nghiệm mà thôi.”

Thế cho nên, một hôm có anh bạn trẻ làm nghề lái xe tải vận chuyển hàng thuê, đến nhờ ông xem ngày giờ xuất phát. Nghe anh nói muốn ông xem cho 14 giờ chiều ngày mai xem có tốt không? Ông hỏi: - Có người bảo cháu 14 giờ chiều mai đến chở hàng à? Anh bảo: - Vâng! Ông liền bảo: - Đấy, đấy, giờ ấy tốt đấy, đi ngay mà chở hàng cho người ta, mà kiếm tiền nuôi con ăn học! Anh cảm ơn, rồi về. Đúng 14 giờ chiều ngày mai anh đi chở hàng để người chủ giao hàng cho kịp. Mấy hôm sau, gặp lại anh lái xe, ông hỏi: - Hôm trước đi chở hàng có thuận lợi, tốt không? Anh lái xe vui mừng ra mặt nói: - Cảm ơn chú, hôm ấy đến đúng giờ, chở kịp cho chủ hàng, phấn khởi lắm ạ. Ông liền mỉm cười bảo: - Đấy nhé, hôm ấy mà bảo cháu, giờ hắc đạo, vãng vong, triệt lộ, không nên đi, người ta thuê luôn người khác thì mất toi mấy chuyến chở hàng, không được tiền tiêu cho con đi học không? Thế là cả ông và anh lái xe cùng cười vui, sảng khoái.

Ông có việc phải đi Hà Nội. Ông liền tính, học sinh, sinh viên về nghỉ cuối tuần rồi đi vào chiều Chủ nhật và sáng thứ Hai, nên rất đông, không nên đi để dành chỗ cho các cháu. Mà mình nghỉ hưu rồi, việc lại không gấp lắm, đi lúc nào mà chả được. Thế rồi ông chọn đi vào ngày 7 hoặc ngày 3, hay tam nương, nguyệt kỵ. Gặp đàn bà, cô gái, ông vẫn đi, chẳng kiêng gì. Quả nhiên, người ta mê tín, sợ hãi chẳng mấy người đi. Thế là ông đứng chờ ở ven đường, được nhà xe chèo kéo, mời lên xếp vào chỗ ngồi tử tế. Xe ít người, rộng thênh thang, mỗi người một ghế dài. Ngồi chán, ông ngả lưng làm một giấc, gần tới nơi mới ngồi dậy, xuống xe. Đúng là, những ngày kiêng vô căn cứ mà mình cứ đi thật là sung sướng.

Cứ nghĩ theo kiểu cổ xưa, chắc máy bay, tàu hoả trên thế giới, đều phải ngừng bay, ngừng chạy để chọn giờ cất cánh, xuất hành thì có mà hỏng việc. Chỉ có ngày mưa, ngày nắng, thời tiết nóng lạnh, bão giông, ngày thời vụ, ngày nông nhàn, mùa thi, mùa đi học, chứ làm gì có ngày xấu, giờ kiêng!

Ông cụ thuộc lớp người của đầu thế kỷ trước, nhuốm phong kiến, Nho giáo vào người, cho đến bây giờ đã ngót thế kỷ mà rất ít thay đổi. Cụ lại làm nghề thầy cúng nên càng cổ hủ, mê tín, duy tâm. Tuổi già, lão hoá, mắt kém khó nhìn, phải đi khám, bác sĩ chỉ định cho mổ Phaco, thay thủy tinh thể để cải thiện tầm nhìn. Đến dịp có đoàn giáo sư, tiến sĩ từ bệnh viện Trung ương về, cụ được cùng đợt với các bệnh nhân mổ thay thủy tinh mắt phải. Chăm sóc giữ gìn, một tuần sau, bỏ băng, cụ sung sướng vì mắt sáng trưng không kém gì thời trai trẻ. Đến kỳ hẹn sau, bác sĩ gọi điện thoại mời cụ lên mổ tiếp mắt trái để cho hai mắt cân bằng và tránh để quá ra, có mổ cũng không đảm bảo.

Thế nhưng, tháng 7 âm lịch, đúng mùa Lễ Vu Lan, xá tội vong nhân, mọi người đến đăng ký kín lịch mời cụ đến nhà cúng bái. Lại nghĩ đến tháng 7 “nước mắt nàng Ngâu” tính hay duy tâm, cụ quyết định kiêng, không đi mổ mắt. Thế là thủ tục xét nghiệm, vào viện đã xong cụ cũng không cần, đã bỏ là bỏ! Những người cùng đợt mổ với cụ, chẳng kiêng ngày giờ gì, vẫn đến bệnh viện để tiến hành mổ mắt, ít ngày sau họ đều vui mừng vì có cả đôi mắt sáng trong. Còn cụ, nửa tháng sau, mắt chưa mổ cứ thấy kèm nhèm, nhìn xa không rõ. Cụ kêu con cháu đến, than phiền, khó chịu lắm và đòi đi khám mắt để tiếp tục thay nốt thủy tinh. Đúng là không cái khổ nào giống cái khổ nào cho con cháu, lại phải tính chuyện đưa cụ đi nói khó với bác sĩ để được chờ mổ mắt lần sau. Mê tín duy tâm gây ra những phiền phức, lôi thôi không đáng có.

Còn rất nhiều chuyện bi hài, dở khóc, dở cười chỉ vì chọn ngày tốt, tránh ngày kiêng, mê tín, duy tâm vô lối, rất rắc rối, phiền phức, lôi thôi mà những người tiến bộ ở xã hội ngày nay không thể nào chấp nhận được.

Xem ngày làm nhà

Xưa nay người ta coi việc làm nhà là rất hệ trọng. Mà đúng thế thật, người bình thường bóp chắt cả đời may ra mới làm được ngôi nhà nhỏ. Một trong ba việc lớn ở đời: Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà, thì phải chịu khó làm ăn rồi mới cưới vợ, rồi vợ chồng chung tay đấu cật lam lũ mới có điều kiện làm nhà.

Khi làm nhà người ta lại tin vào lối cổ, định phong thủy, tìm cát hung để động thổ, khai móng, đổ trần, lợp mái, cầu cúng thần linh, thổ địa cho được yên lành. Nhiều sự lôi thôi đến là sốt ruột. Đi xem xét, mời thầy, biện lễ, chạy ngược, chạy xuôi. Không làm thì không yên tâm, làm thì chẳng biết thế nào, nhưng rất mệt mỏi. Đến nơi này nơi khác, lo vật liệu, vay tiền, ra thu vào dọn, vất vả, lo nghĩ ngày đêm, cơm không kịp ăn, ngủ không đẫy giấc nghĩ đến tiền nong, thời tiết, mong sao cho an toàn và nhanh chóng có nhà mà ở. Trăm thứ lo âu đổ lên đầu gia chủ, ăn ngủ không tốt làm gì chả ốm, có khi tinh thần không được tỉnh táo còn sinh tai nạn. Thế là đổ tất cho tại việc làm nhà. Người ta bảo, làm nhà phải cầu cúng cho cẩn thận, không thì hay ốm đau, tai hoạ, quả là linh nghiệm!

Làm nhà cho khang trang, tốt đẹp mà ở, thần thánh, tổ tiên ai chẳng vui mừng thì sao lại hại. Đụng vào đất đai, cải tạo cho văn minh, Thần linh nào cũng ủng hộ, thế mà dám dựng lên bảo Ngài phật ý hại mình? Vậy quả bom do tên giặc lái máy bay bỏ xuống, nổ tung cả đất đai, nhà cửa, bàn thờ, long mạch, chết người, thì chẳng thấy Bát quái xua đuổi tà đi, cũng chẳng thấy thần linh nào bay lên vặn cổ tên giặc phi công cho nó chết tươi, khỏi bỏ bom phá hoại đất cát, long mạch, đền chùa. Đúng là những sự hoang đường, hão huyền núp bóng tâm linh làm sao chúng ta không nhận biết.

Xem ngày Hoàng đạo lại mưa phùn nhếch nhác, rét mướt cắt da, làm gì cũng khổ. Làm móng nhà nhớ để hở nền cho thoát khí, thông hơi. Nâng nền nhà còn phải dỡ ngói nóc ra cho âm dương giao hoà, không thì độc lắm. Nhưng khi lát gạch men cho đẹp nền nhà lại bịt kín đi, thành vô tích sự. Nghĩ kỹ lại thấy rất hay, nhỡ dưới đất có loại hoá chất nào bốc lên, cứ theo lỗ thoát lên vào nhà thật là khốn khổ. Nền gạch men vừa sáng vừa mát, sướng hơn nền nhà đất cổ xưa nhiều. Nhà chung cư cao mấy chục tầng, ở mãi tít trên không làm gì có thông hơi, thoát khí từ dưới đất lên, mà khí trời thật mát, ở đấy ai mà chả sướng. Đổ trần xem giờ, lợp mái, khánh thành, mời thầy cầu cúng, bốc bát hương rõ kỹ, ở được ít lâu vợ chồng cãi nhau, ra toà ly dị.

Thế nên có ông chẳng tin cái gì cổ hủ, cứ nghe Đài đưa dự báo của Nha khí tựơng thời tiết tạnh nắng, đẹp trời là bảo thợ đến làm. Đến ngày lợp mái tôn, mấy anh thợ trẻ hỏi: “Bác đã xem ngày giờ chưa?”. Ông vui vẻ bảo: “ Hôm nay ngày đang đẹp, cứ làm đi, thế là tốt đấy. Chứ đi nhờ các thầy xem, thế nào cũng bảo thế này thế nọ mà thêm rắc rối, hỏng việc”. Đúng là ông không xem gì, cứ xong đến đâu, thời tiết tốt là làm tiếp. Vui vẻ, động viên, bồi dưỡng luôn luôn cho anh em thợ, họ nhiệt tình làm vừa tốt, vừa vui.

Nhà làm xong, ông đi mua bát hương về, chẳng phải đốt rơm lấy tro, mà lấy ít cát rửa sạch, phơi khô cho vào để cắm hương cho chắc, chẳng có “Thất bảo”, tiền nong gì bỏ vào bát hương, xong để lên chính giữa bàn thờ. Ông bảo con cháu mang xôi, gà, cơm canh đặt lên kính cẩn gia tiên. Chẳng vàng mã, bùa phép gì cả, cứ thế ông thắp nén hương với lòng thành tín ngưỡng. Hết tuần hương, ông vái gia tiên xin phép rồi nói con cháu mang xuống, cả nhà xum họp vui vẻ cùng ăn. Ông bảo: Chẳng phải mời thầy cúng bái, khỏi rắc rối. Nhà mình làm mình ở, mời người khác đến kêu cầu nguyện vọng cho mình là không thành thật.

Ông cũng chẳng nghe theo mấy thầy cúng, không treo Bát quái, không dán bùa trấn trạch, cho nó vô tư, đỡ phải nghĩ ngợi, sống thoải mái cuộc đời. Ông bảo: Hôm nào đi tìm cái “Hào quang vũ trụ” về làm thêm bát quái nhỏ dán vào giữa, rồi treo lên giữa bàn thờ, cắm điện vào toả hào quang cho đẹp.

Đúng là ông không theo tôn giáo nào và cũng không cần ai xem theo phong thủy cổ xưa, cứ biết thiết kế thoáng mát, đẹp, vừa ý, lại hiện đại còn hay hơn nhiều cái gọi là phong thủy rởm, có khi làm bực mình sinh ra khó ở, bức bối, cãi nhau.

Cũng là thợ vẽ nên xong căn nhà mới, tự tay ông trang trí gọn, đẹp, chỗ nào cũng thấy hợp lý, vừa lòng, cả nhà vào ở vui vẻ, khoẻ mạnh, bình an. Ông bảo: “Có tuổi rồi, chiến tranh, trận mạc đã từng trải cả, bước chân đi khắp cuối đất cùng trời, giờ về nghỉ theo chế độ nhà nước, khoẻ lúc nào vui lúc ấy, động viên, giáo dục, giúp đỡ con cháu làm ăn, học hành tử tế, ốm đau thì đi bệnh viện, già quá thì thanh thản đi về với tổ tiên theo đường hoả táng đỡ phiền cho con cháu mai sau, thế thôi. Giăng mắc vào mê tín dị đoan, nghe thầy này, người mệnh danh nghiên cứu nọ chỉ thêm rách việc, không yên đâu. Cái cổ ấy là chuyện xa xưa lắm rồi, tôi đã đọc các loại sách ấy, để biết là gì. Xã hội ngày nay văn minh lắm, mọi việc đã có các ngành khoa học hiện đại tính toán giúp, sao lại mơ hồ mê của cổ ấy mãi. Tín ngưỡng tốt đẹp đâu phải mê tín dị đoan. Khối người có học, kỹ sư, bác sĩ, sinh viên mà mê tín, cúng bái xì xụp lạ lắm. Cái khổ là sự ăn sâu, bén rễ không sao dứt ra được di thức tinh thần hàng ngàn năm bị đô hộ bằng thứ văn hoá dạ vâng, sợ hãi, khoanh tay. Đó là thứ xâm lăng đô hộ, đầu độc, ngu dân để sai khiến, kìm hãm lòng tự tin, vượt lên, giải phóng và cải tạo xã hội văn minh. Buồn cười thay, cứ theo cổ hủ, ấy thế mà mọi người bây giờ đều dùng đồ văn minh cả đấy thôi.“

Ông còn nói: “Thời các cụ thì không thể khác, đó là tâm thức tâm linh, cứ làm như ý muốn các cụ cho mọi sự yên vui, anh em có làm sao không đổ cho do thế này thế nọ, thiên hạ khỏi dị nghị lắm điều”. Nhưng đến đời ông, ông bảo con cháu: “Chủ yếu là khi còn sống với nhau, đối xử cho tử tế, kể cả sinh nhật làm cái gì cả nhà, con cháu xum họp là hay nhất. Còn khi ốm đau, lão hoá thì làm di chúc hiến xác cho khoa học ngành y. Đến lúc nào đó đem đi điện táng, không cần để lại lọ than gio làm gì cho con cháu sợ hãi và phải lo xem đất đai, đào bới xây mộ, có khi còn sinh ra mâu thuẫn cãi nhau”. Cũng chẳng phải xây mồ, đắp mả, không tạc bia, khắc hình để ở tha ma, nghĩa địa làm gì. Bởi theo ông, ai mà chả về với cát bụi, lâu năm đều hoà vào với đất. Kể cả di ảnh, ông bảo nên để trong Album, hoặc treo ở tường nhà, hoặc dán vào gia phả, ai muốn xem lại thì xem. Chứ không đem ảnh vào ban thờ, khói hương nghi ngút, lâu ngày ám khói đen cả mặt mũi chẳng nhìn ra gì, trông vào huyền ảo, con cháu càng thấy thương thương, sờ sợ. Bốn năm đời sau cháu chắt, chút chít chẳng biết là ai. Mà cứ mỗi người một ảnh thì nhiều người chết đi lấy đâu chỗ trên bàn thờ mà để. Dù ai cho là không phải, vì tâm linh, tín ngưỡng, ân tình, còn với ông, ông cho như thế lại là hay nhất.

Thế ra cứ quên đi kiểu sính cổ và theo khoa học thời hiện đại mà làm có hay không. Làm theo cổ, khi xảy ra chuyện gì lại đổ tội cho do ứng dụng kiểu cổ mà thế, thật là quả báo cho cổ, vậy thì làm theo để làm gì? Ai chả biết tinh hoa truyền thống tốt đẹp là gì, mà phải giáo huấn suông, không thực tế? Thời nào có văn hoá của thời ấy. Văn hoá ở thời đã cách xa hàng nghìn năm mượn của người khác, chỉ nên tham khảo, chắt lọc. Mò mẫm những thứ ấy rất mất thời gian, rồi vẫn sống hàng ngày trong văn minh hiện tại. Ngày nay, nhiều thứ cần nghiên cứu ứng dụng thiết thực, vi tính, di động, Internet… hấp dẫn hơn nhiều. Văn hoá thời văn minh phải là đời sống hiểu biết, hiện đại cho tinh thần thoải mái, thăng hoa.

Chạm vào long mạch

Địa phương có kế hoạch vét một đoạn sông cho thông dòng chảy, kè bờ đá chắc chắn để phục vụ đời sống dân sinh. Vừa là quy hoạch thủy lợi tưới tiêu đồng ruộng vừa thoát nước bẩn từ mọi công trình vệ sinh hiện đại và các loại sinh hoạt thải ra.

Đây là đoạn sông hàng năm thường diễn ra bơi trải vào mùa lễ hội của chùa làng. Nhưng do mê tín dị đoan, một số người ở xóm gần chùa bảo phải đi xem rồi hãy động thổ, vét sông. Thế là mấy người đại diện kéo nhau đến nhờ thầy bấm tính giúp. Thầy vốn học được một ít chữ Nho và quan trọng hoá lên liền giở sách ra bấm bấm, tính tính rồi phán rằng: “Để tránh chạm vào chỗ “động”, phải cúng an vị long mạch, xin phép thần linh, thổ địa thì mới làm được”. Hỏi thầy lo liệu mất bao nhiêu và làm những gì. Thầy bảo tất cả mọi khoản khoảng hơn 100 triệu!

Chương trình quyên góp bắt đầu, cả xóm ai cũng lo sợ nên tự nguyện cùng nhau đóng góp. Hoàn cảnh đâu phải ai cũng khá giả, nên có thế nào xin nộp theo chia đầu, bổ khẩu, mỗi nhà vài trăm ngàn đồng. Người nào kinh tế khá thì tình nguyện nộp nhiều hơn. Ai không tin cũng phải tuân theo lệ xóm, lệ làng, đi vay đi mượn mà đóng góp. Người nào vừa duy tâm, lo sợ vừa bệnh “sĩ” hăng lên mong cho phúc lộc vào nhà mình nhiều hơn người khác thì cúng thêm vài triệu. Xóm ít nhân khẩu, kinh tế khó khăn, kể cả người hảo tâm góp vào chỉ được khoảng 40 triệu.

Thế rồi cũng lễ lạt, vàng mã đầy đủ, mọi người kéo nhau lên chùa chuông mõ cầu an đến nửa ngày, lại được phát cho tờ giấy in “Bùa trấn trạch” mang về mà đốt. Cả xóm hỉ hả, yên tâm, công ty thầu dự án cứ thế mà đào mà vét. Chả mấy ngày con sông được chỉnh chu thật đẹp. Nhưng cũng có người nghĩ suy chẳng vui về chuyện long mạch hoang đường .

Lịch sử nhà Phật là từ bi, cứu khổ, cứu nạn, đâu có cầu cúng, trấn yểm phong thủy bao giờ. Mà chuyện đào sông, vét mương, khơi thông dòng chảy cho thủy lợi thuận tiện, nguồn nước lưu thông sạch sẽ là chuyện bình thường, sao lại đổ cho long mạch cổ xưa làm cho dân lành mê tín dị đoan lại thêm tốn kém. Mấy ông bức xúc, bực mình bảo: Thời đại ngày nay mà còn cổ hủ. Vẽ ra thế thôi, cho thêm huyền bí, chứ làm gì có long mạch, huyệt đạo gì đâu!

Đào cả làng lên

Nghe tin đồn ở huyện bên có nhà “ngoại cảm” nói hay, chỉ đúng lắm. Đang yên đang lành dân chúng làng nọ rỉ tai nhau lục tục khăn gói mang lễ lên đường đến “cô ” ngoại cảm xem có “động” gì không? Một bà được “cô ” phán rằng: “Nhà vừa xây một cái gì lên trên xương cốt đấy, về mà mang đi chỗ khác, không thì không ổn đâu!”. Bà ngẫm nghĩ mãi chỉ có công trình vệ sinh xây vài năm nay là mới nhất thôi, không lẽ đang yên mà thế? Bà càng lo sợ, sắm lễ và nhờ người lập tức phá đi, rồi đào sâu xuống đất, mãi chẳng thấy xương xẩu gì, bà bảo người lấp lại. Thế là mất toi công lao góp nhặt bao năm mới đủ tiền xây công trình vệ sinh hiện đại, lại mang thêm nỗi bực vào người, từ nay biết lấy gì mà làm lại được!

Một anh đã ngoại tứ tuần chưa lấy được vợ. Buồn bực quá, anh mang lễ đến nhờ “cô” chỉ bảo. Cô nói rằng: “Nhà anh có người con gái trẻ nằm dưới góc phía Đông nền nhà nên hãm duyên đấy. Anh phải chuyển cô ấy đi, mới may ra đứng số!”. Anh về mời thầy thắp hương cầu cúng và nhờ anh em theo “cô ” chỉ dẫn từ xa đào xuống chân tường. Đào đã khá sâu cũng chẳng thấy hài cốt của người mà chỉ thấy vài mẩu nhỏ, chắc là xương gà, xương chó nên đành lấp lại.

Một thời gian sau, anh lấy được một cô vợ trẻ. Ở với nhau vừa được một tháng, vợ chồng sinh mâu thuẫn cãi nhau, anh tát vợ một cái. Hôm sau người vợ đùng đùng khăn gói bỏ nhà đi mất. Lần mò dò hỏi, thư từ, điện thoại, cô vợ mất tăm mất tích cũng không trả lời. Anh càng lo nghĩ cho rằng ngôi nhà này không ở được và đem bán rẻ cho người hàng xóm bên cạnh. Thế là anh phải đi ở nhờ, mãi sau này mới mua được mảnh đất ở rìa làng dựng lên mái nhà đơn sơ để ở. Còn anh hàng xóm mua thêm được nhà, thêm đất rộng ra, ông chủ cũ xây kiên cố, bán rẻ, hàng ngày ăn ở ung dung, mát mẻ, thật là rõ sướng.

Rồi trong làng nhiều người cũng nhờ “cô ” xem mà đào bới lung tung mồ mả, đất đai những mong tìm thấy may rủi, cát hung. Riêng có bà T. gia đình còn mấy nấm mộ do di chuyển đất đai đã lâu không tìm thấy. Người nhà tự nhiên đi xem hộ bà, về bảo: “Cô nói mộ còn đấy, nhưng bảo vợ chồng bà đến mới xem được”. Nghe thế, bà xua tay nói: “Thôi, thôi, xem xét làm gì, rắc rối. Nhỡ tìm chả thấy sinh ra lo nghĩ và chẳng may vào mộ người khác mà thêm rách việc, lại phải lo chôn cất cho người ta. Tự nhiên đào mồ mả ông cha họ thì con cháu họ để yên à, có làm sao lại chết với người ta. Đã thế thì cứ để như thế có sao đâu, con cháu mình đang yên lành, đụng vào biết đâu lại khổ”.

Câu chuyện cả thôn đào làng thành chuyện để đời, hài hước về nạn mê tín dị đoan.

Giãy đành đạch

Bà mẹ anh T năm nay 80 tuổi rồi. Vốn là người yêu văn nghệ, khi còn thanh niên bà rất hay hát và hát rất hay. Chỗ nào có hội nghị, đám cưới là bà góp vui ngay bằng hát chèo, ngâm thơ, tình ca, quan họ. Tính tình bà vui tươi, xởi lởi, đi đến đâu bà cũng ví von bằng ca dao, tục ngữ, ai cũng dễ gần. Thế mà gần đây bà trở nên ít nói, tính tình trầm hẳn, có lúc rất buồn. Rồi bỗng nhiên có khi bà khóc lăn ra nhà dãy lên đành đạch. Nhiều hôm người đi qua thấy bà nằm xoài, đầu ra ngoài cửa, chân xuôi vào trong nhà, bà còn bảo muốn tự tử chết đi cho xong! Người thì bảo hay là động chạm đất đai, mồ mả, có phải cầu cúng gì không. Con cháu thấy vậy hoảng sợ, cắt cử nhau trông nom, khuyên bảo, lo bà bị thần kinh hoặc đề phòng có mệnh hệ gì thì khổ.

Tìm hiểu nguyên nhân thì ra vừa qua nhà nước có chính sách cho người đủ 80 tuổi là được cấp sổ, hàng tháng lĩnh tiền trợ cấp người cao tuổi. Vì trước kia khai giấy tờ làm chứng minh thư, không biết vì lý do gì bà bị rút đi 3 tuổi nên không được. Con cháu ra Ủy ban xã hỏi xem có làm lại được không, cán bộ có trách nhiệm nói vì theo chứng minh thư thì khó lắm. Thế là đêm ngày bà không ăn, không ngủ, suy nghĩ ức chế thần kinh mà thành như vậy. Con cháu đành động viên bà, khi nào đủ tuổi theo giấy tờ rồi sẽ được. Phải đến hàng tháng sau, bà mới nguôi ngoai, nhưng trận chấn thương thần kinh vẫn còn dai dẳng phải từ từ mới có thể dần dần ổn định. Thế mới biết suy nghĩ, ức chế thần kinh gây nên hậu quả tai hại thế nào, cứ như mê tín cho rằng thần linh, ma quỷ hành vậy!

Mọi việc ở đời rất cần bình tĩnh, xem xét mà giải quyết và động viên cho tinh thần thanh thản, cần thiết thì thuốc men, chứ cầu cúng làm sao mà khỏi được. Mà người ưa cầu cúng thì có thể làm để giải phóng cho tâm thần yên ổn, coi như là liệu pháp tâm lý cho họ mau khỏi mà thôi.

Cơm khê

Ông nghệ sĩ nọ rất nhiều tài, một hôm ngồi ăn cơm với mọi người. Nồi cơm hôm đó do để quên quá lửa mà khê cháy hết cả dưới đáy nồi. Khi lật lên tảng cơm cháy đen, có người nói đừng ăn cơm khê, học dốt đấy! Nhưng ông bảo: “Đưa đây tôi ăn cho, dốt là do lười học, lười làm, chứ đâu do cơm cháy. Cơm cháy chỉ khó ăn và ăn vào không tốt cho sức khoẻ mà nên bỏ thôi. Khối người ăn uống rõ ngon, rõ sướng thành tham ăn, béo phì và học thì dốt lắm, tay chân vụng về chẳng làm được cái gì ra hồn. Có người đi dép lốp, bữa no, bữa đói thế mà học hành thông minh, thành đạt, bảo vệ thành công học vị Tiến sĩ Báo chí truyền thông đấy.” Mọi người thấy ông nói đúng. Ông ăn uống bình thường, có khi lại thích ăn cơm cháy, thế mà cái gì ông cũng làm được, viết văn, thơ, viết báo, vẽ tranh, làm thầy thuốc đều có uy tín, lại sống tử tế, hay giúp người. Thế nên mọi sự đều tại con người khôn ngoan hay dốt nát, dại khờ mà thôi.

Trộm ảo

Trong khu ở tập thể công nhân hoặc ký túc xá sinh viên thường xuyên cứ thấy mất loại đồ trang phục oái oăm của phái nữ, khi thì cái quần lót, khi thì cái su chiêng không cánh mà bay. Hiện tượng kéo dài làm cho các bạn gái rất bức xúc, khó hiểu. Người cho rằng có ai đó cầm nhầm, người thì bảo chắc gió bay, người thì bực mình nghĩ phải có kẻ ăn cắp, mà không biết họ lấy toàn đồ của nợ ấy để làm gì mà nhiều người mất thế? Cho đến một hôm, bạn bè theo dõi, bất thần bắt quả tang một bạn nam vừa cuỗm được món đồ ấy của nữ đang cất vào va ly của mình. Thế là cuộc lật tẩy công khai, các bạn bèn bắt anh bạn kỳ quặc này mở ra xem, thì gần đầy va ly toàn đồ lót của phụ nữ mà từ trước đến giờ nhiều người mất mà chẳng muốn kêu. Mọi người tra hỏi thì anh bạn chẳng biết nói làm sao, cuối cùng chỉ lý nhí bảo là tự nhiên cứ thích làm như thế thôi chứ chẳng để làm gì. Người cho rằng anh này dở hơi, người bảo bị bệnh thần kinh, người bực lên mắng là ăn cắp, người thì nhẹ nhàng an ủi thôi chẳng đáng gì, của ai thì nhận lấy mà về đi, rút kinh nghiệm từ nay không nên thế. Anh bạn xấu hổ quá, xin lỗi mọi người và từ đấy không còn hiện tượng mất mát như xưa.

Đâu đó cũng xảy ra hiện tượng tương tự như vậy, nhưng có khi là loại đồ vật khác không đáng giá gì và người mắc tật có cả nam và nữ, làm cho mọi người bức xúc gọi là ăn cắp, cầm nhầm. Cho đến khi trên báo chí đăng tải về hiện tượng lý thú này, các nhà khoa học cho rằng đó là hội chứng tâm thần hoang tưởng ở một số ít người, họ chỉ thích về một cái gì đó chứ không phải là thuộc tính đạo đức, trộm cắp xấu xa.

Chiêm tinh gia

Chiêm tinh là gồm nhiều loại hình chiêm đoán cổ xưa, trong đó có tử vi, nhân tướng, bàn tay, triết tự.

Tử vi luận đoán đời người. Khôn ngoan, đức độ, tài năng, nham hiểm, độc ác, ngu đần, tai hoạ, chết người là Tử vi chỉ ra tất (!?). Cứ theo Tử vi thì ngày mai lên tiên, sung sướng, giàu có, ngày kia tai hoạ “chết bất đắc kỳ tử” là biết hết rồi, cứ thế mà chờ, mà chịu, khỏi lo!

Biết “Nhân tướng học” là biết người tai to mặt lớn, mặt vuông chữ Điền, vai rộng, mắt sáng là sang trọng, tướng làm quan. Nhìn vào đôi mắt thấy tâm tính người đức độ, hiền triết, tử tế; Hay trong đôi mắt kia ẩn chứa sự gian tham, thâm hiểm, ác hung. Con người hiện hình trước mặt ta như thế, còn con người đứng đằng sau kia thế nào? Nếu người đứng ẩn sau qua ánh mắt, nụ cười hiền lành đức độ như người hiện hình trước mặt là người có thể tin cậy, chơi được. Còn nhìn trong đôi mắt gian giảo, nụ cười thâm hiểm, mắt trắng dã, môi thâm, hàm răng sin sít của người đứng sau kia báo hiệu những dự kiện nghi ngờ không tốt lành thì cần đề phòng, cảnh giác, lánh xa. Đó là khoa học nhân tướng, là nội tâm hiện hình lên nét mặt. Vậy thì tại sao, trong lịch sử nhiều người tướng mạo bệ vệ, làm quan, thậm chí làm vua lại lâm vào hiểm nguy mà chết thảm khốc? Có người tướng mạo rất xấu hoặc dị tật lại là một tài năng như Bàng Thống thời Tam Quốc và nhà khoa học thiên văn Hawking ngày nay? Phải chăng hình hài cũng chưa hẳn nói lên tài năng bẩm sinh, công phu rèn luyện, học hành mà còn nhiều nhân tố để hình thành giá trị nhân bản và đặc biệt ở mỗi con người.

Cầm lấy bàn tay thấy dầy, ấm và chắc là bàn tay chăm chỉ làm ăn, có sức khoẻ tốt. Ngón tay thuôn, mềm là bàn tay thư sinh, yếu ớt. Các gò Kim tinh, Mộc tinh, Thổ tinh, Hoả tinh, Thủy tinh nổi lên là bàn tay làm ra và giữ của. Phần ngón tay dài hơn phần lòng bàn tay thì dự kiện “Con” lớn hơn dự kiện “Người”. Các làn rây trên bàn tay xuôi ra phía ngón là tốt, có các vạch cắt ngang là không suôn sẻ. Trên lòng bàn tay có các làn Sinh đạo chỉ về tuổi tác, sức khoẻ; Làn Trí đạo nói về tri thức, học hành; Làn Tâm đạo dự báo tình yêu, hạnh phúc; Làn Tài đạo báo hiệu công danh, nghề nghiệp cuộc đời. Các làn này càng rõ càng hay. Trên các làn có những vạch cắt ngang là gặp khó khăn, trở ngại. Các chấm đen, chấm đỏ trên các làn là những dấu hiệu may, rủi, tai hoạ, bệnh tật trong đời. Làn Sinh đạo dài và rõ là khoẻ mạnh, sống lâu. Làn Trí đạo rõ, sâu và dài là thông thái, học hành thành đạt. Làn Tâm đạo rõ, dài là tình yêu hạnh phúc trong sáng, dài lâu. Làn Tài đạo đậm, vươn dài lên phía ngón tay là kỹ năng nghề nghiệp cao siêu, là bậc kỳ tài. Làn Tâm đạo nối giao nhau với làn Trí đạo thì tâm đức được đề cao nhưng lương tâm nhiều khi do dự mà bỏ lỡ nhiều cơ hội, nhưng nếu tách rời nhau thì tính quyết đoán, kết hợp với các dự kiện khác trên bàn tay và nhân tướng mà đôi khi trở nên cực đoan, hung bạo.

Xem chữ viết, chữ ký mà xét về tính cách của con người. Không phải ngẫu nhiên mà mỗi người lại định cho mình viết chữ như vậy. Chữ viết, chữ ký là biểu hiện từ trong nội tâm, suy nghĩ mà chỉ ra hành động viết thành chữ viết khác nhau. Chữ viết xấu, nguệch ngoạc như gà bới là bản tính vô tâm, cẩu thả, ít học. Chữ viết có trang, có dòng, cẩn thận là người chu đáo, tiết kiệm. Chữ ký rõ ràng, hoa mỹ là người ưa đĩnh đạc, thẩm mỹ, tự tin. Gạch ở dưới và chấm thêm một chấm lại càng đàng hoàng, cẩn thận. Chữ ký đơn giản, lướt qua thì tính tình dễ dãi, 690 | t穃 linh v・suy ngẫm qua loa, đại khái. Chữ ký nét đậm, ấn mạnh như cào xuống giấy là tâm địa mạnh mẽ, nghênh ngang, bạo ngược.

Từ những dự kiện tử vi, nhân tướng, bàn tay, chữ viết, có thể phần nào hiểu về tính cách để biết người và dùng người vào việc gì cho hợp. Người trí tuệ, cẩn thận nên làm khoa học, quân sư. Người quyết đoán, tài cao sẽ là nhà quân sự giỏi. Người hung bạo, cẩu thả, ít học cần chú ý giáo dục để tránh phạm vào tội lỗi, tù đầy. Người đi theo văn chương. Người thì làm canh ngục.

Chúng ta từng xem những trang tiểu thuyết xưa mà thấy các quân sư, các đạo sĩ dùng người, dự đoán diễn biến sự kiện và luận đoán dẫn đến kết cục thật huyền diệu, kỳ tài.

Đây thực sự là nghệ thuật nhìn người thông qua biện chứng tâm lý và logic khoa học phát triển hành động chứ không phải thần thánh hay mê tín dị đoan.

Nhân tướng

Nhân tướng hay Tướng pháp là phương pháp nhìn nhận về hình thái, diện mạo của con người. Sâu xa hơn nữa, nhân tướng còn là chiều sâu tâm lý, nội tâm và báo hiệu về cả hành vi của đương sự.

Các đạo sĩ, hiền triết xưa, nhất là các trí giả Á Đông đã bỏ ra nhiều công sức đưa nhân tướng học vào đời sống cộng đồng. Người ta vận dụng dịch lý, âm dương, ngũ hành vào cấu trúc cơ thể người mà biên soạn ra rất nhiều sách về nhân tướng để lý giải cho dự kiện đời người. Các chiêm tinh gia coi nhân tướng là một trong những thuật dự báo trong bói toán.

Từ dáng đi đứng, kiểu cách, tư thế cho đến bàn tay, bàn chân, đặc biệt là nét mặt, ánh mắt, nụ cười, sắc thái màu da, giọng nói của con người đều được nghiên cứu đưa vào bộ môn Nhân tướng học.

Trước hết là khuôn mặt, đại diện quan trọng nhất về nhân tướng. Người ta tổng quát về khuôn mặt qua các yếu tố: Tam đình, tức là ba phần của khuôn mặt, gồm Thượng đình, từ chân tóc đến lông mày. Trung đình, từ lông mày đến ngang hai cánh mũi. Hạ đình, từ hai cánh mũi xuống cằm. Ngũ nhạc: Tượng trưng cho 5 dãy núi là chỗ nhô cao của khuôn mặt như Trán, Cằm, Lưỡng quyền Trái, Lưỡng quyền Phải và Mũi. Tứ Đậu: Theo người Trung Hoa xưa coi Đậu là nơi nước chảy. Não bộ ví như biển cả. Còn tứ Đậu tức là bốn nơi nước chảy gồm Mũi, Mắt, Miệng, Tai, đều thông vào với não bộ, nên có liên quan chặt chẽ phản xạ với não bộ. Đây là những vị trí rất quan trọng phản ánh tư duy, hành vi qua phản xạ hiện hình của nhân tướng. Ngũ quan: Gồm những bộ phận chính yếu trên khuôn mặt là hai lông mày, cặp mắt, hai tai, mũi và miệng.

Ngoài ra, người ta còn vận dụng dịch lý, âm dương, ngũ hành mà chia khuôn mặt thành các cung, gồm có 12 cung: Mệnh, Quan lộc, Tài bạch, Điền trạch, Huynh đệ, Tử tức, Nô bộc, Thê thiếp, Tật ách, Thiên di, Phúc đức, Tướng mạo.

Cùng với hình thái là màu sắc trên gương mặt cũng được chú ý đưa vào luận đoán của nhân tướng.

Về kinh nghiệm thực tế và khoa học, người xưa từng đúc kết rất phong phú, đại loại như: Đôi mắt hiền từ. Nụ cười nham hiểm. Mắt trắng dã, môi thâm sì. Tai to, mặt lớn ắt làm quan. Miệng làm quan có gang có thép. Ăn to, nói lớn. Hàm răng sin sít thì tính tình chặt chẽ. Dáng đi hấp tấp, vất vả. Dáng người thư thái, ung dung. Những người ti hí mắt lươn, Trai thì trộm cướp, Gái buôn chồng người. Trông đôi mắt đến là gian. Nhếch mép cười đểu. Tai to, miệng rộng, mũi lớn, vai rộng thì sang. Trông yểu tướng, chết non. Nói thật như đếm. Dựng chuyện, nói bừa. Trông mặt rõ hiền, thế mà thâm hiểm. Bề ngoài thơn thớt nói cười, nhưng trong nham hiểm giết người không dao. Trông nhem nhuốc, bẩn thỉu. Hồng nhan bạc phận. Nóng tính đỏ cả mặt lên. Mặt cứ tái đi là người vô cảm, độc ác. Vàng da, vàng mắt là bệnh gan, mật. Mặt đỏ phừng phừng là cao huyết áp. Trông mặt mà bắt hình dong. Không có tinh mà có tướng. Tướng mạo đĩnh đạc, đàng hoàng. Chỉ được cái tướng thôi. Cái mẽ bề ngoài thế thôi, trong chẳng ra gì đâu. Trông tướng mất dạy lắm. Nhìn thấy mặt đã ghét. Trông nét mặt đáng sợ thật. Người xấu, thế mà tính rất tốt. Nét mặt thất thần thế kia chắc có chuyện gì rồi. Ngoài mặt thì vui thế thôi mà trong lòng đang đau như dao cắt đấy. Mặt mũi gì mà trông gớm giếc thế. Qua nét mặt biết ngay là đang nói dối. Đôi mắt kia thì tốt làm sao được. Cái miệng cười nham hiểm lắm…

Có những vấn đề khoa học về nhân tướng, khi một đứa trẻ sinh ra đầu to sẽ xảy ra hai dự kiện, một là cấu trúc bộ não lớn sẽ rất thông minh, nhưng nếu là bệnh úng não thì thành trì độn. Hoặc những trẻ bệnh đao đều có phần đầu bé và nét mặt đờ đẫn, ngớ ngẩn.

Người buồn rầu, lo âu hay tức giận, bực mình thường hiện ta đôi mắt, nét mặt. Nổi nóng thì mắt đỏ ngàu ngàu, nét mặt hầm hầm. Bình tĩnh thì nét mặt thư thái. Người có nét mặt vui tươi rất dễ tiếp xúc, dễ gần. Người lúc nào nét mặt cũng cau có, hầm hầm ai cũng ghét, tránh xa.

Có người vừa gặp lần đầu đã phần nào nhìn ra nhân tướng. Người quen biết đã lâu, thì bản chất, tính tình của họ tác động giúp cho thẩm định về nhân tướng chủ quan hơn.

Nhìn con người hiện hình trước mắt có khi rất lịch lãm, quần áo sạch sẽ, nhưng sâu trong đôi mắt lại ẩn chứa một sự đề phòng và nụ cười nửa miệng của kẻ mưu mô. Cái hình dáng con người hiện ra thực tế đang che nấp một con người thứ hai vô hình đằng sau rất nham hiểm, khác hẳn người thực đằng trước, cần phải cảnh giác, cẩn thận. Nội tâm phản ánh ra bên ngoài qua các yếu tố trực diện trên nét mặt. Đó chính là sự lý thú của nhân tướng cần được khai thác. Ở đây có điều lưu ý là phải rất cẩn thận trong nhận diện, suy đoán, nhìn người để tránh những nhầm lẫn đáng tiếc có khi gây nên hậu hoạ thù oán từ nhận định không đúng về con người. Người xem nhân tướng giỏi không những không bao giờ để xảy ra những sai lầm như vậy, mà còn dự báo khá chính xác cho dự kiện cát hung của con người thông qua xem nhân tướng.

Có khi người ta còn hoang đường hoá cái mụn ruồi, mụn cơm, cái lông mọc ở cổ thành chuyện vận mệnh, ốm đau mà không dám sờ vào hoặc cắt đi.

Quả là rất phong phú và đầy dự kiện tốt xấu được biểu hiện qua nhân tướng. Với người tinh tường về tâm lý, y học có thể suy ngẫm rất hay khi tiếp xúc với mọi loại người. Họ phân tích logic về tâm lý, sinh lý để luận về sự liên hệ nội tâm, phản xạ của thần kinh với biểu hiện ra sắc thái, hành vi bên ngoài của nhân tướng, như: “Người ấy xưa nay đẹp người đẹp nết, sống cực kỳ tốt”. Hoặc có thể thẩm định những ẩn chứa của điều này đang bị che lấp dưới đặc trưng của hình thái kia như: “Miệng thì vui cười vậy thôi, nhưng trong đôi mắt kia đang ẩn chứa một nỗi buồn gì đó, cứ tìm cách tâm sự thì biết”.

Trong cuộc sống đầy phong phú và phức tạp, có những thuận chiều, đồng thời cũng nảy sinh lắm mâu thuẫn, thiên thắng hoặc triệt tiêu lẫn nhau. Có khi thiên hướng về cái này, thì tâm lý lại hạn chế bớt đi. Thực thể tốt đẹp về mặt này lại bị khách quan làm cho xấu đi, như “hồng nhan bạc phận” là hậu quả của cái đẹp, thường bị nhiều người quan tâm muốn gìanh lấy, ắt nảy sinh mưu kế tranh giành chiếm đoạt mà thành long đong, bất hạnh.

Tâm địa thâm hiểm, mặt lạnh như tiền, đôi mắt đỏ ngàu, trợn trừng hay trắng dã dễ phạm vào tội lỗi, cướp của, giết người. Người bản lĩnh yếu hèn hay có con mắt bất lực, van lơn, cầu cứu. Có kẻ lại ngộ nhận, mệnh danh nhân tướng mà lừa bịp, doạ người. Nhưng khi gặp phải người bản lĩnh cao hơn là trở thành bài học “vỏ quýt dày có móng tay nhọn”. Câu chuyện một người đàn ông đi trên xe khách về quê thật bi hài. Ngồi cạnh anh là một người đàn bà trung tuổi. Bỗng nhiên, người đàn bà cứ nhìn chằm chằm vào anh mà nói luyến thoắng về tướng mạo, rồi bảo nhà anh có “động” về mà lo cầu cúng thần linh, thổ địa. Phải người yếu bóng vía, mê tín, duy tâm thì rất lo sợ. Nhưng anh lại trừng mắt nhìn thẳng vào mặt người đàn bà mà quát: “ Này, nói linh tinh cái gì đấy, chỉ nói bừa, bậy bạ!”. Thế rồi anh giơ tay tát cái bốp vào má người đàn bà một cái thật mạnh và quát “cút!”. Người đàn bà tối tăm mắt mũi, sợ quá, vội đứng lên lủi nhanh xuống cuối xe ngồi, không dám nói nửa lời. Câu chuyện được anh đem kể với mọi người. Ai cũng bảo anh ghê gớm. Còn anh thì tươi cười bảo: Chuyện vớ vẩn, việc gì phải nghe những chuyện chúng bịa đặt như vậy, không thế thì nó cứ nói xằng bậy, có mà loạn à?

Trong những thiên truyện xưa, các nhà văn từng miêu tả rất sinh động về việc nhìn người của các quân sư, đạo sĩ, hiền triết. Quân sư Gia Cát Lượng - Khổng Minh trong Tam Quốc diễn nghĩa là bậc kỳ tài về nhìn và dùng người qua xem nhân tướng, luận thời cuộc, mà điển hình là di chúc dự báo về sự phản nghịch của viên tướng Nguỵ Diên, nhà Thục.

Lấy vợ, lấy chồng và quan hệ bè bạn, giao lưu buôn bán, kinh doanh, cũng nhờ biết nhân tướng, lựa chiều đối xử mà tạo nên hạnh phúc và liên kết làm ăn phát đạt. Ngoài xã hội, nhìn nhân tướng giúp cho con người tìm được người tốt, người yêu, tránh được những thị phi, lừa đảo. Những va chạm ngoài đường không khéo và quá nóng nảy, hoặc có khi chỉ vì một cái nhìn vào kẻ vô lương, độc ác mà bỗng thành hằn thù, mất mạng như chơi. Cũng nhờ nhận biết nhân tướng mà tránh được xung khắc với nhau và nhờ đó có thể lựa chiều giúp cho con người tốt lên trong xã hội.

Nhân tướng là khoa học về con người, đã được người đời đúc kết để suy ngẫm mà đối nhân xử thế và có thể dùng vào việc chữa bệnh, giải quyết những vấn đề tâm lý cá nhân, an ninh xã hội.

Những diễn biến tâm lý, tư tưởng, bệnh tật nội khoa được phản ảnh ra ngoài hình thái của nhân tướng. Bản chất, tính cách dẫn đến hậu quả cuộc đời trong hiện tại và tương lai. Quá bực tức, nóng nảy thái quá, không cân bằng lại được sẽ mất khôn, hẳn phạm vào tội ác, dẫn đến vòng lao lý, tù đầy. Tham lam, ích kỷ, độc ác ắt cướp của, giết người. Những dấu hiệu bẩm sinh, di truyền, bệnh tật để lại trên hình thái nhân tướng. Thực thể về y học, khi người yếu ớt, thiếu máu, cơ thể không bình thường, chuyển hoá chất kém, sinh ra các triệu chứng trong cơ thể dẫn đến xanh xao, ẻo lả, đi đứng kém linh hoạt, trông không khoẻ thì tất không thọ, mà thành “yểu tướng chết non”. Người ốm đau liên miên, trông gầy gò, quặt quẹo thế thôi, nhưng sống dai lắm đấy. Còn hồng hào, béo mượt vậy đấy mà trong người có bệnh nặng hiểm nghèo, chả biết chết đột ngột lúc nào đâu. Hoặc những liên hệ “phản xạ” kinh lạc trong nội tạng cơ thể được “phản ánh” ra vị trí tương ứng của mặt, hai bàn chân và hai bên tai để ứng dụng cho diện chẩn, bấm huyệt, châm cứu, nhĩ châm. Những vấn đề như thế đều là khoa học.

Tuy nhiên, phần lớn việc xem nhân tướng bị những kẻ mệnh danh, ngộ nhận lợi dụng và thần thánh hoá lên, ma quỷ hoá ra để loè bịp, gây ra duy tâm, mê tín dị đoan, phản lại nhân văn, khoa học. Những hình thái, dấu hiệu bất thường khi sinh ra như mụn ruồi, cơm khô, bớt… là dị tật cơ thể con người nhưng lại cho là dự kiện mà suy luận, gán ghép vào vận mệnh đời người, luân hồi, lộn kiếp. Đôi khi tướng mạo cũng không ăn nhập gì đến tâm, sinh lý mà tạo ra như sự đánh lừa làm cho nhân tướng không còn độ tin cậy nữa.

Ngày nay, với sự phát triển đa dạng của khoa học, truyền thông và điều kiện xã hội mới đã đổi khác, làm cho mọi chuẩn mực xưa thay đổi. Thậm chí mức sống phong phú, vật chất đầy đủ đến mức dư thừa nên ăn uống quá mức, rất nhiều người trở nên béo phì, bệnh tật làm biến dạng cả nhân tướng, béo đẹp mà vẫn chết non! Vì thế, nhân tướng học cũng chỉ là để tham khảo, góp phần làm sinh động cho các phương pháp giáo dục và hoàn thiện kỹ năng sống tốt đẹp cho con người trong xã hội mới mà thôi.

Thần giao cách cảm

Theo Bách khoa Wikipedia tiếng Việt thì “Thần giao cách cảm”: “Có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp, Telepatheia, nghĩa là “khoảng cách xa của cảm giác”, là việc truyền thông tin giữa các tâm thức bằng các phương thức khác với các giác quan tri giác đã biết. Được xem như là một hình thức tri giác ngoài giác quan hay nhận thức dị thường. Thần giao cách cảm thường được liên hệ với các hiện tượng dị thường khác, chẳng hạn như tiên tri, thấu thị và khả năng di chuyển đồ vật hoặc gây tác động từ xa.”

Thế giới đã chứng kiến những hiện tượng “thần giao cách cảm” truyền ý thức rất kỳ diệu và đầy bí ẩn từ người này sang người khác một cách vô tình hay cố ý. Nó xảy ra với bất cứ người nào có khả năng cảm nhận, nhất là huyết thống gia đình, cha mẹ, anh em, bạn bè, đặc biệt là mẹ con và các cặp song sinh.

Người mẹ bất thần thấy trong người cảm thấy sốt ruột không yên, hay run tay, máy mắt, trong khi đứa con không ở cùng hoặc từ rất xa đang lâm vào cảnh ốm đau kịch liệt, tai nạn bất ngờ. Một người bị tai nạn bỏng thì lập tức người anh hoặc em song sinh tuy không ở đó bỗng nhiên ngoài da cũng nổi lên mẩn ngứa, đau rát. Hoặc từ rất xa, người anh bỗng lo lắng điều gì đã truyền cảm giác đến cảnh báo cho người em tránh được một tai hoạ khủng khiếp.

Các nhà khoa học đã có những nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề đầy bí ẩn và lý thú này. Trên trang mạng thư mục “Bí ẩn của cuộc sống” đăng tải bài “Khả năng Thần giao cách cảm”, cho biết:

“Trong cuốn “Huyền thuật và đạo sĩ Tây Tạng”, tác giả Alexande David Nill, một học giả người Pháp rất nổi tiếng đã kể lại khá chi tiết những điều bà tận mắt chứng kiến. Bà đi khắp Tây Tạng và tiếp xúc với rất nhiều vị Lạt Ma có khả năng kỳ lạ. Một số Lạt Ma có thể đọc được suy nghĩ của người khác một cách dễ dàng, thậm chí họ còn có thể liên lạc được với nhau qua những khoảng cách rất xa nhờ ý nghĩ! Điều kỳ lạ ở chỗ, suy nghĩ của con người có thể bị đọc bất chấp sự khác biệt về ngôn ngữ. Các Lạt Ma dường như đọc được suy nghĩ của bà trong khi bà chưa biết tiếng Tạng và các Lạt Ma cũng không biết tiếng Pháp.”

Theo tài liệu “Thần giao cách cảm” nói về Sidney, người Anh, được xem như là một trong những nhà tiên phong nghiên cứu về “truyền tư tưởng” qua “thần giao cách cảm”. Ông đã làm quen với các tri giác ngoại cảm từ năm 1943, cho đến năm 1949 làm nhiều cuộc thể nghiệm và từng thành công trên Đài Phát thanh Truyền hình BBC. Ông nói về chuyện ở trong tù đã chơi trò “thần giao cách cảm” điều khiển ý nghĩ đoán con bài đạt kết quả đến 70%. Ông kể:

“Vào một đêm tôi thấy xuất hiện rõ trong trí óc tôi hình ảnh hai tên lính Nhật, tay cầm tiểu liên xăm xăm đi về phía phòng tôi.

Tôi vội đem giấu máy thu thanh vào trong cái lỗ kèn Sắc xô. Ngay lúc đó hai tên lính Nhật thật đến đứng trước mặt tôi. Chúng 698 | t穃 linh v・suy ngẫm lục lọi khắp nơi không thấy gì liền bỏ đi. Ngày hôm sau, anh Braddon, người cùng tập truyền tư tưởng với tôi báo cho tôi biết: “Tối hôm qua mình rất lo cho cậu. Tụi Nhật tới khám vì chúng nghi mình có máy thu thanh. Khi chúng ra khỏi, mình sợ chúng sang phòng cậu, mình bèn hết sức tập trung tư tưởng để báo động cho cậu biết. Vậy tối hôm qua cậu có cảm thấy gì không?”. Tôi đáp là có nhận được một bức thông điệp bằng hình của cậu ấy và tôi đã cất giấu chiếc máy thu thanh đi!”.

Và Sidney cho biết về cuộc thí nghiệm đầy lý thú của mình với Đài BBC:

“Thế rồi sau khi giải phóng, tôi vẫn tiếp tục nghiên cứu cùng với vợ tôi. Nhiều người Anh còn nhớ, một ngày cuối năm 1949, Sidney đã cùng vợ là Lesley làm một thí nghiệm thần giao cách cảm nổi tiếng. Trước một trăm năm mươi người chứng kiến tại chỗ và hai mươi lăm triệu khán giả của Đài BBC, anh đã truyền được bằng tư tưởng cho người vợ trẻ ở cách xa, trong một phòng nhỏ của ngọn tháp Luân Đôn bằng một câu phức tạp: “- Anh phải bỏ cuộc khiêu vũ, vì thợ điện nói không còn điện nữa”. Lesley đã nói lại nội dung câu nói đó không sai một chữ nào!”.

Năm 1971, một thí nghiệm về thần giao cách cảm đã được thực hiện trong chương trình của con tàu Apollo 14. Phi công vũ trụ Mỹ, Scott Michell và bốn nhà khoa học tại một phòng riêng ở Cape Kenedy đã thực hiện truyền mệnh lệnh bằng tư tưởng cho nhau. Kết quả cuộc thí nghiệm đã thành công ngoài mong muốn của mọi người và thấy rằng rất cần ứng dụng cho ngành vũ trụ.

Bài “Chứng cứ của thần giao cách cảm” đăng tải trên trang mạng “Diễn đàn doanh nghiệp” về những điều kỳ lạ:

“Năm 1962, cặp chị em 30 tuổi nhà Eller cùng được đưa vào bệnh viện tâm thần tại Bắc Carolina, Mỹ, với chẩn đoán tâm thần phân liệt. Bệnh viện bố trí hai người ở hai trại khác nhau. Điều đáng tiếc đã xảy ra là, cả hai cùng chết một lúc ngay đêm đầu tiên bị tách nhau. Tư thế của hai người co quắp như bào thai trong bụng mẹ, còn nguyên nhân tử vong vẫn là điều bí ẩn.

Nhiều cặp song sinh được tách rời nhau vào lúc chào đời, nhưng họ vẫn sống và trưởng thành với những chặng đường tương tự như nhau đáng ngạc nhiên. Giữa những người thân thích như mẹ con, bạn thân, sợi dây “thần giao cách cảm” dường như được thiết lập tự nhiên từ lúc nào.

Một cậu bé 10 tuổi khám phá là mình có thể “nói chuyện bằng mắt” với người bạn thân thiết nhất gần nhà. Sau khi cha mẹ dời đến chỗ khác, cậu thức giấc vào một buổi sớm vì đau đầu kinh khủng. Cùng thời điểm đó, một chiếc xe tải đã cán chết người bạn thân của cậu!?”.

Ngoài hiện tượng thần giao cách cảm ở con người, người ta còn cho rằng có những hiện tượng vô cùng kỳ lạ về sự liên hệ giữa con người và thiên nhiên, cây cối, đồ dùng, giữa các loài động vật với nhau.

Trên trang mạng khoa học “Khám phá tri thức nhân loại” đăng tải bài “Lý giải hiện tượng thần giao cách cảm giữa cây và người” nêu ra mấy hiện tượng:

“Theo giáo sư, tiến sĩ Nguyễn Trường Tiến, chủ tịch Hội Cơ học và Địa kỹ thuật Việt Nam: “Trước đây ở đền Quán Đôi, đối diện trận đồ bát quái sông Tô Lịch có hai cây rất to, không hiểu vì lý do gì mà cây tự nhiên chết. Những năm 60 của thế kỷ XX, những cây này không được quan tâm nên có thể vì thế mà héo tàn. Sau này, ở đây trở thành nơi sinh hoạt văn hoá tâm linh thì cây tự nhiên sống lại?

Ông Tiến còn nhớ, trực tiếp giám sát việc trước đây để chuẩn bị xây dựng công trình, nhà thầu đề xuất phải chặt hàng cây xanh tốt phía trước để giải phóng mặt bằng. Phương án này đưa ra hôm trước thì hôm sau lá cây tự nhiên rũ xuống, héo hon. Sau này, khi quyết định lùi diện tích xây dựng trụ sở vào sâu mấy mét để giữ hàng cây lại thì hàng cây dần lại xanh tươi bình thường.

Ông cũng cho biết, trên địa bàn xã Vân Hoà, dưới chân núi Ba Vì có cây đa cổ thụ nghìn năm tuổi, bên cạnh cây có đền thờ Rùa. Đây là nơi Đức thánh Tản Viên ngự trị, là cái nôi của nền lúa nước Việt Nam. Dấu vết còn lại trên con đường di cư lập trại của người Việt cổ. Cây đa có bộ bành rễ như các móng rùa thuộc loại lớn và kỳ vĩ nhất Việt Nam. Cây đa này nhiều khả năng có mối liên hệ với cụ Rùa ở Hồ Gươm. Mấy tháng trước đây khi cụ Rùa dưới Hồ Gươm bị ốm, thì điều trùng hợp đến ngẫu nhiên, cây đa thần Rùa trên Ba Vì cũng bị những cơn gió lớn làm gãy cành, bị những con mối đục khoét làm thân cây lở loét?”

Trang báo mạng “Diễn đàn doanh nghiệp” cho biết:

“Một chú sói con lạc bầy hoặc mải mê đuổi theo mồi, mẹ của chú ngẩng cao đầu và dõi mắt nhìn chăm chú theo hướng của đứa con tinh nghịch, lập tức bầy sói con dừng lại và xoay người quay về với mẹ dù cách xa hàng trăm dặm. Đối với những loài sâu bọ sống quây quần thành đàn, thần giao cách cảm giúp chúng thông báo cho nhau mối nguy hiểm. Qua quan sát của nhiều nhà sinh học hàng đầu, loài kiến có một hệ thống giao tiếp với nhau khác hẳn các kiểu truyền tin thông thường.”

Thử nghiệm “Thần giao cách cảm” của các nhà khoa học Nga được lấy từ “Luận chứng và Sự kiện, 5/2001” nêu về những vấn đề đáng chú ý:

“Tiến sĩ Triết học, Giáo sư Aleksandr Vodolagin cho rằng: Một số trạng thái tâm lý có thể có tính lây nhiễm và được truyền thông qua trao đổi năng lượng. Không có gì huyền bí, đơn giản là khi có sự tiếp xúc, xảy ra hiện tượng liên kết hai hệ thống năng lượng sinh học thành một khối thống nhất, gọi là “Sự điều chỉnh theo nhau”. Người ta có thể gặp hiện tượng này trong đời sống hàng ngày. Hai người hiểu ý nhau thì chỉ cần nói một điều gì là rất đồng cảm với nhau. Vợ chồng sống tâm đầu ý hợp nhiều năm, thì cách thể hiện bề ngoài của họ trở nên giống nhau.

Các nhà nghiên cứu đã đưa một con thỏ cái lên tàu ngầm. Còn trên một con tàu ngầm khác, ở đại dương khác, người ta nhốt những đứa con của nó. Vào một thời điểm, khi chích điện vào da thỏ con, thì đồng thời da thỏ mẹ cũng bị giật theo.

Một người bình thường, khi ở trong đám đông lại như bị “thôi miên”, cuốn hút vào không khí của đám đông như một kẻ mất hồn. Sự điều chỉnh của đám đông có sức mạnh rất lớn đã tác động vào một người mà thành “Hội chứng số đông”. Ví dụ điển hình cho hiện tượng này là khi cùng hát Quốc ca, cùng nhìn lên Quốc huy hay nghe nói về điều gì vĩ đại, làm cho mọi người đều dâng lên niềm tin yêu, xao xuyến và có thể xúc động trào nước mắt.

Người ta thấy ở Mỹ từng xảy ra chuyện kỳ lạ là, trước khi bộ phim “Thân thể” đưa lên màn ảnh, không thấy có trường hợp nào cá mập tấn công người. Nhưng khi bộ phim trình chiếu, các con cá hung dữ bắt đầu săn đuổi những người trên bãi tắm? Và ông Guzel đưa ra giả thuyết: Khi con người sợ cái gì, anh ta sẽ nhận được chính cái đó. Khi tìm cách xua đuổi đối tượng gây ra sợ hãi, chúng ta nhận được sự đáp trả từ nó. Sự đáp trả đó đưa đến chỗ theo đúng không gian và thời gian nơi đối tượng chờ đợi chúng ta, hiện tượng ấy gọi là “Sức hút của nỗi sợ”.

Nhiều nhà khoa học đã để tâm nghiên cứu và nhiều công trình thí nghiệm để giải thích cho hiện tượng “thần giao cách cảm”. Trang mạng thư mục “Bí ẩn của cuộc sống” trong bài “Khả năng Thần giao cách cảm” cho biết:

“Người ta nghiên cứu khả năng bức xạ tín hiệu của cơ thể con người nói chung, đặc biệt là bộ não, trung tâm tư duy của cơ thể, nơi chứa đựng mọi thông tin về khả năng tư duy, các ý nghĩ của con người. Khi bộ não muốn ra lệnh cho một bộ phận của cơ thể, tín hiệu điều khiển sẽ đi theo các dây thần kinh tới bộ phận đó. Tín hiệu thần kinh cũng là một loại sóng điện từ đặc biệt - sóng sinh học. Nhưng khác với khí, sóng thần kinh có mang “thông tin điều khiển” (suy nghĩ), còn khí đơn thuần thì không mang thông tin về ý thức. Người ta có thể đo được các sóng thần kinh này, thông qua đó kiểm tra trạng thái hoạt động của bộ não mà phát hiện được các bệnh liên quan đến não. Y học gọi đó là phương pháp điện não (EEG).

Tín hiệu điện não có thể lan ra ngoài hộp sọ, tới bề mặt ngoài cùng của đầu theo dây dẫn tới máy đo, ghi thành điện não đồ. Như vậy, việc dao động điện não đã lan truyền từ bề mặt cơ thể ra ngoài không gian. Để xem xét tín hiệu đó lan truyền được bao xa, và con người có thể điều khiển được tín hiệu đó ở môi trường hay không, người ta tiến hành các thí nghiệm khác nhau.

Tại Italia: Người tham gia thí nghiêm được gắn các tiếp xúc điện não vào đầu. Các điểm này được nối với dây tới một máy tính. Người đó sẽ tập trung suy nghĩ, điều khiển bộ não tới những trạng thái khác nhau như vui vẻ, thư thái, nóng giận. Các tín hiệu này truyền về máy tính, ứng với các tâm trạng ấy, trên màn hình sẽ hiện ra một chữ cái. Từ đó người tham gia thí nghiệm có thể soạn thảo được một văn bản bằng ý nghĩ mà không cần đụng tay vào bàn phím.

Tại Thuỵ Sĩ: Cũng tương tự thí nghiệm trên, người tham gia thí nghiệm được gắn các tiếp xúc, nhưng dây dẫn nối tới một robot đơn giản. Bằng ý nghĩ của mình, người đó có thể điều khiển robot chuyển động theo ý muốn.

Qua hai thí nghiệm, thấy rằng ý nghĩ con người có thể được truyền ra khỏi cơ thể, và con người hoàn toàn có khả năng điều khiển được bức xạ ý thức này.

Vấn đề liên quan là “sự cảm nhận tín hiệu của bộ não con người” với môi trường xung quanh như thế nào. Đó là nhờ các giác quan. Tất cả các thông tin mà các giác quan thu nhận được sẽ truyền thành các tín hiệu thần kinh và truyền về bộ não. Não nhận tín hiệu rồi phân tích, xử lý, lưu trữ… Như vậy, có rất nhiều thông tin khác nhau như ánh sáng, âm thanh, mùi vị… được chuyển hoá thành dạng tín hiệu thần kinh phù hợp với bộ não, để não có thể thu nhận được.

Từ đó, người ta đặt ra câu hỏi: Có phải năm giác quan là con đường duy nhất để con người tiếp nhận thông tin bên ngoài? Nếu trong không gian có tồn tại những tín hiệu mang thông tin phù hợp với não thì bộ não có khả năng cảm nhận nó trực tiếp mà không cần 5 giác quan kia không? Tiếc rằng, khoa học hiện nay chưa chế tạo được các thiết bị có khả năng bức xạ sóng như vậy. Nhưng chính bộ não con người - bộ máy tuyệt vời của tự nhiên, lại làm được điều đó.

Bộ não con người làm việc hầu như không ngừng nghỉ, kể cả khi ta ngủ, đồng thời với bức xạ sóng thần kinh ra môi trường xung quanh. Nhưng hầu như mọi người không cảm nhận được tín hiệu này là do: Đa số người tín hiệu bức xạ thần kinh yếu, và còn bị suy mòn do ảnh hưởng môi trường nên chỉ đi được khoảng cách ngắn. Chỉ những người luyện tập bài bản, nội khí mạnh mẽ, sóng thần kinh của họ mới phát xa được. Đôi khi những hoàn cảnh đặc biệt như sợ hãi, hoảng hốt hay vui sướng cực độ cũng có thể kích thích bộ não người bình thường phát ra những bức xạ mạnh.

Mỗi bộ não lại có đặc điểm riêng và phát ra những bức xạ riêng. Do đó, mỗi bộ não chỉ có thể cảm nhận được những tín hiệu thần kinh phù hợp với nó chứ không phải mọi tín hiệu có trong môi trường. Hiện tượng thần giao cách cảm tự nhiên xảy ra chủ yếu đối với những người thân trong một gia đình, có lẽ nhờ sự tương đồng trong bộ não của họ. Một số người do luyện tập có thể đạt được khả năng cảm nhận nhiều loại sóng khác nhau, tâm trí họ giống như mặt nước phẳng lặng, mà bất cứ một xung động nào trong không gian cũng có thể tạo ra một gợn sóng trên đó.

Do chỉ là “các sóng thần kinh của con người”, nên các sóng không phân biệt chuyển hoá định dạng. Chính vì thế mà không phân biệt ngôn ngữ, quốc tịch.

Liệu một bộ não có thể cảm nhận được bức xạ thần kinh của chính não đó hay không? Tất nhiên bức xạ thần kinh của bộ não đó phải phù hợp với khả năng cảm nhận của chính nó. Tuy nhiên, khi bức xạ đã phát ra ngoài, nó thường bị suy hao hết do môi trường. Một số trường hợp bức xạ đó quá mạnh truyền trong môi trường, đập vào các vật cản, phản xạ trở về bộ não chủ, mang theo thông tin phản ánh về môi trường cho bộ não, giống như nguyên lý hoạt động của ra đa hay cách tìm đường của con dơi. Nhờ đó tạo ra những khả năng đặc biệt của con người như nhìn xuyên (thấu thị), xuất vía… chăng?

Các nhà khoa học ngày nay đã và đang nghiên cứu, chế tạo ra những thiết bị nhằm khám phá những bí ẩn trong con người. Công ty Innovation Technologies and Energy Medicine Inc (ITEM) của Mỹ nghiên cứu phương pháp chụp ảnh trường cộng hưởng bằng máy RFI. Máy dùng chụp “hào quang” phát ra từ não bộ và cơ thể con người.

Kết quả hình ảnh chụp được qua bức xạ từ não bộ và cơ thể cho biết những tín hiệu toàn diện về tình hình sức khoẻ và cung cấp những thông tin cần thiết về tâm sinh lý giúp bác sĩ có thể sử dụng bổ xung điều trị cho bệnh nhân. Đây cũng là gợi ý sáng tạo về những thiết bị đo bức xạ ở con người.

Máy RFI kết nối với máy tính, sau khi tiến hành đo toàn diện khắp bên ngoài cơ thể đã cho kết quả hình ảnh hào quang phát ra ngoài cơ thể và hiện lên hình ảnh trường điện từ cảm xạ trong não. Trên hình ảnh hào quang cảm xạ của cơ thể và não bộ, chuyên gia Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng Cảm xạ địa sinh học cho biết: Vòng hào quang bên trong là hình ảnh cảm xạ về sức khoẻ thể chất, vòng ngoài là hình ảnh về sức khoẻ tinh thần. Mức độ màu sắc là biểu hiện mức độ năng lượng sức khoẻ tinh thần, thể chất và tác động môi trường đối với cơ thể. Qua đó nhà chuyên môn có thể dự đoán được diễn biến tâm sinh lý, bệnh tật trong con người được phản ánh ra ngoài trên hình ảnh hào quang cảm xạ.

Hình ảnh chụp hào quang cảm xạ bằng máy RFI

Các nhà khoa học đã và đang nghiên cứu chế tạo ra những thiết bị “đội vào đầu” giúp cho người lái xe có thể điều khiển xe bằng tư duy, suy nghĩ, hoặc người tàn tật điều khiển xe lăn, đánh máy trên màn hình vi tính. Một nhóm các giáo sư và nhà khoa học ở Đại học UC Irvine, Carnegie Mellon University và Đại học Maryland, Mỹ đã nghiên cứu dùng thêm công nghệ “từ não đồ” (MEG) có thể đo các thay đổi trong não trong thời khoảng mili-giây, kết quả bước đầu với mã Morse và một số suy nghĩ đơn giản.

Những phát minh, ứng dụng này góp phần minh hoạ thêm về khoa học của bộ não và xung lực truyền cảm xạ từ bên trong cơ thể ra ngoài hiện lên bằng hình ảnh; Đồng thời gợi ý cho sự khám phá những điều kỳ diệu ở con người.

Thần giao cách cảm là hiện tượng lý thú về bộ não và thể chất con người. Nó là bức xạ, truyền dẫn năng lượng, điện trường, tâm thức từ người này sang người khác có tương tác giao thoa phù hợp giữa các cơ thể với nhau, nhất là những người cùng chung huyết thống và có xung động khác biệt, mạnh mẽ. Không phải bất cứ ai cũng có thể truyền tín hiệu được cho nhau, cho nên người này thấy mà người khác không thấy “thần giao cách cảm”.

Khi “sự cố” trên cơ thể người này bị kích hoạt mạnh, lập tức tạo ra xung lực tín hiệu truyền tới người tương ứng mà thành thần giao cách cảm, tức là cảm giác được giao thoa tới, dù ở rất xa. Sự thần kỳ về não bộ và thần kinh con người càng trở nên huyền diệu. Nó xảy ra bất kỳ lúc nào khi có điều kiện phát đi cảm xạ và nhận truyền cảm xạ một cách tự nhiên. Đây là năng lực đặc biệt ở bộ não và thể chất của con người, chứ không phải là thần bí, hoang đường.

Thần giao cách cảm chủ yếu xảy ra ở con người và các loài động vật. Thực thể động vật, trong đó có con người là cơ thể có yếu tố điện trường sinh học. Vì thế, có thể xảy ra giữa người với người hoặc người với động vật nhạy cảm (như chó) và giữa các động vật với nhau. Còn trường hợp giữa người với cây cối hay phim ảnh với động vật cần phải thử nghịêm nhiều lần, vì có lẽ chỉ là sự trùng khớp ngẫu nhiên, mà dựng lên đồn thổi thành chuyện hão huyền, mê tín dị đoan, hoang đường, huyền bí!?

Người ta đã biết đến việc các đạo sĩ Tây Tạng mở các lớp học luyện tập và thực hành thần giao cách cảm. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, quân đội Mỹ rất quan tâm tới khả năng đặc biệt của con người và đào tạo về khả năng thần giao cách cảm phục vụ cho trao đổi thông tin tình báo. Nhiều cuộc thí nghiệm cho thấy họ có thể truyền tin cho nhau ở khoảng cách xa hàng trăm Km. Liên Xô trước đây quan tâm đặc biệt đến hiện tượng Thần giao cách cảm và từng kinh ngạc về nhà tiên tri mù, không biết chữ Vanga Dimitrova, người Bulgari, dự đoán chính xác về thảm hoạ nguyên tử Chernobyl và “cái chết” của tàu ngầm Kursk.

Thần giao cách cảm quả là hiện tượng lý thú về khoa học con người, thực sự gây ra sự chú ý nghiên cứu giải mã của khoa học. Nó cũng là một dạng năng lực ngoại cảm có thể có ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào khi con người có điều kiện đều có thể xảy ra hiện tượng thần giao cách cảm.

Thấu thị

Thấu thị là hiện tượng như có con mắt khác đặc biệt, có thể nhìn thấy những gì mà bằng mắt thường và người khác không thể nhìn thấy. Nó không phải là nhìn trực diện bằng mắt thường mà là “nhìn thấu” được bằng “con mắt” vô hình trong tâm trí. Người có khả năng thấu thị có thể nhìn xuyên qua được những vật cản bình thường như quần áo, cho đến cơ thể, thậm chí kể cả những vật chất rắn như tường, két sắt. Khả năng thấu thị sâu như máy X quang hoặc máy cộng hưởng từ, có thể nhìn thấy ở bất cứ hoàn cảnh nào, ở gần hay ở xa, kể cả trong đêm tối.

Thấu thị có thể nhìn từ mắt bình thường hiện có, nhưng cũng có thể nhìn bằng “con mắt ảo” khác không cùng vị trí với mắt bình thường. Người ta có thể bịt mắt chính lại mà vẫn nhìn được bằng trán, mũi, thái dương, sau đỉnh đầu, sau gáy… Đó là những sự lạ lùng của khả năng thấu thị từng xảy ra trên thế giới.

Trong “Diễn đàn Lý học Đông phương”, tác giả Thiên Sứ viết về “Cô gái có đôi mắt X quang” như sau:

“Laura Castro, 14 tuổi, ở Miami, bang Florida, Mỹ, được sinh ra và lớn lên như bao cô gái bình thường khác, nhưng riêng đôi mắt thì trở nên hoàn toàn trắng vào năm cô 10 tuổi. Các bác sĩ về mắt và nhiều chuyên gia khác đã nghiên cứu về đôi mắt trắng của cô, nhưng không ai có thể giải thích được điều gì gây ra tình trạng hiếm hoi như của Laura. Các bác sĩ nói rằng, họ chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì lạ lùng như thế.

Mẹ của Laura, bà Anabel Castro cho biết: “Con gái tôi có thể trông thấy bất cứ đâu trong ánh sáng, trong bóng tối và có thể dễ dàng nhìn xuyên qua vật thể rắn dày như một khối bê tông, két sắt, đá và kim loại. Tất cả những gì mà tôi biết được là đôi mắt nâu của con gái tôi trông ngày càng trở nên sáng hơn, trắng hơn và tầm nhìn ngày càng mạnh hơn.” Bà kể: “Laura bắt đầu có dấu hiệu trong tình trạng hy hữu như vậy ngay sau khi sinh nhật lần thứ 10, trong năm 2005. Đôi mắt bình thường của Laura dần dần chuyển sang màu nâu vàng, sau đó nhạt dần đến hoàn toàn trắng. Từ đó, Laura bắt đầu nhìn xuyên được qua các vật”.

Kiểm tra mắt của Laura, các chuyên gia không thấy khác biệt, ngoài sự ngạc nhiên là con ngươi và tròng mắt hoàn toàn trắng và cho rằng có thể bị tổn thương ở đầu, hoặc nhiễm với hoá chất nào đó trong khi tiếp xúc.

Còn Laura, tỉnh dậy vào một buổi sáng, bất ngờ cô nhìn thấu vào được cơ thể mình, thấy cả trái tim đang đập. Cô đã thét lên vì sợ hãi. Vài tháng sau mới quen dần, khi điều chỉnh được sự nhìn xuyên thấu cơ thể chính mình.”

Tác giả Thiên Đồng đã giới thiệu trên “Diễn đàn Đông phương” về trường hợp một thầy thuốc có khả năng nhìn thấu các thương tật, khối u và vi khuẩn thâm nhập vào vùng bệnh của các bệnh nhân!

Chuyện thấu thị tại Việt Nam đã từng xảy ra, không kém phần kỳ lạ.

Năm 1973, tại đơn vị trường Trung cấp kỹ thuật xe, thuộc tổng cục Hậu Cần, sơ tán ở bản Mường, chân núi Ba Vì, một chiến sĩ tên là Minh Bài, người Thanh Hoá, có khả năng đặc biệt của thấu thị.

Minh Bài có thể nhìn qua quần áo các đồng đội của mình, làm cho mọi người vừa tò mò vừa e ngại sợ “lộ” hết những gì trên cơ thể mình. Trong một lần vào khoảng 21 giờ đêm, ngồi trên nhà sàn rất đông đồng đội và gia đình, mọi người muốn thử tài của Bài, liền ra điều kiện là sẽ ném chiếc kim băng qua cửa sổ xem có tìm thấy không. Thế rồi một người cầm chiếc kim băng ném ra cửa sổ rơi xuống bụi cây ngoài vườn. Bài cứ thế bước xuống cầu thang, đi trong đêm tối như đi ban ngày, chẳng vướng víu gì, đến thẳng chỗ bụi cây um tùm nhặt chiếc kim lên đưa về trước sự kinh ngạc và khâm phục của mọi người.

Biết về khả năng thấu thị của Bài, chỉ huy đơn vị mời anh lên để làm thí nghiệm tại văn phòng đại đội. Đơn vị đã chuẩn bị trước việc sắp xếp trong chiếc tủ đứng và khoá lại. Khi Bài đến ngồi vào ghế, đại đội trưởng yêu cầu Bài kiểm tra xem trong tủ có những gì. Thế là Bài vừa nhìn về phía tủ vừa nói vanh vách những đồ dùng, quân trang, bao thuốc lá… để như thế nào trong tủ. Khi mở tủ ra, mọi sắp xếp đúng như Bài mô tả, trước sự chứng kiến ngạc nhiên của mọi người. Gặp và quan sát đôi mắt của Bài thấy thường có màu ngầu đỏ và có phần hơi huyền ảo. Sau đó, đơn vị báo cáo sự việc này lên cấp trên và Bài đã được điều động đi để làm nhiệm vụ mới trong quân đội.

Những năm gần đây, xuất hiện trường hợp đặc biệt về khả năng thấu thị. Đó là Hoàng Thị Thiêm, sinh ra ở Hải Phòng, lấy chồng và sinh sống tại xóm Mới, thôn Bùi Trám, xã Hoà Sơn, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình có biệt tài nhìn được không chỉ bằng “con mắt thứ ba” mà “mấy con mắt khác” nữa.

Theo các tài liệu đăng tải trên báo chí, Hoàng Thị Thiêm đã được các nhà khoa học ở Liên hiệp Khoa học công nghệ tin học ứng dụng Việt Nam - UIA kiểm nghiệm, trước sự chứng kiến của mọi người, bằng cách lấy băng đen bịt kín mắt cô lại. Khi cầm cuốn sách đến phía trước mặt đã thấy cô cũng ngước đầu “nhìn” theo. Thế rồi cô đọc vanh vách những chữ trên trang sách được mở ra không thiếu một chữ, kể cả dấu chấm, dấu phảy. Không những thế, Hoàng Thị Thiêm còn đọc được cả bằng trán, bằng mũi, bằng thái dương… Kể cả bịt kín mặt, chỉ cần hở 4 điểm trên khuôn mặt là cô có thể đi xe máy trên đường.

Hoàng Thị Thiêm đã được Đài truyền hình Đức và Hàn Quốc mời sang khảo nghiệm về khả năng kỳ lạ này.

Thấu thị là hiện tượng kỳ lạ và đầy bí ẩn. Nhiều nhà khoa học đã để tâm nghiên cứu thấu thị nhưng chưa lý giải, chứng minh thoả mãn về hiện tượng này. Trên “Diễn đàn phương Đông” đăng tải “Bàn tay ánh sáng”, chương 18, phần nói về Thấu thị, của tác giả Thiên Đồng, có đoạn nói về một thầy thuốc thực hành thấu thị trong khi khám, chữa bệnh như sau:

“Tôi đã quan sát thấy đường đi của ánh sáng vào thân thể bằng thấu thị, hoặc nhìn bằng Xquang của mình. Và cái mà tôi nhìn thấy là ánh sáng vừa đi vào con mắt thứ ba (tức luân xa 6), vừa đi vào hai mắt thông thường và tuôn chảy dọc theo các dây thần kinh thị giác. Ánh sáng này có có rung động cao hơn ánh sáng nhìn thấy được và có thể đi xuyên qua da. Ánh sáng đi qua giao thoa thị giác và đi vòng tuyến yên nằm sau giao thoa thị giác. Lúc này ánh sáng đi theo hai đường. Một đường tới các thuỳ chẩm cho thị giác bình thường, một đường đi vào đồi não cho chức năng kiểm tra vận động nhãn cầu. Theo quan sát của tôi thì bằng một số kỹ thuật thiền định và tập thở, con người có thể làm cho tuyến yên bắt đầu rung động và bức xạ ánh sáng hào quang vàng óng, hoặc ánh sáng màu hồng nếu người đó đang yêu.

Rung động này và ánh sáng vàng óng làm tăng lượng ánh sáng phân nhánh đi vào vùng đồi não. Theo điều tôi nhìn thấy được ánh sáng hào quang này vòng lấy bề mặt của đáy thể chai và được hướng vào bên trong tuyến tùng vốn tác động như một máy dò cho việc nhìn thấu thị. Bằng cách thở có kiểm tra, cọ không khí vào phần sau trên của họng và màn hầu nằm đúng đối diện với tuyến yên, tôi có thể kích thích tuyến yên rung động như vậy. Cách thở thiền định này cũng giúp tôi tập trung và làm tĩnh lặng tâm trí. Việc này cũng mang ánh sáng vàng óng từ nền lên phía sau cột sống và ánh sáng hồng lên trán. Hai luồng này vòng lấy nhau trong khu vực đồi não. Điều đó mang lại thêm năng lượng cho các vùng trán trung tâm của não. Cảm giác chủ quan của loại nhìn này là để cho một cái gì đó, như năng lượng, thông tin đi vào vùng con mắt thứ ba của đầu. Loại nhìn thấy này cho ta khả năng chụp quét ở bất cứ độ sâu nào ta chọn, với một dãy rộng các mức dung giải xuống tới mức tế bào, thậm chí mức virus.

Cảm giác chủ quan của tôi là mình có được một máy chụp quét scanner trong đầu. Nó khu trú ở vùng não trung tâm đằng sau con mắt thứ ba của tôi cách chừng 2 inches, nơi mà một đường thẳng từ con mắt thứ ba chạy ra sau sẽ cắt đường thẳng nối liền hai thái dương. Dường như nó là tâm của máy scanner. Từ điểm này, tôi có thể nhìn về bất cứ hướng nào mình chọn mà không cần quay đầu về phía đó. Tuy nhiên, nó thường giúp tôi nhìn trực tiếp vào vật mà tôi đang chụp quét. Khi một bệnh nhân đến với tôi, tôi tiến hành chụp quét một lượt toàn bộ thân thể họ để nắm bắt khu vực cần quan tâm. Tôi bị thu hút vào những vùng thân thể cần chú ý. Sau đó tôi điều chỉnh cho khớp đúng với phần ấy và chụp quét ở mức dung giải tinh vi. Để có được kết quả chính xác lắm lúc tôi đặt hai tay lên vùng có vấn đề, thấy nhìn vào dễ hơn.”

Tác giả Ngô Uyên, tập hợp theo chanhkien, trong bài “Bí ẩn cơ thể người: “Công năng thấu thị dựa trên nghiên cứu cận tâm lý” nêu lên thí nghiệm sau đây:

“Năm 1934, tiến sĩ J.B. Rhine, thuộc Đại học Duke ở Hoa Kỳ đã thiết kế 5 bộ thẻ được gọi là thẻ trắc nghiệm siêu cảm. Trên mỗi bộ thẻ vẽ một hình vẽ đơn giản: Hình tròn, hình vuông, hình chữ thập, hình sóng nước và hình ngôi sao. Bằng việc sử dụng 5 bộ thẻ này, ông và cộng sự, tiến sĩ J.G. Pratt, đã tiến hành một chuỗi thí nghiệm trên một học sinh, H.E. Pearce Jr, người tuyên bố là có khả năng thấu thị.

Các thí nghiệm được tiến hành 34 lần trong khoảng thời gian từ tháng 8 năm 1933 đến tháng 3 năm 1934. Năm loại thẻ tổng cộng là 25 thẻ dùng vào mỗi lần thí nghiệm. Người được thí nghiệm, Pearce Jr ngồi trong một căn phòng nhỏ tại thư viện Đại học Duke. Trong khi người làm thí nghiệm ngồi trước một cái bàn ở toà nhà cách đó từ 100 đến 200 thước.

Trong quá trình làm các thủ thuật đảo thẻ, phân tích thống kê cho thấy 74 lượt thí nghiệm, với 1.850 chiếc thẻ được chọn, độ chính xác trong đáp án của Pearce là hơn 30%, vượt qua xác xuất thống kê ngẫu nhiên (chỉ 20%).

Nhiều nhà khoa học sau đó đã làm lại thí nghiệm này, thấy cho kết quả tương tự. Các nhà khoa học chưa thể giải thích về hiện tượng kỳ lạ của thấu thị. Giới tu luyện thì cho rằng ở bộ phận dưới thể tùng quả của cơ thể người đã được trang bị kết cấu hoàn chỉnh của một con mắt người, và y học hiện đại gọi nó là một con mắt thoái hoá. Trên trán người, ở giữa hai lông mày hơi chếch lên một chút, có một đường thông kết với con mắt này, con mắt ở phía trước thể tùng quả (tương ứng huyệt ấn đường trong Đông y - Châm cứu). Nếu một người có thể nhìn trực tiếp bằng con mắt này thông qua đường thông thay bằng con mắt thật, thì người ấy có sẵn lực xuyên thấu, thậm chí nhìn được những vật mà mắt thường không nhìn thấy. Giới tu luyện gọi hiện tượng này là “Thiên mục” (mắt trời), hay con mắt thứ ba. Trong thí nghiệm trên đây, rất có thể Pearce đã dùng thiên mục để nhìn thấy những chiếc thẻ kia? Trong trường hợp này, không có gì huyền bí khi anh ta có thể có lực nhìn xuyên thấu như vậy.”

Với công năng kỳ lạ của thấu thị, người ta đã nghĩ đến luyện tập bài bản để có khả năng thấu thị. Đồng thời cũng tận dụng khả năng này trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng vào đời sống con người. Với chiếc camera nhỏ bé như hạt đậu lắp vào đầu ngón tay, phần mềm phân tích hình ảnh và một máy tính xách tay siêu nhỏ, người mù có thể định vị các vật thể trong môi trường xung quanh và đi qua các chướng ngại vật một cách dễ dàng.

Thấu thị là một hiện tượng đặc biệt và rất hiếm hoi về khả năng siêu phàm của con người. Nó khác các hiện tượng ngoại cảm, tiên tri mà là khả năng nhìn xuyên thấu trong mọi hoàn cảnh. Có khi nó biểu hiện độc lập chỉ riêng là việc nhìn thấu. Cũng có người kết hợp có thêm khả năng tiên tri hay ngoại cảm, nhưng rất hiếm. Có thể trong não bộ của con người do đột biến nào đó hình thành một “máy Xquang” rất đặc biệt để thực hành khả năng thấu thị? Máy “Xquang” này khác biệt với máy Xquang thông thường là người thấu thị có thể nhìn thấy ở nhiều trường hợp, trong nhiều hoàn cảnh khác nhau, không cần hiện hình bằng phim ảnh và cũng không chụp lại được bằng hình ảnh.

Tuy nhiên, cũng có thể do huyễn hoặc mà người có khả năng thấu thị muốn tô điểm, thần thánh hoá mình lên mà cố tạo ra có nhiều khả năng siêu phàm. Việc làm như thế đôi khi lại ảnh hưởng không hay đến năng lực thực sự quý báu về thấu thị của họ.

Những phát minh của khoa học ngày nay đang làm thay đổi thế giới và cuộc sống con người. Nhiều thiết bị tinh vi đã và đang giải mã, góp phần hiện thực hoá những năng lực đặc biệt của con người.

Thấu thị thật sự là huyền bí, khó hiểu về khả năng của con người, nhưng hoàn toàn không phải quỷ thần mà phải sợ hãi. Chúng ta hãy coi thấu thị là một trong những hiện tượng kỳ diệu mà tạo hoá trong con người có được, sẽ làm phong phú thêm cuộc sống tinh thần cho mỗi chúng ta.

Tuổi xung, Mệnh ác

Tuổi xung: Là quan niệm xuất phát từ cách tính xung khắc can - chi, âm dương, ngũ hành, hoa giáp và năm tuổi trong học thuyết phương Đông. Nó cũng được hiểu về sự không phù hợp hay không tương tác tâm sinh lý, hoàn cảnh con người theo quan niệm hiện đại.

Trong can chi, người ta đã quy ước và mã hoá các yếu tố âm dương, ngũ hành. Lục thập hoa giáp (60 năm can - chi) lại ứng với các tuổi sinh của mỗi người. Vì thế, người nào sinh vào năm tuổi nào thì mang theo các yếu tố can chi, ngũ hành của tuổi ấy.

Hệ can chi tính đến xung khắc âm dương, ngũ hành, tam hợp, nhị hợp, lục hợp, tứ hành xung, xung đối, tương hình, tương hại (xem hệ can chi, âm dương, ngũ hành), kể cả bát quái, phong thủy, hướng nhà. Người sinh vào năm nào của hoa giáp thì tự nhiên ảnh hưởng do các yếu tố mã hoá này. Cho nên, khi con người có quan hệ với nhau như cha mẹ, anh em, bạn bè, vợ chồng là người ta tính ngay vào đó mà tìm hợp hay xung nhau để đưa ra những dự kiện cát hung cho họ. Được các loại hợp là tốt, phạm vào khắc, tương hình, tương hại là xấu.

Qua đó người ta tính chọn người hợp để xông nhà vào ngày tết, kết bạn làm ăn, kết duyên, làm nhà, an táng, xây mộ… và cho đó là sẽ làm ăn nên, thuận hoà, hạnh phúc, an bình. Thấy xung khắc thì dừng lại, không làm, tránh không quan hệ, không lấy nhau… cho đó là sẽ phá nhau, làm ăn thất bại, mất đoàn kết, cãi nhau, tan vỡ, tai hoạ, tuyệt mạng! Thế là diễn ra biết bao phức tạp chỉ vì so sánh đối chiếu những dự kiện cát hung của các “thần sát” vô hình.

Về khoa học thì những yếu tố nóng lạnh, nước lửa là có trái nhau. Mà những yếu tố này lại là bản chất của âm dương, ngũ hành. Quan trọng hơn là tâm lý bị tác động, ấn tượng ăn sâu, khó bỏ mà sinh nhiều hậu hoạ. Mặc dù là những quan niệm cổ xưa, thời nay xã hội đã khác nhưng con người theo tâm lý duy tâm vẫn còn băn khoăn trong tâm thức. Cho nên, nhiều khi làm cho quan hệ đang yên lành có khi bị ảnh hưởng, đôi lứa yêu nhau mà chẳng dám lấy nhau, trở nên mối tình ngang trái. Tuy nhiên, cũng có đôi bạn trẻ không tin, cứ lấy nhau, khắc nhau tuyệt mệnh mà chẳng sao, làm ăn vẫn bình yên, giàu có. Đến khi có vấn đề gì là người ta đổ cho là do “số”, là hai mệnh ấy khắc nhau. Hoặc người ta cho rằng nếu không khắc nhau về tiền tài, vật chất, thì nhà cửa hay con cái lại chẳng ra gì, không phải cái này sẽ là cái khác. Lại có chuyện, xem cho thật kỹ tuổi tác, ngày giờ, lo toan rất cẩn thận, cưới xin linh đình, to lớn, thờ cúng xì xụp đèn nến quanh năm, thế mà chẳng được bao lâu mâu thuẫn, đánh nhau, lôi nhau ra toà ly dị. Mượn tuổi làm nhà, mượn người xông tết thật là yên tâm, phấn khởi, thế mà quanh năm vẫn tai hoạ, ốm đau. Những lá số tử vi được lập ra, rồi người ta cứ tin vào đó mà hành xử làm cho cuộc đời thêm lắm nỗi éo le. Chuyện xung khắc cổ xưa mang theo lắm chuyện bi hài!

Ngày nay, người ta cho rằng học thức, hiểu biết, tâm lý, sinh lý, quan niệm, kỹ năng sống ở con người mới là quyết định. Không tương đồng hay trái nhau càng nhiều, hoặc không biết tiết chế, cân bằng, nhường nhịn thì càng trở nên đổ vỡ, bất hạnh. Mấy ai có được sự hoàn hảo, toàn diện bao giờ. Nên càng phải hiểu biết, bao dung, cảm thông, nhường nhịn, bù trừ và đặc biệt mỗi người cần biết mình thế nào, ở vị trí nào để mà phân xử thì sẽ giữ gìn được quan hệ tốt đẹp, hạnh phúc dài lâu.

Thế nên người ta mới ngẫm rằng: Không biết gì, tức là mình đang ngu, và ngu đến mức không biết mình ngu, tức là hai lần ngu, một là sẽ mặc nhiên hưởng thái bình (ngu si hưởng thái bình) hoặc mọi thứ đều thất bại và vô cùng bất hạnh!

Đáng sợ là chuyện xung tuổi với người chết. Khi có người sắp chết, nhất là bịa ra chết phải Trùng tang là người ta bảo những người ẩn tuổi (cùng tuổi can chi) hoặc xung với tuổi người chết là không được đến gần. Thế là người ta sinh ra sợ hãi mà phải tránh xa. Thực tế nhiều vụ tai nạn tàu xe, hay chiến tranh chết một lúc rất nhiều người, hoặc người chết ở những đạo khác, được rất nhiều người đến lo an táng cho họ, trong đó không ít người cũng trùng tuổi, xung tuổi mà có sao đâu? Thế nên những di thức lan truyền trong dân gian mà người ta cứ để ý đến, liền ám ảnh vào, lại bị tô vẽ hung dữ lên, dù chẳng có căn cứ khoa học nào, sẽ tác động rất tai hại cho con người. Còn người không sợ nên chẳng sao thì lại cho là “cứng bóng vía” không làm gì được họ!

Mệnh ác: Đây không phải theo nghĩa đen là chuyện làm ác mà là hiện tượng xung khắc về thể chất giữa người với người và theo quan niệm xưa là sinh, khắc ngũ hành, can chi.

Có nhiều khi ta thấy rất khó lý giải rằng, một người này vừa gặp một người khác chưa hề biết nhau bao giờ mà tự nhiên không thích gì nhau, có khi còn ác cảm rất ghét nữa. Hoặc có đứa trẻ thường ngày, mọi người đến chơi, bế ẵm không sao, nhưng một người nào đó xuất hiện đến gần hoặc bế ẵm là không chịu, cứ khóc thét lên, như không cho bế. Ngày xưa, trong trường hợp này, người nhà có khi lại trách cứ họ là “phải vía!”, hoặc dùng phép đốt vía mới yên!? Cũng thế, cứ thấy một người nào đó đến nhà, hay đi qua nơi làm việc là gia chủ cảm thấy chẳng hài lòng, chỉ muốn xua đuổi đi cho nhanh, hoặc lại bảo: Cứ người này dính đến y như là không sự này thì sự khác chẳng ra sao!..

Trước những hiện tượng như vậy, người cho là “khắc vía”, người cho là không thích, không hợp nhau mà thôi.

Nếu là thể chất con người thì có thể do xung lực điện trường, âm dương không tương tác với nhau như năng lực ngoại cảm, thần giao cách cảm… đã làm cho người khác sinh ra khó chịu. Đây là chuyện hy hữu không ai mong muốn, ít xảy ra, chỉ khi nào người ta đi khỏi, mọi việc sẽ trở lại bình thường. Hoặc do tâm lý hình thức khi nhìn thấy hình dáng, ánh mắt, lời nói không ưa, hay vì tính cách, trang phục bề ngoài không hợp với mình mà sinh tâm lý ghét bỏ. Cũng có thể có người khi đến mang theo ý nghĩ chẳng mấy thiện cảm mà thành xung khắc tự nhiên. Bởi vì, trong đám đông người đâu phải ai cũng yêu thích, ủng hộ mình, thậm chí còn là đối nghịch, chẳng thích gì nhau. Cũng có người lúc đầu rất ghét như muốn đổ đi, nhưng một thời gian thấy tính tình phù hợp thì lại trở nên thân thiết, quý nhau. Có người không nhìn thấy mặt, chỉ nghe tiếng nói hay giọng hát của họ mà lòng đã thấy xao xuyến, bồi hồi hoặc lại chẳng ưa thích chút nào.

Đó là sự thật hiển nhiên trong quan hệ và mâu thuẫn con người. Chỉ khi tâm đức ta quá tốt, giúp người thì dù không thiện cảm cũng chẳng bao giờ ai lại hại mình thôi.

Con người có số phận không

Số phận hay Số mệnh là quan niệm của người xưa tin vào thuyết cổ phương Đông, Tử vi và có phần mê tín dị đoan. Còn theo từ điển tiếng Việt ngày nay chú giải là: Số phận mình phải chịu.

Người ta thường nói “Số Trời định”, “Mệnh Trời đã định”, “Số mệnh con người”, “”Người định không bằng Trời định”… Và người xưa, kể cả ngày nay vẫn đi tìm lời giải đáp cho vấn đề: Con người có số phận không?

Số là những tính toán thông số thời gian, tuổi tác ứng vào các “thần sát” với ma trận vận hành của nó trong lá số Tử vi. Phận là những diễn biến dự kiện cuộc đời một con người theo thông số định mệnh của họ. Mệnh là những chỉ số và dự kiện về bản thân mình. Môn Tử vi là tổ hợp tính toán đựơc mã hoá can chi, ngũ hành vào toàn diện, tất cả diễn biến đời người và định danh cát hung cho từng dự kiện trong suốt cuộc đời của mỗi cá nhân. Có thể nói đó là cống hiến đặc biệt, xuất sắc của các triết gia cổ xưa về toán học và biện chứng tâm lý với kiến thức uyên thâm về thiên văn, vật lý, xã hội, con người của họ.

Ra đời từ cuối thời nhà Đường ở Trung Quốc, do học giả Trần Đoàn sáng tạo ra, trải qua hàng ngàn năm, môn Tử vi vẫn hấp dẫn sự tò mò của con người và có ma lực vô hình tồn tại như là một hiện tượng ly kỳ, lý thú. (xem phần Tử vi trong sách).

Theo học thuyết phương Đông, mỗi người sinh ra đều có số phận. Tử vi cho biết định mệnh như thế, sẽ thế và phải thế, đó là Trời định, tức là sinh ra đã là thế, gắn với mọi dự kiện cát hung, không thể thay đổi. Khi sinh ra, lập tức mỗi đứa trẻ đều được lập một “Lá số Tử vi” giữ làm bảo bối chiêm nghiệm trong cả cuộc đời. Tuy nhiên, giá trị của định mệnh thế nào còn ở tài năng lý giải của mỗi nhà Chiêm tinh luận đoán lá số Tử vi.

Bắt nguồn từ sự ra đời của môn Tử vi và sự biến hoá của nó ứng với đời người mà hình thành khái niệm “Số phận”. Nếu theo học thuyết phương Đông thì số phận mỗi người phải bắt đầu từ “Tiên thiên” hình thành bào thai trong bụng mẹ cho mãi đến khi là “Vong hồn” nơi cõi vĩnh hằng của vòng luân hồi, nhân - quả. Lá số Tử vi chỉ xác lập từ khi đứa trẻ chào đời với những dự kiện cát hung đến khi kết thúc cuộc đời thế là hết số.

Như một hiện tượng siêu hình, Tử vi cũng vừa hư vừa thực. Nó là tổng hợp của dự đoán và lý giải dự đoán nên xác xuất các dự kiện có thể đúng, có thể sai khi kiểm chứng với thực tế đương số. Khi diễn biến cuộc đời con người, trong đó có những biến cố bất thường có thể gần đúng hoặc xác xuất đúng như dự kiện trong lá số thì cũng thành định danh của số phận. Nhưng khi có dự kiện không đúng như lá số đưa ra lại bị lờ đi, không có lời giải thích? Đây cũng là một trong những hạn chế cho độ tin cậy của môn Tử vi. Chưa nói đến những áp đặt siêu hình, vô căn cứ khoa học của Tử vi như: Các sao ứng vào hình dáng, da thịt, tính tình, hành động, sống, chết… của con người mà trở nên mung lung, khó hiểu.

Môn Tử vi bao giờ cũng gắn với nhà chiêm tinh luận đoán, chính họ là người lập nên lá số và có vai trò quan trọng luận đoán lá số. Việc luận đoán, chỉ định cho dự kiện đời người qua lá số là một khoa tổng hợp tính toán xung khắc can chi, âm dương, ngũ hành, kiến thức thiên văn, xã hội với biện chứng tâm lý, logic sự kiện và cả nói dựa và mê tín dị đoan. Với sự vận hành, biến hoá của hơn 120 ngôi sao, gồm chính tinh, phụ tinh và các sao phụ khác thành muôn hình, vạn trạng dự kiện khác nhau. Từ cơ sở áp đặt mã hoá cho các vì tinh tú ấy (gọi là Thần sát), các chiêm tinh gia tha hồ mà mà luận giải, thậm chí có người còn khéo léo khai thác cuộc đời đương sự để dựa vào đó sáng tác ra cho thật giống hoặc gần giống mà gắn vào cho họ. Vì thế mà số phận qua Tử vi ẩn chứa những bất ngờ đầy mê hoặc lòng người.

Cuộc đời mỗi người là cả quá trình sống, từ khi sinh ra có biết bao sự kiện diễn ra cho đến khi chết. Thoát thai từ lòng mẹ, thành sinh linh bé bỏng, bình thường, khoẻ mạnh, lớn lên học tập, trưởng thành, làm ăn suôn sẻ, hạnh phúc, cho đến già đi về thế giới vĩnh hằng thì mấy ai quan tâm đến số phận của mình. Nhưng khi cuộc đời ít nhiều biến cố, có khi biến cố rất bất ngờ, có khi liên tiếp xảy ra nhiều tai hoạ làm cho người ta sợ hãi, đau thương, hoài nghi, khó hiểu. Đây là lúc con người sinh ra hoang mang, lo nghĩ và cứ đi tìm trong tâm thức hư vô mà hình thành những câu hỏi về số phận. Có bệnh thì vái tứ phương, có tai hoạ, áp lực tinh thần thì cầu Trời, khấn Đất, cúng bái thần linh để mong tha cho thoát nạn mà thành “Nhân số tại Trời”, “số Trời đã định”. Người ta tìm thấy ở quan niệm số phận sự trấn an, bằng lòng hay chấp nhận những gì đã, đang và có thể đến với cuộc đời mình. Tâm lý nảy sinh mong cầu, an ủi chứ không tìm phương giải thoát. Thế nên, người ta thường nói với người có cuộc sống êm đềm, hạnh phúc rằng: “Bao giờ cuộc đời xảy ra những oái oăm, bất hạnh thì sẽ biết. Đừng có đùa với số phận!”

Sinh ra bị dị tật, cho là “số nó phải thế”, vì xưa kia không có khoa học dự đoán dị tật và giải pháp y học khắc phục dị tật thai nhi như ngày nay. Vợ chồng lấy nhau không có con, có lẽ là số phận, chứ không như bây giờ đi khám để biết nguyên nhân dẫn đến vô sinh do bẩm sinh hay do dị tật, xung gen. Nếu bẩm sinh người vợ không có tử cung, tử cung quá ngắn, hoặc người chồng không có tinh trùng thì có giải pháp con nuôi. Nếu do người chồng không thể có con thì thụ tinh nhân tạo sẽ cải thành số phận có con là chuyện bình thường. Hiện tượng và nguyên nhân hoàn toàn là khoa học nhưng người ta cứ cho là số phận bắt mình phải thế!

Còn rất nhiều sự kiện diễn ra trong đời có khi tự nhiên, có khi rất bất ngờ, có khi là chuyện vui, chuyện tốt, có khi là tai hoạ đau thương, khủng khiếp mà cho là số kiếp cả thôi. Lá số chỉ ra vào lúc tuổi trung niên hay cuối cụôc đời đương sự có một sự kiện nào đó xảy ra. Thế là người ta cứ thế suy ngẫm, đón chờ, khi gần đến cuối đời chẳng thấy, thì thở phào nhẹ nhõm, có khi chờ lâu không thấy gì rồi cũng quên đi. Nhưng nếu có xảy ra giống hoặc trùng hợp ngẫu nhiên na ná như dự đoán trước đây, lại cho đúng là số phận đã được định mệnh rồi.

Quan niệm về số phận chỉ ở những người có những biến cố trong đời, hoang mang và hay tin vào số phận. Đó là thiên hướng, đồng thời cũng là giải pháp động viên, giải thoát trong tâm lý, tâm linh của họ. Còn những người, dù thế nào cũng không tin, không quan tâm đến Tử vi, số lý thì không nghĩ đến số phận. Họ cho rằng mọi sự kiện trên đời đều có thể xảy ra là việc bình thường, đến đâu sẽ tìm cách giải quyết, được là điều tốt, không thì cũng bằng lòng, chấp nhận là chuyện tự nhiên.

Như vậy, con người vừa có số phận và vừa không có số phận. Nó phụ thuộc vào hiểu biết, thiên hướng, quan niệm và cách xử lý sự việc của chính con người; Đồng thời họ có tin vào chiêm tinh, lý số và mê tín dị đoan hay không?

Nếu là số mệnh thì không cần cầu cúng và cũng không phải tìm cách làm giàu hay thoát nạn, vì là tất nhiên của số mệnh rồi, làm sao thay đổi được? Mặt khác, ngay trong môn Tử vi cũng còn bảo rằng “Đức năng thắng số” và theo quan niệm tiến bộ thì “Con người có khả năng cải tạo số mệnh”. Đó là giải pháp thức tỉnh con người khi khủng hoảng lòng tin, và cũng cho thấy mâu thuẫn của mê tín dị đoan về số mệnh.

Trong bài “Thử nói về số phận” đăng tải trên báo “Người cao tuổi”, tác giả Nguyễn Phương Tùng viết:

Tôi đọc sách Mặc Tử, Bách khoa toàn thư văn học cổ Trung Quốc do nhà xuất bản Đồng Nai in năm 1995, trang 78 có đoạn viết: “Khổng Tử tin số mệnh, Đạo Nho, vào cuối đời cũng tin vào thuyết số mệnh. Mặc Tử không hoàn toàn như vậy, ông nói: Hoạ hay phúc là do hành động của bản thân con người, xuất phát từ ý chí cá nhân con người, chứ không do số mệnh. Ông đề xướng thuyết “Phi mệnh”.

Mặc Tử nói: “Mệnh” là thứ do các vua ác sáng tác ra trong thời buổi biến động của Xuân Thu - Chiến Quốc, để duy trì địa vị đặc quyền của vua chúa. Giai cấp thống trị không thể không có một thứ “lý luận” để bảo vệ chúng, nên sáng tác ra thuyết “Số mệnh”. Họ mượn “số mệnh” để làm lý do chính đáng ngồi trên đầu nhân dân, ăn chơi xa xỉ. Thuyết định mệnh này làm cho dân tin vào số mệnh. Có những người lười biếng, không chịu lao động sản xuất, dẫn đến nghèo đói, họ cho là “cái số của chúng tôi là bần cùng”. Mặc Tử cho rằng: “Thành bại của mọi việc là do sức người chứ không phải định mệnh”.

Từ suy ngẫm về thuyết định mệnh (có số phận) và phi định mệnh (không có số phận) của Mặc Tử, tôi thử tìm nguyên nhân của sự phân hoá giầu nghèo, sướng khổ trong xã hội trước đây cũng như ngày nay và xét về cuộc sống của bản thân, gia đình, tôi cho rằng trong đời thành đạt hay thất bại đều do bản thân ta, tất nhiên cũng do ảnh hưởng của môi trường, hoàn cảnh tác động đến thành đạt.

Nhưng, tại sao có nhiều người khổ công, gắng sức làm việc, lao động sản xuất mà vẫn nghèo, gặp nhiều khó khăn trong đời sống? Hai người cùng tuổi, cùng học lực, đạo đức, tài năng như nhau, sao lại có người được trọng dụng làm việc, chức cao, còn người kia thì thất nghiệp hoặc chỉ là trợ lý thường?

Đọc sách “Dịch học tinh hoa’, “Lão Tử tinh hoa” có ghi chữ “Thời” và chữ “Cơ”. Hai chữ này rất quan trọng. Người quân tử tiến thân tu nghiệp chỉ cần hành động kịp thời mới không lầm lỗi. Bỏ mất chữ “Thời” thì hành động nào cũng hỏng, có khi nguy hiểm cho bản thân và xã hội. “Thời” là biến, nhưng biến đúng thời. “Thời” nên nghỉ thì nghỉ, “Thời” nên làm thì làm, động tính không sai thời thì mới đạt hiệu quả, thời là biết tiến biết thoái.

Lão Tử viết: Đúng thời, đúng lúc một thành muôn. Không đúng thời thì muôn thành không (thất bại). Đúng thời thì người tiểu nhân cũng làm nên nghiệp lớn. Không đúng thời thì bậc quân tử, người tài giỏi cũng đành chịu. Rõ ràng “Thời” ở đây là đúng quy luật, rất khoa học. Ai hành động đúng quy luật của tạo hoá thiên nhiên thì thành công, kể cả trong quan hệ xã hội…

Chữ “Thời” gồm có 2 ý: Thời bên trong và thời bên ngoài. Nếu thời bên trong chưa dự bị thì thời bên ngoài có tốt đẹp thuận lợi cũng không thực hiện được.

Ta thường nói: Làm gì cũng phải súc tích lực lượng để đón lấy thời cơ. Nhiều người kinh doanh thành đạt là nhờ có kiến thức, có súc tích vốn và nắm bắt được đúng thời cơ mà thành công. Kinh doanh thất bại là do không có kiến thức, không đúng thời cơ, không nắm chắc thị trường bên trong và bên ngoài.

Trong thiên nhiên, xã hội còn bao chuyện xảy ra: Chiến tranh gây chết chóc, thương tật, hậu quả chất độc; Thiên tai lũ lụt, gây thiệt hại người và của; Biết bao gia đình do hoàn cảnh nào đó, còn bất hạnh khổ đau; Những người tham lam, ích kỷ, hung ác, bạo tàn gây ra chết chóc, chiến tranh; Những người hiểu biết ít, không thấu hiểu quy luật vận động của thiên nhiên, vũ trụ nên gây tai hoạ cho mình, cho xã hội… Tất cả, có phải là do số phận?

Thực tế lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh ai biết quy luật, làm đúng theo quy luật thì tồn tại, ai làm trái quy luật thì bại vong.”

Ngay từ thời xa xưa, đã có các bậc trí giả là Mặc Tử, Lão Tử hiểu về “định mệnh” như thế, thì ngày nay, xã hội đang tiến tới nền văn minh, hiện đại với những bước phát triển thần kỳ của khoa học, chúng ta càng phải suy ngẫm để thẩm định cho căn cứ giải mã khoa học nhất về cuộc sống đời người.

Cho rằng cuộc đời có số phận thì ắt có những điều tin nó diễn ra cho cuộc đời mà chấp nhận là do số mệnh và phụ thuộc vào lá số Tử vi. Cho rằng mọi sự đều là chuyện tự nhiên, hay do sự cố có thể cải tạo được bằng bản lĩnh, hiểu biết, bằng tiến bộ khoa học, hoặc không thể khắc phục được, thì cho là chuyện bình thường của cuộc sống mà thôi. Vậy thì tất cả hên xui, may rủi đều do tư tưởng con người hiểu biết, suy xét và quyết định.

Câu chuyện “Số Phi công” là một ví dụ: Trong một chuyến bay chở hàng trăm hành khách, bỗng nhiên máy bay bị sự cố rơi xuống, nổ tung, kể cả phi hành đoàn không ai sống sót. Trong số mấy trăm hành khách, không thể sinh ra cùng thời gian như nhau nên không có lá số giống nhau, thậm chí có người, nếu lập lá số còn dự báo làm quan, an bình, sung sướng nữa là khác. Ấy thế mà phải chịu cùng số phận tang tóc, đau buồn không thể gì lý giải. Có người lại đưa ra luận đoán hoang đường là do số phận của Phi công đến ngày phải chết! Vậy thì số phi công này phải giết chết rất nhiều người có số phận không phải chết hay sao? Còn rất nhiều sự kiện như chiến tranh, khủng bố, chen lấn dẫm đạp khi hành hương về thánh địa, chùa chiền, tai nạn ôtô, tàu thủy làm chết cùng lúc rất nhiều người, những tiến bộ của y học ngày nay chữa trị được rất nhiều bệnh tật hiểm nghèo, kéo dài thêm tuổi thọ… đều chứng minh cho sự vô căn cứ cổ xưa về quan niệm “số phận” con người.

Siêu lừa thờ Phật

Ngay khi còn là vị thành niên hắn đã có máu yêu bừa. Mấy cô gái trong xóm mà gặp cười đùa là thế nào hắn cũng ôm ấp được. Lớn lên hắn ít học, chỉ lớp 3 là thôi. Thế mà vùng lừa đảo trong não bộ lớn lên vượt trước tuổi trưởng thành của hắn. Văn hoá thấp mà đi đến đâu hắn cũng lừa được. Cá nhân, hợp tác xã, cơ quan, xí nghiệp… hắn lừa tất. Biết lừa được tiền là hắn lừa nhanh lắm, xong rồi chuồn ngay, không ai làm gì được, đành cắn răng mà chịu. Có lần do lừa đảo hắn bị bắt vào tù. Mãn hạn tù, hắn lại đi thật xa, ra mãi Thủ đô Hà Nội tiếp tục lừa đảo. Hắn mang về quê hàng va ly tiền, khoe khoang là làm ông này, ông nọ rồi vung tay từ thiện công đức, sắm đủ thứ cúng tiến và giúp chùa, đền vì hắn cho rằng Phật, Thánh phù hộ hắn lừa được lắm tiền mà giàu có thế đấy! Yêu thì vớ được cô nào ưa nghe nói dối, ham tiền là hắn yêu được ngay. Cô nào cao tay là lừa lại hắn lấy làm vợ để vơ tiền bất chính. Hắn có vợ cả hẳn hoi mà vẫn lấy được bốn, năm vợ ở gần và cả nơi xa, không giá thú. Hắn đưa tiền về quê làm và mua vài nhà cao tầng cho vợ thứ tư là cô trẻ, đẹp hơn cả để lấy chỗ đi về, dương dương tự đắc là ông kễnh lắm tiền.

Một ngày vào buổi chiều, hắn thuê ô tô từ Hà Nội chở mấy pho tượng Phật về quê. Hắn thuê mấy bà mấy cô ăn mặc chỉnh tề làm đệ tử và người khiêng vác ra tận cổng làng rước Phật thờ lên chính điện nhà hắn. Hắn mời thầy cúng bái linh đình, bung beng, hô thần nhập tượng, xong rồi chuồn thẳng đi tiếp tục làm ăn. Chẳng ai biết cụ thể hắn làm gì ở đâu mà lắm tiền thế? Còn hắn gặp ai nhẹ dạ, cả tin là khuếch khoác rằng đang giám sát công trình, có cả công trình ở thành phố Hồ Chí Minh và trúng nhiều giải sổ số độc đắc tiền tỷ. Hắn còn chìa ra nhiều thứ thẻ, có lẽ là thẻ giả chứ học hành gì mà có được? Thời gian cứ trôi đi, hắn trở thành đại gia nghi nghi hoặc hoặc trong con mắt xóm làng.

Đùng một cái, con vợ thứ tư đang ăn sung mặc sướng, suốt ngày chẳng làm gì, chỉ rong chơi, tiêu tiền như rác, gọi điện di động suốt ngày, mang theo hàng chục tỷ tiền lừa đảo của mọi người cùng gã người yêu hờ cuốn gói trốn mất. Những người dân chân lấm tay bùn thường ngày vẫn được nghe những lời đường mật và nhận quà hậu hĩnh từ tay vợ không giá thú của hắn rồi dốc vét cho cô ta vay tiền, để rồi cô ta lấy ngay tiền của mình mà gọi là “trả lãi hậu” cho mình, chỉ còn biết ngồi khóc mà kêu trời, vái đất mong vật chết quân bất nhân, lừa đảo!

Chứng kiến sự việc hài hước, đau lòng, mọi người mới tự hỏi: Tại sao thần, phật lại phù hộ cho kẻ lừa đảo, bất lương? Mà ở vùng quê này đã bao phen khốn đốn về hụi lừa đảo và cúng bái quàng xiên, lại cứ u mê nghe theo bọn bất lương, lừa đảo. Càng siêng năng cúng bái, bọn mất tính người càng lợi dụng vào tâm linh thờ cúng mà tạo ra cơ hội lừa đảo dễ dàng. Không tỉnh táo thì tâm linh và mê tín dị đoan trở thành vũ khí giết chết con người không thương tiếc.

Hội của. Trộm cắp

Lễ hội Phủ Dầy, Nam Định, thờ Bà chúa Thượng ngàn trong truyền thuyết Tứ bất tử. Mấy bà, mấy cô chuẩn bị từ nửa tháng nay, nào tiền, nào lễ vật, thuê xe ô tô... suốt đêm thao thức chờ sáng mai đi sớm trẩy hội. Tới nơi, cả không gian lễ hội đông đúc khách thập phương. Ai nấy chỉnh trang chỉnh tề cùng nhau hoà vào lễ hội. Người đi thưởng ngoạn cảnh quan, chiêm ngưỡng lễ hội thì nhẹ nhàng thoải mái. Người đi theo tâm linh cầu cúng thì tay bê, đầu đội hoa quả, vàng hương. Ai cũng vui hỷ hả, chen chúc, cầu khấn cho đủ các nơi, những mong yên bình, hạnh phúc, khoẻ mạnh, vui tươi, làm ăn giầu có.

Thế nhưng niềm vui chưa thấy mà người thì bị trộm cắp móc túi moi tiền, điện thoại di động đắt giá không cánh mà bay, đầu đang đội lễ vật mà dây chuyền vàng đeo ở cổ cũng bị chúng tháo mất lúc nào không biết. Người dăm ba chục ngàn, người tiền triệu, tính tất cả chuyến xe khoảng gần 20 triệu cúng tiến cho bọn trộm cắp, bất lương. Lạ thay, chốn linh thiêng thần phật đâu có phù hộ cho việc làm xấu mà bọn gian manh cứ nhởn nhơ, không bị thần linh trừng phạt để bảo vệ dân lành. Cho nên dù ở nơi đâu con người cũng phải đề cao nhân bản, cảnh giác với mọi tội lỗi có thể xảy ra dù là nơi tâm linh, thần, phật.

Thần Tài mất của

Nhà buôn bán quanh năm phát đạt. Giỏi thì biết sử dụng vốn, biết kinh doanh, làm ra của cải vật chất, hàng hoá tốt, chất lượng cao có uy tín, giúp đỡ tận tình cho người dùng là làm giầu chân chính. Buôn gian, bán lậu, lừa đảo khách hàng, hàng xấu không ai mua mang bán bừa cho người quen, bóp cổ, lấy tiền là thất đức.

Thần Tài thì tìm mua ông thật có duyên, am thờ làm thật đẹp, trang trí cầu kỳ, thờ phụng hoa quả, đèn hương nghi ngút. Những tưởng cầu được, ước thấy, tiền của chảy vào đầy nhà. Đùng một cái, mấy tên gian tế không biết từ đâu đến giả vờ mua hàng, ngã giá rồi bỏ đi. Vừa vô ý vào nhà một chút, quay ra cũng không để ý. Đến chiều kiểm tra ngăn đựng tiền hàng, thì ôi thôi gần chục triệu đồng ở ngay ngăn kéo trước mặt ông Thần Tài không cánh mà bay. Hoá ra mấy thằng bất lương, lừa đảo đã vờ đến thị sát để tính thời cơ quay lại chôm nhanh khoản tiền rồi biến mất. Của Thiên lại trả về với Địa. Tiền gian lại biếu cho kẻ cắp!

Lại một hôm do sơ ý, chủ nhà làm rơi đồ vật vào cạnh am thờ thần tài, làm gẫy mất cái mỏm mái am thờ, làm cho gia chủ sinh ra lo nghĩ. Đến chiều đi làm, chiếc khoan tường bỗng nhiên bị cháy. Ngày hôm sau, công việc lại trắc trở khó khăn. Sự việc xảy ra là do nguyên nhân nào đó hoặc là sự trùng lặp ngẫu nhiên. Thế nhưng lại cho rằng có sự linh thiêng ở chỗ thần tài.

Thời kinh tế thị trường, chứng khoán, bất động sản làm ăn bằng giao dịch nước bọt, mánh khoé buôn gian bán lậu, lừa lấy của người khác làm gìâu, nảy sinh nhiều đại gia cỡ bự. Người ta nghĩ rằng phát phúc mà thuê văn phòng thật lớn, mua am về lập bàn thờ thần tài, mời thầy đến cúng chập cheng cho phát đạt thật nhanh. Thế nhưng chẳng bao lâu chứng khoán sập, bất động sản tiêu vong. Doanh nghiệp phá sản hàng loạt, nợ chồng chất, văn phòng tan hoang. Am thờ tuy không khói hương mà ông thần tài vẫn ung dung tươi cười ngắm nhìn “giám đốc”, “chủ tịch hội đồng quản trị” bỏ chạy, nhân viên nhăn nhó, buồn rầu thôi việc.

Thế mới hay Thần Tài chỉ là tín ngưỡng dân gian, còn việc làm ăn có hên có sui là việc thường tình và phải ở tâm đức chính mình. Phải tự mình làm ra của cải, vật chất. Giàu tiền phải cùng với sang, thông thái từ tài năng, đức độ và biết tính toán làm ăn của con người thì Thần Tài mới tươi cười sảng khoái, đích thực với nghĩa Thần Tài.

Mê tín càng trộm cắp

Người Mẹ thì mưu mô, cứ xin theo phụ giúp các đoàn phật tử hành hương đi đến những nơi lễ hội, đền chùa cầu cúng. Tu thân tĩnh đức thì không mà mụ ta chủ yếu lợi dụng tín ngưỡng để bớt xén tiền của, vàng hương và ăn cắp.

Đi theo phật tử, lễ bái, cầu siêu, được giao nhiệm vụ chăm lo hậu cần, thế là mụ tính toán, gian tham, bớt xén kiếm chút ít để cho vào túi. Mấy lần phát hiện thấy tính gian tham, các đoàn phật tử tìm cách loại mụ ta ra, không mời đi theo đoàn nữa.

Hết đường đi tới cửa thiền làm điều gian manh, trộm cắp, mụ lại mon men tìm đến nhà “cô” có cái điện thờ hoành tráng, quanh năm đệ tử, con nhang cuồng tín đến nộp tiền, để mong nương nhờ tí lộc. Cô thấy mụ nhiệt tình, lời ăn tiếng nói cũng hơi ngon ngọt, liền cho vào lo chuyện cơm nước cho khách thập phương. Lại là hàng xóm láng giềng, cô tin tưởng, hàng ngày giao tiền cho mụ đi chợ lo cơm canh, lễ lạt. Mới đầu, công việc trôi chảy, tốt lành, lễ cúng điện thờ chăm lo đầy đủ, cơm canh cho khách chu tất, ngon lành. Được một thời gian, cô thấy có hiện tượng mụ thành gian tế. Tiền giao cho hàng ngày bị mụ bớt xén, thậm chí sểnh ra là tiền cúng trên ban thờ thỉnh thoảng một vài chục ngàn, có khi đến cả trăm ngàn cũng không cánh mà bay. Hoá ra mụ chẳng coi thần thánh ra gì, liều lĩnh cuỗm tất. Đúng là mụ giống bọn gian manh, chẳng sợ gì thần, phật nơi chốn linh thiêng lễ hội, chùa chiền, cứ thấy hở ra cái gì là nảy sinh dã tâm trộm cắp của mọi phật tử, chúng sinh. Cô đành nói khéo để đuổi mụ cút ngay khỏi chốn linh thiêng, lễ bái điện thờ.

Thế là hàng ngày đâm ra thế bí, mụ xui con đêm đêm đi ăn trộm của dân. Con của mụ không từ một thủ đoạn nào, từ cắt trộm hoa quả trong vườn, bẻ chấn song cửa nhà hàng xóm chui vào nằm dưới gầm giường chờ đến đêm hành sự, cạy tủ nhà bên móc túi lấy tiền, cho đến phóng xe máy đi đêm dùng bao tải bắt trộm chó. Hành vi khốn nạn của mẹ con mụ, dù biết thế, tuy không bắt được tận tay, nhưng cũng làm cho dân làng bất bình, tức giận. Ai cũng mỉa mai, sao mụ càng theo mê tín chùa chiền, càng cúng bái lại càng trộm cắp như thế!

Người yêu, kẻ ghét

Con người là một thực thể sống có hình hài, trí tuệ, tâm lý, thiên hướng, học vấn, hành động, giao lưu, quan hệ không giống nhau. Trong mỗi người đều có ưu điểm, nhược điểm, có yêu có ghét, có thích và không thích. Hợp nhau nhiều điểm thì yêu thích nhau. Không ưa cái gì là không thích nhau, thậm chí trái khuáy thì ghét nhau phải biết. Thế nên, đừng hoang tưởng cho rằng mình hay, mình nhất, ai cũng thích mình. Bất kỳ ở đâu, trong số 10 người, nhiều lắm thì chỉ 5 người yêu thích mình, còn lại khoảng 2 người cho là bình thường, 2 người không quan tâm và thế nào cũng có ít nhất 1 người không thích mà có thể còn tỏ ra rất ghét. Đó là mình tốt, chứ không tốt thì số người không thích sẽ nhiều hơn, có khi đến 9 người không ưa, trong đó có người chỉ muốn tìm cách hại mình cho bõ ghét.

Cũng vì thiên hướng, tâm lý đồng thuận theo mỗi người mà tìm đến với nhau như sự tương tác, tâm đầu ý hợp với nhau. Anh hùng, học giả hay gian tế, kẻ cướp, tù nhân đều có bạn của mình. Gặp nhau, yêu nhau, say đắm vì nhau thì cái gì cũng tốt, cũng đẹp, cũng hay, ấy thế mà người mình rất yêu lại có người ghét cay ghét đắng là lẽ thường tình. Có người ở gần nhau, biết nhau hàng chục năm mà chẳng thích gì nhau. Có người chẳng có quan hệ gì mà khi gặp nhau là chẳng thích nhau chỉ vì cái nhìn, ngoại hình, quần áo, tác phong, thái độ hay tiếng nói... Nhưng lại có người vừa gặp nhau đã thấy thích nhau, rồi còn yêu nhau tha thiết, đắm say. Người hợp nhau, thích nhau dù chẳng là anh em, họ hàng cũng sẵn sàng giúp đỡ, kể cả hy sinh quyền lợi cá nhân để làm cho tình bạn thêm keo sơn gắn bó. Trái lại, dù là họ hàng mà không hợp nhau thì chẳng thèm quan tâm, nhìn thấy nhau đã thấy ghét, có khi còn muốn “xúc đổ đi!”. Ngay trong gia đình, cha mẹ, anh em, con cháu cũng có người hợp tính, quý nhau và cũng có người không hợp mà sinh ghét bỏ.

Anh hùng, vĩ nhân nói hàng triệu người nghe theo vẫn có kẻ không ưa, không thích. Thiên tài, lãnh tụ cũng có người không phục mới thành đối lập, phản động, kẻ thù. Người có tính buôn chuyện, ngồi lê mách lẻo mà mọi người không thích. Người gian giảo, hay trộm cắp vặt ai cũng đề phòng. Người luyên thuyên, khuếch khoác thì chẳng ai ưa. Người dối trên lừa dưới ai mà chẳng ghét. Người tham lam, độc ác, hung hãn hay gây sự, đánh chửi nhau, ai cũng phải lánh xa. Người duy tâm, mê tín dị đoan chẳng thích gì, thậm chí rất ghét người chống mê tín. Người theo khoa học không ưa gì người mê muội, dị đoan. Người cuồng tín dị đoan, u mê chẳng hiểu gì về khoa học.

Cũng do yêu, ghét mà trên đời xảy ra nhiều chuyện thú vị, bi hài. Dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, đồng giới hay khác giới đều có người yêu, kẻ ghét. Trong số người yêu thích mình, thế nào cũng có người rất quý mà giúp đỡ vô tư, không màng tiền của, sẵn sàng kết bạn cố tri đi suốt cuộc đời. Nếu là khác giới thì thầm yêu, trộm nhớ, say đắm cháy lòng, yêu thương không dứt được. Vì thế, nên ai cũng vậy, chớ vô tư, vì trên đời này vẫn có người đang rất yêu tha thiết mà mình không biết, thế mới có mối tình sét đánh, có chuyện ngoại tình, có chuyện tự tử vì yêu, có sự bất ngờ chẳng biết ai cứ âm thầm giúp đỡ mình mà giấu mặt. Còn trong số người không thích kia, thế nào cũng có kẻ luôn luôn ác cảm với mình, có khi chưa bao giờ quen biết mặc dù chỉ gặp lần đầu. Gặp loại người này thì không hy vọng gì có sự giúp đỡ, mang hồ sơ đi xin việc ắt sẽ uổng công. Cứ tưởng yêu được người ta mà cố liều yêu, coi chừng phải trả giá! Có kẻ rất “iêng hùng”, bất chấp, chẳng sợ ai, nhưng có lúc lại bị người rất bình thường trị cho phải chịu. Hoặc chỉ vì mơ màng một ả mỹ nhân mà trở thành yếu hèn, bất lực. Cho là hên may, số đỏ, vận đen là thế.

Người ta cũng thường nhắc rằng “Vỏ quýt dầy có móng tay nhọn” là muốn nhắn nhủ con người hãy biết mình, biết người, khôn ngoan, tinh tế mà đối nhân xử thế ở đời. Không thì đến nơi khác, hoặc sẽ có người khác trị lại được ngay. Thế nên, chớ ngộ nhận, hoang tưởng mà bất chấp mọi điều, sẽ có lúc trở thành bất lực, bé nhỏ trước nhiều điều khác.

Chẳng có thánh thần, ma quỷ nào điều khiển cho sự yêu thương hay ghét bỏ, mà do bản tính, thể chất, thiên hướng và tâm lý con người. Thế mới nhiều phức tạp mà thành xã hội, phải có giáo dục, có luật pháp để giao hoà, hạn chế những mâu thuẫn cá nhân. Có điều rằng, khi giỏi giang, đạo đức, tâm lý, hiểu đời, hay giúp người, biết đối nhân xử thế, có văn hoá ứng xử thì dù là người chẳng thích cũng không bao giờ ghét bỏ, hại mình. Cuộc sống hài hoà là ở mỗi chúng ta hiểu và biết làm nên những điều thú vị.

Ghét của nào trao của ấy

Sống ở đời, nhiều khi cũng có nhiều chuyện chẳng được như ý mà đôi khi còn rất bực mình, trái khoáy, day dứt lương tâm. Không phải riêng việc gì, mà bất cứ trường hợp nào cũng có chuyện làm xáo trộn tâm linh hoặc cười ra nước mắt.

Mâu thuẫn: Hai vợ chồng ông lão, ông đã qua lâu cái tuổi “thất thập cổ lai hy”, bà thì cũng ngoại bát tuần, ăn ở với nhau rất tốt. Duy chỉ có việc tín ngưỡng thì nhiều chuyện thật trái nhau. Ông rất ghét mê tịn dị đoan, cầu cúng, đồng bóng linh tinh. Ông bảo: “Tại nhà, tôi chỉ thờ bố mẹ đẻ ra tôi thôi, còn mọi việc, ai thích thì ra nhà chùa, nhà thờ, đền miếu”. Bà thì bảo: “Ông không làm thì cứ mặc kệ tôi”. Ở thành phố, thế mà bà lập bàn thờ trên gian gác ba rất hoành tráng, thờ gia tiên và thờ cả Phật. Hàng ngày bà tụng kinh, niệm Phật, hương khói, đèn nhang. Bà thường cùng nhóm người già phật tử đi trẩy hội, cầu cúng, tế lễ các nơi cửa Phật, chùa chiền. Mỗi chuyến đi, bà lại mang về nào băng, nào đĩa niệm phật, tụng kinh, giá đồng, giá bóng. Thời gian thư giãn, bà mở ti vi, bật đầu đĩa chăm chú hàng giờ xem đàn hát, múa may đồng bóng. Ông thấy vậy, vừa cười vừa nói: “Đúng là chỉ linh tinh, inh ỏi cả nhà!”. Bà liền nguýt ông một cái rồi bảo: “Ai khiến ông. Ông huyên thuyên vừa chứ, kẻo mà phải tội!”. Con cháu thấy vậy kêu lên: “Thôi, thôi, con xin các cụ! Ông cứ để cho bà thoải mái. Các cụ khoẻ mạnh là chúng con nhờ!”. Ông nhìn các con, tủm tỉm: “Chỉ mê tín dị đoan!”, rồi lững thững đi cầu thang xuống nhà dưới nằm ghế tựa đọc báo. Còn trên nhà, bà vẫn ngồi chắp tay, ngất ngư thả tâm hồn theo tiếng đàn, tiếng trống, hát văn.

Ấy thế mà mấy năm sau, nhân dịp có giỗ ông cụ bên nội, bà về quê vừa là giỗ vừa thăm anh em, con cháu. Có điều là lần này không thấy bà mang theo nhiều vàng, hương như mọi lần về quê. Bà thấy ông anh chồng vẫn quanh năm có nhiều người cứ đến mời đi cầu cúng cho nhà họ. Bà liền bảo: “Bác tuổi già rồi, đừng đi cúng bái làm gì nữa. Ở nhà, có cúng thì cúng bằng hương hoa. Còn nếu muốn ăn thịt cá gì cứ làm thêm để cả nhà cùng ăn. Hai năm nay, nhà em không đốt tiền âm phủ, vàng mã nữa, tốn kém mà các cụ ngồi trên đống lửa nóng lắm. Bây giờ văn minh rồi, thắp nén nhang tưởng nhớ, chứ đừng cầu kỳ, phức tạp làm gì”. Con cháu rất ngạc nhiên về sự đổi thay, mà xưa nay không ai tin lại xảy ra ở người già rất sùng tín như bà. Bà cũng bảo rằng, bà bỏ luôn chuyện mê đồng bóng mà rất chịu khó tập “thiền” và luyện “7 Luân xa” nên sức khoẻ rất tốt. Còn ông nhà bà bây giờ lại hay tụng kinh, niệm phật cho tâm linh thêm an bình, vui khoẻ tuổi già.

Không thích xướng ca: Một bà làm công tác chính trị, tính tình rất nghiêm túc, chỉn chu. Bà không thích xướng ca, đàn hát nghêu ngao, nhảy múa. Con gái thứ hai của bà cũng làm công tác chính trị, rồi được đi du học trường đào tạo cán bộ ở nước ngoài. Năm tháng học tập, giao lưu, tình yêu nảy nở, cô con gái bà yêu đúng anh chàng nhạc sĩ thổi kèn. Nhận được tin, người bà nóng lên bừng bừng, bực mình, sao nó lại chơi bời, yêu đương với cái của mà bà chúa ghét?

Bà ngấm ngầm tính chuyện cho nó bỏ nhau, liền điện sang hỏi họ tên, năm sinh tháng đẻ của cậu thổi kèn và đưa thông tin: “Chúng mày không hợp nhau đâu mà lấy!”.

Thế rồi thời gian qua đi, lâu lâu không thấy chúng trả lời, phương trời cách trở xa xôi, bà không sao gặp được. Đùng một cái, con gái bà điện về cho bố mẹ là chúng con chuẩn bị cưới nhau. Bà chết điếng người, đành “ngậm bồ hòn làm ngọt!”

Ít lâu sau, các con bà vui mừng báo cho bố mẹ, gia đình tin vui là đã sinh một thằng cu xinh xắn. Mẹ cháu đã học xong chương trình, đạt điểm tối ưu đang chuẩn bị về nước, còn bố cháu vẫn hàng ngày chuyên tâm cho chương trình nghiên cứu hoàn thành luận án nghệ sĩ thổi kèn.

Trái khoáy tôn giáo: Hai cô cậu cùng học trường công nhân kỹ thuật yêu nhau tha thiết, đến ngày ra trường tính chuyện tổ chức cưới nhau. Về nhà trình với gia đình, bố mẹ cả hai đều không đồng ý, với lý do chàmg trai theo đạo Thiên Chúa, cô gái lại ở bên Lương. Hai gia đình dứt khoát không nghe, bảo không cưới xin gì cả! Đôi bạn trẻ rất buồn, nhưng cứ quyết tâm và dẫn nhau đến Ủy ban nhân dân đăng ký kết hôn, rồi chuẩn bị lên đường cùng đi xa công tác. Ngày lên đường, cha mẹ, gia đình bùi ngùi chia tay, cầu mong cho con khoẻ mạnh, làm ăn thành đạt và luôn nhớ gửi thư về.

Đến nơi công tác, hai người sống chung trong căn nhà tập thể cơ quan. Chồng đi làm về, hàng tuần đến nhà thờ cầu kinh, rửa tội. Vợ không đến nhà thờ mà làm bàn thờ tại nhà cúng giỗ gia tiên. Cuộc sống cứ thế diễn ra êm ái, bình thường, ba năm sau mới có điều kiện lên tàu xe mang con gái về quê thăm nội ngoại. Tình cảm gia đình gặp gỡ xúc động, thương yêu, ai cũng mừng vui vì vợ chồng làm ăn khấm khá, cháu bé kháu khỉnh, khôn ngoan. Mọi kỷ niệm xưa đi vào dĩ vãng, ai cũng thấy vui, không trăn trở về quan niệm bên giáo bên lương, miễn là mọi người cùng nhau sống tốt, hướng về tương lai cuộc sống đẹp tươi, đoàn kết, thanh bình.

Số đào hoa: Cô giáo miền quê, tóc dài duyên dáng, rất nhiều mối tình lãng mạn bay đến rồi phải ra đi, vì trái tim cô chẳng hề rung động và chúa ghét ong bướm vây quanh. Ấy thế rồi một lá thư xa, thay cho việc chưa từng biết mặt mà cô thấy chạnh lòng. Cuộc nhân duyên cứ theo ngày tháng nhân lên, sau hàng năm mới có ngày gặp mặt. Mối tình sét đánh với những dòng thư êm ái ngọt ngào làm mềm nhũn trái tim, cô thả tâm hồn bước sang trang mới. Chẳng bao lâu sau, lễ cưới đưa cô về với nhà chồng. Công việc làm ăn, con trai, con gái lớn lên, khoẻ mạnh, trưởng thành, cô mãn nguyện cho rằng thế là hạnh phúc.

Nào có ai ngờ, trong một lần giở xem tài liệu của chồng, cô không còn tin vào mắt mình khi đọc nhiều trang ghi chép về những bóng hồng trong hàng chục năm nằm trong bí mật. Chỉ là lời văn trên trang giấy, dù thật hay không, cô vẫn đau buồn khi đã quá tin cho điều quá ghét lại trở thành sự phản bội đến với chính cô! Thế cho nên, đời phũ phàng hay rất đào hoa chỉ là tương đối.

Cô lần theo lá số ông chồng, ông thầy bảo rõ ràng sao Đào Hoa, Hồng Loan cư vào cung Mệnh. Chiếu sang cung dã ngoại có chính tinh Tham Lang, Cự Môn đắc địa và Tả Phù hiện ở Thiên Di. Thảo nào, trong người đã sẵn tâm hồn bay bổng, ra ngoài lại mồm mép, văn chương với lắm bạn bè thì làm gì chả thế! Cô cứ ngẫm duyên phận buộc vào mình hay là nên tự hào vì mấy ai lấy được người chồng tài năng lại có số khôn khéo, đào hoa?

Những chuyện vênh nhau ở đời cũng như chuyện “bù trừ” trong cuộc sống. Anh chồng trí tuệ, văn minh, tính tình cẩn thận, sạch sẽ, vui tươi, dễ tính thế nào cũng lấy phải cô vợ mê tín dị đoan, luộm thuộm, bủn xỉn, lẳng lơ, khó tính. Sống với nhau không khác gì tra tấn, ấy thế mà người ta lại bảo: “Số là phải thế!”. Bỏ thì thương, vương thì tội, cứ thế sống, cho dù suốt đời mâu thuẫn nảy sinh, vì đó là nếp sống Á Đông, chứ không phải phương Tây không thích, không yêu thì ly dị! Đời có bù trừ mới tốt đẹp lên chăng? Nếu tất cả khôn ngoan ở cả với nhau còn ngu dại lấy nhau chắc là chết hết! Thế mới là con người, thế mới thành xã hội, nhiều phức tạp nhưng cũng vô cùng phong phú, cần phải chấp nhận, cân bằng, rèn luyện, tu thân. Đúng là “ghét của nào trời trao của ấy” chẳng sai!

Ly kỳ “Dị nhân”

Những năm 1950-1960, ở xóm Đông Tiến, thôn Đông Thượng, xã Trực Trung, Trực Ninh, Nam Định có ông C, người hiền lành, nghề làm ruộng. Nhưng ông có cái đặc biệt là nhập đồng rất nhạy mà cả làng không ai làm được. Ngay trước cửa nhà ông có một phủ thờ. Hồi đó, đất nước còn loạn lạc, khó khăn nhưng dân làng cũng góp công góp sức xây được cái phủ để thờ Thánh. Mỗi lần tế lễ lại mời ông đến để ngồi đồng. Sau một hồi bát âm, đến ngồi đồng hiển thánh. Ông ngồi xếp bằng, chủ tế trùm lên đầu ông một chiếc khăn đỏ. Ngồi yên vị một lúc thì bắt đầu người ông đu đưa. Lúc đầu đu đưa từ từ theo vòng tròn, sau cứ mạnh dần lên rồi ông bất thần hất tung khăn trùm đầu và ngồi im. Chủ lễ và mọi người xung quanh chắp tay vái lạy, miệng lâm râm: “Nam mô a di đà phật, lạy ngài, ngài phù hộ độ trì cho tai qua, nạn khỏi, làm ăn tấn tới, an lạc thái bình…”. Mọi người đang lầm rầm khấn vái thì thấy ông lặng lẽ với lấy chiếc xuyến lình (đồ thờ làm bằng đồng, nhỏ như chiếc đũa, dài khoảng 40cm, đầu dưới nhọn, đầu trên như hình long đao) đang cắm trên giá rồi từ từ xuyên vào má phải, lại lấy chiếc thứ hai xuyên vào má trái. Sau đó ông dùng hai tay áp hai chiếc lình dựng đứng vào hai bên đầu. Người chủ tế lấy dải vải đỏ cuốn ngang buộc chặt hai chiếc lình vào đầu ông mà không hề thấy má ông chảy máu.

Sau ít phút chuông, mõ cầu cúng, người chủ lễ thỉnh cầu rồi đưa cho ông cầm chiếc dao rựa. Người chủ tế tay cầm ba nén hương hua hua vòng tròn trước mặt ông rồi thỉnh mời đi sang gia chủ vừa làm nhà mới. Trong đêm tối, chủ tế đi bên cạnh ông, tay cầm nén hương vừa hua về phía trước vừa dẫn đường. Một bên người cầm ngọn nến soi sáng cho “Thánh” bước đi. Theo sau là các đệ tử, con cháu. Vào đến nhà, trong ánh nến huyền ảo, ông cầm dao chém chém nhẹ mấy nhát vào xà nhà hai bên rồi quay ra trở về phủ. Ông lại ngồi vào giữa chiếu một lát rồi rút nhanh hai cây xuyến lình ra khỏi má mà tuyệt nhiên không chảy một giọt máu. Chủ tế lại lấy khăn đỏ trùm lên đầu ông. Ngồi một lát, đột nhiên ông bật đứng lên và ngã ngửa đập đầu xuống chiếu rồi tỉnh lại bình thường. Trong tường hợp khác có thể chấn thương sọ não, nhưng ông thì chẳng việc gì! Ông ngồi vào chiếu chắp tay vái lên điện thờ, chủ tế kết thúc tuần tế phủ.

Hôm đó là kết hợp tuần tế với trị trạch nhà mới. Chứng kiến sự việc, ai cũng ngạc nhiên, thán phục sự linh diệu phủ thờ và thiên thần hoá thánh của ông mà không thể nào hiểu nổi. Trong một vài lần khác ông còn rạch lưỡi cho máu chảy ra, rất kỳ lạ là hôm sau không thấy ông bị ảnh hưởng gì.

Sau đó một thời gian, ông bị bệnh sâu quảng ở bàn tay và ống chân. Nhà nghèo, thuốc men thiếu thốn, không giữ gìn được, lại đắp bằng lá nên vết thương bị hoại tử, ruồi nhặng bâu, nảy sinh dòi bọ. Một thời gian ông mất do nhiễm trùng. Từ đấy, không có ai làm được lên đồng, xuyên lình, rạch lưỡi như ông nữa. Chuyện xuyên lình, rạch lưỡi sau cũng bị cấm vì mê tín và nguy hiểm.

Câu chuyện cách đây đã hơn nửa thế kỷ, còn gần đây, trên tờ báo “Pháp luật Việt Nam” có đăng phóng sự điều tra “Ly kỳ Dị nhân” của tác giả Ngọc Anh nói về khả năng đặc biệt của chàng trai trẻ Nguyễn Đắc Điệu, ở xã Hồng Dụ, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương nuốt kiếm vào bụng và đâm xuyên các thanh thép bằng chiếc nan hoa xe đạp sắc nhọn qua má và yết hầu.

Từ một chàng trai hái café thuê, lang thang đi xem xiếc, học võ rồi tham gia đoàn xiếc. Qua học hỏi suốt 10 năm, Nguyễn Đắc Điệu đã luyện thành công khả năng đặc biệt, vận nội công đưa 15 thanh kiếm mỏng, làm bằng inox, mỗi thanh có tổng chiều dài 85cm, phần đưa vào từ miệng qua cổ họng tới dạ dày dài 56cm. Năm 2007 tham gia chương trình “Tìm kiếm kỷ lục Việt Nam” do Đài Truyền hình Việt Nam tổ chức, anh đã trình diễn màn nuốt 15 thanh kiếm có chiều dài phần lưỡi vào bụng là 56cm tại bệnh viện Tràng An, Hà Nội, dưới sự giám sát của máy móc hiện đại, có thể nhìn thấy rõ đường đi của kiếm từ miệng xuống bụng. Anh đã được công nhận kỷ lục quốc gia, ghi vào Guinness Việt Nam là người nuốt được nhiều thanh kiếm dài nhất của Việt Nam.

Còn việc để đâm nhiều thanh inox sắc nhọn bằng nan hoa xe đạp vào yết hầu, mặt, má và qua lưỡi mà không đau, không chảy máu, Nguyễn Đắc Điệu cho biết là cả quá trình phải luyện công phu hơn rất nhiều: “Với người bình thường thì khi vật sắc nhọn đâm vào người, tất yếu sẽ chảy máu, gây thương tích. Vì thế khi biểu diễn, ngoài vận khí công để không còn cảm giác đau, còn phải biết lựa chọn vị trí của mạch máu, làm sao khi xuyên thanh kim loại vào sẽ không vỡ các mao mạch gây ra chảy máu. Riêng với lưỡi thì khó hơn, phải tìm điểm xuyên thì sẽ trở nên dễ dàng”

Nguyễn Đắc Điệu đã được gia nhập Đoàn xiếc Đại Dương, tỉnh Phú Yên và đi biểu diễn ở nhiều nơi. Ngoài đời, anh là người bình thường như bao người khác, có vợ và cậu con trai khoẻ mạnh, xinh xắn.

Qua những hiện tượng trên đây, đã trả lời về điều kỳ diệu của khả năng con người. Trường hợp thứ nhất dễ phủ lên trên lớp màn huyền bí khi thấy chủ tế khấn vái hua tay, mọi người chắp tay cầu cúng. Thực ra khi thực hành công việc gọi là “nhập thánh”, ông C vẫn tỉnh táo để cầm dao, sang nhà chém chặt, cho đến khi về phủ rút xuyên lình, trở lại bình thường. Không rèn luyện nhưng khi vào cúng lễ, ông như bị “thôi miên”. Trường hợp thứ hai không nhuốm màu thần bí hoang đường, cầu cúng thánh thần mà do con người khổ luyện thành công.

Vậy nên, khi người ta thần thánh hoá lên mà không được hiểu biết về thể chất, thiên hướng, bệnh tật, công việc rèn luyện của họ, nhất là các thầy lại thêm trò phù phép, múa may, bắt quyết thì trở thành kỳ bí, mê tín, duy tâm.

Bệnh tật quái dị

Trên thế giới và cả ở Việt Nam từ xưa cho đến nay từng có nhiều người mắc phải những căn bệnh quái dị, lạ lùng. Có loại bệnh mà trong y văn thế giới chưa thấy nhắc đến bao giờ và cũng khó đặt tên cho nó là loại bệnh gì. Còn nếu như quan niệm cổ xưa thì chắc chắn cho là kiếp luân hồi, đầu thai, ma quỷ.

Bệnh quái dị có nhiều dạng khác nhau, là bẩm sinh hay xuất hiện ở bất kỳ thời điểm nào trong cuộc đời con người. Có bệnh thuộc loại tâm thần, có bệnh thuộc loại dị hình, dị dạng, có bệnh là các khối u, hoặc di chứng của chất độc hoá học chiến tranh, Dioxin… Tất cả đều gây ra sự lạ lùng, kinh ngạc, thậm chí rất sợ hãi cho các thầy thuốc và tất cả mọi người.

Báo Sức khoẻ và Đời sống, báo An ninh thế giới và nhiều tờ báo khác đã từng đăng tải nhiều chuyện ly kỳ về những căn bệnh quái dị ở con người trên khắp trần gian.

Cô gái người Mỹ tên là Lizzy Velasquez ở bang Texas, mắc phải một chứng bệnh chưa từng gặp trên thế giới. Cứ trung bình 15 phút cô phải ăn một lần nhiều loại thức ăn, tính ra khoảng 60 bữa trong ngày để bổ sung năng lượng cho cơ thể. Theo các nhà nghiên cứu thì đây là một dạng khủng hoảng gen, khiến cho cô ăn rất nhiều mà vẫn còm nhom, không thể tăng cân.

Cô Brooke Greenberg, sống tại bang Frorida, Mỹ, trong suốt 17 năm, kể từ khi chào đời, vẫn trong tình trạng hình hài chỉ bằng một đứa trẻ nhỏ mới được bốn, năm tháng tuổi. Các cử chỉ, hoạt động, xử sự không khác gì so với một em bé đang chập chững học bò, không hề thấy có thay đổi về thể chất cũng như trí tuệ. Đến tháng 1 năm 2010 là được 17 tuổi, mà Brooke chỉ cao 76cm và cân nặng khoảng 7,3kg. Các nhà khoa học thuộc trường đại học Nam Florida đã đưa ra nhiều giả thuyết cho là tổn thương hoặc trục trặc về gen, trong đó đặc biệt đề cập tới sự góp mặt của nguyên nhân là ADN của cô bị đột biến, dẫn đến hiện tượng “trẻ mãi không già”.

Theo tác giả Nguyễn Thanh Hải tổng hợp về trường hợp “Mối tình kỳ lạ của cặp đôi “cọc cạch” nhất thế giới”, người nước Mỹ. Đó là anh chàng Al Tomaini, sinh năm 1912, mà sách Kỷ lục Guiness thế giới chứng thực có chiều cao thực sự là 2,39 mét, nặng tới 162 kg. Bác sĩ X-quang đã tìm ra nguyên nhân tuyến yên của anh phát triển vượt mức bình thường, khiến anh trở thành “người khổng lồ” ngay khi còn ít tuổi. Anh đã gặp cô nàng Jeanie, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1916, tại Blufton, bang Indiana, lúc sinh ra đã mang một hình hài hết sức dị dạng, đôi cánh tay xoắn lại như lò xo, đôi chân thì ngắn cũn, bé tí và chỉ cao có 76 cm. Cô đi làm nghề xiếc nhào lộn. Đến năm 19 tuổi, cô gặp anh chàng cao kều Tomaini và thật kỳ lạ giữa họ đã nảy sinh một tình yêu không thể lý giải nổi. Mối lương duyên đã kết hai người trong một lễ cưới vào ngày 8 tháng 9 năm 1936 tại Cleveland, bang Ohio, trở thành đôi vợ chồng cọc cạch hạnh phúc nhất thế giới và họ đã sinh được hai cô con gái xinh đẹp. Đôi vợ chồng tiếp tục tham gia nghề xiếc, xây dựng kinh tế và làm từ thiện. Năm 1962, ông mất ở tuổi 50. Bà ở vậy nuôi con và mất vào ngày 10 tháng 8 năm 1999, thọ 83 tuổi. Con cháu vẫn nối nghề xiếc của ông bà và trở thành những nghệ sĩ xiếc nuốt kiếm nổi tiếng thế giới.

Cô Cheryl Mania, sinh sống tại Fairfax, bang Virginia, Mỹ, lại mắc một căn bệnh bí hiểm làm nên khiếm khuyết trên các ngón tay và ngón chân không hề có dấu vân nào. Chính khiếm khuyết này cũng gây cho cô một số khó khăn như khi lật trang giấy, đếm tiền hoặc làm những công việc liên quan đến dấu vân tay như làm chứng minh thư, công tác an ninh chẳng hạn. Các nhà khoa học thuộc Học viện công nghệ Technion, Israen và Đại học Thomas Jeff erson, Mỹ đã tìm được thủ phạm gây ra hiện tượng này. Đó là do bào thai trong quá trình phát triển đã bị khiếm khuyết Protein keratin 14 (KRT14), một nhân tố rất quan trọng trong việc hình thành da ở các bào thai, kết quả là những đứa trẻ ra đời không có vân tay.

Người đàn ông 53 tuổi, tên là Guo Qingpo ở tỉnh Sơn Đông, Trung Quốc mắc một căn bệnh lạ là Gyneeomastia, làm cho hai bầu vú phát triển một cách phi thường và tuổi càng cao thì bầu vú càng lớn, hơn cả phụ nữ có bầu vú “vĩ đại”. Các bác sĩ bệnh viện Đức Châu, tỉnh Sơn Đông đã phẫu thuật và điều trị cho ông vào cuối tháng 3 năm 2010.

Một người đàn ông tên là James O’Neal ở Redmode, bang Washington, mắc phải căn bệnh di truyền lạ có tên là Neurofi bromatosis làm cho khuôn mặt biến dạng, phì đại, trễ xuống như mặt voi. Gia đình, bạn bè và hàng xóm, láng giềng đã phải gom góp, quyên tiền để giúp sớm phẫu thuật bỏ thịt dư thừa, sửa lại gương mặt cho ông.

Năm 2005, tại nước Anh, Stephen Mabbutt, 57 tuổi, sống ở Oxfordshire, mắc một loại bệnh lạ là nghe thấy hai con mắt của mình phát ra âm thanh sột soạt khi chúng chuyển động trong hốc mắt và tiếng tim đập của chính mình. Các bác sĩ bệnh viện Tai Bimingham đã chẩn đoán ông mắc phải chứng hở ống bán khuyên thượng, gọi là SCDS, loại bệnh vô cùng hiếm gặp, mới được giới y học khám phá cách đấy một thập niên.

Cậu bé Maiamiti Hali, 8 tuổi, ở Trung Quốc, mắc một căn bệnh lạ: Trên lưng hình thành một lớp da dầy như da bò, cứng, màu xám, hình giống chiếc mai rùa và mọc lông. Các bác sĩ bệnh viện quân đội Urumqi, sau 2 giờ phẫu thuật đã dùng da đầu và chân thay cấy ghép cho Hali.

Mặc dù không hề mang thai nhưng người phụ nữ ở Anh tên là Janet Dalaney, bụng cứ to ra như người sắp đẻ. Khi đi khám bệnh, bác sĩ phát hiện thấy cô mắc bệnh u nang buồng trứng, khối u nặng tới 7,6kg, đã chớm vào ung thư. Do được phẫu thuật kịp thời nên bác sĩ cho rằng bệnh của Janet có tiên luợng tốt.

Các chuyên gia phẫu thuật bệnh viện Kennez Gyula Debrecen ở Hungari đã phẫu thuật thành công ca phẫu thuật có một không hai, lấy ra viên sỏi thận nặng tới 2,48 pound, tức 1,1kg, đường kính 6,69 inxơ của bệnh nhân tên là Sandor Sarkadi. Đây được xem là viên sỏi thận vĩ đại nhất từ trước tới nay trong lịch sử y học nhân loại.

Bà Nguyễn Thị Đáng ở xóm Đền, thôn Trung, huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam lại mắc một chứng bệnh lạ, qua một lần tự nhiên thấy cơ thể nóng ran, rồi như có một luồng điện chạy râm ran theo dọc xương sống, sau đó trên toàn bộ thân thể mọc lên chi chít những khối u, những cục to tròn bằng hạt mít, quả chanh và dày đặc. Những khối u lớn vỡ ra, khối u nhỏ lại mọc lên lớn dần như hòn bi ve, rồi to bằng quả nhót, sau đó vỡ ra chảy nước. Cứ thế, suốt mấy chục năm bà vẫn sống trong đau đớn, tuyệt vọng mà không có cách gì chữa được.

Cô Nguyễn Thị Phượng, sinh ngày 2-1-1985, tại Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre, đã có chồng, sau đến huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước mưu sinh. Đang là cô gái trẻ 26 tuổi, sau khi ăn hải sản bị bệnh dị ứng nổi nhiều mụn nhỏ khắp người. Do tự ý đi mua thuốc chống dị ứng uống, một thời gian sau, tự nhiên cứ thấy da dẻ nhăn nheo, rồi cô trở thành như bà cụ 70 tuổi, mà chưa có cách gì chữa được. Các chuyên gia y tế cho rằng, có thể cô đã uống nhiều loại thuốc có chứa Corticoid, lâu dài dẫn đến hội chứng Cushing là hậu quả suy tuyến thượng thận, làm cho da căng mỏng, rồi teo, nhăn nheo, đưa đến rối loạn sắc tố. Đây không phải hội chứng lão hoá sớm, bác sĩ chuyên khoa da liễu chẩn đoán là bệnh tế bào vón và có khả năng điều trị phục hồi từ 50 đến 70%. Tuy nhiên, đó mới là dự đoán, trong khi mẫu tế bào da của người bệnh đã phải gửi đi Mỹ xét nghiệm khoa học.

Các trường hợp nổi tiếng, đầy bí ẩn về người tự nhiên bốc cháy, thiêu sống bản thân như: Jack Angel bị cháy hết, chỉ còn trơ lại đôi chân. Bà Mary Reeser, bị cháy hết chỉ còn lại cái sọ bị teo tóp. Theo khoa học, cơ thể người chỉ được thiêu thành tro trong điều kiện nhiệt độ lên tới 1.837,4 độ Fahrenheit. Và phải mất đến 2 giờ để các mô và xương người bị nung thành tro. Tuy nhiên, các nạn nhân trên khi phát hiện thì toàn là đang ở dạng một chất lỏng, có nghĩa là phải có nhiệt độ nóng tới 2.998 độ Fahrenheit, mới đủ biến cơ thể thành nước.

Còn rất nhiều căn bệnh kỳ quái như: Hội chứng da xanh kỳ lạ như da trời xanh tái. Hội chứng ăn phi dinh dưỡng như ăn các chất không có dinh dưỡng: Kim loại, đất sét, than, phấn bảng, giấy, xà phòng… Hội chứng bệnh chân voi, chân cứ phát triển phì đại, to như chân voi. Hội chứng da thành nhiều loại vằn vện khác nhau. Hội chứng giả tử thi, bị đánh lừa cảm xúc cứ có cảm tưởng như đã chết. Hội chứng Alice trong xứ sở thần thiên (AIWS), là một dạng thần kinh mất phương hướng, ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng nhận thức của con người. Người mắc bệnh này trông gì cũng thấy to lớn vượt mức hay nhỏ xíu bất thường, hoặc có cảm giác đang ở trong một xứ sở xôi nào đó. Hội chứng người phát sáng, trên cơ thể phát ra một luồng sáng màu xanh như nước biển. Hội chứng miễn nhiễm với lửa, tức là cầm vào lửa hoặc đi trên than hồng mà chẳng làm sao. Hiện tượng người có khả năng tự bay lên không trung mà không cần một hỗ trợ của thiết bị nào, như trường hợp Homes xuất hiện ngoạn mục, hoàn toàn thực chứ không phải ảo thuật vào năm 1868, khi ông bay xuyên qua các ô cửa sổ của ngôi nhà. Đây là hiện tượng được coi là vô cùng bí ẩn.

Trên thế giới từng xảy ra có người chết thi thể phát tán chất đặc biệt gây nhiễm độc cho nhiều người. Tháng 2 năm 1994, cô Gloria Ramirez, 31 tuổi ở miền Nam Califoria, nước Mỹ, vào bệnh viện Riverside chữa khối u não. Khoảng gần một tiếng sau cô mất, nhưng trong số 37 nhân viên y tế có mặt chăm sóc cô, thì 23 người bị ngộ độc phải cấp cứu, 3 nữ y tá bị mất ý thức. Qua nghiên cứu, xét nghiệm thấy rằng, để dịu các cơn đau do ung thư, cô Gloria đã dùng loại thuốc mỡ có chất Dimethylsulfone - DMSO, nên cơ thể láng bóng và có mùi tỏi. Chất này qua da thẩm thấu vào máu, kết hợp với oxy do bệnh nhân được chụp mặt nạ thở oxy, trở thành Dimethylsulfone kết hợp với các chất Sulfat có trong cơ thể hình thành chất độc Dimethylsulfone tạm ổn định ở phòng cấp cứu 20 độ, còn ở 37 độ, nó không bền, đã gây ra triệu chứng trên cho nhân viên y tế.

Có người do khi ốm đau hoặc tự tử bằng uống quá nhiều thuốc độc nên khi chết gây nhiễm độc cho hàng loạt bác sĩ, nhân viên y tế tiếp xúc ở bệnh viện và có thể làm chết nhiều người trong gia đình. Đó là trường hợp người đàn ông 44 tuổi, ở Luznea, Sydney nước Úc, không biết chán đời vì lý do gì, đã tự tử bằng cách uống liền một lúc 100 viên thuốc diệt chuột, trong khi chỉ cần 3 viên đã gây chết người. Ông được đưa đến bệnh viện Liverpool cấp cứu, nhưng không qua khỏi. Điều đặc biệt là từ xác chết toả ra một mùi khó chịu, khiến cho 20 nhân viên y tế tiếp xúc đều bị chóng mặt do chất Phosphin từ thuốc diệt chuột khi thâm nhập cơ thể tạo ra. Những trường hợp như vậy làm người ta rất sợ hãi và dễ liên hệ đến hiện tượng mê tín gọi là “trùng tang”.

Ở Việt Nam, ngoài những hiện tượng bệnh tật kỳ lạ, bẩm sinh như không có tử cung, không có buồng trứng, không có bộ phận sinh dục thì di chứng do chất độc da cam Dioxin mà đế quốc Mỹ gây ra trong chiến tranh ở Việt Nam những năm giữa thế kỷ XX là nỗi đau không thể nào nguôi. Hơn nửa thế kỷ đã qua, cho đến mai sau, nhiều thế hệ người Việt Nam bị phơi nhiễm, để lại trên thân thể bản thân và con cháu họ những căn bệnh hiểm nghèo, những thân hình dị dạng, những cơ thể sống đời thực vật. Đó là bằng chứng tố cáo mạnh mẽ sự tàn bạo của chiến tranh đối với loài người, mà dân tộc Việt Nam chúng ta vẫn đang tiếp tục trên đường đấu tranh để đòi công lý. Đây cũng là nguyên nhân trả lời về bệnh tật quái dị do chính con người gây ra.

Rõ ràng, những bệnh tật quái dị dù ở hoàn cảnh nào và hình thái ra sao đều có nguyên nhân, ngọn nguồn của khoa học về những dị biệt của cơ thể con người hoặc do chính con người gây ra cho sự quái dị ấy. Nó hoàn toàn không phải bất kỳ một sự huyễn hoặc, bịa đặt về thần thánh, ma quỷ, mê tín dị đoan, hoang đường, phản khoa học nào mà gây ra bệnh tật quái dị.

Kỳ dị siêu phàm

Siêu nhân là những hiện tượng siêu phàm, kỳ lạ về một hoặc vài khả năng đặc biệt, khác thường nào đó ở con người.

Những người có năng lực đặc biệt, thực sự là những siêu nhân. Tuy vậy, cũng không ít kẻ chỉ có cái gì hơi là lạ mà cố tình tạo ra sự huyễn hoặc, liền lập tức ngộ nhận là “siêu nhân”, “thần thánh”. Đó là những kẻ bệnh hoạn, tâm thần, hoang tưởng, tự phong thành “kỳ dị”, “siêu phàm”! Còn người đời mê tín cho là “thánh thần” nhập vào hoặc là “ma quỷ” ám.

Không thiếu gì những người mệnh danh “thầy” này, “cô” nọ có phép “thần thông” xua mưa đuổi bão, “phóng chưởng” chữa bệnh kỳ tài, hay cố tình mệnh danh là nhà “ngoại cảm”, “nhìn thấu” cõi âm, áp vong, tìm mộ, nhưng khi đối chứng khoa học thì chẳng có năng lực gì. Thậm chí có vùng, tệ nạn kỳ quặc này nở rộ khắp chốn làng quê như là một bệnh dịch, gây nên bao nỗi nghi ngờ. Các cơ quan chức năng, khoa học đã từng đối mặt với những người dám cả gan phóng đại, tô màu cho năng lực siêu phàm, kỳ lạ. Kết quả, thử nghiệm khoa học thực tế, họ hiện nguyên hình là những kẻ bịp bợm, dối lừa.

Siêu nhân là hiện tượng đặc biệt về khoa học con người. Trong cộng đồng người, năng lực siêu nhân thực sự là rất hiếm hoi. Còn tất cả bịa đặt, hoang đường làm lung lạc tinh thần, gây ra mê tín dị đoan chỉ là loại “kỳ dị siêu nhân” rởm!

Trang mạng Yahoo tin tức đăng tải bài: “Sự thật về những vụ gây náo loạn dư luận Việt Nam” nói về hiện tượng ngộ nhận rởm thật bi hài.

Năm 2004, báo chí nói về “Làng cháy kỳ lạ”, đó là làng An Trung, xã Duy Trung, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam, liên tiếp phát lửa cháy, nhất là đống rơm. Thầy bói thì nói có con quỷ một chân, cứ nhà nào hợp tuổi thì nhà đó bốc cháy. Có cả giáo sư, tiến sĩ ở Hà Nội vào bảo là làng “có vấn đề ở phần âm”, phải thế này, thế nọ. Nhưng sau đó Công an Quảng Nam đã tìm ra cháu 11 tuổi thích nổi tiếng đã dùng bật lửa ga đốt rơm rạ, đồ vật trong nhà mình mà gây ra thế!

Còn “Làng ma ám ở Bắc Giang” năm 2006, thì được mô tả là xóm Đầu, thôn Sơn Quả, xã Lương Phong, huyện Hiệp Hoà, trong 10 năm trời lao đao vì trâu, bò, lợn, chó cứ “nổi cơn điên” rồi lăn ra chết, trong khi đó thì không có con mèo nào bị chết. Thế là người ta thêu dệt ra ma quái. Mấy “thầy” phán là do xây lại miếu thờ Thành Hoàng làm đổi hướng long mạch mà thành ma ám! Có nhà nghiên cứu lại bảo “có bức xạ đặc biệt”, cần “yểm bùa” trấn? Thế nhưng các nhà khoa học chính thống tiến hành phun thuốc khử trùng, rắc vôi bột, thế là hết.

Rồi chuyện em B.V.H, 15 tuổi, học sinh lớp 9 ở Nam Định liên tục bị bốc khói ở tóc, có ngày bị tới ba lần. Hiện tượng bốc khói trên tóc em mỗi lần kéo dài khoảng 10 giây, ngửi mùi khét. Cứ sau mỗi lần như vậy em lại bị rụng một ít tóc. Khi đến bệnh viện, tóc em lại bốc khói trước sự chứng kiến của bác sĩ, y tá. Thế rồi có người phán là em “có khả năng đặc biệt”, trong cơ thể “có luồng hoả xà”, nếu biết định hướng sẽ thành thiên tài không chỉ của Việt Nam mà thế giới! Bác sĩ chuyên khoa đã khám cho em và đề nghị gội đầu hàng ngày, vì nhiều ngày trước đó không gội. Sau ít ngày gội đầu sạch sẽ thì hiện tượng tóc em bốc khói cũng mất theo.

“Khu vườn chữa bách bệnh” ở Long An cũng được đồn thổi lên là “Khu vườn kì lạ”. Có cả người mang danh khoa học nói rằng “có năng lượng chữa được bệnh”. Thế nhưng đã có 13 người đến chữa bệnh không khỏi mà bệnh nặng nên chết tại khu vườn.

Tháng 5 năm 2012 các phương tiện thông tin đại chúng lại nói về em bé gái tên Th, 11 tuổi, ở Thành phố Hồ Chí Minh tự nhiên phát hoả gây cháy nhà, cháy và nóng chảy nhiều đồ vật. Thế rồi các nhà khoa học, ngoại cảm đã tìm đến khám xét, chụp hào quang. Theo báo Tiền Phong đăng tải thì người cho rằng “Chụp não cháu Th có xuất hiện vệt màu đỏ, chỉ gặp rất ít ở những nhà tu hành, triết học hay hoạ sĩ. Não của bé gái giống não nhà triết học”, người lại bảo trong cơ thể bé gái có luồng “hoả xà”. Trong khi đó, báo “An ninh thế giới” 19-5, có bài “Viết tiếp vụ cô bé tự phát ra lửa ở thành phố Hồ Chí Minh: Đừng bé xé ra to!” đưa ra những thông tin nhiều chiều lý giải và những giả thiết xung quanh hiện tượng này. Rồi báo Tiền Phong 22-5- 2012, đăng tít “Vụ bé gái cháy: Nhà khoa học thoái lui”, nêu lên một vài cách giải thích của mấy nhà chuyên môn, vẫn chưa có kết luận chính xác đáng tin cậy nào. Có người còn phủ nhận việc vào cuộc tìm hiểu về việc phát cháy của cháu Th. Các thông tin sau đó cho biết, Th cũng hết khả năng gây cháy! Các nhà khoa học cũng lặng lẽ rút lui, phương tiện thông tin đại chúng cũng không rùm beng lên nữa.

Không phải bất cứ hiện tượng gì cũng đều là khả năng kỳ lạ, và cũng không phải dễ dàng có thể thẩm định được những năng lực đặc biệt ở mỗi con người. Nhiều nguyên nhân để hiện tượng diễn ra, nên cần phải thận trọng tìm cho ra bản chất, để tránh ngộ nhận không hay và không cẩn thận thì việc mệnh danh nhà này, nhà nọ trở thành ảo tưởng, phi khoa học, làm mất lòng tin, bận tâm cho công chúng.

“Hố đen” biển cả

Hố đen thường là khái niệm của khoa học Vũ trụ. Giáo sư Nguyễn Lân Dũng cho biết, theo bách khoa toàn thư Wikipedia thì:

“Hố đen” hay Lỗ đen là một vùng trong không gian có trường hấp dẫn lớn đến mức lực hấp dẫn của nó không để cho bất cứ một dạng vật chất nào, kể cả ánh sáng thoát ra khỏi mặt biên của nó. Vật chất muốn thoát ra khỏi lỗ đen phải có vận tốc lớn hơn vận tốc ánh sáng trong chân không, mà điều kiện đó không thể xảy ra trong khuôn khổ của lý thuyết tương đối, ở đó vận tốc ánh sáng trong chân không là vận tốc giới hạn lớn nhất có thể đạt được của moị dạng vật chất. Lý thuyết lỗ đen là một trong những lý thuyết vật lý hiếm hoi, bao trùm mọi thang đo khoảng cách, từ kích thước cực nhỏ đến khoảng cách vũ trụ rất lớn, nhờ đó có thể kiểm chứng cùng lúc cả lý thuyết lượng tử lẫn lý thuyết tương đối”.

Còn những bí ẩn của một vùng đại dương nào đó cũng ví như “hố đen” ẩn chứa điều ly kỳ, huyền bí. Những con tàu đi đến, thậm chí máy bay khi bay qua nơi đó, đều mất tích một cách đầy bí ẩn, kỳ lạ. Người ta lo sợ cho rằng có gì đó linh thiêng mà thành cái “dớp” trùng lặp kinh hoàng nơi biển cả?

Phải chăng do cấu tạo địa hình hay địa chấn, núi lửa dưới đáy đại dương tạo thành dòng xoáy đối lưu, hoặc có mỏ nam châm dưới thềm lục địa mà “hút” con tàu chìm xuống đáy đại dương? Và chính dòng xoáy biển cả ấy cộng hưởng tạo nên xoáy không khí trên không gian mà “nuốt” cả máy bay? Hoặc có thể do tác động của những yếu tố đó làm rối loạn trường sinh học trong cơ thể con người khi đi qua mà sinh tai nạn?

Khoa học ngày nay có thể nghiên cứu về những biến đổi diệu kỳ của hoạt động trong lòng đất, dưới đáy đại dương và sự tương tác với tầng khí quyển để minh chứng những hiện tượng đặc biệt của khoa học tự nhiên và trả lời cho quan niệm thần linh siêu hình, hoang đường về trùng khơi biển cả.

Ngôi nhà ma ám

Chúng ta từng nghe kể chuyện rùng rợn về những “ngôi nhà có ma”. Chuyện càng ly kỳ, thêu dệt càng thêm huyền bí, sợ hãi. Thế là ngôi nhà trở nên hoang vu, lạnh lẽo, bỏ hoang, con người không ai dám ở.

Dù mới chỉ là đăng tải trên các phương tiện thông tin, báo chí, chưa trực tiếp chứng kiến, nhưng khi đọc chuyện về “những ngôi nhà ma ám” đều làm cho ta cảm giác kinh hoàng, sởn gáy, khiếp sợ.

Trang mạng “Dân trí” đăng tải tư liệu của Thuỳ Vân tập hợp theo Telegraph, nói về những ngôi nhà ma ám nổi tiếng nước Anh:

“Người ta nói rằng hoàng hậu Anne Boleyn, người vợ thứ 2 của vua Henry VIII đã hứng chịu một cái chết oan uổng sau khi bị khép tội phản quốc, ngoại tình vào năm 1536. Chính vì thế mà hồn ma không đầu của bà cứ lẩn khuất mãi trong dinh thự Blicking Hall cùng với hai linh hồn hoàng tộc khác.

Khách tham quan dinh thự thường bắt gặp hồn ma vào cận kề ngày giỗ chính của hoàng hậu, 19 tháng 5. Bóng ma hoàng hậu thường xuất hiện với chiếc đầu nhỏ máu gói cẩu thả trong vạt váy, đi xuyên qua tường ngay trước mắt mọi người, sau đó biến mất như thể bốc hơi. Đi theo hoàng hậu là hai bóng ma cũng biến mất.”

“Lâu đài Newton House ở Cramarthenshire, nơi thế kỷ thứ 18 xảy ra chuyện thiếu nữ Elinr Cavendish bị cưỡng ép kết hôn với một người mà mình không yêu, đã bỏ chạy về nhà mẹ đẻ ở dinh thự trên. Trong cơn tức giận gã chồng chưa cưới đã truy đưổi đến tận nơi và siết cổ cô cho đến chết.

Ngày nay, khách tham quan thường nghe thấy tiếng thút thít trong phòng trống, thi thoảng bắt gặp cô gái trẻ biến mất dạng vào trong tủ treo quần áo. Đáng sợ hơn, không ít lần họ còn có cảm giác như bị bàn tay vô hình siết vào cổ.”

“Biệt thự Hughenden ở Bucks, ở chốn đồng quê là nơi quá gắn bó với vị thủ tướng Anh quá cố, Benjamin Disraeli và đệ nhất phu nhân Mary Anne, đến nỗi khi qua đời bóng ma của họ đã chọn nơi này trú ngụ.

Người ta nói là thường nhìn thấy Disraeli dưới tầng hầm, trong phòng hút thuốc hoặc dưới chân cầu thang với nụ cười rạng rỡ như thể đang chào quý khách”.

Theo tác giả Thanh Bình, trong “Những ngôi nhà ma ám nổi tiếng nhất nước Mỹ” đề cập đến Nhà Trắng ở thủ đô Washington là nơi của các đời tổng thống Mỹ. Suốt nhiều thế kỷ, nơi đây đã trải qua không ít thảm kịch, từ việc quân Anh đốt cháy vào năm 1814 tới vô số âm mưu ám sát bất thành và thành công. Trong số những câu chuyện ma quái về Nhà Trắng có các đồn đại về sự xuất hiện của bóng ma Abraham Lincoln. Vợ goá của cựu tổng thống Lincoln - bà Mary Todd thậm chí từng tổ chức các cuộc cầu hồn, tế lễ tại Nhà Trắng. Những bóng ma lừng danh khác gồm các cô Andrew Jackson, Dolley Madison và Abigail Adams, dù ngày nay người ta rất hiếm khi nhìn thấy nữa.

Truyện ma kinh dị, trên trang mạng “Viet Fun”, nói về căn nhà quỷ ám lừng danh ở Mỹ:

“Căn nhà của gia đình Whaley bị ma ám đến kinh dị, từ nóc nhà đến tầng hầm, từ sáng tới khuya tất cả 365 ngày đêm trong năm!

Vào mùa Thu năm 1852, Thomas Whaley đứng trong một góc tối tăm của San Diego, nhìn cuộc xử trảm một tên cướp tên là Yankee Jim bị treo cổ do tội ăn cắp vặt trên một chiếc tàu. Không hiểu lúc đó ông Whaley có nghĩ gì, nhưng hình như ông không bận tâm, bằng cớ là chỉ 5 năm sau, ông ta cho xây một căn nhà ngay trên miếng đất mà tử tội Yankee Jim bị treo lủng lẳng. Vợ ông và hai đứa con cũng về ở trong ngôi nhà mới, và hồn ma Yankee Jim cũng ở lại cùng với họ.

Chỉ một thời gian ngắn sau, những bước chân nặng nề vang dội của tên cướp chết treo làm cả nhà khiếp sợ. Mọi chuyện trở nên tồi tệ, người con gái 22 tuổi của họ tên Violet, sau một cuộc ly dị đau đớn với chồng đã tự bắn vào ngực bằng khẩu súng lục tự sát. Sau này, khi cả hai ông bà Whaley qua đời, cả nhà họ biến thành ma trở về ám căn nhà cùng với tên cướp Jim. Ngay cả con chó tên Dolly Varden của họ khi chết cũng trở thành “ma chó” và trở về ám ảnh căn nhà thường xuyên.”

Theo tư liệu “Tốp 10 án mạng và những ngôi nhà ma ám” trên trang tin an ninh hình sự báo Công An, trong đó có ngôi nhà Whakeley House ở California:

“Bà De Traci Regula, người ở gần ngôi nhà này chia sẻ những trải nghiệm của mình về ngôi nhà huyền bí, bà nói: “Trong suốt nhiều năm, khi tôi đi ngang qua con đường gần nhà, tôi đều nhìn thấy cánh cửa ở tầng 2 của ngôi nhà này mở toang và có những tiếng động lạ mặc dù ngôi nhà không có ai ở. Trong những ngày sau đó, tôi thường xuyên cảm thấy một nguồn năng lượng nào đó đáng sợ ở trong ngôi nhà này. Có lần tôi còn thấy một người phụ nữ trông giống như một giáo sư. Và khi tôi tới gần thì cô ta biến mất vào trong bóng đêm của ngôi nhà này”. Nhiều người đồn rằng người phụ nữ ấy là một oan hồn, nhưng cho tới nay cũng không ai lý giải được những điều bí ẩn đó. Họ chỉ biết rằng ngôi nhà này là ngôi nhà ma ám đáng sợ nhất nước Mỹ.”

Trên trang mạng “Diễn đàn lịch sử” đăng tải về ngôi nhà ma ám nổi tiếng nhất ở Ôxtrâylia:

“Ngôi nhà sang trọng vào bậc nhất ở xứ sở Căngguru nằm trên thị trấn Junee nhỏ bé, thuộc bang New South Wsles, được xây theo phong cách cuối thời Victoria, mang một cái tên rất linh thiêng: Monte Cristo, nghĩa là “Ngọn núi cứu thế”.

Mảnh đất rộng 208 ha này, ông Christopher William Crawley đã mua vào tháng 1 năm 1876 và xây dựng ngôi nhà trên. Từ đó bắt đầu cho những bi kịch xảy ra ở trong và ngoài ngôi nhà, với những cái chết đầy bí hiểm, không thể giải thích nổi.

Một trong những cái chết thương tâm nhất xảy ra khi cô con gái mới sinh của ông bà Crawley ngã khỏi tay cô bảo mẫu rơi xuống cầu thang. Cô bảo mẫu trong lúc quẫn trí đã nói rằng, hình như có một cái gì đó vô hình đã đẩy cháu bé ra khỏi tay mình mà không sao cưỡng lại được. Còn tại khu ban công tầng hai của ngôi nhà, một cô hầu phòng khác cũng ngã nhào xuống đất. Vết máu thấm đẫm bậc cửa bên dưới. Dù đã lau sạch, nhưng cho đến nay người ta vẫn có thể nhìn thấy vết loang mờ mờ của máu. Có người cho rằng bóng ma của cô hầu xấu số thường xuất hiện ở hành lang này và khi đứng trước cửa sổ, ánh sáng xuyên thẳng qua “bóng ma” của cô.

Ông Carwley, chủ ngôi nhà, chết ngày 14-12-1910, ở tuổi 69 do cái nhọt trên cổ bị nhiễm trùng vì cọ sát nhiều vào cổ áo cứng. Bà vợ ông sống 23 năm trong đau khổ, sau đó chết do thủng ruột thừa khi 92 tuổi. Năm 1948, người cuối cùng thuộc dòng họ Crawley cũng rời bỏ căn nhà Monte Cristo.

Người chủ sau đó của ngôi nhà là ông bà Reg và Olive Ryan.

Ông bà vừa chuyển đến ở được ba ngày, cả nhà đi ra phố mua đồ đạc vào một buổi tối sương mù. Lúc về, khi cách nhà không xa, ông Reg thấy tất cả các cửa ra vào, cửa sổ đều có ánh đèn, trong khi nhà không có điện, mà chỉ có duy nhất một chiếc đèn dầu đã tắt trước khi đi. Ông chết lặng, nhìn vào ngôi nhà lung linh ánh sáng. Còn bà vợ ông chắc rằng phải có tên trộm nào đó vào nhà. Nhưng khi họ lái xe thận trọng qua cổng nhà, thì ánh đèn đột nhiên tắt lịm.

Người ta thường thấy bóng ma bà Crawley, xuất hiện nhiều nhất ở nhà nguyện. Bà mặc đồ đen và luôn mang theo cái thánh giá lớn bằng bạc. Bà cũng thường xuất hiện ở phòng ăn và khi đó căn phòng trở nên lạnh ngắt.

Một lần có nhóm phóng viên thuộc kênh truyền hình ABC đến để thực hiện chương trình. Họ được ông bà chủ nhà mời ăn trưa và ăn tối. Mọi người thấy một người tên là Van Blerk cứ đứng dậy rời khỏi phòng ăn. Anh đi ra cửa đứng một lát rồi quay vào chỗ ngồi ăn. Sau đó anh kể rằng, bà Crawley (chủ cũ đã chết) yêu cầu anh ra khỏi phòng ăn. Anh đi ra, đợi cho đến khi “bóng ma” của bà rời khỏi phòng rồi anh mới trở lại.

Ông Reg cho biết, bà Crawley rất hay lui tới phòng vẽ tranh. Mỗi khi có dấu hiệu phòng trở nên lạnh toát là bà ấy xuất hiện, và ông nói rằng, ông còn biết bà ấy đang ở chỗ nào.

Hàng đêm, vợ chồng ông chủ nhà lắng nghe cứ thấy những bước chân dọc hành lang, tiếng cửa ban công mở, đóng, tiếng bước chân xuống cầu thang. 15 phút sau, bước chân lại trở lại, lên tầng, đi dọc theo hành lang, rồi cánh cửa ban công lại đóng mở lần nữa.

Kỳ lạ hơn là những bước chân nghe như có ai đang bước trên sàn gỗ cứng, trong khi toàn bộ ngôi nhà đều trải bằng thảm mềm, nhưng khi dậy kiểm tra thì không thấy ai, rồi trở thành quen thuộc. Đồ vật trong nhà cứ bị thay đổi một cách bất ngờ. Tấm thảm thêu treo trên tường thì ngày mai bị trải xuống nền nhà. Hiện tượng cứ xảy ra nhiều lần cho đến khi chuyển tấm thảm sang phòng khác thì không còn như thế nữa!

Ông Reg cho biết rằng, ông có cảm xúc rất lạ như níu kéo ông, khi lần đầu tiên nhìn thấy ngôi nhà bỏ hoang, ông đã quay lại và trở thành chủ của ngôi nhà này. Ông cũng chắc rằng những “bóng ma” của gia đình họ rất ưa ông, không bao giờ hại ông trong những năm tháng ở đây và họ còn là người chăm sóc, bảo vệ cho ngôi nhà này!”

Trang mạng dailyinfo, trong mục “Thế giới chuyện lạ”, đăng tải “Kinh dị: Ngôi nhà ma ám” theo tư liệu Bình An/Bưu Điện Việt nam:

“Hàng trăm sự việc ma quái diễn ra trong ngôi nhà của ba mẹ con ở Anh đã khiến họ phải chạy khỏi nhà 6 lần và mời linh mục về trừ tà.

Lisa Manning, 34 tuổi và con gái Ellie, 11 tuổi, con trai Jaydon, 6 tuổi, luôn cảm thấy khiếp sợ khi ở trong ngôi nhà ma ám của mình tại Coventry. Ellie nhiều lúc sợ hãi đến nỗi không dám về nhà từ trường hay lên tầng một mình.

Ba mẹ con từng nhìn thấy cảnh chiếc gạt tàn bị ném qua không khí, hay con chó nằm ở chân cầu thang với những chấn thương nghiêm trọng. Con chó sau đó chết và bác sĩ thú y nói rằng dường như nó bị ai đó đẩy rơi xuống cầu thang.

Những sự việc ma quái khác cũng được một camera lắp đặt bí mật ghi lại trong căn nhà ghê sợ này. Một đoạn clip đã ghi lại cảnh chiếc ghế trượt qua căn phòng, trong khi cánh cửa tủ đóng mở liên tục như trong phim kinh dị.

Trong một nỗ lực tuyệt vọng để thoát khỏi ma quái, cô Manning gọi một linh mục đến trừ tà. Vị linh mục khuyên gia đình không nên ở lại đây. Ngoài ra, cô còn dùng cây thánh giá để xua đuổi các hồn ma. Manning nói: “Tôi phải ngồi với con gái khi nó vào toilet hay khi nó quá sợ hãi không thể tự tắm một mình. Chúng tôi không thể nhìn thấy cụ thể là gì, cũng không có manh mối về bóng ma này và cũng không biết nó sẽ làm gì tiếp theo!”

Ở Việt Nam, từng đã đồn đại “Những ngôi nhà ma ám” và báo chí cũng thông tin về hiện tượng này. Con người ở trong các ngôi nhà này có khi tự nhiên thấy sợ hãi vì những tiếng động, âm thanh khác lạ trong đêm, hay mơ mộng, thấy hình ảnh huyền ảo, mơ hồ, ốm đau, có những chứng bệnh lạ hoặc đột tử nhiều người.

Trang tin mạng 24 giờ đăng tải “Lý giải về những ngôi nhà ma ám”. Vì sao những ngôi nhà nằm ở mặt phố lớn Kim Mã, giữa thủ đô Hà Nội lại bị đồn thổi có ma, những ngôi biệt thự cổ kính giữa thành phố hoa Đà Lạt lại không được sử dụng?

Các nhà khoa học cho rằng về phong thủy ngôi nhà Kim Mã thoái khí. Tiền sảnh ngôi nhà có mái cổng chìa ra tạo thành hình tượng xấu gây ra nhiều điều không may cho gia chủ(?). Và rất có thể ở trong ngôi nhà còn có những cấu trúc xấu như bếp, khu vệ sinh không hợp phong thủy mà ảnh hưởng đến toàn bộ căn nhà.

Một số phóng sự đăng tải trên báo chí cho biết, đây là ngôi nhà do quyền sử dụng của một cơ quan ngoại giao nước ngoài. Đã từ lâu, ngôi nhà không dùng làm việc nên hàng ngày trở nên tĩnh lặng, chỉ có người bảo vệ ra vào. Thế rồi người ta đồn thổi ra ma quái. Người bảo vệ và những người bán hàng quanh đó thì bác bỏ những dựng đặt hoang đường làm cho thêm ly kỳ, sợ hãi.

Còn biệt thự ở Đà Lạt thì có thể do nguyên nhân môi trường đất, không khí, hoặc vật liệu xây dựng dễ hấp thụ phóng xạ, chất độc hại, tia đất, mồ mả… ảnh hưởng đến con người!

Về biệt thự ở Đà Lạt, trên trang mạng “Truyện ma kinh dị” được mô tả khá ly kỳ, bí hiểm. Sau khi nói về việc một người được người bạn tên là Tân mời lên nghỉ ngơi tại ngôi biệt thự tráng lệ của mình ở Đà Lạt, mà dư luận cho là có ma, câu chuyện mô tả chi tiết như sau:

“… Tôi bước vào phòng thay đồ ngủ, bật ngọn đèn nhỏ ở đầu giường, đọc một hai tờ báo. Chưa đầy nửa tiếng mắt tôi đã díu lại, tôi tắt đèn và ngủ ngay lập tức.

Khoảng nửa đêm tôi thức giấc. Bên ngoài trời lặng gió. Bên trong căn biệt thự của Tân cũng im lìm. Đột nhiên có tiếng cú rúc lên khiến tôi rợn tóc gáy. Tôi không ngủ được nữa và quyết định đọc báo cho đến khi thật buồn ngủ.

Tôi mò tìm quả nắm ở đầu giường và nhấn nút. Ánh sáng đột ngột toả ra khiến tôi chói mắt. Tôi cầm tờ báo lên toan đọc. Nhưng không hiểu tại sao tôi lại liếc nhìn xuống phía chân giường.

Tôi không thể nào tả được những gì xảy ra mà tôi nhìn thấy lúc đó. Tôi kinh hoàng ngồi bật dậy, co rút lên đầu giường. Ở phía chân giường, một hình người quấn những miếng vải liệm tả tơi, trắng xoá từ đầu đến chân đang đứng quay hướng về phía tôi. Cái đầu, chỉ còn là cái sọ với hai lỗ mắt đen ngòm, sâu hoắm, nhìn thẳng vào mặt tôi. Hai bàn tay xương xẩu đang chờn vờn như muốn với lấy tôi, cái sọ và toàn thân thì hoàn toàn bất động, hai hàm răng trắng nhởn nhe ra như doạ nạt.

Hồn ma cứ đứng đấy. Trong khi đang run sợ, tôi chợt nhớ tới lúc mọi người nói chuyện hồn ma người nữ tu, và câu nói của Tân: “Nếu gặp ma, ông có dám nói chuyện với nó, như ông đã từng tuyên bố trong bữa ăn chiều nay không?”. Đầu tôi loé ra câu hỏi: “Tụi nó dám dàn cảnh doạ mình chăng?”. Thế là tôi lao về phía cuối giường, thẳng tay đấm mạnh vào hồn ma, khiến bộ xương bật ngửa ra đất, tay tôi máu chảy ra đầm đìa. Tôi định thần cúi xuống cầm lấy tấm vải liệm giật mạnh rồi xé nát. Tôi giật cái sọ ra ném mạnh xuống nền nhà vỡ ra nhiều mảnh. Chưa hả giận, tôi cầm hai xương cánh tay phang mạnh vào thành giường khiến chúng gẫy đôi, đập tan các ống xương chân. Tôi giật những thanh xương sườn đút vào ngăn kéo bàn. Căn phòng ngổn ngang xương xẩu.

Tôi cầm một mảnh sọ sát dưới chân lên, xô cửa bước ra chạy sang cửa phòng vợ chồng Tân, đạp cửa bật tung ra. Đèn trong phòng vẫn sáng, Tân đang ngồi co rúm trên giường vẻ kinh sợ. Tôi cầm mảnh xương bước vào giận giữ. Nét mặt Tân tái mét, người run lên lẩy bẩy. Vợ Tân mặt mày hoảng hốt hỏi: “Chắc nó lại hiện lên nữa phải không?”. Tôi ném mảnh xương xuống đất. Tân nhìn thấy miếng xương dính máu sợ hãi quá thét lên thất thanh. Tân cầm lấy mảnh xương, lẩm bẩm: “Tới giờ rồi, tới giờ rồi!”, rồi ngã xuống đập đầu vào cạnh giường chảy máu, mảnh xương văng ra góc phòng, miệng Tân vẫn lẩm bẩm: “Nghe kìa… nghe kìa…” Vợ Tân và tôi cùng lắng nghe.

Khoảng mười giây sau, hình như có tiếng chân di chuyển thật êm, thật nhẹ ngoài hành lang. Rồi bước chân nghe rõ hơn trên sàn gỗ, đang tiến về phía chúng tôi. Chúng tôi sợ quá, tắt đèn, vợ chồng Tân nằm úp mặt xuống giường, nín thở, lắng nghe. Còn mình tôi, đối diện với cửa sổ mở toang và tiếng chân mỗi lúc một gần. Tôi cũng sinh ra hoảng loạn nằm úp mặt xuống giường cùng với vợ chồng Tân. Tiếng chân dừng lại ngay trước cửa phòng. Rồi chúng tôi nghe có tiếng áo quần xào xạc, tiếng thở xì xì và biết rõ “nó” đã vào phòng. Rồi bước chân như dừng lại nơi mảnh xương sọ mà Tân làm văng ra. Sau đó tiếng bước chân hoà tiếng loạt xoạt ra cửa phòng bước đi xa dần. Tôi can đảm đứng dậy đi ra cửa, nhìn về cuối hành lang. Chỉ một lát sau hoàn toàn trở nên trống vắng.

Tôi quay lại bảo Tân bật đèn lên. Đèn bật sáng, tôi nhận thấy mảnh xương trong phòng đã biến mất. Vợ Tân đang bất tỉnh, Tân như kẻ mất hồn, phải mất khoảng mười phút mới thấy vợ Tân dần tỉnh lại. Tân vừa như mơ màng vừa hỏi: “Ông không nói chuyện với cô ta phải không?”. Sau đó ba chúng tôi ngồi bên nhau chờ cho trời mau sáng.

Hai biến cố khủng khiếp trong một đêm, hồn ma ở phía cuối giường và những bước chân vô hình tiến vào phòng lấy đi mảnh xương rơi, khiến cho suy nghĩ vô thần trong tôi hoàn toàn xụp đổ.

Đến khi trời sáng, người quản gia gọi mời đi ăn sáng. Tôi và Tân bước ra khỏi phòng đi sang phòng ngủ của tôi xem sao. Chúng tôi chia nhau đến hai cửa sổ, kéo rèm cửa lên. Ánh sáng ban mai rọi sáng căn phòng. Tôi nhìn quanh phòng nhưng không thấy một mảnh xương nào nữa! Căn phòng vẫn ngăn nắp như khi tôi đến nhận phòng hôm trước, chỉ có cái mền nằm là còn chưa phẳng. Điều đáng chú ý nữa là những vết máu khi tôi vung tay đấm “hồn ma” đã dây ra nhà và ngăn kéo thì vẫn còn thấy rõ.”

Hiện tượng về những “ngôi nhà ma ám” quả là rùng rợn. Người ta đã để tâm nghiên cứu và lý giải cho bí ẩn này.

Có thể nghĩ đến nhiều nguyên nhân nảy sinh trong “ngôi nhà ma ám”. Những người có thể chất đặc biệt, hoặc do một điều kiện đặc biệt của tâm thần, sinh lý vì quá trăn trở, đớn đau trước khi chết, hoặc những cái chết quá dã man, oan khuất đã kích hoạt tâm thức con người trở nên chuyển hoá mạnh mẽ trong cơ thể mà khi lìa đời phần dương khí “linh hồn” bay ra không tan, rồi thành những “bóng ma”, những “oan hồn” lưu lại nơi căn nhà tiếp tục “thực hành những công việc” như khi còn sống. Sau đó, như những người có khả năng ngoại cảm, một số người khi đến căn nhà có thể nhìn thấy “bóng ma”? Vì thế, nên không phải bất cứ người nào cũng “thấy bóng ma”. Và khi đã có người tiếp cận được hiện tượng này, lan truyền thành dư luận gây nên ám ảnh, làm cho người khác khi đến đó, do lo sợ, sinh ra ảo giác mà “tái hiện” lại như những gì đã bị ám ảnh.

Con người ngoài tâm lý bình thường, cũng có người có tâm lý bịa đặt, dựng chuyện. Trước cuộc sống thường ngày đã biết về gia chủ ngôi nhà. Khi người ta mất đi, mơ mộng về những gì diễn ra chân thực và cũng có khi thành ác mộng về ngôi nhà, rồi bịa ra, dựng lên cho thêm ly kỳ, sợ hãi. Thế là chuyện mơ mộng ám ảnh lan truyền trong cộng đồng trở thành mối tò mò, làm cho người ta chú ý. Đến khi tiếp cận với căn nhà mang theo nỗi ám ảnh, sinh ra hoảng loạn, ảo giác mà “nhìn thấy bóng ma” đúng như những gì bị ám ảnh.

Những cấu trúc chất đất, vật liệu, kể cả khí chất độc hại tại nơi ngôi nhà bốc lên, toả ra làm cho người ở trong nhà khó chịu, ốm đau sinh ra hội chứng tâm thần, khó ăn, khó ngủ. Thế là người yếu bóng vía, lo nghĩ triền miên, mơ màng, chiêm bao, bóng đè diễn ra thường xuyên mà thành lo sợ. Hiện tượng cứ thế nói ra, lại bị người khác “tô thêm” cho ly kỳ và tác động vào tâm lý người khác thành sợ hãi, rồi sinh mơ mộng gần giống như nhau trở thành “ma ám”. Nó cũng chỉ sinh ra ở những người bản lĩnh yếu, sức khoẻ kém, duy tâm, mê tín, hay sợ sệt. Và các nhà phong thủy tha hồ mà vẽ ra đủ thứ, nào là do hướng nhà, đầu đao, hình tượng xấu… Nhưng khi người khoẻ mạnh, “cứng bóng vía” vào ở, lại chẳng thấy gì!

Hiện tượng những “ngôi nhà ma ám” có khi còn bị dựng lên không hợp lý, dễ dàng đặt ra nhiều câu hỏi. Nó thường diễn ra dưới dạng vô hình, huyền ảo, ly kỳ, theo kiểu “người âm”, trong không gian huyền ảo, u minh, con người lâm vào suy tưởng, chứ không thể thật như thế giới ta đang sống. Tiếng bước chân, làn gió thổi siêu linh trong tĩnh mịch, cánh cửa mở, xô đẩy vào người như có lực vô hình tác động, bóng hình ảo nhìn thấy rồi biến mất, tan đi… là đặc điểm làm thành “ma quái”. Còn khi cảm giác vô hình của bước chân, trong hoảng loạn nhìn thấy và còn đủ can đảm xông tới “hình ma” cầm đập vỡ cả một bộ xương thật làm tay chảy máu và xảy ra trong lúc có nhiều người, lại có cả người quản gia sáng hôm sau vẫn bình tĩnh lên gọi ăn sáng, thì có lẽ là chuyện hoang đường!? Trên thực tế, trong không gian ánh sáng chan hoà, con người đông đúc mấy khi nhìn thấy nhà có “bóng ma”?

Còn có thể do khi xây dựng đã không tính hết những yếu tố: ánh sáng quá huyền ảo, không gian tối tăm u uất, lỗi kiến trúc xây dựng gây ra tiếng động như gió lùa, gió rít, vật liệu va đập làm nên âm thanh huyền bí, sợ hãi ở ngôi nhà. Kể cả những chuyện hy hữu trong câu chuyện sau đây trên trang mạng “Việt báo”, đăng tải biên dịch của PT “Giải mã ngôi nhà ma ám” rất ly kỳ và thú vị:

“Ngôi nhà 5 tầng bị ma ám ở Quảng Tây, Trung Quốc đã khiến những người chủ ở đây sợ hãi mà bỏ đi.

Bất kỳ ai từng sống trong ngôi nhà này cũng đều nghe thấy những âm thanh ma quái đáng sợ phát ra từ mọi góc trong ngôi nhà. Trong 10 năm, ngôi nhà đã qua tay rất nhiều chủ. Họ đến và đi trong một thời gian ngắn vì nỗi ám ảnh.

Ngôi nhà được kiến trúc rất đẹp, giá trị của nó lên tới 34.000 đô la Mỹ. Nhưng vì điều tiếng đáng sợ, không ai dám mua nó, cho tới khi có anh em họ Chan trả cái giá rẻ nhất là 6.500 đô la Mỹ để mua nó. Họ không tin vào những điều ma quái và cảm thấy quá hời đối với một ngôi nhà đẹp.

Kể từ khi chuyển đến ở, hàng đêm hai anh em này đều phải nín thở và cố gắng đi tìm chỗ nào trong nhà phát ra tiếng động. Sau rất nhiều đêm tìm kiếm, họ đã phát hiện ra tiếng động lạ này là tiếng vỗ nước phát ra từ ống nước trong nhà tắm ở tầng một. Họ đã quyết định phá đường ống để tìm hiểu nguyên nhân ma quái ẩn dấu trong đó.

Điều thật bất ngờ thực sự hiện ra trước mắt họ là có tới 10 con cá trê béo ú đang bơi lội tung tăng trong ống nước, trong đó có 2 con nặng hơn 4,5 kg và những con còn lại nặng hơn 2,5 kg.

Nguyên nhân sự xuất hiện của những con cá trê là do ông chủ của ngôi nhà trước năm 1995 là một người thích ăn cá trê. Một ngày nọ, ông đã mua một rổ cá trê về để chuẩn bị cho bữa tối và cất chúng trong nhà tắm. Hai trong số những con cá trê này đã may mắn thoát khỏi chảo rán qua chiếc bồn toa lét và trở thành một gia đình “hạnh phúc” trú ngụ trong ống cống mà sinh ra tiếng động “ma quái” suốt 10 năm qua.

Ngay sau khi bí mật ma ám của ngôi nhà được giải mã thì giá của nó đã đội lên tới 133.000 đô la Mỹ”.

Điều thật lý thú, chỉ từ những ám ảnh vô hình mà vô hiệu hóa tất cả những nhà ngoại cảm, phong thủy, thầy cúng. Chả thấy họ đến để giải quyết cho hiện tượng ma ám trở lại bình thường, không còn đáng sợ nữa. Trong khi đó, cô Trần Thị Phượng ở Hải Phòng thì nói: - Ai bảo ngôi nhà "ma ám", tôi đến tôi ở cho mà xem. Có gì đâu mà sợ!

Những “ngôi nhà ma ám” chỉ là rất ít nhưng gây ra những phiền toái, sợ hãi, lo âu. Nó mang theo yếu tố lan truyền ghê gớm, thành hiện tượng tâm linh, xã hội rất đáng quan tâm. Khi xuất hiện hiện tượng ly kỳ này rất cần bình tĩnh, xem xét để ổn định tinh thần và nên có giải pháp khoa học xử lý căn nhà, tránh gây ra hiệu ứng lan truyền mê tín dị đoan lâu dài trong công chúng.

Ma đêm nghĩa địa

Nói đến nghĩa địa, tha ma, nơi chôn cất, yên nghỉ của người chết, nhất là về lúc ban đêm, tối tăm, huyền ảo ai mà chả sợ? Về tinh thần, người ta sợ “hồn ma”, “bóng quỷ” hiện hình. Về thể xác, sợ mùi sú uế của xác chết phân rữa mà mất vệ sinh, nhiễm độc sinh ra bệnh tật chết người.

Nơi nghĩa địa tha ma u tịch của “cõi âm”, nghi ngút khói hương, nhưng là cả một xã hội của những linh hồn thoát khỏi trần gian, phiêu bạt đang tìm lên thiên đàng, những oan hồn tìm nơi giải thoát và những tội đồ phải đày xuống nơi địa ngục, âm ty. Quan niệm ấy làm cho con người biết bao suy ngẫm?

Nơi chôn nhiều xác chết ắt có nhiều ám khí, độc hại bốc lên, chất lân tinh thoát ra từ xương cốt bốc cháy thành ma trơi nhảy múa. Có thể còn có trường hợp đặc biệt mà phần dương khí “linh hồn” của ai đó không tan mà bay trên không trung quanh nơi phần mộ. Ban ngày, do có ánh sáng và dương khí mạnh mà ém nén âm khí xuống, nên không thấy có hiện tượng gì. Khi màn đêm buông xuống, trở nên mông lung, huyền ảo. Dương khí mặt trời tắt, âm khí vụt bay lên. Cả nghĩa địa bốc lên nhiều ám khí, chất lân tinh gặp lửa bốc cháy thành đốm ma trơi. Đến những nơi u minh như vậy, con người tự nhiên sinh ra sợ hãi. Những tác động mạnh vào thần kinh, gây rối loạn tâm thần làm phát sinh ảo giác, nhìn một thành hai, nhìn “gà hoá cuốc”. “Thần hồn nát thần tính”, cá biệt có người do kích hoạt đột biến, nảy sinh năng lực ngoại cảm trong chốc lát mà có khả năng “nhìn” thấy phần dương khí “linh hồn” dư sót của ai trên nấm mồ nào đó mà thành bóng hình ma quỷ. Còn có thể do những hiện tượng như thế mà người dựng đặt, bịa chuyện hoặc thầy bịa ra có ma quỷ để loè bịp, doạ người. Chính vì vậy, ma nơi nghĩa địa thường được tô vẽ thành muôn hình vạn trạng, làm cho người yếu bóng vía sợ hãi, bạt vía, kinh hồn, người bạo gan cũng rùng mình, sởn tóc gáy. Có người quá sợ hãi mà phát bệnh thần kinh, phải đi chữa bệnh tâm thần.

Thế nhưng lại có người rất bình tâm, không hoang mang sợ hãi. Họ có thể đến nơi tha ma nghĩa địa bất cứ lúc nào, mà chẳng hề lo ngại. Có nơi, cả gia đình dựng lều, làm nhà ngay tại nghĩa địa mà sinh sống hàng ngày. Người ta còn làm nghề bốc mộ, có khi còn bốc cả mộ thịt da chưa tan, vẫn cho là việc bình thường. Trẻ chăn trâu còn xin cả hoa quả, xôi thịt vừa cúng mộ mà ăn rất ngon lành, hỉ hả. Có kẻ gian tế to gan đang đêm dám cả gan đào trộm mồ mả người ta vì nghi có của quý để ăn cắp hoặc cho hả giận trả thù. Người quản nghĩa trang liệt sĩ giữa bạt ngàn rừng núi, hàng ngày trực tiếp theo dõi, chăm sóc ở nghĩa trang thì thuộc vanh vách hàng ngàn liệt sĩ và những ngày lễ tết đi thắp hương cho từng phần mộ mà lòng những thương cảm, tự hào.

Thế nên mới có “ma trêu từng mặt, ma bắt tuỳ người”. Người sợ hãi, mê tín dị đoan thì lúc nào cũng thấy có ma trêu, quỷ ám. Người bạo gan, thì bình an vô sự sống với cuộc đời. Thể chất và tâm lý, sinh lý ở mỗi người khác nhau mà ma nghĩa địa cũng thay đổi thành hình thái sợ hãi hay không sợ hãi khác nhau.

Nhà xác

Các bệnh viện đều có nhà xác được làm lạnh để lưu các thi hài người chết chờ truy điệu, đưa đi an táng. Xác chết ở đây nhiều dạng khác nhau. Người chết vì bệnh tật hiểm nghèo, người chết vì tai nạn giao thông thảm khốc, người chết “bất đắc kỳ tử” đột ngột qua đời do bệnh tim mạch, tai biến vỡ mạch máu não, người do sai sót trong ca mổ mà qua đời. Xác chết người lớn, trẻ con, nam, nữ, già, trẻ loại gì cũng có. Có xác chết còn nguyên, có xác chết xương tan, thịt nát, có xác chết vàng khè như nghệ vì bệnh gan, có xác chết xanh xao do mất máu, có xác chết bầm tím vì tai nạn va đập, có xác chết tái nhợt do ngạt vì đuối nước. Có xác chết bị mổ phanh lấy nội tạng xét nghiệm cho nghi án giết người hay phục vụ khoa học ghép tạng. Nhưng cũng có xác chết lâm sàng, tưởng rằng đã chết, đưa vào nhà xác, rồi đột nhiên sống lại làm cho mọi người sợ hãi, kinh hoàng.

Tại các trường dạy nghề Y cũng có nhà xác. Xác chết ở đây cũng đủ loại, ngoài ra còn có bào thai các tháng, xác thai nhi dị dạng do gen di truyền hay chất độc hoá học và nhiều xác người được mổ xẻ nhiều kiểu khác nhau. Tất cả xác chết đều được ngâm trong bể, trong các hòm kính có hoá chất bảo quản, chống phân huỷ, để làm công tác giảng dạy cho học sinh, sinh viên y khoa và phục vụ nghiên cứu khoa học.

Vào nhà xác ai mà chả sợ. Người không bao giờ vào, cứ đoán già đoán non hoặc bịa ra chắc trong nhà xác có ma người chết, có khi đêm đêm nghe thấy tiếng động chạm, cười đùa hay nỉ non kêu khóc! Chẳng rõ thực hư, nghe vậy ai cũng run sợ, mủi lòng. Những thêu dệt trở thành ám ảnh về quan niệm nhà xác thật huyền bí, hoang đường, ly kỳ, sợ hãi.

Cũng như người quản nghĩa trang, người phụ trách nhà xác bệnh viện sẵn sàng làm việc kiểm tra, di chuyển xác chết hoặc giúp gia đình, người thân của họ đưa ra khâm liệm, thực hiện những công việc cuối cùng an táng cho người quá cố. Công việc thường ngày đã quen, họ không biết sợ hãi là gì. Trong các nhà xác cũng từng xảy ra chuyện kẻ gian đến lấy trộm xác chết. Hoặc ở một bệnh viện quân y đã có trường hợp trả nhầm và người nhà đem nhầm xác chết đi chôn.

Nói chung, xung quanh chuyện người chết, xác chết đều gây nên nỗi ám ảnh tâm linh. Với những người hay sợ hãi và mê tín dị đoan lại nghe những người có khả năng ngoại cảm nói lại hoặc người dựng chuyện, bịa chuyện thật ly kỳ thì tức khắc bị ám ảnh sợ hãi. Đối với họ, xác chết như có thần linh, ma quỷ. Người có bản lĩnh hoặc chai lỳ cảm giác thì mọi việc trở nên bình thản, họ quan niệm người chết là sự bình thường của tạo hoá, không có khái niệm linh hồn, ma quỷ và an táng theo phong tục lành mạnh để thực hành “nghĩa tử là nghĩa tận” của trần gian.

Bác sĩ ngoại khoa

Các giáo sư giảng dạy ngành Y, hàng ngày trực tiếp thực hành mổ các xác chết để giảng dạy học trò. Các bác sĩ ngoại khoa, tại các bệnh viện thường xuyên thực hiện ca mổ cấp cứu, hoặc mổ chữa cho người bị bệnh.

Sinh viên mới vào trường Y, sau vài kỳ lý thuyết là vào nhà xác để làm quen với cơ thể người, có người sợ quá hoảng loạn, thất thần, sợ hãi, thậm chí ngất đi, phải cấp cứu. Nhưng rồi vì nghiệp cả đời, nên sau dần cũng thấy quen. Từ thực hành cầm con dao rạch da mổ vào xác chết, cho đến phanh mở tim, thận, dạ dầy… rồi cũng thành cái nghề của nhiều bác sĩ. Khi thành thạo thì hết sợ hãi mà coi như tố chất yêu nghề và người bác sĩ ngoại khoa coi đó là niềm vui trong công việc. Thiên phú cho ai và cố công rèn luyện, người ấy mới có thể trở thành bàn tay thần mổ giỏi, mới làm được bác sĩ ngoại khoa.

Người có tâm, có tài thì trở thành ân nhân của nhiều người bệnh và có nhiều công trình khoa học về mổ xẻ để đời. Kẻ ác tâm, lấy nghề bác sĩ làm điều bất nhân, tội ác. Trên thế giới từng có những tên bác sĩ trở thành tội phạm giết người. Chúng dã tâm mổ người lấy nội tạng để bán hoặc phục vụ âm mưu đen tối, thử nghiệm thuốc - vũ khí chiến tranh. Bàn tay mổ bỏ quên cả dụng cụ y khoa trong bụng bệnh nhân, hoặc mổ ra là cắt nhầm, bỏ sót, có khi gây sự cố chết người. Đau tới tận trời xanh, oan khuất xuống thấu đất cũng do con người thất đức gây ra.

Nhân tâm hay hành vi tội ác xuất phát từ tâm linh hay tâm đức của con người. Trong mỗi bác sĩ ngoại khoa có thiên thần hay ác quỷ, có thăng hoa ý tưởng khoa học hay tâm địa độc ác, giết người? Thiên hướng về phía nào, tâm lý về phía ấy và hành động tốt, xấu khác nhau. Thế mới có giáo sư, có nhà khoa học, đồng thời cũng nảy sinh ra kẻ tội đồ. Khi thăng hoa khoa học thì cho ra kết quả các công trình hữu ích phục vụ loài người. Khi tâm địa xấu xa điều khiển sẽ thực hành hành vi bất chấp lương tâm, tội ác. Ranh giới của ân nhân và tội phạm là lời tri ân hay cảnh tỉnh ở mỗi bác sĩ ngoại khoa.

Tâm linh mách bảo điều gì, khoa học mách bảo điều gì ở trong đầu để điều khiển hành vi bàn tay bác sĩ ngoại khoa trở thành chiến công hay tội phạm?

Lưỡi không xương

Trên thế giới từng đã có tác phẩm của nhà văn nổi tiếng luận về cái lưỡi. Đó là vở kịch ba hồi “Ê Dốp” hay “Con cáo và chùm nho” của tác giả Guilermo, một trong những người viết kịch nổi tiếng nhất của đất nước Brazin.

Trong đoạn lời thoại của vở kịch, tác giả đã cho nhân vật Ê Dốp, luận về cái lưỡi, khi nói với ông chủ Xantuyt, một triết gia Hy Lạp như sau:

Ê Dốp: - Cái lưỡi làm cho người ta gắn bó lại với nhau.

Không có lưỡi, chúng ta không thể nào diễn đạt nổi ý mình. Lưỡi là chìa khoá mở cửa khoa học, là vũ khí của sự thật và sự khôn ngoan. Lưỡi giúp chúng ta xây dựng lên thành thị. Nhờ có lưỡi mà chúng ta bày tỏ được tình yêu. Chúng ta lấy lưỡi mà dạy học, mà thuyết phục, mà khuyên răn, mà giải nghĩa, mà hát ca, mà miêu tả, mà công nhận, mà chứng minh. Từ lưỡi, ta thốt ra những lời âu yếm, những tiếng thân yêu, những tiếng kêu thấu trời, và lời gọi “Mẹ!” cao thượng, thiêng liêng. Chúng ta lấy lưỡi mà khen “Đúng rồi!”, dùng lưỡi ra lệnh cho ba quân đánh thắng trận. Chúng ta dùng lưỡi để ngâm vịnh anh hùng ca của Hôme. Chính là lưỡi đã sáng tạo ra thế giới của Êsin và danh ngôn của Đêmôxten.

Hỡi Xantuyt, toàn Hy Lạp, từ những hàng cột ngôi đền Pectênông đến những pho tượng Phiđiax, từ các thần linh trên đỉnh núi Ôlimpia, đến truyền thuyết thành Tơrôia, từ bài tụng ca của nhà thơ đến học thuyết của nhà khoa học, toàn Hy Lạp, từ khu vực này đến khu vực khác, tất cả đều được sáng tạo bằng lời nói tươi sáng, tuyệt đẹp của người Hy Lạp. Mà lời nói ấy sẽ còn lưu truyền mãi mãi đời đời.

Ê Dốp: - Quả thực, lưỡi là một thứ tồi nhất trên đời. Lưỡi là nguồn gốc của tất cả mọi âm mưu, là đầu mối cho tất cả mọi điều vu cáo, là nguồn mạch chính của tất cả mọi cuộc đôi co. Trên quảng trường, anh thi sĩ tồi dùng lưỡi để khiến chúng ta mệt mỏi. Anh triết gia tư tưởng rỗng tuếch cũng thường hay cầu viện cái lưỡi. Lưỡi có tài nói dối, biết che đậy, khéo đổi trắng thay đen, giỏi dèm pha xỉ vả, hay lừa gạt một cách đê hèn. Lưỡi van lơn, luỡi nguyền rủa. Luỡi khiến được người ta ủ rũ, chán chường. Lưỡi khiến người ta điên khùng, xuyên tạc, phản bội, mê hoặc, đồi truỵ. Chúng ta đã dùng chính cái lưỡi để nói những tiếng “Mày chết đi!”, “Đồ khốn nạn!”, “Quân nô lệ!”. Chúng ta đã dùng chính cái lưỡi để chốt “Không!”. Asin đã dùng lưỡi để bộc lộ lòng phẫn nộ hung cuồng, Ôđuxêut đã dùng lưỡi để tuôn ra những kế mưu gian trá.

Hỡi Xantuyt, đó là cái lý tại sao trên đời này không còn có cái gì xấu xa hơn cái lưỡi!

Xantuyt: - Hay tuyệt! Ê Dốp, mày nói hay quá đi mất! Làm một người lắm tiền nhiều của, lại có một tên nô lệ như thế này, thật là tuyệt! Sao mà sung sướng thế này! Sung sướng đến có thể uống cạn hết tất cả rượu ngon trên đời!

Thiết nghĩ không thể nói gì hơn, khi nghe chàng Ê Dốp hùng biện về cái lưỡi không xương nhiều đường lắt léo!

Hãy thử hình dung trong cuộc đời con người có biết bao điều hàng ngày liên quan đến cái lưỡi. Ngay từ một vấn đề cũng có thể luận là có công hay là có tội. Ví như những thầy cúng, thầy mo, thầy phù thủy, dùng cái lưỡi khuyên bảo người ta có “động” và phải cầu cúng cho nó yên tâm, tâm linh giải thoát; Nhưng cái tội là bịa đặt ra phải cầu cúng, đưa con người vào vòng mê tín, duy tâm, thêm mất thời gian, lo nghĩ, tốn tiền và trở về thời mông muội.

Lưỡi chỉ là một trong năm giác quan nhận biết của con người, nó không chỉ làm chức năng nếm để cảm giác mùi vị, nóng lạnh, mà còn có vai trò rất quan trọng trong sự liên kết của các giác quan. Lưỡi dùng để nói ra lời nói của con người. Lưỡi nói thì tai nghe thấy, nếu lại nhìn thấy nữa sẽ dẫn đến suy tưởng trong não bộ mà biến thành hành động. Điều tốt lành thì hành xử tốt lành. Điều tồi tệ, xấu xa, bịa đặt, sợ hãi đưa con người đến những hậu quả bi thương, người ta lại mong sao đừng nói ra để không nghe thấy, nhìn thấy thì tốt biết nhường nào!

Hành động của con người là do chỉ huy ở não bộ, nhưng lại từ cái lưỡi mà tán dương lên mây xanh hay ngộ nhận, vu oan hay khen ngợi, chân thật hay dối lừa, tử tế hay mất dạy và gây biết bao phiền phức, sinh ra tai hoạ trên đời mà thành “vạ miệng!”.

Thảm hoạ dân số

Từ xa xưa, con người sinh ra trên trái đất còn thưa thớt lắm. Họ sống với thiên nhiên, núi rừng, vô tư, trong sáng, sinh hoạt theo bầy đàn, cộng đồng, không có khái niệm thần linh, ma quỷ, không biết gây ra tội ác, chiến tranh.

Thế rồi sự sinh sôi, nảy nở con người kéo theo phân chia lãnh địa, khám phá đất đai, lần tìm nguồn sống. Đồng thời với những mâu thuẫn nẩy sinh theo nhu cầu cuộc sống là những sáng tạo phát sinh đi theo sự tiến hoá của loài người.

Sau bình minh của sự xuất hiện loài người, dân số dần tăng, từ hàng trăm, lên hàng triệu rồi tới hàng tỷ người, cái ăn, nơi ở cũng trở nên cấp bách. Mọi mâu thuẫn càng phức tạp thêm. Từ trong lao động sáng tạo là những phát minh phục vụ đời sống, nhưng cũng là để thực hành tham vọng hoặc chống lại tham vọng của nhau.

Nhiều quốc gia, sự phát triển không đáp ứng được nhu cầu cuộc sống khi dân số gia tăng, nên lâm vào cảnh đói nghèo, bệnh dịch, thương vong, nội chiến. Những quốc gia đông dân tìm đường bành trướng, xâm lăng thực hiện tham vọng bá quyền và tìm nguồn lợi.

Khoa học công nghệ phát triển, nhà máy mọc lên khắp nơi, khí thải, chất độc đe doạ sự sống con người. Dân số càng đông, nhu cầu nhà ở khi sống, phần mộ khi chết đem chôn, lo xây nhiều nơi thờ tự, cùng với công trình, nhà máy khắp nơi, đô thị hoá về tận nông thôn, miền núi, làm thu hẹp, mất dần đất đai canh tác. Hàng trăm năm sau cứ thế, con cháu không biết có còn đất cấy trồng để chăm lo cuộc sống? Lại lâm vào cảnh tìm cách kiếm ăn, tranh giành lợi ích, làm sao tránh khỏi thảm hoạ con người!

Người càng ngày càng cứ gia tăng, tất phải tăng thêm áp lực nhu cầu sinh sống, tranh giành lãnh địa, mâu thuẫn tôn giáo, vùng miền, sinh ra mâu thuẫn, chiến tranh. Hậu quả chiến tranh trở nên tàn khốc, tiêu diệt đi rất nhiều mạng người, làm hạn chế sự gia tăng dân số và gây nên khủng hoảng nhân đạo ở nhiều lục địa, quốc gia. Những vũ khí chiến tranh huỷ diệt cũng có thể đe doạ bởi tham vọng đen tối, khi mâu thuẫn không được các quốc gia và cộng đồng thế giới khống chế, loại trừ.

Theo dự báo của Liên Hợp Quốc, thì đến tháng 10 năm 2011, dân số thế giới đã lên tới 7 tỷ người, và những năm sau sẽ lên tới hàng chục tỷ người, gần gấp đôi dân số thế giới hiện nay. Trong tương lai sẽ cảnh báo điều gì về khủng hoảng dân số như vậy? Người ta đã tính đến việc đi tìm ra sự sống ở những hành tinh xa xôi để có thể đưa con người lên khai phá vùng “đất mới”. Những con tàu vũ trụ được phóng lên với ước mơ vươn tới những điều kỳ diệu, nhưng để trở thành sự thật thì còn rất xa xăm.

Vậy nên, cùng với nhiều nguyên nhân khác nhau thì thảm hoạ do tăng sinh dân số trên trái đất cũng vô cùng khủng khiếp là hiện thực nhãn tiền . Đó là những cảnh báo từ chính con người, phải hành động vì sự sống văn minh và tồn vong của nhân loại.

May rủi. Hơn thua

Trong cuộc đời con người chuyện may rủi, hơn thua diễn ra mọi nơi, mọi lúc, dạng này hay dạng khác là lẽ thường tình.

Nhưng lý sự dân gian đâu lại giản đơn như vậy. Người ta quan niệm về may rủi, hơn thua cũng rất khác nhau. Làm cái gì cũng cầu may, được lớn chứ chẳng muốn thua thiệt về mình, có khi hơn người khác lại tỏ ra hỷ hả! Đó là lòng tham lam, ích kỷ trong bản tính ở một số người. Nếu tất cả như vậy thì ai phải chịu cảnh thua thiệt quanh năm? Buôn bán, làm ăn cứ muốn bán cho cao giá được tiền, kể cả thứ chẳng ra gì, mãi không bán được mà gặp lúc có người mua cho thì mừng vui ra mặt vì đã gặp may! Ra đường phải kẻ phóng xe bừa, bị xô gãy chân cho ngay là bị rủi!

Mùa màng tốt tươi, chăn nuôi thuận lợi thì nói là do thần thánh, tổ tiên phù hộ mà nên. Nhưng khi thất bát, bệnh dịch lại bảo bị ma quỷ phá. Khoẻ mạnh, vui tươi đã có thần linh; ốm đau, bệnh tật đều do động mồ, động mả.

Ngẫm về muôn sự trên đời đều mang theo phấn khởi, mãn nguyện trộn lẫn bi hài. Người ta không đi tìm nguyên nhân mà chỉ đương nhiên chấp nhận đó là may rủi, hên sui mà tìm đến tâm linh, cầu cúng.

Trước khi làm gì, người ta mong sao cho thật may. Khi thắng lợi một việc hay thoát được nạn hiểm nguy cũng cho là đã gặp may. Như thế, cái may là trong tâm niệm và tự an ủi, động viên về tinh thần mà thôi. Còn khi đã chẳng ra gì, hoặc mắc vào tai hoạ lại cho rằng gặp rủi mà chẳng gặp may, cũng là quan niệm và an ủi tinh thần chính mình cho đỡ buồn chán, khổ đau. Cũng như gặp lúc gian nan, vất vả, người ta cứ chắp tay lên cõi hư vô mà kêu “Trời ơi!” và cầu trời, vái đất cho tâm linh vững lại, cho bớt đi nỗi đau đớn trong lòng, chứ có thiên thần nào bay xuống xoa dịu được đâu. Vì thế, tín ngưỡng tâm linh và mê tín dị đoan cũng thường gắn với tâm lý may rủi, hơn thua.

Công bằng thì cho rằng hơn cái này, sẽ thua cái kia, là sự bù trừ. Chẳng ai được tất mọi cái và cũng chẳng ai phải chịu thiệt cả đời. “Ai nằm đến tối, gối đến sáng”. “Không ai giàu cả kiếp, chẳng ai nghèo khổ cả đời”. “Sông có khúc, người có lúc”. “Đời cha ăn mặn, đời con khát nước”. Tất cả là đúc kết răn dạy con người phải biết lượng ở sức mình, biết an tâm, bình thản, tránh ghen ăn, tức ở, sao cho tốt nhất ở đời. Hãy sống bằng năng lực thực sự của mình, bớt đi tham vọng và cần thận trọng, tránh tai hoạ, đớn đau để khỏi phải buồn vui vì sự đời “giá treo giá trả”. Đó cũng là hoá giải hay nhất cho may rủi, hơn thua.

Thần Đồng

Thần Đồng là những người xuất hiện khả năng đặc biệt, khác thường nào đó ngay từ khi tuổi còn rất nhỏ. Những Thần đồng thường có sự thông minh đặc biệt và trí nhớ siêu phàm.

Trên thế giới và ở Việt Nam từng xuất hiện Thần Đồng.

Hạng Thác là một kỳ nhân của đất nước Trung Hoa thời xưa. Hạng Thác sống vào thời Khổng Tử (năm 551 – 479 TCN), 7 tuổi đã thể hiện là một thiên tài và chỉ sống đến 10 tuổi. Cuộc đời Hạng Thác quá ngắn ngủi nhưng ghi vào sử sách Trung Hoa một hiện tượng thần đồng kỳ lạ.

Câu chuyện về sự gặp gỡ, đối đáp của nhà triết học nổi tiếng Khổng Tử với cậu bé Hạng Thác minh chứng về tài năng xuất chúng của thần đồng này, qua đăng tải trên trang mạng Wikimedia Famdation “Cổ nhân đàm luận” của tác giả Trần Trung Viên. Chuyện kể rằng:

“Một lần, Khổng Tử ngồi trên xe cùng một số người đi du ngoạn. Đến một vùng thấy có tốp trẻ nhỏ đang chơi đùa, trong đó có một bé trai, mặt mũi khôi ngô, không nghịch như các bạn mà cứ ngồi lúi húi lấy đất đá làm cái thành nhỏ. Khổng Tử hỏi: - Sao cháu không vui đùa cùng các bạn? Đứa bé đáp: - Đùa nhiều rách áo, buồn lòng cha mẹ, vừa nhọc mệt vừa vô ích! Khổng Tử lại bảo: - Cháu thấy xe của ta đi sao không chịu tránh ra? Chú bé trả lời ngay: - Từ xưa đến nay chỉ thấy xe tránh thành, chứ thành không thể tránh xe! Khổng Tử ngạc nhiên hỏi: - Cháu tên gì?quê ở đâu? – Dạ, họ Hạng, tên Thác! quê ở Phiên Hương. - Năm nay cháu bao nhiêu tuổi? – Dạ, 7 tuổi! – Mới 7 tuổi mà đã khôn ngoan vậy sao? – Người ba tuổi đã biết có cha mẹ. Con thỏ sinh được ba ngày đã biết chạy trên đồng cỏ. Con cá sinh ba ngày đã biết bơi. Cháu đã bảy tuổi rồi, lấy gì làm khôn? Nghe xong, Khổng Tử thật sự kinh ngạc, bèn hỏi tiếp: - Ta muốn đưa cháu đi chơi, cháu có đi không? Hạng Thác trả lời: – Cháu còn cha mẹ già còn phải ở nhà thờ phụng, có anh hiền còn kính thuận, có em thơ dại còn phải dạy bảo, có thầy dạy còn phải học tập, không thể đi chơi được. Khổng Tử lại nói: - Trong xe ta có 32 quân cờ, cháu có biết đánh cờ thì đánh với ta? Hạng Thác trả lời ngay: - Thiên tử mà cờ bạc thì bốn bề không yên, chư hầu mà cờ bạc thì loạn kỷ cương, học trò mà cờ bạc thì bài vở sao nhãng, tiểu nhân mà cờ bạc thì nhà cửa bần hàn, nô tỳ mà cờ bạc thì phải đòn roi, làm ruộng mà cờ bạc thì cày cấy mất mùa, vậy cháu không thể chơi cờ với ngài được! Khổng Tử hỏi: - Ta muốn cùng với cháu ra bình thiên hạ, cháu nghĩ sao? Hạng Thác nói: - Thiên hạ thì bình sao được? vì có núi cao, sông hồ, có vương hầu, tôi tớ. Núi cao mà bình thì chim muông ở vào đâu? Sông hồ mà bình thì cá sống thế nào? Vương hầu mà bình thì dân trông vào đâu? Tôi tớ mà bình lấy ai sai khiến? Thế thì bình làm sao được! Khổng Tử hỏi: - Thế cháu có biết lửa nào không có khói, nước nào không có cá, núi nào không có đá, cây nào không cành, người nào không vợ, vợ nào không chồng, Trâu nào không sừng, ngựa nào không vó, đực nào không cái, cái nào không đực, thế nào là quân tử, thế nào là tiểu nhân, thế nào là không đủ, thế nào là có thừa, thành nào không chợ, người nào không chữ? Hạng Thác liền ứng đáp rằng: - Lửa đom đóm không khói, nước giếng không có cá, núi đất không đá, cây khô không cành, người Tiên không vợ, Ngọc nữ không chồng, trâu đất không sừng, ngựa gỗ không vó, đực goá không cái, gái goá không đực, hiền gọi quân tử, ngu gọi tiểu nhân, ngày Đông không đủ, ngày Hạ có thừa, thành vua không chợ, kẻ dốt không chữ. Khổng Tử lại hỏi: - Cháu có biết thế nào là kỷ cương, âm dương, trời đất, thế nào là chung thủy, đâu là tả, đâu là hữu, là trong, là ngoài, ai là cha, ai là mẹ, là chồng, là vợ, gió tự ở nơi đâu, mưa tự đâu mà đến, mây ở đâu mà có, sương từ đâu bốc lên, trời đất xoay vần bao nhiêu dặm? Hạng Thác đáp: - Chín chín tám mươi mốt là kỷ cương trời đất, tám chín bảy mươi hai là âm dương chung thủy, Trời là cha, Đất là mẹ, mặt trời là chồng, mặt trăng là vợ, Đông là tả, Tây là hữu, trong là trong, ngoài là ngoài, gió tự hang mà lại, mưa tự mây mà đến, mây tự núi bể mà ra, sương từ đất bốc lên, trời đất xoay vần có nghìn nghìn vạn vạn dặm, không biết đâu mà kể. Khổng Tử hỏi tiếp: - Cháu bảo cha mẹ thân hay vợ chồng thân? Hạng Thác trả lời: – Cha mẹ thân hơn vợ chồng. Khổng Tử lại hỏi: – Vợ chồng sống cùng chăn, cùng nhà sao lại bảo cha mẹ thân hơn? Hạng Thác nói: – Người không vợ như xe không bánh. Không bánh thì làm được bánh. Vợ chết lại lấy vợ khác. Công đức sinh thành của cha mẹ lớn lao sao lại không thân! Nghe Hạng Thác đối đáp linh hoạt, thông minh, trôi chảy, Khổng Tử khen rằng: “Đây quả là người hiền tài!”. Sau đó Hạng Thác nói: - Khổng Phu Tử đã hỏi cháu nhiều rồi, bây giờ cháu xin hỏi lại Phu Tử: - Tại sao con ngỗng, con vịt nổi trên mặt nước?, con chim hồng nhạn lại kêu to?, cây tùng, cây bách lại xanh cả mùa hè lẫn mùa đông? Khổng Tử nói: - Con vịt, con ngỗng nổi được trên mặt nước là nhờ hai bàn chân vuông. Chim hồng nhạn kêu to là do cổ chúng dài. Tùng, bách xanh bốn mùa là nhờ thân chúng đặc. Hạng Thác reo lên: - Không đúng! Con rùa nổi trên mặt nước, đâu có nhờ bàn chân vuông. Con ễnh ương kêu to mà cổ đâu có dài. Cây trúc cũng xanh bốn mùa mà ruột nó rỗng đấy thôi! Khổng Tử chưa kịp đáp, thì Hạng Thác lại hỏi: - Tại sao mặt trời buổi sáng to mà buổi trưa lại nhỏ? Khổng Tử nói: - Là vì buổi sáng mặt trời ở gần ta hơn. - Không phải, Hạng Thác vặn lại, Buổi sáng mặt trời gần ta, sao lại mát, buổi trưa xa thì lại nóng? Khổng Tử nói: - Hãy nói chuyện dưới đất, biết đâu chuyện trên trời? Hạng Thác nói: - Thế dưới đất nhung nhúc có bao nhiêu nhà? Khổng Tử thốt lên: - Cháu toàn hỏi những chuyện ở đâu, chuyện trước mắt thì không hỏi? Hạng Thác cười khanh khách mà rằng: - Vâng, cháu xin hỏi chuyện trước mắt ngài: - Vậy trước mắt đây, lông mày của con có bao nhiêu sợi ạ?

Đến đây thì Khổng Tử không đáp, sai người đánh xe đi, và nói rằng: “Hậu sinh khả uý!”. Câu “hậu sinh khả uý” bắt nguồn từ đấy.”

Tương truyền rằng Khổng Tử đã tôn Hạng Thác mới có 7 tuổi làm thầy và thực lòng học hỏi.

Hạng Thác mất lúc mới 10 tuổi, được nhân dân lập đền thờ, tôn vinh bậc kỳ tài gọi là “Tiểu Nhi Thần”, nghĩa là Thần Nhi Đồng, gọi tắt là “Thần Đồng”. Chữ “Thần Đồng” cũng ra đời có từ ngày ấy để chỉ về những tài năng xuất chúng khi còn nhỏ tuổi.

Nhạc sĩ thiên tài Mozart, người Áo là một thần đồng. Ông sinh ngày 27 tháng Giêng năm 1756, tại Salzburg, trong một gia đình có cha là một nhạc sĩ vĩ cầm nổi tiếng của thành Vien. Mozart có trí nhớ siêu việt, thần kỳ và óc sáng tạo phi thường. Năm 3 tuổi Mozart đã nghe hiểu được âm nhạc, 4 tuổi đánh được Dương cầm, bắt đầu soạn nhạc từ khi lên 5 tuổi và viết được những bản nhạc hoà tấu vào năm 6 tuổi. 7 tuổi, Mozart đã tổ chức những buổi biểu diễn nhạc ở Paris. Năm 8 tuổi đã xuất bản những bản Sonat cho Vĩ cầm. Mozart còn có khả năng đặc biệt tổng hợp các tinh hoa âm nhạc khác nhau của các nước vào trong tác phẩm của mình. Có một lần khi đến biểu diễn ở Roma, được biết tại Nhà nguyện Sixtine trong toà thánh người ta hát một bài hợp xướng 8 bè rất hay, nhưng không cho phép ai ghi chép bản nhạc để không phổ biến sang nơi khác. Mozart đến nghe chỉ một lần, về nhà ghi lại theo trí nhớ không sai một nốt nhạc nào.

Lên 10 tuổi, tài năng âm nhạc của Mozart nở rộ và bắt đầu cho sự nghiệp sáng tạo. Ông đã từng được Tổng giám mục chấp nhận làm nhạc trưởng và ủy nhiệm viết Opera. Năm 1773, Mozart phát triển lên đỉnh cao sáng tạo âm nhạc khác thường. Tháng 8 năm 1777, từ tuổi 21 về sau trải qua nhiều thăng trầm của cuộc sống, nhưng ông đã để lại cho nền âm nhạc thế giới những công trình sáng tạo vĩ đại về âm nhạc, với hàng trăm tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, trong đó có các bản Xonat, hơn 20 vở nhạc kịch Opera và tập trung vào ba bản giao hưởng cuối, số 39, 40, 41. Chỉ có 35 năm trong cuộc đời, nhưng Mozart đã thực sự đạt đến đỉnh cao về tài năng âm nhạc và là một nhân cách lớn, một thiên tài lớn nhất của nền văn hoá âm nhạc thế giới, thế kỷ XVIII. Ông thực sự là “thần đồng âm nhạc”, mà từ cổ chí kim hiếm có một thần đồng nào sánh được.

Chàng trai trẻ Daniel Tammet, người Anh, sinh ngày 31 tháng Giêng năm 1979, lại là một dạng đặc biệt của thiên tài. Tammet mắc chứng bệnh tự kỷ bẩm sinh từ nhỏ, nhưng lại rất thông minh và có trí nhớ đặc biệt siêu phàm về dãy dài chữ số mà người khác không thể nào nhớ được. Tammet đã chinh phục thành thạo hơn 10 ngoại ngữ. Năm 2004, Tammet lập kỷ lục châu Âu khi nhớ và đọc ra chính xác 22.514 chữ số của dãy số Pi chỉ trong hơn 5 giờ. Tammet trở thành một nhà văn, nhà ngôn ngữ và nhà giáo dục học. Tammet là người sáng lập ra trang Web “Optimnen” dạy ngoại ngữ cho hàng ngàn người trên thế giới. Anh đã viết một cuốn sách tự truyện “Sinh vào ngày xanh” nói về cuộc đời sinh động của mình. Nhiều chuyên gia thần kinh học hàng đầu thế giới đã và đang tìm hiểu, nghiên cứu về hiện tượng “tự kỷ bác học”, khả năng thiên tài của Tammet. Tammet được bầu chọn là một trong “100 thiên tài đương đại”. Đây là một minh chứng về thể chất, thiên hướng và bệnh tật đặc biệt ở con người.

Việt Nam thời phong kiến từng xuất hiện những thần đồng. Giữa thế kỷ XIII có Nguyễn Hiền, (1234-?), người làng Dương A, huyện Thượng Hiền, phủ Thiên Trường, nay là xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định. Thế kỷ XIV có Đào Sư Tích (1350-1396), nguyên quán làng Cổ Lễ, huyện Tây Chân (sau đổi là Nam Chân), nay là Thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.

Thần đồng Nguyễn Hiền, vốn rất thông minh và có nhiều giai thoại nổi tiếng về sự khôn ngoan, uyên bác lạ lùng của ông ngay lúc còn rất nhỏ.

Năm 11 tuổi, Nguyễn Hiền đã nổi tiếng và được mệnh danh là “thần đồng”, nổi bật là việc thử tài ứng xử, thơ phú, ngụ ngôn, đố chữ của những người cho là học rộng, biết nhiều, trả lời với vua và đối đáp với sứ thần Trung Hoa.

Nguyễn Hiền thi đỗ trạng nguyên khi mới 13 tuổi, trở thành trạng nguyên trẻ nhất trong lịch sử khoa cử Việt Nam, tại khoa thi tháng 2 năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 16 năm 1247 thời vua Trần Thái Tông, khoa thi đầu tiên có danh vị Tam khôi, bao gồm Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa.

Sau đó, ông ra làm quan đến chức “Thượng thư bộ Công” của triều đình, có rất nhiều kế sách hay để phò vua giúp nước. Nguyễn Hiền cho đắp đê sông Hồng, phát triển sản xuất, mở mang võ đường rèn luyện quân sĩ. Ông lâm bệnh nặng và qua đời vào ngày 14 tháng 8 năm Bính Tý, thọ 21 tuổi. Nhà vua tiếc thương truy phong Nguyễn Hiền là “Đại vương thành hoàng”. Cuộc đời đầy kỳ diệu và vô cùng ngắn ngủi của Nguyễn Hiền đã làm rạng danh non sông đất Việt. Ông là một tài năng thần đồng đặc biệt, xuất chúng của lịch sử nước nhà.

Trong bài “Cuộc đời và sự nghiệp”, trên trang mạng Nguyễn Hiền - Wikipedia tiếng Việt, nói về tài năng của thần đồng Nguyễn Hiền như sau:

“Năm 11 tuổi, bấy giờ có người họ Đặng tự cho mình là đã đọc hết các sách, nghe tiếng tăm Hiền liền tìm đến thử tài, ra đầu bài phú: “Phượng Hoàng sào a, Kỳ Lân du úc” và ra hạn cho Hiền số câu, mỗi câu phải có tiếng chỉ loài cầm thú. Hiền liền ứng khẩu:

Phi long kiên chiếu

Mã bất xuất hà

Ý bi Hữu Hùng chi thế

Ấp vu Trác Lộc chi a.

Dịch là:

Rồng không bay lên nơi ao, hồ

Ngựa không từ sông phi ra

Đẹp thay đời có Hữu Hùng

Làm nhà ở nơi Trác Lộc.

Người họ Đặng hết sức thán phục Hiền và tấm tắc khen là “Thiên tài”.

Đến năm thi Đinh Mùi (1247), Nguyễn Hiền dự kỳ thi Đình với bài phú: “Áp tử từ kê mẫu du hồ phú” (bài phú Vịt con từ giã mẹ gà đi chơi hồ nước). Vua hỏi, Hiền trả lời trôi chảy cả văn lẫn ý, vua khen ngợi và hỏi: - Học thầy nào? Hiền trả lời: - Thần không phải là người sinh ra đã biết, nhưng khi có một đôi chữ không biết thì hỏi thầy chùa. Vua lại nói: - Vì còn nhỏ mà trạng nguyên ăn nói chưa biết lễ, cần cho về nhà học lễ 3 năm mới bổ dụng.

Vì thế trạng Hiền chưa được ban áo mão.

Nguyễn Hiền trở về quê nuôi dưỡng mẹ, ngày ngày đọc sách. Hiền vẫn ham chơi, thường lúc rỗi rãi vẫn cùng trẻ làng chơi khăng, thả diều… Một lần, triều đình tiếp sứ Trung Hoa, viên sứ đưa ra một con ốc xoắn nhờ xâu qua ruột nó bằng một sợi chỉ mảnh. Được như vậy y mới chịu vào thành. Ấy là viên sứ muốn thử tài người Nam ra sao. Vua truyền cho các quan tìm cách xâu thử, nhưng vị nào cũng lè lưỡi, lắc đầu. Bấy giờ vua chợt nghĩ đến trạng nguyên trẻ Nguyễn Hiền, bèn cho triệu trạng về kinh.

Viên quan được giao việc đến quê trạng, gặp ngay một lũ trẻ chăn trâu nghịch đất ở đầu làng, thấy trong đó có cậu bé mặt mũi khôi ngô đang bày cho lũ bạn đắp con voi bằng đất mà bốn chân lẫn tai, vòi... có thể ngoe nguẩy được. Sứ giả đồ chừng đó là trạng Hiền, bèn buông một câu thăm dò:

- Tự là chữ, cất giằng đầu, chữ tử là con, con ai con ấy?

Cậu bé nghe được, không ngước mặt lên, cũng thủng thẳng buông một câu:

- Vu là chưng, bỏ ngang lưng, chữ đinh là đứa, đứa nào đứa này!

Chủ ý của viên quan xuất một vế đối theo lối chiết tự chữ Hán. Chữ Tự có hai bộ phận, trên như cái giằng xay, dưới là chữ tử. Để nguyên tự có nghĩa là chữ, bỏ giằng trên còn lại chữ tử nghĩa là con và gắn luôn với vế đối nôm tiếp đó thành một câu nửa chữ nôm. Câu hỏi cũng có sắc thái của người trên kẻ dưới. Trạng Hiền cũng đối lại bằng cách chiết tự kết hợp với một phần nôm: Chữ vu là chưng có hai nét ngang và một nét móc, bỏ nét ngang ở dưới thành chữ Đinh, nghĩa là đứa, đi với đứa nào đứa này là một vế đối rất chỉnh và xấc xược.

Sứ biết đó chính là trạng Hiền, bèn xuống ngựa, truyền lại ý vua mời trạng về kinh. Nhưng trạng Hiền không chịu, viện lẽ rằng, trước vua cho trạng kém lễ buộc về, nhưng lần này vua cho vời trạng lên cũng không giữ đúng lễ. Viên quan không biết làm thế nào, phải trần tình đầu đuôi câu chuyện sứ giả nước ngoài đưa câu đố mà chưa ai giải được. Trạng Hiền nghe chỉ mỉm cười, trở lại với đám trẻ chăn trâu. Chờ khi viên quan lên ngựa, Hiền mới xui đám trẻ cùng hát:

“Tích tịch tình tang... Bắt con kiến càng buộc chỉ ngang lưng... Bên thì lấy giấy mà bưng. Bên thì bôi mỡ kiến mừng kiến sang... Tích tịch tình tang...”

Viên quan nghe nhẩm thuộc lời ấy, biết trạng đã chỉ cách giải, vui vẻ trở về kinh.

Tương truyền sứ thần Trung Hoa đem một bài thơ ngụ ngôn sang thử nhân tài nước Nam. Bài thơ như sau:

“Lưỡng nhật bình đầu nhật

Tứ sơn điên đảo sơn,

Lưỡng vương tranh nhất quốc,

Tứ khẩu tung hoành gian”

Dịch là:

“Hai mặt trời bằng đầu,

Bốn trái núi điên đảo,

Hai vua tranh nhau một nước,

Bốn miệng ở trong khoảng dọc ngang”

Vua và các quan trong triều không ai giải nghĩa được là gì. Một viên quan tâu với vua xin mời trạng nguyên Nguyễn Hiền (lúc đó vua cho là còn nhỏ cho về nhà để rèn luyện thêm) đến để hỏi nghĩa.

Các quan đến quê gặp lúc Nguyễn Hiền đang nô đùa cùng chúng bạn, Nguyễn Hiền nói với các quan:

Trước đây vua nói ta chưa biết lễ, thì nay chính vua cũng không biết lễ. Không ai đi mời trạng nguyên về kinh lại không có lễ nghĩa.

Quan về tâu với vua, rồi đem đồ lễ và xe ngựa đến đón, Nguyễn Hiền mới chịu về kinh. Về đến kinh đô, vua đưa bài thơ của sứ Tàu ra, trạng Hiền liền giải thích như sau:

Câu thứ nhất nghĩa là hai chữ “nhật” bằng đầu nhau. Câu thứ hai “Tứ sơn điên đảo sơn” là bốn chữ “sơn”, ngược xuôi cũng đều là chữ “sơn” cả. Câu thứ ba “Lưỡng vương tranh nhất quốc”, nghĩa là chữ “vương” hai vua tranh một nước. Câu thứ tư “Tứ khẩu tung hoành gian”, có nghĩa là bốn chữ “khẩu” ngang dọc cũng đều thành chữ “khẩu” cả. Tóm lại tất cả 4 câu thơ chỉ nói đến chữ “Điền”.

Giải xong, trạng Hiền viết thư đưa cho sứ Trung Hoa, ông ta phải chịu là nước Nam có nhân tài.

Nguyễn Hiền vào triều. Vua tuyển ông vào học tiếp Tam giáo chủ khoa, tức đạo Lão, đạo Phật, đạo Khổng và bổ nhiệm làm quan đến chức “Thượng thư bộ công”.

Những năm làm quan trong triều, Nguyễn Hiền có nhiều kế sách hay để phò vua giúp nước. Năm Ất Hợi, nước ta lại bị giặc Chiêm Thành xâm lược, nhà vua rất lo bèn giao cho trạng nguyên Nguyễn Hiền đánh giặc giữ nước. Chỉ ít lâu sau, quân giặc thất bại, trạng Hiền thu quân về Vũ Minh Sơn mở tiệc khao quân và tâu lên vua. Nhà vua vô cùng vui mừng và phong cho ông chức “Đệ nhất hiển quý quan”.

Về nông nghiệp, ông cho đắp đê quai vạc sông Hồng, phát triển sản xuất mùa màng thắng lợi. Về quân sự, ông cho mở mang võ đường để rèn luyện quân sĩ.

Ngày 14 tháng 8 năm bính tý, trạng nguyên Nguyễn Hiền lâm bệnh nặng và qua đời, thọ 21 tuổi. Nhà vua thương tiếc truy phong ông là “Đại vương thành hoàng” và tôn làm thần ở 32 nơi, trong đó có đình Lại Đà ở xã Đông Hội, huyện Đông Anh, Hà Nội.

Hiện nay, tại đền thờ trạng nguyên Nguyễn Hiền ở quê hương ông, thôn Dương A, xã Nam Thắng, huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, còn giữ được nhiều bài vị, sắc phong, câu đối, đại tự, đặc biệt bảo tồn được cuốn Ngọc phả nói về sự nghiệp của ông, trong đó có câu ca ngợi tài đức của Nguyễn Hiền như sau:

“Thập nhị tuế khôi khai lưỡng quốc, Vạn niên thiên tuế lập tam tài”.

Tạm dịch:

“Mười hai tuổi khai hoa hai nước, nghìn năm ghi mãi chữ tam tài”

Sau khi ông mất, để tỏ lòng tôn kính một nhân tài mệnh yểu, vua cho đổi tên huyện Thượng Hiền thành Thượng Nguyên để kiêng tên huý của ông”.

Nguyễn Hiền thực sự là điển hình về thần đồng của “Nguyên khí quốc gia”, được vinh danh vào Bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám, Hà Nội và là niềm tự hào cho truyền thống giáo dục Việt Nam.

Trong những năm kháng chiến chống Đế quốc Mỹ xâm lược giữa thế kỷ XX, ở Việt Nam xuất hiện một Thần đồng về thơ ca khi còn rất nhỏ tuổi, đó là Trần Đăng Khoa.

Trần Đăng Khoa sinh ngày 24 tháng 4 năm Mậu Tuất, 1958, tại làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương.

Sinh ra và lớn lên trong lời ru của mẹ và tắm mình với nền ca dao, tục ngữ, dân ca Bắc bộ Việt Nam, Trần Đăng Khoa đã phát triển một thiên bẩm về tâm hồn và bộc lộ tài năng thi ca rất sớm. Lên 8 tuổi, Trần Đăng Khoa đã có thơ được đăng báo. Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập thơ đầu tiên “Từ góc sân nhà em”, rồi tiếp sau đó là tập “Góc sân và khoảng trời” của Trần Đăng Khoa đã được nhà xuất bản Kim Đồng cho ra mắt công chúng và thu hút được sự chú ý đặc biệt của bạn đọc. Thơ của Trần Đăng Khoa được tái bản nhiều lần, được dịch và xuất bản tại nhiều nước trên thế giới, nhiều bài được phổ nhạc thành bài hát.

Hơn 10 tuổi, Trần Đăng Khoa đã xem thơ của nhà thơ nổi tiếng Tố Hữu và đề nghị đổi câu thơ “Đường ta rộng thênh thang tám thước” thành “Đường ta rộng thênh thang ta bước” trong bài thơ “Ta đi tới” của nhà thơ Tố Hữu.

Có một chuyện không biết thực hay hư, mà thời bấy giờ kể đến một giai thoại là, Trần Đăng Khoa có dịp về Hà Nội được gặp thi sĩ lừng danh Xuân Diệu. Khi hai người đến quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Trần Đăng Khoa đã bất thần “xuất khẩu thành thơ”:

“Bác ơi, cháu đến đây rồi

Ba Đình Phượng đỏ, một trời đầy ve…”

Vừa nghe thần đồng Trần Đăng Khoa bật ra câu thơ, nhà thơ Xuân Diệu đã rất bất ngờ ngạc nhiên, khâm phục mà thốt lên một câu đầy biểu cảm: “- Ông Khoa!”, chứ không còn là “Cháu Khoa” nữa.

Những bài thơ của Trần Đăng Khoa ra đời đã tạo nên bước đột phá ngoạn mục về năng lực thơ ca ở tuổi thiếu niên. Nhiều bài thơ của Trần Đăng Khoa đã thực sự đi vào lòng không chỉ lứa tuổi thiếu nhi mà cả người lớn tuổi trong những năm đất nước gian khổ, đánh giặc, cứu nước. Đó là hiện tượng rất đặc biệt của sự kiện thơ ca hồi bấy giờ và tiếp tục mang theo dư âm cho những năm sau đó.

Một trong những bài thơ hay của Trần Đăng Khoa là bài “Hạt gạo làng ta”. Khi làm bài thơ này, Trần Đăng Khoa đang học lớp 5. Bằng sự hiểu biết đời sống nông thôn Việt Nam và tài năng đặc biệt, bài thơ kết tinh lấp lánh tâm hồn, nhạc điệu trong từng câu chữ minh hoạ tình cảm con người, với cảm xúc tâm hồn sâu sắc, thăng hoa, sáng tạo từ thực tiễn cuộc sống bằng hình tượng ngôn ngữ rất “trẻ thơ” của “nghệ sĩ thần đồng”. Bài thơ được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính và nhạc sĩ Trần Viết Bính phổ nhạc thành bài hát. Bài hát nhanh chóng lưu truyền, đi vào công chúng, góp phần cổ vũ tình yêu quê hương, đất nước trong những năm đánh giặc cứu nước của dân tộc. Bài thơ “Hạt gạo làng ta” được đưa vào sách giáo khoa lớp 5 Tiếng Việt của ngành giáo dục Việt Nam.

Hạt gạo làng ta

Có vị phù sa

Của sông Kinh Thầy

Có hương sen thơm

Trong hồ nước đầy

Có lời mẹ hát

Ngọt bùi đắng cay..

Hạt gạo làng ta

Có bão tháng bảy

Có mưa tháng ba

Giọt mồ hôi sa

Những trưa tháng sáu

Nước như ai nấu

Chết cả cá cờ

Cua ngoi lên bờ

Mẹ em xuống cấy...

Hạt gạo làng ta

Những năm bom Mỹ

Trút lên mái nhà

Những năm khẩu súng

Theo người đi xa

Những năm băng đạn

Vàng như lúa đồng

Bát cơm mùa gặt

Thơm hào giao thông...

Hạt gạo làng ta

Có công các bạn

Sớm nào chống hạn

Vục mẻ miệng gầu

Trưa nào bắt sâu

Lúa cao rát mặt

Chiều nào gánh phân

Quang trành quét đất.

Hạt gạo làng ta

Gửi ra tiền tuyến

Gửi về phương xa

Em vui em hát,

Hạt gạo làng ta.

Em vui em hát

Hạt gạo làng ta.

Hiện tượng Trần Đăng Khoa đã ghi một dấu ấn lạ kỳ vào nền thi ca đương đại Việt Nam anh hùng những năm kháng chiến giải phóng đất nước thế kỷ XX.

Trần Đăng Khoa ba lần được tặng giải thưởng của báo Thiếu niên Tiền phong (các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất báo Văn nghệ (1982), Giải thưởng Nhà nước năm 2000.

Cho đến sau này, Trần Đăng Khoa trải qua những thời kỳ công tác, tham gia quân đội, đi học trường viết văn Nguyễn Du, học Viện Văn học Thế giới M.Gorki, thuộc Viện hàn lâm Khoa học Xã hội Nga, rồi làm báo, làm công tác Phát thanh, Truyền hình, với nhiều sáng tác mới ra đời, nhưng dấu ấn đặc biệt nhất vẫn là danh hiệu “Thần đồng thơ” của thời thơ ấu.

Báo an ninh thế giới, tháng 10 năm 2011, đăng tải bài viết “Thần đồng” toán học Phạm Thanh Ngọc của Khắc Dũng cho biết:

“Khoảng cuối tháng 9-2011, một số tờ báo đã có bài viết về em Phạm Thanh Ngọc ở xã Tam Bố, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, đại ý là mới 11 tuổi, chưa học qua lớp một, chỉ bằng con đường tự học, nhưng giải được toán lớp 12. Tuy nhiên sau khi tổ chức kiểm tra theo đúng quy phạm, học vấn thật sự của em được đánh giá chỉ tương đương một học sinh lớp 5, thậm chí còn hơi non và có nhiều điểm lệch. Rất quan tâm đến hiện tượng hy hữu này, Ban Giám hiệu Trường quốc tế BVIS, thành phố Hồ Chí Minh đã họp bàn quyết định liên hệ với gia đình để kiểm tra trình độ thực tế của em. Trong văn bản nói về hiện tượng Phạm Thanh Ngọc, ông Michael Devenay, hiệu trưởng Trường BVIS cho biết: “Thanh Ngọc đã làm xuất sắc bài kiểm tra toán lớp 12 của trường. Ban Giám hiệu Trường BVIS đã quyết định cấp cho em một học bổng toàn phần trị giá hơn 2 tỷ đồng để theo học trong 7 năm tại trường. Lãnh đạo và các giáo viên của trường, đặc biệt là tổ bộ môn toán đã bàn bạc và thống nhất một thời khoá biểu học đặc biệt dành cho em. Em được xếp vào lớp 7 theo đúng độ tuổi. Riêng môn toán, Thanh Ngọc được gửi sang Trường quốc tế BIS ở An Phú, quận 2 (cùng hệ thống trường quốc tế BVIS) để học chung với các anh chị lớp 12 và 13 (theo bậc giáo dục phổ thông Anh quốc) để có môi trường phát huy khả năng tối đa của mình.”

Sự phát hiện ra khả năng của Phạm Thanh Ngọc là do bố em thấy con mình có khả năng đã viết đơn gửi lên Sở Giáo dục và Đào tạo bày tỏ nguyện vọng muốn cho con tham gia “Đường lên đỉnh Olimpia” trước khai giảng năm học 2011-2012.”

∗∗∗

Ngày nay, thường thấy đâu đó người ta cứ khen và khoe với mọi người rằng con cháu mình cái gì cũng biết, nói năng lắt léo tinh khôn, chưa đi học mà đã biết chữ, có khi còn biết ngoại ngữ, rồi thậm chí tâng lên như những “thần đồng”. Đó là thực trạng đáng buồn về sự ngộ nhận ngây thơ, dễ làm hại cho các cháu. Hạnh phúc của trẻ em ngày nay được tiếp cận rất sớm những nguồn thông tin đa dạng phát thanh, truyền hình, đầu đĩa, báo chí, sách vở, điện thoại thông minh và sống trong nhung lụa, ăn uống đủ chất của đời sống văn minh mà thời ông cha các cháu có mơ cũng không thể nào có được. Những tác động đó hiển nhiên mang lại cho các cháu những nhận biết, tiếp thu nhanh. Nhiều cháu vì thế mà rất thông minh, nhưng là cái thông minh của góp nhặt, tác động đủ thứ cộng vào, chứ chưa hẳn có một chiều sâu để trở nên thiên tài đặc biệt về một hướng nào. Thậm chí có cháu, khi còn nhỏ được khen là rất thông minh, cái gì cũng biết, nhưng khi đi học thì chẳng tập trung, chỉ ham nghịch ngợm, nên toàn điểm kém, làm cho thầy cô, cha mẹ phiền lòng. Có đứa trẻ vì quá ham mê chơi những trò chơi bạo lực, xem sách vở thiếu kiến thức đạo đức, nhân văn nên mất đi vốn quý thông minh thời bé và trở thành những trẻ mắc bệnh “tự kỷ’ hoặc hỗn láo, bạo ngược, giết người.

Những trường hợp cá biệt chưa đi học đã biết chữ hoặc nói được tiếng nước ngoài lại là vấn đề khác về khả năng đặc biệt, hoặc nguyên nhân tác động nội sinh khách quan nào đó và sau một thời gian khả năng ấy cũng không còn nữa. Nó là hiện tượng hoàn toàn chưa phải thực chất của thần đồng. Cần hết sức tránh việc ngộ nhận thần đồng. Bởi từ thần đồng trở thành người tài đức, có ích cho xã hội phải thật sự “thông minh bác học”. Cũng không nên cổ vũ quá sớm để thần đồng trở nên tự mãn, tự phụ rồi thui chột tài năng.

Thần Đồng là một thiên phú về thể chất, năng lực, thiên hướng và lòng say mê đặc biệt ở mỗi con người từ khi sinh ra. Sự thông minh chủ yếu là do cấu tạo kỳ lạ trong não bộ của cá biệt mỗi thần đồng khi còn rất nhỏ, mà chưa phải tác động nhiều từ hoàn cảnh, xã hội và môi trường. Hoặc chính thiên bẩm về trí não sớm có năng lực đặc biệt thông minh, tiếp thu, phân tích, lý giải các xung động của tự nhiên và quan hệ xã hội mà trở nên thần đồng. Nó không phải chia đều cho mọi cá nhân như cơm ăn, áo mặc. Thần Đồng không phải thần linh, thượng đế bay xuống, nhập vào, cũng không có chuyện luân hồi, lộn kiếp, tái sinh, mà chỉ là hiện tượng vô cùng đặc biệt về khả năng ở một con người, đồng nghĩa với một “Thiên tài” có nhân tố bẩm sinh hiếm hoi khi còn rất nhỏ tuổi.

Thần Đồng là những trẻ có “chỉ số thông minh - IQ” cao. Tuy nhiên, không phải bất cứ thần đồng nào lớn lên đều thành đạt và trở nên thiên tài. Thần đồng cũng thường mắc những chứng bệnh kỳ quặc hoặc có khi lại yểu thọ, chết sớm, chết non.

Trên thế giới từng chứng minh nhiều trẻ em cực kỳ thông minh về mặt này hay mặt khác nhưng sau đó vì nhiều lý do đã trở thành bi kịch của cuộc đời. Tác giả Đông Phương khi viết về “Bi kịch của các thần đồng”, đăng tải trên báo “Tuổi trẻ” đã nêu lên điển hình về những bi kịch ấy:

“Thần đồng 11 tuổi, Hứa Hằng Thuỵ, trúng tuyển vào một trong những trường đại học danh giá bậc nhất Trung Quốc, đã nếm trải một kỳ khổ luyện ngày đêm dưới sự giáo dục hà khắc của một đội ngũ gia sư hùng hậu và trở nên rất sợ hãi. Năm 2008, Thần đồng toán học 13 tuổi, người Anh, Sufi ah Yusof của Đại học Oxford đã không chịu được áp lực học tập căng thẳng kéo dài, đã bỏ trốn đi làm gái bán hoa ở tuổi 23. “Đệ nhất thần đồng Trung Quốc” của năm 1970 là Ninh Bạc, được chọn vào khoa đặc biệt của Đại học Khoa học và kỹ thuật khi mới 13 tuổi và năm 19 tuổi là giảng viên đại học trẻ nhất Trung Quốc. Ninh Bạc đã đột ngột trở thành Hoà thượng vào năm 2009, khi đang ở độ tuổi 38. Thần đồng người Malaysia gốc Hoa, Trương Thế Minh trúng tuyển khoa kỹ thuật của Đại học Massachusetts, Mỹ, khi mới 12 tuổi. Do áp lực quá lớn, thần đồng này đã mắc chứng trầm cảm và nhiều lần tự tử sau khi tốt nghiệp tiến sĩ tại Đại học New York Cornell, Mỹ, năm 1997. Trương Thế Minh đã qua đời vào năm 2002, sau năm năm sống với căn bệnh tâm thần. Cô bé Đàm Giao, một thần đồng theo học tại trường trung học phổ thông bậc nhất Trung Quốc lúc 14 tuổi đã lao mình xuống hồ sâu 3m trong trường tự tử vào năm 2008, để lại thư tuyệt mệnh: “Lúc nào con cũng cảm thấy áp lực lớn. Con rất mệt mỏi và muốn an nghỉ!”.

Theo tiến sĩ Huỳnh Văn Sơn, trưởng khoa Tâm lý học, Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, thần đồng thành công về sau không chỉ là “chỉ số thông minh - IQ” đã có mà còn phụ thuộc vào yếu tố đặc biệt nữa là “Trí tuệ xã hội - SQ”. Trí tuệ xã hội bao gồm: Khả năng nhận thức về người khác; Khả năng thiết lập và duy trì mối quan hệ xã hội; Khả năng tự nhận thức bản thân; Khả năng tự điều chỉnh, thay đổi.

Tác giả Lương Hoành, trong bài viết “Tin, nhưng chưa chứng minh được” trên báo “An ninh thế giới” nói về “những trí tuệ vĩ đại”, trong đó có lưu ý đến việc “Không bao giờ có thể nhân bản thiên tài” như sau:

“Giáo sư, tiến sĩ y học Ali Asanov, trưởng khoa Di truyền học ở Đại học Y khoa số 1 Moskva, mang tên I.M. Sechenov nói rằng: - Chúng ta sẽ không bao giờ tạo ra những bản sao chính bản thân mình. Lý do là ở chỗ, con người là kết quả của một quá trình tác động tương hỗ nào đó giữa di truyền gen và vô số những yếu tố môi trường… Thí dụ, chúng ta có thể nhân bản Mozart giống về gen như đúc, nếu chúng ta tìm thấy di cốt của ông. Nhưng chúng ta sẽ không thể lặp lại đường đời mà ông đã trải, từ lần viêm phổi đầu tiên khi còn nhỏ tới lần phải lòng phụ nữ đầu tiên. Mà chính những tiểu tiết khác nhau như thế đã trở thành nội dung góp nhặt dần dần nên thiên tài nghệ sĩ. Cũng như thế, chúng ta sẽ không bao giờ nhân bản y như đúc bất cứ một con người nào khác. Vì thế nhân loại mới từ bỏ ý tưởng nhân bản chính mình. Chúng ta sẽ chỉ nhân bản động vật để lấy thịt và sữa thôi.”

Thời nào cũng có thần đồng của thời ấy. Thần đồng ngày nay sẽ là những kỳ tài đặc biệt về kiến thức xã hội, lịch sử, văn hoá, ngoại ngữ, khoa học, công nghệ thông minh… Thiên hướng và sự rèn luyện cũng là yếu tố đôi khi tạo ra “thần đồng”. Có trường hợp sớm đưa vào môi trường tiếp cận, huấn luyện kỳ công mà có “chú tiểu” chỉ 8, 9 tuổi đã thuyết giải khá trôi chảy một cách kỳ lạ về những đề tài giáo lý rất hay ở diễn đàn của Phật tử. Và được thần thánh hoá cho nhiều chuyện ly kỳ, cho đây là Phật hoặc sau này sẽ là “Phật” của trần gian thì lại là điều phải suy ngẫm. Bởi việc một đứa trẻ hàng ngày cho vào “lò luyện” thuộc làu về một vấn đề gì đó thôi, nên ra xã hội hỏi về những vấn đề khác có khi lại chẳng biết gì.

Như vậy, Thần Đồng chỉ là thuận lợi ban đầu về “Chỉ số thông minh đặc biệt - IQ”. Phải có một “Trí tuệ xã hội - SQ” đặc biệt nữa cộng với những nỗ lực phi thường mới là mầm mống của sự thành đạt và vươn tới một thiên tài. Và tất nhiên phải biết tiết chế, điều hoà những áp lực rối loạn tâm thần, để không phải là nạn nhân bi kịch của một thần đồng. Rồi không hiểu gì, lại cho là “học lắm ngộ chữ!”. Mê tín dị đoan thì bảo: “Chắc lại động mồ động mả, chạm tới thần linh, hay ma làm, quỷ ám đấy thôi!”.

Vấn đề đặt ra là thần đồng đó có phát triển thành người tài hay không và như thế nào là một người tài. Ai là người biết phát hiện và xác nhận đó là người tài và tiếp tục bồi dưỡng, tạo điều kiện, nuôi dưỡng, phát huy ra sao của nhân tài ấy. Bởi không phải thần đồng là trở thành người tài và cũng nhiều nhân tài vì không phát huy được hoặc không được sử dụng, hoặc không có “đức”, hoặc sai lầm về vấn đề nào đó mà thui chột mất đi.

Đãng trí bác học

Bác học là những người có thiên hướng đặc biệt và tố chất của Thiên tài. Họ có những công trình khoa học hoặc những phát minh cực kỳ vĩ đại, giá trị ứng dụng phục vụ lợi ích thiết thực cho đời sống con người họăc làm thay đổi mang tính nhân loại.

Những phát minh đặc biệt, lớn lao về Vật lý, Hoá học, Toán, Công nghệ thông tin… đã đưa những con người có tài năng xuất chúng thành những bác học, vĩ nhân. Cống hiến để đời của họ không những góp phần lớn lao cải tạo, thay đổi thế giới mà còn là cơ sở minh chứng và làm sáng tỏ về những hiện tượng siêu nhiên, vô hình, khó hiểu.

Cũng bởi do thể chất đặc biệt và thiên hướng cuộc đời cuốn hút lòng say mê của các nhà bác học cho khát vọng lớn lao, mà đôi khi những sinh hoạt vặt vãnh hàng ngày quanh mình họ lại không chú ý.

Thế mới có chuyện nhà bác học lừng danh Archimede, năm 287-212 TCN, quên cả mặc quần áo, ở truồng chạy ra đường kêu lên về phát hiện khoa học của mình cho một định luật khoa học về thể tích. Nhà khoa học, viện sĩ Viện hàn lâm lại cứ ngồi trên tàu điện khi tàu đã đến ga, mọi hành khách đều xuống hết, do đãng trí đang tập trung suy nghĩ về các công trình, mà trở thành một giai thoại đẹp.

Cũng không thiếu gì những bi kịch do “đầu óc để trên mây”, không cẩn trọng của những thiên tài, mà Đại thi hào Nga Puskin là một ví dụ. Báo “An ninh Thế giới” có đăng tải bài viết “Nàng thơ của Đại thi hào Nga Puskin” của Khánh Hạ, trong đó có đoạn mô tả về sự kiện bi thương của thiên tài này:

“… Năm 1834, tình cờ trong một vũ hội, Natalia (vợ nhà thơ Puskin) gặp viên sĩ quan kỵ binh người Pháp 22 tuổi Georges d’Anthes. Những săn đón lịch lãm và nhiệt tình của viên sĩ quan này đã khiến Natalia có phần hãnh diện và nàng trung thực kể lại chuyện này với chồng. Thực ra, không phải lúc nào nàng cũng thích thú với những săn đón đó, thậm chí nàng còn có lúc cảm thấy khó chịu khi d’Anthes cứ sấn sổ tới nàng… Nhìn chung, nàng chỉ đơn giản coi đó là trò chơi thượng lưu nên không quá nặng lòng với nó. Thế nhưng miệng lưỡi thiên hạ trong chốn thượng lưu cực kỳ nghiệt ngã.

Ngày 4-11-1836, nhà thơ nhận được qua bưu điện một lá thư nặc danh có nội dung vu cáo, xúc phạm tới danh dự của anh và nàng Natalia, cho rằng anh đã bị vợ cắm sừng. Chuyện xảy ra tiếp theo, mọi người đều đã rõ. Không có chỗ để lùi, Puskin đã thách đấu súng với d’Anthes. Nam tước Heeckeren, cha nuôi của d’Anthes, đã cố gắng để làm lùi lại thời hạn đấu súng và Puskin thoạt tiên đồng ý như vậy. Thế rồi lại có tin d’Anthes định cưới chị gái của Natalia là Ekatirina Goncharova làm vợ. Puskin cho rằng, d’Anthes muốn lảng tránh đấu súng nên đã không nhượng bộ nữa.

Ngày 27-1-1837 trên dòng sông Đen, Puskin đã bị d’Anthes bắn trọng thương. Phút lâm chung, nhà thơ đã viết cho người vợ đang cuồng loạn vì đau khổ rằng: “Anh hạnh phúc làm sao. Anh còn sống và em đang ở gần bên anh. Em hãy bình tâm. Em không có lỗi. Anh biết rằng em không có lỗi.”

Sau khi Puskin qua đời, người goá phụ ở tuổi 24 đã sống quằn quại trong tuyệt vọng, gầy xanh xao đi.

Natalia đã về quê ở hai năm liền theo lời trăng trối của chồng: “Em hãy về quê. Hãy để tang anh hai năm rồi đi bước nữa, nhưng phải lấy một người đàn ông lương thiện.”

Hết tang, Natalia quay trở về St.Peterburg, nhưng hoàn toàn từ bỏ các sinh hoạt thượng lưu. Hàng năm, cứ đều đặn đầu tháng Giêng, tháng ra đi của chồng nàng, Natalia lại tự cách ly mình, ăn kiêng để hồi tưởng lại quá khứ.”

Các nhà văn, nhà thơ, nhạc sĩ, hoạ sĩ, nghệ nhân cũng vậy, họ say mê sáng tạo ngày đêm để lại cho đời những tác phẩm văn học, nghệ thuật, thơ ca, tranh, tượng, bản nhạc bất hủ, sống mãi với muôn đời. Nhưng thật đáng buồn khi một người vợ chẳng hiểu gì, không biết giữ ý, lại cứ quấy rầy khi chồng đang tập trung suy nghĩ, sáng tạo, phát minh. Đã không biết chịu khó, hy sinh và tự hào về người chồng có tài năng như thế mà cứ eo xèo, ta thán suốt ngày: “Sao anh không chịu rửa bát, lau nhà, nấu bếp, dọn mâm!”. Làm thui chột tài năng và ngọn nguồn của bất hạnh chính là như thế.

Ở đời thường, các sinh viên học rất giỏi lại sống rất bừa bãi, quần áo, giầy tất không bao giờ thu dọn giặt giũ mà cứ vứt bỏ lung tung. Tuy nhiên, “đãng trí” đến mức phạm vào luân thường đạo lý, bất trung, bất hiếu, thờ ơ với lễ tiết, tình người, trở nên vô dụng thì quả là rất đáng buồn. Lớp trẻ ngày nay được tiếp thu cái mới, say mê nghiên cứu khoa học thường không tiếp cận với cái sâu sắc về giáo lý, lễ nghĩa cổ xưa nên sinh ra khiếm khuyết trong đối nhân xử thế như vậy.

Những khuyết tật “đãng trí bác học” do thiên hướng thái quá thật đáng yêu, đáng khâm phục khi con người để tâm mãnh liệt lòng say mê vào vấn đề gì và thành quả làm ra đều là những điều vô cùng có ích. Nó đâu phải chuyện người đời ít hiểu biết về họ và mê tín dị đoan cho là “bác học dở hơi”, “ngộ chữ”, là quỷ ám, ma làm!

Thầy thuốc thần kỳ

Ông làm thầy thuốc Đông Y, theo truyền thống cha ông ngày xưa đi ở cho nhà làm thuốc từ năm lên 7 tuổi mà học được. Năm nay, cha ông 95 tuổi, cụ rất khoẻ mạnh và vẫn làm thuốc bắc chữa bệnh cho dân. Thế là nhà ông có nghề thuốc gia truyền ngót 100 năm rồi còn gì. Nhưng ông sinh ra vào thời loạn lạc, chiến tranh, lớn lên là xung phong tình nguyện lên đường đánh giặc. Hoàn thành nhiệm vụ trở về, ông đi làm báo, rồi vừa làm nhà báo, ông vừa đi học nghiệp vụ Y học cổ truyền và khám chữa bệnh cho mọi người.

Có nghề gia truyền, lại có kiến thức báo chí, học lý thuyết ngành y và tra cứu rất nhiều sách báo y học, kết hợp khám chữa bệnh cho mọi người nên ông rút ra được kinh nghiệm và điều trị nhiều trường hợp thành công.

Về nghỉ hưu, ông mở hiệu thuốc Đông y. Ngẫm nghĩ mãi về cái tên ông tổ nghề Đông y “Tế Sinh” ở mãi đâu đâu hoặc bắt chước nho nhã như “Mãn Phúc Đường” mà nhiều người vẫn hay đặt cho cửa hiệu, vừa lai căng lại vừa khó hiểu. Ông làm theo ý tưởng của mình, đặt tên hiệu bằng chữ Quốc ngữ Việt Nam dễ nhớ, rõ ràng là “Đông Y Đức Thịnh”. Theo ông, làm nghề thuốc là phải có Đức, có Đức thì Thịnh vượng, mà cái thịnh vượng về Trí Tuệ là quan trọng nhất. Có Đức hãy nên làm nghề thuốc, có Trí mới thành người thầy thuốc giỏi. Là “Thầy” thì càng phải có phẩm cách, vì mấy ai được tôn lên danh hiệu cao quý là thầy, mà thầy thuốc liên quan đến sức khoẻ, sinh mạng và hạnh phúc của con người, lại càng quan trọng.

Nhà thuốc của ông là cả gia tài không mấy nhà thuốc đông y tư nhân có được. Hiệu thuốc có đầy đủ nơi khám bệnh, án mạch, kê đơn, tai nghe, nhiệt kế, máy đo huyết áp, bàn bốc thuốc, vừa truyền thống lại vừa hiện đại. Một tủ thuốc bề thế cao 12 tầng, 108 ngăn đại diện cho 108 anh hùng Lương Sơn Bạc. Trên nóc tủ thuốc là 12 bình rượu thuốc nổi tiếng, đại diện cho 12 Địa Chi vận hành của năm tháng, âm dương. Phòng bấm huyệt, châm cứu có đủ đồ dùng, vật dụng, kim châm cứu, máy điện châm, bộ diện chẩn diện châm, máy rung xoa, đèn hồng ngoại. Trên giá sách có rất nhiều sách Đông y, Y học cổ truyền với đầy đủ những bộ sách quý như: Hải Thượng Lãn Ông, Tuệ Tĩnh, Hoa Đà, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Châm cứu học… Ngoài ra có rất nhiều sách báo về ngành y. Ông còn biên soạn tài liệu đông y, trong đó có cuốn dày gần 1000 trang tổng hợp về đông y dành cho người bắt đầu học nghề làm thuốc và cuốn gần 500 trang sưu tầm, tập hợp, rút kinh nghiệm những bài thuốc hay, bí truyền, phương thuốc quý nổi tiếng trong lịch sử Đông Y, giúp cho người làm nghề thuốc Đông y có tài liệu thực hành.

Phòng khám bệnh của ông sạch sẽ, khang trang, có hình ảnh Tuệ Tĩnh và Hải Thượng Lãn Ông, sư tổ ngành thuốc cổ truyền Việt Nam. Trân trọng trên tường là 8 điều giáo huấn y đức của Hải Thượng Lãn Ông và lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Người thầy thuốc giỏi đồng thời phải như là người mẹ hiền”. Cạnh nơi khám bệnh ông để dòng chữ: “Phấn khởi, lạc quan cho mau khỏi bệnh”.

Người đến khám bệnh ngồi chờ. Ông đi đi, lại lại rồi ngồi vào ghế bắt đầu khám bệnh. Người thứ nhất là chị phụ nữ, đặt tay lên bàn cho ông án mạch. Đầu ngón tay ông đặt nhẹ lên ba bộ vị Thốn, Quan, Xích ở ngay cao cốt cổ tay trái, sang tay phải, rồi cả hai tay. Ông đặt nhẹ rồi từ từ ấn xuống, ấn đến độ sâu ông lại từ từ nâng nhẹ các đầu ngón tay, làm đi làm lại mấy lần, gọi là phù, trung, trọng án, ba lần ba là chín bộ mạch trên tay. Tư tưởng như đang lắng nghe, đôi mắt ông nhìn lên khuôn mặt, nhìn vào đôi mắt và ông bảo người bệnh há mồm thè lưỡi ra xem để còn “đối chứng luận trị”.

Ông chưa hỏi gì và người bệnh chưa nói gì, ông bảo: “Mạch chị nhanh, bộ vị bên trái phù sác, chị đang mang thai con trai. Trong người chị bồn chồn khó ngủ, đi ngoài hơi táo bón, nước tiểu nóng vàng, cổ miệng hơi khô về đêm khi âm thịnh. Điều trị bình can, bổ thận, dưỡng thai, uống thuốc vào chị sẽ dễ chịu, sau một tuần người khắc đỡ dần. Chịu khó uống thuốc và phải an tâm phấn khởi, bệnh sẽ khỏi thôi”. Chị phụ nữ ngạc nhiên vì những điều thầy nói ra đúng như trong người của chị. Ông bảo chị ra ghế ngồi chờ, rồi viết đơn đưa cho người nhà chuẩn bị bốc thuốc.

Khi anh con trai kéo ngăn kéo lấy từng vị thuốc ra cân, ông cứ nhìn lên các ngăn tủ thuốc, thỉnh thoảng lại nhắc điều chỉnh vị này lên một chút, vị kia hạ đi cho thang thuốc tốt hơn. Ông nói: “Người thầy thuốc giỏi là dù đã kê đơn nhưng cả lúc bốc thuốc vẫn phải dựa vào căn bệnh và người bệnh mà tính toán gia giảm vị thuốc, đồng thời cách bào chế phải thật đặc biệt thì bài thuốc mới hay”. Tay nghề ông rất thành thạo, nên không cần cân, chỉ bốc bằng tay mà khi cân lên cũng không mấy khi sai sót. Giấy dặn dùng thuốc ông ghi rất cụ thể cách sắc, cách uống, có cần cho thêm gì vào khi sắc hay không. Ông đưa thuốc cho người bệnh và không quên cẩn thận dặn dò: “Về uống thuốc, có thế nào thì đến hỏi ngay, uống thuốc xong thấy tốt thì cứ yên tâm cho đến ngày “mẹ tròn con vuông”, cô nhé!”.

Đến lượt anh thanh niên, nét mặt hơi thất thần, tỏ vẻ lo âu, chưa ngồi vào đã mấp máy đôi môi muốn nói. Ông vừa nhìn vào mắt anh ta vừa hỏi triệu chứng bệnh tình. Anh kể rằng anh cứ suy nghĩ lung tung, hay mơ mộng, người nhiều khi khó chịu, bần thần. Vừa nghe vừa hỏi một hồi lâu, ông bảo anh để tay lên xem mạch. Một lát xong, ông nói: “Anh chẳng có bệnh gì, chỉ có tư tưởng tinh thần không ổn định. Anh phải bỏ ngay những vướng bận, suy nghĩ, bực bội hàng ngày và tích cực thể thao thể dục nhẹ nhàng sẽ khỏi”. Ông xoa xoa, day day, bấm bấm cho anh vào mấy huyệt ở vùng đầu, cổ tay, khoeo chân cho dễ chịu rồi bảo về cứ thế mà làm, khỏi cần phải thuốc men! Anh thanh niên, không yên tâm, cứ đòi bốc thuốc. Ông mỉm cười bảo: “Mạch của anh đã báo sức khoẻ anh rất tốt, chẳng có bệnh gì. Cần thuốc làm gì cho tốn tiền lại thêm bận bịu? Khi nào khó chịu, có bệnh thật thì cứ đến đây!”.

Thế ra tứ chẩn “Vọng, Văn, Vấn, Thiết” của đông y và kinh nghiệm cho ông thấy căn bệnh của từng người. Khi ông đi đi, lại lại là lúc quan sát dáng vẻ, thần sắc nét mặt, màu da, giọng nói của từng người và hỏi về hoàn cảnh, công việc, làm ăn mà luận đoán bệnh. Vì vậy, chị phụ nữ vào, ông đã chẩn đoán được một phần. Khi án lên mạch, ông nghe ở ba bộ vị mà luận trị biết được triệu chứng, phương điều trị cho người mẹ và cả thai nhi. Còn anh thanh niên, qua nhìn vào nét mặt và tìm hiểu hỏi về công việc, thấy anh làm cung văn thầy cúng, luôn luôn dính dáng đến tín ngưỡng, thần linh làm cho tâm thần bất an, còn bộ vị mạch lại rất khoẻ mạnh, nên phương chính là biện pháp động viên tâm lý, cần thiết thì cho phương thuốc an thần. Cách của ông là tuỳ theo chứng trạng, bệnh tình của từng người khám xét mà xử lý. Người cần động viên, ân cần dặn dò thật kỹ. Người lại phải “cứng rắn” phủ đầu bằng tâm lý y học thì lại mới hay.

Ông còn bảo, khi người bệnh đến, thầy thuốc không khám gì mà chỉ cầm lấy ngón tay mà nói bệnh, có khi chỉ là phép nói dựa mà thôi. Cầm vào ngón tay, nắn mấy cái làm phép, thầy phán ngay rằng: “Hay bí đái lắm phải không? Tiền liệt tuyến to rồi đấy! Máu nhiễm mỡ, gan nhiễm mỡ, phải uống thuốc và ăn kiêng mà chữa”. Bệnh nhân ngẩn người, không hiểu sao mà thầy biết ngay được thế? Người bệnh nam đã cao tuổi, ai mà chả có triệu chứng phì đại tiền liệt tuyến, tất sinh bí đái. Thân hình lại hơi béo, cho đi xét nghiệm thì chắc chắn có mỡ máu, mỡ gan.

Ông rất tâm đắc lời dạy của danh y Biển Thước, thời Chiến Quốc ở Trung Hoa, thế kỷ thứ V TCN, khi nêu lên 6 loại người không nên chữa bệnh, đó là:

1- Người kiêu căng, càn dở, không kể đạo lý.

2- Người tiếc tiền, coi nhẹ mạng sống.

3- Người ăn mặc không đứng đắn.

4- Người Âm Dương, Tạng, Phủ suy kém.

5- Người hình thể gầy mòn mà không uống được thuốc.

6- Người tin Thầy Cúng mà không tin Thầy Thuốc.

Về liệu pháp bấm huyệt, châm cứu, ông bảo: “Người thầy thuốc giỏi phải có hai yếu tố là y thuật và thể chất. Không phải người thầy thuốc nào cũng có được mà phải qua quá trình khổ công học tập, nghiên cứu, rèn luyện công phu. Khi khám bệnh, phải khám trực tiếp và khám thật kỹ. Theo triệu chứng cụ thể xác định chính xác vùng đau, điểm đau xem viêm tắc hay co thắt ở cơ, gân hay trong kinh lạc. Chữa không trúng thì chỗ đau không chữa, lại chữa chỗ không đau. Chỗ đau không khỏi mà chỗ không đau lại bị bấm, châm vào sinh ra đau đớn. Vì thế, có người châm kim vào là tức khắc dịu đau ngay. Có người châm không trúng chỗ đau mà vào chỗ khác làm cho đau buốt vô cùng. Đó là thuật của người thầy thuốc”.

Về thể chất, ông lý luận rằng: “Người thầy thuốc khi chạm vào bệnh nhân để bấm huyệt hoặc cầm kim châm cứu cần phải vận công, vận khí để truyền sang người bệnh một lực trường sinh, tạo nên xung động ở đầu ngón tay bấm huyệt hoặc truyền qua kim châm cứu. Khi nội lực vận hành, toàn thân người thầy thuốc nóng bừng, đầu ngón tay rung lên nhấn vào điểm huyệt. Đó là những giây phút xảy ra như thực hành Yoga, nhân điện, thôi miên làm cho bệnh nhân cảm giác rung lên, dễ chịu. Muốn được điều này phải qua rèn luyện công phu và quá trình điều chỉnh ăn uống kiên trì mới có.

Thử tưởng tượng khi đứng sau ai đó mà bất ngờ cầm cái kim châm vào vai hay lưng người ấy. Lập tức người ấy giật mình, có khi nóng rực người lên, phản ứng rất nhanh, quay phắt lại tát mạnh cho một cái. Tác động lan truyền của phản xạ thần kinh quả là ghê gớm. Nghệ thuật châm cứu cũng tương tự như vậy, và còn châm sâu, kích thích vào huyệt đạo, kinh lạc mà mang lại hiệu quả chữa bệnh rất thần kỳ.

Phối hợp được trình độ y học giỏi và nội lực sinh học mạnh mẽ sẽ tạo ra khả năng chữa bệnh lạ lùng trong bấm huyệt, truyền xung châm cứu”.

“Gặp thầy gặp thuốc” có nghĩa là gặp thầy thuốc giỏi, khám trúng, chữa đúng mà khỏi bệnh, dù khám cho bất cứ ai, chứ không phải chuyện may ra mà gặp được thầy như xưa từng quan niệm. Đi khắp nơi, uống chán thuốc rồi, thuốc ngấm vào đến khi sắp khỏi, gặp ngay một ông thầy chẳng mấy cao tay bốc cho mấy thang thuốc về uống, hoặc có người xúi bẩy đi lễ lạt, vàng hương cúng bái, thấy khỏi bệnh cứ cho là “gặp thầy gặp thuốc”, là do cúng bái thần linh.

Người ta có thể trương lên biển này, hiệu nọ rất hoành tráng. Y lý nông cạn, y thuật không cao, đôi khi cái bệnh coi thường người khác mà một số ông thầy tầm thường hay mắc phải, thì sự khiêm tốn, đức độ, trí tuệ và y thuật siêu phàm mới là người thầy thuốc có năng lực huyền diệu, thần kỳ, đích thực người thầy thuốc giỏi.

Nghệ sĩ vô danh

Chúng ta từng chiêm ngưỡng các đền, chùa, nhà thờ, đình, miếu và thấy ở đây là những công trình nghệ thuật tổng hợp tài năng của các nghệ nhân. Từ kiến trúc, phối cảnh bên ngoài đến cấu trúc, trang trí nội thất, hoành phi, câu đối, tranh, tượng bên trong các công trình này là những kiệt tác nghệ thuật phong phú, tổng hợp do trí tuệ, tài năng con người làm nên. Trí tưởng tượng cao siêu, tâm hồn lãng mạn bay bổng được gắn với hiện thực đời sống tinh thần phong phú, những con người tài năng đặc biệt đã cống hiến cho đời nhiều tác phẩm nghệ thuật xuất sắc, giàu chất nhân văn.

Cấu trúc mái đình với những đầu đao vút lên hài hoà vào không gian rộng lớn tam cấp, tam toà của đình chùa. Những hoạ tiết trang trí tỷ mỷ trên trụ cột, đại tự, hoành phi, câu đối và nghệ thuật tạo hình điêu khắc sống động ở các tượng Phật mô tả phong phú đời sống, tín ngưỡng tâm linh. Những tượng Hộ Pháp, Bụt ốc, Thích Ca, Phật Bà nghìn mắt nghìn tay trong các ngôi chùa là cả thế giới linh thiêng cõi phật. Ở chùa Tây Phương, Hà Nội, người nghệ sĩ tạc tượng đã thả tâm hồn hoá giải tín ngưỡng giữa đạo và đời qua hình tượng các vị La Hán được thổi hồn vào thật kỳ diệu, tài tình. Những hình hài, nét mặt các pho tượng là cả triết lý nội tâm phong phú, đặc sắc về cõi nhân sinh làm xúc động lòng người. Không gian nhà thờ rộng lớn, vút cao với nghệ thuật trang trí huyền diệu cùng hình tượng Đức Chúa Giêsu làm tăng thêm lòng ngưỡng mộ vào đức tin của con chiên đối với thiên thần để tự răn mình, kính Chúa. Đó là sản phẩm của sự hiểu biết sâu xa tâm linh, tôn giáo và tài năng, công sức, mồ hôi của các nghệ sĩ nhân dân đã ghi dấu ấn vào những công trình đặc sắc, làm nên kiệt tác để đời.

Xong mỗi công trình, những nghệ sĩ tài năng ấy lại ra đi xây dựng các công trình khác. Sứ mệnh và lòng say mê của những con người ấy là sáng tạo nghệ thuật, chứ không phải hành đạo, tu hành. Họ không cần biết rằng, sau đó tại đây, ai đến và sẽ diễn ra trong các công trình ấy những gì. Trong lòng họ không nặng nề vướng bận ưu phiền mà chỉ thăng hoa tâm hồn sáng tạo cho nghệ thuật làm đẹp và giàu ý nghĩa của các công trình. Những điêu khắc hoạ tiết hài hoà tam toà, tam bảo, những pho tượng được tạo hình tuyệt vời và thổi hồn vào nét điêu khắc dân gian toát lên thần thái trong đôi mắt, nét mặt đến hình hài mô tả thật sống động tâm linh, phật pháp, thánh thần. Không mấy khi, tại các công trình này khắc ghi lưu danh, năm tháng và những con người sáng tạo nghệ thuật tài năng. Họ trở thành những nghệ sĩ đích thực tài hoa nhưng lại vô danh.

Những pho tượng dù được các nghệ sĩ nhân dân điêu khắc công phu, sơn son, thếp vàng lộng lẫy cũng mới là pho tượng “vô tri vô giác” bằng mọi chất liệu gỗ, đồng, đá và ngày nay bằng thạch cao, cốt thép xi măng. Và dù người ta có tạo trục thiền định luân xa dọc theo cột sống trong thân tượng, có “yểm” vàng, tiền, Bát Nhã Tâm Kinh, Chủng tử Om Ah Hum… vào nơi trái tim pho tượng thì vẫn chưa thật sự linh thiêng. Mà phải đến khi lập đàn tụng kinh “Khai quang - Hô thần, nhập tượng” mới là chuyển tải sự huyền diệu tâm linh vào tâm thức con người. Người ta dùng nước sạch, cho vào ít nước hoa (hoặc nước trầm hương, ngũ vị), đọc 21 hoặc 27 (9x3) lần bài chú “Thanh tịnh pháp” của nhà Phật và trì thêm chú “Nước Cam lồ” (7 hay 9 lần), rồi lấy nước đó lau, rửa tượng. Nước dùng xong đổ ra trước sân và vẩy ra xung quanh, không được đổ xuống cống rãnh. Bản thân mỗi pho tượng là hiện hình một công trình nghệ thuật sáng tạo tuyệt vời, khi chuyển tải tâm linh mới làm cho tượng trở nên linh thiêng, huyền diệu.

Những tín đồ, phật tử, linh mục, con chiên khi trụ trì, cầu nguyện mấy ai biết được, thậm chí không biết gì về giá trị những tài năng, mà chỉ những nhà nghiên cứu văn hoá mới có thể cảm nhận, trân trọng đánh giá cao ý nghĩa văn hoá, tinh hoa nghệ thuật, tinh thần của những con người kỳ diệu, vô danh ấy.

Thế mới thấy rằng, tín ngưỡng là tín ngưỡng, tu hành là tu hành, còn chính các nghệ sĩ tài hoa làm ra những công trình cho tín ngưỡng, họ không màng danh vọng vàng son, mà tiếp tục con đường sáng tạo làm nên những công trình nghệ thuật kiến trúc đình chùa, tượng Phật, nhà thờ, Đức Chúa và trở thành mãi mãi vô danh.

Chữ Nho, chữ Việt

Theo các tài liệu nghiên cứu thì chữ Nho (chữ Hán) từ Trung Quốc đưa sang Việt Nam trong thời kỳ phong kiến Trung Hoa đô hộ, vào khoảng thế kỷ I, TCN, ngay sau khi Trung Quốc chiếm xong Việt Nam. Một trong những người được coi là có công truyền bá Nho giáo vào đất Giao Châu là Thái thú Sĩ Nhiếp.

Chữ Hán theo âm Hán Việt đọc là chữ Nhu, khi phiên âm Nôm đọc thành chữ Nho, được sử dụng chính thức từ đầu Công nguyên đến đầu thế kỷ XX, nhưng không phải là chữ viết riêng của người Việt mà là ngôn ngữ trung gian. Chữ Nho có vai trò rất lớn khi đạo Phật, đạo Khổng, Lão ảnh hưởng sang nước ta:

Anh về học lấy chữ Nhu,

Chín Trăng em đợi, mười Thu em chờ. (Ca dao)

Chữ Hán được dùng chủ yếu trong các gia phả, khế ước, văn tự, bài khấn, kê khai ruộng đất, thu thuế, các bộ Kinh Phật, số lý, bói toán… và sử dụng trong các vương triều, giáo dục thi cử, văn học viết, thông qua các đạo sĩ, đồ nho. Trong suốt 1000 năm đô hộ, cho đến năm 938, trước trận chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền giành độc lập là thời kỳ Việt Nam bị lệ thuộc phương Bắc và ảnh hưởng mạnh mẽ của văn hoá và chữ Hán, Trung Hoa.

Theo truyền thuyết thì chữ Hán là văn tự do Hoàng Đế nước Trung Hoa sáng tạo ra từ 4 đến 5 ngàn năm trước, vào thời nhà Thương, khoảng 1800 năm TCN. Cho đến ngày nay cũng không có ai tin rằng Hoàng Đế là có thực mà chỉ coi là như thế mà thôi.

Qua nghiên cứu của các nhà khoa học và khảo cổ cho thấy chữ Hán được cấu tạo hình thành theo theo sáu cách, trong đó có bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng chữ Hán, gọi là Lục Thư gồm: Tượng hình là mô tả hình tượng của sự vật. Chỉ sự hay còn gọi là biểu ý là diễn tả sự việc. Hội ý là ghép hình ghép ý. Hình thanh là biểu diễn ý nghĩa chính và cách phát âm của từ đó. Chuyển chú là biểu diễn ý nghĩa khác biệt của từ đó. Giả tá là mượn chữ có cùng cách phát âm.

Chữ Hán trải qua nhiều thời kỳ phát triển từ lọai chữ cổ nhất là Giáp Cốt, còn gọi là Giáp Cốt Tự, viết trên các mảnh xương thú vật, xuất hiện vào đời nhà Ân, khoảng 1600-1020 TCN, đến chữ Kim viết trên các chuông bằng đồng và kim loại, vào thời nhà Chu, 1021-256 TCN. Chữ Triện vào thời Chiến Quốc, 403-221 TCN và thời nhà Tần, 221-206 TCN, trên các bản khắc Đại triện, Tiểu triện và Lệ thư. Thời nhà Hán có chữ Khải, Khải Thư dùng bút lông chấm mực tàu viết trên giấy, có hai loại Hành Thư và Thảo Thư.

Chữ Hán là một phát minh vĩ đại của dân tộc Trung Hoa cổ xưa góp phần làm nên nền văn hoá của họ.

Với triết lý sâu xa, đa nghĩa, là chữ tượng hình giàu hình ảnh, nghệ thuật thư pháp chữ Hán còn trở thành một môn tạo hình độc đáo về chữ viết của dân tộc Trung Hoa. Ảnh hưởng của chữ Hán đến nhiều nước Châu Á như: Mông Cổ, Singapore, Hàn Quốc, Nhật Bản, Malaysia, Triều Tiên, Việt Nam. Cũng vì vậy qua hàng ngàn năm đô hộ, Việt Nam đã bị ảnh hưởng bởi văn hoá Bắc thuộc và ăn sâu vào tâm thức đời sống, tinh thần, sinh hoạt của cộng đồng. Đây là thời kỳ các loại hình đầu độc xâm lăng nhằm mục đích đồng hoá Việt Nam, trong đó có chữ Hán thông qua Nho giáo. Khi Việt Nam chưa tìm ra chữ viết của mình thì chữ Hán là độc tôn, coi là của Thánh hiền, là chữ thần, là báu vật của trí tuệ nên các công trình văn hoá, chùa chiền, lăng mộ cho đến thờ cúng tại gia đình, người Việt Nam đều dùng chữ Hán và sau này có dùng chữ Hán - Nôm phỏng theo và biến tướng của chữ Hán.

Thực chất ngôn ngữ Hán là một ngoại ngữ đối với người Việt Nam, nó không diễn đạt được đầy đủ ngữ nghĩa phong phú của người Việt Nam.

Để có thể diễn đạt được ngôn ngữ Việt Nam, một số nhà nho đã cải biên và lắp ghép các bộ của chữ Hán thành một loại chữ mới, gọi là chữ Nôm. Chữ Nôm mượn từ tượng hình của chữ Hán để ghi lại âm tiếng Việt, đọc theo âm Việt. Chữ Nôm xuất hiện vào thời Lý, thế kỷ thứ X, sử dụng rất rộng rãi vào thế kỷ XII, phát triển mạnh mẽ nhất vào thế kỷ XVIII, dưới thời Tây Sơn và được tiếp tục sử dụng đến đầu thế kỷ XX.

Tuy là mượn chữ của nước ngoài, nhưng không phải vì thế mà dân tộc Việt Nam dễ dàng bị khuất phục. Trong lịch sử Việt Nam đã từng xảy ra những sự kiện chống Hán hoá và phong kiến phương Bắc.

Theo tác giả Nguyễn Sĩ Bình: “Ngay khi nhà Đông Hán cai trị đổi tên nước Âu Lạc thành Giao Châu, Mã Viện cho dựng cột đồng ở nơi biên giới phân chia hai nước, có khắc dòng chữ: “Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt”. Lập tức người Giao Chỉ đi qua đã lấy đá xếp cao thành gò chôn vùi trụ đồng của Mã Viện. Rồi cùng với đề cao nếp sống, tín ngưỡng, ngôn ngữ, nghệ thuật, ẩm thực, phong tục tập quán, ăn mặc, trầu cau, áo dài, áo bà ba và xuất phát từ nhu cầu cần có ngôn ngữ viết của người Việt, chữ Nôm ra đời vào thời nhà Lý, thế kỷ thứ X, phát triển mạnh ở thế kỷ XII đến thế kỷ XVIII.”

Cũng theo các tài liệu nghiên cứu cho biết, đến năm 1625, từ một giáo sĩ người Pháp tên là Alexandre de Rhodes (tức là A Lịch Sơn Đắc Lộ), vào Việt Nam truyền đạo, đã manh nha ra đời chữ Quốc Ngữ tiếng Việt, viết tắt là Quốc Ngữ, xây dựng dựa theo dạng chữ cái Latinh, cụ thể từ chữ cái Bồ Đào Nha (có người cho là từ mẫu tự chữ cái La Mã để phiên âm tiếng An Nam?). Nhóm Đông Kinh Nghĩa Thục đã lần đầu tiên vận động nhân dân học chữ Quốc Ngữ. Những người đi tiên phong truyền bá học Quốc Ngữ là các nhà trí thức, văn hoá nổi tiếng Trương Vĩnh Ký, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Phạm Quỳnh, Nguyễn Khắc Hiếu… Cho đến ngày “Gia Định báo”, tờ báo đầu tiên in bằng chữ Quốc Ngữ ra đời, năm 1865, chữ Quốc Ngữ trở thành chữ chính sử dụng, rồi sau đó được dạy trong các trường học, bắt đầu cho thời kỳ huy hoàng của chữ viết Việt Nam và tất nhiên chữ Hán chìm dần vào quá khứ lịch sử.

Trang mạng “Lịch sử Việt Nam” nói về Lịch sử Đạo Công giáo La Mã tại Việt Nam, có đoạn viết về truyền bá chữ Quốc ngữ như sau:

“Mãi đến năm 1624, khi một giáo sĩ người Pháp, một học giả tài ba lỗi lạc là Cha Đắc Lộ hay Alexandre de Rhodes đến Việt Nam, việc truyền giáo mới chuyển qua một khúc quan trọng. Ông hoạt động cả ở miền Bắc và miền Nam (Đường Ngoài và đường Trong) trong 22 năm. Ông thành thạo ngôn ngữ, lịch sử và địa lý Việt Nam, nhất là hoàn tất việc chuyển đổi chữ viết Việt ngữ bằng cách dùng mẫu tự La-tinh. Với vài thay đổi và tu chỉnh sau này, Việt ngữ do ông soạn thảo đã thay thế chữ Nho để trở thành quốc ngữ vào cuối thập niên 1910”.

Trong bài “Chữ Quốc Ngữ ra đời khi nào và như thế nào”, tác giả Phan Quang cho biết:

“Chữ Quốc Ngữ là công trình tập thể. Các nhà nghiên cứu phương Tây cũng như Việt Nam từ trước tới nay không ai quy công đầu cho một tác giả. Có người cho rằng công lớn thuộc về hai giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Gaspar do Amiral và Antonio Barbosa. Lại có người cho rằng các tác giả đầu tiên là ba giáo sĩ người Ý là Francesco Buzumi và hai cộng sự trẻ là Francesco de Pina và Cristoforo. Thời gian đầu chủ yếu truyền giáo trong các nhà thờ làm phương tiện phổ biến Kinh Thánh. Giáo sĩ Francesco Buzumi cùng một giáo sĩ người Bồ Đào Nha là Diego Carvalho đến miền Nam nước Việt năm 1615. Chín năm sau, cuối năm 1624, giáo sĩ Alexandre de Rhodes (A Lịch Sơn Đắc Lộc) mới được phái đến cùng năm giáo sĩ khác cập bến Hội An. Đây cũng là thời kỳ giám mục D.Adran, tên thật là Pigneau de Bohaine (tức Bỉ Như Bá Đa Lộc), người phò tá Hoàng tử Cảnh sang Paris cầu viện “Cõng rắn cắn gà nhà”, giúp Nguyễn Ánh đánh nhà Nguyễn Tây Sơn, “Thống nhất sơn hà” để một trăm năm mươi năm sau đất nước chịu sự đô hộ của Thực dân Pháp. Trong bối cảnh ấy nên xứ Đông Dương tôn vinh cả hai người là giáo sĩ A Lịch Sơn Đắc Lộ và giám mục Bá Đa Lộc.

Như vậy, sự hình thành chữ Quốc Ngữ là một quá trình cho đến sau này, mỗi người góp một ít mới hoàn thiện. Việc khẳng định cho sự kiện này, dành để các nhà sử học, ngôn ngữ học nghiên cứu, lý giải.”

Theo tài liệu của tác giả Hà Đình Nguyên, nhân viết về công trạng Quận công Trần Đức Hoà, đăng tải trên báo “Thanh Niên” có nói về sự ra đời chữ quốc ngữ như sau:

“… Trong lời giới thiệu tác phẩm “Xứ Đàng Trong”, năm 1621 của linh mục C.Borri, hai dịch giả Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị có nhắc đến chi tiết ông đã cố gắng học tiếng Việt, tuy không thạo lắm, nhưng ông cũng hiểu biết đủ để giảng giáo lý Kitô. Có một vài câu chữ quốc ngữ trong bản tường thuật của ông cho chúng ta biết: Ngay từ những năm 1618-1620 đã có một khởi đầu hình thành thứ chữ này. Cái đặc biệt ở nơi ông, cái làm cho khác với De Rhodes sau này, đó là ông đã phiên âm tiếng Việt theo chữ viết của người Ý, chứ không phải người Bồ. Do đó có thể coi Nước Mặn là nơi phát tích cho buổi đầu phôi thai chữ quốc ngữ…

… Nước Mặn, tỉnh Bình Định là nơi cách đây 400 năm, chính xác là năm 1614, Quan trấn Trần Đức Hoà đã cho phép các giáo sĩ Dòng Tên lập địa điểm truyền giáo đầu tiên tại xứ Đàng Trong. Và chính từ địa điểm này, chữ quốc ngữ đã được phôi thai và phát triển… Trong tài liệu của các giáo sĩ ở thế kỷ thứ XVII, thì Nước Mặn là một thị trấn sầm uất ở bên bờ đầm Thị Nại, nhưng bây giờ đầm đã xa ngút mắt. Công trình bia lưu niệm của giáo phận Quy Nhơn được chính quyền địa phương cho phép dựng trên nền nhà thờ cũ mà quan Trần Đức Hoà đã sai quân lính xây dựng cho các giáo sĩ Tây phương (nay thuộc thôn An Hoà, xã Phước Quang, huyện Tuy Phước). Tấm bia khắc dòng chữ: “Để muôn đời ghi nhớ - Tại nơi đây Nước Mặn: Ba linh mục Dòng Tên Francesco Buzomi (người Ý), Francisco de Pina (người Bồ Đào Nha), Cristoforo Borri (người Ý) và tu huynh António (người Bồ Đào Nha) đã đến lập cơ sở truyền giáo đầu tiên vào tháng 7 năm 1618 do lời mời của quan Trần Đức Hoà, Khám lý phủ Quy Nhơn…”

Chữ Việt Nam - chữ viết tiếng Việt, viết tắt là Quốc Ngữ, là hệ thống chữ viết chính thức của tiếng Việt. Quốc Ngữ Việt Nam gồm 24 nguyên âm và phụ âm, biểu hiện bằng chữ hoa (A) và chữ thường (a) là: A a, B b, C c, D d, Đ đ, E e, G g, H h, I i, K k, L l, M m, N n, O o, P p, Q q, R r, S s, T t, U u, V v, X x, Y y và 5 âm tạo mới do thêm dấu là: Â â, Ă ă, Ô ô, Ơ ơ, Ư ư, tất cả là 29 chữ cái, trong đó còn có 10 chữ ghép đôi là: CH ch, GH gh, GI gi, KH kh, NG ng, NH nh, PH ph, QU qu, TH th, TR tr và 1 chữ ghép ba là: NGH ngh. Ngoài ra còn có năm dấu thể hiện thanh điệu: huyền (`), sắc (´), hỏi (?), ngã (~), nặng (.), các dấu ngoặc đơn ‘ ’, ngoặc kép “ ”, dấu biểu cảm chấm than!, chấm hỏi?, hai chấm: , chấm phảy ;, ba chấm … và bốn chữ cái ngoài 29 chữ cái chính là: F f, J j, W w, Z z.

Sự phối hợp, biến hoá của chữ và dấu tạo nên ý nghĩa, âm sắc và vẻ đẹp thần kỳ của ngôn ngữ chữ viết Quốc Ngữ Việt Nam.

Như vậy, chữ viết tiếng Việt ngày nay có xuất xứ từ thế kỷ XVII, khi một nhóm các nhà truyền giáo châu Âu đã mang sang Việt Nam giới thiệu mẫu chữ dựa trên mẫu tự Latinh. Sau đó chữ viết tiếng Việt ngày càng được phát triển, hoàn thiện và trở thành chữ viết chính thức của Việt Nam từ đầu thế kỷ XX. Sau khi giành độc lập, nhà nước Việt Nam đã sử dụng tiếng Việt và chữ viết trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội Việt Nam. Đây là bước ngoặt lịch sử vô cùng quan trọng về ngôn ngữ chữ viết để chuyển tải văn hoá, đời sống cho Việt Nam tiến vào thời kỳ văn minh mới của dân tộc.

Tiếng Việt và chữ Quốc Ngữ của người Việt Nam là ngôn ngữ tiến bộ, có khả năng diễn đạt tất cả các loại văn bản, kể cả các văn bản chuyên ngành kỹ thuật và các đề tài nghiên cứu khoa học bậc cao. Ngôn ngữ tiếng Việt trở thành giá trị vô giá, mang tính bác học, phong phú, đa dạng chuyên chở mọi thông tin, góp phần đưa người Việt Nam đến với văn hoá văn minh hiện đại, trở thành niềm tự hào của quá trình lao động, đấu tranh, giữ gìn và làm giàu thêm bản sắc văn hoá của dân tộc Việt Nam.

Chữ Việt còn được dùng trong nghệ thuật trang trí, mỹ thuật rất phong phú, đa dạng. Ngày nay, chữ viết tiếng Việt cũng thể hiện theo hình thức nghệ thuật thư pháp mang lại thẩm mỹ vừa truyền thống vừa hiện đại trở thành nét độc đáo của văn hoá chữ viết Việt Nam. Vào dịp Tết, hay tại các lễ hội xưa có các “Đồ nho” cho chữ, nay kể cả nơi du lịch xuất hiện các “Nhà thư pháp mới” viết chữ Quốc ngữ rất đẹp. Tuy nhiên, cũng có một số người, hoặc một số sản phẩm lịch hàng năm, đã lạm dụng thư pháp và sự kém cỏi của các “nhà thư hoạ rởm” mà cho ra đời những ấn phẩm chữ thư pháp rất rắc rối, loằng ngoằng cứ như những con giun, con dế, vừa xấu vừa không đọc ra chữ gì, gây phản cảm văn hoá và làm hỏng đi ý nghĩa thẩm mỹ nghệ thuật đích thực của thư pháp chữ viết Việt Nam.

Khu Du lịch Đại Nam hoàn toàn dùng chữ Việt

(ảnh Trần Trí Hiếu)

Nhiều công trình văn hoá, thiền viện, nhà thờ của người Việt ngày nay đã sử dụng chữ Việt và thư pháp chữ Việt trang trí hoành phi, câu đối tạo nên vẻ đẹp rất Việt Nam như: Thiền viện Trúc Lâm, Thiền viện Trúc Lâm Tây Thiên, khu văn hoá Đại Nam. Một trong những công trình văn hoá du lịch giải trí đồ sộ, quy mô bậc nhất Việt Nam, cũng là lớn nhất Đông nam Á, đó là “Lạc cảnh Đại Nam Văn Hiến” ở tỉnh Bình Dương, tất cả trang trí, tạo hình của công trình này không dùng chữ Nho mà đều dùng chữ Việt và thư pháp chữ Việt, tạo nên vẻ đẹp mới giàu ý nghĩa, rất đáng trân trọng, tự hào.

Theo trang mạng “Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến”, tại đây có “Đền Đại Nam” (còn gọi là Kim Điện - Điện Vàng), kỷ lục là đền thờ lớn nhất Việt Nam. Trong đền, nổi bật là các pho tượng, phù điêu và các vật dụng thờ đều dát bằng vàng. Chính điện thờ 3 pho tượng lớn: Thích Ca Mâu Ni, Vua Hùng và Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (Giác Hoàng là Vua tu hành thành Phật, Điều ngự là một trong mười pháp danh của Phật Tổ). Bên phải thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo, Mẹ Âu Cơ sinh ra trăm họ. Bên trái thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Tổ đức và ban thờ Thành Hoàng, Thần Tài, Thổ Địa. Trên mái vòm vẽ 108 con chim Hạc, mô tả 54 con tượng trưng cho 54 dân tộc anh em trên đất nước Việt Nam, 54 con tượng trưng cho 54 dân tộc Việt ở cõi âm với ước vọng trường tồn vĩnh cửu theo hình tượng con Hạc trong thờ cúng của dân gian.

Giữa trung tâm Bảo Sơn là ngôi “Bảo Tháp” vươn lên cao 9 tầng, biểu tượng cho “Cửu Phẩm liên hoa” nhà Phật. Bảo Tháp là nơi thờ phụng tâm linh và truyền thống lịch sử bất khuất, anh hùng của dân tộc Việt Nam.

Tầng một: Thờ vong linh các chiến sĩ, anh hùng và đồng bào hy sinh vì đất nước.

Tầng hai: Thờ các anh hùng, chiến sĩ vô danh đã quên mình cho sự trường tồn của Tổ Quốc.

Tầng ba: Thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, người anh hùng dân tộc vĩ đại, danh nhân văn hoá thế giới.

Tầng tư: Thờ Đức Thánh Trần Hưng Đạo.

Tầng năm: Thờ các nữ anh hùng trong quá trình dựng nước đến nay: Bà Trưng, Bà Triệu, Bùi Thị Xuân, Nguyễn Thị Định.

Tầng sáu: Thờ những anh hùng hào kiệt có công trong lịch sử dựng nước và bảo vệ đất nước.

Tầng bảy: Thờ 18 đời Vua Hùng.

Tầng tám: Thờ tam cõi Hội đồng gồm: Chư Phật, Tứ Phủ và Hội đồng đất nước từ ngày dựng nước đến nay.

Tầng chín: Là nơi thờ hình dáng và tâm linh Tổ Quốc Việt Nam.

Quần thể “Lạc Cảnh Đại Nam Văn Hiến” với những ý tưởng nhân văn sâu sắc và hoàn toàn dùng chữ Việt, thực sự là công trình đặc biệt, nơi tôn vinh lịch sử, văn hoá và niềm tự hào về dân tộc Việt Nam văn hiến, anh hùng.

Lịch sử chữ Nho là do người Trung Hoa mang sang đô hộ Việt Nam. Khi ấy Việt Nam chưa có chữ của riêng mình. Chữ Nho chỉ được truyền bá cho một số ít nhà nho, còn mọi người dân Việt Nam lúc ấy không được học, không biết chữ. Vì không có chữ của mình nên nho giáo mới hình thành, phát triển và ăn sâu vào tâm thức người Việt trong hàng nghìn năm. Sau đó đến Hán - Nôm, cũng chỉ ở giới nhà Nho.

Chúng ta ghi nhận giá trị chữ Nho một thời dài phong kiến xa xưa của người khác lấy làm phương tiện đô hộ cho xứ dân chưa có chữ viết. Trên thực tế nhìn vào chữ Nho nhiều người chẳng hiểu thế nào mà phải nhờ người đọc và giải thích hộ, nhưng vẫn cho chữ Nho là uyên thâm, rất nhiều nghĩa! Trong khi đó từ “tôi” của chữ Hán không thể diễn đạt thành nhiều cách biểu cảm tôi, ta, mình… như tiếng Việt. Các từ theo nghĩa Việt: tốt, được, hay… dùng theo nhiều nghĩa tiếng Việt, trong khi đó chữ Hán lại chỉ là từ “hảo”. Câu viết bằng chữ nho dán ở cửa nhà “Ngũ phúc lâm môn”, nếu không giải thích, rất nhiều người hiện nay, nhất là lớp trẻ không biết chữ nho không thể hiểu, nhưng viết thư pháp chữ Việt “Phúc đức đến nhà”, tuy còn mượn vài từ Hán nhưng dễ hiểu biết bao. Tất cả từ Hán đều thay được bằng từ tiếng Việt đầy biểu cảm và có thể viết thư pháp rất giầu thẩm mỹ.

Tuy nhiên, khi dùng chữ Việt, trong một số trường hợp vẫn có thể dùng âm Hán diễn đạt cũng gọn, rõ nhưng không ảnh hưởng nhiều đến ý nghĩa tiếng Việt, như “Tâm linh”, “Nội khoa”, “Ngoại khoa” tức là “Khoa Nội”, “Khoa Ngoại”… Khi dùng những từ thay thế này lại diễn giải thuận hơn mà vẫn là ngôn ngữ tiếng Việt. Nói “nội”, “ngoại” có hình tượng hơn là nói “trong”, “ngoài”. Hoặc dễ bị hiểu sai do cách nói tắt, như: Lẽ ra phải nói “Giảm đến mức thấp nhất tai nạn xảy ra”, thì lại nói “giảm thiểu tai nạn xảy ra”. Thiểu tức là ít, mà “giảm thiểu” tức là “giảm ít”, lại thành “cứ tăng” là ngược với ý muốn nói cho nó “giảm càng nhiều càng tốt”.

Tất nhiên mọi so sánh đều nên tương đối, vì mỗi loại đều có thế mạnh phù hợp với từng dân tộc. Công bằng mà nói rằng chúng ta đã một thời tiếp thu ý nghĩa giáo dục, biết được một phần triết lý, tinh hoa văn hoá, nhân văn của chữ Nho, nhưng cũng thấy bộc lộ nhiều hạn chế thụ động, thu mình, thiếu bản lĩnh và đưa con người vào duy tâm, huyền bí, siêu hình của Nho giáo. Thậm chí có người còn mệnh danh chữ Nho để loè bịp, doạ nạt và gây ra mê tín dị đoan trong dân gian.

Đến khi tìm ra chữ Quốc ngữ cho mình là một bước ngoặt lịch sử khẳng định vai trò to lớn về ngôn ngữ, chữ viết của người Việt Nam. Thông qua chữ viết góp phần làm rạng danh nền văn hoá độc lập của dân tộc ta. Đất nước độc lập tự do, trên đường phát triển cũng cần nhìn nhận, đổi mới và phát huy những giá trị văn hoá đích thực của chính mình.

Ngày nay, cũng chỉ có một số người nghiên cứu hoặc vì công việc, mưu sinh mà học và đọc được chữ Trung Quốc, còn người dân Việt Nam chỉ dùng tiếng nói và chữ Quốc ngữ Việt Nam. Không chỉ chữ Nho mà cả chữ Anh, chữ Pháp… ở mọi loại hình, bằng nhiều phương tiện, các tài liệu chữ nước ngoài đã được dịch ra tiếng Việt cả rồi. Tiếng và chữ nước ngoài mà ta thường gọi là ngoại ngữ, chỉ khi cần thiết trong học tập, nghiên cứu ngoại ngữ, làm du lịch, đi du lịch, giao tiếp ngoại giao, hoà nhập quốc tế hoặc chắt lọc tinh hoa nhân loại thì nên sử dụng.

Tiếng Việt, chữ Việt vô cùng phong phú, đâu cần phải mượn chữ của ai? Vậy mà ở các cửa hàng, cửa hiệu, kể cả trên các phương tiện báo chí, truyền thông, phát thanh, truyền hình vẫn còn rất nhiều nơi, nhiều trường hợp dùng chữ nước ngoài để tuyên truyền, quảng cáo làm cho nhiều khi chẳng hiểu nó là cái gì? Tất nhiên khi giao hoà, du lịch, trao đổi văn hoá, tinh hoa rất cần phải học hành, trau dồi ngoại ngữ. Còn trong cuộc sống thường ngày ta phải trọng tiếng ta. Đừng quá huênh hoang hợm hĩnh cho rằng văn minh, thời thượng rồi sinh ra loạn chữ nghĩa ngoại lai mà làm cho chính bản thân trở thành nhỏ bé!

Với ý nghĩa và vẻ đẹp thần kỳ của ngôn ngữ Việt Nam, Đại thi hào thiên tài Nguyễn Du đã dùng nghệ thuật sử dụng tiếng Việt sáng tạo nên thi phẩm “Truyện Kiều” bất hủ. Văn học dân gian với kho tàng thần thoại, cổ tích, ca dao, dân ca, tục ngữ tuyệt tác và biết bao nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ Việt Nam đã để lại những tác phẩm văn học, thơ ca, hội hoạ để đời bằng ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, tuyệt vời.

Ngôn ngữ tiếng Việt không đưa con người vào huyền bí, mê tín dị đoan, khó hiểu, mà nó vô cùng đại chúng, giản dị, sâu sắc, thanh cao, dễ hiểu và đầy giá trị nghệ thuật, nhân văn. Ngày nay, nhìn vào chữ nho, mấy ai đọc được và cũng chẳng hiểu nó là gì. Cơ quan nhà nước, văn phòng, công sở Việt Nam đều là chữ Việt, không ai sử dụng chữ nho. Vậy đình chùa, thờ tự tại sao lại không thể dùng nghệ thuật thư pháp chữ Việt để tôn lên vẻ đẹp của dân tộc mình?

Chúng ta phải rất tự hào vinh danh tiếng Việt, chữ Việt “Quốc hồn quốc tuý của Việt Nam” với tinh thần tự tôn dân tộc để ứng dụng nghệ thuật tạo hình chữ Việt, đặc biệt là nghệ thuật thư pháp chữ Việt khi tôn tạo, xây dựng, sáng tạo các công trình nhằm giữ gìn, phát huy và làm giàu bản sắc văn hoá dân tộc Việt Nam.

Các nhà nghiên cứu mong rằng, nên có “Ngày ra đời chữ Quốc ngữ Việt Nam” nhằm nâng cao niềm tự hào, tôn vinh truyền thống dân tộc và ghi nhận sự kiện đặc sắc vào nền văn hoá của nước nhà.

Linh tại tâm, bất linh tại ngã

Người ta cho rằng, về tâm linh, tín ngưỡng “Linh tại ngã, bất linh tại ngã”, linh thiêng cũng tự mình, mà không linh thiêng cũng ở tại mình.

Đúng là trước những hiện tượng của thiên nhiên, cuộc sống cũng như mọi sự trên đời, đều là từ nhận thức, hiểu biết và quan niệm của con người mà nên, mà có. Một sự kiện diễn ra, theo sự hiểu biết của mỗi người mà xác nhận và hành xử giống nhau hoặc rất khác nhau. Cứ cho rằng có thánh thần, ma quỷ thì cứ sinh ra duy tâm, mê tín dị đoan mà đi cầu cúng và cho thế là thanh thản. Còn cho rằng chẳng có thế lực siêu nhiên, thánh thần, thượng đế thì cứ sống mặc nhiên, chẳng bận tâm gì. Cũng như người theo tôn giáo này mà không theo đạo khác, hoặc có người chẳng theo bất cứ tôn giáo, đạo nào, đều thấy thoải mái, tự tin. Người nặng về tâm linh hay mê tín dị đoan, không làm khoa học. Còn người chuyên tâm nghiên cứu, phát minh khoa học thì không quan tâm đến duy tâm, mê tín dị đoan. Cả hai đều cho đó là quan niệm sống, thậm chí đối nghịch nhau, hoặc là lẽ thường tình.

Chỉ như thế mà không khéo thì luôn luôn chứa đầy mâu thuẫn, bất đồng. Không thể bắt người này theo thiên hướng và ý thích người kia. Thế cho nên, có một nhà lãnh đạo ở một nước lớn Á châu, khi đã rời chốn quan trường, ông nói câu rất hay, đại ý rằng: “Tâm linh thì để trong lòng, tinh thần thì cần thăng hoa và tận hưởng văn minh thời đại”.

Linh thiêng là cái vô hình từ tâm thức cổ xưa, nên tâm niệm ở trong tâm khảm, tâm hồn, trong trái tim, trong lòng mình, còn thực tế nhân sinh thì cần thăng hoa để mà cảm xúc, tận hưởng những thành quả của xã hội văn minh, đổi mới.

“Linh tại tâm, bất linh tại ngã”, linh thiêng hay không đều ở trong lòng, hoặc cho là không linh thiêng cũng là ở mình cả thôi, do con người chứ có do thần linh, thượng đế, ma quỷ gì đâu.

Hành trình Tây - Đông

Suy ngẫm những dịch chuyển, tìm tòi, khám phá về triết học, văn hoá, tâm linh và thực thể khoa học, xã hội, con người ta sẽ thấy vô cùng diệu kỳ, đầy thú vị.

Nền văn minh tinh thần và nền văn minh khoa học có khi hoà quyện, có khi lại đối lập nhưng tìm tới nhau trong đối chứng giá trị của nhau.

Trên thế giới có văn minh phương Đông, văn minh phương Tây; Lại có văn minh của quốc gia, dân tộc như văn minh kỳ vĩ Maya, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Hoa, Ăngko và văn minh vùng miền như văn minh sông Hồng…

Có nền văn minh đúc kết từ ngàn đời cổ xưa như văn minh phương Đông. Có nền văn minh ghi dấu một thời như nền văn minh phương Tây. Có nền văn minh bắt đầu phát triển như khoa học công nghệ tiên tiến, hiện đại hướng tới nền văn minh trong tương lai.

Khi người phương Đông đang ấp ủ, quẩn quanh chiêm nghiệm trong những giá trị truyền thống tâm linh, tín ngưỡng, tôn giáo cổ xưa, thì phương Tây phát triển theo hướng lý trí, bứt phá lan toả, thực hành cách mạng khoa học hiện đại. Những phát minh khoa học làm thay đổi xã hội, nhịp sống của phương Tây trở nên hiện đại thì người phương Đông có cuộc hành trình tìm hiểu, để mang về những tư tưởng, thiết bị, đồ dùng hiện đại. Thế là mang theo tiếng là người phương Đông hành trình đi tiếp thu giá trị hiện đại của phương Tây. Đến khi phương Tây tiến lên đời sống hiện đại, cuộc sống vươn lên đầy đủ, văn minh thì người ta lại có thời gian, tiền của để nghiên cứu tìm hiểu hoặc đi du lịch đến những nơi hoang dã, xem lễ hội, phong tục, tập quán dân gian, kể cả lối sống mông muội, kể cả triết thuyết cổ xưa mà giải trí tinh thần, khám phá những tò mò, chiêm nghiệm những bí ẩn, lại cho là phương Tây đang hành trình tìm về phương Đông.

Người phương Đông tìm cách tận hưởng thành quả của các phát minh khoa học hiện đại nhưng lại vẫn yêu thích tái hiện nhịp sống trong các lễ hội truyền thống dân gian, vẫn sống lối sống của dân tộc thiểu số ở một số vùng và cố bảo thủ giữ lấy tâm thức cổ xưa.

Người nặng lòng với cổ xưa cuộc sống vẫn cứ đơn điệu, lạc hậu, nghèo nàn, không có phát minh khoa học hiện đại nhưng lại thích hưởng thụ giá trị đổi mới. Nên nhớ rằng, những tìm hiểu và du lịch của người văn minh đến nơi hoang dã chỉ là thú vui tinh thần, rồi sau đó họ trở về sống cuộc sống hiện đại, phát minh chứ mấy ai mơ ước sống cảnh mông muội, lạc hậu, đói nghèo? Nên cho rằng tìm về cổ xưa để mà sống thực có lẽ chỉ là không tưởng! Dù có đi về thăm thú những vùng hoang dã hay bằng văn nghệ, lễ hội tái hiện những hình ảnh đời sống sinh hoạt cổ xưa cũng là để vui chơi, nghiên cứu, giải trí tinh thần, sau đó ai nấy lại trở về sống với cuộc sống đổi mới, văn minh hiện tại. Nó chỉ mang phần nào ý nghĩa chắt lọc những giá trị văn hoá tinh thần, nhân văn cổ xưa để làm phong phú cho đời sống tinh thần của xã hội hiện đại. Điều hiển nhiên là người ưa tìm về giá trị cổ xưa chỉ là chiêm nghiệm, không thể phát minh khoa học để xuất khẩu trí tuệ và làm ra những sản phẩm cho đời sống văn minh.

Người phương Tây dù có nghiên cứu triết học phương Đông, nhưng vẫn sống nhà lầu, xe hơi, đi máy bay, tàu điện ngầm, con lấy bao thuốc của bố cũng tự giác trả tiền. Người phương Đông, theo Đạo thờ cúng, có đi tham quan, du lịch những công trình hiện đại, vũ trụ, máy bay và cầm điện thoại di động thông minh, về vẫn cầu cúng, mê tín dị đoan, đồng bóng. Không có chuyện nhà khoa học hay nhà văn đưa cuốn sách nghiên cứu khoa học và cuốn tiểu thuyết dày cộp cho anh nông dân quê mùa mà hy vọng anh ta đọc và hiểu được; Người sống trong mông muội lại đến tham quan, biết nghỉ tại khách sạn năm sao; Người duy tâm, mê tín khuyên bảo nhà trí thức hàn lâm say mê khoa học những điều không tưởng… Không thể đưa dịch lý, bát quái, càn khôn, phong thủy, tử vi, ngày giờ cát hung, cầu cúng vào khoa học hiện đại, con tàu vũ trụ, tàu ngầm nguyên tử, nhà máy điện hạt nhân, máy tính, di động, người máy, vật liệu mới, nanô, động đất, sóng thần…

Hành trình hội nhập phát triển đời sống văn minh với hành trình trở về thú vui tò mò, giải trí là tìm về khoảng cách giữa cổ xưa với hiện đại, giữa mông muội với văn minh, cũng là để phục vụ yêu cầu tinh thần và tìm hiểu lịch sử phát triển cuộc sống con người. Không thể mơ hồ và ngộ nhận cho rằng văn minh chán rồi cũng phải tìm về đời sống cổ xưa! Không thể xảy ra học thuyết phương Đông cổ xưa trở lại thống trị, kéo lùi sự phát triển gia tốc thần kỳ của nền khoa học văn minh hiện đại. Bởi lịch sử là đi qua và chiêm nghiệm quá khứ. Tiến trình tiến triển và tiến hoá là vượt qua mông muội, lạc hậu, đói nghèo vươn tới đời sống con người thông minh, hiện đại.

Hy vọng vào những thế hệ mai sau, dù còn xa lắm, cùng tiếp thu kiến thức hiện đại với tinh thần hội nhập toàn cầu thì mới có một nền văn minh chung cho toàn nhân loại.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.