Theo Vết Con Hạc Cổ - Chương 3
1
“Em thân yêu!
Khó mà kể hết cho em nghe về những công việc và những ấn tượng ở nơi đây. Có nhiều ấn tượng lắm và trong đó cũng có những ấn tượng khá thú vị nữa!… Chỉ có một điều luôn thường trực trong anh là nỗi nhớ em! Vắng em, cái gì cũng tẻ nhạt và mất đi sự hấp dẫn của nó! Dù là lúc đang chui vào một cái hang sâu thẳm, hay những buổi chiều ngồi ngắm núi đồi và lắng nghe tiếng suối chảy róc rách, bao giờ anh cũng thấy nhớ em! Sự trống trải ấy không gì có thể bù đắp lại được!
Nhớ Hà Nội với những chiều bên em. Công viên dịu nắng và lao xao tán lá… Cũng chỉ là cây cỏ thôi, nhưng cây ở Hà Nội có tình vì nó gắn bó với từng kỷ niệm của chúng mình. Còn cây ở đây nhiều quá! Vì thế, nó đơn điệu!
Không biết đến bao giờ anh lại mới được trở về Hà Nội và được đi bên em, được nghe cây lá lao xao trên những phố nhỏ thơm mùi hoa sữa? Bao giờ trở lại, anh sẽ kể cho em nghe về những điều thật lạ lùng. Người H’mông có những phong tục tập quán kỳ lạ lắm: sống thì như đã chết, nhưng khi chết thì lại được đối xử như người sống! Anh đã được chứng kiến đám ma của họ: họ mổ lợn, mổ trâu ăn uống suốt ngày đêm! Người chết được họ dựng lên, trói vào một cây cột. Những người đến dự đám ma lần lượt mang xôi thịt đến bón cho người chết ăn. Khi thấy rằng người chết không ăn được nữa thì họ bắt đầu khóc và kể lể: “— Mày không ăn xôi của tao! Mày không muốn ở với tao thật rồi (!)”…
Lam Giang thở dài đặt lá thư xuống bàn. Bất giác cô đưa mắt nhìn vào tấm ảnh cỡ 9cm x 12cm lồng trong khung kính đang để trước mặt. Đó là tấm ảnh màu của Xuân Sáu chụp trước khi về nước cách đây mấy năm. Trong ảnh, Xuân Sáu mang kính cận, đứng trên một lối đi rải sỏi của một công viên với các loài cây lạ. Anh đang mỉm cười – một nụ cười thật cởi mở…
Không hiểu sao hôm nay khi nhìn nụ cười ấy, Lam Giang cảm thấy nó có cái gì đó thật gượng gạo. Có lẽ, đó là do ấn tượng của cô, sau khi đã đọc lá thư của Xuân Sáu từ biên giới gửi về.
“Anh ấy làm nghề địa chất, nhưng anh lại không yêu rừng núi lắm!” – Lam Giang cứ trăn trở mãi với ý nghĩ ấy. Thật khó hiểu. Bỗng nhiên, một sự mệt mỏi tràn đến, làm cho Lam Giang ngồi thừ ra ghế, không muốn nấu cơm nữa, cô xuống bếp ăn qua quýt một vài món nguội và dắt xe đi ra. Cô định đến nhà Linh Chi – người bạn gái thân thiết của mình từ thời còn học phổ thông. Đó là một người bạn mà Lam Giang có thể gửi gắm tất cả những chuyện thầm kín của mình, mặc dù chưa bao giờ Linh Chi cho cô được một lời khuyên, dù nhỏ nhặt. Bản tính của Linh Chi rất sôi nổi và hiếu động, ngược hẳn lại với Lam Giang, Tuy vậy, sự trái ngược tính cách ấy hình như lại có khả năng làm cho tình bạn của họ ngày càng bền chặt hơn…
Lam Giang khóa cửa và dắt xe xuống cầu thang. Có một người nào đó đang ngược cầu thang đi lên bằng những bước đi chậm rãi. Khi người đó bất ngờ hiện ra ở chỗ ngoặt. Lam Giang giật mình suýt làm đổ chiếc xe đạp. Cô đứng sững, nhìn trân trân vào mặt ông ta mà quên rằng làm như vậy quả là bất tiện. Còn người khách nọ, sau một thoáng sững sờ vì thái độ của cô gái đang đứng trước mặt mình, chợt mỉm cười.
2
Trung úy Nguyễn Thế An đã tìm đến công an huyện Đ. - Nơi tên Lê Văn Hiệp bị bắt và sau đó bị xử tù vì tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa.
Vụ án về tên Hiệp được tóm tắt như sau:
Lê Văn Hiệp xuất thân từ một gia đình có thành phần tốt. Tuy vậy, sau khi xuất ngũ từ quân đội trở về, hắn không phát huy được những truyền thống tốt của gia đình và quân đội mà sa ngã vào con đường cờ bạc, trộm cắp. Hắn đã nhiều lần được đưa ra quần chúng đấu tranh, góp ý về những lỗi lầm. Nhưng ngựa quen đường cũ, hắn vẫn lao sâu vào con đường tội lỗi…
Khoảng 3 giờ sáng ngày 15-3 năm ấy, người gác đêm ở kho hàng công nghệ huyện đã phát hiện hai bóng đen đang lúi húi ở cạnh hàng rào, mang theo một bọc nặng. Người gác nổ súng báo động và sau đó, lực lượng tự vệ địa phương đã kịp thời tổ chức vây bắt bọn gian. Tên Hiệp bị bắt giữ, còn tên thứ hai là Lại Xuân Cường đã tẩu thoát. Cường là một đối tượng có tiền án, đã nhiều lần rủ rê những tên “đàn em” như Hiệp tham gia trộm cắp.
Trong cái bọc vải là một số lớn hàng công nghệ, đã bị hai tên Cường và Hiệp vừa moi ra từ trong kho. Căn cứ vào mức độ phạm tội và quá trình giáo dục, nhưng không chịu cải tạo của Hiệp, tòa án nhân dân huyện D. đã xử phạt hắn án tù 4 năm. Còn tên Lại Xuân Cường đã có lệnh truy nã, nhưng cho đến nay vẫn chưa bắt được.
Trong quá trình xem xét những chi tiết của bối cảnh xung quanh thời điểm xảy ra vụ án, Thế An đặc biệt chú ý một chi tiết như sau:
Cũng ngay trong đêm hai tên Cường – Hiệp gây án, vào khoảng 12 giờ đêm đã xảy ra một vụ án khác ở trong địa bàn huyện D. Gia đình ông Dần ở làng Vèn, bị mất trộm một số đồ cổ gồm một chiếc đỉnh và một con hạc bằng đồng hun. Cho đến nay, những cổ vật đó vẫn chưa tìm lại được.
Sau khi đã thống nhất ý kiến với lãnh đạo Công an huyện, Thế An cùng với thượng sỹ Tuấn của Công an huyện tìm đến nhà ông Dần. Anh hy vọng từ đây có thể lần ra một tia sáng để triển khai vụ án.
* * *
Nhà ông Dần nằm sâu trong một ngõ nhỏ giữa làng Vèn. Xung quanh nhà được bao một bức tường xây bằng đá màu nâu đỏ – thứ đá này có nhiều ở ngọn đồi cạnh làng. Chủ nhà là một ông già trạc sáu mươi tuổi, dáng thấp bé, nhưng còn rất nhanh nhẹn. Vừa thấy Thế An và Tuấn đi vào cổng, ông bước vội ra đón họ:
– Các anh đã bắt được nó rồi à? Nó đâu? Để tôi chửi vào cái mặt nó!…
Câu hỏi của ông Dần làm Tuấn hơi lúng túng, nhưng Thế An đã đưa mắt cho anh. Họ ngồi xuống chiếc tràng kỷ gỗ lim đen bóng, có chạm cảnh “tứ quý” trong khi ông Dần vồn vã pha trà. Vừa rót trà ra chén, ông Dần nói bằng giọng hơi ân hận:
– Xin lỗi các anh! Thấy các anh đến, tôi lại cứ nghĩ là đã bắt được nó…
Câu nói chân thành ấy cũng có ý của một lời trách móc. Dạo trước, chính Tuấn là người điều tra vụ mất trộm ở nhà ông Dần và ông vẫn còn nhớ anh. Hiểu rõ tâm trạng của Tuấn, Thế An vừa đỡ chén trà từ tay ông Dần, vừa hỏi bằng giọng tự nhiên:
– À. Bác Dần này. Ban nãy bác nói “nó” tức là thế nào ạ?
Ông Dần kinh ngạc:
– Chả nhẽ… đồng chí không biết thật à? cả làng Vèn này, ai cùng biết là chính nó đã ăn trộm của nhà tôi mà! Từ sau lần đó đến nay, có ai thấy nó lai vãng về đây nữa đâu!
– Nhưng “nó” là ai thế bác!
Ông Dần tỏ vẻ thất vọng. Tuy vậy, ông cũng thong thả kể lại:
– Nó là cái thằng làm nghề hàn xoong nồi rong ấy mà! Ngay từ lúc nhìn thấy cái mặt nó, tôi đã nghi nghi rồi! Nó vào nhà mà mắt thì cứ dán vào con hạc với cái đỉnh đồng. Rồi nó gạ mua gạ đổi một cái xe đạp. Nhưng tôi đã nói không bán là không bán! Đó là của gia truyền, của cha ông để lại. Nó đã đến đây cả thảy hai lần, nhưng tôi vẫn không chịu. Thế rồi sau đó là bị mất. Các anh cứ đưa nó đến đây. Tôi sẽ vạch mặt nó ngay! Thật là đồ kẻ cướp trá hình!…
– Bác Dần ạ! – Thế An điềm tĩnh nói sau khi cơn giận của ông chủ nhà đã tạm lắng xuống: – Hiện nay, tuy chưa bắt được tên ăn trộm, nhưng chúng tôi đã lần ra dấu vết. Nhất định tôi sẽ bắt được bọn chúng. Muốn vậy, mong bác giúp đỡ thêm chúng tôi một số chi tiết còn chưa rõ…
– Vâng vâng! Ông Dần gật đầu – Nếu vậy, để tôi bảo bà nó luộc nồi khoai lang và hãm ấm chè xanh đã. Để rồi tôi sẽ kể cho có ngọn có ngành. Nói thật với hai anh, những thứ đó đã có từ lâu rồi. Theo như ông bà kể lại thì chiếc đỉnh và hai con hạc đã có từ thời lão Triệu Thục làm nghề bốc thuốc bắc ở trong vùng Nhuệ Sâm kia!…
– Sao lại hai con hạc hở bác? – Thế An ngạc nhiên hỏi lại.
– Vâng. Có cả một đôi đấy. Sau đó rồi một con bị rơi mất ở đâu không biết. Để rồi tôi sẽ kể lại cho các anh nghe. Chuyện đó là thế này…
3
Người đang đứng trước mặt Lam Giang là một ông già khoảng sáu mươi tuổi hoặc hơn một chút, ông mặc một bộ com lê màu xám lịch sự, đội mũ phớt và cầm can. Ông xách trên tay một chiếc va li nhỏ loại du lịch có gắn nhãn hiệu nước ngoài. Nhưng có điều đặc biệt nhất đã khiến Lam Giang kinh ngạc là ông khách nọ giống giáo sư Lâm Ninh – bố cô một cách kỳ lạ! Cũng chiều cao ấy, cũng dáng người và khuôn mặt ấy. Thậm chí, cả đôi mắt và khóe miệng của ông cũng giống bố cô, như được đúc ra từ cùng một khuôn! Chỉ có điều khác là ông có nước da trắng trẻo hơn, giọng nói hơi chậm rãi và nghe lơ lớ như một người ngoại quốc nói tiếng Việt.
– Cháu là Lam Giang phải không?
Phút sững sờ qua đi, Lam Giang reo lên như trẻ nhỏ: – Bác!… Bác Hân!…
Ông Hân dang tay ôm Lam Giang vào lòng:
– Bác nhận ra cháu ngay! Cháu giống bố lắm. À, năm nay cháu bao nhiêu tuổi rồi? Hai sáu hả? Trời ơi! Nhanh thật đấy!…
Ông khách nọ chính là ông Nguyễn Hân – anh ruột của giáo sư Lâm Ninh mới từ Pháp trở về Việt Nam. Đây là lần đầu tiên ông Hân về nước, sau một quảng thời gian gần nửa thế kỷ sống tại Pháp.
* * *
Sự xuất hiện bất ngờ của ông Hân làm cho Lam Giang mừng quá, đến mức cô đâm ra lúng túng. Sau khi đưa ông vào nhà, Lam Giang cứ đứng ngẩn người nhìn ông bác ruột. Một lúc sau, cô mới chợt nhớ ra và định dọn chỗ cho ông nằm nghỉ. Nhưng ông Hân chưa muốn đi nằm. Ông hết ngồi xuống đi văng lại đi bách bộ trong nhà. Ông đến bên tủ sách, lật qua vài cuốn rồi lại ngồi xuống bàn, chăm chú xem xét những dụng cụ thí nghiệm và những mẫu khoáng thạch được xếp ngăn nắp trong một tủ kính nhỏ.
– Cháu có rõ là bao giờ bố về không? – Ông Hân quay lại hỏi Lam Giang đang lúi húi pha cà phê ở một góc nhà.
– Bố cháu dặn là sau khi đã hoàn thành phần thứ nhất của chương trình làm việc, bố cháu sẽ về Hà Nội mấy hôm bác ạ!
Lam Giang trả lời ông Hân và mang ly cà phê đặt trước mặt ông. Cô ngồi xuống chiếc ghế đối diện.
– Cháu cũng sắp đi công tác xa. Không biết trước khi đi có gặp được bố cháu không.
– Cháu cũng sắp đi xa à?
– Vâng. Lần này cháu sẽ đi vào thành phố Hồ Chí Minh bác ạ. Mời bác dùng cà phê đi!
Ông Hân khẽ gật đầu. Chợt nhớ ra, ông lấy chiếc va li, mở khóa và đưa cho Lam Giang một bọc lớn:
– Quà của cháu đây. Chỉ có vài thứ lặt vặt thôi. Những thứ cồng kềnh, bác đang gửi sau… Nào, cháu cầm lấy! Thế! Bây giờ cháu mở ra đi!…
Ông Hân mỉm cười nhìn cô cháu gái đang rụt rè trước những món quà sang trọng, đắt tiền và thong thả nhấp một ngụm cà phê nhỏ. Lập tức, một cảm giác mới lạ tràn đến làm ông sửng sốt. Bao nhiêu năm qua, ông đã biết không ít các loại cà phê nổi tiếng trên thế giới: Braxin, Mêxicô, Pháp, Philíppin… Nhưng quả thật, ông đã phải ngỡ ngàng trước hương vị đặc biệt của cà phê Việt Nam – những giọt cà phê được chắt ra trên đất nước đã sinh ra ông. Nó thấm vào đầu lưỡi và khi tan ra, như hòa vào cơ thể và thơm mãi…
– Bác về chơi được bao lâu ạ? – Giọng nói của Lam Giang cắt ngang những suy nghĩ của ông Hân.
– Cũng không được lâu đâu. Nhưng bác sẽ cố gắng nán lại để gặp bố cháu. Đã gần ba mươi năm nay bác chưa gặp lại chú ấy…
– Vâng. Bác cứ ở lại đây. Nhất định bố cháu sẽ về trong vài ngày tới. Bố cháu ít khi sai hẹn lắm.
Ông Hân gật đầu và lại chìm vào những suy tưởng. Lam Giang nhanh nhẹn đứng dậy chuẩn bị nước tắm và chỗ nghỉ cho ông. Cô vừa làm vừa khe khẽ hát. Thật lòng, sự xuất hiện của ông bác ruột mà lần đầu tiên cô được gặp mặt, đang làm cho cô rất vui! Ngay từ những phút đầu tiên, cô đã cảm thấy ở ông Hân, có một cái gì đó thật thân thuộc và ấm áp – đó là những cảm giác của tình máu mủ, ruột thịt sống dậy.
4
… Đó là một truyền thuyết đã có nguồn gốc từ nhiều đời trước.
Thời đó, ở vùng Nhuệ Sâm, gần núi Nưa, có một gia đình người Hoa, làm nghề cắt thuốc bắc đến lập nghiệp. Khi câu chuyện này xảy ra, đại diện của dòng họ đó là Triệu Thục – cũng là một người làm nghề cắt thuốc bắc. Vợ Triệu Thục là bà Lý, một phụ nữ người Việt quê ở làng Vèn này. Bà Lý còn có một người em gái tên là Lụa. Bà Lụa cũng đã lấy chồng ở trong làng và sinh được sáu con – con gái đầu tên là Như, lúc đó khoảng mười bốn tuổi.
Triệu Thục thừa hưởng của ông cha rất nhiều của cải, nhưng cũng thừa hưởng một số mệnh oái oăm: Tuy đã gần sáu mươi tuổi nhưng ông ta vẫn không có một mụn con nào! Những đứa trẻ được sinh ra đều chết yểu. Ngay cả cái nghề thuốc bắc gia truyền cũng không cứu được những đứa con xấu số. Cuối cùng, hai vợ chồng ông chủ hiệu thuốc bắc xin vợ chồng bà Lụa cho Như về làm con nuôi. Sau khi bàn tính mãi, bà Lụa và chồng là ông Canh đã đồng ý. Họ vốn nghèo, nhưng lại đông con. Cho Như đi làm con nuôi cũng là để đỡ một phần gánh nặng. Hơn nữa, dù sao bà Lụa với bà Lý cũng là chỗ ruột thịt. Họ có thể yên tâm cho Như đi mà không sợ mang tiếng với xóm làng. Tuy vậy, họ cũng yêu cầu vợ chồng ông chủ hiệu thuốc bắc họ Triệu, thỉnh thoảng phải cho Như về thăm bố mẹ đẻ và các em. Vậy là Triệu Thục cho người mang biếu vợ chồng bà Lụa mười đấu thóc và đón Như đi, sau khi đã cam đoan là sẽ làm đúng như yêu cầu của họ.
Quả là Triệu Thục đã giữ đúng lời hứa. ông ta chăm chút, cưng chiều cô con gái nuôi rất mực. Như được bố nuôi mua cho những đồ trang sức mà bất cứ cô gái nào cũng mơ ước. Ở nhà Triệu Thục, cô không phải làm việc gì nặng. Những việc đó đã có người ở trong nhà lo toan. Cô chỉ phải làm những việc lặt vặt và đôi khi giúp bố nuôi trong việc bốc thuốc. Mỗi lần Như về thăm bố mẹ đẻ, Triệu Thục đều có quà cáp chu tất gửi theo. Bà con ở làng Vèn khen vợ chồng bà Lụa “có phúc” vì đã gửi được con gái vào chỗ tốt. Cuộc sống sung sướng đã khiến cho cô bé Như gầy yếu, đen đủi dạo nào, dần dần trở nên trắng trẻo, đầy đặn mơn mởn…
Tuy vậy, vốn là người cả nghĩ, ông Canh không phải không có những băn khoăn. Lâu nay, ông đã nghe nói quá nhiều về bản tính keo kiệt, tham lam và những thủ đoạn xấu xa của dòng họ Triệu ở Nhuệ Sâm và ngay cả về bản thân Triệu Thục nữa. Cái lòng tốt có vẻ quá dễ dãi ấy làm cho ông thấy lo ngại. Tuy vậy, một vài năm sau, thấy con gái mình vẫn được đối xử tử tế và trở thành một cô gái xinh đẹp thì ông cũng bắt đầu yên tâm hơn.
Một buổi tối, Triệu Thục gọi cô gái nuôi đến bên bàn và trao cho một gói quà nặng. Hắn ngọt ngào nói:
– Con ở đây lâu chắc cũng đã nhớ nhà. Ngày mai cho phép con về thăm quê. Nhớ cầm gói quà này gửi cho bố mẹ và nói rằng, bố mẹ ở đây do đường xa không đến được nên có lời hỏi thăm nghe chưa!
Như sung sướng cảm ơn bố nuôi. Không hiểu sao đêm hôm ấy cô thấy khó ngủ. Cuối cùng, cô choàng dậy, mặc quần áo và đi ra sân.
Đó là một đêm mùa hè trăng rất sáng. Những người trong nhà đều đã ngủ say. Lũ chó thấy động chồm dậy, nhưng khi nhận ra cô chủ thì lại uể oải nằm xuống. Như đứng một lúc để cho gió đêm mơn man khuôn mặt nóng bừng, rồi lại rón rén đi vào nhà. Bất chợt, cô nhìn thấy có ánh đèn lóe lên qua khe cửa của căn buồng Triệu Thục. Thì ra ông bố nuôi vẫn còn thức. Như đã định đi vào buồng mình, nhưng không hiểu sao cô lại đánh bạo bước tới và ghé mắt qua khe cửa.
Trên chiếc sập gụ, Triệu Thục đang ngồi cắm cúi gói, buộc. Những thỏi kim loại lóe sáng được xếp vào mấy cái vò đất lớn để bên cạnh ông ta. Bỗng nhiên, Như thấy sợ. Cô định rời khỏi khe cửa để trở về giường của mình. Đúng lúc đó, Triệu Thục bỗng ngẩng phắt đầu, nhìn thẳng ra cửa nơi Như đang đứng.
Trong một thoáng, đôi mắt trợn trừng đầy chết chóc ấy chiếu thẳng ra làm cho Như rụng rời. Cô cố nén một tiếng kêu cứu định bật ra trong lồng ngực và chạy trên những ngón chân trở về buồng mình.
Suốt đêm ấy, Như không ngủ được nữa. Hễ cứ nhắm mắt, cô lại thấy đôi mắt dữ tợn ấy của ông bố nuôi. Ánh mắt giống như một lưỡi thép lạnh buốt xuyên qua người cô.
* * *
Nỗi ngờ vực lâu nay tạm lắng trong lòng ông Canh lại bùng dậy khi nghe hết câu chuyện của con gái. Ông tới cầu cứu thầy đồ Bảo – một ông thầy dạy chữ Nho trong làng, có tiếng là thâm thúy. Sau khi đã nghe rõ ngọn ngành, ông Bảo suy nghĩ một lát và ghé tai ông Canh dặn dò mấy câu. Ông Canh mừng rỡ ra về và dặn lại Như những điều mà thầy đồ Bảo đã dặn…
Đã hơn ba tháng trôi qua, từ khi Như trở lại Nhuệ Sâm với bố mẹ nuôi. Ngày nào ông Canh cũng đón những người từ vùng đó đi chợ qua để hỏi thăm tin tức. Một hôm, khi được biết nhà ông Triệu Thục đã đóng cổng được hai ngày, ông Canh cùng một số người họ hàng mang cuốc thuổng kéo nhau đi đến Nhuệ Sâm. Sau gần một ngày đường, họ đã đến đứng trước cái cổng tre kín mít của nhà Triệu Thục. Không có ai trong nhà đáp lại lời gọi của họ. Chỉ có lũ chó cứ rít lên nghe rất đáng nghi. Cuối cùng ông Canh và những người cùng đi phải phá cổng xông vào.
Trước hết, họ thấy một lũ chó sáu bảy con được xích ngay trước cửa. Chúng đã bị bỏ đói mấy ngày nay nên cứ rít lên và lồng lộn giằng xích trước những tấm cửa đóng kín mít.
Những cánh cửa cũng được phá bung và bày ra trước mắt những người mới đến một cảnh tượng khủng khiếp: Ngổn ngang trong căn nhà là ba cái xác đã bắt đầu thối rữa của những người làm trong nhà Triệu Thục. Sau đó, họ lại tìm thấy xác bà Lý nằm sóng xoài trên nền gạch trong buồng. Tất cả đều bị giết bằng thuốc độc. Chỉ có Như là không thấy.
Theo hướng dẫn của ông Canh, những người đi theo tản ra tìm kiếm. Họ đã thấy dấu vết của Như để lại, đó là những hạt vừng đen được rắc trên con đường thẳng ra cánh đồng và sau đó rẽ về phía một ngọn đồi nhỏ nằm trong dãy núi. Đến chân ngọn đồi ấy thì những hạt vừng chấm dứt.
Cũng chẳng khó khăn lắm, ông Canh đã tìm thấy những dấu vết khả nghi ở một bụi dứa dại lớn mọc trên đồi. Những người cùng đi tập trung đào xuống. Dấu đất lấp còn mới nên khá dễ đào. Một lúc sau, họ đã lần ra một bậc gạch còn mới, dẫn sâu xuống lòng đất. Cuối cùng, họ đã đến trước một cánh cửa bịt kín bằng gạch. Lớp vữa trát bên ngoài vẫn còn chưa khô hẳn.
Bức tường gạch bên ngoài được dỡ ra, làm lộ cánh cửa lim bên trong. Một người đi trước vung thuổng đập mạnh nhưng cánh cửa chỉ rung lên một cách gan lì. Thêm mấy cái thúc mạnh bằng cán thuổng nữa, cánh cửa mới bị bật tung ra. Đồng thời với điều đó, ba mũi tên bằng đồng từ phía trong cùng lao ra. Hai trong số đám người có mặt đã bị những mũi tên đồng giết chết ngay tại chỗ. Nhưng cuối cùng, những người còn lại cũng đã bước được vào trong.
Đó là một cái nhà hầm chỉ cao bằng đầu người và mỗi chiều rộng vài ba sải tay. Như đang ở trong căn hầm đó.
Cô gái đáng thương ngồi bất tỉnh ở một góc hầm. Miệng cô bị gắn chặt bằng nhựa cây. Bên trong miệng là một khúc sâm lớn – khúc sâm có thể giữ cho cô sống hàng tháng trong cái nhà mồ này.
Của cải tìm thấy trong hầm cũng không nhiều lắm. Chỉ có một số đĩa bát, một ít tiền và một chiếc bình đựng vàng bạc lẫn lộn. Ngoài ra, trên chiếc bàn thờ nhỏ ở chính giữa hầm còn có một chiếc đỉnh và một đôi hạc cưỡi rùa bằng đồng hun, cùng với bình đất đựng nước. Hai con hạc cưỡi rùa có chiều cao khoảng ba mươi phân, được đúc giống hệt nhau. Chỉ có một điểm khác là: hai con rùa ở dưới quay đầu hai hướng ngược nhau. Một con rùa quay đầu sang phải. Con kia thì ngược lại, quay đầu sang phía bên trái.
Như đã được cứu sống. Tuy vậy, phải hàng năm sau cô mới qua khỏi được cơn chấn động tinh thần khủng khiếp đó. Cô kể rằng: Trước khi chôn sống cô làm “thần giữ của”, Triệu Thục đã giam Như vào một căn hầm kín ở ngay trong nhà. Hắn cho cô ngậm sâm suốt một trăm ngày liền và tắm rửa cho cô bằng thứ nước thơm chế ra từ năm loại hoa gọi là “ngũ vị hương”.
Toàn bộ số của cải tìm được, ông Canh đem đền bù cho gia đình những người đã bị thiệt mạng trong việc giúp ông tìm lại con gái. Số còn lại đem chia cho những người cùng đi. Riêng ông thầy đồ Bảo thì ông Canh đem tạ ơn bằng chiếc đỉnh và đôi hạc.
Từ đó những cổ vật này được lưu giữ cho đến năm 1945 thì một con hạc bị thất lạc. Chỉ còn lại chiếc đỉnh và con hạc đứng trên con rùa quay đầu sang trái, ông Dần là người sở hữu cuối cùng những vật này cho đến khi nó bị lấy trộm…
5
Một ngõ nhỏ lát gạch bắt đầu từ đường Đê La Thành chạy dốc xuống. Nó uốn lượn mềm mại giữa hai dãy tường xây. Cuối cùng, nó dừng lại trước hai cánh cổng sắt đóng im ỉm suốt ngày của một nhà biệt lập, có xây tường gạch cao xung quanh. Người ra vào đi qua cái cổng phụ hẹp ở bên cạnh. Bên trong là một khu vườn xum xuê các loại cây ăn quả: Hồng xiêm, ổi lai và những gốc táo lực lưỡng. Ở giữa những tán cây là một căn nhà ngói ba gian cao ráo và một khu bếp nằm theo thế “vuông thước thợ”.
Đó là nhà ông lang thuốc bắc Triệu Chính – bố của Linh Chi.
Sau khi học xong trường Sư phạm ngoại ngữ, Linh Chi trở thành giáo viên dạy tiếng Anh ở một trường phổ thông trung học trong nội thành. Những người khách thường xuyên ở đây chỉ có Lam Giang và Hoài Nam – một người hình như có họ hàng với ông Triệu Chính, hiện là kỹ sư cơ khí ở một nhà máy, nếu không kể những người bệnh đến cắt thuốc và đôi khi có một vài học sinh của Linh Chi ríu rít kéo đến.
Cũng giống như một số gia đình khá giả ở Hà Nội, ông chủ cũng cho xây một bể nước lớn thả cá vàng ngay trước sân và đắp một hòn “non bộ” khổ lớn. Trước hiên nhà, treo một chiếc lồng trúc đan cầu kỳ có một con chim yểng bên trong, suốt ngày nhảy lách chách. Mỗi khi thấy có người đi vào cổng, con yểng lại nghiêng đầu, há mỏ kêu toáng lên: Ông ơi. Có khách!…
Ngoài tất cả những thứ đó, tất nhiên không thể thiếu được một con chó béc-giê cao lớn với vòng xích leng keng ở cổ, nằm chắn ngang trước cửa và một đôi chó Nhật nhỏ tí xíu, giống như cục bông, chạy lũn cũn khắp nhà…
* * *
Lam Giang lách xe đạp vào cổng phụ.
Có tiếng con béc-giê rít lên nhè nhẹ và con chim yểng léo nhéo kêu lên bằng cái giọng ngạt mũi: “Ông ơi! Có khách!”…
Linh Chi ào ra nắm tay bạn:
– Thiêng thật. Bọn mình vừa nhắc tới cậu…
– “Bọn mình” là những ai thế?
– À, có ai đâu. – Linh Chi cười: – Chỉ có mình và anh Hoài Nam thôi. Hôm nay, cậu có việc gì bận không đấy?
– Có chuyện gì thế? – Lam Giang hỏi lại.
– Thế này: Bọn mình định sẽ tổ chức một chuyến “dã ngoại” thật vui vẻ. Nghe nói ở một nơi cách đây dăm chục cây số, người ta phát hiện thấy có một hòn đá nổi lên giữa sông. Hòn đá ấy, vốn ở trên một ngọn đồi, cách đó hơn chục cây số, nay bỗng dưng lại “nhảy” ngay đến tận sông và nằm dưới nước mới lạ chứ! Người ta rủ nhau đi xem và thắp hương đông lắm. Chúng mình cũng thử đi xin “lộc” xem sao!
Lam Giang cười vì cách nói của bạn:
– Tiếc thật! Hôm nay mình lại bận rồi!…
– Có chuyện gì thế? – Linh Chi kêu to với vẻ không hài lòng: – Anh ta đã về đâu?
– Không phải thế! — Lam Giang vội thanh minh: – Anh ấy chưa về. Nhưng nhà mình đang có khách. Ông bác ruột mới từ bên Pháp về mà…
– Chà chà!…. Linh Chi xuýt xoa: – Nếu vậy thì lại là chuyện khác. Nào, vào nhà đi đã.
– Tặng cậu cái này. – Lam Giang nói và lục túi đưa cho Linh Chi một hộp kem xoa mặt thơm phức: – Quà của ông bác đấy.
– Cám ơn cậu!
Linh Chi nói và mở luôn hộp kem, vừa đi vừa xoa thử lên mặt, làm cho không khí quanh họ bỗng chốc phảng phất một hương thơm thật dễ chịu.
Trong nhà, Hoài Nam đang ngồi uống trà với ông chủ nhà trên chiếc tràng kỷ đen bóng, được chạm trổ rất cầu kỳ. Đó là một người khoảng ba mươi tuổi, cao to, nhưng dáng hơi gù như một con gấu. Trên khuôn mặt nhẵn nhụi của anh ta, ngoài đôi mắt hơi cụp xuống, đôi môi luôn luôn mím lại, rất ít khi cười. Trông thấy Lam Giang đi vào, Hoài Nam đứng dậy:
– Lam Giang. Bạn khỏe chứ?
Lam Giang chưa kịp trả lời thì Linh Chi đã vui vẻ thông báo hộ bạn :
– Nó đang vui nhất đấy! Có ông bác ruột mới từ Pháp về chơi mà.
– Nếu vậy, chắc Lam Giang không đi chơi với chúng tôi được? – Hoài Nam hỏi.
– Vâng. Rất tiếc! Xin hẹn anh dịp khác vậy!
Lam Giang mỉm cười trả lời Hoài Nam và ngồi xuống bên cạnh Linh Chi. Riêng ông chủ nhà từ đầu vẫn im lặng, bỗng thốt lên một câu cụt lủn:
– Tốt lắm à!
Nói xong, ông lẳng lặng đi ra góc nhà lấy một quả chuối và bước tới bên cái lồng yểng…
6
… Câu chuyện của họ tạm thời dừng lại, vì bà vợ ông Dần đã lễ mễ bê từ dưới bếp lên một rổ khoai lang, đang bốc hơi nghi ngút. Sau đó, bà lại mang lên một ấm chè xanh. Ông Dần mở tủ, lấy ra mấy cái bát sứ Hải Dương, rót vào đó thứ nước chè đặc quánh, vàng như màu mật ong. Khoai luộc được xếp lên một chiếc đĩa to đặt giữa bàn. Ông Dần xoa xoa hai tay vào nhau vui vẻ:
– Cũng chẳng mấy khi các anh đến!… Toàn là cây nhà lá vườn cả. Xin mời các anh!…
Những người khách không hề tỏ ra khách sáo làm cho ông Dần rất hài lòng. Họ vừa bóc khoai ăn, vừa uống nước chè xanh và tiếp tục câu chuyện. Có lẽ, chưa bao giờ Thế An lại được thường thức một món ăn giản dị mà nhớ lâu đến thế. Khoai bột trắng tinh và nước chè xanh đậm đà, ngọt quánh. Nhưng cũng còn một lý do nữa: Trong câu chuyện ông chủ nhà, anh đã bắt gặp những chi tiết hết sức quý giá mà bất cứ một người nào ở vào cương vị của anh, cũng phải mong muốn.
Thế An được biết: thời điểm xảy ra vụ mất trộm đồ cổ ở nhà ông Dần, tại khu vực này xuất hiện một gã làm nghề hàn xoong nồi thuê. Hắn thường lân la gạ mua hoặc gạ đổi chác đồ cổ. Đã có mấy người trong làng Vèn này bán đồ cổ cho hắn. Ông Tần bán một chồng đĩa gồm năm cái; ông Thìn bán một cái chuông cổ, ông Lợi bán một chiếc bình sứ lớn… Tên hàn xoong nồi đã hai lần đến nhà ông Dần để đòi mua lại chiếc đỉnh và con hạc. Ông Dần đã cự tuyệt vì nghi đó là của gia bảo. Ở đây, Thế An nhận thấy một ý tứ sâu xa của Ông Dần là: ông thích nhắc đến nguồn gốc Nho nhã của dòng họ mình mà chiếc đỉnh đồng và những con hạc gắn liền với chuyện ông thầy đồ Bảo.
Ông Dần cho biết: Từ sau khi vụ mất trộm ở nhà ông xảy ra, không ai còn nhìn thấy tên làm nghề hàn xoong nồi ấy nữa. Rõ ràng là: sau khi đánh cắp được những cổ vật, hắn đã biến mất.
Chữ “nó” mà ông dùng ban đầu chính là để chỉ gã hàn xoong nồi.
Thế An nhẹ nhàng hỏi khi ông Dần đã chấm dứt dòng hồi tưởng của mình:
– Bác có nhớ đặc điểm gì của hắn không?
– Quên làm sao được? – Ông Dần kêu lên: – Các anh cứ để cho nó đứng lẫn vào giữa hàng mấy chục người, tôi cũng nhận ra ngay!
Sau một lát nheo mắt ngẫm nghĩ, ông nói tiếp:
– Thằng cha đó cao to. Cái mặt thì trông cứ như là người ngủ nhiều quá, cứ hùm hụp rất đáng ghét. Cái con mắt của nó lúc nào cũng nhìn xuống trông gian lắm. À, mà còn một điểm nữa: Khi nó gánh hai cái thúng đựng đồ nghề, hai vai cứ rụt lại và cái lưng hơi gù xuống như thể là không quen gồng gánh. Chúng tôi là con nhà nông, nhìn vào biết ngay chứ.
Bà Dần lúc đó cũng đã ngồi ghé xuống một góc giường vừa bỏm bẻm nhai trầu vừa góp chuyện:
— Ấy. Cái con mắt nó trông thế thôi, nhưng mà tinh như mắt rắn ấy! Mà anh ta mới khéo tay làm sao chứ!
Giọng xuýt xoa chân thành ấy làm cho Thế An và Tuấn cùng mỉm cười. Tưởng họ không tin mình, bà Dần vội nói tiếp:
– Tôi nói thật đấy! Hôm đến đây lần đầu tiên, anh ta còn hàn cho tôi một miếng ở cái nồi “ba mươi” nấu cám lợn kia mà. Còn tiền thì chỉ lấy bằng nửa người khác thôi…
Vừa nói, bà Dần đứng phắt dậy đi ra sân bê chiếc nồi đồng vào nhà:
– Đấy, các anh xem tôi nói có đúng không! Miếng vá rõ khéo! Từ dạo ấy đến giờ chưa có rò rỉ gì cả mà nồi thì ngày nào chả dùng.
Ông Dần quay lại định ngăn bà vợ hay “dây cà ra dây muống” thì Thế An đã bước tới, cúi xuống xem xét. Ở đáy nồi là một miếng vá hình chữ nhật lớn như lòng bàn tay được gắn chắc chắn với các góc vuông vức. Anh buột miệng:
– Vá khéo quá!
– Vâng. Thì tôi đã nói mà. – Bà Dần cười: – Mà anh ta lại làm bằng tay trái mới tài chứ…
Thế An như sững lại:
– Bác nói sao? Gò bằng tay trái à?
– Vâng, tay trái. – Hầu như cùng một lúc, cả hai vợ chồng ông Dần gật đầu xác nhận.
Đó là một chi tiết bất ngờ, nhưng vô cùng quý giá. Theo kết luận của bộ phận giám định, kẻ đã giết tên Hiệp ở trại cải tạo X. cũng là một người thuận tay trái.
7
Cuộc đời một con người cũng giống như một dòng sông. Có những đoạn êm ả, phẳng lặng đến mức đơn điệu. Nhưng đến một đoạn khác, có thể nó gầm réo sôi sục và lao vun vút giữa những ghềnh đá với một tốc độ chóng mặt.
Lam Giang chưa biết rằng cô sắp bước vào cái đoạn dữ dội nhất của đời mình mà lá thư của Xuân Sáu từ biên giới gửi về chính là dấu hiệu đầu tiên.
Chiều hôm ấy, Lam Giang ở nhà một mình, ông Hân đã đi ra phố và chắc giờ này đang lững thững trong công viên hoặc đi qua các quầy hàng trên phố. Ông thích đi dạo một mình như vậy và buổi tối lại ngồi trao đổi với cô cháu gái về những ấn tượng mà ông thu nhận được trong suốt hàng giờ liền.
Viết xong những dòng cuối cùng của một bài phóng sự điều tra, Lam Giang chưa muốn đọc lại. Cô thu dọn giấy tờ và cất vào gác tủ. Ngay lúc đó, cô bỗng nghe có tiếng gõ cửa.
Lam Giang nhanh nhẹn đi ra. Bàn tay cô đặt trên nắm đấm của ổ khóa chợt sững lại. Tiếng gõ cửa bên ngoài lại vừa vang lên theo một tín hiệu đặc biệt mà cô đã quên nó từ lâu: Hai tiếng dồn dập – Một quãng lặng, lại hai tiếng dồn dập khác…
Lặng người trong một liên tưởng vừa trỗi dậy. Lam Giang buông cánh tay rã rời khỏi nắm đấm cửa và bất giác đưa hai tay ôm chặt lấy hai vai. Phải chăng là “anh ấy”? Cũng vẫn là cách gõ cửa quen thuộc với hai tiếng dồn dập giữa những quãng lặng như thế. Nhưng nếu đúng như thế, anh đã đến quá muộn. Mới đó mà đã bốn năm – một khoảng thời gian tuy ngắn ngủi, nhưng cũng đủ cho bất kỳ biến động nào xảy ra trong một đời người con gái…
Bốn năm qua, anh ấy đã đi đâu? Đã làm gì? Tại sao anh không trở lại một lần nào nữa? – Một nỗi đau bất chợt trào dâng trong trái tim Lam Giang. Trong khi bên ngoài, tiếng gõ cửa lại vang lên…
Lam Giang thở một hơi thật sâu và từ từ với tay đến cái nắm đấm ổ khóa…
Đúng là anh ấy!
* * *
Người đứng bên ngoài cánh cửa là Quốc Vụ.
Bốn năm trôi qua, nhưng trông anh cũng không thay đổi bao nhiêu. Nhất là đôi mắt thì vẫn thế – nhìn thẳng một cách trong sáng. Họ cứ đứng im lặng khá lâu và chính trong giây phút đó, Lam Giang chợt nhận ra một sự thật rằng: Từ trong cái góc sâu thẳm nhất của lòng mình, cô vẫn dành cho Quốc Vụ nguyên vẹn một mảng sáng. Suốt bốn năm ấy, cô vẫn chờ đợi anh – chờ đợi cái phút anh gõ cửa, với những quy ước đặc biệt: Hai tiếng dồn dập giữa những quãng lặng. Cô chờ đợi và cố tự lừa dối mình để quên anh đi. Nhưng bây giờ, khi anh đã đột ngột trở lại, cô bỗng có cảm giác là họ chỉ mới chia tay nhau mấy hôm trước thôi. Bởi vì, tất cả lại sống dậy trong cô thật mãnh liệt, không gì ngăn nổi. Và giá như không có cái khoảng cách bốn năm đằng đẵng ấy, cô đã có thể lao tới, ngả đầu vào ngực anh. Một sự thật cay đắng mà Lam Giang cảm nhận rất rõ là: cô đã mất anh! Vĩnh viễn mất anh!
– Lam Giang… Thế là cuối cùng chúng ta lại gặp nhau. – Quốc Vụ phá vỡ sự im lặng bằng giọng nói quen thuộc: – Em có khỏe không?
Bốn năm trước, anh vẫn thường hỏi cô như vậy sau mỗi chuyến đi xa trở về. Ngày ấy, đã có lúc Lam Giang khó chịu và cảm thấy câu hỏi ấy thật “khô cứng và công thức”. Nhưng bây giờ thì nó đã làm thức dậy trong cô những cảm giác thật ngọt ngào…
– Vâng. Em vẫn khỏe anh ạ!
Lam Giang khẽ trả lời. Cô lùi lại và tránh nhìn vào mặt Quốc Vụ.
– Anh vào nhà đi!
8
Có thể hình dung câu chuyện như sau :
Gã hàn xoong nồi rong, thực chất là một tên đi săn lùng đồ cổ. Hắn tìm đến làng Vèn này để mua rẻ những cổ vật của những người nông dân chân thật ở đây. Riêng về chiếc đỉnh và con hạc bằng đồng hun, do ông Dần không bán nên hắn đã thuê hai tên Cường và Hiệp lấy cắp. Có lẽ bọn chúng đã ấn định giá cả và địa điểm giao nhận hàng vào hôm sau.
Sau khi đã lấy được những cổ vật trong nhà ông Dần, bọn Cường – Hiệp đã đến kho hàng công nghệ cách đó khoảng nửa cây số định làm tiếp một vụ nữa.
Ở đây, chúng bị lộ và tên Hiệp bị bắt. Còn tên Cường đã trốn thoát được.
Trong thời gian qua, lẽ ra tên Cường đã có thể quay về nơi cất giấu những thứ đã lấy của nhà ông Dần để trao cho gã hàn xoong nồi nọ. Nhưng có một lý do nào đó đã ngăn cản hắn làm chuyện đó. Vì thế cho đến nay, tên mua đồ cổ vẫn chưa nhận được món hàng mà hắn cần. Bởi vậy, hắn đã dò tìm được nơi tên Hiệp đang bị giam giữ để tìm đến. Căn cứ vào câu nói của tên Hiệp trước khi chết, có thể khẳng định rằng: chính tên hàn xoong nồi – Nói chính xác hơn là gã thuận tay trái đã giết tên Hiệp vì không lấy lại được những thứ đồ cổ nọ…
Trung úy Thế An sững sờ trước kết quả của quá trình liên tưởng lôgic đó. Cứ như là các sự kiện, tự nó đã sống dậy và móc xích vào nhau. Tuy vậy, anh vẫn cẩn thận rà xét lại từng chi tiết nhỏ nhất.
Không, không có một sự nhầm lẫn nào cả. Chân dung của tội ác tự nó đã bộc lộ một cách sống động.
Nhưng cũng chính từ câu chuyện đó lại sinh ra những câu hỏi mới:
– Thứ nhất: Những cổ vật hiện đang ở đâu?
– Thứ hai: Tại sao tên săn lùng đồ cổ lại dám hành động táo bạo đến như thế? Chiếc đỉnh và con hạc đồng quý giá đến mức nào để bọn chúng phải lặn lội hàng mấy trăm cây số và còn manh động tới mức giết chết tên Hiệp nữa?
Câu hỏi cuối cùng là: – Kẻ săn lùng đồ cổ thuận tay trái ấy là ai? Tại sao hắn lại có trong tay chiếc “mu-xoa” của Lam Giang?
Thật không đơn giản khi muốn trả lời những câu hỏi đó.
9
Đây là một căn hộ được xây theo kiểu khép kín với tổng diện tích khoảng năm chục mét vuông. Phòng khách bên ngoài rộng khoảng hai mươi mét. Bên trong có hai phòng ngủ, mỗi phòng rộng hơn chục mét vuông. Phòng Lam Giang giáp với ban công. Ngày trước, cô và Quốc Vụ thường ngồi trên cái ban công trồng hoa giấy này, ngắm khu tập thể những buổi chiều ồn ào và sôi động. Cái ban công ấy đã từng được coi là một góc nhỏ gắn liền với tình yêu của họ.
Quốc Vụ bước vào. Anh hơi ngập ngừng ở hành lang dẫn ra ban công và sau đó bước thẳng vào phòng khách. Cái thoáng ngắn ngủi ấy, giống như một vật nhỏ, nhưng nhọn sắc lướt qua những dây đàn đang căng thẳng trong lòng Lam Giang, làm rung lên những âm thanh chát chúa. “Anh ấy vẫn nhớ!… Nhưng anh ấy đã không đến với nó”! – Những ý nghĩ nhói lên, trong khi Lam Giang cố gắng nở một nụ cười thật tự nhiên, bước theo Quốc Vụ vào phòng khách.
Họ ngồi đối diện với nhau qua mặt bàn. Lam Giang cắm cúi pha nước để làm lấp đi sự lúng túng mỗi lúc một tăng trong cô. “Anh ấy đã trở lại. Nhưng tại sao”? – Những ý nghĩ rối bời ấy làm cho Lam Giang trở nên vụng về. “Anh đã đến thì anh hãy nói đi! Những năm qua, anh đã đi đâu? Làm gì? Tại sao không một lần nào anh trở lại? Và anh có biết rằng sau bốn năm ấy, ai cũng đã thay đổi? Bởi vì, cuộc sống có những quy luật và những đòi hỏi riêng của nó”…
“Nhưng tại sao anh ấy lại im lặng như thế nhỉ? Anh có vẻ bình thản quá!” – Ý nghĩ trách móc ấy cứ lớn dần trong Lam Giang. Cô bắt đầu thầm trách anh, trong khi cô cũng thừa hiểu rằng: trong chuyện trắc trở của tình cảm giữa họ, cô còn là người đáng trách hơn Quốc Vụ rất nhiều!
“Hình như tất cả trong anh ấy đã bị nguội lạnh”. – Lam Giang nén một hơi thở dài trong ý nghĩ ấy…
* * *
Lam Giang đã nhầm khi phỏng đoán như vậy.
Tất cả những kỷ niệm của một thời yêu nhau, giờ đây cứ bừng lên, thôi thúc mãnh liệt hơn bao giờ hết trong ánh mắt trầm tĩnh của Quốc Vụ. Khuôn mặt xinh đẹp ấy, hàng mi cong kiều diễm ấy đã trở thành nỗi nhớ dai dẳng trong anh. Trước khi bước chân đến đây, Quốc Vụ đã thức trọn đêm trăn trở, hình dung giây phút họ gặp lại. Không biết Lam Giang sẽ xử sự ra sao? Chắc chắn là cô sẽ bị bất ngờ. Nhưng rồi sau đó? Một sự vồn vã hay thờ ơ ghẻ lạnh? Anh đã chuẩn bị để đón nhận bất cứ điều gì. Nhưng thật oái oăm, cái điều mà anh không chờ đợi – Nói đúng hơn, cái điều mà anh ít nghĩ nhất đã tới. Chính vì vậy, anh trở nên lúng túng.
Thà Lam Giang cứ lạnh lùng. Thậm chí xua đuổi hay từ chối anh… Giá như vậy, anh còn dễ chịu đựng hơn nhiều. Nhưng ngay từ giây phút đầu tiên, khi ánh mắt sửng sốt vừa hiện ra bên cánh cửa, Quốc Vụ đã nhận ra rất rõ rằng: Họ đã sai lầm biết bao, khi cố ý tránh mặt nhau suốt ngần ấy năm trời.
Bởi vì, anh hiểu rằng: Lam Giang vẫn còn yêu anh! Nhưng anh đến đây không phải là để thanh minh, để vớt vát hay chắp nối điều gì. Anh đến đây vì một công việc quan trọng. Một công việc liên quan đến những tình tiết rắc rối của một vụ án phức tạp. Chiếc khăn bết máu có thêu tên Lam Giang, vẫn đang nóng bỏng trong túi anh. Đã có một kẻ giết người dùng chiếc khăn này để lau lưỡi dao tội ác của hắn! Kẻ đó là ai? Tại sao hắn lại có được chiếc khăn đó? – Anh cần phải biết những điều đó. Tội ác vẫn tồn tại và có thể nó sẽ còn làm chảy máu hoặc đang gây ra đổ máu ở một nơi nào đó. Anh và các đồng chí của anh phải bằng mọi cách ngăn chặn bàn tay đẫm máu đó.
Nhưng, mở đầu như thế nào đây? Cái điều tưởng như đơn giản ấy hóa ra khó khăn hơn anh nghĩ. Anh hiểu rằng Lam Giang đang chờ đợi ở anh một điều khác hẳn.
– Em còn nhớ vật này chứ? – Quốc Vụ hỏi lạc cả giọng và đưa ra chiếc mu-xoa thơm phức lấy từ trong túi áo ngực. Anh đặt chiếc khăn hầu như còn mới nguyên đó lên bàn và ngước mắt nhìn Lam Giang, chờ đợi.
Cô gái bất giác đưa hai tay ôm chặt. Kỷ vật xưa cũ của tình yêu, giống như một lời trách móc nhẹ nhàng mà chua chát. Vừa cố gắng để nước mắt không trào ra, cô vừa nói bằng một giọng đã bắt đầu thổn thức:
– Anh!… Những cái đã qua rồi… Xin anh đừng nhắc lại nữa!…
– Anh nhớ có hai chiếc khăn giống nhau như thế này. – Quốc Vụ nói và cố ghìm mình để khỏi run lên vì hồi hộp: – Còn một chiếc em đang giữ, bây giờ đâu rồi?
– Kìa. Anh Vụ! Em xin anh! – Lam Giang nói và bỗng bật khóc.
– Không. Anh hỏi thật đấy! Anh cần biết chiếc khăn ấy bây giờ ở đâu? Rất cần. Lam Giang ạ!…
“Một cơn ghen kỳ lạ hay một cơn giận dữ khủng khiếp?” – Lam Giang bất chợt nghĩ như vậy và lo lắng nhìn Quốc vụ:
– Anh làm sao thế? – Cô hỏi giọng hoảng hốt.
Quốc Vụ đang suy nghĩ căng thẳng. Anh hiểu rằng Lam Giang đã bắt đầu mất bình tĩnh. Cũng rất may là anh đã không đặt chiếc khăn thứ hai, nhàu nát và bết máu lên mặt bàn. Nhưng hình như anh đã tiến gần tới đích. Hãy cố gắng lên. Cố gắng một lần nữa. Chỉ cần một câu trả lời của Lam Giang, mọi chuyện sẽ đơn giản hơn, sẽ làm cho anh và đồng đội đỡ tốn bao nhiêu công sức. Đây đang là một cơ hội và anh cần phải dấn tới nữa. – Quốc Vụ thầm nghĩ như vậy mà không hề ngờ rằng đó là một sai lầm của anh.
– Lam Giang. Em nói đi. Anh cần biết là…
Câu nói ấy bị cắt đứt đột ngột, vì Lam Giang bỗng đứng bật dậy. Cô thét lên bằng một giọng tuyệt vọng:
– Không! Anh không có quyền! Anh đi đi!
10
Lại thêm một pha “chiếu tướng” nữa! Đại tá Lê Hữu ngả người trên ghế và nheo mắt ngắm nhìn Quốc Vụ.
– Sao? Thất bại chứ? Anh chàng si tình?
Thật ra, kết quả chuyến đi của Quốc Vụ tới nhà Lam Giang hoàn toàn đúng với dự đoán của Lê Hữu. Hy vọng là chỉ thông qua việc gặp gỡ một cô gái, để có thể lần ngay ra tên giết người thì quả là ấu trĩ. Tuy vậy, ông vẫn đồng ý với Quốc Vụ, vì hai lẽ: Trước hết, ông muốn được biết những ấn tượng của Quốc Vụ về Lam Giang. Điều thứ hai: ông thành thật mong cho họ có thể gần nhau, vì ông biết, tuy xa nhau đã lâu, nhưng vẫn còn một sợi chỉ nhỏ – dù là mỏng manh nhưng chưa đứt hẳn giữa họ. Biết đâu thông qua những công việc, họ xích lại bên nhau thì sao? Là cán bộ cấp trên trực tiếp phụ trách Quốc Vụ, đại tá Lê Hữu hiểu rõ rằng: Ngoài những ưu điểm nổi bật trong công tác chuyên môn, đại úy Quốc Vụ còn có vết rạn đau trong tình cảm với cô gái ấy. Trong cuộc đấu tranh với kẻ thù, anh là một con người mưu trí – dũng cảm và luôn luôn linh hoạt, sáng tạo. Nhưng ngược lại, trong tình yêu thì anh lại quá vụng về… Đó cũng là những đặc điểm của đa số cán bộ, sĩ quan trẻ tuổi trong ngành của ông. Nhưng đại tá vẫn tin rằng: Rồi chính bản thân cuộc sống, sẽ dạy cho họ tất cả!

