Theo Vết Con Hạc Cổ - Chương 4
1
Giáo Sư Lâm Ninh trở về Hà Nội. Ông cũng bị bất ngờ không kém con gái mình khi thấy ông Hân – người anh ruột sống tại Pháp từ nửa thế kỷ, nay ra đón ông ở cửa.
Họ ôm chầm lấy nhau, mừng mừng tủi tủi. Kể từ sau khi giáo sư xin về Tổ quốc đến nay, cũng đã gần ba mươi năm họ chưa gặp lại nhau. Ba mươi năm với biết bao nhiêu biến động, vui buồn trong mỗi một đời người. Họ chia tay nhau khi tóc còn xanh, bây giờ cả hai người tóc đã bạc gần hết. Nhìn bên ngoài. ông Hân có vẻ trẻ hơn giáo sư đến năm sáu tuổi, mặc dù ông hơn em mình gần ba tuổi.
Giáo sư được biết: ông Hân về Việt Nam, vừa để thăm quê hương, vừa kết hợp giải quyết một số việc trong các hợp đồng thương mại của Công ty mà ông có cổ phần. Ông Hân còn cho biết: Công việc kinh doanh của ông tại Pháp đang gặp nhiều khó khăn lớn. Cuộc cạnh tranh quyết liệt giữa các tổ hợp tư bản và cuộc khủng hoảng triền miên đã gây ra những hậu quả đáng lo ngại…
Đêm hôm ấy, hai anh em thức rất khuya. Sau những năm xa cách, họ có nhiều chuyện để nói. Người nói nhiều hơn là ông Hân. Bằng một giọng lơ lớ và cách phát âm có pha những tiếng Pháp, ông Hân hỏi giáo sư Lâm Ninh về tất cả những điều mà ông quan tâm… Từ chuyện ở Việt Nam, người ta phân phối nhà ở theo mức lương như thế nào; chuyện Hà Nội đã xây dựng thêm được những công trình nào trong thời gian qua; đến những chuyện lớn hơn về các biến động, kinh tế, chính trị – xã hội của đất nước. Ông Hân cũng đưa ra những nhận xét của mình về khí hậu, về chế độ xã hội và đặc điểm tâm lý của người Việt Nam – những kiến thức này rất cần thiết cho công việc thương mại của ông.
Giáo Sư Lâm Ninh trả lời cặn kẽ, tỉ mỉ tất cả những câu hỏi của ông Hân. Ông hiểu rằng thời gian xa đất nước đã làm cho ông Hân trở thành một con người xa lạ đối với cuộc sống ở đây. Trong những nhận xét ban đầu ông Hân rút ra qua mấy ngày dạo phố đã thể hiện rất rõ điều đó. Ông Hân cắt nghĩa những điều mà ông nhìn thấy theo quan điểm và cách nhìn của ông. Những quan điểm đó, giáo sư nhận thấy nó mơ hồ và lệch lạc. “Nhưng biết làm sao được”. – Giáo sư thở dài và thầm nghĩ. Ở giữa họ – dù không muốn, cũng đã hình thành một khoảng cách khá lớn. Nhưng ông không muốn tranh luận. Ông nghĩ rằng điều đó thật vô nghĩa, vì chỉ ít ngày nữa, ông Hân lại trở về Pháp. Ở đó, những cuộc cạnh tranh kéo dài đang chờ đợi ông ta. Một vài ngày ở Hà Nội thật quá ít ỏi để có thể hiểu được về Việt Nam – dù là những hiểu biết sơ đẳng nhất. Điều đó có thể thấy rõ trong việc ông Hân cứ loay hoay mãi với câu hỏi: “Tại sao với một mức sống quá thấp như vậy, người ta vẫn có thể sống hạnh phúc, thậm chí lại còn nghiên cứu được khoa học nữa (!)”…
Giáo sư hiểu cách đánh giá của ông Hân đã xuất phát từ đâu. Ngay cả ông, nếu như không có một động cơ đúng đắn kêu gọi ông xin về Tổ quốc từ gần ba mươi năm trước, có lẽ ông cũng chỉ suy nghĩ như vậy. Bởi vì thế, mặc dù ít nhiều có những khó chịu về lối nhìn nhận của ông Hân, sự có mặt của ông ta vẫn làm gợi lên trong giáo sư những kỷ niệm tuổi thơ. Dòng hồi ức ấy, tự nó cứ trỗi dậy tự nhiên, như một dòng suối ngầm bất chợt được khơi lên…
* * *
Giáo sư Lâm Ninh gặp lại mình khi ông còn là một chú bé mười tuổi. Chú bé ấy phải ngồi trước chiếc bàn nhỏ trên lầu hai của một căn nhà ở phố Hàng Đào và phải học thuộc lòng một bài thơ ngụ ngôn bằng tiếng Pháp. Nhưng chú bé không muốn học. Bên ngoài cửa sổ, nắng nhuộm vàng những cánh hoa phong lan, đang được làn gió đu đưa như những cánh bướm. Có tiếng leng keng của chuyến tàu điện và tiếng rậm rịch của những người đi chợ vang lên. Thỉnh thoảng, tiếng rao ngọt xớt của một bà bán quà rong, làm cho chú bé hình dung một đĩa bánh trôi trắng bóc, trông giống như một bông hoa màu trắng có sáu cánh…
Cậu bé ngồi và tự giải trí bằng cách lắng nghe những âm thanh và đoán ra sự việc: Tiếng bát đũa va nhau lạch xạch, lẫn trong tiếng bánh xe khô dầu đang kêu rít rít kia, là của ông bán “Bát bảo” người Hoa, đang đẩy xe dưới phố. Tiếng chửi ồm ồm toàn những “mẹc” và “cô-xông” là của lão quan tư người Pháp, nhà ở đầu phố đang thúc giục anh kéo xe tay của hắn chạy nhanh hơn. Có tiếng phụ nữ kêu ré lên – bọn lính đang ghẹo gái. Còn tiếng hét choang choác cao vút nọ, đích thị là của cái bà béo lấy chồng Tây, đang nạt nộ hai đứa con lai của bà ta. Kia nữa, tiếng còi ré lên và tiếng chân chạy lộn xộn, chứng tỏ dưới phố lại đang có một cuộc vây bắt…
Chú bé Lâm Ninh không dám đi xuống nhà dưới. Ở đó, trước bàn làm việc của mình, ông Hùng Sơn đang bực bội ghi chép. Dạo này, những người công nhân trong nhà máy của ông đã bắt đầu tỏ ra ương bướng hơn. Những biến động sôi sục của cao trào cách mạng từ 1930-1931, sau một thời gian tạm lắng, bây giờ lại có nguy cơ bùng lên, bắt đầu thổi luồng gió nóng bỏng của nó đi khắp nơi. Dạo này, ông Hùng Sơn đâm ra bẳn tính. Hôm qua, Hân đã bị ông bợp tai. Cậu ta vẫn còn sợ, nên cả ngày hôm nay vẫn ngồi thin thít ở bàn học của mình, trước cuốn giáo khoa tiếng Pháp. Mặc dù là người được chiều chuộng nhất nhà, nhưng chú bé Lâm Ninh biết rằng trong những lúc như thế này, tốt nhất là đừng làm cho bố nổi giận…
Những biến động của những năm bốn mươi càng sôi sục hơn. Cuộc chiến tranh thế giới mới bùng nổ giữa các phe đối lập. Nước Pháp tham chiến, kéo theo những biến động lớn ở các thuộc địa của nó. Ở Hà Nội, Pháp tăng cường khủng bố, bắt lính. Việt Minh cũng tăng cường hoạt động… Những tổ chức Việt Minh ngày càng lan rộng và chắc chắn là họ đã có tổ chức trong nhà máy của ông Hùng Sơn. Những người công nhân nổi dậy. Họ đưa ra những yêu sách đòi tăng lương, giảm giờ làm, đòi phải có trợ cấp cho những người gặp khó khăn. Ông Hùng Sơn hiểu rằng, công nhân trong nhà máy của ông, sẽ đấu tranh đến cùng để đạt được mục đích của họ.
Chú bé Lâm Ninh chưa biết những điều đó. Chú vẫn sống nhởn nhơ, vô tư trên lầu, với những giò phong lan và những âm thanh từ đường phố vang lên. Bố chú dạo này cau có hơn, vội vàng hơn. Ông ta thường xuyên vắng nhà, nên cũng ít có thời gian vuốt ve chú như trước.
Trước đó, trong một lần được bố cho đến nhà máy, Lâm Ninh đã vô cùng ngạc nhiên khi thấy những người thợ ở đây gầy gò và tiều tụy. Tâm hồn thơ trẻ của chú đã rung lên khi được biết rằng, chính những con người cần lao đó, đã làm ra những thứ mà chú đang được hưởng một cách vô tư. Từ quần áo, cơm ăn cho đến tiền bạc, nhà cửa của gia đình chú đều đã được làm ra từ những bàn tay đen đúa ấy. Một người thợ tên là Khoa đã giải thích cho Lâm Ninh như vậy. Sau đó, Lâm Ninh còn được biết thêm là những người thợ ấy đang đấu tranh với bố chú để đòi lại cơm áo của chính họ.
Những điều đó đối với Lâm Ninh thật là mới mẻ. Nhưng dù sao chú vẫn chỉ là một chú bé. Chú thích đi tha thẩn, nhặt nhạnh những viên đá nhỏ và bí mật sưu tầm những thứ nhặt được, cất giấu vào ngăn bàn của mình. Trong một lần đi chơi tha thẩn như thế ở ngoại ô, chú đã tình cờ gặp lại ông Khoa và được ông mời về nhà mình – một túp lều tồi tàn ở gần một bãi rác. Ông Khoa có năm con. Cô con gái đầu khoảng mười lăm. Đứa con trai thứ hai cũng trạc tuổi Lâm Ninh tên là Hữu. Sau Hữu còn có ba đứa em nheo nhóc, lê la suốt ngày trên nền nhà. Từ đó, Lâm Ninh hay trốn bố mẹ đến chơi với Hữu và giúp cho bạn khi thì vài trinh, khi thì vài cái kẹo mà chú để dành được. Vợ chồng ông Khoa rất xúc động trước lòng tốt của chú bé. Trong một lần Lâm Ninh đến chơi, ông Khoa đã tặng chú một món quà đặc biệt: Đó là một con dao hai lưỡi. Cán dao bằng sừng, không thẳng mà lại uốn cong, giống như một vành trăng lưỡi liềm. Ở cả hai mặt của chiếc cán sừng ấy, có khắc một dòng chữ Pháp Nguyên văn là: “Que la vie vous apporte beau coup de bon heur!”[4].
Lâm Ninh nâng niu món quà quý giá đó. Chú không biết rằng, chỉ mấy ngày sau khi chú đến chơi, ông Khoa đã bị chết vì bệnh lao – căn bệnh quái ác, do quá trình lao lực trong nhà máy của bố chú. Ông Khoa chết, để lại trên đời mội người vợ quanh năm đầu tắt mặt tối và lũ con thơ dại!
* * *
Ông Hùng Sơn quyết định đi sang Pháp, ông bán lại toàn bộ nhà máy cùng với những người công nhân cho một ông chủ khác. Căn nhà ở phố Hàng Đào ông cũng nhượng lại cùng với toàn bộ gia sản bên trong. Đưa theo vợ và hai đứa con trai, ông Hùng Sơn xuống tàu ở Hải Phòng và dấn thân vào một cuộc phiêu lưu, đến một đất nước xa lạ mà không biết rằng, sẽ chẳng bao giờ ông còn được nhìn thấy đất nước của mình nữa. Đến Pháp, ông hùn vốn cùng một số kiều bào ở đây lập xí nghiệp sản xuất và bắt đầu cuộc đời kinh doanh mới. Vị trí thấp hèn của những người dân ở một nước thuộc địa gắn liền với những tủi nhục, nhưng ông Sơn vẫn cố gắng cho hai đứa con đi học. Ông muốn chuẩn bị cho Hân và Lâm Ninh những kiến thức cần thiết để nối nghiệp ông.
Nhiều năm trôi qua, ông Hùng Sơn đã dần dần ổn định công việc của mình ở một nhà máy chuyên sản xuất xà phòng và khăn tay các loại. Hân và Lâm Ninh đã lớn, nhưng họ đi theo hai hướng khác nhau: Hân thì nối được nghiệp bố. Còn Lâm Ninh lại say mê khoa học hơn và đã chọn một nghề xa lạ: nghề địa chất. Mặc dù ông Hùng Sơn đã hết lời khuyên bảo, nhưng chàng trai trẻ ấy vẫn cương quyết làm theo ý mình.
Thế là chàng thanh niên Lâm Ninh đã trở thành sinh viên học tại trường Mỏ ở Pa-ri.
2
Còn có những điều mà ông Dần đã tránh không nhắc tới. Đó là những biến động đã xảy ra đối với gia đình ông trong những năm bốn mươi nóng bỏng. Trong đó có cả những điều mà ông cũng không biết.
Thời kỳ đó, địa chủ Lấn là một kẻ giàu có và tàn ác nhất làng Vèn. Đứa cháu đích tôn của cụ đồ Bảo, mấy đời sau đã không theo được cái nghiệp nho nhã của cha ông. Hầu như tất cả nông dân làng Vèn đều phải làm thuê cho Lấn. Về sự tàn ác của hắn, còn có nhiều mẩu chuyện lưu truyền ở làng Vèn đến tận ngày nay. Người ta kể lại rằng: Có lần vào mùa đông lạnh cắt da cắt thịt, Lấn vẫn thúc người nhà ra đồng đi cày. Nghe họ kêu lạnh, hắn đứng trên bờ ruộng chọc đầu cây hèo xuống nước và hỏi lại: “Lạnh đâu nào? Tao không thấy lạnh!” Chiếc hèo song của Lấn đã không ít lần làm bầm tím lưng và hai cánh tay họ, những người ở biết vậy, nên lại nhẫn nhục cúi xuống mặt nước giá lạnh tê tái mà không dám kêu ca gì nữa.
Lấn có đông con, nhưng chỉ có hai con trai. Người anh tên là Dần thì hiền lành, nhu mì. Đứa em tên là Thân thi tàn ác bất lương, hệt như tính bố nó. Nó lầm lì từ thuở nhỏ. Có lần, người nhà bắt được một con lợn hàng xóm, chạy lạc sang vườn nhà địa chủ Lấn, họ định đem trả, nhưng Thân không chịu. Nó lấy một sợi dây ngắn, buộc vào một gốc xoan, đầu kia buộc vào đuôi con lợn. Sau đó, nó đem dao nhọn khoét một vòng quanh cái đuôi. Con lợn được thả cuống cuồng vùng chạy. Sợi dây ở đuôi lợn chỉ dài hơn sải tay đã được kéo dài ra tới ba bốn mét bằng bộ ruột của con vật đáng thương. Thân nhảy lên vỗ tay thích thú. Còn những người chứng kiến thì quay mặt đi vì ghê sợ. Biết chuyện đó, địa chủ Lấn khen ngợi Thân hết lời và hắn đem lòng yêu quý thằng con từ đó .
Tháng Tám năm 1945 đến gần, ngột ngạt như bầu trời đang tích tụ những cơn sấm sét. Để phòng xa, địa chủ Lấn cho người thu gom của cải, vàng bạc, thóc lúa đem chôn giấu. Khi những người nông dân làng Vèn vác cuốc thuổng gậy gộc đến gõ vào cánh cổng nhà Lấn, thì hắn hiểu rằng thời thế đã thực sự thay đổi. Hắn cùng với Thân chui rào chạy thẳng ra cánh đồng, sau khi đã moi vội được một số vàng bạc cất giấu ở quanh nhà. Hai bố con tên địa chủ tàn ác đó bỏ trốn lên miền núi. Dọc đường đi, không khí rừng rực của cuộc Tổng khởi nghĩa ở tất cả các phủ huyện của tỉnh, làm cho chúng khiếp đảm. Trong bộ dạng của những kẻ nghèo khó, hai bố con Lấn đi như hóa dại. Chúng trèo núi, cắt rừng đi hàng tháng trời.
Cuối cùng, hai bố con đã lọt vào một vùng xa lạ với một dãy núi cao vút chạy dọc theo biên giới – dãy Đá xanh. Ở đây chỉ có lơ thơ vài bản của người H’mông, người Dao. Bố con Lấn dừng lại. Chúng cắm lều ở sâu trong núi và thời gian đầu sống bằng cách đem những thứ mang theo đổi lấy ngô và rượu của người trong bản. Cuối cùng, vàng bạc cũng hết, chỉ còn lại một con hạc bằng đồng hun – con hạc cưỡi trên con rùa quay đầu sang bên phải, mà không hiểu sao chúng lại quơ bỏ vào tay nải trong lúc vội vàng. Không có ai chịu đổi cái vật kỳ dị ấy, dù chỉ phải trả một bát ngô hay một mẩu thuốc phiện nhỏ. Cái vật vô tích sự ấy bị nhét vào trong một ống bương rỗng và vứt vào xó lều.
Từ đó, bố con Lấn sống như thú dữ. Chúng mò mẫm vào rừng đi săn, ra nương bẻ trộm ngô của người trong vùng. Khi đó Thân cũng đã tròn mười bảy tuổi. Nó cũng kiếm một chiếc nỏ và vừa đi săn, vừa ăn trộm gia súc của các bản lân cận. Khoảng một năm trôi qua như vậy thì Lấn ốm. Hắn ốm dai dẳng tới sáu tháng trời. Nỗi sợ hãi và ma thiêng nước độc đã tước đi những giọt sức khỏe của hắn. Suốt ngày, Lấn ngồi co ro trong căn lều, vừa ho khù khụ, vừa mơ tưởng đến cuộc đời bá vương ở cái làng Vèn xa lắc…
Một buổi chiều, khi thằng con trai khệ nệ vác một con lợn vừa săn được trong núi về, thì đã thấy bố hắn đang ho rũ rượi từng cơn, trên nền nhà nhớp nháp đờm dãi. Hắn quằn quại và cố hết sức trăng trối mấy câu, giữa những cơn ho đang cào xé trong ngực.
– Mày… phải nhớ là… Phải đòi lại tất cả… Nhiều lắm!… Chúng nó đã ăn cướp… của tao!… Phải… lột da chúng nó ra… rồi đem xát muối vào!… Phải…
Những lời nói ngắt quãng ấy đột ngột bị cắt ngang. Đờm dãi đã kéo lên bịt chặt lấy cổ họng Lấn. Tên địa chủ ấy chết với đôi mắt trợn trừng, như vẫn còn nuối tiếc là đã chưa dặn xong thằng con trai những cách ghê gớm nhất, để trừng phạt những người nông dân đã nổi dậy giành lấy của cải, cơ nghiệp của hắn.
Thằng con lẳng lặng đào một cái hố ở khe núi để chôn bố. Nó dọn tất cả những thứ lặt vặt, kể cả con hạc đồng, rồi tống vào trong một cái nồi đồng sứt mẻ và đem chôn bên cạnh. Sau đó, nó trồng ở đó một cây lim non để làm dấu.
Mấy hôm sau. Thân lầm lũi ra đi. Nó đi theo lời căn dặn của bố: Phải đòi lại tất cả!…
* * *
Sau mấy ngày băng rừng, Thân đã tìm đến một nơi có bọn Pháp và xin đăng lính. Hắn trở thành thằng hầu cho tên quan tư người Pháp, tên là Lô-răng. Cũng chẳng lâu la gì, Lô-răng đã nhận ra những “đức tính” quý báu của tên lính người Việt này và tạo điều kiện cho Thân trở thành một kẻ giết người không run tay. Theo bước chân của tên quan tư Pháp, Thân đã trở thành một con thú dữ có nhiều nợ máu với bà con các dân tộc ở đó.
3
… Ông Hân lại nhồi tiếp một mồi thuốc nữa vào chiếc tẩu của mình:
– Còn về công việc của chú thì sao? Bao giờ mới xong?
– Anh định nói về công việc nào? – Giáo sư Lâm Ninh hỏi lại: – Việc ở biên giới hay ở Tổng cục?
– Tôi muốn hỏi về chuyến đi biên giới ấy. Chắc là vất vả lắm nhỉ?
– Vâng. Cũng khá mệt anh ạ. Nhưng phần khó khăn nhất đã xong rồi. Có lẽ cũng chỉ khoảng một tuần nữa là kết thúc được.
Ông Hân gật đầu:
– Chú phải giữ gìn sức khỏe mới được. Tôi thấy da chú có vẻ xấu quá đấy!
– Vâng! – Giáo sư mỉm cười: – Được cái là em cũng đã quen với những chuyến đi như thế này.
– Nhưng chú đã có tuổi rồi. Chú có thể cử những người khác đi thay cũng được chứ?
– Đúng là như thế. Nhưng đây là một điểm rất quan trọng trong một công trình khoa học lớn, mà em đã làm lâu nay. Do đó, em muốn không để xảy ra một sai sót nào, dù nhỏ nhất.
– À, nếu vậy thì lại là chuyện khác. - Ông Hân nói và đưa tay sửa lại chiếc khuy áo của bộ khuy bốn chiếc, trên cái áo ngủ sang trọng vừa bị tuột ra: – chắc là một công trình lớn lắm phải không chú?
– Vâng. Đó là một đề tài khoa học cấp Nhà nước anh ạ.
Ông Hân gật gù, đưa tẩu lên miệng:
– Vậy người ta sẽ trả cho chú bao nhiêu tiền về công trình ấy?
– Tất nhiên, Nhà nước bao giờ cũng có sự đầu tư thích đáng… Nhưng điều quan trọng nhất là ở chỗ: Công trình khoa học này có ý nghĩa rất lớn. Căn cứ vào đó, người ta có thể vạch ra các chiến lược kinh tế – xã hội cho hàng mấy chục năm sau.
– Tôi hiểu! Tôi hiểu! – Ông Hân gật gù.
Giáo sư Lâm Ninh định nói tiếp. Nhưng chợt nghĩ ra điều gì đó, ông dừng lại.
– Chú cứ nói tiếp đi! – Ông Hân nhẹ nhàng giục: – Chuyện thú vị đấy chứ!
– Thôi, anh đi nghỉ đi. Cũng khuya rồi đấy! – Giáo sư giục: – Với lại, sáng mai em lại phải qua cơ quan một chút…
Hình như ông Hân vẫn chưa muốn dừng câu chuyện, nhưng nể lời giáo sư, ông đành miễn cưỡng đứng dậy…
Họ đi nằm, nhưng giáo sư Lâm Ninh chưa ngủ ngay được. Ông thao thức trong những suy nghĩ miên man. Nhóm khảo sát công trình X.3, rồi những công việc ngày mai ông phải làm với lãnh đạo Tổng cục… Cho đến khi những ý nghĩ đã được sắp xếp lại một cách chặt chẽ, thứ tự trong óc thì ông mới yên tâm thiếp đi.
Trong giấc ngủ hôm ấy, những mảng hồi tưởng lại sống dậy.
… Giáo sư thấy lại mình mới trạc độ hai mươi tư tuổi và đang ở trong công viên Mông-xu-ri một buổi chiều vàng trong suốt. Ông đang cùng một người bạn học tên là Sác-lơ Mi-sen lững thững dạo trên con đường nhỏ, chạy uốn lượn bên hồ nước hình ô-van. Ven bờ có những cây liễu mềm mại, rủ xuống bên những ghế đá nhỏ.
Họ đang tranh luận sôi nổi vì một điều gì đó. Những lập luận của Lâm Ninh đã thuyết phục được Mi-sen. Cậu ta lắc lắc mái đầu xoăn tít và mở to đôi mắt màu xanh đang ánh lên những tia thán phục:
– Cậu lại đúng rồi! Tớ chịu đấy!
Ngày đó, ở trường Mỏ Pa-ri và các trường học nói chung, có rất ít học sinh là người các nước thuộc địa của Pháp được theo học. Họ bị khinh rẻ, bị cô lập và đối xử phân biệt. Mi-sen là một trong số rất ít học sinh người Pháp hiểu rõ và khâm phục khả năng khoa học của Lâm Ninh. Họ trở thành đôi bạn thân thiết và thường có những cuộc đi dạo ở các công viên, các vườn hoa và đôi khi ở cả những quán rượu nữa. Buổi đi dạo ở công viên Mông-xu-ri hôm ấy là lần cuối cùng. Họ sắp chia tay nhau. Lâm Ninh được giữ ở lại trường làm giáo viên. Còn Mi-sen thì đăng lính và xin sang Đông Dương. Cậu ta thích được chu du nhiều nơi trên thế giới.
Đôi bạn ngồi xuống trên một chiếc ghế đá ở ven hồ. Mi-sen móc túi lấy một mẩu bánh mỳ và thong thả dứt ra từng viên nhỏ, ném cho những con thiên nga trắng muốt, đang bơi êm ru trên mặt nước. Lũ chim ấy lướt tới, há những chiếc mỏ đỏ rực, đón những mẩu bánh.
Lâm Ninh móc túi lấy ra con dao nhỏ – vật kỷ niệm của người thợ già ở Hà Nội và đưa cho Mi-sen:
– Xin tặng cậu! Mình không có gì khác cả. Đây là vật mà mình rất quý nó.
Ngẫm nghĩ một lát, anh nói thêm:
– Con dao này là của một người thợ ở Việt Nam tặng mình. Cậu sắp sang đó, mình tặng lại cậu.
Mi-sen mỉm cười ngắm nghía con dao có cán bằng sừng cong cong và hàng chữ khắc hai bên mặt của cán dao. Cậu ta tung nó lên mấy lần, cảm ơn Lâm Ninh và bỏ vào túi.
— Thôi! Tạm biệt! Đến An Nam, tớ sẽ viết thư về cho cậu!
* * *
Một năm sau, Lâm Ninh mới nhận được thư của Mi-sen. Ông vội vã bóc thư và càng đọc, ông càng giận dữ. Đọc xong lá thư, Lâm Ninh không nén được, đã vò nhàu nó và vứt vào sọt rác.
Đó là lá thư của Mi-sen viết từ Việt Nam – một lá thư “sặc mùi thực dân” như Lâm Ninh nhận xét. Suốt đời ông không bao giờ quên cái đoạn kết đầy miệt thị của lá thư ấy:
“… Đến bây giờ thì tớ mới hiểu ra một điều: thì ra An Nam không phải là cậu. Hình như cái xứ sở của muỗi, của vắt, của dịch bệnh và sự lạc hậu này sinh ra là để làm nô lệ, để cho những dân tộc văn minh khác dẫn dắt. Chỉ có đến đây, tớ mới cảm thấy hết được cái sứ mệnh cao cả của người Pháp là phải “khai hóa” cho mảnh đất thuộc địa u tối này (!). Điều đó giống như một định mệnh mà nước Pháp phải gánh lấy…
Nhiều lúc nghĩ lại, tớ cứ băn khoăn tự hỏi: có đúng là cậu đã được sinh ra từ nơi đây? Không! Hình như đã có một sự nhầm lẫn nào đó”…
Chưa bao giờ Lâm Ninh lại phải trăn trở nhiều đến như vậy. Lòng tự hào về Tổ quốc, ý thức trách nhiệm của một nhà khoa học đã lớn dần trong ông và bốn năm sau, khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, ông đã trở về Tổ quốc. Nhiều lúc nghĩ lại, giáo sư cũng cảm thấy kỳ lạ: Trong cái động lực thúc đẩy ông trở về Việt Nam, lá thư của Mi-sen giống như một tia lửa đầu tiên làm cháy cả một thùng thuốc súng.
4
… Một buổi trưa mùa hè năm 1952.
Tên quan tư Lô-răng cho gọi Thân đến. Khi bước vào phòng của Lô-răng, hắn đã thấy trong phòng ngoài tên quan tư, còn có ba người Pháp khác nữa. Bọn chúng đều mặc quần áo nhà binh. Trong số đó, có một tên có mái tóc xoăn tít và nước da trắng hồng như con gái. Tên này đang sôi nổi thảo luận với Lô-răng về một chuyện gì đó. Khi Thân bước vào. bọn chúng ngừng nói chuyện và quay lại chăm chú nhìn tên lính khố đỏ đang đứng nghiêm ở cửa.
Lô-răng đưa mắt chỉ Thân và nói cộc lốc:
– Xe-luy![5]
Ba tên lạ mặt chăm chú ngắm Thân từ đầu đến chân, như khi người ta đang định giá một con vật. Thân cố gắng chịu đựng cái nhìn đó. Hắn đã có đủ kinh nghiệm để hiểu rằng, nên làm hài lòng tất cả các ông chủ người Pháp. Hình như khuôn mặt lì lợm và cái dáng thấp đậm, nhưng rắn chắc của Thân đã làm cho bọn Pháp hài lòng. Chúng gật đầu tỏ vẻ ưng ý và ra hiệu cho hắn tiến đến trước mặt.
Cuộc đối đáp bắt đầu. Một tên hỏi:
– Mày có nói được tiếng Pháp không?
– Bẩm quan, không nhiều lắm.
– Trước kia mày đã ở vùng Lủng Seo?
– Bẩm quan, vâng.
– Mày thuộc đường rừng ở đó chứ?
– Bẩm quan, thuộc.
– Có những người thuộc dân tộc nào ở đó?
– Bẩm quan, có người Mèo và người Dao.
– Từ đây đến Lủng Seo có xa không?
– Bẩm quan, khoảng một tuần trèo núi.
– Tốt lắm!
Tên hỏi Thân gật đầu hài lòng. Thằng lính khố đỏ này tỏ ra có ích cho chúng. Sau đó, chúng hỏi thêm một số câu về thời tiết, khí hậu và những đặc điểm sông suối ở vùng Lủng Seo. Những câu hỏi ấy đều được Thân trả lời ngắn gọn và đầy đủ. Những hiểu biết thu lượm được trong thời kỳ còn phải đi săn bắn và trộm cắp ở Lủng Seo đã tỏ ra có ích cho hắn. Tuy chưa hiểu rõ những quan Pháp này cần gì, nhưng Thân cũng đoán được rằng họ đang muốn đến vùng Lủng Seo.
Do cho Thân vẫn đứng nghiêm chờ lệnh, ba tên Pháp và Lô-răng quay lại thảo luận khá sôi nổi. Tên có mái tóc xoăn liếc nhìn Thân và nói với Lô-răng:
– Đôn-nê-moa-lơ.[6]
Lô-răng gật đầu:
– Bông! Giơ-păng-xơ-kin le-ca-páp-bơ-lơ[7]
– Gi-ơ-păng-xơ ô-xi![8] – Tên tóc xoăn cũng gật đầu, quay lại nhìn Thân và hất hàm ra hiệu cho hắn ngồi xuống. Quan tư Lô-răng bắt đầu giải thích:
– Các quan lớn này muốn mày làm người dẫn đường cho họ về Lủng Seo.
– Bẩm quan, vâng ạ!
– Làm tốt, sẽ được thưởng. Hử?
– Bẩm quan, vâng.
– Nếu mày không làm được, họ sẽ treo cổ mày lên cây đấy. Rõ chưa?
– Bẩm quan, rõ!
– Vậy thì tốt! – Lô-răng gật đầu hài lòng: – Mày chuẩn bị đi. Sáng mai lên đường.
Từ đó, Thân trở thành người dẫn đường và là thằng hầu cho ba tên Pháp. Bọn chúng đến vùng Lủng Seo tìm quặng và sau đó, rừng núi đã nuốt chửng bọn chúng, không để lại dù chỉ một dấu vết…
5
Mấy hôm nay, Lam Giang lên đường đi vào thành phố Hồ Chí Minh. Cô ra đi với một tâm trạng nặng trĩu, do cuộc gặp gỡ với Quốc Vụ để lại. Một cảm giác chua chát, pha cả buồn tủi đọng mãi trong suy nghĩ của cô. Giá như anh ấy đừng trở lại – nếu thế, ít nhất cô cũng có thể tự cho mình cái quyền giữ lại trong lòng một điều gì đó thật ngọt ngào… Nhưng anh ấy đã xử sự thật kỳ lạ. Và ngay cả cô nữa – cô cũng đã hành động một cách thật xa lạ với bản tính của mình. Chính cái sai lầm thứ hai đó đã đẩy họ xa nhau thêm.
Những cay đắng, những giận hờn và một nỗi xót xa ngấm ngầm, giống như một sự sụt lở, cứ vò xé mãi trong lòng Lam Giang. Cô chưa biết rằng: cuộc sống với những sắp đặt kỳ lạ sẽ còn để cho họ gặp lại nhau – nhưng đó là cuộc gặp gỡ trong một hoàn cảnh, éo le giữa những biến động thật dữ dội…
6
Hồ Tây – Một chiều tháng sáu.
Những làn gió sau khi đi qua cái chật chội của thành phố, khi bắt gặp mặt hồ mênh mang đã mừng rỡ thổi dào dạt làm mặt nước dềnh lên những con sóng vàng rực ánh sáng. Mặt hồ như một khuôn mặt ai đó vừa chợt thức, mỉm cười rạng rỡ. Mặt trời vừa lặn đang hắt lên nền trời một vầng hào quang óng ánh, trong suốt một màu vàng chói lọi. Màu vàng ấy được Hồ Tây đón nhận và thoa lên khuôn mặt mênh mông của nó như một thứ kem xoa trong suốt.
Ông Hân thong thả đi dọc con đường Thanh niên, dưới tán lá lao xao bên hồ. Vào những buổi chiều như thế này, trên bờ hồ hầu như không còn một chỗ trống. Người ta ngồi trên ghế đá, ngồi bên gốc cây và ngồi la liệt trên cỏ… Kể từ ngày trở về Việt Nam, chỉ mới có mười ngày mà ông Hân đã tìm đến với những chiều Hồ Tây tới năm, sáu bận. Ông đến Hồ Tây với dáng vẻ thư thái, an nhàn của một người không còn gì phải lo lắng và thích tìm cho mình sự yên tĩnh của hồ nước và cây cỏ. Mỗi lần đến đây, ông Hân thong thả đi bách bộ hết con đường Thanh niên và lại lững thững trở lại, vẫn với dáng đi thoải mái, không chút vội vàng. Trên đoạn đường ấy, bao giờ ông cũng đi qua một gốc si, nơi có một họa sĩ già đang cặm cụi vẽ. Đó là họa sĩ Đào Nguyên Lan đã từng nổi tiếng với các bức tranh vẽ chủ đề sông nước.
Khác với mọi hôm, hôm nay ông Hân không đi lướt qua người vẽ tranh. Ông dừng lại ở phía sau và chăm chú nhìn vào giá vẽ. Ở đó, có một bức tranh ghi lại cảnh Hồ Tây vàng rực ráng chiều khi mặt trời vừa lặn xuống. Màu vàng pha chút ít sắc hồng trên nền vải, trông thật sống động với hồ nước lấp lánh ánh bạc…
– Hồ Tây vàng! – Ông Hân bỗng buột miệng nói và nheo mắt lại: – Ông vẽ đẹp quá!
Người vẽ tranh không quay lại. Ông ta đang chăm chú điểm thêm những nét lướt nhẹ vào góc tranh. Ông Hân tiến lại gần hơn và hỏi bằng giọng nhã nhặn:
– Xin lỗi. Ông có thể bán cho tôi bức tranh này được không?
Đến lúc đó, người vẽ tranh mới ngẩng đầu lên. Đó là một ông già cũng trạc tuổi ông Hân nhưng có mái tóc chỉ mới lốm đốm bạc, phủ dài gần tới vai. Giữa trán ông ta, có một nốt ruồi lớn. Cái nốt ruồi cân đối đến mức kỳ lạ, chia lông mày hai phần đều nhau.
– Tôi muốn mua bức tranh này! – Ông Hân nhắc lại và chăm chú nhìn vào giá vẽ: – Ông vẽ đẹp lắm!
– Tôi không vẽ tranh để bán. – Họa sĩ nói.
Nhưng ông Hân vẫn kiên nhẫn:
– Ông làm ơn. Tôi thích bức tranh này?
– Cũng được! – Đào Nguyên Lan bỗng gật đầu: – Nhưng ngày mai ông hãy lấy. Để cho tranh khô đã. Với lại, tôi còn làm khung.
– Không cần. Nhưng tôi muốn đề nghị ông vẽ thêm cho tôi một chi tiết nhỏ nữa. – Ông Hân nói và chỉ tay vào góc bức tranh: – Ông vẽ giúp cho một chiếc thuyền nhỏ với đôi trai gái ngồi ở trên. Thuyền không có buồm.
Đôi vai của người họa sĩ thoáng rung lên. Ông ta quay ngoắt đi và nói:
– Xin lỗi. Tôi không thể! Tôi không muốn vẽ thêm bất cứ cái gì vào đây nữa. Tùy ông…
– Thế cũng được! – Ông Hân vội nói và hỏi thêm: - Tôi sẽ phải trả ông bao nhiêu cho bức tranh này?
– Năm nghìn rưỡi. – Họa sĩ trả lời không một chút đắn đo. Dường như ông ta đã thầm nhẩm tính giá bức tranh của mình từ trước.
– Vâng. Bao giờ tôi được lấy?
– Trưa mai. Đây. Mời ông đến số nhà này. – Họa sĩ nói và ghi vài dòng vào một mảnh giấy nhỏ. Ông Hân lơ đãng đón lấy và cho vào túi áo, trong lúc họa sĩ cũng bắt đầu thu dọn giá vẽ của mình.
7
Giáo sư Lâm Ninh hài lòng nhìn lên tấm bản đồ lớn treo trước mặt. Trên tấm bản đồ đó, hàng trăm những ký hiệu lớn bé với những màu sắc khác nhau trông hết sức rối rắm. Người không có chuyên môn sẽ không thể hình dung được giá trị to lớn của tấm bản đồ ấy. Đó là một đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước do giáo sư và những người cộng sự của ông kiên trì tiến hành qua hàng chục năm nay.
Chỉ ít ngày nữa, công trình này sẽ được chính thức báo cáo. Do yêu cầu gấp rút của công việc, giáo sư Lâm Ninh phải ở lại Hà Nội. Theo đề nghị của ông, Tổng Cục địa chất đã đồng ý cử kỹ sư Văn Nhạc làm người phụ trách tạm thời nhóm khảo sát ở vùng Lủng Seo trong thời gian giáo sư còn vắng mặt.
Tấm bản đồ ấy là công trình khoa học mang bí số X3.
8
… Họ thân ái nắm chặt tay nhau. Lam Giang mỉm cười:
– Thôi. Tạm biệt Ngọc Yến nhé! Một lần nữa xin cảm ơn bạn!
– Kìa. Có gì đâu hả chị. – Cô gái có tên là Ngọc Yến mỉm cười: – Chị Lam Giang đi mạnh giỏi nghen! Hẹn ngày gặp lại chị!
Giây phút tiễn đưa thật lưu luyến. Cả hai cô gái đều tránh nhìn vào mắt nhau. Nỗi buồn tự nhiên ập đến xao động trong lòng họ…
* * *
Trong những ngày vào công tác ở thành phố Hồ Chí Minh, Ban biên tập một tờ báo đã cử nữ phóng viên của mình, tên là Ngọc Yến, cùng đi với Lam Giang. Công việc đã gắn bó họ với nhau rất nhanh chóng. Ngọc Yến là một cô gái trẻ, hồn nhiên và chân thành. Cô yêu, ghét bộc trực và ít khi che giấu những cảm xúc của mình. Theo cách nói của bạn bè, Ngọc Yến là “một tính cách rất Nam Bộ”. Cô chưa được ra Bắc và chỉ biết Hà Nội qua tranh ảnh, sách báo. Cô vẫn thường mơ ước có dịp được tới thăm Hồ Gươm, thăm quảng trường Ba Đình và vào lăng viếng Bác.
Qua những lần tâm sự, Lam Giang được biết Ngọc Yến sinh ra từ một gia đình “cách mạng gốc”. Bố cô là một liệt sĩ đã hy sinh từ năm 1965. Bà Chín Tâm – mẹ cô là một cơ sở kiên trung của cách mạng trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ. Ngoài một người anh ruột hiện đang công tác tại Ủy ban Nhân dân thành phố Hồ Chí Minh. Ngọc Yến còn có một chị gái đã chết từ năm 1973, để lại một cháu gái, hiện nay cũng đã mười lăm tuổi tên là Hồng Ngọc.
Lam Giang cũng đã có dịp đến thăm gia đình Ngọc Yến ở đường Lê Đại Hành. Bà Chín Tâm là một phụ nữ cởi mở. Bà coi Lam Giang như con mình và thủ thỉ kể cho cô nghe về những năm tháng ác liệt của cuộc chiến tranh, về những mất mát của gia đình mình. Trong những chuyện đó, Lam Giang nhớ mãi câu chuyện về cái chết đau đớn của Hương Thu – người chị của Ngọc Yến.
… Khi còn là sinh viên theo học ở một trường đại học trong thành phố Sài Gòn, Hương Thu đã đem lòng yêu một sinh viên học cùng trường với cô tên là Tuấn Nghĩa. Đó là một chàng trai dũng cảm, luôn luôn đi đầu trong phong trào đấu tranh với chính quyền ngụy.
Hương Thu và bạn bè của cô không biết rằng, bên trong cái vẻ hăng hái đấu tranh ấy, Tuấn Nghĩa thực chất là một tên chỉ điểm lợi hại, được kẻ thù gài vào để phá hoại phong trào đấu tranh của sinh viên. Chính vì tên chỉ điểm đó mà những người tích cực nhất trong phong trào đã bị kẻ thù vây bắt trong khi họ đang chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh mới. Tất nhiên, Tuấn Nghĩa là một trong số rất ít người đã “may mắn” thoát khỏi cuộc khủng bố. Hắn đến “trú ngụ” ở nhà bà Chín Tâm một thời gian và sau đó đã cưới Hương Thu, lúc đó cũng đã bị đuổi học. Cô ở nhà phụ thêm với mẹ, mở một quán ăn nhỏ. Khi Hương Thu sinh cháu Hồng Ngọc thì Tuấn Nghĩa cũng xin được việc làm ở một nhà máy và thường xuyên vắng nhà.
Trong cuộc tấn công và nổi dậy của quân và dân ta năm 1972, do một sự tình cờ, Hương Thu mới biết rằng Tuấn Nghĩa là một tên chỉ điểm khốn nạn. Sự thật phũ phàng đó đã trở thành một đòn tinh thần quá nặng đối với cô. Hương Thu đã uống thuốc độc tự tử và gửi lại cháu bé Hồng Ngọc khi đó vừa tròn hai tuổi, cùng một lá thư trăng trối cho mẹ và em. Còn Tuấn Nghĩa đã biến mất ngay từ dạo đó. Có lẽ, hắn đã bỏ xác ở một nơi nào đó trong những ngày nóng bỏng, khi Quân giải phóng giáng những đòn kinh hồn vào chính quyền Ngụy.
Lam Giang còn nhớ rõ những cảm giác của mình khi vừa nhìn thấy cháu bé Hồng Ngọc. Mới thoạt nhìn, cô đã cảm thấy là đã từng gặp ở đâu đó một khuôn mặt như thế. Nhưng đó là ai thì cô không thể nhớ ra ngay được! Hoặc cũng có thể đó chỉ là cảm giác, bởi vì cô đã quá xúc động với câu chuyện thương tâm ấy. Lam Giang thầm nghĩ và thấy hài lòng với cách giải thích ấy.
Thế nhưng khi đã ngồi trên máy bay để trở về Hà Nội, Lam Giang lại chợt nhớ đến khuôn mặt của cháu bé Hồng Ngọc và câu hỏi lại trở lại trong cô. Cô thầm nghĩ: Bao giờ có dịp trở lại thành phố Hồ Chí Minh, cô sẽ thử tìm hiểu kỹ chuyện đó. Biết đâu, đây lại chẳng là một câu chuyện đầy bất ngờ và lý thú.
Lam Giang chưa biết rằng linh cảm đó của cô là hoàn toàn chính xác và cô cũng không phải chờ đợi lâu. Lời giải đáp đã đến với cô sớm hơn cô tưởng và đó là một câu chuyện không hề thú vị một chút nào…
9
Chừng như cũng đã chán với những buổi chiều Hồ Tây, sau khi bán được cho ông Hân bức tranh với giá năm nghìn rưỡi, họa sĩ Đào Nguyên Lan mang theo giá vẽ và túi đồ nghề, bắt đầu một chuyến du ngoạn để tìm cảnh đẹp cho tác phẩm của mình. Ông ta lên xe ca ở Bến Nứa và đi về phía Bắc.
Rất ít người được biết về chuyến đi ấy. Chỉ có bà vợ của họa sĩ được báo là ông ta sẽ đi xa, nhưng chính bà cũng không biết là chồng mình sẽ đi đâu.
10
Sau mỗi chuyến đi xa về, bao giờ Lam Giang cũng ghé lại nhà Linh Chi. Đó là một thói quen đã thành nếp của cô. Với người bạn gái thân thiết ấy, Lam Giang có thể nói hết được những điều thầm kín nhất…
Khi Lam Giang bắt đầu rẽ xe xuống cái ngõ dốc để vào nhà Linh Chi, bỗng nhiên một cảm giác là lạ, làm cho cô quay ngoắt lại. Có ai đó đang chăm chú nhìn cô – Lam Giang cảm thấy rõ như vậy. Nhưng cô không nhận thấy có gì lạ cả. Con đường Đê La Thành vẫn tấp nập người qua lại như thế. Ở trước cửa một quán nước gần đó, vài ba chiếc xích lô với những người chủ xe đang ngủ gà gật đợi khách. Bên kia đường, một đôi trai gái vừa xuống xe và vui vẻ kéo nhau vào một cửa hiệu bán thời trang. Gần đó, mấy đứa trẻ đang cãi nhau chi chóe và giơ cao những con quay gỗ, giáng xuống đất…
“Thật kỳ lạ! Chả lẽ thần kinh của mình dạo này lại yếu đến thế”? – Lam Giang nghĩ thầm và dắt xe đạp xuống dốc. Tuy cô đã tự trấn an mình, nhưng vẫn có một nỗi lo lắng mơ hồ lởn vởn trong dòng suy nghĩ mà cô không thể giải thích được…
11
Dạo này, đại tá Lê Hữu thức khuya hơn. Những thông báo dồn dập gửi về, ngày càng cung cấp thêm những chi tiết, làm cho chuyên án trở nên phức tạp. Những chi tiết có khi chỉ rất nhỏ, nhưng đã làm đảo lộn mọi dự kiến của Lê Hữu và những người cộng sự của ông, buộc họ lại phải sắp xếp lại từ đầu…
Nhưng cũng giống như những mảnh vỡ của một vật thể được nhặt nhạnh từ những địa điểm khác nhau, những chi tiết vẫn đang được khớp nối một cách cần mẫn và đại tá Lê Hữu tin chắc rằng: Nhất định họ sẽ dựng lại được cái hình dáng đích thực của vật thể đó.
Cần phải kiên nhẫn hơn nữa!

