Theo Vết Con Hạc Cổ - Chương 5
1
Vầng trăng tròn vạnh, rực sáng như chiếc mâm đồng vừa được đánh bóng treo lơ lửng trên núi rừng. Ánh trăng phủ lên những ngọn núi bập bềnh sương trắng, mờ ảo như mơ. Cùng với màu trắng huyền thoại ấy, gió cũng đang dào dạt thổi lướt trên những cánh rừng, những hang núi và những đồi cỏ tranh, làm sống dậy những âm thanh, giống như một dàn đồng ca với rất nhiều giọng trầm bổng.
Văn Nhạc chợt tỉnh giấc. Anh nhìn đồng hồ. Kim dạ quang chỉ hai giờ sáng. Trong lều tĩnh lặng và ấm áp. Ở một góc, Xuân Sáu đang bình thản thở những hơi thật sâu. Ở một góc khác, Quốc Hưng và Thào Seo Sình đang gác chân lên nhau trông thật thân ái. Mấy hôm nay, Seo Sình thường hay ở lại ngủ đêm trong lều của nhóm khảo sát. Cậu ta và Quốc Hưng đã trở thành một đôi bạn thân – cái thân thiết tự nhiên của tuổi trẻ.
Tính cho đến hôm nay, họ đã ở đây được gần nửa tháng. Sau khi giáo sư Lâm Ninh trở về Hà Nội, họ đã tiến hành thêm được một số công việc cần thiết nữa. Tuy vậy, vẫn còn một điểm trong kế hoạch mà họ chưa đến được: Rừng Tả Cừ.
Lão thầy mo Thào A Lẩu đã thuyết phục được cụ Thào Seo Páo, không cho nhóm khảo sát đến rừng Tả Cừ – khu rừng cấm của bản Phùng ở Lủng Seo. Chiều nay, Seo Sình từ trong bản tới đây cho biết: Cho đến giờ phút này, cụ trưởng bản vẫn chưa thay đổi ý kiến đó. Qua Seo Sình, họ được biết lão thầy mo lâu nay vẫn ngấm ngầm kích động dân bản chống lại nhóm khảo sát. Điều đó cũng dễ hiểu, bởi vì những nhà khoa học đang tạo ra nguy cơ tước mất trong tay hắn những sức mạnh và quyền lực linh thiêng đã bao đời ngự trị ở đây. Nhiều gia đình người H’mông ở bản Phùng đang có quan hệ tốt với các thành viên trong nhóm khảo sát, bỗng nhiên xa lánh họ. Văn Nhạc đã vài lần đi vào bản, nhưng nhác thấy bóng anh, chủ nhà đã vội cắm lên trước cổng nhà họ những cành lá xanh. Dấu hiệu khước từ đáng lo ngại đó, đã báo hiệu những khó khăn mới, có thể ảnh hưởng không nhỏ đến công việc. Giáo sư Lâm Ninh trở về Hà Nội vẫn chưa trở lại. Giá như có ông ở đây – chắc chắn ông sẽ vượt qua được những khó khăn như thế này một cách dễ dàng hơn nhiều.
Nhưng dù sao thì họ cũng phải vượt qua. Đó là cách duy nhất để hoàn thành những công việc cuối cùng của nhóm. Họ phải vào rừng Tả Cừ bằng được. Những dấu hiệu thu được đã cho thấy chắc chắn đồi Tả Cừ phải là một điểm quặng lộ thiên duy nhất ở vùng Lủng Seo. Có lẽ do đặc điểm này nên những nhân vật trong truyền thuyết về tên vua người H’mông Cháng Nhè Xính có chín người vợ và sau đó là đôi vợ chồng A Sử và Ly Pla đều không sinh được một mụn con lành lặn nào.
Văn Nhạc thầm quyết định sớm mai sẽ cùng Seo Sình quay trở lại bản Phùng một lần nữa. Bằng mọi cách, anh phải thuyết phục cụ Thào Seo Páo đồng ý cho nhóm khảo sát đến rừng Tả Cừ. Họ không có nhiều thời gian nữa.
… Văn Nhạc chợt thấy thèm thuốc. Anh lục lọi hồi lâu trong các túi áo và tìm được một mẩu thuốc lá chỉ ngắn bằng đốt ngón tay. Không muốn làm các bạn tỉnh giấc. Văn Nhạc bật lửa châm thuốc rồi chui ra khỏi lều. Trong giây lát, anh cảm thấy ngỡ ngàng trước vẻ đẹp kỳ ảo của vùng Lủng Seo và dãy Đá xanh dưới ánh trăng tỏa sáng. Anh khoan khoái hít cái không khí gờn gợn lạnh của núi rừng và đi xuống bờ suối, ngồi lên tảng đá quen thuộc.
Ngồi được một lát, Văn Nhạc bỗng thấy lạnh. Anh đưa tay định cài hàng khuy áo đang khoác hờ trên vai. Bỗng, một làn gió thổi tới mang theo những âm thanh kỳ lạ làm cho các ngón tay anh dừng lại trên khuy áo.
Đó là những tiếng trống, tiếng chiêng, âm vang thúc giục, đang trào lên âm âm trong gió!
Hôm trước, sau khi từ trong núi trở về, giáo sư Lâm Ninh cũng đã từng nói về hiện tượng lạ lùng này. Ông cho rằng những âm thanh này hoàn toàn có nguồn gốc từ bàn tay con người tạo ra. Nhưng ai có thể thức dậy vào lúc nửa đêm để đi vào trong núi khua chiêng, gõ trống như vậy? Về điều đó, chính giáo sư cũng chưa biết.
Một ham muốn hiểu biết bất ngờ trỗi dậy trong Văn Nhạc. Anh đứng bật dậy, trở lại lều và nhẹ nhàng cầm lấy khẩu súng săn của Seo Sình. Theo hướng những âm thanh, anh bước đi một cách thận trọng.
Những âm thanh ấy đang vang vang từ phía đồi Tả Cừ.
2
Những lập luận về mối liên quan giữa vụ mất trộm đồ cổ ở nhà ông Dần và tên Hiệp đã bị giết chết, do trung úy Thế An nêu lên, đã được đại tá chấp nhận. Ông đề ra hướng triển khai tiếp là phải truy tìm tên Cường và tên hàn xoong nồi thuận tay trái. Thế An được giao nhiệm vụ phối hợp với đội bảo vệ cổ vật của công an các thành phố lớn lần theo bọn chúng.
Riêng đại úy Trần Vinh, Lê Hữu giao cho anh một nhiệm vụ đặc biệt tại các tỉnh phía Nam, ngay từ những ngày đầu triển khai công việc. Sau thời gian hơn mười ngày làm việc ở đó, anh vừa trở lại và xin làm việc gấp với đại tá. Chuyến công tác của anh đã thu được kết quả đặc biệt. Với kết quả đó, những tình huống mới đã nảy sinh, đòi hỏi những người chỉ đạo chuyên án phải xử trí thật linh hoạt.
3
Ông Thống choàng tỉnh. Mồ hôi tứa ra ướt đầm đìa khắp người. Ông vội đạp tung tấm chăn, nhoài ra cửa lều.
Cơn mê sảng dữ dội vừa qua đã bóp nghẹt lấy ông. Nếu ông không kịp tỉnh giấc, có lẽ “con ma tóc dài” ấy đã bóp cổ ông đến chết ngạt bằng đôi tay dài gớm ghiếc đầy những móng sắc của nó!
Hình như ông đang ốm!
Đúng là ông đang ốm thật. Bát mèn mén[9] từ chiều qua, ông vẫn không đụng tới, nằm lạnh ngắt ở góc nhà. Bỗng nhiên, ông cảm thấy khát. Khát ghê gớm! ông chồm dậy, với cái ống nước dựng ở góc nhà, ngửa cổ tu ừng ực từng hớp lớn.
Cơn sốt làm cho các ngón tay run run. Ông Thống nặng nề ngả người xuống cái sạp nứa cũ kỹ. Rồi ông lại nhổm dậy và đưa tay xuống dưới sạp quờ quạng lôi ra một ống bương đen bóng, có nắp đậy. Ông run run mở nắp và dốc từ trong đó ra một vật bọc trong những lớp giẻ bẩn thỉu.
Bốn mươi năm đã qua, nhưng chỉ có một đôi lần ông Thống giở ra, ngắm nghía cái kỷ vật xa xưa ấy…
Mấy ngày trước, nhân lúc nhóm khảo sát còn đang nghỉ ngơi để chờ dịp vào rừng Tả Cừ. Ông Thống đã tranh thủ đi xuống thị trấn H. quen thuộc để mua sắm vài thứ cần thiết. Đến nơi, ông lại ghé vào quán bà Cả Chúc, ăn hai bát phở. Chính ở đây. Ông đã gặp cái điều mà ông không ngờ tới. Đúng hơn, đó là điều mà ông ít nghĩ tới nhất.
Khi ông Thống đã ăn xong và bước tới bên quầy hàng lủng củng dao thớt, với bà chủ quán to béo, ngồi bên trong để trả tiền, bỗng có một ai đó nhẹ nhàng tiến đến từ phía sau lưng ông và thì thầm một câu bằng tiếng Pháp “bồi”.
– Bông-dua-me-xừ![10]
Ông Thống giật mình, nhưng ngay sau đó đã trấn tĩnh lại được và điềm nhiên trả tiền. Ông cố ý kéo dài thời gian nhưng kẻ đứng sau lưng ông vẫn kiên nhẫn chờ đợi. Một khoảng im lặng nặng nề trôi qua và cuối cùng ông Thống đành miễn cưỡng quay đầu lại.
Một mái tóc đã lốm đốm bạc, phủ dài xuống hai vai. Một nốt ruồi lớn cân đối ở trán, chia lông mày ra làm hai phần đều nhau. Người đứng trước mặt ông Thống đang mỉm cười và nói bằng cái giọng thân mật, có pha những tiếng Pháp “bồi”.
– Thế nào “toa” không nhận ra “moa” sao?
Không – ông Thống làm sao có thể quên hắn được! Hơn ba mươi năm trước, tên lính có nốt ruồi đặc biệt ở giữa trán ấy, cũng là một tên hầu tin cẩn của tên quan tư Lô-răng. Chỉ có một điều là hắn ít khi phải theo Lô-răng trong những cuộc tàn sát mà thường được ở lại đồn hầu hạ, xoa bóp cho mụ vợ to béo của lão. Sau năm 1954, hắn đã bỏ trốn biệt tăm. Nhưng điều bất ngờ nhất đối với ông Thống bây giờ là: Hắn cũng có trong tay đồng xu bằng bạc có chạm nổi hình chúa Giê-xu đang bị đóng đinh câu rút.
Thống có nhiệm vụ phải thi hành mệnh lệnh của người có trong tay vật đó.
4
Bức điện khẩn của đại úy Quốc Vụ từ biên giới gửi về, đã cung cấp thêm một chi tiết quan trọng, bổ sung vào hướng điều tra của đội chuyên án. Cũng trong bức điện đó, Quốc Vụ đã thông báo cho đại tá Lê Hữu biết phương án bảo vệ của công an tỉnh, nơi nhóm khảo sát đang làm việc. Tổ công tác đặc biệt gồm ba người, do thượng úy Nguyễn Văn Cảnh chỉ huy, cùng hai chiến sĩ Hùng và Hạnh đã lên đường đi đến Lủng Seo. Họ phối hợp với lực lượng tự vệ của xã Tà Khay để triển khai những công việc cần thiết. Đã có những dấu hiệu cho thấy bọn phản động bên kia biên giới đã chú ý đến hoạt động của nhóm khảo sát. Cần phải chủ động đề phòng những tình huống xấu nhất.
* * *
Một lực lượng vũ trang gồm ba mươi người dưới sự chỉ huy trực tiếp của thượng úy Nguyễn Văn Cảnh đã bí mật tiếp cận vùng Lủng Seo. Một vành đai bảo vệ đã được giăng dọc theo dãy Đá xanh và sẵn sàng chờ đón bọn xâm lấn, nếu chúng liều mạng mò sang. Những ngả đường xung yếu vào Lủng Seo đều đã được bịt kín. Trên bản đồ tác chiến của công an tỉnh, phối hợp với lực lượng biên phòng, vùng Lủng Seo đã được khoanh lại bằng một vòng tròn đỏ.
* * *
Những kết quả thu được trong chuyến công tác ở thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền Tây Nam bộ của đại úy Trần Vinh đã có một ý nghĩa hết sức quan trọng.
Phối hợp với bộ phận nghiệp vụ ở các địa phương, Trần Vinh đã kiên trì lần ra những đoạn rời rạc của một sợi chỉ dài bị đứt, do những biến động của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Anh đã lục lọi hàng núi hồ sơ, đã tìm gặp và hỏi chuyện hàng chục nhân chứng, có những nhân chứng trước kia phục vụ trong chính quyền ngụy và cả những nhân chứng hiện đang là đối tượng bị giam giữ cải tạo.
Với khả năng phân tích sắc sảo, Trần Vinh đã chắp nối những chi tiết có liên quan đến công việc mà anh đang phải tiến hành và cuối cùng đã có trong tay sợi chỉ ấy. Đó là một bản lý lịch chỉ dài vài ba trang về cuộc đời của một con người mà đại tá Lê Hữu quan tâm.
Kết quả của công việc đó đã chứng minh cho linh cảm kỳ lạ của đại tá. Sau buổi làm việc, ông giao cho Trần Vinh một nhiệm vụ mới. Nhiệm vụ ấy có vẻ nhẹ nhàng, nhưng thực ra hết sức phức tạp và đòi hỏi người thực hiện phải có sự linh hoạt và nhạy bén cao độ…
5
Sau chuyến đi thị trấn H. ông Thống trở về Lủng Seo với một tâm trạng lo âu. Có lẽ, chính nỗi lo lắng ấy đã trở thành cơn mê sảng ban nãy. Ông Thống thấy mình trong hang Ma từ hơn ba mươi năm trước. Con ma tóc dài thoáng hiện ra qua ánh đèn pin và sau đó là cái chết ập đến, dữ dội. Những người đi trước Thống bỗng gào rú thê thảm và gục xuống. Còn Thống thì nhắm mắt, lia bừa một loạt đạn về phía trước, rồi vứt súng nhào ra khỏi hang. Hắn chạy trong một nỗi tuyệt vọng, vì biết rằng con ma tóc dài đang đuổi theo sau lưng. Hắn vấp ngã, va đầu vào vách đá, nhưng cuối cùng cũng lao ra được tới cửa hang. Từ đó, hắn lách rừng, quay trở lại với tên quan tư Lô- răng trong bộ dạng xơ xác thảm hại.
* * *
Cái vật nhỏ mà Thống lấy ra từ trong ống nứa cũ, có nắp đậy là một con hạc cổ bằng đồng hun, đứng trên lưng con rùa ngoảnh đầu sang bên phải.
Đến đây, chắc bạn đọc cũng đã có thể đoán ra rằng: ông Thống – người dẫn đường cho nhóm khảo sát địa chất của giáo sư Lâm Ninh ở Lủng Seo cũng chính là Thân – đứa con trai thứ hai của tên địa chủ Lấn ở làng Vèn thuở trước. Chính hắn là tên lính khố đỏ, được tên quan tư Pháp Lô-răng giao cho nhiệm vụ, dẫn một nhóm khảo sát gồm ba tên Pháp đến vùng Lủng Seo này từ năm 1952 (để bạn đọc tiện theo dõi, từ đây xin gọi hắn bằng tên thật).
… Thân run run ngắm nghía cái cổ vật đã gắn liền với một quá khứ đầy tội ác của bố con hắn. Cái quá khứ ấy, hắn đã tạm thời quên đi từ hai mươi năm nay – từ ngày hắn từ bên kia biên giới lặng lẽ vượt núi trở về… Ở cái xứ đèo heo hút gió này, hắn âm thầm chấp nhận một cuộc sống cô độc bên những người H’mông. Hắn hiểu rằng dưới con mắt của họ, hắn chỉ là một ông già người Kinh, do một số phận ngẫu nhiên đã sống quá lâu năm ở rừng và thích sống mãi như thế. Không ai biết đến quá khứ của hắn.
Bất chợt, bàn tay đang ve vuốt trên con hạc cổ bỗng dừng lại. Thân ngồi phắt dậy, chăm chú quan sát và sau đó lấy dao nhíp ra. Hắn lật ngửa con hạc và đưa mũi dao chọc nhẹ ở dưới bụng con rùa.
Một vật tròn nhỏ chỉ bằng ngón tay được mũi dao tách ra từ bụng con rùa và để lộ một cái lỗ nhỏ, có đường kính khoảng một cen-ti-mét, ăn sâu vào trong. Thân lấy mũi dao chọc thử, nhưng trong cái lỗ nhỏ dưới bụng con rùa không còn chứa vật gì khác. Còn cái vật nhỏ được lấy ra ban đầu, chỉ là một cục sáp đen mà ai đó đã dùng nó để bịt kín miệng cái lỗ nhỏ.
Thống bần thần quan sát. Cái lỗ ở dưới bụng con rùa, có lẽ đã được tạo ra ngay từ khi người thợ đúc nên cổ vật này.
Cũng có thể ngày xưa, cái lỗ đó là nơi để vàng, vì theo quan niệm của người xưa, chỉ khi nào đã được “yểm” vàng, vật đem thờ cúng mới linh thiêng.
Chính trong lúc đó, một ý định đã nảy ra trong đầu Thân. Hắn gật gù hài lòng và cẩn thận nhặt cục sáp nhỏ vừa được lấy ra từ bụng con rùa cho vào một mảnh giấy và cẩn thận gói lại…
6
… Men theo dòng suối một lúc, Văn Nhạc lội qua một chỗ cạn hơn và hướng về phía đồi Tả Cừ.
Càng đi, Văn Nhạc lại càng nhận ra rất rõ một điều là: Nếu đứng ở phía lều của nhóm khảo sát, những âm thanh hình như đang vọng ra từ đồi Tả Cừ. Nhưng khi đã đến gần ngọn đồi có khu rừng rậm rạp ấy thì những âm thanh lại đang bay ra từ hướng dãy Đá xanh.
Vượt qua con suối nhỏ chảy vòng vèo dưới chân đồi Tả Cử. Văn Nhạc hướng về phía dãy núi đi tiếp. Bất chợt, anh dừng lại.
Lẫn trong những âm thanh của rừng, Văn Nhạc đã nhận thấy một tiếng động khác: Có một con vật khá lớn, vừa đạp gãy cành cây trước mặt anh, làm cho một chú gà rừng ngay gần đó hoảng hốt, lao vút ra khỏi bụi rậm.
Nép mình vào một gốc cây lớn ở ngay chân đồi Tả Cừ, Văn Nhạc căng mắt quan sát. Vầng trăng vằng vặc đang tỏa ánh sáng hào phóng của nó lên mọi nơi. Nhưng ở trong rừng Tả Cừ, ánh trăng loang lổ do những tán lá rậm rạp cản lại. Sau khi im lặng quan sát một lúc, Văn Nhạc đã cảm thấy rất rõ: Có một con thú lớn đang lảng vảng quanh đâu đây. Nó giẫm rào rạc trên lá khô với những bước đi rất lạ. Những bụi cây rậm rạp đã cản ánh mắt nhìn, nhưng Văn Nhạc vẫn nghe thấy những bước chân nằng nặng. Có lẽ, đó là một con gấu – ý nghĩ ấy làm cho Văn Nhạc càng thận trọng hơn.
Bây giờ, những bước chân nghe rõ mồn một đang tiến thẳng về phía anh. Văn Nhạc, xem xét lại khẩu súng và lặng lẽ chờ đợi. Những bước chân của con thú dữ đã đến rất gần. Bàn tay cầm súng của Văn Nhạc rung lên. Cần phải bắn thật trúng đích và chỉ cần một phát thật trúng…
7
Thào Seo Sình quơ tay sang bên cạnh và ôm chặt lấy Quốc Hưng. Nhưng đôi tai thính như tai thú rừng của anh đã nhận thấy những âm thanh kỳ lạ đang vang vọng mơ hồ trong tiếng gió.
Một phút lưỡng lự và Seo Sình choàng dậy. Anh đã tỉnh ngủ hẳn. Khẩu súng để bên cạnh không còn nữa. Seo Sình dụi mắt nhìn kỹ. Xuân Sáu và Quốc Hưng vẫn đang ngủ say sưa, nhưng riêng chỗ nằm của Văn Nhạc thì bỏ trống.
Anh ấy đi đâu? Tại sao lại đi vào giờ này? Những câu hỏi thít chặt lấy Seo Sình. Nỗi lo lắng cho anh cán bộ địa chất đã thắng được nỗi sợ cố hữu trong lòng người thanh niên H’mông. Không đắn đo, Seo Sình rút con dao đi rừng vẫn giắt ở thắt lưng ra cầm tay và nhảy bổ ra khỏi lều. Những dấu vết của Văn Nhạc để lại dù nhỏ, nhưng cũng đủ cho Seo Sình mải miết lần theo…
Đã đến gần đồi Tả Cừ. Một sự im lặng khác thường tạo cho anh một cảm giác lo ngại. Sau một thoáng do dự, Seo Sình lội qua dòng suối nhỏ và rẽ lá đi vào khu rừng cấm – điều mà trước đây chưa bao giờ anh dám nghĩ tới. Đang mải miết lần theo những dấu vết của Văn Nhạc, bỗng Seo Sình ngồi thụp xuống. Bàn tay trên cán dao từ từ siết chặt. Có tiếng ho khan đùng đục vừa vang lên cụt lủn. Sau đó, một bóng người chập chờn lướt qua khoảng đất trống sáng ánh trăng. Nếu như không có tiếng ho ấy, Seo Sình sẽ nghĩ đây là một “con ma” đang đi lang thang. Cái bóng bí ẩn đó chỉ hiện ra trong một thoáng, nhưng cũng đủ để Seo Sình khẳng định không phải là Văn Nhạc.
Hắn là ai? Kẻ nào trong đêm dám đột nhập vào khu rừng cấm của người H’mông ở bản Phùng? Một người lạ chắc chắn không dám đi một mình trong rừng như thế này. Đây phải là một kẻ đã từng thuộc đường đi lối lại của vùng này. Nếu căn cứ theo hướng đi của hắn, có thể nhận thấy bóng đen đang đi xuống phía dòng suối chảy về vũng cây lim.
Cần phải bám sát hắn.
Seo Sình thầm nghĩ và nhổm dậy. Nhưng anh chợt đứng sững. Một bóng đen thứ hai vừa rẽ lá nhô ra ngay trước mặt anh. Khoảng cách gần đến nỗi chỉ một thoáng ánh trăng lướt qua, Seo Sình đã nhận ngay ra hắn.
Đó là lão thầy mo Thào A Lẩu với cái dáng người gầy đét và đôi tay khẳng khiu dài như tay vượn.
8
… Tiếng động của con thú đến cách Văn Nhạc khoảng dăm bước chân, bỗng dừng lại.
Con vật đã đánh hơi thấy đối thủ và có lẽ nó đang chuẩn bị tấn công. Cần phải hành động trước. Đó là phương án đúng đắn nhất, trong khi nó còn chưa nhìn thấy anh. Văn Nhạc nhẹ nhàng quỳ một chân xuống và ghì chắc súng vào bả vai.
Đúng lúc ấy, Văn Nhạc bỗng nghe thấy có tiếng con vật dũi đất lạo xạo. Nếu vậy thì có nghĩa là con vật chưa biết đến sự có mặt của anh và đang yên tâm tìm mồi. Phát hiện đó làm cho Văn Nhạc thở phào nhẹ nhõm. Cần phải tránh xa con vật nguy hiểm ấy. Văn Nhạc nghĩ và đã định quay trở lại thì anh lại nghe thấy tiếng động và một bóng người rẽ lá loạt soạt đi qua trước mặt anh, bằng những bước chân nằng nặng mà ban nãy anh nhầm tưởng đó là một con gấu. Người đó gần đến nỗi, giá như nếu đưa tay ra, Văn Nhạc sẽ nắm được tay áo của hắn. Đó là một con người quen thuộc mà khi khuôn mặt lì lợm của hắn vừa bất chợt hiện ra, Văn Nhạc đã suýt kêu lên vì ngạc nhiên: ông Thống!
Thống – hay chính xác hơn là Thân, không thể ngờ được sự có mặt của người kỹ sư địa chất, ở ngay cạnh mình. Tay cầm ngang khẩu súng săn, tay kia hắn cầm một cây gậy ngắn. Cứ đi được một quãng, hắn lại dừng lại và dùng đầu gậy gạt lá, chọc chọc xuống mặt đất với một sự chăm chú đặc biệt. Ở chân hắn là một đôi giày da to – loại giày “săng đá” mà có lẽ tuổi thọ của nó cũng không dưới ba chục năm. Như vậy, huyền thoại về những vết giày đinh của những “con ma thằng Pháp” đi lang thang trong rừng để tìm quặng đã có cơ sở hiện thực. Nhưng chắc chắn không phải là Thân đang đi tìm quặng. Hắn đang đi tìm kiếm một vật nào đó mà có lẽ chính hắn cũng không còn hy vọng tìm thấy. Nếu căn cứ vào những lời kể lại của bà con H’mông ở bản Phùng thì những vết giày bí ẩn này đã xuất hiện trong những cánh rừng ở vùng Lủng Seo từ hai mươi năm nay!
Hai mươi năm lang thang trong rừng vào những đêm trăng sáng như một kẻ mộng du – điều đó thật khó tin và cũng thật là bí ẩn. Văn Nhạc bỗng nhận ra một điều vô cùng quan trọng: Công việc của nhóm khảo sát từ những ngày đầu về Lủng Seo đã có sự tham gia của ông già bí hiểm này. Hành vi bất ngờ và khó hiểu của hắn tình cờ được phát hiện đã trở thành một mối lo ngại thực sự. Hắn là ai?
9
Căn cứ vào thái độ và cách đi đứng thận trọng của lão thầy mo, Seo Sình hiểu rằng hắn đang đi theo bóng đen thứ nhất mà anh chưa nhìn rõ mặt.
Tại sao lão thầy mo lại theo dõi người kia? Và người kia là ai?
Dù chưa rõ mục đích của những hành vi bí mật này. Seo Sình vẫn có thể kết luận được ngay rằng: Bọn chúng đang làm một việc mờ ám nào đó. Về lão thầy mo Thào A Lẩu thì Seo Sình chẳng còn lạ gì hắn. Nhưng ngay cả bóng đen đi trước lão thầy mo cũng vậy thôi. Một người tốt thì không thể mò mẫm trong rừng giữa đêm khuya như vậy.
Hay đó là một “con ma”? Người H’mông ở bản Phùng chẳng đã đồn đại bao nhiêu chuyện ghê gớm về thầy mo Thào A Lẩu đó sao? Người ta thì thầm kể cho nhau nghe rằng A Lẩu quen biết rất nhiều loại ma trong rừng và thỉnh thoảng chúng lại mời lão đến tụ họp. Nhiều người ở bản Phùng đã nhìn thấy A Lẩu lặng lẽ đi vào rừng lúc nửa đêm. Những lúc đó, không ai dám giáp mặt lão.
Ý nghĩ ấy làm thức dậy nỗi sợ hãi đã từng ăn sâu vào tiềm thức của Seo Sình, giống như nó đã ngự trị bao đời nay trong suy nghĩ của những người dân ở Lủng Seo. Seo Sình đã định quay ngoắt người lao ngược trở lại. Nhưng chính giữa lúc đó, một bàn tay mạnh mẽ từ phía sau đã đặt lên vai Seo Sình, làm anh giật nảy mình.
Nhanh như một con gấu, Seo Sình vùng ra khỏi bàn tay đó và bật chồm dậy, phạt chéo một đường dao về phía đối thủ đang đứng phía sau lưng anh…
10
Cùng lúc đó, ở trong chiếc lều bạt của nhóm khảo sát, Xuân Sáu đã thức dậy.
Trong lều vắng vẻ khác thường. Không thấy Văn Nhạc và anh thanh niên H’mông đâu. Có lẽ họ đã vào rừng đi săn từ sớm. Chỉ còn chàng trai Quốc Hưng là vẫn say sưa cuộn tròn trong tấm chăn.
Xuân Sáu bước nhanh ra khỏi lều. Núi rừng về sáng lạnh buốt và tĩnh lặng. Vầng trăng đã chếch xa về hướng Tây và đang thả những vệt sáng bàng bạc trên lá ướt. Sau một lát nghe ngóng và vươn vai cho tỉnh ngủ hẳn, Xuân Sáu quay trở vào trong lều và thật nhẹ nhàng để cho Hưng khỏi tỉnh giấc, anh giở tập tài liệu tổng hợp về vùng Lủng Seo, lấy ra từ chiếc hòm gỗ và đặt ngay ngắn trên mặt bàn. Một tay giơ chiếc đèn pin nhỏ hướng vào tập giấy, tay kia thong thả lật giở từng trang. Xuân Sáu chăm chú “nghiên cứu” những tài liệu trong khi chiếc đèn pin nhỏ nhấp nháy đều đặn theo nhịp tay lật từng trang giấy chi chít những số liệu và hình vẽ…
Có tiếng gà rừng bắt đầu xao xác gáy bên kia đồi. Có lẽ cũng đã tới bốn giờ sáng.
11
… Đường dao của Seo Sình phạt chéo về phía sau không trúng đối thủ mà chỉ làm cho một cành cây lớn bị phạt đứt ngọt lịm.
Ngay sau đó, cánh tay cầm dao của Seo Sình bị giữ chặt và một giọng nói quen thuộc thì thào vang lên ngay bên tai anh.
— Seo Sình à. Nhạc đây!
Seo Sình rụng rời quay lại. Văn Nhạc đang đứng ngay sau lưng anh, quần áo ướt đẫm sương và khẩu súng kẹp ngang nách.
– Trời ơi! Cán bộ Nhạc! – Seo Sình rưng rưng nói: – Tao lo cho cán bộ quá mà!
Văn Nhạc mỉm cười và đưa một tay ra hiệu im lặng. Anh chỉ về phía lão thầy mo Thào A Lẩu và bóng đen đi trước, hắn đã khuất trong những bụi cây rậm rạp của rừng Tả Cừ. Seo Sình gật đầu đứng bật dậy. Sự xuất hiện của Văn Nhạc đã trả lại lòng can đảm cho anh. Họ luồn rừng và thận trọng tiến theo những dấu vết của hai kẻ đi trước.
Trời về sáng trở nên lặng gió hơn. Không còn nghe thấy tiếng chiêng, trống vang vọng nữa, nhưng cả Văn Nhạc và Seo Sình không chú ý đến điều đó. Họ đã có những mối quan tâm khác.
12
Thào A Lẩu vẫn bám sát theo Thân ở một khoảng cách vừa phải. Lão nhanh nhẹn di chuyển qua các bụi cây và chăm chú theo dõi từng hành động của kẻ đi trước mình.
Đã xuống đến dòng suối chảy quanh chân đồi. Thân vẫn để nguyên cả giày, lội ào qua suối. Sau đó, hắn cứ men theo dòng suối và đi thẳng về phía vũng cây lim. Thỉnh thoảng hắn lại dừng bước và dùng gậy chọc xuống mặt đất hoặc nhặt lên một vật, ghé mắt xem xét rồi lại vứt đi. Dạo trước, Seo Sình đã bị một hòn đá như vậy ném đến trước mặt làm cho anh phải bỏ dở một cuộc đi săn thú.
Lão thầy mo bây giờ bám theo Thân một cách thận trọng hơn. Nhanh như một con thằn lằn, lão ẩn kín giữa các bụi cây, tảng đá và di chuyển nhảy cóc từng đoạn một. Có lúc, trong khi đang di chuyển, lão dẫm phải một viên đá trơn nên lạng người đi và làm phát ra một tiếng động nhỏ làm Thân dừng phắt lại. Sau một lúc quan sát, Thân mới lặng lẽ đi tiếp.
Văn Nhạc và Seo Sình cũng theo dõi chặt chẽ từng bước đi của chúng…
Cuối cùng, vũng nước xoáy với cây lim cổ thụ mọc trùm lên đã hiện ra. Thân nhanh nhẹn bước tới bên gốc lim và trèo lên. Men theo một cành lớn nằm ngang. Thân bò ra đến đầu cành và nhoài người sang vách đá bên kia vũng nước, rồi mất hút sau vách đá. Một lúc sau, Thào A Lẩu cũng rón rén tiến đến bên gốc lim. Hắn chăm chú quan sát những dấu vết của Thân để lại rồi sau đó quay ngược về phía con đường nhỏ dẫn vào bản.
Khi bọn chúng đã đi khuất, Văn Nhạc và Seo Sình cũng tiến lại bên vũng nước. Họ phát hiện thấy có một lối đi bí mật trên vách đá mà Thân đã dùng nó để quay về lều của hắn. Lối đi ấy từ trước đến nay chưa ai biết tới – kể cả Seo Sình là thợ săn đã từng đi ngang dọc ở vùng này.
Những hành vi bí mật của Thân và lão thầy mo Thào A Lẩu, chứng tỏ rằng còn có một cuộc sống khác nữa bên trong cái vẻ hiền lành bề ngoài của chúng. Có thể là từ nhiều năm nay, Thân đã từng dò dẫm đi trong rừng như thế và hắn đã bị lão thầy mo bám theo mà không biết. Nhưng chúng đi tìm cái gì? Câu hỏi đó thật khó trả lời. Chỉ có một điều chắc chắn là: Sự xuất hiện của chúng đã trở thành nguyên nhân cho những chuyện hoang đường mà người H’mông ở đây rất tin. Câu chuyện về “hồn ma” của Thào A Sử và người vợ thứ chín của tên vua Cháng Nhè Xính là Ly Pla thỉnh thoảng vẫn hiện về, đi lang thang, đã trở thành một truyền thuyết rùng rợn. Chắc chắn bóng đen của Thân và lão thầy mo đã góp phần chủ yếu trong chuyện đó.
Dù sao, phát hiện của Văn Nhạc và Seo Sình trong cái đêm đáng ghi nhớ ấy, cũng đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng, có thể gây ra những ảnh hưởng xấu đến công việc của nhóm khảo sát địa chất ở vùng Lủng Seo này.
13
Cũng trong đêm hôm đó, còn có những người khác đã nghe thấy những âm thanh kỳ lạ của “hồn ma tên vua Cháng Nhè Xính và lũ người hầu của hắn”. Đó là lực lượng tự vệ của xã Tà Khay, phối hợp với bộ đội biên phòng và công an, dưới sự chỉ huy của thượng úy Nguyễn Văn Cảnh.
Thoạt đầu, khi vừa mới nghe tiếng chiêng, tiếng trống ma quái ấy, có một vài dân quân, vốn là người địa phương đã hoảng hốt. Nhưng ngay lập tức, họ đã được trấn an.
Sau khi đã căn dặn các mũi phục kích những điều cần thiết, thượng úy Nguyễn Văn Cảnh cùng một chiến sĩ biên phòng tên là Thao, cắp súng ra đi. Họ men theo những dốc núi hiểm trở của dãy Đá xanh, hướng về nơi đang phát ra những âm thanh kỳ lạ đó.
Dãy Đá xanh với những vách đá luôn luôn đánh lừa họ. Nhiều khi, họ tưởng như đã tìm đến được nơi đang phát ra tiếng chiêng, tiếng trống, nhưng sau đó mới biết rằng bị nhầm. Những vách đá phản âm đã lừa họ. Nhưng cuối cùng, hình như họ đã đến được nơi cần phải đến. Ở đây, những âm thanh nghe rõ hơn, thật hơn và cũng sống động hơn nhiều.
Men theo một khe núi hẹp, Nguyễn Văn Cảnh và Thao đi đến một lối mòn có vách đá chắn ngang. Họ đi vòng qua vách đá và bắt gặp một cái dốc cao lởm chởm đá, dẫn thẳng lên một ngọn núi hơi thấp hơn so với những ngọn núi xung quanh – Những âm thanh đang phát ra, từ đỉnh ngọn núi đó.
Sau một thoáng suy tính, thượng úy Văn Cảnh ra hiệu cho Thao. Họ tháo súng ra cầm tay và bắt đầu trèo lên dốc.
Khi kim đồng hồ đã chỉ đúng 4 giờ sáng, hai người đã trèo lên hết cái dốc mà có lẽ độ cao và sự hiểm trở của nó cũng không kém gì cái dốc Cắm Tỷ dẫn đến vùng Lủng Seo bên kia núi. Xuống hết cái dốc đó, họ rơi vào một thung lũng bằng phẳng với nhiều loại cây xum xuê. Ở giữa thung lũng ấy có một cây Lim cổ thụ.
Ở đây im lặng khác thường. Không hề có những âm thanh sôi sục mà họ đã nghe thấy khi còn ở bên kia dốc. Chỉ có một đống than đỏ rực, ở dưới gốc cây lim cổ thụ đang vươn những cánh tay lực lưỡng lên bầu trời đêm chi chít sao. Một vài làn gió nhẹ đôi khi lại làm cho tàn than tung vào màn đêm những chùm hoa lửa nổ lép bép.
Thượng úy Văn Cảnh tiến đến gốc cây lim và quan sát trên mặt đất. Có nhiều dấu vết chứng tỏ nơi đây vừa xảy ra một lễ hội – Có thể là lễ cúng ma chẳng hạn. Chỉ có điều khó hiểu là những người có mặt và chắc chắn là đã đánh trống, đánh chiêng ở đây, bây giờ đi đâu?
Văn Cảnh đi lại bên đống than và suy nghĩ hồi lâu. Bất chợt, bàn chân anh đá phải một vật làm cho nó lăn lốc cốc. Văn Cảnh cúi xuống nhặt lên. Đó là một vò đất nhỏ, bên trong còn thơm mùi rượu. Không còn nghi ngờ gì nữa, tại đây vừa xảy ra một lễ hội. Văn Cảnh thầm nghĩ và quay lại chỗ Thao mang theo chiếc vò. Bỗng nhiên, một mũi tên từ đâu đó xé gió bay tới, hất phăng chiếc vò nhỏ làm nó tuột khỏi tay anh và rơi xuống trúng vào một phiến đá vỡ tan tành. Họ đã bị bao vây. Chắc chắn lúc này hàng chục mũi tên độc đang nhắm sẵn vào họ và sẽ đồng loạt lao tới, nếu họ có biểu hiện kháng cự. Thượng úy Văn Cảnh đứng sững, suy tính căng thẳng…
14
Trung úy Thế An gần như reo lên khi thấy Tuấn – chiến sĩ trinh sát hình sự của công an huyện Đ. bước vào phòng làm việc của mình. Từ sau khi chia tay. Thế An đã dặn dò Tuấn những điều cần thiết để họ có thể thường xuyên liên lạc với nhau.
– Em vừa đến Hà Nội. – Tuấn nói và đặt chiếc túi nặng xuống ghế: – Lãnh đạo công an huyện cử em ra đây…
Thế An rót nước mời Tuấn. Anh đoán rằng nhất định anh sẽ được biết những chi tiết thú vị. Nhưng anh thực sự bị bất ngờ, khi Tuấn bỗng lôi từ trong chiếc túi một bọc lớn nặng trĩu.
– Xin gửi lại anh!
– Cái gì thế này?
Thế An hỏi Tuấn trong khi mắt vẫn nhìn hút vào cái bọc gồ ghề những góc nhọn. Chả lẽ, họ đã đạt được kết quả nhanh đến như vậy?
– Còn đây là công văn. – Tuấn nói và lấy ra một lá thư nhỏ, có đóng dấu của công an huyện Đ.
Thế An đón tờ giấy và định mở nó ra. Nhưng Tuấn ngăn lại. Anh mỉm cười, với tay về phía chiếc bọc vẫn đang để giữa bàn .
– Trước hết, anh xem cái này đã!
Lớp ni lon và sau đó là lớp giấy chống ẩm mở ra. Khi vừa nhìn thấy những vật đó, trung úy Thế An không nén nổi nữa. Anh đứng bật dậy và nói như hét lên:
– Trời ơi! Tuấn! Xin cảm ơn cậu!
Đó chính là những cổ vật mà họ đang tìm kiếm, gồm một chiếc đỉnh và một con hạc cưỡi rùa bằng đồng hun. Con rùa nhỏ ở dưới con hạc ngoảnh đầu sang bên trái.
Thế An nhìn chăm chắm vào những cổ vật đã đi vào truyền thuyết ấy. Anh và đồng đội đã tốn bao nhiêu công sức để lần tìm chúng và bây giờ thì đã tìm thấy. Anh đã lặn lội hàng trăm cây số, đã tìm đến hàng chục điểm buôn bán đồ cổ và đã xét hỏi hàng chục đối tượng cần thiết, nhưng vẫn không tìm thấy bóng dáng tên Cường và những cổ vật này. Đã có lúc anh cho rằng những vật này đã bị bán ra nước ngoài, theo một đường dây nào đó và họ sẽ không tìm lại được chúng nữa. Ấy thế mà trong khi chưa thấy tung tích của tên Cường đâu thì những cổ vật lại đã trở về, nằm trên bàn anh một cách thật dễ dàng.
Những ý nghĩ ấy đến với Thế An trong khi anh chăm chú xem xét những cổ vật. Chắc chắn ở đây phải lưu giữ một bí mật nào đó có giá trị rất lớn, bởi vì tên Hiệp đã phải trả giá bằng sinh mạng của hắn.
* * *
Việc tìm được những cổ vật đã xảy ra một cách hết sức tình cờ:
Theo quy hoạch của ban thủy lợi huyện, hợp tác xã Hưng Tân phải đào một con mương lớn từ sông cái về, tưới cho ba chục héc ta đất, nằm ngay sau làng Vèn. Con mương đó sẽ đi qua khu vườn bỏ hoang của một khu miếu cổ ở cạnh làng.
Đoàn thanh niên hợp tác xã Hưng Tân đứng ra chịu trách nhiệm làm công trình này. Đoạn mương đi qua khu vườn bỏ hoang sẽ phải tốn nhiều công sức hơn nên được tập trung làm trước.
Một nhóm thanh niên khỏe mạnh được phân công đào đất ở đây. Trong một buổi sáng, họ đã đào được một phần tư đoạn mương đi qua khu vườn mọc đầy những bụi gai và dứa dại. Đúng vào lúc họ định về nghỉ trưa thì một thanh niên đã phát hiện cái bọc này, sau một nhát mai đào ở độ sâu khoảng bốn mươi phân dưới mặt đất.
Tin đồn loang ra. Sở văn hóa tỉnh cử cán bộ về thu hồi những cổ vật, nhưng công an huyện Đ. đã kịp thời can thiệp…
* * *
Bộ phận giám định đã phát hiện một bí mật: Dưới bụng con rùa đội hạc, có một lỗ nhỏ có đường kính 1cm và chiều sâu 2cm, được bịt kín bằng sáp. Bên trong lỗ có một cuộn giấy nhỏ, được vo tròn cỡ đầu ngón tay. Khi mở ra, mảnh giấy đó có khổ 8cm x 10cm. Mảnh giấy ghi những ký hiệu, những hình vẽ nguệch ngoạc và một vài chữ Hán cổ viết thảo.
Rõ ràng, đây chính là điều những kẻ săn lùng con hạc đang cần. Nếu xem xét vấn đề từ mọi khía cạnh, có thể tạm thời kết luận: mảnh giấy này chính là một bản gia phả, chỉ nơi giấu vàng của Triệu Thục từ thời trước.
Trong truyền thuyết về “thần giữ của” do ông Dần kể lại, có một chi tiết rất đáng chú ý. Số vàng tìm được trong căn hầm chôn sống cô Như, không nhiều như những lời đồn đại của bà con nông dân ở vùng Nhuệ Sâm, về những của chìm, của nổi của dòng họ Triệu. Ở đó, chỉ có một số dĩa bát, một ít tiền và một chiếc bình nhỏ, đựng vàng bạc lẫn lộn. Sự phát hiện ra bản gia phả này đã chứng tỏ rằng: Số vàng bạc chủ yếu của Triệu Thục đã được chôn giấu ở một địa điểm khác, mà chắc chắn là cũng nằm quanh quất đâu đó trong vùng Nhuệ Sâm. Cô gái bị chôn làm “thần giữ của”, thực ra là để giữ bản gia phả này.
Từ đó, chúng ta có thể hình dung rõ là: những kẻ đang săn lùng bản mật mã chỉ nơi giấu của, chắc là con cháu nhiều đời sau của Triệu Thục. Hoặc ít ra thì bọn chúng cũng phải là những kẻ đã nắm được điều bí mật ẩn giấu trong bụng con rùa đội hạc quay đầu sang trái này và biết cách đọc nó.
Cách tốt nhất là trả lại cổ vật này cho những kẻ đang đi tìm nó. Làm như vậy, mọi chuyện sẽ đơn giản hơn rất nhiều. Tuy nhiên, cái khó nhất là phải tìm được những kẻ đang cần con hạc. Còn việc để cho món hàng quý này “tình cờ” rơi vào tay bọn chúng thì sẽ dễ dàng, miễn là phải thật khéo léo.
Sau khi đã chụp ảnh lại cổ vật và đặc biệt là bản gia phả nọ, bộ phận nghiệp vụ lại nhét trả nó vào bụng con hạc và gắn sáp lại như cũ. Con hạc cổ bắt đầu một cuộc phiêu lưu mới. Chỉ có điều khác là ở chỗ: Cuộc phiêu lưu này đã được đặt trong một sự bảo vệ chu đáo và đã được tính toán một cách kỹ lưỡng, để sao cho cổ vật sớm đến tay kẻ đang đi tìm nó…
15
Trung úy Thế An đã đi ra khỏi phòng làm việc của đại tá Lê Hữu. Đại tá vẫn lặng lẽ ngồi trên chiếc ghế của mình. Kết quả bất ngờ của việc tìm thấy những cổ vật và bí mật của con hạc đã mở ra những hướng thuận lợi cho công việc. Lê Hữu thầm rà soát lại những chi tiết xung quanh những cổ vật và dự định một kế hoạch “trao trả” thật tự nhiên để con hạc đến tay gã hàn xoong nồi, thuận tay trái mà ông cũng đã lần tìm ra. Đó là kết quả của một quá trình điều tra tỉ mỉ, khoa học của đại úy Quốc Vụ. Thì ra tên hàn xoong nồi bí ẩn đó lại chính là một người bạn thân trong số những bạn bè của Lam Giang.
Tuy vậy, điều mà Lê Hữu đang đòi hỏi ở Quốc Vụ là phải truy tìm tận gốc những kẻ đứng sau tên này. Điều đó có vẻ như là một yêu cầu quá khắt khe của Lê Hữu đối với cấp dưới của ông. Nhưng đó là một yêu cầu cần thiết và họ không có quyền bỏ qua nó.
Có tiếng chuông điện thoại reo vang, làm gián đoạn dòng suy nghĩ của đại tá. Ông kéo máy lại gần, nhấc ống nghe. Đó là thông báo của những người có trách nhiệm bên Tổng cục địa chất. Thông báo cho biết: Sau khi đã giải quyết xong những việc cần làm tại Hà Nội, giáo sư Lâm Ninh sẽ trở lại Lủng Seo vào sáng mai.
Một ý nghĩ vụt đến. Đại tá nhíu mày suy nghĩ một lát rồi quay máy. Ông gọi điện cho Quốc Vụ để yêu cầu anh thực hiện một phương án mới hết sức sáng tạo, do ông vừa nghĩ ra. Phương án ấy có quan hệ mật thiết với chuyến đi lên biên giới của giáo sư Lâm Ninh…
16
… Thượng úy Nguyễn Văn Cảnh suy tính rất căng thẳng. Chắc chắn là những chủ nhân của vùng núi này chưa rõ họ là ai nên chỉ mới bắn cảnh cáo.
Cần phải gấp rút điều đình. Văn Cảnh thầm nghĩ và nói nhanh với chiến sĩ Thao, lúc đó cũng đang tựa vào gốc cây lim cổ thụ và căng mắt quan sát xung quanh:
– Tuyệt đối không nổ súng! Để mặc tôi!
Xung quanh vẫn im lặng – một sự im lặng căng thẳng đến tức ngực. Văn Cảnh hiểu rằng mỗi động tác của họ bây giờ đã bị sự giám sát của hàng chục, thậm chí là hàng trăm đôi mắt ở trong các bụi cây và vách núi bao quanh cái thung lũng nhỏ này. Anh đưa hai tay lên miệng và gọi to bằng tiếng H’mông:
– Ơ này. Những người anh em.
Không có tiếng trả lời. Tiếng gọi của Văn Cảnh được các vách đá chuyền cho nhau, âm vang trong núi.
– Những người anh em. Đừng bắn! Chúng tôi muốn nói chuyện.
Văn Cảnh lại gọi to lần nữa, nhưng lần này anh nói bằng tiếng Dao: Ngay sau đó, một giọng nói từ bên kia vách đá vang lên. Đó là một câu hỏi bằng tiếng Dao:
– Chúng mày là ai?
– Chúng tôi là anh em. – Văn Cảnh trả lời.
– Chúng mày cần gì?
– Chúng tôi muốn kết bạn!
– Mày nói dối rồi! – Tiếng nói ở vách đá lại vọng ra: – Muốn kết nghĩa anh em sao lại còn mang súng?
– Cho tôi gặp trưởng bản. – Văn Cảnh đề nghị.
– Một mình mày thôi. Nhưng không được mang súng. – Tiếng nói lại vang lên.
– Được! – Văn Cảnh trả lời và bỏ rơi khẩu súng xuống đất.
– Đồng chí thượng úy… Cẩn thận đấy. – Thao lo lắng nhắc.
– Đồng chí cứ yên tâm, tôi nghĩ những người Dao ở đây là những người tốt.
Văn Cảnh nói và lại đưa tay lên làm loa gọi to. Anh hỏi:
– Tao đi đến đâu?
– Mày cứ đi thẳng xuống suối. – Giọng nói từ vách đá lại vọng sang: – Còn người kia đứng im!
Văn Cảnh thong thả đi theo lời chỉ dẫn của giọng nói đó. Anh đi xuống dòng suối và gặp một tảng đá lớn bằng phẳng. Giọng nói ban nãy lại vang lên, đầy đe dọa:
– Mày ngồi đó! Nếu mày không giữ lời hứa, chúng tao có nhiều tên độc đây.
Văn Cảnh ngồi xuống phiến đá. Trong ánh sáng của bình minh sắp rạng, anh thấy một ông già nhỏ bé nhưng nhanh nhẹn, chống gậy, cùng với hai thanh niên to khỏe mặc quần áo của người Dao, đi ra từ sau một vách đá lớn bên kia suối. Đến bờ suối, họ dừng lại và cũng ngồi lên một tảng đá lớn.
Họ bắt đầu nói chuyện với nhau cách một dòng suối…
17
Giáo sư Lâm Ninh bất ngờ trở lại. Văn Nhạc, Xuân Sáu và Quốc Hưng reo ầm lên vì mừng rỡ. Cùng đi với giáo sư còn có một thanh niên trạc ba mươi tuổi, dáng người dong dỏng cao với làn da trắng trẻo thư sinh và một đôi mắt hiền lành trên khuôn mặt thanh tú. Theo giới thiệu của giáo sư, người thanh niên tên là Phạm Công Thắng – một cán bộ nghiên cứu địa Iý, hiện đang công tác tại một Viện khoa học. Phạm Công Thắng cũng là một trong những thành viên trong nhóm nghiên cứu công trình khoa học mang bí số X3.
Một cuộc liên hoan nhỏ đã được tổ chức ngay trên sườn đồi, trong ánh nắng chiều vàng rực. Những món quà quý giá do giáo sư và Công Thắng mang tới được bày ra trên tờ báo trải rộng: Mấy gói kẹo, hai tút thuốc lá Sông Cầu và một cân chè Thái Nguyên. Ngoài ra, những tiêu chuẩn căng tin của nhóm khảo sát cũng được cơ quan gửi lên, đựng đầy một ba lô của Công Thắng.
Văn Nhạc thay mặt cho nhóm báo cáo với giáo sư những kết quả mà họ đã làm được và những khó khăn trong thời gian ông vắng mặt ở đây. Khó khăn lớn nhất hiện nay là việc cụ trưởng bản Thào Seo Páo chưa đồng ý cho họ vào khảo sát trong rừng Tả Cừ – nơi chắc chắn có những mẫu quặng điển hình nhất.
* * *
Sau buổi họp mặt với nhóm khảo sát, ngay chiều hôm đó, giáo sư Lâm Ninh đi vào bản Phùng để thăm hỏi cụ Thào Seo Páo. Ông mang theo một món quà đã được chuẩn bị từ Hà Nội, gồm một cân thuốc lào và một gói đường để biếu cụ trưởng bản. Đêm hôm ấy, giáo sư ở lại trong nhà cụ Seo Páo theo lời mời của cụ.
Kết quả cuối cùng, lại một lần nữa chứng tỏ khả năng giao tiếp phong phú của giáo sư Lâm Ninh. Cụ Thào Seo Páo đã đồng ý cho nhóm khảo sát vào thăm dò trong khu rừng cấm Tả Cừ nhưng với một điều kiện: Thào Seo Sình không được phép đi với họ.
Quyết định của cụ trưởng bản Phùng là một thắng lợi to lớn để nhóm khảo sát có điều kiện hoàn thành nốt những công việc còn dở dang của mình ở vùng Lủng Seo. Ngày hôm sau, cụ Thào Seo Páo đã cho mổ lợn làm lễ cúng “con ma”. Thực lòng thì cụ rất lo cho tính mạng của những cán bộ địa chất mà bây giờ cụ đã hiểu rằng, họ là những người bạn, những người anh em chân tình và tốt bụng của người H’mông.
Có một điều lạ là thầy mo Thào A Lẩu cũng đã đồng ý một cách dễ dàng với quyết định của cụ trưởng bản. Ngày hôm sau, lão đã đứng ra tổ chức một lễ cúng ma thật lớn. Buổi lễ đó, có cả giáo sư Lâm Ninh và Văn Nhạc tới dự. Trong cái dáng vẻ lăng xăng của lão thầy mo, Văn Nhạc vẫn cảm thấy có những điều thật khó cắt nghĩa. Trên đường đi từ nơi ở của nhóm khảo sát đến bản Phùng. Văn Nhạc đã tranh thủ báo cáo với giáo sư về hành vi của Thân và lão thầy mo trong cái đêm đầy bí ẩn mà anh và Seo Sình đã phát hiện được.
Báo cáo của Văn Nhạc làm cho giáo sư rất lo ngại.
Ông thầm cảm ơn cuộc nói chuyện do những người có trách nhiệm mời ông đến, trước khi ông rời Hà Nội để lên biên giới. Thật ra, cho đến bây giờ ông mới thấy hết được tầm quan trọng của vấn đề và tầm nhìn xa của những người đang làm việc trong một lĩnh vực hoàn toàn xa lạ đối với ông.
18
Có thể nói vốn hiểu biết về tiếng nói và những phong tục, tập quán của đồng bào các dân tộc thiểu số đã giúp cho thượng úy Nguyễn Văn Cảnh và chiến sĩ Thao vượt qua được một tình thế hiểm nghèo. Sau khi đã nói chuyện với cụ già có hai thanh niên đi cùng ở bên dòng suối, Văn Cảnh và Thao đã được mời vào bản của họ. Đó là một bản người Dao ở sâu trong núi mà từ trước đến nay hầu như chưa ai biết tới. Kể cả những người H’mông bản Phùng ở vùng Lủng Seo bên kia núi.
Đó là bản Nậm Chìa, với hơn chục nóc nhà bạc phếch, nằm rải rác trên sườn núi đá. Sau này, Văn Cảnh mới được biết rằng: Có lần bọn thám báo từ bên kia biên giới đã mò đến đây. Chúng bắt đi một cô gái, hai con ngựa tốt, sáu con lợn béo, cùng với một số thuốc phiện của bà con trong bản. Từ sau lần đó, bà con ở Nậm Chìa đã cảnh giác hơn. Họ luôn luôn cắt cử người canh gác trên những con đường dẫn đến bản. Văn Cảnh và Thao đã bị họ phát hiện từ lúc đang leo lên dốc. Còn một con đường thứ hai dẫn vào bản đi qua suối Sủa Chả – nơi bọn thám báo đã từng đột nhập qua đó thì có hai chàng trai khỏe mạnh thay nhau canh gác suốt ngày đêm…
* * *
“Đây không phải là quê hương của người Dao bản Nậm Chìa. Thuở xưa, bản Nậm Chìa cũng ở vùng Lủng Seo bên kia núi. Cùng với người H’mông ở bản Phùng.
Nhưng tên vua H’mông Cháng Nhè Xính tàn bạo đã chà đạp lên sự bình yên của họ. Hắn áp bức, bóc lột tàn tệ dân bản sống trong vùng Lủng Seo. Riêng đối với người Dao, hắn càng thẳng tay hơn. Hắn dùng gậy đánh chết anh thanh niên Phan Lão Xụ ở bản Nậm Chìa, vì anh đã dám dắt ngựa dẫm vào nương thuốc phiện của hắn.
Không chịu nổi, những người Dao ở Nậm Chìa quyết trả thù. Họ đã rình được cơ hội thuận lợi khi tên vua Cháng Nhè Xính và lũ tay chân tàn ác của hắn đi chơi hội về trong một đêm trăng rất sáng. Họ đã bắn chết hắn và sau đó cả bản Nậm Chìa chuyển sâu vào dãy núi Đá xanh. Họ cứ đi mãi, đi mãi, qua những vách đá hiểm trở và cuối cùng dựng bản ở một vùng rừng lạ. Nhưng những mái lá còn chưa kịp héo đã thấy những kẻ mặc quần áo xanh, cầm súng và nói một thứ tiếng lạ ập đến. Chúng cướp bóc và xua đuổi họ. Những con người khốn khổ đó đành quay trở lại và cuối cùng đã chọn nơi đây – Một địa điểm hiểm trở nằm sâu giữa những vách đá cao vút của dãy Đá xanh này.
Nhiều năm trôi qua. Những thế hệ người Dao ở Nậm Chìa kế tiếp nhau và họ hài lòng với nơi cư trú này. Theo truyền thống của ông cha mình, hàng năm từ tháng 5 đến tháng 7, vào những đêm trăng sáng, bà con người Dao thường tụ họp dưới gốc cây lim cổ thụ, đốt lửa và khua chiêng, gõ trống tưởng nhớ đến hành động dũng cảm của ông cha họ…”
* * *
Câu chuyện của cụ trưởng bản Chẹo Xanh Chìu chưa kể xong, bỗng có tiếng xôn xao và một thanh niên phi ngựa đến. Anh nhảy tót qua hàng rào gỗ đinh hương và lao vào nhà cụ trưởng bản. Đó là Triệu Văn Phúc, một trong hai người thanh niên được giao nhiệm vụ canh gác con đường đi qua suối Sủa Chả.
– Bọn bắt đàn bà, bắt lợn, bắt ngựa của ta lại đến đấy!…
Triệu Văn Phúc thông báo cái tin dữ đó bằng giọng nói gấp gáp trong hơi thở dồn dập…
19
Giáo sư Lâm Ninh đưa tay vạch một đường xoáy ốc và kết thúc ở đỉnh đồi Tả Cừ trong bản sơ đồ của ông:
– Mũi này gồm tôi, Quốc Hưng và Công Thắng. Còn mũi thứ hai của Văn Nhạc và Xuân Sáu sẽ khảo sát dưới chân đồi. Sau đó, các bạn sẽ đi dọc dòng suối và kết thúc lộ trình tại Vũng Cây Lim. Chúng ta cố gắng khảo sát gọn trong một ngày và kết thúc chương trình làm việc tại vùng Lủng Seo này.
20
Cái tin dữ của chàng trai đưa về như một cơn lốc. Những người đang ngồi đứng bật dậy. Cụ trưởng bản nắm chặt tay, gằn giọng hỏi:
— Chúng nó có đông không?
– Đông lắm! Đếm hết cả hai bàn tay mà chưa đủ đâu. Đứa nào cũng có súng.
Chàng trai lại nhảy phóc qua rào và chỉ một phút sau, tiếng trống báo động đã vang lên gấp gáp. Từ các căn nhà, đàn ông, đàn bà và trẻ con chạy vụt ra, tập trung trước nhà cụ trưởng bản.
Được sự đồng ý của cụ Chẹo Xanh Chìu, Văn Cảnh chia lực lượng thành hai mũi phục kích trên hai lối vào bản. Anh và Thao mỗi người cùng đi với một nhóm.
Những dây nỏ đã được căng lên. Những mũi tên im lìm trên rãnh nỏ. Cả bản Nậm Chìa giống như một mũi tên tẩm độc sẵn sàng lao vào lũ ăn cướp.

