Thiết Kế Lấy Người Dùng Làm Trung Tâm - Chương 3
Kiến thức trong đầu và kiến thức thực tế
Một người bạn tốt bụng cho tôi mượn ô tô của anh ấy, đó là một chiếc Saab kiểu cổ đã cũ. Ngay trước khi lái xe đi, tôi tìm thấy một mẩu tin nhắn: “Đáng nhẽ tôi phải nói với anh rằng để rút được chìa khóa ra, chiếc xe phải cài số lùi! Cài số lùi ư? Nếu không nhìn thấy mẩu tin nhắn đó, tôi sẽ chẳng bao giờ biết được. Không có chỉ dẫn nào trên xe cả. Tôi phải nhớ trong đầu kiến thức về chiếc xe này. Nếu người lái xe không có kiến thức đó, chìa khóa sẽ ở trong xe mãi mãi.
Mỗi ngày chúng ta đều phải tương tác với rất nhiều đồ vật, thiết bị và dịch vụ, mỗi thứ đều đòi hỏi chúng ta hành động và thao tác theo một cách thức cụ thể nào đó. Nhìn chung là chúng ta vẫn xoay xở tốt. Kiến thức của chúng ta thường không đầy đủ, không rõ ràng, thậm chí còn sai, nhưng điều đó không quan trọng, chúng ta vẫn sống tốt mỗi ngày. Vậy chúng ta đã làm điều đó như thế nào? Chúng ta kết nối kiến thức mà mình có trong đầu với kiến thức về thực tế diễn ra. Nhưng tại sao lại phải kết hợp? Đó là bởi riêng từng mảng kiến thức thì không đủ.
Minh họa cho sự thiếu chính xác của kiến thức và trí nhớ của con người thật dễ dàng. Các nhà tâm lý học Ray Nickerson và Marilyn Adams đã chỉ ra rằng con người không thể nhớ nổi các đồng xu mình thường sử dụng nhìn như thế nào (Hình 3.1). Mặc dù thử nghiệm được tiến hành với một đồng tiền cụ thể là đồng một xu của Mỹ, nhưng kết quả cũng sẽ tương tự với bất kỳ loại tiền tệ nào trên thế giới. Tuy nhiên, bất chấp sự thiếu hiểu biết của chúng ta về hình dáng bên ngoài của các đồng xu, chúng ta vẫn sử dụng chúng một cách chính xác.
Tại sao lại có sự khác biệt rõ ràng giữa tính chính xác của hành vi và tính thiếu chính xác của kiến thức như vậy? Lý do là con người không cần phải có sẵn trong đầu tất cả những kiến thức cần thiết để thực hiện một hành vi chính xác. Kiến thức đó có thể đến từ nhiều nguồn – một phần trong trí óc, một phần trong thực tế và một phần từ những hạn chế của thực tế.
HÌNH 3.1. Đâu là đồng một xu của nước Mỹ? Trong một cuộc khảo sát từng được thực hiện trước đây, chỉ chưa đến một nửa số sinh viên đại học là người Mỹ chọn ra được hình ảnh đồng một xu Mỹ chính xác trong loạt hình vẽ này. Đây là một kết quả quá tệ, trong khi những sinh viên này được khẳng định là không gặp bất cứ khó khăn nào trong việc sử dụng tiền. Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta không phải phân biệt đồng một xu với các đồng xu khác và cũng không phải phân biệt các phiên bản khác nhau của cùng một mệnh giá tiền. Mặc dù nghiên cứu về các đồng tiền xu của Mỹ đã thực hiện từ khá lâu nhưng kết quả vẫn đúng cho tới ngày nay và có thể áp dụng vào đồng xu của bất kỳ loại tiền tệ nào. (Nickerson & Adams, 1979, Cognitive Psychology (tạm dịch: Tâm lý học nhận thức), 11 (3). Trích dẫn có xin phép nhà xuất bản Academic Press thông qua Trung tâm Bảo vệ bản quyền)
HÀNH VI CHÍNH XÁC XUẤT PHÁT TỪ HIỂU BIẾT KHÔNG CHÍNH XÁC
Hành vi chính xác có thể xuất phát từ hiểu biết không chính xác vì bốn lý do sau:
Kiến thức tồn tại cả trong trí óc của con người và trong thế giới xung quanh họ. Nói một cách chính xác thì kiến thức chỉ có thể tồn tại trong đầu, bởi kiến thức đòi hỏi sự giải nghĩa và thấu hiểu, nhưng một khi cấu trúc của thế giới đã được giải nghĩa và thấu hiểu, nó cũng được coi là kiến thức. Rất nhiều kiến thức mà một người cần để làm việc gì đó được lấy từ các thông tin tồn tại trong thế giới xung quanh họ. Hành vi của con người được quyết định thông qua sự kết hợp của kiến thức trong đầu và kiến thức trong thế giới xung quanh. Trong chương này, tôi sẽ dùng thuật ngữ “kiến thức” để chỉ cả những điều ở trong trí óc con người và những gì trong thế giới quanh họ. Mặc dù không hoàn toàn chính xác nhưng nó giúp đơn giản hóa cuộc thảo luận và khiến chúng ta dễ hiểu hơn.
Sự chính xác cao độ là không cần thiết. Con người rất hiếm khi cần đến kiến thức một cách chính xác, đúng đắn và đầy đủ. Chúng ta sẽ có hành vi đúng đắn nếu kiến thức kết hợp giữa những gì có sẵn trong đầu với những gì ở bên ngoài trở nên đầy đủ đến mức có thể giúp chúng ta đưa ra lựa chọn tối ưu.
Các giới hạn tự nhiên luôn tồn tại. Thế giới thực tại luôn có rất nhiều những giới hạn tự nhiên và vật lý, chúng hạn chế hành vi của con người, ví dụ như trật tự sắp xếp các bộ phận của một vật hay cách di chuyển, cầm nắm nó để không làm hư hỏng. Đó là kiến thức tồn tại trong thế giới thực. Mọi vật thể đều có các đặc điểm vật lý – các hình chiếu, góc cạnh, khớp nối, phần phụ đi kèm – làm hạn chế các mối liên hệ của nó với các vật thể khác, làm ảnh hưởng đến cách thức vận hành và những vật thể có thể đi kèm với chúng.
Kiến thức về các ràng buộc và thói quen văn hóa tồn tại trong đầu óc con người. Các ràng buộc và thói quen văn hóa là những hạn chế đối với hành vi do con người đặt ra và tiếp thu, làm giảm bớt các phương án hành động và trong nhiều trường hợp, chỉ giữ lại một hoặc hai phương án. Đây là kiến thức trong trí óc con người. Một khi đã được tiếp nhận, chúng sẽ được áp dụng trong rất nhiều hoàn cảnh khác nhau.
Chính vì hành vi có thể được dẫn dắt bởi sự kết hợp giữa những kiến thức, những hạn chế của bản thân và của thế giới xung quanh họ nên con người mới có thể giảm thiểu khối lượng cũng như tính đầy đủ, chính xác và độ sâu sắc của những gì mình cần biết. Họ cũng có thể chủ động tổ chức môi trường xung quanh mình để hỗ trợ hành vi của bản thân. Đó cũng chính là cách mà những người không biết đọc có thể che giấu sự mù chữ của mình, ngay cả khi công việc của họ đòi hỏi kỹ năng đọc. Những người khiếm thính (hoặc có thính giác bình thường nhưng lại ở trong môi trường quá ồn ào) sẽ học cách sử dụng các dạng ngôn ngữ tín hiệu khác. Rất nhiều người trong chúng ta có thể xoay xở khá tốt trong những tình huống mới lạ hoặc bối rối trong khi chúng ta không biết mình cần phải làm gì. Bằng cách nào mà chúng ta làm được điều đó? Chúng ta sắp xếp các chi tiết sao cho bản thân không cần có kiến thức đầy đủ mới xử lý được tình huống, hoặc chúng ta dựa vào kiến thức của những người xung quanh, lặp lại hành vi của họ hoặc khiến họ làm những điều cần thiết cho mình. Chúng ta sẽ thực sự ngạc nhiên khi biết rằng che giấu sự thiếu hiểu biết của bản thân hoặc vượt qua các tình huống khó xử mà không cần đến những hiểu biết cần thiết là điều chúng ta thực hiện khá thường xuyên.
Mặc dù điều hoàn hảo nhất là khi con người có đủ kiến thức và kinh nghiệm (kiến thức trong trí óc) để sử dụng một sản phẩm cụ thể nào đó nhưng nhà thiết kế cũng nên đưa vào thiết kế của mình những chỉ dẫn cần thiết (kiến thức trong thế giới xung quanh) để con người có thể sử dụng tốt sản phẩm đó ngay cả khi họ không có sẵn những hiểu biết cần thiết trong đầu. Việc kết hợp cả hai, kiến thức trong trí óc và kiến thức trong thế giới xung quanh thậm chí còn làm cho việc sử dụng sản phẩm dễ dàng hơn rất nhiều. Vậy nhà thiết kế phải đưa kiến thức vào sản phẩm của mình như thế nào?
Chương 1 và 2 đã giới thiệu các nguyên tắc thiết kế căn bản xuất phát từ các nghiên cứu về nhận thức và cảm xúc của con người. Chương này sẽ chỉ ra các phương thức kết hợp giữa kiến thức trong thực tế và kiến thức trong trí óc con người. Kiến thức trong trí óc là kiến thức tồn tại trong bộ nhớ của con người, vì vậy chương này sẽ điểm qua những khía cạnh cơ bản của trí nhớ có liên quan và cần thiết cho việc thiết kế những sản phẩm hữu ích. Tôi xin nhấn mạnh rằng, vì mục đích ứng dụng thực tế, chúng ta sẽ không cần đến các lý thuyết khoa học chính xác mà chỉ cần những thực tế gần đúng nhưng đơn giản, khái quát và hữu dụng hơn. Các mô hình được đơn giản hóa chính là chìa khóa của những sản phẩm thành công. Chương này cũng sẽ đề cập đến cách thức mà các sơ đồ tự nhiên thể hiện thông tin trong thực tế để giúp con người có thể ngay lập tức giải thích và sử dụng chúng.
Kiến thức trong thực tế
Những kiến thức cần thiết để thực hiện một hành động thường tồn tại sẵn trong thế giới thực tế, vì vậy mà nhu cầu tiếp thu những kiến thức ấy của con người cũng sẽ giảm bớt. Ví dụ, chúng ta thực sự thiếu kiến thức về các đồng xu thông dụng, mặc dù chúng ta vẫn nhận ra và phân biệt được chúng (Hình 3.1). Để biết một đồng tiền trong hệ thống tiền tệ của chúng ta trông ra sao, chúng ta không cần biết tất cả chi tiết, mà chỉ đơn giản là biết cách phân biệt nó với các đồng tiền có mệnh giá khác. Chỉ có một số rất ít người cần phải có kiến thức đầy đủ để phân biệt tiền giả và tiền thật.
Hành động đánh máy cũng vậy, rất nhiều người không nhớ được hình ảnh chi tiết của bàn phím. Trong trường hợp người đánh máy không thông thạo công việc này thì họ vẫn có thể tìm và mổ cò từng chữ một. Dựa trên kiến thức có sẵn trong thế giới bên ngoài là các ký hiệu trên bàn phím mà người đó có thể làm việc và giảm thiểu thời gian phải bỏ ra để học cách đánh máy. Việc đánh máy như vậy ban đầu sẽ rất chậm và khó khăn. Tuy nhiên, sau một thời gian tích lũy kinh nghiệm, những người đánh máy kiểu mổ cò sẽ nhớ được vị trí của nhiều chữ cái trên bàn phím, và dù không được chỉ dẫn, tốc độ đánh máy của họ cũng sẽ tăng lên đáng kể, nhanh chóng vượt qua tốc độ viết tay và đôi khi còn đạt đến trình độ khá tốt. Tầm nhìn ngoại biên và cảm giác về bàn phím cung cấp cho họ một vài kiến thức về vị trí của các phím. Các phím thường xuyên được sử dụng sẽ được ghi nhớ một cách đầy đủ, các phím ít sử dụng hơn sẽ được ghi nhớ một phần và các phím còn lại thì không được ghi nhớ. Tuy nhiên, chừng nào người đánh máy vẫn cần nhìn vào bàn phím thì tốc độ của anh ta vẫn còn bị hạn chế. Kiến thức vẫn chủ yếu nằm trong thế giới bên ngoài chứ không phải trong đầu anh ta.
Nếu một người cần phải đánh máy nhiều và thường xuyên, họ sẽ phải đầu tư nhiều hơn như tham gia một khóa học, đọc một cuốn sách hướng dẫn hoặc tham gia một chương trình tương tác. Điều quan trọng là học được cách đặt các ngón tay ở vị trí thích hợp trên bàn phím. Học cách đánh máy mà không cần nhìn, tức là biến những kiến thức về chiếc bàn phím ở thế giới bên ngoài thành kiến thức trong đầu mình. Cần ít nhất vài tuần lễ để học các kỹ năng cần thiết và vài tháng thực hành để trở nên thành thạo chúng. Nhưng thành quả của tất cả những nỗ lực đó là tốc độ đánh máy, độ chính xác tăng lên và việc đánh máy trở nên nhẹ nhàng, dễ dàng hơn.
Chúng ta chỉ cần ghi nhớ lượng kiến thức đủ để hoàn thành công việc của mình. Bởi rất nhiều kiến thức đã có sẵn ở môi trường xung quanh, chúng ta sẽ khá ngạc nhiên về mức độ ít ỏi của những gì mình cần học hỏi. Đây chính là lý do tại sao con người vẫn hoạt động tốt trong môi trường của mình trong khi không thể mô tả một cách chính xác họ đang làm những gì.
Con người hoạt động trong môi trường sống của mình nhờ sử dụng hai dạng kiến thức: kiến thức thực tế và kiến thức kỹ năng. Kiến thức thực tế – mà các nhà tâm lý học thường gọi là tri thức mô tả (declarative knowledge) – bao gồm hiểu biết về các nguyên tắc và thực tế của cuộc sống. “Dừng xe khi đèn đỏ.” “New York nằm về phía bắc so với thành Rome.” “Trung Quốc có dân số gấp đôi Ấn Độ.” “Với một chiếc xe Saab, để rút chìa khóa ra thì phải cài số lùi.” Tri thức mô tả có thể được viết ra và truyền đạt lại một cách dễ dàng. Nhưng hãy lưu ý là một người có kiến thức về các luật lệ không có nghĩa là anh ta sẽ tuân thủ chúng. Lái xe tại rất nhiều thành phố nắm rất chắc luật giao thông, nhưng không phải lúc nào họ cũng tuân thủ chúng. Hơn nữa, kiến thức không cần phải đúng sự thực. Thực ra thành phố New York nằm về phía nam của thành Rome. Trung Quốc chỉ có dân số lớn hơn Ấn Độ một chút ít (khoảng 10%). Con người có thể biết nhiều thứ, nhưng không có nghĩa là tất cả chúng đều đúng.
Kiến thức kỹ năng – mà các nhà tâm lý học gọi là tri thức thủ tục (procedural knowledge) – là những kiến thức giúp một người trở thành một nhạc công điêu luyện, đáp trả một cú giao bóng trong một trận tennis hoặc chuyển động lưỡi một cách hợp lý để phát âm cụm từ “frightening witches” (những mụ phù thủy đáng sợ). Rất khó hoặc gần như không thể viết ra hay truyền đạt lại tri thức thủ tục. Cách truyền đạt tốt nhất là làm mẫu và cách học hiệu quả nhất là thực hành. Ngay cả những giáo viên giỏi nhất cũng thường không thể mô tả được cụ thể họ đang làm gì. Tri thức thủ tục phần lớn thuộc về tiềm thức, nằm ở cấp độ hành vi của quá trình xử lý.
Kiến thức trong thế giới thực tại thường rất dễ nắm bắt. Các công cụ chỉ dẫn, các hạn chế về mặt vật lý và các sơ đồ mối liên hệ tự nhiên đều là những tín hiệu mà con người có thể lý giải được và đều đóng vai trò như những kiến thức trong thế giới thực tế xung quanh họ. Loại kiến thức này phổ biến đến nỗi chúng ta coi chúng là chuyện đương nhiên. Chúng ở khắp mọi nơi: vị trí các chữ cái trên bàn phím, đèn và nhãn hiệu trên nút điều khiển để nhắc nhở người dùng về mục đích sử dụng của chúng đồng thời cung cấp thông tin về hiện trạng của thiết bị. Các thiết bị công nghiệp thường được gắn đầy các đèn hiệu, chỉ dẫn và thông điệp gợi nhớ khác. Chúng ta sử dụng rất nhiều các mẩu chú thích viết bằng tay. Chúng ta sắp xếp đồ vật ở những vị trí nhất định để luôn biết chúng ở đâu. Nói chung, con người sắp đặt môi trường sống của mình sao cho nó có thể đưa ra cho họ lượng kiến thức cần thiết giúp gợi ý về những điều họ cần nhớ.
Rất nhiều người tổ chức cuộc sống của họ theo một trật tự không gian nhất định, chất một chồng tài liệu ở chỗ này hay chỗ kia, mỗi chồng lại chỉ ra công việc cụ thể nào đó mà họ phải làm hay một sự kiện nào đó đang diễn ra. Hãy nhìn xung quanh, bạn sẽ nhận thấy con người sắp xếp phòng và bàn làm việc của mình theo rất nhiều cách khác nhau. Tuy nhiên, tất cả mọi cách sắp xếp và mức độ dễ dàng được nhìn thấy của các đồ vật đều sẽ thể hiện mức độ quan trọng tương đối của chúng.
Khi hoàn cảnh đòi hỏi sự chính xác mà con người không mong muốn
Thường thì con người không cần đến sự chính xác trong các đánh giá của mình. Tất cả những gì họ cần là kết hợp kiến thức trong thế giới thực tế và kiến thức trong đầu để quyết định họ đưa ra trở nên sáng rõ. Mọi thứ đều tốt đẹp cho đến khi môi trường thay đổi và sự kết hợp giữa kiến thức trong thực tại và kiến thức trong đầu không còn đủ để họ xử lý tình huống nữa. Điều này có thể dẫn đến những hậu quả nặng nề. Có ít nhất ba quốc gia phải đối mặt với tình huống này, đó là nước Mỹ, khi đồng tiền xu mệnh giá 1 đô-la Susan B. Anthony được đưa vào lưu hành; nước Anh, khi đồng tiền xu mệnh giá một bảng (trước khi chuyển đổi sang hệ tiền tệ thập phân); và nước Pháp, khi đồng tiền xu mệnh giá 10 franc (trước khi chuyển sang dùng đồng tiền chung của châu Âu là đồng euro). Đồng tiền xu một đô-la Mỹ đã bị nhầm lẫn với đồng 25 xu đang được lưu hành trước đó, và đồng 1 bảng Anh bị nhầm lẫn với đồng 5 cent với cùng kích thước. Còn đây là những gì đã xảy ra ở nước Pháp:
PARIS, với một sự phô trương hết sức ầm ĩ, chính phủ Pháp đã cho lưu hành chính thức đồng tiền xu có mệnh giá 10 franc (tương đương khoảng 1,5 đô-la Mỹ) vào ngày 22 tháng Mười năm 1986. Công chúng đã nhanh chóng nhầm lẫn nó với đồng nửa franc (chỉ có giá trị khoảng 8 cent) tới mức cả chính phủ Pháp và đồng xu mới đều bị trút lên đầu những cơn thịnh nộ và lời chế giễu nặng nề.
Năm tuần sau đó, Bộ trưởng Tài Chính Edouard Balladur đã phải cho tạm ngừng lưu hành đồng tiền nói trên. Và chỉ trong bốn tuần tiếp theo, nó đã hoàn toàn bị ngừng lưu hành và sản xuất.
Nhìn lại quá khứ, quyết định của chính phủ Pháp dường như quá thiếu khôn ngoan tới nỗi chúng ta khó có thể hình dung tại sao nó lại có thể được ban hành. Sau rất nhiều nghiên cứu, các nhà thiết kế cuối cùng cũng định ra hình hài cho đồng xu mới: màu bạc, làm từ nickel, hai mặt được khắc các biểu tượng của nền cộng hòa Pháp là chú gà trống Gô-loa và nàng Mariamme – các hình khắc đều do nghệ sĩ Joaquim Jimenez thể hiện. Đồng xu có màu sáng, viền có các chi tiết gồ lên để máy bán hàng tự động có thể dễ nhận biết và trông có vẻ rất khó làm giả.
Thế nhưng, cả các nhà thiết kế và quan chức chính phủ rõ ràng là đã quá sốt sắng với sáng tạo của mình đến nỗi họ đã lờ đi hoặc cố tình không thừa nhận rằng đồng xu mới của họ trông không khác gì hàng trăm triệu đồng xu màu bạc làm bằng nickel có mệnh giá nửa franc, cùng kích thước và trọng lượng đang được lưu hành trên thị trường. (Tác giả StanleyMeisler. Bản quyền của tờ Thời báo Los Angeles năm 1986. Trích dẫn lại có xin phép.)
Sự nhầm lẫn xảy ra có thể là bởi người sử dụng những đồng xu đã có sẵn trong đầu những hình dung chỉ chính xác ở mức đủ để họ phân biệt với những đồng xu khác. Nghiên cứu tâm lý học chỉ ra rằng con người chỉ ghi nhớ một phần mô tả về các đồ vật. Trong ba ví dụ về các đồng xu mới được lưu hành tại Mỹ, Anh và Pháp, những chi tiết được tạo ra ở đồng xu mới đã không đủ độ chính xác để giúp những người sử dụng phân biệt sự khác nhau giữa nó và ít nhất là một trong số những đồng xu đang được lưu hành trong hệ thống tiền tệ quốc gia.
Giả sử tôi lưu tất cả các ghi chú của mình vào một cuốn sổ tay nhỏ màu đỏ. Nếu nó là cuốn sổ duy nhất của tôi, thì tôi chỉ hình dung nó một cách đơn giản là “cuốn sổ tay của tôi”. Nếu tôi mua thêm một vài cuốn sổ tay nữa thì hình dung trước của tôi sẽ không còn hiệu quả nữa. Giờ đây tôi phải xác định cuốn đầu tiên là cuốn sổ nhỏ có màu đỏ, hoặc bất kỳ hình dung nào giúp tôi phân biệt nó với những cuốn sổ khác. Nhưng nếu tôi cũng lại mua những cuốn sổ nhỏ màu đỏ thì sao? Giờ thì tôi phải tìm ra một vài cách khác để hình dung ra cuốn sổ đầu tiên của mình, thêm vào đó các chi tiết để nó khác biệt với những cuốn còn lại. Những hình dung đó cũng chỉ là để giúp tôi phân biệt những cuốn sổ trước mặt mình mà thôi, nhưng đôi khi hình dung vào lúc này, cho mục đích này lại không có tác dụng với mục đích khác, hoàn cảnh khác.
Không phải tất cả những thứ tương tự nhau đều gây ra nhầm lẫn. Trong khi cập nhật cuốn sách này, tôi đã tìm kiếm xem liệu có những trường hợp nhầm lẫn các đồng xu nào khác trong thời gian gần đây hay không. Tôi đã tìm thấy đoạn nội dung khá hấp dẫn sau đây trên trang web Wikicoins.com:
Một ngày nào đó, một nhà tâm lý học hàng đầu có thể sẽ tìm ra câu trả lời cho một trong những câu hỏi hóc búa nhất thời đại: Nếu công chúng Mỹ luôn nhầm lẫn giữa đồng 1 đô-la Susan B. Anthony với đồng 25 xu có hình dạng tương tự thì tại sao họ lại không nhầm lẫn giữa tờ tiền giấy 20 đô-la và tờ 1 đô-la có kích thước y hệt? (James A. Capp, Susan B. Anthony Dollar (tạm dịch: Đồng đô-la Susan B. Anthony) trên trang www.wikicoins.com. Tải về ngày 29 tháng Năm năm 2012)
Đây là câu trả lời. Tại sao sự nhầm lẫn không phải lúc nào cũng xảy ra? Chúng ta học cách phân biệt các sự vật bằng cách nhìn vào các chi tiết khác biệt giữa chúng. Tại Mỹ, kích thước là cách cơ bản để phân biệt các đồng xu chứ không phải tiền giấy. Với tiền giấy, tất cả các mệnh giá đều có kích thước như nhau, vì vậy người Mỹ không để ý đến kích thước của chúng mà là các con số và hình ảnh được in lên. Vì vậy, họ thường nhầm lẫn giữa các đồng xu có kích thước tương tự nhưng hiếm khi nhầm lẫn giữa các đồng tiền giấy có kích thước giống nhau. Tuy nhiên, những người đến từ các quốc gia mà kích thước và màu sắc của các đồng tiền giấy thường được lấy làm đặc điểm để phân biệt chúng với nhau (ví dụ, ở Anh hoặc bất cứ nước nào dùng đồng euro) thì lại khác, họ đã quen với cách sử dụng kích thước và màu sắc để phân biệt và vì vậy cũng sẽ nhầm lẫn khi dùng những đồng tiền giấy của nước Mỹ.
Một ví dụ nữa chứng minh cho điều này là mặc dù những người đã sống lâu năm ở Anh thường than phiền rằng họ hay nhầm lẫn giữa đồng 1 bảng và đồng 5 xu nhưng những người mới đến (và trẻ con) lại không hề gặp phải vấn đề tương tự. Đó là bởi vì những người đã sống lâu năm ở Anh luôn sử dụng những bộ đặc điểm nhận dạng họ đã xây dựng cho mình từ lâu, mà chúng thì lại không dễ dàng tích hợp thêm những đặc điểm khác để phân biệt giữa hai đồng xu này. Còn những người mới đến lại không hề có định kiến nào từ trước và bởi vậy, bộ đặc điểm nhận dạng của họ bao trùm việc phân biệt tất cả các đồng xu trong hệ thống tiền tệ; trong hoàn cảnh này, đồng 1 bảng không phải là vấn đề với họ. Ở Mỹ, đồng 1 đô-la Susan B. Anthony chưa bao giờ trở nên phổ biến và đã không còn được sản xuất nữa, vì vậy tôi không có điều kiện để có những quan sát tương tự.
Những điều khiến chúng ta nhầm lẫm thường phụ thuộc rất nhiều vào quá khứ: những đặc điểm đã giúp chúng ta phân biệt các vật thể với nhau trong quá khứ. Khi những quy luật để phân biệt sự vật thay đổi, con người có thể nhầm lẫn và sai sót. Cùng với thời gian, chúng ta sẽ điều chỉnh và học cách phân biệt tốt hơn, thậm chí chúng ta sẽ quên đi khoảng thời gian nhầm lẫn ban đầu. Vấn đề là trong rất nhiều hoàn cảnh, đặc biệt là khi có yếu tố chính trị xen vào như kích thước, hình dạng và màu sắc của một đồng tiền thì sự phẫn nộ của công chúng đã vô tình ngăn cản những tranh luận một cách bình tĩnh và sáng suốt, đồng thời không để việc điều chỉnh có cơ hội diễn ra.
Hãy xem đây là một ví dụ về mối tương quan giữa những nguyên tắc thiết kế và sự phong phú có phần lộn xộn của đời sống thực tế. Những điều đúng về nguyên tắc đôi khi lại sai lầm khi áp dụng vào thực tế. Đôi khi, một sản phẩm tồi lại thành công còn một sản phẩm tốt lại thất bại. Thực tế thật vô cùng phức tạp.
Các quy luật giúp việc ghi nhớ trở nên đơn giản hơn
Trước khi đọc và viết được phổ biến rộng rãi, và đặc biệt là trước khi con người phát minh ra các thiết bị ghi âm, các nghệ sĩ hát rong đã chu du từ ngôi làng này tới ngôi làng khác để ngâm những khúc sử thi dài đến hàng nghìn dòng. Truyền thống này vẫn còn tồn tại đến ngày nay ở rất nhiều cộng đồng. Làm sao con người ghi nhớ được dung lượng khổng lồ đến thế? Không hẳn là vậy. Thật ra quy tắc gieo vần và nhịp điệu đã kiểm soát chặt chẽ khả năng xuất hiện của các từ ngữ trong mỗi câu thơ, vì vậy, chúng giảm tải đáng kể cho trí nhớ của con người. Một trong những bí mật chính là nguyên tắc gieo vần và nhịp điệu chặt chẽ của thể loại thơ này.
Trước hết, hãy xem xét các nguyên tắc gieo vần. Nếu bạn muốn dùng một từ hiệp vần với một từ đứng ở câu trước đó sẽ có rất nhiều phương án để bạn lựa chọn. Nhưng nếu bạn phải ghép một từ vừa có nghĩa vừa để hiệp vần với một từ đứng trước đó thì hai mối ràng buộc về mặt ý nghĩa và vần điệu có thể làm giảm đáng kể các phương án. Đôi khi chỉ còn lại một lựa chọn duy nhất hoặc thậm chí là chẳng có lựa chọn nào cả. Đây là lý do tại sao học thuộc thơ lại dễ dàng hơn nhiều so với việc sáng tác ra chúng. Thơ có rất nhiều thể, nhưng tất cả đều có những nguyên tắc riêng quy định cấu trúc của chúng. Các khúc ballad và truyện cổ do các nghệ sĩ hát rong kể lại sử dụng rất nhiều các nguyên tắc trong thơ, bao gồm vần, điệu, nhịp, trùng âm, lặp âm đầu và từ tượng thanh trong khi vẫn đảm bảo sự liền mạch của nội dung câu chuyện.
Hãy xem hai ví dụ sau:
Một. Tôi đang nghĩ tới ba từ: một có nghĩa là “vật bí hiểm”, hai là “tên một loại vật liệu xây dựng”, và ba là “một đơn vị thời gian”. Tôi đang nghĩ tới những từ gì?
Hai. Lần này hãy tìm những từ đồng âm. Tôi đang nghĩ tới ba từ: một từ đồng âm với từ “post”, một từ đồng âm với từ “eel” và từ cuối đồng âm với từ “ear”. Tôi đang nghĩ tới những từ nào? (Tác giả Rubin và Wallace, 1989)
Trong cả hai ví dụ, câu trả lời mà bạn tìm ra chưa chắc đã là những từ ngữ tôi đang nghĩ đến trong đầu. Không có đủ các nguyên tắc để suy luận ra điều đó. Nhưng giả sử tôi nói với các bạn rằng những từ ngữ mà tôi tìm kiếm trong câu hỏi một cũng đồng thời là đáp án của câu hỏi hai: Từ gì có nghĩa là một vật bí hiểm và đồng âm với từ “post”? Từ gì là tên một loại vật liệu xây dựng và đồng âm với từ “eel”? Và từ gì có nghĩa là một đơn vị thời gian và đồng âm với từ “ear”? Giờ thì nhiệm vụ đã trở nên khá dễ dàng, những đặc điểm của từ kết hợp với nhau đã hạn chế các khả năng có thể xảy ra. Khi hai nhà tâm lý học David Rubin và Wanda Wallace tiến hành nghiên cứu với những câu hỏi trên, hầu hết những người tham gia không trả lời đúng từng câu hỏi riêng rẽ, nhưng lại tìm ra được các đáp án “ghost” (bóng ma), “steel” (sắt) và “year” (năm) khi ghép chúng lại với nhau.
Nghiên cứu kinh điển về khả năng ghi nhớ các khúc sử thi của con người được thực hiện bởi Albert Bates Lord. Vào giữa những năm 1900, ông đã du hành khắp đất nước Yugoslavia (giờ đây đã chia tách thành rất nhiều quốc gia độc lập) để tìm những người nghệ sĩ vẫn duy trì truyền thống ngâm sử thi truyền miệng. Ông đã chứng tỏ được rằng những nghệ sĩ đi từ làng này tới làng kia để kể lại những khúc sử thi thực chất là họ đang sáng tạo lại chúng. Họ sáng tác các bài thơ trên đường đi bằng cách tuân thủ các nguyên tắc về vần, điệu, nội dung, chi tiết câu chuyện, cấu trúc và các đặc điểm riêng của khúc ca ban đầu. Đây quả là một nghệ thuật đặc biệt, nhưng chắc chắn không phải là ví dụ về khả năng ghi nhớ chính xác của con người.
Sức mạnh của các nguyên tắc vần, nhịp kết hợp với nhau đã cho phép người nghệ sĩ nghe một người nghệ sĩ khác kể một câu chuyện thơ dài chỉ một lần, và sau một khoảng thời gian từ vài giờ tới một ngày có thể kể lại “cùng một câu chuyện thơ đó, chính xác từng từ một, từng dòng một”. Sự thực, như Lord chỉ ra, là câu chuyện nguyên gốc ban đầu và câu chuyện được kể lại không giống nhau tới từng từ một, nhưng cả người kể lẫn người nghe đều cho chúng là một, ngay cả khi câu chuyện thứ hai dài hơn câu chuyện thứ nhất đến hai lần. Chúng giống nhau theo những khía cạnh mà người nghe quan tâm: cùng một nội dung, cùng một tư tưởng, và được kể theo cùng một vần, nhịp điệu. Chúng giống nhau theo những khía cạnh có ý nghĩa quan trọng đối với một nền văn hóa. Lord còn chỉ ra phương thức trong đó trí nhớ về thi pháp, nội dung và phong cách kết hợp với các đặc điểm văn hóa đã tạo nên cái mà ông gọi là “công thức” để sản xuất ra một tác phẩm được xem như hoàn toàn giống với những phiên bản đã được kể trước đó.
Khái niệm một người có thể đọc lại một bài thơ chính xác đến từng từ còn tương đối mới. Nó chỉ xuất hiện sau khi những bản in trở nên phổ biến vì nếu không có những bản in này thì chẳng ai có thể đánh giá được độ chính xác của một phiên bản được nghe kể. Và quan trọng hơn là ai lại quan tâm tới điều đó cơ chứ?
Tất cả những phân tích ở trên không hề làm giảm đi giá trị của sự điêu luyện của những người nghệ sĩ. Học và kể lại một tác phẩm sử thi, như là Iliad và Odyssey của Homer chẳng hạn, rõ ràng là điều khó, ngay cả khi người nghệ sĩ có sáng tạo lại nó hay không. Có 27.000 câu thơ trong một phiên bản được viết ra của tác phẩm này. Lord chỉ ra rằng dài như vậy là quá nhiều và có thể phiên bản đó được viết ra trong những hoàn cảnh đặc biệt, khi mà Homer (hoặc một người nghệ sĩ khác) kể lại câu chuyện một cách chậm rãi, kể đi kể lại nhiều lần cho người đầu tiên ghi lại nó. Thường thì độ dài của tác phẩm sẽ phụ thuộc vào khẩu vị của người nghe, nhưng sẽ chẳng có một khán giả bình thường nào ngồi nghe hết 27.000 dòng cả. Tuy vậy, chỉ cần một phần ba số lượng đó, tức là 9.000 dòng thôi thì việc kể lại nó cũng rất ấn tượng rồi. Nếu tính mỗi giây đọc hết một dòng thơ thì người nghệ sĩ cũng phải mất đến 2,5 giờ để kể lại. Kết quả thật ấn tượng dù rằng thực tế là nó được sáng tạo lại thay vì ghi nhớ chính xác phiên bản đầu tiên. Trong trường hợp này, cả người kể lẫn người nghe đều không cần tới sự chính xác đến từng từ (mà cũng chẳng có cách nào kiểm chứng được sự sai khác).
Hầu hết chúng ta đều không phải học các tác phẩm sử thi. Nhưng chúng ta có sử dụng những quy luật chặt chẽ để làm đơn giản hóa thông tin phải lưu lại trong trí nhớ. Hãy xem xét một ví dụ thuộc về một lĩnh vực hoàn toàn khác – tháo lắp các thiết bị máy móc. Những đồ vật điển hình trong một ngôi nhà mà một người thích tìm tòi có thể cố gắng tự sửa chữa khi có trục trặc xảy ra bao gồm: khóa cửa, lò nướng bánh mỳ và máy rửa bát. Một thiết bị như vậy thường sẽ có khoảng mười bộ phận. Cần phải nhớ những gì để có thể lắp các bộ phận đó lại với nhau theo đúng trật tự? Có bao nhiêu khả năng để lắp ráp chúng với nhau? Nếu có 10 bộ phận thì sẽ có nhiều nhất 10! (mười giai thừa) cách để lắp chúng lại với nhau, tương đương với khoảng trên 3,5 triệu khả năng!
Tuy nhiên, chỉ có một vài khả năng trong số đó là có thể xảy ra vì có rất nhiều những ràng buộc về mặt vật lý đối với việc lắp ráp chúng. Một vài bộ phận phải được lắp trước thì mới lắp được các bộ phận khác vào. Một vài bộ phận hạn chế về mặt hình dạng nên không thể ghép được vào vị trí này mà phải dựa vào những vị trí khác: bu-lông phải khớp với các lỗ có cùng đường kính và độ sâu; đai ốc và vòng đệm phải được ghép với bu-lông và đinh ốc cùng cỡ, và vòng đệm luôn phải được lắp vào trước rồi mới đến đai ốc. Thậm chí còn có cả những quy tắc về mặt văn hóa như: chúng ta xoay đinh ốc theo chiều kim đồng hồ để làm nó chặt lại, ngược chiều kim đồng hồ để làm nó lỏng ra; đầu của đinh ốc thường được gắn vào phần nhìn thấy được của một chi tiết (đằng trước hay trên đầu), bu-lông thì ở những phần ít thấy hơn (đáy, bên cạnh hoặc bên trong); đinh ốc bằng gỗ và đinh ốc bằng kim loại trông khác nhau và được lắp vào những loại vật liệu khác nhau. Sau cùng, số lượng lớn các khả năng lắp ráp được giảm xuống chỉ còn một vài lựa chọn mà con người tự rút ra hoặc là đã ghi lại trước trong quá trình tháo các bộ phận ra. Bản thân những quy tắc ràng buộc không đủ để quyết định việc lắp ráp chính xác một thiết bị. Sai lầm vẫn thường xảy ra nhưng các quy tắc làm giảm lượng kiến thức con người cần học xuống mức hợp lý. Các quy tắc là công cụ đầy sức mạnh dành cho nhà thiết kế: Chúng sẽ được xem xét cụ thể trong Chương 4.
TRÍ NHỚ CHÍNH LÀ KIẾN THỨC TRONG ĐẦU ÓC CON NGƯỜI
Câu chuyện cổ của Ả Rập “Ali Baba và Bốn mươi tên cướp” kể rằng: người tiều phu nghèo Ali Baba đã khám phá ra chiếc hang bí mật của một băng cướp. Ali Baba đã nghe lỏm những tên cướp trong khi chúng đang đi vào hang và học được câu thần chú bí mật giúp mở cửa hang: “Vừng ơi mở ra!” Anh rể của Ali Baba là Kasim đã ép Ali Baba tiết lộ bí mật cho mình. Sau đó Kasim tự mình đi tới cái hang.
Khi tới cửa hang, hắn đọc thật to câu thần chú: “Vừng ơi mở ra!”
Cửa mở ngay lập tức rồi sau khi hắn bước vào, lại đóng ngay lại. Trong khi đi khám phá cái hang hắn ngạc nhiên vô cùng khi thấy lượng của cải được cất giấu còn nhiều hơn rất nhiều so với những gì hắn tưởng tượng từ lời kể của Ali Baba.
Hắn nhanh chóng xếp ra trước cửa hang nhiều túi vàng nhất mà mười con lừa hắn mang theo có thể mang được, nhưng đầu óc hắn giờ đã quá mụ mị về số của cải vừa lấy được đến nỗi hắn không thể nhớ ra câu thần chú để mở cánh cửa một lần nữa. Thay vì nói “Vừng ơi mở ra!” hắn lại nói “Lúa mạch ơi mở ra!” và hắn vô cùng ngạc nhiên khi thấy cửa hang vẫn đóng. Hắn nhắc tên của một vài loại ngũ cốc khác, nhưng cánh cửa vẫn không động đậy.
Kasim không bao giờ tính đến sự cố này, hắn trở nên quá hoảng sợ trước tình huống nguy hiểm mình đang rơi vào đến nỗi càng cố nhớ ra từ “Vừng ơi” thì trí nhớ của hắn lại càng nhầm lẫn, và hắn đã quên hẳn nó như thể chưa từng được nghe nhắc đến bao giờ.
Kasim không bao giờ ra khỏi được cái hang. Bọn cướp trở lại, chặt đầu Kasim rồi chia thi thể hắn ra làm bốn mảnh (Trích từ tập truyện The Arabian Nights (Nghìn lẻ một đêm) của Colum, xuất bản năm 1953)
Hầu hết chúng ta sẽ không bị chặt đầu nếu không nhớ ra một mật mã bí mật nào đó, nhưng việc ghi nhớ thì vẫn quả là khó khăn. Khi chúng ta phải ghi nhớ một hoặc hai bí mật như một sự kết hợp, một mật khẩu hay một câu thần chú để mở cửa thì mọi việc khá đơn giản. Nhưng khi số lượng các mật mã trở nên quá lớn, trí nhớ của chúng ta sẽ không tải nổi chúng nữa thì điều đó mang lại cảm giác như một âm mưu đang phá hủy sự mạch lạc trong đầu chúng ta bằng cách làm cho nó trở nên quá tải. Rất nhiều loại mã như mã bưu điện hay số điện thoại, tồn tại chủ yếu là để tạo nhiều thuận tiện hơn cho máy móc và những người thiết kế ra chúng mà không hề xét đến gánh nặng mà chúng đặt lên vai người sử dụng. May mắn thay, công nghệ giờ đây đã cho phép hầu hết chúng ta không phải nhớ những dữ liệu ngẫu nhiên đó mà làm hộ điều đó cho chúng ta. Số điện thoại, địa chỉ và mã bưu điện, địa chỉ Internet và e-mail đều có thể được lưu trữ tự động nên chúng ta không cần phải ghi nhớ chúng nữa. Tuy nhiên, các mã an ninh lại là chuyện khác. Trong cuộc chiến không bao giờ kết thúc và ngày càng cam go với những tin tặc, hacker hay những kẻ có ý định xấu, những mã số khác nhau và dễ gây nhầm lẫn mà chúng ta phải ghi nhớ hoặc các thiết bị an ninh đặc biệt mà chúng ta phải mang theo người vẫn đang tiếp tục tăng lên nhanh chóng cả về số lượng lẫn độ phức tạp.
Rất nhiều mã số này cần phải giữ bí mật nhưng không có cách nào để chúng ta có thể nhớ được tất cả những con số hay đoạn ký tự này cả. Hãy trả lời nhanh nhé: Câu thần chú mà Kasim cố nhớ để mở cửa hang kho báu là gì?
Vậy hầu hết mọi người đối phó với chuyện này thế nào? Họ dùng những mật mã đơn giản. Các nghiên cứu đã chỉ ra năm mật khẩu phổ biến nhất là: “password” (mật khẩu), “12345,” “12345678,” “qwerty” (sáu chữ cái trên cùng bên trái của bàn phím), và “abc123”. Chúng đều được chọn vì dễ nhớ và dễ đánh máy. Vì thế chúng cũng dễ dàng khiến cho kẻ trộm hay người xấu có cơ hội lợi dụng. Hầu hết mọi người (kể cả tôi) đều có một số mật khẩu được dùng tại nhiều nơi. Ngay cả các chuyên gia an ninh cũng dùng cách này, và đương nhiên là họ làm vậy khi cố tình lơ đi nguyên tắc của chính mình.
Đôi khi bạn cảm thấy có rất nhiều yêu cầu về an ninh dường như là thừa và phức tạp một cách không cần thiết. Vậy tại sao chúng vẫn tồn tại? Có rất nhiều nguyên nhân giải thích cho điều đó. Thứ nhất là nguy cơ tội phạm sử dụng các nhận dạng mà chúng lấy trộm được để chiếm đoạt tiền và tài sản. Thứ hai là nguy cơ những người xâm hại quyền riêng tư của người khác, dù mục đích của họ là bất chính hay không. Giáo viên cần giữ kín đề thi và điểm số của học sinh. Các công ty và quốc gia cần giữ rất nhiều bí mật quan trọng. Những món đồ cần được bảo vệ phía sau những cánh cửa khóa kín hay các bức tường được bảo vệ bằng mật mã. Tuy nhiên, vấn đề lại nằm ở sự thiếu hiểu biết về các nguy cơ có thể xảy ra của con người.
Chúng ta cần sự bảo vệ đó, nhưng hầu hết những người đưa ra các yêu cầu về an ninh ở trường, doanh nghiệp hay chính phủ lại là các chuyên gia công nghệ hoặc cán bộ thực thi pháp luật. Họ hiểu tội phạm chứ không phải hành vi của người bình thường. Họ tin rằng cần phải có những mật khẩu “có tính bảo mật cao”, những thứ khó đoán và phải được thay đổi thường xuyên. Dường như họ không nhận ra rằng ngày nay, chúng ta có quá nhiều mật khẩu cần nhớ đến nỗi khó xác định được mật khẩu này là để mở chiếc khóa nào.
Điều này gây ra một nguy cơ mới: các yêu cầu khi đặt mật khẩu càng phức tạp thì độ bảo mật của hệ thống càng kém. Tại sao vậy? Bởi khi không thể nhớ hết những ký hiệu đó, chúng ta sẽ viết chúng ra. Sau đó, họ lưu những thông tin giá trị và mang tính riêng tư này ở đâu? Trong ví, dán lên bàn phím máy tính hoặc một nơi nào đó dễ tìm, bởi họ cần đến chúng quá thường xuyên. Vì thế, một tên trộm chỉ cần đánh cắp ví hoặc tìm ra danh sách mật khẩu thì tất cả bí mật của một cá nhân bị tiết lộ. Hầu hết mọi người đều là những người lao động trung thực và hay lo âu. Họ cũng chính là những cá nhân bị các hệ thống an ninh phức tạp cản trở nhiều nhất nên không thể hoàn thành công việc của mình. Kết quả là, những người lao động tận tụy nhất thường lại chính là người vi phạm các nguyên tắc an ninh và làm cho cả hệ thống bị suy yếu đi.
Khi đang tiến hành các nghiên cứu liên quan đến nội dung của chương này, tôi đã tìm thấy hàng loạt ví dụ về những mật khẩu an toàn buộc con người phải dùng những thiết bị thiếu an toàn để ghi nhớ chúng. Một đoạn tin đăng trên diễn đàn “Mail Online” của tờ Daily Mail (Anh) đã mô tả việc này như sau:
Khi làm việc cho một cơ quan của chính quyền địa phương, chúng tôi phải đổi mật khẩu ba tháng một lần. Để chắc rằng mình nhớ được nó, tôi từng viết nó lên một mẩu giấy nhỏ và dán ngay trên bàn.
Làm thế nào để chúng ta nhớ hết được những điều bí mật? Hầu hết chúng ta không thể, ngay cả khi sử dụng các kỹ thuật ghi nhớ để biến những thứ vô nghĩa trở nên có nghĩa. Các cuốn sách và khóa học nâng cao kỹ năng ghi nhớ có thể có chút tác dụng, nhưng các phương pháp này thường rất khó tiếp thu và cần sự tập luyện thường xuyên mới duy trì được. Để dễ dàng hơn, chúng ta tạo ra những cách ghi nhớ như viết ra một cuốn sổ, một tờ giấy, thậm chí là lòng bàn tay và ngụy trang chúng để tránh sự săm soi của những tên trộm tiềm năng. Điều này đến lượt nó lại gây ra rắc rối khác: chúng ta ngụy trang chúng thế nào, làm sao giấu được chúng đi, và làm sao chúng ta nhớ được cái vỏ ngụy trang bên ngoài cùng vị trí của chúng? Cuối cùng vấn đề vẫn trở lại với điểm yếu của trí nhớ con người.
Bạn nên giấu một vật gì đó ở đâu để người khác không tìm được nó? Ở những nơi không ai ngờ đến, phải không? Tiền được cất trong tủ lạnh; trang sức trong tủ thuốc hoặc tủ giày. Chìa khóa cửa trước được giấu dưới thảm hoặc ngay dưới bậu cửa sổ. Chìa khóa xe được giấu phía sau máy bơm. Thư tình được đặt trong lọ hoa. Vấn đề là, không có nhiều những nơi không ngờ tới như vậy trong nhà. Bạn có thể không nhớ những bức thư tình hay chìa khóa của mình được giấu ở đâu, nhưng trộm nhà bạn thì có. Hai nhà tâm lý học khi nghiên cứu vấn đề này đã mô tả điều đó như sau:
Thường thì luôn có một lô-gic trong việc lựa chọn những vị trí không ai ngờ tới. Ví dụ, một người bạn của chúng tôi được công ty bảo hiểm của cô ấy yêu cầu phải mua két an toàn cho các món đồ trang sức quý giá, nếu cô muốn mua bảo hiểm cho những món đồ đó. Cô tự nhận ra rằng mình có thể quên tổ hợp mã để mở chiếc két và suy nghĩ rất cẩn thận về nơi mình sẽ lưu tổ hợp mã đó. Giải pháp của cô ấy là lưu vào danh bạ điện thoại cá nhân dưới cái tên “Mr. and Mrs. Safe” như thể đó là một số điện thoại bình thường. Lô-gic ở đây khá rõ ràng: lưu một thông tin bằng số với các thông tin bằng số khác. Thế nhưng cô đã vô cùng hoảng hốt khi xem một chương trình tự sự của một tên trộm đã hoàn lương trên ti-vi, trong đó hắn nói rằng khi bắt gặp két an toàn trong nhà, bao giờ hắn cũng đi tìm danh bạ điện thoại bởi rất nhiều người lưu mã an toàn để mở két ở đó. (Trích từ cuốn On Forgetting the Locations of Things Stored in Special Places (tạm dịch: Quên chỗ để những thứ được cất ở những nơi đặc biệt) của Winograd & Soloway xuất bản năm 1986. Trích dẫn có xin phép)
Tất cả mọi thứ ngẫu nhiên trong cuộc sống mà chúng ta cần phải nhớ đã tạo nên một sự áp đặt không mong muốn. Đã đến lúc cần phải nổi dậy. Nhưng trước khi nổi dậy, chúng ta cần biết giải pháp là gì. Như đã nhắc đến trong phần trước, một trong những nguyên tắc tôi tự đặt ra cho mình là “không bao giờ phê phán trừ khi bạn có giải pháp thay thế tốt hơn”. Trong trường hợp này, tôi cũng không rõ một hệ thống ưu việt hơn có thể sẽ ra sao.
Một vài thứ chỉ có thể được giải quyết nhờ những thay đổi đáng kể về mặt văn hóa, điều này đồng nghĩa với có thể chẳng bao giờ giải quyết được chúng. Ví dụ như vấn đề nhận dạng con người bằng tên của họ. Tên của con người đã thay đổi qua hàng nghìn năm, từ mục đích ban đầu đơn giản là để phân biệt các thành viên trong gia đình hay một nhóm người sống với nhau. Việc sử dụng tên nhiều phần (họ và tên) còn khá mới mẻ, nhưng thậm chí như thế cũng không thể giúp phân biệt một người với bảy tỷ người còn lại trên thế giới. Chúng ta viết tên trước hay họ trước? Điều này phụ thuộc vào quy định chung của quốc gia mà bạn đang sống. Một người có bao nhiêu cái tên? Bao nhiêu ký tự trong mỗi cái tên đó? Những ký tự nào là hợp pháp? Ví dụ, tên có được bao gồm cả số không? (Tôi biết những người đã cố sử dụng những cái tên như “h3nry.” và tôi cũng từng biết đến một công ty có tên là “Autonom3.”)
Dịch một cái tên từ hệ ký tự này sang hệ ký tự khác như thế nào? Một vài người bạn Hàn Quốc của tôi có tên hoàn toàn giống nhau khi viết bằng bảng chữ cái tiếng Hàn Quốc Hangul, nhưng lại khác nhau khi được chuyển sang hệ chữ cái tiếng Anh.
Rất nhiều người thay đổi tên của mình khi kết hôn hoặc ly hôn, và trong một vài nền văn hóa là khi họ trải qua những sự kiện quan trọng trong đời. Một tìm kiếm nhanh trên Internet sẽ cho thấy rất nhiều những người châu Á thắc mắc rằng họ không biết điền vào các loại mẫu hộ chiếu của Mỹ và châu Âu như thế nào vì tên của họ không tương thích với các yêu cầu.
Và chuyện gì sẽ xảy ra khi một tên trộm đánh cắp được thông tin cá nhân của một người, giả dạng người đó và sử dụng tiền cũng như thẻ tín dụng của anh ta? Ở Mỹ, những kẻ đánh cắp thông tin cá nhân này thậm chí còn có thể làm tờ khai giảm thuế thu nhập cá nhân, đến khi người nộp thuế thực cố gắng lấy lại phần tiền đáng ra họ được trả lại hợp pháp thì nhận được câu trả lời là họ đã nhận được chúng rồi.
Một lần, tôi đã tham gia một cuộc họp với các chuyên gia an ninh được tổ chức trong khuôn viên của Tập đoàn Google. Google, cũng giống như hầu hết các công ty khác, bảo vệ rất chặt chẽ các quy trình và dự án nghiên cứu phát triển của mình, vì thế hầu hết các tòa nhà trong khuôn viên của họ đều được khóa và có bảo vệ. Những người tham gia vào cuộc họp về an ninh không được phép tiếp cận với chúng (đương nhiên là trừ trường hợp họ làm việc cho Google). Cuộc họp của chúng tôi được tổ chức tại một phòng hội thảo trong không gian công cộng của một tòa nhà có kiểm soát an ninh. Thế nhưng tất cả các phòng vệ sinh thì đều nằm trong khu vực được bảo vệ. Chúng tôi đã phải làm thế nào? Những chuyên gia nổi tiếng hàng đầu thế giới về an ninh cuối cùng cũng tìm ra một giải pháp: Họ tìm được một viên gạch và dùng nó để chèn cánh cửa dẫn tới khu vực an ninh, giữ cho nó luôn mở trong quãng thời gian diễn ra cuộc họp. Thật là một ví dụ thú vị về việc làm điều gì đó quá an toàn và cuối cùng nó lại trở thành quá kém an toàn.
Vậy chúng ta giải quyết những vấn đề này thế nào? Làm sao để đảm bảo an toàn cho việc khách hàng tiếp cận với những hồ sơ, tài khoản ngân hàng và hệ thống máy tính của mình? Hầu hết các phương sách mà bạn có thể tưởng tượng ra đều đã được đề xuất, nghiên cứu, và rồi được phát hiện là có nhược điểm. Các công cụ nhận dạng sinh trắc học (tròng mắt hay võng mạc, dấu vân tay, nhận diện giọng nói, nhận diện hình thể, DNA) thì sao? Tất cả đều có thể bị làm giả hoặc khai thác từ hệ thống dữ liệu. Một khi ai đó đã cố gắng đánh lừa hệ thống máy tính thì chúng ta cần phải làm gì? Các nhận dạng sinh trắc học không thể thay đổi, bởi vậy một khi chúng đã nhận diện sai người, việc thay đổi là vô cùng khó khăn.
Độ bảo mật của một mật khẩu thực ra cũng không có nhiều ý nghĩa bởi phần lớn mật khẩu đều bị đánh cắp trực tiếp do lộ thông tin hoặc thông qua các phần mềm theo dõi thao tác bàn phím (“key loggers”), chúng được giấu trong hệ thống máy tính của bạn, ghi lại tất cả những gì bạn đánh trên bàn phím và gửi nó cho những kẻ xấu. Khi các hệ thống máy tính bị đột nhập, hàng triệu mật khẩu có thể bị đánh cắp, và ngay cả khi chúng đã được mã hóa, kẻ xấu vẫn có thể giải mã chúng. Trong cả hai trường hợp, dù mật khẩu có bảo mật đến đâu thì cuối cùng kẻ xấu vẫn biết nó là gì.
Phương pháp an toàn nhất là đòi hỏi nhiều mã định dạng. Các chương trình thông dụng nhất thường đòi hỏi ít nhất hai loại mật khẩu khác nhau: “một cái mà bạn có” cộng thêm “một cái mà bạn biết”. “Cái bạn có” thường là các định dạng vật lý như thẻ hoặc chìa khóa, thậm chí có thể là thứ gì đó được cấy dưới da hoặc một đặc điểm sinh trắc học trên cơ thể bạn như vân tay hoặc võng mạc. “Cái bạn biết” là thông tin trong đầu bạn, thường phải được ghi nhớ. Nhưng thứ bạn phải nhớ không nhất thiết phải có tính bảo mật cao như các loại mật khẩu khác vì nó sẽ không có tác dụng nếu không có thông tin vòng ngoài của bạn. Một vài hệ thống còn áp dụng cả mật khẩu cảnh báo. Nếu kẻ xấu cố tình ép bạn đăng nhập vào hệ thống thì trong vòng một giây bạn có thể nhập mật khẩu này vào và thông báo với cơ quan an ninh về việc đột nhập bất hợp pháp.
An ninh đặt ra những vấn đề rất lớn trong thiết kế, đòi hỏi những công nghệ phức tạp như chính hành vi của con người vậy. Có những khó khăn rất cơ bản và khó giải quyết? Liệu có lối thoát nào hay không? Không, chưa có. Có thể chúng ta sẽ cứ phải quẩn quanh với những rắc rối phức tạp này suốt đời thôi!
CẤU TRÚC CỦA TRÍ NHỚ
Hãy đọc to các số 1, 7, 4, 2, 8. Tiếp theo, hãy nhắc lại mà không nhìn vào dãy số trên trang sách nữa. Hãy thử một lần nữa nếu bạn đã chót nhìn, lần này nhắm mắt lại, để “nghe” những âm thanh vang vọng lại vào tâm trí bạn. Có ai đó vừa đọc một câu bất kỳ nào đó cho bạn. Những từ đó là gì? Ký ức về một hiện thực vừa mới diễn ra sẽ xuất hiện ngay lập tức trong đầu bạn, rõ ràng và đầy đủ mà không cần đến bất kỳ nỗ lực nào.
Bạn ăn gì vào bữa tối ba ngày trước? Giờ thì cảm giác của bạn sẽ hơi khác một chút. Bạn cần một chút thời gian để lục lại câu trả lời, nó không rõ ràng cũng không đầy đủ như một hiện thực vừa mới diễn ra nữa và việc nhớ lại nó dường như đòi hỏi nỗ lực trí óc rất lớn. Hồi tưởng lại quá khứ rất khác so với hồi tưởng lại một sự việc chỉ vừa mới diễn ra. Đòi hỏi nhiều nỗ lực hơn, kết quả mờ nhạt hơn. Thực ra, “quá khứ” cần phải trôi qua chưa quá lâu nữa. Bây giờ không nhìn lại, bạn còn nhớ những con số mình vừa đọc to là gì không? Một số người giờ đã cần thêm chút thời gian và nỗ lực để nhớ lại chúng rồi. (Trích từ Learning and Memory (tạm dịch: Học hỏi và ghi nhớ, Norman 1982)
Các nhà tâm lý học phân ký ức thành hai lớp khác nhau: ký ức ngắn hạn (short-term memory) hay ký ức hoạt động và ký ức dài hạn (long-term memory). Hai lớp này có vai trò rất khác biệt nhau khi áp dụng vào hoạt động thiết kế.
Ký ức ngắn hạn hay ký ức hoạt động
Ký ức ngắn hạn hay ký ức hoạt động (STM) chứa những trải nghiệm và nội dung gần nhất vừa được nghĩ tới. Nó là trí nhớ về thực tại tức thì. Thông tin được lưu một cách tự động và được khôi phục mà không cần đến bất kỳ nỗ lực nào; tuy nhiên lượng thông tin có thể được lưu theo cách này rất hạn chế, khoảng chừng năm đến bảy chi tiết là cùng, với các con số trùng lặp liên tiếp, số lượng có thể lên đến 10 hoặc 12 – các nhà tâm lý học gọi đây là “nhắc lại” (rehearsing).
Hãy nhẩm phép nhân 27 với 293 trong đầu bạn. Nếu cố gắng làm giống như cách bạn tính trên giấy, hầu như bạn không thể nhớ hết tất cả các con số và tìm ra kết quả trong giới hạn của STM. Bạn sẽ thất bại. Phương pháp nhân truyền thống chỉ tối ưu với giấy và bút. Không cần phải giảm gánh nặng cho trí nhớ bởi vì các con số được viết lên giấy sẽ làm giúp bạn việc này (thông tin trong thực tại), bởi vậy, bạn chỉ cần sử dụng STM và các thông tin trong đó một cách rất hạn chế. Có rất nhiều cách để bạn có thể tính nhẩm phép nhân, nhưng chúng khá khác biệt so với khi bạn dùng giấy và bút, đồng thời cũng đòi hỏi bạn phải học và thực hành các kỹ năng.
Ký ức ngắn hạn có ý nghĩa rất quan trọng trong đời sống hằng ngày của con người, giúp chúng ta nhớ các từ ngữ, tên gọi hay nhiệm vụ của mình, chính vì thế nó mới có một tên khác là trí nhớ hoạt động (working memory). Nhưng những nội dung được lưu lại trong STM khá mờ nhạt. Chỉ cần bị sao lãng bởi một hoạt động khác một chút thôi, chúng sẽ biến khỏi đầu óc chúng ta. Chúng ta có thể ghi nhớ một mã bưu điện hoặc số điện thoại từ lúc tìm ra nó cho tới lúc nó được sử dụng – với điều kiện là không có chuyện gì xảy ra khiến chúng ta bị sao lãng. Nhớ chín hoặc mười con số trong đầu đã là cả một vấn đề, cho nên khi phải nhớ nhiều hơn thế, bạn đừng ngần ngại viết chúng ra. Hoặc có một cách khác là bạn chia nhỏ dãy số ra thành những đoạn ngắn hơn, chuyển chúng thành những nhịp điệu có nghĩa.
Các chuyên gia về trí nhớ sử dụng những kỹ thuật đặc biệt gọi là thuật nhớ (mnemonic), để ghi lại trong đầu một lượng thông tin lớn đến kinh ngạc, thường là chỉ sau một lần tiếp cận. Một trong số đó là chuyển những con số trong một dãy dài thành những đoạn ngắn hơn có nghĩa (một nghiên cứu nổi tiếng đã chỉ ra cách một vận động viên điền kinh nghĩ về các dãy số giống như các lượt chạy, và sau một khoảng thời gian dài thực hành, người đó đã có thể nhớ được những dãy số dài đến kinh ngạc mà chỉ cần nhìn có một lần). Một phương pháp truyền thống khác được dùng để ghi nhớ những dãy số dài là chuyển từng con số trong đó thành một phụ âm, rồi chuyển những dãy phụ âm đó thành một cụm dễ nhớ. Một bảng mã chuyển đổi các con số thành phụ âm tiêu chuẩn đã tồn tại cách đây hàng trăm năm, được thiết kế một cách rất thông minh giúp người đọc dễ học thuộc, bởi các phụ âm có thể được rút ra từ chính hình dạng của các con số. “1” được chuyển thành “t” (hoặc âm “d” tương tự), “2” trở thành “n”, “3” trở thành “m”, “4” trở thành “r” và “5” là “L” (giống chữ số La Mã tương ứng với 50). Tôi đã vô tình đọc được toàn bộ bảng chuyển đổi và thuật nhớ này trên Internet khi tìm kiếm với từ khóa “number-consonant mnemonic” (thuật nhớ dãy số bằng cách chuyển thành chữ cái).
Bằng cách chuyển đổi các con số thành chữ cái, dãy số 4194780135092770 sẽ tương đương với các chữ cái rtbrkfstmlspncks và có thể trở thành “A hearty breakfast meal has pancakes” (Bữa sáng ngon lành có pan-cake). Hầu hết mọi người đều không phải là chuyên gia ghi nhớ những dãy dài tùy ý của bất cứ cái gì, vì vậy, mặc dù quan sát các phù thủy trí nhớ biểu diễn là điều rất thú vị nhưng thiết kế những hệ thống coi sự thành thạo đó là khả năng đương nhiên của con người thì thật là sai lầm.
Dung lượng của STM là điều khó xác định đến bất ngờ, bởi vì nó ghi lại được bao nhiêu nội dung còn tùy thuộc vào độ quen thuộc của các nội dung đó. Hơn nữa, chúng ta bao giờ cũng ghi nhớ những điều có ý nghĩa nào đó chứ không phải những thứ đơn giản tùy ý như thời gian, các âm thanh hay chữ cái riêng lẻ. Việc ghi nhớ bị tác động bởi cả thời gian và số lượng các chi tiết. Số lượng các chi tiết còn quan trọng hơn cả thời gian, trong đó mỗi chi tiết mới sẽ làm giảm khả năng nhớ được toàn bộ các chi tiết phía trước nó. Dung lượng chính là các chi tiết này bởi con người gần như chỉ có thể nhớ được cùng một lượng gồm 3-5 từ hay con số, hay cũng chừng đó cụm từ đơn giản. Chỉ vậy thôi sao? Tôi nghi ngờ là STM chứa những thứ giống như là manh mối dẫn đến điều đã được mã hóa trong trí nhớ dài hạn, có nghĩa là dung lượng trí nhớ là số lượng các manh mối mà nó có thể giữ được. Điều này giải thích một thực tế là độ dài và phức tạp của chi tiết tác động rất ít tới dung lượng trí nhớ, chỉ có số lượng các chi tiết có tác động lớn mà thôi. Nhưng nó cũng không tính đến thực tế là đối với STM, đôi khi chúng ta còn nghe nhầm nữa, trừ khi các manh mối được ghi lại dưới dạng trí nhớ âm thanh. Đây vẫn còn là chủ đề mở để khoa học khám phá.
Các phương pháp truyền thống cho ta dung lượng của STM là từ 5-7 đơn vị, nhưng tốt nhất trong thực tế, chúng ta hãy chỉ cho rằng nó chứa được từ 3-5 đơn vị thôi. Con số đó liệu có quá nhỏ không? Ồ, khi bạn gặp một người lạ, bạn có luôn muốn nhớ tên người đó không? Khi phải gọi điện thoại, bạn có phải nhìn vào những con số vài lần trong khi bấm không? Ngay cả một sự sao lãng nhỏ nhoi nhất cũng có thể quét sạch hết những thứ bạn đang muốn ghi lại trong STM.
Vậy ý nghĩa của chuyện này với việc thiết kế là gì? Đừng bao giờ cho rằng STM có thể lưu lại được nhiều thông tin. Các hệ thống máy tính thường làm cho con người phát bực khi có vấn đề gì đó xảy ra, bởi nó hiển thị những thông tin quan trọng trong một lời nhắn mà lời nhắn sẽ biến mất khỏi màn hình ngay trước khi người dùng muốn sử dụng nó. Vậy làm sao con người nhớ được thông tin quan trọng đó? Tôi chẳng hề ngạc nhiên khi có người phát cáu hay thậm chí là đập phá chiếc máy tính của mình.
Tôi từng nhìn thấy các y tá viết thông tin y tế quan trọng của bệnh nhân ra tay bởi thông tin đó sẽ biến mất khỏi màn hình máy tính ngay nếu họ bị sao lãng trong chốc lát vì có người làm phiền. Hệ thống lưu trữ thông tin y tế điện tử sẽ tự động thoát ra khỏi tài khoản của người dùng khi nó nhận thấy tài khoản đó dường như đang không được sử dụng. Tại sao lại phải tự động thoát như vậy? Là để bảo vệ thông tin cá nhân của bệnh nhân. Mục đích đó có thể rất đáng hoan nghênh, nhưng nó lại gây khó khăn cho y tá bởi công việc hằng ngày của họ thường xuyên bị cắt ngang bởi yêu cầu của các bác sĩ, đồng nghiệp và bệnh nhân. Trong khi đang giải quyết các yêu cầu khác, hệ thống lại không cho họ tiếp tục truy cập tài khoản của mình nữa, vậy là sau đó họ lại phải bắt đầu đăng nhập lại từ đầu. Chẳng trách các y tá phải viết thông tin họ cần ra, mặc dù điều đó dường như là một sự phủ nhận giá trị của hệ thống máy tính trong việc giảm thiểu các lỗi viết tay. Nhưng họ còn có thể làm gì khác? Liệu còn cách nào thuận tiện hơn để họ có được những thông tin quan trọng đó không? Họ không thể nhớ hết được chúng – đó chính là lý do tại sao họ cần đến máy tính.
Chúng ta có thể học các kỹ năng làm hạn chế các giới hạn của trí nhớ ngắn hạn do những việc khiến chúng ta sao lãng tạo ra. Một trong số những kỹ năng đó là huy động cùng lúc nhiều giác quan. Những thông tin thu nhận được từ thị giác sẽ không làm ảnh hưởng tới khả năng nghe, các hoạt động chân tay sẽ không gây trở ngại cho việc nghe hay đọc. Xúc giác cũng không phải là trở ngại lớn. Để tối đa hóa hiệu quả của trí nhớ hoạt động, tốt nhất là chúng ta thể hiện các thông tin khác nhau thông qua những kênh giác quan khác nhau: hình ảnh, âm thanh, sự tiếp xúc, tiếng động, vị trí không gian và ngôn ngữ cơ thể. Ô tô nên phát các tín hiệu âm thanh nhằm chỉ dẫn người lái, hoặc dùng tín hiệu rung để thông báo với lái xe hoặc cảnh báo cho lái xe khi họ đi không đúng phần đường của mình hoặc khi đang có các phương tiện khác ở bên trái hoặc bên phải, để không làm cản trở việc xử lý thông tin bằng thị giác của họ. Lái xe, về cơ bản, sử dụng thị giác, vậy nên việc sử dụng thính giác hay xúc giác sẽ làm giảm thiểu sự sao lãng với nhiệm vụ chính mà họ đang thực thi.
Trí nhớ dài hạn
Trí nhớ dài hạn (LTM) là trí nhớ về các sự kiện diễn ra trong quá khứ. Theo nguyên tắc, cần có thời gian để thông tin được lưu lại trong trí nhớ dài hạn và vì vậy, con người sẽ cần cả thời gian và nỗ lực để lấy được chúng ta. Ngủ dường như đóng một vai trò quan trọng trong việc tăng cường trí nhớ về các trải nghiệm hằng ngày của con người. Hãy lưu ý rằng, chúng ta không ghi nhớ các trải nghiệm của mình một cách chính xác mà như những mẩu đoạn thông tin được dựng và biểu đạt lại mỗi lần chúng ta muốn nhớ lại điều gì, có nghĩa là chúng ta là chủ thể của tất cả những sai lệch và thay đổi mà cơ chế giải thích của con người tạo ra trước thực tại cuộc sống. Việc chúng ta có thể hồi tưởng từ trí nhớ dài hạn của mình các trải nghiệm và kiến thức đến mức độ nào còn phụ thuộc rất nhiều vào việc dữ liệu mà chúng ta tiếp nhận đã được diễn giải ra sao trong lần đầu tiên tiếp cận chúng. Những gì được lưu lại trong trí nhớ dài hạn của một người theo cách diễn giải này có thể không thể được tìm thấy ở đâu khác dưới những cách diễn giải khác. Còn dung lượng của trí nhớ dài hạn thì không ai có thể biết được, chúng có thể tính bằng đơn vị Gigabyte hoặc Terabyte. Chúng ta thậm chí còn không biết nên sử dụng đơn vị nào. Dù kích thước của nó có là bao nhiêu đi nữa thì có lẽ vẫn là quá lớn để chúng ta có thể đặt ra giới hạn cho nó.
Vai trò của giấc ngủ với việc tăng cường trí nhớ dài hạn vẫn chưa được hiểu rõ, nhưng có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về vấn đề này. Một trong những cơ chế có thể phù hợp với nó là cơ chế nhắc lại. Chúng ta đã biết từ lâu rằng việc nhắc lại các nội dung – xem xét lại chúng trong khi chúng vẫn còn được lưu giữ trong trí nhớ ngắn hạn – là một yếu tố quan trọng để hình thành các dấu vết về nó trong trí nhớ dài hạn. Giáo sư Ken Paller của trường Đại học Northwestern, một trong những tác giả của nghiên cứu gần đây về chủ đề này đã nói: “Chính những điều khiến bạn nhắc lại trong khi ngủ cũng là điều quyết định bạn sẽ nhớ và quên những gì. Hoạt động nhắc lại trong giấc ngủ làm tăng cường trí nhớ nhưng nó cũng có thể bị sai lệch đi: “Ký ức trong não chúng ta luôn thay đổi. Đôi khi bạn tăng cường bộ nhớ của mình bằng cách nhắc lại tất cả các chi tiết để sau đó có thể nhớ tốt hơn – nhưng nó cũng làm bạn nhớ kém hơn nếu bạn thêm thắt quá nhiều chi tiết.”
Hãy nhớ lại câu trả lời của bạn cho câu hỏi được đặt ra ở Chương 2.
Trong ngôi nhà bạn đã ở trước hai lần chuyển nhà gần đây nhất, tay nắm cửa nằm ở bên phải hay bên trái?
Đối với hầu hết mọi người, câu hỏi trên đòi hỏi họ phải nỗ lực rất lớn dù chỉ để nhớ ra họ đã ở chỗ nào, cộng với một kỹ thuật đặc biệt được mô tả trong Chương 2 nhằm tự đặt bản thân vào bối cảnh cũ và tái tạo câu trả lời. Đây là ví dụ về trí nhớ theo tiến trình, những ký ức về cách thức bạn làm mọi việc, nó đối lập với trí nhớ tuyên ngôn, tức là những ký ức mang tính thông tin. Trong cả hai trường hợp, có thể bạn sẽ phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới có câu trả lời. Hơn nữa, câu trả lời đó sẽ không được hình thành một cách trực tiếp như cách chúng ta đọc nó từ một quyển sách hay trang web. Nó là một sự tái tạo thông tin, bởi vậy chắc chắn sẽ có sự khác biệt và sai lệch. Kiến thức trong trí nhớ rất có ý nghĩa, nhưng tại mỗi thời điểm nó được lấy ra, một người có thể lý giải nó theo những cách khác nhau chứ không hoàn toàn chính xác.
Khó khăn lớn nhất đối với trí nhớ dài hạn là việc tổ chức nó. Làm sao chúng ta tìm được những điều mình đang cố gắng ghi nhớ? Hầu hết mọi người đều đã trải qua cảm giác “sắp sửa nhớ ra điều gì đó mà không tài nào nhớ được”. Bạn có cảm giác là mình biết, nhưng thông tin thì lại không thực sự ở sẵn có trong đầu bạn. Đôi khi sau thời điểm đó, khi đang ở trong một tình huống hay hoạt động khác, thông tin đó mới chợt nảy ra trong suy nghĩ sáng suốt của bạn. Phương thức con người khai thác thông tin cần thiết trong trí nhớ của mình vẫn còn là điều bí ẩn, nhưng nó có thể liên quan đến một cơ chế so sánh mẫu đi cùng với quá trình xác nhận nhằm kiểm tra sự nhất quán với thông tin đang cần tìm. Đó là lý do tại sao khi bạn lục tìm trong trí nhớ một cái tên nhưng liên tục nhớ ra kết quả không đúng, bạn lại biết đó không phải thứ mình cần. Bởi việc tìm kiếm sai sẽ ngày càng cản trở bạn tìm ra kết quả đúng nên bạn phải chuyển sang một hoạt động khác nhằm làm cho quá trình khai thác thông tin trong tiềm thức của mình tự điều chỉnh lại chính nó.
Vì khai thác thông tin trong trí nhớ là một quá trình tái tạo, nên nó có thể đưa ra kết quả sai. Chúng ta có thể tạo dựng lại những sự kiện theo cách mà chúng ta muốn nhớ về chúng chứ không phải cách chúng ta đã thực sự trải nghiệm chúng. Việc tác động tới một người để họ có những ký ức không chính xác, nhớ những sự kiện trong cuộc sống của họ một cách rõ ràng mặc dù chúng chưa từng xảy ra, cũng khá dễ dàng. Như rất nhiều các thí nghiệm tâm lý học đã chỉ ra, thật dễ gieo rắc một ký ức sai lầm nào đó vào đầu óc con người một cách thuyết phục đến nỗi cuối cùng họ từ chối không chịu thừa nhận rằng ký ức đó là về một sự kiện chưa từng xảy ra.
Kiến thức trong đầu óc con người thực ra chính là kiến thức trong trí nhớ: kiến thức nội tại. Nếu xem xét cách con người sử dụng ký ức và khai thác thông tin từ đó, chúng ta sẽ phát hiện ra một số loại ký ức. Hai loại quan trọng nhất trong số đó là:
1. Ký ức về những điều ngẫu nhiên. Những thứ ngẫu nhiên được ghi nhớ, không có ý nghĩa cũng không có mối liên hệ nào với nhau hoặc với những thứ đã biết.
2. Ký ức về những điều có nghĩa. Những thứ được ghi nhớ tạo nên những mối liên hệ có ý nghĩa với nhau và với những thứ đã biết.
Ký ức về những điều ngẫu nhiên và những điều có nghĩa
Kiến thức ngẫu nhiên có được khi bạn ghi nhớ những điều đơn giản không có ý nghĩa hay cấu trúc cơ sở. Ví dụ điển hình là việc nhớ các chữ cái trong bảng chữ cái và thứ tự sắp xếp của chúng, tên người, các từ vựng trong tiếng nước ngoài, những thứ không có cấu trúc rõ ràng. Nó cũng bao gồm việc học thuộc các dãy mã tùy ý, các câu lệnh, các tín hiệu cử chỉ và quy trình của phần nhiều các công nghệ hiện đại. Đó là cách thuộc lòng, cách học vẹt – một nguy cơ của thế giới hiện đại.
Có những thứ chúng ta buộc phải học vẹt như các chữ cái trong bảng chữ cái chẳng hạn, nhưng ngay cả khi đó chúng ta cũng có thể tạo ra cấu trúc cho những ký tự đáng ra không có nghĩa, chuyển nó thành một bài hát và sử dụng mối ràng buộc tự nhiên về vần và điệu để tạo cấu trúc.
Học vẹt gây ra rất nhiều vấn đề. Thứ nhất, dữ liệu của nó là ngẫu nhiên nên việc ghi nhớ rất khó khăn, có thể làm tiêu tốn khá nhiều thời gian và sức lực. Thứ hai, khi có vấn đề xảy ra, chuỗi thông tin được ghi nhớ sẽ không giúp chúng ta có được dấu vết nào về điều đã xảy ra, không một gợi ý nào về những việc cần làm để sửa chữa. Mặc dù một số thứ rất thích hợp để học vẹt nhưng hầu hết mọi thứ đều không như vậy. Vậy mà cuối cùng, nó vẫn là một trong những phương pháp học tập chủ yếu tại rất nhiều hệ thống trường học cho trẻ em, thậm chí là chương trình đào tạo cho cả người lớn. Đó là cách nhiều người học để sử dụng máy vi tính hay nấu ăn, cũng là cách chúng ta học để sử dụng một số cải tiến mới về công nghệ (được thiết kế tồi).
Chúng ta học những chuỗi dữ liệu hay mối liên kết ngẫu nhiên bằng cách đưa ra cho chúng cấu trúc do chúng ta tự tạo ra. Hầu hết sách vở và các khóa học về các phương pháp tăng cường trí nhớ (thuật nhớ) đều sử dụng các phương pháp tiêu chuẩn khác nhau để đưa ra cấu trúc, đôi khi là cho những thứ tưởng như hoàn toàn ngẫu nhiên như danh sách rau quả mua ngoài chợ, ghép tên người với ngoại hình của họ. Như chúng ta đã thấy trong thảo luận về các phương pháp dành cho trí nhớ ngắn hạn, ngay cả những dãy số hoàn toàn ngẫu nhiên cũng có thể được ghi nhớ nếu chúng có thể được liên kết với một vài cấu trúc có ý nghĩa. Những người chưa từng được đào tạo hoặc tự mình phát minh ra các phương pháp ghi nhớ cố gắng tạo ra những cấu trúc để ghi nhớ, nhưng thường thì chúng không hợp lý lắm và khiến cho việc học thuộc còn trở nên khó khăn hơn.
Hầu hết mọi thứ trong thực tại đều có một cấu trúc hợp lý nào đó khiến cho việc ghi nhớ của con người trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Khi một thứ có một ý nghĩa nào đó, chúng tương tác với những thứ mà chúng ta đã có trong đầu để chúng ta có thể hiểu, diễn giải và tích hợp nó với những thứ mình đã có. Giờ chúng ta có thể sử dụng các nguyên tắc và mối quan hệ để hiểu những thứ có mối liên hệ với nhau. Cấu trúc có ý nghĩa có thể liên kết được cả những thứ rõ ràng là ngẫu nhiên và không có trật tự.
Bạn có nhớ những gì chúng ta đã thảo luận về mô hình khái niệm trong Chương 1? Đối với một mô hình khái niệm tốt, một phần sức mạnh của nó nằm ở khả năng cung cấp cho chúng ta ý nghĩa của sự vật mà nó nói đến. Hãy cùng xem xét một ví dụ để thấy được làm thế nào một sự lý giải có ý nghĩa lại có thể biến một việc tưởng như hoàn toàn ngẫu nhiên thành một việc rất hợp lô-gic tự nhiên. Hãy nhớ rằng sự lý giải hợp lý có thể không rõ ràng ngay từ đầu; đó cũng là kiến thức và cũng cần được khám phá.
Một đồng nghiệp người Nhật Bản của tôi, Giáo sư Yutaka Sayeki của Trường Đại học Tokyo, từng gặp khó khăn khi nhớ cách sử dụng nút điều khiển đèn xi-nhan nằm ở phía trái tay ga xe máy của ông. Gạt nút điều khiển về phía trước để bật đèn tín hiệu rẽ phải và gạt về phía sau để bật đèn tín hiệu rẽ trái – ý nghĩa của cái nút điều khiển rất rõ ràng. Nhưng Sayeki cứ nghĩ rằng bởi vì cái nút điều khiển nằm ở phía trái của tay ga nên đẩy nó về phía trước phải có nghĩa là rẽ trái. Ông cố gắng lập ra một sơ đồ liên kết giữa hành động “đẩy nút điều khiển ở bên trái về phía trước” và ý định “rẽ trái” nhưng nó là mô hình sai lầm. Kết quả là ông luôn gặp rắc rối với việc chuyển hướng khi lái chiếc xe đó. Phần lớn các loại xe máy có đèn xi-nhan theo kiểu khác, xoay vòng thêm 90 độ để khi chuyển nó sang trái sẽ có nghĩa là ra hiệu rẽ trái còn chuyển nó sang phải thì có nghĩa là ra hiệu rẽ phải. Sơ đồ này khá dễ học (nó là một ví dụ về sơ đồ liên hệ tự nhiên, sẽ được thảo luận thêm trong phần cuối chương này). Nhưng nút điều khiển trên xe của Sayeki lại chuyển động theo hướng đi lên hoặc đi xuống chứ không phải trái hoặc phải. Ông phải ghi nhớ nó thế nào đây?
Sayeki đã giải quyết vấn đề bằng cách lý giải lại hành động. Ông xem xét cách chuyển động tay ga của chiếc xe máy. Để rẽ trái, tay ga phía bên trái phải được kéo lùi lại. Để rẽ phải thì nó phải được đẩy về phía trước. Chuyển động của nút điều khiển đèn xi-nhan hoàn toàn song song với chuyển động của tay ga. Nếu nhiệm vụ bật xi-nhan được khái niệm hóa là để đưa ra tín hiệu về hướng chuyển động cùng với tay ga thay vì hướng chuyển động của chiếc xe máy thì có thể coi nó có chuyển động giống như mong muốn, cuối cùng chúng ta cũng có một sơ đồ liên hệ tự nhiên.
Khi chuyển động của nút điều khiển được xem là ngẫu nhiên, sẽ rất khó nhớ nó. Nhưng một khi Giáo sư Sayeki đã phát hiện ra một mối liên hệ có ý nghĩa, ông thấy dễ dàng nhớ cách vận hành nó hơn nhiều. (Các tay lái có kinh nghiệm sẽ chỉ ra rằng mô hình khái niệm này vẫn sai: để chuyển hướng chiếc xe, trước hết phải bẻ lái về hướng ngược lại. Điểm này sẽ được nói đến trong ví dụ 3 của phần tiếp theo, “Các mô hình gần đúng”.)
Mục đích của việc thiết kế rất rõ ràng: đưa ra những cấu trúc có ý nghĩa. Và cách tốt nhất là khiến cho việc ghi nhớ trở nên không cần thiết: hãy đưa thông tin người dùng cần vào thế giới thực tại. Đây chính là sức mạnh của các giao diện bằng hình ảnh truyền thống dành cho người dùng với cấu trúc danh mục các chương trình đã cũ rích của nó. Khi nghi ngờ, người dùng luôn có thể kiểm tra tất cả các chương trình có trong danh mục cho đến khi tìm ra cái mình muốn. Ngay cả những hệ thống không sử dụng danh mục cũng cần một vài cấu trúc nào đó: các mối liên hệ phù hợp, các sơ đồ tự nhiên và tất cả các công cụ cần thiết để người dùng có thể đưa ra thông điệp và nhận phản hồi. Cách hiệu quả nhất giúp con người ghi nhớ là khiến nó trở nên không cần thiết.
CÁC MÔ HÌNH GẦN ĐÚNG: KÝ ỨC TRONG THẾ GIỚI THỰC TẠI
Suy nghĩ một cách có ý thức làm tiêu tốn của con người thời gian và nguồn lực. Khi có các kỹ năng nhuần nhuyễn, con người sẽ không cần đến sự quan sát và điều khiển một cách có ý thức nữa: Sự điều khiển có ý thức chỉ cần thiết đối với những lần tiếp cận đầu tiên hoặc để đối phó với những tình huống không mong đợi. Luyện tập liên tục khiến chu trình hành động trở thành tự động, giảm thiểu sự suy nghĩ và giải quyết vấn đề một cách tỉnh táo. Hầu hết các chuyên gia hay những người có kỹ năng nhuần nhuyễn đều làm theo cách này, dù họ có đánh tennis, chơi nhạc cụ, làm toán hay làm khoa học thì đều như vậy cả. Các chuyên gia giảm thiểu sự cần thiết của lý luận có ý thức. Nhà vật lý học và toán học Alfred North Whitehead đã đưa ra nguyên tắc này từ hơn một thế kỷ trước:
Tất cả các cuốn sách và những nhân vật xuất chúng khi phát biểu đều đưa ra một sự thật hiển nhiên sai lầm rằng chúng ta nên tạo thói quen suy nghĩ về những việc mình làm. Thực tế hoàn toàn ngược lại. Văn minh của nhân loại tiến bộ nhờ sự mở rộng số lượng những hoạt động mà con người có thể thực hiện được mà không cần phải suy nghĩ về chúng. (Alfred North Whitehead, 1911)
Một cách để đơn giản hóa suy nghĩ là sử dụng những mô hình đã được đơn giản hóa, những mô hình gần đúng với tình trạng cơ bản đúng của sự vật. Khoa học xử lý những dữ liệu thực tế còn thực hành chỉ cần đến những thứ gần đúng. Những người thực hành không cần sự thực chính xác, họ cần kết quả một cách nhanh chóng và mặc dù không chính xác vẫn “đủ tốt” để phục vụ mục đích của họ. Hãy xem xét các ví dụ sau:
Ví dụ 1: Chuyển đổi nhiệt độ giữa độ F và độ C
Nhiệt độ bên ngoài nhà tôi bây giờ là 55 độ F. Tính theo thang độ C thì nhiệt độ bây giờ là bao nhiêu? Hãy nhẩm nó trong đầu nhanh nhất có thể mà không sử dụng bất kỳ công nghệ nào. Câu trả lời của bạn là gì?
Tôi chắc tất cả các bạn đều nhớ công thức chuyển đổi:
°C = (°F – 32) × 5 / 9
Thay số 55 vào ta sẽ có ºC = (55 – 32) × 5 / 9 = 12,8°. Thế nhưng hầu hết mọi người đều không thể nhẩm được phép tính này mà không có giấy và bút bởi có quá nhiều số trung gian phải ghi lại trong trí nhớ ngắn hạn của họ.
Bạn cần một cách đơn giản hơn? Hãy thử công thức gần đúng này – bạn có thể nhẩm nó trong đầu mà không cần đến giấy và bút:
°C = (°F – 30) / 2
Thay số 55 vào ta sẽ có ºC = (55 – 30) / 2 = 12,5º. Kết quả cho ra có hoàn toàn chính xác không? Không, nhưng nó đủ sát với giá trị chính xác là 12.8. Sau cùng, tôi chỉ đơn giản là muốn biết mình có nên mặc thêm một chiếc áo len không mà thôi. Bất cứ sai số nào trong vòng 5ºF so với kết quả đúng cũng thỏa mãn được mục đích của tôi.
Các câu trả lời gần đúng thường vẫn đáp ứng được mục đích của câu hỏi, ngay cả khi về mặt kỹ thuật rõ ràng là nó sai. Phương pháp đơn giản cho ra kết quả gần đúng trong phép chuyển đổi số đo nhiệt độ này “đủ tốt” để có thể được sử dụng trong cuộc sống hằng ngày, nó thật tuyệt vời. Nó đủ tốt cho những mục đích thực tiễn.
Ví dụ 2: Một mô hình trí nhớ ngắn hạn
Sau đây là một mô hình gần đúng của trí nhớ ngắn hạn:
Có năm khoang trong trí nhớ ngắn hạn của con người. Mỗi lần một dữ liệu được thêm vào, nó lấp đầy một khoang và đẩy bất kỳ thứ gì đang ở trong đó ra ngoài.
Mô hình này có đúng không? Không hề, chưa có một nhà nghiên cứu về trí nhớ nào trên toàn thế giới tin rằng đây là mô hình chính xác. Nhưng nó đủ tốt để mang ra ứng dụng. Hãy áp dụng nó và thiết kế của bạn chắc chắn sẽ trở nên hữu dụng hơn.
Ví dụ 3: Chuyển hướng xe gắn máy
Trong phần trước, chúng ta đã biết Giáo sư Sayeki lập sơ đồ liên hệ giữa việc chuyển hướng chiếc xe máy của ông và việc bật đèn tín hiệu xi-nhan ra sao để ông có thể nhớ được cách sử dụng đúng. Nhưng khi đó tôi cũng chỉ ra rằng mô hình khái niệm đó là sai lầm.
Tại sao mô hình khái niệm về việc chuyển hướng chiếc xe máy vẫn hữu dụng ngay cả khi nó sai? Việc chuyển hướng chiếc xe thực chất ngược lại với trực giác của người dùng, để rẽ trái, tay ga trước hết cần được vặn sang bên phải. Đây gọi là kỹ thuật trả lái, và nó đi ngược lại với mô hình khái niệm của hầu hết mọi người. Vậy tại sao lại thế? Chúng ta không nên vặn tay ga về bên trái để lái chiếc xe về bên trái sao? Yếu tố quan trọng nhất khi chuyển hướng một phương tiện hai bánh là độ nghiêng: Khi chiếc xe chuyển sang trái, người lái phải nghiêng người về phía đó. Trả lái khiến người lái nghiêng người một cách hợp lý: khi tay ga được vặn về bên phải, lực mà nó sinh ra với người lái xe khiến cơ thể anh ta nghiêng sang trái. Sự chuyển trọng tâm này sau đó sẽ khiến chiếc xe rẽ trái.
Những tay lái có kinh nghiệm thường lái xe đúng cách chỉ bằng tiềm thức mà không hề nhận thức được rằng họ chuyển hướng bằng cách vặn tay ga theo hướng ngược với hướng mà mình mong muốn, do đó vi phạm chính mô hình khái niệm của họ. Các khóa đào tạo xe máy phải có những bài tập đặc biệt để thuyết phục người lái xe rằng đó là cách họ đang làm.
Bạn có thể thử nghiệm khái niệm trực giác ngược chiều này trên một chiếc xe đạp hoặc xe máy bằng cách lái nó đến một vận tốc mà bạn cảm thấy thoải mái, đặt bàn tay lên phần cuối của tay lái phía bên trái, nhẹ nhàng đẩy nó về phía trước. Tay lái và bánh trước sẽ chuyển hướng sang phải và cơ thể bạn sẽ nghiêng sang trái, khiến cho chiếc xe và tay lái rẽ sang trái.
Giáo sư Sayeki hoàn toàn nhận thức được mâu thuẫn này giữa mô hình của ông và thực tế, nhưng ông muốn trí nhớ hỗ trợ việc điều chỉnh mô hình khái niệm của mình. Các mô hình khái niệm là những sơ đồ lý giải hết sức hiệu quả và hữu dụng trong những hoàn cảnh khác nhau. Chúng không cần phải chính xác chừng nào vẫn đưa ra được hành vi đúng trong những hoàn cảnh phù hợp.
Ví dụ 4: Số học “gần đúng”
Hầu hết chúng ta đều không thể tính nhẩm phép nhân hai số có giá trị lớn trong đầu vì chúng ta sẽ quên giữa chừng. Các chuyên gia trí nhớ có thể nhân nhẩm hai số lớn với nhau một cách nhanh chóng và không cần đến mấy nỗ lực khiến khán giả vô cùng ngạc nhiên trước kỹ năng của họ. Hơn nữa, các con số kết quả được đọc ra từ trái sang phải, như cách chúng ta sử dụng chúng, chứ không phải từ phải sang trái như khi chúng ta dùng bút và giấy để đặt phép tính. Những chuyên gia này sử dụng các kỹ năng đặc biệt nhằm giảm tải tối đa cho trí nhớ hoạt động, nhưng họ làm được vậy với điều kiện phải học hàng loạt các phương pháp đặc biệt để giải quyết những dãy số và câu hỏi khác nhau.
Đây có phải điều tất cả chúng ta đều nên học không? Tại sao trường học lại không dạy chúng ta điều đó? Câu trả lời của tôi rất đơn giản: Tại sao phải học chứ? Tôi có thể ước lượng câu trả lời trong đầu mình với độ chính xác phù hợp, thường là đủ để thỏa mãn mục đích của mình. Còn khi cần tính nhẩm một cách chính xác hoàn toàn, tôi sẽ dùng máy tính.
Hãy nhớ lại ví dụ trước của tôi, nhân nhẩm 27 với 293? Tại sao lại cần đến câu trả lời chính xác? Một câu trả lời gần đúng là đã đủ rồi, và có được nó thì lại khá dễ dàng. Thay 27 bằng 30 và 293 bằng 300, ta có 30 × 300 = 9.000 (3 × 3 = 9 rồi thêm ba số 0 vào sau kết quả). Kết quả chính xác là 7.911 còn kết quả gần đúng là 9.000, chỉ chênh có 14%. Trong nhiều trường hợp, chỉ cần kết quả gần đúng này là đủ. Bạn cần thêm một chút chính xác ư? Chúng ta sẽ chỉ thay 27 bằng 30 và làm phép nhân một cách dễ dàng? 3 vẫn còn lớn quá ư? Vậy thì trừ 3 x 300 trong đáp án đi (9.000 – 900). Giờ chúng ta có kết quả là 8.100, chỉ lệch có 2% mà thôi.
Hiếm có khi nào chúng ta cần biết câu trả lời cho những phép toán phức tạp với độ chính xác cao và thường thì ước lượng gần đúng đã là đủ rồi. Khi cần chính xác, bạn hãy dùng máy tính. Đó là ưu điểm của máy móc – cho kết quả có độ chính xác cao. Còn cho hầu hết mọi mục đích của con người thì ước lượng thôi là đủ. Máy móc nên tập trung vào giải quyết các vấn đề toán học. Con người nên tập trung vào những vấn ở cấp cao hơn, chẳng hạn như lý do vì sao cần phải có câu trả lời cho bài toán đó.
Trừ khi bạn có tham vọng trở thành một người biểu diễn tại hộp đêm, làm mọi người kinh ngạc với kỹ năng ghi nhớ của mình thì đây là một cách đơn giản để tăng cường đáng kể cả trí nhớ lẫn độ chính xác – viết mọi thứ ra. Viết là một cách thức đầy hiệu quả, tại sao lại không dùng nó chứ? Hãy dùng một mẩu giấy, hoặc mu bàn tay. Viết ra hoặc đánh máy. Sử dụng điện thoại hay máy tính. Hãy sai khiến nó – đó chính là mục đích của công nghệ.
Một trí óc không được hỗ trợ sẽ hạn chế đến kinh ngạc. Đó là những điều khiến chúng ta thông minh. Hãy tận dụng chúng.
Lý thuyết khoa học và kiến thức thực tế
Các nhà khoa học luôn nỗ lực để vươn tới sự thật của vấn đề. Kết quả là họ luôn tranh cãi nhau. Phương pháp khoa học là phương pháp của mâu thuẫn và tranh cãi. Chỉ có những ý tưởng đã được xem xét kỹ lưỡng bởi nhiều nhà khoa học mới có thể tồn tại. Sự không nhất quán triền miên này có vẻ khá lạ lẫm với những người ngoài giới làm khoa học, bởi với họ, dường như các nhà khoa học chẳng biết gì cả. Hãy chọn bất kỳ chủ đề nào, bạn sẽ phát hiện ra rằng các nhà khoa học làm việc trong lĩnh vực đó vẫn đang tiếp tục tranh cãi nhau.
Nhưng những vấn đề còn tranh cãi giữa họ lại khá viển vông. Hầu hết họ đều đồng ý với nhau về những vấn đề lớn và sự bất đồng quan điểm lại thường chỉ liên quan đến những chi tiết nhỏ, chi tiết quan trọng để phân biệt hai lý thuyết đang cạnh tranh nhau, nhưng thực ra chúng chỉ có tác động rất nhỏ trong thực tiễn đời sống.
Trong cuộc sống thực tế, chúng ta không cần đến sự thật hoàn hảo, các mô hình gần đúng cũng đủ tốt rồi. Mô hình khái niệm tối giản của Giáo sư Sayeki về việc bẻ lái chiếc xe máy đã giúp ông ghi nhớ cách sử dụng nút điều khiển đèn xi-nhan; công thức chuyển đổi thang đo nhiệt độ tối giản và các phép nhân gần đúng đều cho phép chúng ta đưa ra kết quả nhanh chóng ngay trong đầu. Mô hình tối giản của STM đưa ra những hướng dẫn hữu ích cho công việc thiết kế, ngay cả khi chúng sai lầm về mặt khoa học. Tất cả ước lượng gần đúng này đều sai, nhưng chúng lại rất có giá trị trong việc giảm tải cho trí nhớ, giúp đưa ra kết quả một cách nhanh chóng và dễ dàng với độ chính xác “vừa đủ” thỏa mãn mục đích đề ra.
KIẾN THỨC TRONG ĐẦU ÓC CON NGƯỜI
Kiến thức trong thế giới thực tại, kiến thức đến từ bên ngoài là một công cụ có giá trị giúp con con người ghi nhớ, nhưng chỉ khi nó có mặt ở đúng lúc, đúng chỗ và đúng hoàn cảnh mà thôi. Còn lại chúng ta sẽ phải sử dụng kiến thức trong đầu mình. Có một câu ngạn ngữ cổ rất phù hợp trong hoàn cảnh này là “xa mặt, cách lòng” (Out of sight, out of mind). Một trí nhớ hiệu quả sử dụng tất cả những nguyên liệu sẵn có: kiến thức trong thực tại, kiến thức trong đầu và sự kết hợp của cả hai. Chúng ta đã thấy việc kết hợp như vậy cho phép chúng ta hoạt động hiệu quả như thế nào cho dù mỗi nguồn kiến thức riêng rẽ đều không đầy đủ.
Phi công ghi nhớ những điều kiểm soát không lưu nói với họ
Các phi công khi đang lái máy bay phải nghe mệnh lệnh từ trạm kiểm soát không lưu được phát đi với tốc độ rất nhanh, sau đó họ phải đáp lại một cách chính xác. Sinh mệnh của họ và hành khách phụ thuộc vào khả năng làm theo các chỉ dẫn một cách chính xác. Một trang web về chủ đề này đã đăng tải một ví dụ về các hướng dẫn được đưa ra cho một phi công để người đó cất cánh như sau:
Frasca 141, đường bay tới Mesquite sẵn sàng, sau khi rẽ trái tiến lên 090, radar hướng về Mesquite. Bay lên và duy trì độ cao 2.000. Ước đạt độ cao 3.000 sau cất cánh 10 phút. Tần số khởi hành 124,3, chọn mã tiếp sóng 5270. (Một hướng dẫn điển hình từ trạm không lưu, thường được nói rất nhanh. Trích từ “ATC Phraseology” trên nhiều trang web, không cần trích nguồn)
Một phi công đang được đào tạo hẳn sẽ đặt câu hỏi: “Làm sao chúng ta ghi nhớ tất cả những thông tin đó trong khi đang cố gắng tập trung vào việc cất cánh?” Câu hỏi hay đấy. Cất cánh là một quy trình phức tạp, nguy hiểm với rất nhiều việc cần được xử lý, cả bên trong lẫn bên ngoài máy bay. Làm sao các phi công ghi nhớ được tất cả thông tin? Họ có trí nhớ siêu phàm chăng?
Thực ra các phi công sử dụng ba kỹ thuật chính:
1. Viết ra những thông tin quan trọng.
2. Nhập chúng vào thiết bị của họ khi nghe hướng dẫn để giảm thiểu những chi tiết cần nhớ.
3. Ghi nhớ một vài thông tin dưới dạng những cụm từ có nghĩa.
Với những người quan sát từ bên ngoài, tất cả mọi chỉ dẫn và số liệu nghe có vẻ ngẫu nhiên và dễ gây nhầm lẫn, nhưng đối với các phi công, chúng là những thứ rất quen thuộc. Như một người trong cuộc đã chỉ ra, đó là những con số và công thức quen thuộc trong quy trình hạ cánh máy bay. “Frasca 141 là tên chiếc máy bay, chỉ ra nơi nhận những chỉ dẫn được nêu. Chỉ dẫn quan trọng đầu tiên phải nhớ là rẽ trái theo hướng la bàn 090, sau đó lên độ cao 2.000 feet. Hai con số này sẽ được viết ra. Nhập tần số radio 124,3 vào như được chỉ dẫn nhưng tần số này gần như đã được biết trước và hệ thống radio hầu như đã được cài đặt phù hợp. Tất cả những gì bạn cần làm là nhìn xem nó đã đúng hay chưa. Tương tự, “mã tiếp sóng 5270” là một mã đặc biệt mà chiếc máy bay sẽ gửi đi bất cứ khi nào nó gặp sóng radar nhằm xác định vị trí của nó với trạm không lưu. Viết nó ra hoặc cài đặt trên thiết bị như được chỉ dẫn. Chỉ dẫn còn lại “Ước đạt độ cao 3.000 feet sau 10 phút cất cánh” chỉ là một thông báo, không cần phải làm gì cả. Chỉ là để khẳng định lại rằng sau 10 phút cất cánh, Frasca 141 sẽ có thể được chỉ dẫn để lên độ cao 3.000 feet, nhưng nếu vậy sẽ có một chỉ dẫn mới cho việc đó.
Làm sao các phi công nhớ được? Họ chuyển những thông tin mới nhận được vào bộ nhớ của thế giới thực tại, đôi khi bằng cách viết chúng ra, đôi khi bằng cách sử dụng các thiết bị trên máy bay.
Điều này có ý nghĩa gì đối với việc thiết kế? Người dùng càng dễ nhập thông tin vào thiết bị liên quan ngay khi tiếp nhận nó bao nhiêu thì sai sót càng ít xảy ra bấy nhiêu. Các hệ thống kiểm soát không lưu đã được cải tiến để hỗ trợ việc này. Các hướng dẫn từ họ sẽ được gửi đi bằng tín hiệu kỹ thuật số và hiển thị trên màn hình trước mặt phi công lâu chừng nào họ còn cần đến chúng. Việc truyền tín hiệu kỹ thuật số cũng khiến các thiết bị tự động có thể tự điều chỉnh theo hướng dẫn. Tuy nhiên, nó cũng có một vài nhược điểm. Các máy bay khác sẽ không nghe thấy các chỉ dẫn này và vì thế phi công sẽ không biết tất cả các máy bay ở gần mình sẽ hoạt động ra sao. Các nhà nghiên cứu kiểm soát không lưu và an toàn hàng không vẫn đang nghiên cứu những vấn đề này. Đúng vậy, nó là một vấn đề trong thiết kế.
Nhắc nhớ: Trí nhớ dự định
Cụm từ trí nhớ dự định (prospective) hay trí nhớ dành cho tương lai nghe có vẻ không hợp lẽ thường lắm, hoặc giống như tựa của một cuốn tiểu thuyết khoa học viễn tưởng vậy, nhưng đối với các nhà nghiên cứu về trí nhớ, cụm thứ nhất chỉ có nghĩa đơn giản là sự ghi nhớ hành động cần thực hiện tại một thời điểm nào đó trong tương lai còn cụm thứ hai chỉ khả năng lập kế hoạch, khả năng tưởng tượng ra các kịnh bản trong tương lai. Cả hai khái niệm trên có liên quan mật thiết với nhau.
Hãy xem xét việc nhắc nhớ. Giả sử bạn hứa gặp một vài người bạn ở quán cà phê vào ba rưỡi chiều ngày thứ Tư. Thông tin đó nằm trong đầu bạn, nhưng làm sao bạn nhớ được nó vào thời điểm thích hợp? Bạn cần được nhắc nhớ. Đây là một ví dụ rõ ràng của trí nhớ dự định, nhưng khả năng đưa ra những dấu hiệu cần thiết cho việc đó lại liên quan tới một vài khía cạnh của trí nhớ dành cho tương lai. Bạn sẽ ở đâu ngay trước thời gian hẹn vào ngày thứ Tư? Hiện bạn đang nghĩ đến điều gì để giúp bản thân ghi nhớ cuộc hẹn vào thời điểm trước khi cuộc hẹn diễn ra?
Có rất nhiều chiến lược dành cho việc nhắc nhớ. Một cách đơn giản là giữ thông tin trong đầu, tin tưởng bản thân sẽ nhớ đến nó vào đúng thời điểm. Nếu sự kiện sắp diễn ra đủ quan trọng, bạn sẽ không gặp vấn đề với việc ghi nhớ nó. Sẽ khá lạ lùng nếu bạn phải đặt cả một hệ thống lịch thông báo chỉ để nhắc nhớ rằng mình sẽ kết hôn vào lúc ba giờ chiều.
Nhưng dựa vào ký ức trong đầu lại không phải một kỹ thuật hiệu quả đối với những sự kiện hằng ngày. Không chỉ có vậy, ngay cả khi bạn nhớ ra một cuộc hẹn, liệu bạn có nhớ tất cả các chi tiết liên quan tới nó, như việc bạn sẽ cho ai đó mượn một cuốn sách chẳng hạn? Khi đi mua sắm, bạn sẽ nhớ dừng lại ở cửa hàng tạp hóa trên đường về nhà, nhưng bạn có nhớ tất cả những thứ mình cần mua không?
Nếu sự kiện không quan trọng đối với cá nhân bạn và sẽ xảy ra trong một vài ngày sắp tới, sẽ là khôn ngoan nếu chuyển một phần gánh nặng của việc ghi nhớ sang cho các công cụ như: ghi chú, lịch làm việc, đặc biệt là các chương trình và dịch vụ nhắc nhở trên máy tính hay điện thoại di động. Những người may mắn có trợ lý sẽ trút gánh nặng này lên họ. Đến lượt những người này, họ sẽ ghi chú lại, nhập vào lịch trình, đặt hẹn giờ trên máy tính.
Tại sao lại đặt gánh nặng ghi nhớ lên người khác khi chúng ta có thể trút nó lên chính đồ vật? Tôi phải nhớ cho người bạn mượn một cuốn sách ư? Tôi sẽ để nó ở nơi tôi chắc chắn nhìn thấy nó trước khi ra khỏi nhà. Hoặc tôi có thể để chìa khóa xe lên trên cuốn sách, vậy là khi ra khỏi nhà tôi sẽ nhớ ra nó và nếu quên thì tôi sẽ không thể lái xe mà không có khóa. (Mà tốt nhất là để chìa khóa xe bên dưới quyển sách, tôi vẫn có thể quên cuốn sách khi để chùm chìa khóa ở trên nó.)
Có hai khía cạnh khác nhau của một công cụ nhắc nhớ: dấu hiệu và thông điệp. Giống như khi làm việc gì đó, chúng ta có thể phân biệt giữa việc gì cần làm và cách làm nó thế nào, khi nhắc nhớ chúng ta cũng phải phân biệt giữa dấu hiệu – biết rằng điều gì đó cần được nhớ ra, và thông điệp – việc nhớ ra nội dung của nó. Hầu hết các phương pháp nhắc nhớ thông thường chỉ đưa ra một trong hai khía cạnh đó. Cũng như câu chuyện tự nhắc nhở bằng cách “buộc chỉ vào ngón tay”, cách làm này chỉ đưa ra dấu hiệu. Nó không cho chúng ta bằng chứng nào về nội dung cần ghi nhớ. Viết ra một ghi chú chỉ đưa ra cho bạn thông điệp, nó không bao giờ nhắc bạn phải nhìn qua nó. Một công cụ nhắc nhớ hoàn hảo cần có cả hai yếu tố: dấu hiệu cho thấy có gì đó cần phải nhớ và nội dụng cụ thể của nó.
Một dấu hiệu về điều gì đó cần được nhớ ra có thể là đủ nếu nó đến với chúng ta đúng lúc và đúng chỗ. Được nhắc nhớ quá sớm hoặc quá muộn thì mọi dấu hiệu đều sẽ trở nên vô nghĩa. Nhưng nếu công cụ nhắc nhớ đến đúng lúc và đúng chỗ, thì những dấu hiệu của môi trường xung quanh có thể đủ để cung cấp thông tin giúp chúng ta nhớ ra nội dung điều mình cần. Các công cụ nhắc nhớ dựa vào thời gian cũng có thể hiệu quả, tiếng ring ring trên điện thoại di động nhắc nhớ tôi về cuộc hẹn tiếp theo. Các công cụ nhắc nhớ dựa vào địa điểm có thể hữu dụng khi đưa ra thông tin tại địa điểm chính xác khi chúng ta cần đến nó. Tất cả thông tin cần thiết đều có thể được lưu trong thế giới thực tế, trong các thiết bị công nghệ xung quanh chúng ta.
Nhu cầu đối với các công cụ nhắc nhớ theo thời gian đã tạo ra rất nhiều sản phẩm giúp con người đặt thông tin mình cần vào các vật dụng bên ngoài như đồng hồ bấm giờ, nhật ký, lịch trình. Nhu cầu đối với các công cụ nhắc nhớ điện tử cũng tăng cao, như chúng ta có thể thấy ở sự đa dạng của các ứng dụng trên điện thoại thông minh, máy tính bảng và các thiết bị di động khác. Thế nhưng, ngạc nhiên nhất là trong kỷ nguyên của các thiết bị có màn hình như hiện nay, các công cụ bằng giấy vẫn còn khá phổ biến và hiệu quả, bằng chứng là số lượng các sản phẩm sổ tay và giấy ghi chú.
Con số về các phương pháp nhắc nhớ khác nhau cũng cho thấy rằng nhu cầu được trợ giúp trong việc ghi nhớ của con người thực ra rất lớn, nhưng không có nhiều chương trình hay thiết bị thỏa mãn được nó. Nếu có một thiết bị như vậy thì chúng ta sẽ không cần nhiều loại chương trình và thiết bị đến thế. Những sản phẩm ít hiệu quả hơn sẽ biến mất, còn sản phẩm mới sẽ không được làm ra nữa.
SỰ CÂN BẰNG GIỮA KIẾN THỨC TRONG THỰC TẾ VÀ KIẾN THỨC TRONG ĐẦU
Cả kiến thức trong thực tế và kiến thức trong đầu óc đều cần thiết đối với hoạt động hằng ngày của con người. Nhưng ở một mức độ nào đó, chúng ta có thể lựa chọn phụ thuộc nhiều hơn vào loại kiến thức này hay loại kiến thức kia. Lựa chọn đó sẽ để lại cho chúng ta các chi phí cơ hội – có được lợi thế từ kiến thức trong thực tế có nghĩa là làm mất đi lợi thế có được từ kiến thức trong đầu (Bảng 3.1).
Kiến thức trong thực tế đóng vai trò là công cụ nhắc nhớ của chính nó. Nó có thể giúp chúng ta khôi phục lại những cấu trúc mà nếu không có nó, chúng ta có thể đã quên mất. Kiến thức trong trí óc con người khá đầy đủ và hiệu quả, chúng ta không cần tìm kiếm hay lý giải chúng. Chi phí cơ hội nằm ở chỗ, để sử dụng kiến thức trong đầu, chúng ta phải có khả năng lưu trữ và khai thác nó, mà để đạt được điều đó, con người có thể cần phải học hỏi rất nhiều. Kiến thức trong thực tế không đòi hỏi chúng ta phải học, nhưng lại khó sử dụng hơn. Kiến thức trong thực tế phụ thuộc rất nhiều vào sự sẵn có và tồn tại liên tục của nó trong môi trường xung quanh, môi trường thay đổi thì kiến thức mà nó mang theo cũng có thể mất đi. Kết quả thực hiện phụ thuộc vào sự ổn định của môi trường làm việc.
Như chúng ta vừa thảo luận, các công cụ nhắc nhớ đã cho chúng ta một ví dụ rất hay về chi phí cơ hội giữa kiến thức trong thực tế và kiến thức trong đầu con người. Kiến thức trong thực tế có thể tiếp cận được. Nó mang tính tự nhắc nhớ. Nó luôn ở đó, đợi chờ để được chúng ta nhận ra và sử dụng. Đó là lý do tại sao chúng ta tổ chức không gian làm việc của mình một cách cẩn thận. Chúng ta để giấy tờ ở nơi có thể nhìn thấy chúng, hoặc nếu muốn một bàn làm việc sạch sẽ, chúng ta đặt chúng vào nơi quy định và đưa ra những hướng dẫn cho chính mình (kiến thức trong đầu óc) để tìm kiếm thứ mình cần theo trình tự có sẵn. Chúng ta sử dụng đồng hồ, lịch và ghi chú. Kiến thức trong đầu thì ngược lại, nó không ổn định, đến rồi đi. Chúng ta không thể lúc nào cũng chỉ dựa vào những thứ có trong đầu mình, trừ khi nó được kích hoạt bởi một sự kiện từ bên ngoài, hoặc chúng ta luôn có nó trong đầu nhờ sử dụng lặp lại nhiều lần (nhưng như vậy sẽ lại cản trở chúng ta nghĩ tới những điều khác một cách sáng suốt). Xa mặt cách lòng mà!
BẢNG 3.1. Sự cân bằng giữa sử dụng kiến thức thực tế và kiến thức trong đầu
Khi rời bỏ rất nhiều những sự hỗ trợ vật chất mình đang có như sách vở, tạp chí, ghi chú, lịch làm việc, chúng ta sẽ không còn nhìn thấy phần lớn những gì chúng ta sử dụng như kiến thức trong thế giới thực tế nữa. Phải, chúng sẽ có trên các màn hình, nhưng trừ khi các màn hình luôn hiển thị cái chúng ta cần, nếu không chúng ta lại trút thêm gánh nặng lên trí nhớ của chính mình. Có thể chúng ta không phải nhớ tất cả các chi tiết của thông tin được lưu trữ, nhưng chúng ta sẽ phải nhớ rằng chúng ở đó, rằng chúng cần được hiển thị lại vào thời điểm thích hợp hoặc vì mục đích nhắc nhớ.
KÝ ỨC CỦA NHIỀU NGƯỜI, TRONG NHIỀU THIẾT BỊ
Nếu kiến thức và cấu trúc trong thế giới thực tại có thể kết hợp với kiến thức trong đầu để nâng cao hiệu quả sử dụng trí nhớ thì tại sao lại không tận dụng ký ức của nhiều người, trong nhiều thiết bị khác nhau?
Hầu hết chúng ta đều đã từng chứng kiến sức mạnh của nhiều trí óc trong việc nhớ ra điều gì đó. Bạn đang ở cùng bạn bè, cố gắng nhớ ra tên của một bộ phim, hoặc một nhà hàng nào đó nhưng không thành công. Và những người bạn của bạn sẽ cố gắng giúp bạn nhớ ra. Cuộc hội thoại có thể như sau:
“Đó là một nhà hàng mới, họ chuyên làm món thịt nướng!”
“Ừm, nhà hàng Hàn Quốc trên phố số Năm phải không?”
“Không, không phải Hàn Quốc, Nam Mỹ kia, umh………”
“À, Brazillian, nhà hàng Brazillian phải không?”
“Phải, đúng rồi!”
“Pampas gì đó.”
“Phải, Pampas Chewy. Um, Churry, ừm,”
“Churrascaria. Pampas Churrascaria.”
Có bao nhiêu người tham gia vào cuộc hội thoại trên? Có thể là bất kỳ con số nào, nhưng quan trọng là mỗi người đều thêm vào đó một chút thông tin, dần dần giới hạn những lựa chọn, gợi ra những thông tin mà không ai có thể tự mình nghĩ ra. Daniel Wegner, một giáo sư tâm lý học thuộc Đại học Harvard đã gọi đây là “bộ nhớ giao dịch” (transactive memory).
Đương nhiên, chúng ta thường dựa vào sự hỗ trợ của công nghệ để giải đáp các vấn đề của mình, tìm đến các thiết bị thông minh để tìm kiếm các nguồn thông tin điện tử và Internet. Khi chúng ta mở rộng từ tìm kiếm sự giúp đỡ từ phía những người khác sang tìm kiếm sự giúp đỡ từ công nghệ, Wegner gọi đó là “trí tuệ máy tính” (cybermind) nguyên tắc cơ bản vẫn như vậy. Trí tuệ máy tính không phải lúc nào cũng đưa ra được câu trả lời, nhưng nó có thể đưa ra các manh mối đủ để chúng ta tự đưa ra câu trả lời. Ngay cả câu trả lời của công nghệ cũng thường dưới dạng một danh sách các câu trả lời tiềm năng, và chúng ta phải sử dụng kiến thức của chính mình hoặc bạn bè để quyết định xem câu trả lời nào là đúng đắn nhất.
Điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta dựa quá nhiều vào kiến thức từ bên ngoài, cho dù đó là kiến thức trong thế giới thực tế, kiến thức của bạn bè hay của các thiết bị công nghệ? Một mặt, không có cái gọi là “quá nhiều”. Chúng ta càng học cách sử dụng các nguồn kiến thức này, kết quả hoạt động của chúng ta sẽ càng được cải thiện. Kiến thức từ bên ngoài là một công cụ đầy sức mạnh để tăng cường trí thông minh. Mặt khác, kiến thức từ bên ngoài thường sai lầm: hãy xem mức độ đáng tin cậy của các nguồn tin trực tuyến và vô số điều mâu thuẫn trong các chuyên mục của Wikipedia. Kiến thức của bạn đến từ đâu không quan trọng, quan trọng là kết quả cuối cùng.
Trong một cuốn sách đã xuất bản trước đây của mình, Things That Make Us Smart (tạm dịch: Những thứ khiến chúng ta trở nên thông minh), tôi đã cho rằng sự kết hợp giữa công nghệ và con người đã tạo ra những thứ siêu mạnh. Công nghệ không làm chúng ta thông minh hơn. Con người cũng không làm công nghệ thông minh được. Phải là sự kết hợp của cả hai. Con người cộng với nhân tạo, đó là sự thông minh. Cùng với các công cụ, chúng ta là những sự kết hợp đầy sức mạnh. Mặt khác, nếu bỗng nhiên không còn những thiết bị trợ giúp bên ngoài nữa, chúng ta sẽ không thể hành động suôn sẻ được. Theo rất nhiều cách, chúng ta sẽ trở nên “kém thông minh” hơn.
Rời bỏ chiếc máy tính là rất nhiều người không thể làm toán. Lấy đi hệ thống định vị, rất nhiều người sẽ không thể đi lại được, ngay cả trong thành phố nơi họ đang sinh sống. Lấy đi danh bạ trên điện thoại hay máy tính, nhiều người sẽ không còn liên hệ được với bạn bè của họ nữa (trong trường hợp của tôi, thậm chí tôi sẽ không còn nhớ cả số điện thoại của chính mình).
Không có bàn phím, tôi không thể viết. Không có chương trình sửa lỗi chính tả, tôi không thể viết chuẩn chính tả.
Tất cả những thứ này có ý nghĩa gì? Như vậy là tốt hay xấu? Đó hoàn toàn không phải hiện tượng gì mới. Cắt nguồn cung cấp khí gas và điện, chúng ta có thể sẽ chết đói. Lấy đi nhà cửa và quần áo, chúng ta có thể chết rét. Chúng ta phụ thuộc vào các cửa hàng thương mại, hệ thống giao thông và dịch vụ của chính phủ để cung cấp cho bản thân những thứ thiết yếu cho cuộc sống. Như thế là xấu ư?
Mối quan hệ đối tác giữa công nghệ và con người khiến chúng ta thông minh hơn, mạnh mẽ hơn và sống tốt hơn trong thế giới hiện đại. Chúng ta đã phụ thuộc vào công nghệ và chúng ta không thể sống tốt mà không có nó nữa. Ngày nay, sự phụ thuộc đó còn lớn hơn bao giờ hết, không chỉ dừng lại những thứ vật chất cụ thể như nhà cửa, quần áo, máy sưởi, chỗ để đồ ăn và hệ thống giao thông, sự phụ thuộc này còn mở rộng ra cả các dịch vụ thông tin như: liên lạc, tin tức, giải trí, giáo dục và tương tác xã hội. Khi mọi việc trôi chảy, chúng ta được thông tin, cảm thấy thoải mái và hiệu quả. Khi mọi thứ không tốt đẹp, có thể chúng ta cũng không thể sinh sống bình thường được. Sự phụ thuộc vào công nghệ đã diễn ra từ lâu rồi, nhưng qua mỗi thập kỷ, nó lại bao trùm thêm nhiều hoạt động khác nhau của con người.
SƠ ĐỒ CÁC MỐI LIÊN HỆ TỰ NHIÊN
Sơ đồ các mối liên hệ, một chủ đề đã được nhắc đến từ Chương 1, cho chúng ta một ví dụ về sức mạnh của sự kết hợp giữa kiến thức trong thực tế và kiến thức có sẵn trong đầu. Bạn đã bao giờ xoay nhầm nút và bật nhầm lò đốt trên bếp gas nhà mình chưa? Bạn sẽ cho rằng đó là một việc khá dễ dàng. Chỉ có một nút xoay đơn giản để bật tắt và điều chỉnh nhiệt độ thôi mà. Trên thực tế, việc đó dường như quá đơn giản tới mức khi làm sai, mà thường thì sai sót rất hay xảy ra, con người lại trách móc chính mình: “Làm sao mình có thể ngu ngốc tới mức một việc đơn giản như thế cũng làm sai?” Thực ra, nó không đơn giản đến vậy, và hơn nữa đó cũng không phải lỗi của chúng ta: ngay cả một thiết bị đơn giản như bếp gas cũng thường được thiết kế rất tồi và sai sót chắc chắn sẽ xảy ra.
Hầu hết các loại bếp đều có bốn lò đốt với bốn núm xoay điều khiển tương ứng với từng cái. Tại sao lại khó nhớ bốn thứ đơn giản đến vậy?
HÌNH 3.2. Sơ đồ núm điều khiển và các lò đốt. Theo kiểu truyền thống như hình A và B, các lò đốt được xếp thành hình chữ nhật trong khi các núm điều khiển lại được xếp theo đường thẳng. Sơ đồ liên hệ tự nhiên không đầy đủ của mối liên kết này thường là hai núm điều khiển ở bên trái dành cho các buồng đốt bên trái và hai núm điều khiển bên phải dành cho các buồng đốt bên phải. Nhưng khi đó, vẫn có tới bốn khả năng kết hợp khác nhau giữa các buồng đốt và núm điều khiển tương ứng với nó, và tất cả đều khá phổ biến trên các loại bếp khác nhau. Cách duy nhất để điều khiển đúng là ghi chú dán trên mặt bếp. Tuy nhiên, nếu các nút điều khiển cũng được sắp xếp thành hình chữ nhật (như hình C) hoặc các lò đốt được xếp lệch nhau (như hình D) thì không cần phải có chú dẫn nào cả. Người dùng sẽ mất ít thời gian để tiếp cận cách sử dụng hơn và nhầm lẫn sẽ ít xảy ra hơn.
Về nguyên tắc, mối liên hệ giữa các núm điều khiển và lò đốt phải được tạo ra sao cho người dùng dễ dàng ghi nhớ chúng. Nhưng trên thực tế, điều đó gần như là không thể. Tại sao vậy? Bởi sơ đồ liên kết giữa các núm điều khiển và lò đốt quá tồi. Hãy nhìn vào Hình 3.2, nó thể hiện bốn khả năng kết hợp giữa các lò đốt và núm điều khiển. Hình 3.2C và D chỉ ra hai cách thiết kế phù hợp: sắp xếp các núm điều khiển tương tự như các lò đốt (C) hoặc đặt các lò đốt lệch nhau (D) để chúng có một thứ tự nhất định từ trái sang phải.
Tệ hơn nữa là các nhà sản xuất bếp gas không thể thống nhất với nhau về một sơ đồ phù hợp. Nếu tất cả bếp ga đều có cách sắp xếp các núm điều khiển như nhau thì cho dù cách sắp xếp đó không phù hợp cho lắm, người dùng vẫn có thể sử dụng đúng chỉ sau một lần tiếp cận thông tin. Như chú thích của Hình 3.2 chỉ ra, ngay cả khi nhà sản xuất đã khôn khéo sắp xếp sao cho mỗi cặp điều khiển sẽ vận hành một cặp lò đốt tương ứng ở cùng phía, vẫn có tới bốn khả năng có thể xảy ra mà tất cả bốn khả năng đó đều được áp dụng khá phổ biến. Một số bếp sắp xếp các núm điều khiển thành đường thẳng, khiến các khả năng kết hợp với các buồng đốt tương ứng còn nhiều hơn nữa. Mỗi sản phẩm dường như lại khác nhau một chút. Thậm chí các sản phẩm của cùng một nhà sản xuất cũng có sự khác biệt. Đó là lý do vì sao người dùng luôn gặp rắc rối, nhẹ thì là không nấu được món ăn như mong muốn còn tệ nhất là gây hỏa hoạn.
Các sơ đồ liên hệ tự nhiên là các sơ đồ trong đó mối liên hệ mà nó chỉ ra giữa núm điều khiển và đối tượng của chúng (trong trường hợp này là các lò đốt) được thể hiện rõ ràng. Tùy thuộc vào hoàn cảnh cụ thể, các sơ đồ liên hệ tự nhiên sẽ tích hợp trong nó các nguyên tắc tổ chức không gian. Sau đây là ba mức độ khác nhau, được sắp xếp theo thứ tự giảm dần về mặt hiệu quả:
Sơ đồ tối ưu thứ nhất: Các núm điều khiển gắn trực tiếp với đối tượng của chúng
Sơ đồ tối ưu thứ hai: Các núm điều khiển ở khoảng cách gần nhất có thể so với đối tượng của chúng
Sơ đồ tối ưu thứ ba: Các núm điều khiển được sắp xếp theo sơ đồ không gian giống như đối tượng của chúng
Trong trường hợp tối ưu thứ nhất và thứ hai, các sơ đồ thực chất rất rõ ràng và không gây hiểu nhầm.
Bạn muốn ví dụ về một sơ đồ liên hệ tự nhiên hoàn hảo? Hãy nghĩ tới các loại vòi nước, hộp xả xà phòng và máy sấy tay cảm ứng. Chỉ cần đưa tay vào dưới vòi nước hoặc hộp xả xà phòng, nước hoặc xà phòng sẽ chảy ra. Đưa tay ra trước hộp để khăn giấy tự động, bạn sẽ có ngay một chiếc khăn giấy mới, hoặc như với chiếc máy sấy khô tay bằng quạt gió, bạn chỉ cần đặt tay ở bên dưới để khởi động nó. Nhưng hãy để tôi nhắc nhở bạn rằng, mặc dù sơ đồ của các thiết bị này rất hợp lý, chúng vẫn có vấn đề. Đầu tiên là chúng thường thiếu các công cụ chỉ dẫn, bởi vậy thiếu tính đi tính chất có thể khám phá. Người dùng thường không thể nhìn thấy các nút điều khiển của nó nên đôi khi chúng ta để tay dưới vòi nước và chờ đợi nước chảy ra nhưng mãi chẳng thấy đâu vì thực chất chúng là những vòi nước cơ bình thường và phải vặn nút để điều khiển. Hoặc nước chảy ra rồi lại dừng lại, vậy là chúng ta cứ phải đưa tay lên xuống để tìm đúng vị trí đặt tay sao cho nước chảy ra liên tục. Khi tôi đưa tay ra trước một chiếc máy để khăn giấy tự động mà chẳng ích gì, tôi thường không biết liệu chiếc máy đang bị hỏng, hết giấy, hoặc tôi đưa tay sai vị trí hay nó không phải một chiếc máy tự động mà tôi cần phải kéo, đẩy hay xoay cái gì đó. Thiếu công cụ chỉ dẫn thực sự là một điểm yếu. Những thiết bị này không hoàn hảo, nhưng ít nhất chúng cũng có một sơ đồ liên hệ đúng.
Trong trường hợp các núm điều khiển bếp gas, rõ ràng là không thể bố trí các núm điều khiển ngay gần các lò đốt vì điều này không chỉ gây nguy cơ bị bỏng cho người dùng mà còn không tiện lợi cho việc đặt các dụng cụ nấu lên trên. Các núm điều khiển này thường được đặt ở bên cạnh, đằng sau hoặc đằng trước khung bếp, và như vậy chúng phải được sắp xếp theo hình thức không gian tương tự như các lò đốt, như Hình 3.2C và D.
Với một sơ đồ liên hệ tự nhiên phù hợp, mối liên hệ giữa các núm điều khiển và lò đốt hoàn toàn ở trong thực tế, gánh nặng lên trí nhớ của con người sẽ giảm đi rất nhiều. Tuy nhiên, với một sơ đồ liên hệ không phù hợp, trí nhớ của con người sẽ phải làm việc nhiều hơn, họ phải cần đến nhiều nỗ lực hơn và khả năng mắc sai sót cũng cao hơn. Không có một sơ đồ liên hệ phù hợp, người mới tiếp cận với cái bếp sẽ không thể quyết định được núm điều khiển nào tương ứng với lò đốt nào, ngay cả những người thường xuyên sử dụng đôi khi vẫn nhầm lẫn.
Vậy tại sao các nhà thiết kế nhất định phải sắp xếp các lò đốt theo hình chữ nhật còn các núm điều khiển thì theo đường thẳng? Chúng ta đã biết nhược điểm của cách sắp xếp này đến gần một thế kỷ nay rồi. Đôi khi cũng có những sản phẩm với những sơ đồ thông minh hơn một chút nhằm chỉ ra núm nào để điều khiển buồng đốt nào. Nhưng dù sử dụng các chú dẫn thì cũng không thể bằng một sơ đồ tự nhiên phù hợp không cần đến hình vẽ, chú thích hay hướng dẫn nào cả.
Điều hài hước nhất là thực hiện những điều hợp lý hoàn toàn không khó nhưng vẫn có những thiết kế tồi ra đời. Các cuốn sách trong suốt hơn 50 năm qua về khoa học tối ưu nhân tố8, tâm lý học và cơ khí công nghiệp đã trình bày cả các vấn đề và cách giải quyết chúng. Một số nhà sản xuất bếp đã sử dụng các thiết kế phù hợp hơn nhưng đôi khi, các thiết kế tối ưu nhất và tồi nhất lại được sản xuất bởi cùng một công ty và được đặt cạnh nhau trong các tài liệu giới thiệu sản phẩm. Tại sao người dùng vẫn chọn mua những sản phẩm gây cho họ nhiều rắc rối? Tại sao người mua không phản hồi và từ chối mua hàng trừ khi mối liên hệ giữa các núm điều khiển và lò đốt được sắp xếp một cách thông minh hơn?
8. Ergonomics: Nghiên cứu mối quan hệ giữa con người với con người trong một hệ thống/tổ chức, giữa con người và công cụ (máy móc) nhằm đạt hiệu quả tối đa trong công việc/hoạt động. (ND)
Vấn đề của những cái bếp gas có vẻ khá bình thường và vô hại, nhưng những vấn đề tương tự về sơ đồ liên kết trong nhiều trường hợp có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng về mặt kinh tế, đôi khi còn dẫn tới thương vong.
Trong hoạt động công nghiệp, sơ đồ hợp lý đóng vai trò rất quan trọng, cho dù đó là một chiếc máy bay điều khiển từ xa, một chiếc cần cẩu mà vị trí của người điều khiển nằm ở khoảng cách rất xa so với vật được nâng lên, hay thậm chí là một chiếc ô tô khi người lái muốn điều chỉnh nhiệt độ hoặc các cửa sổ trong khi đang đi với tốc độ cao hay đang trên phố đông người. Trong những trường hợp này, các núm điều khiển thường được sắp xếp theo sơ đồ không gian tương tự như đối tượng được điều khiển. Chúng ta có thể thấy điều này khá rõ trong những chiếc ô tô, trong đó người lái có thể điều chỉnh các cửa sổ bằng các nút điều khiển được sắp đặt tương tự như vị trí thực của chúng trong không gian.
Tính hữu dụng thường không được xét đến trong quá trình chúng ta mua sắm hàng hóa. Khi đã thực sự dùng sản phẩm để thực hiện các công việc cụ thể, bạn mới chú ý đến mức độ thuận tiện khi sử dụng sản phẩm mà mình muốn mua. Nếu chỉ nhìn ngắm bên ngoài, các chi tiết đẹp dường như đã là đủ. Bạn có thể không nhận ra rằng mình sẽ không thể tìm ra cách sử dụng nó thế nào. Tôi đề nghị các bạn hãy dùng thử trước khi mua bất cứ thứ gì. Trước khi mua một cái bếp gas mới, hãy làm như bạn đang nấu một bữa cơm. Hãy làm điều đó ngay tại cửa hàng. Đừng e ngại rằng mình sẽ nhầm lẫn hay đặt những câu hỏi ngu ngốc. Hãy nhớ rằng, bất cứ vấn đề gì bạn gặp phải cũng có thể là lỗi thiết kế, không phải lỗi chủ quan của bạn.
Một trở ngại lớn nữa là người mua hàng thường không phải là người sử dụng. Các thiết bị có thể đã có sẵn từ trước khi chủ nhà chuyển đến. Tại các văn phòng, bộ phận mua sắm thiết bị đặt hàng dựa trên những yếu tố như giá cả, mối quan hệ và uy tín của nhà cung cấp, trong khi tính hữu dụng ít khi được xem xét đến. Cuối cùng là, ngay cả khi người mua hàng cũng đồng thời là người sử dụng sản phẩm thì đôi khi cũng cần có sự đánh đổi giữa một đặc điểm mong muốn và một đặc điểm không mong muốn. Trong trường hợp của chiếc bếp gas trong gia đình, chúng ta không thích sự sắp xếp của các núm điều khiển, nhưng chúng ta vẫn cứ mua cái bếp bởi chỉ có nhà sản xuất này có được một ưu điểm khác rất quan trọng. Nhưng tại sao chúng ta lại phải đánh đổi như vậy? Hoàn toàn không khó để các nhà sản xuất bếp sử dụng các sơ đồ liên hệ tự nhiên, hoặc ít nhất là tiêu chuẩn hóa các sơ đồ của họ cơ mà!
VĂN HÓA VÀ THIẾT KẾ: CÁC SƠ ĐỒ TỰ NHIÊN CÓ THỂ KHÁC BIỆT GIỮA CÁC NỀN VĂN HÓA
Một lần, tôi đang có buổi nói chuyện tại một sự kiện ở một quốc gia thuộc châu Á. Máy tính của tôi được kết nối với một máy chiếu và tôi được đưa cho một cái điều khiển từ xa để điều chỉnh các hình ảnh minh họa cho bài nói của mình. Cái điều khiển có hai nút, một ở trên và một ở dưới. Tiêu đề đã có sẵn trên màn hình, nên khi bắt đầu, tất cả những gì tôi phải làm là ấn nút để chuyển tới hình ảnh minh họa đầu tiên, nhưng khi ấn nút ở phía trên, tôi vô cùng kinh ngạc khi thấy bài trình bày của tôi chạy ngược từ phía cuối lên chứ không phải chạy xuôi từ đầu.
Tôi băn khoăn: “Sao chuyện này có thể xảy ra được nhỉ?” Đối với tôi, trên có nghĩa là tiến về phía trước; dưới là lùi lại phía sau. Sơ đồ đó thật hiển nhiên. Nếu các nút bấm được bố trí cạnh nhau theo hàng ngang thì việc điều khiển nó còn có thể không rõ ràng nút bấm nào trước, phải hay trái? Cái điều khiển này có vẻ như có một sơ đồ phù hợp với hai vị trí trên và dưới. Tại sao nó lại hoạt động ngược lại? Đây có phải là một ví dụ nữa về những thiết kế tồi hay không?
Tôi quyết định hỏi khán giả. Tôi chỉ cho họ cái điều khiển và hỏi: “Để điều chỉnh tới hình ảnh tiếp theo, tôi nên bấm nút nào thưa các bạn, nút trên hay nút dưới?” Trước sự ngạc nhiên của tôi, khán giả đưa ra những câu trả lời khác nhau. Rất nhiều người nghĩ phải là nút ở trên giống tôi. Nhưng một số lớn khác lại cho rằng phải là nút ở dưới.
Vậy câu trả lời đúng là gì? Tôi quyết định đặt câu hỏi cho khán giả của mình ở khắp nơi trên thế giới. Và tôi phát hiện ra họ cũng có những ý kiến khác nhau: một số tin chắc phải là nút ở trên, và một số khác cũng chắc chắn không kém rằng phải là nút ở dưới. Và ai cũng lại ngạc nhiên khi biết rằng có người nghĩ khác mình.
Tôi đã băn khoăn rất lâu cho tới khi nhận ra rằng đó là vấn đề quan điểm, rất giống như cách mà các nền văn hóa khác nhau nhìn nhận về thời gian. Đối với một số nền văn hóa, thời gian giống như một con đường thẳng trải ra trước mắt con người. Con người đồng hành cùng thời gian. Một số nền văn hóa khác lại cho rằng con người tĩnh tại còn thời gian thì chuyển động, một sự kiện trong tương lai sẽ tự nó đến với con người.
Đây chính xác là điều đã xảy ra với cái điều khiển. Đúng là nút bấm ở trên biểu thị tiến về phía trước, nhưng câu hỏi đặt ra là: cái gì chuyển động? Một số người cho rằng con người sẽ chuyển động qua các hình ảnh, một số khác cho rằng hình ảnh chuyển động. Những người nghĩ rằng họ chuyển động qua các hình ảnh muốn nút phía trên chỉ ra hình ảnh tiếp theo. Những người nghĩ rằng hình ảnh sẽ chuyển động sẽ ấn nút ở dưới, khiến cho hình ảnh tiến về phía họ.
Một số nền văn hóa thể hiện thời gian là một đường thẳng đứng, lên trên là tương lai, xuống dưới là quá khứ. Một số nền văn hóa khác lại có quan điểm ngược lại. Ví dụ, tương lai nằm ở phía trước hay đằng sau? Đối với hầu hết chúng ta, câu hỏi đó chẳng có nghĩa lý gì cả: đương nhiên tương lai ở phía trước còn quá khứ ở phía sau rồi. Chúng ta thường bàn bạc về tương lai “phía trước”. Chúng ta vui mừng vì nhiều sự kiện không may của quá khứ đã bị bỏ lại phía sau.
Nhưng tại sao quá khứ lại không thể ở phía trước và tương lai ở phía sau chúng ta? Điều đó nghe lạ lẫm ư? Tại sao? Chúng ta có thể nhìn thấy những gì ở phía trước và không thấy những gì ở phía sau chúng ta, giống như chúng ta có thể nhớ được những gì trong quá khứ nhưng không thể biết được tương lai. Không những thế, chúng ta có thể nhớ những sự kiện mới xảy ra một cách rõ ràng hơn nhiều so với những sự kiện trong quá khứ xa xôi, quá khứ giống như là một đường thẳng phía trước với sự kiện mới xảy ra nhất là sự kiện gần nhất bởi vậy chúng ta nhận thức (nhớ) rất rõ về chúng, với các sự kiện đã xa, khoảng cách cũng lớn hơn và việc ghi nhớ trở nên khó khăn hơn. Nghe vẫn lạ lắm phải không. Khi nói về tương lai, họ dùng những từ như những ngày ở đằng sau và thường chỉ về phía sau. Nhưng hãy suy nghĩ xem, đó là một cách nhìn nhận thế giới hoàn toàn lô-gic mà.
Nếu thời gian được thể hiện là một đường thẳng nằm ngang thì nó sẽ đi từ trái qua phải hay từ phải qua trái? Cả hai câu trả lời đều đúng bởi đó là sự lựa chọn ngẫu nhiên. Sự lựa chọn đó cũng tương đồng với việc người ta lựa chọn viết từ bên nào. Người Ả rập và Do Thái thích chiều từ phải sang trái (tương lai ở bên trái), ngược lại, những người dùng hệ chữ viết từ trái sang phải lại có hướng thời gian ngược lại, tức là tương lai ở phía bên phải.
Chưa hết, thời gian có chuyển động cùng với con người hoặc môi trường không? Trong một số tộc người Aborigine ở Úc, thời gian chuyển động cùng với môi trường theo hướng mặt trời lặn và mọc. Đưa cho người của cộng đồng này một loạt hình ảnh được chụp vào các thời điểm khác nhau (ví dụ, ảnh của một người ở các độ tuổi khác nhau) và yêu cầu họ sắp xếp theo thứ tự thời gian. Những người đến từ nền văn hóa công nghệ sẽ sắp xếp các hình ảnh từ trái sang phải, cái gần nhất ở bên phải hay trái phụ thuộc vào chiều viết chữ trong ngôn ngữ của họ. Nhưng người từ những cộng đồng này lại sắp xếp chúng từ đông sang tây với hình ảnh gần nhất ở phía tây. Nếu họ đang hướng về phía nam, hình ảnh được sắp xếp từ phải sang trái. Nếu họ đang hướng về phía tây, hình ảnh được sắp xếp từ trái sang phải. Nếu hướng về phía đông, hình ảnh sẽ được xếp theo chiều dọc từ vị trí của họ và phía xa họ nhất là những hình ảnh gần nhất. Và đương nhiên, nếu hướng về phía đông, các bức hình sẽ nằm trên đường thẳng từ vị trí của họ và bức gần nhất là bức ở sát vị trí của họ nhất.
Sự lựa chọn này chỉ ra những thiết kế phù hợp cho việc tương tác. Những vấn đề tương tự cũng xảy ra ở các lĩnh vực khác. Hãy xem xét một vấn đề điển hình về lệnh cuộn văn bản trên màn hình máy tính. Nút điều khiển đó sẽ điều chỉnh đoạn văn bản hay điều chỉnh cửa sổ chứa nó? Trong những năm đầu tiên sau khi thiết bị màn hình ra đời, rất lâu trước khi phát triển hệ thống máy tính hiện đại, đây từng là một cuộc tranh cãi gay gắt. Cuối cùng, cũng có một sự thống nhất chung rằng mũi tên gạt – mà sau này là con chuột – sẽ thể hiện sự chuyển động của cửa sổ. Chuyển cửa sổ xuống để nhìn thấy tiếp đoạn văn bản ở phía cuối màn hình. Điều này trên thực tế có nghĩa là để thấy được nhiều văn bản hơn ở phía cuối màn hình, cần phải di chuột xuống dưới khiến cho cửa sổ di chuyển xuống dưới và đoạn văn bản chuyển động lên phía trên: con chuột và văn bản di chuyển theo hai hướng ngược nhau. Nếu dùng quan niệm đoạn văn bản chuyển động, con chuột và văn bản sẽ chuyển động theo cùng hướng: di chuột lên trên và văn bản chuyển động lên trên. Trong vòng hơn hai thập kỷ qua, mọi người đều di chuyển nút cuộn và con chuột xuống dưới để đẩy văn bản lên trên.
Nhưng rồi các màn hình thông minh với công nghệ cảm ứng xuất hiện. Giờ đây việc chạm vào đoạn văn bản bằng tay rồi chuyển nó lên trên xuống dưới hay sang trái sang phải đã trở nên rất tự nhiên, nó luôn chuyển động cùng hướng với ngón tay bạn. Việc đoạn văn bản chuyển động đã trở thành phổ biến. Nhưng khi mọi người dùng song song cả hệ thống máy tính truyền thống sử dụng phép ẩn dụ rằng các cửa sổ chuyện động và hệ thống cảm ứng trong đó đoạn văn bản chuyển động, sự nhầm lẫn vẫn xảy ra. Kết quả là, một nhà sản xuất lớn của cả hai sản phẩm là máy vi tính và điện thoại thông minh, Apple đã chuyển về một dạng duy nhất là mô hình đoạn văn bản chuyển động, nhưng không có công ty nào khác theo bước họ cả. Khi tôi viết ra nội dung này, sự nhầm lẫn vẫn diễn ra. Nó sẽ kết thúc ra sao? Tôi đoán là mô hình cửa sổ chuyển động sẽ mai một: các màn hình cảm ứng và máy tính bảng sẽ đóng vai trò chi phối tất cả khiến mô hình đoạn văn bản chuyển động nắm thế áp đảo. Tất cả mọi hệ thống sẽ cho phép người dùng chuyển động tay hoặc nút điều khiển theo cùng hướng mà họ muốn hình ảnh trên màn hình chuyển động. Dự đoán công nghệ thường khá dễ dàng so với dự đoán hành vi của con người, hay trong trường hợp này là sự chấp nhận rộng rãi của một phát kiến xã hội. Dự báo này có đúng không? Bạn sẽ tự tìm được câu trả lời cho mình.
Các vấn đề tương tự cũng xảy ra trong ngành hàng không với màn hình chỉ độ cao dành cho các phi công. Màn hình chỉ ra hướng của chiếc máy bay (hướng lên trên hoặc liệng sang bên và lao xuống dưới). Thiết bị thể hiện một đường thẳng nằm ngang chỉ đường chân trời với bóng của một chiếc máy bay nhìn từ đằng sau. Nếu cánh của nó ngang bằng nhau và nằm trên cùng đường chân trời, chiếc máy bay đang bay thẳng. Giả sử chiếc máy bay rẽ trái, nó sẽ nghiêng về phía bên trái. Màn hình khi đó trông như thế nào? Nó sẽ thể hiện hình chiếc máy bay nghiêng sang trái so với một đường chân trời cố định, hoặc hình chiếc máy bay cố định trên một đường chân trời nghiêng sang phải? Khả năng thứ nhất đúng với một người đang nhìn chiếc máy bay từ phía sau, khi đường chân trời luôn nằm ngang, đó gọi là thể hiện từ ngoài vào. Khả năng thứ hai đúng từ phía các phi công khi với họ chiếc máy bay luôn cố định, và khi nó liệng, đường chân trời sẽ nghiêng đi, đây là sự thể hiện từ trong ra.
Trong tất cả các trường hợp này, mọi quan điểm đều đúng. Tất cả phụ thuộc vào việc bạn xem cái gì đang chuyển động. Những điều này có ý nghĩa với thiết kế như thế nào? Cái gì là tự nhiên còn phụ thuộc vào quan điểm, sự lựa chọn giả thuyết và vì vậy, phụ thuộc vào văn hóa. Khó khăn sẽ nảy sinh khi giả thuyết thay đổi. Các phi công phải được qua đào tạo và kiểm tra trước khi được phép chuyển từ một loại thiết bị này (có cách thể hiện từ trong ra) sang loại thiết bị khác (có cách thể hiện từ ngoài vào). Khi các quốc gia quyết định xe cộ sẽ đổi phía khi chuyển động trên đường, sự nhầm lẫn tạm thời có thể rất nguy hiểm. (Hầu hết các quốc gia đều chuyển từ bên trái sang bên phải, nhưng một số quốc gia như Okinawa, Samoa và Đông Timor lại chuyển từ phải sang trái). Trong tất cả những trường hợp chuyển đổi này, cuối cùng con người cũng sẽ điều chỉnh được hành vi của mình. Con người có thể phá bỏ các quy ước và thay đổi các giả thuyết, nhưng hãy chờ đợi một quãng thời gian cho đến khi họ thích ứng với hệ thống mới.

