Thuần Hóa Sư Tử - Chương 5

BIẾN ĐỘNG LỚN

5.0. Thị trường chậm phản ứng với những tác động mang tính cơ cấu

Đầu những năm 1990, người ta hỏi tôi quan điểm của tôi đối Với Nikkei - chỉ số của thị trường chứng khoán Nhật Bản. Tôi trả lời rằng tôi không bao giờ thấy lạc quan cả, một phần là do ngành ngân hàng của nước này còn yếu kém và có quá nhiều các khoản nợ xấu. Tôi vẫn nhớ rất rõ câu trả lời của họ khi ấy: “Không, không, đó là chuyện xưa rồi.” Thế nhưng, tôi mới là người đứng và thậm chí đến 10 năm sau, những vấn đề khúc mắc trong lĩnh vực ngân hàng của Nhật Bản vẫn còn kéo dài mãi, và chỉ số Nikkei bị kéo xuống càng lúc càng thấp. Ngành ngân hàng hoạt động yếu kém chính là một tác động mang tính cơ cấu đối Với thị trường Nhật Bản, và tôi không tin những bất cập này lại có thể được giải quyết trong một sớm một chiều. Ngay cả những thị trường lớn ở các nền kinh tế mạnh nhất cũng phải mất thời gian rất lâu mới phản ứng lại được những tác động lớn nhất.

Ảnh hưởng mang tính cơ cấu

Ảnh hưởng mang tính cơ cấu là những ảnh hưởng nằm sâu trong hệ thống. Bạn có thể gọi chúng là những yếu tố cơ bản mang tính vĩ mô. Chúng có thể có một tác động từ từ nhưng lâu dài đối với nền kinh tế. Nguồn cung lao động rẻ rất sẵn ở Ấn Độ và Trung Quốc đang chậm rãi và âm thầm tác động lên các nền kinh tế ở phương Tây. Là một ảnh hưởng mang tính cơ cấu, yếu tố này sẽ không biến mất ngay và tác động của nó có thể sẽ còn kéo dài nhiều thập kỷ.

Ảnh hưởng mang tính cơ cấu thường là những hiện tượng chưa từng xảy ra. Khi chúng ta trải qua những sự kiện như kết thúc thời kỳ Chiến tranh lạnh, bắt đầu ki nguyên công nghệ thông tin, sự già đi của dân số ở các nước phương Tây hay việc phát hiện ra bản đồ gen người, khi ấy chúng ta đã bước vào một thời kỳ hoàn toàn mới.

Vì những ảnh hưởng mang tính cơ cấu là duy nhất nên rất khó có thể xác định và dự đoán tác động của chúng. Chúng không hề giống các chu kỳ kinh tế thông thường. Đối với các chu kì này, các nhà kinh tế học CÓ VÔ vàn kinh nghiệm để đưa ra các dự báo, ví dụ như dự báo tỷ lệ lãi suất tăng hay giảm.

Đó là lý do tại sao tôi tin rằng ảnh hưởng mang tính cơ cấu thường không được đánh giá đúng mức trên thị trường tài chính. Cần phải có thời gian để mọi thứ được định giá đầy đủ. Nếu chúng ta có thể xác định được các ảnh hưởng cơ cấu và tác động tiềm năng của chúng, có thể chúng ta sẽ kiếm được rất nhiều cơ hội đầu tư béo bở. Đó chính là chủ đề của chiến lược tiếp theo.

5.1 Tìm kiếm biến động lớn tiếp theo

“Tôi sẽ chỉ diễn kịch câm thêm sáu tháng, cùng lắm là một năm nữa thôi. Sau đó mọi thứ sẽ thay đổi.”

Charlie Chaplin, 1931

Đây có lẽ là câu nói mà tôi thích nhất. Một dự đoán thật buồn từ một con người vĩ đại! Chỉ sau đó ít lâu, thể loại phim cảm biến mất và âm thanh lại trở thành một hiện tượng trong giới điện ảnh.

Nếu chúng ta có thể dự đoán được biến động lớn sắp xảy ra chính xác hơn Charlie một chút, chúng ta có thể sẽ đạt được ít nhiều thành công trên thị trường.

Trong nhiều năm qua, tôi thật may mắn đã đoán biết được một vài sự kiện lớn. Đầu tiên, tôi tin rằng lãi suất sẽ tăng rồi giảm mạnh từ cuối những năm 1980 đến đầu những năm 1990. Đến giữa năm 1990, tôi nhảy vào thị trường cổ phiếu khi các nền kinh tế bước vào giai đoạn phục hồi sau thời kỳ suy thoái và tỷ lệ lạm phát giữ ở mức ổn định. Ở thời điểm đó, tôi lại chuyển sang đầu tư vào cổ phiếu của các Công ty Công nghệ, xét trên một chừng mực nào đó thì đã khá muộn màng, nhưng vẫn còn sớm hơn năm năm trước thời kỳ bong bóng Công nghệ đổ vỡ xảy ra. Lợi nhuận giúp tôi trụ vững được trong thời kỳ hậu đổ vỡ trong khi vô số các nhà đầu tư mới tham gia vào lĩnh vực này, nhảy vào thị trường những năm 1999 - 2000 thì điều đúng. Trong những giai đoạn này, tôi cũng đã rất vui mừng khi đoán trúng một vài biến động lớn của đồng đô la.

Ngoài ra, tôi cũng bỏ lỡ rất nhiều cơ hội. Chẳng hạn, trong mấy năm qua, tôi không đầu tư vào các thị trường mới nổi như Nga và Thổ Nhĩ Kỳ. Tôi cũng không tận dụng được biến động khủng khiếp của giá cả trên thị trường hàng hóa, hay trong cuộc bùng nổ công nghệ sinh học và VÔ SỐ những cơ hội khác. Có nhiều thứ đang xảy ra trên khắp thế giới và người ta kiếm được VÔ khối tiền. Rất nhiều quỹ đầu tư mạnh bạo và sáng tạo hơn các quỹ thông thường, đã chớp được các thời cơ này và kiếm lời.

Chiến lược ở đây là nếu bạn muốn kiếm được nhiều tiền, hãy cố gắng dự đoán các sự kiện trọng đại sắp xảy ra.

Vậy biến động lớn tiếp theo sẽ là gì?

Theo tôi nghĩ thì điều gì sẽ trở thành biến động lớn tiếp theo? Đó quả là một câu hỏi khó. Dĩ nhiên, đó có thể là Trung Quốc. Quy mô nền kinh tế của quốc gia này sẽ vượt Pháp và Anh trong một tương lai gần. Tôi thấy thật trái ngược, Trung Quốc là nước “cộng sản” nhưng lại là nước tư bản nhất trên thế giới với cạnh tranh khốc liệt, có quá ít quy định pháp luật bảo vệ người lao động như quy định mức lương tối thiểu.

Trung Quốc với nguồn cung lao động giá rẻ dồi dào, mức cầu khổng lồ đối với nguồn nguyên vật liệu thô và thị trường rộng lớn cho các hàng hóa và công nghệ của phường Tây sẽ tiếp tục tạo ra kẻ thắng người thua trên toàn thế giới. Australia và các nước xuất khẩu nguyên vật liệu thô khác rõ ràng đang được lợi, còn người tiêu dùng ở các nước phương Tây cũng sẽ được hưởng các hàng hóa giá rẻ và điều này sẽ giúp kiểm soát được mức lạm phát ở các quốc gia này. Nhưng mặt khác, những người không được học hành ở các nước phương Tây sẽ phải gánh chịu hậu quả vì họ có nguy cơ mất việc. (Đối với thế hệ của chúng ta, điều quan trọng hàng đầu là phải đảm bảo cho con cái được học đại học!)

Trung Quốc cũng sẽ có thêm rất nhiều người giàu. Riêng châu Âu đã được chứng kiến tác động từ những người Nga giàu có và mức chi tiêu khổng lồ của họ đối với thị trường bất động sản. Điều này sẽ không thấm vào đâu so với sức mua khổng lồ từ người Trung Quốc giàu có. Nó sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến những khu vực địa lý được ưa thích như miền Nam nước Pháp và những địa điểm độc đáo như ở Venice, đồng thời có thể đẩy giá cả của một số hàng hóa đặc biệt như vàng và các tác phẩm nghệ thuật đương đại.

Một nền kinh tế toàn cầu kì lạ

Thật đáng ngạc nhiên là Trung Quốc, một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới lại là nước cho vay nhiều nhất thế giới, trong khi nước giàu lớn nhất thế giới là Mỹ thì lại là nước đi vay.

Đã từng có ai dự đoán được điều này chưa? Và thực tế, ai có thể lý giải nổi điều này? Dĩ nhiên thông thường bạn sẽ nghĩ Trung Quốc phải đi vay mượn vì họ đang nhanh chóng phát triển thành một quốc gia hiện đại, xây dựng nhiều CỞ Sở hạ tầng và tăng cường năng lực sản xuất. Bạn cũng nghĩ Mỹ sẽ tiết kiệm một phần của cải vô cùng lớn thu được hàng năm thay vì mỗi năm vay thêm tới 500 tỉ đô la.

Tôi đã nói rồi, tôi không quá lo ngại về tình hình vay mượn của nước Mỹ. Dĩ nhiên, họ có thừa của cải để trả nợ. Một người giàu nặng gánh vì các hóa đơn thẻ tín dụng còn tốt hơn nhiều so với người nghèo. Đối với tôi, chính nền kinh tế của đại lục châu Âu mới là điều đáng lo ngại, vì họ luôn ngần ngại khi phải đối mặt với cạnh tranh mạnh hơn và những yêu cầu đổi mới. Liệu điều này có đồng nghĩa với việc thị trường cổ phiếu của châu Âu và cả đồng euro rốt cục sẽ bị tụt hậu lại phía sau không?

Các sản phẩm mới nổi

Mặc dù trong những năm vừa qua, người ta quan tâm rất nhiều đến Trung Quốc và các thị trường mới nổi, vì là một nhà đầu tư, nên tôi cũng luôn quan tâm nhiều hơn đến các “sản phẩm hay thị trường mới nổi”. Quá trình phát minh sáng chế, nghiên cứu phát triển và thương mại hóa những sản phẩm cực kì tinh vi phức tạp đang diễn ra nhanh hơn bao giờ hết. Vì quá trình này diễn ra chủ yếu ở các nước phương Tây nên đối với tôi có rất nhiều ích lợi khi tập trung đầu tư vào các sản phẩm mới nổi, hơn là các thị trường mới nổi với những cách biệt như môi trường pháp lý, văn hóa, ngôn ngữ và khoảng cách.

Có rất nhiều lĩnh vực thú vị để đầu tư. Công nghệ nano là khoa học về những vật chất cực kì bé nhỏ. Chúng có thể được dùng để sản xuất ra vật liệu mới, và thậm chí tạo ra nhiều chất khác nhau như phụ gia nhiên liệu để làm tăng hiệu suất sử dụng. Khoa học đời sống là bộ môn chuyên nghiên cứu về cơ thể con người. Việc khám phá ra bản đồ gien người cùng thời kỳ bùng nổ sức mạnh của máy tính đã mở ra một nhánh mới trong y học dẫn đến khả năng chữa trị các bệnh ung thư, hen suyễn, Alzheimer's và những căn bệnh khác. Thậm chí có khả năng trong vòng 100 năm nữa, các nhà khoa học có thể sẽ ngăn chặn được quá trình lão hóa của cơ thể và chúng ta có thể sẽ trở thành thế hệ con người cuối cùng không “trường sinh bất tử”.

Emerging products. ? Bệnh này gây nên chứng tâm thần phân liệt, hiện vẫn là một bệnh nan y.

Như vậy, chúng ta đang đứng trước thềm của một làn sóng phát minh sáng tạo mới. Tất cả những điều này đã hiện lên trong đầu tôi và tôi luôn cố gắng tự tìm hiểu về chúng.

Trong phần này, tôi đã nói hết toàn bộ các khía cạnh của các biến động lớn và cả các cơ hội.

Cái hay của những biến động này là bạn thường có rất nhiều thời gian để tận dụng nó. Như tôi đã nhấn mạnh, thị trường cần có thời gian để điều chỉnh trước các thay đổi về mặt cơ cấu, và thường thì bạn sẽ thấy được các xu thế giá cả diễn ra và sử dụng chúng như tín hiệu chỉ dẫn cho đầu tư. Tuy nhiên, bạn cần phải thật bình tĩnh, những điều này sẽ không dễ dàng đem lại thành quả trong một sớm một chiều đâu.

5.2. Đừng để ý đến các quan điểm và nhận xét không rõ ràng

Chiến lược này cũng phục vụ cho việc dự đoán “biến động lớn” tiếp theo. Theo kinh nghiệm của tôi, những quan điểm và nhận xét không rõ ràng hầu như không có ảnh hưởng gì mấy đến thị trường và không tồn tại được lâu. Vì vậy, ngay từ khi bắt đầu quá trình tìm kiếm dự đoán những biến động lớn, tôi đã học cách để không bị xao nhãng bởi những điều nhỏ nhặt như vậy.

Trong một buổi họp mà tôi tham dự, có một nhà giao dịch đầu tư đưa ra dự đoán về xu thế đi lên của nền kinh tế Mỹ. Chẳng là trong một chuyến đi cuối tuần, ông ta thấy số người vô gia cư trên đường phố New York đã giảm đi. Mặc dù tất cả chúng ta đều cảm thấy vui nếu có ít người vô gia cư hơn, nhưng nhận định của ông ta khó có thể là một căn cứ đáng tin cậy được, và thực ra ông ta đã sai.

Những thông tin đại loại như gợi ý của các nhà môi giới đều có thể xem là vô ích. Hãy nhớ họ không có bằng chứng gì cho thấy họ đã thành công và họ cũng không chịu trách nhiệm đối với việc quản lý vốn đầu tư của bạn. Tôi thường thấy họ chỉ đơn giản là nhặt nhạnh tin tức từ những câu chuyện phiếm trên thị trường.

Còn một điều nữa bạn cần lưu ý đó là đừng lo lắng về việc ai đang mua đang bán trên thị trường. Thường thì bạn sẽ nghe thấy tin các quỹ tín thác đang mua bán cái này cái nọ, và một cách tự nhiên, bạn sẽ bị lôi cuốn đầu tư theo họ. Đừng làm vậy. Thị trường có kẻ mua người bán, giá cả sẽ tự tìm được chỗ đứng của nó. Có lần tôi đã bị lôi kéo bởi một nhận xét không đáng tin cậy. Đó là thời điểm nhiều năm về trước. Tôi có một khoản đầu tư vào thị trường Nhật Bản, và tôi nghe thấy một chuyên gia về động đất ở Nhật Bản dự đoán rằng ngày hôm sau sẽ có một trận động đất ở Tokyo. Nghe có vẻ kì cục, nhưng trước đó, rõ ràng ông ta đã từng dự báo thành công hai chấn động nhỏ. Lần này, ông ta dự báo một trận lớn hơn. Tôi đã suy nghĩ rất kĩ về việc mình phải làm gì trước thông tin này. Tôi vô cùng lo lắng, nhưng rồi chẳng làm gì cả, và cuối cùng thì không có trận động đất nào xảy ra.

5.3. Chỉ nên đầu tư vào các thị trường lớn khi chúng phát triển phù hợp với môi trường kinh tế phổ biến

Đôi khi tìm kiếm cơ hội từ các biến động lớn sẽ dẫn bạn đến một lĩnh vực cụ thể. Đó có thể là một công nghệ mới mà bạn cho rằng sẽ phát triển được trên toàn cầu. Trong trường hợp đó, có thể bạn sẽ muốn mua cổ phiếu trong lĩnh vực này, và rồi quyết định của bạn hầu như sẽ không còn bị ảnh hưởng gì bởi những diễn biến vĩ mô trong nền kinh tế nữa.

Tuy nhiên, khi đầu tư vào nhiều thị trường lớn bằng cách mua bản một loạt rất nhiều các cổ phiếu, trái phiếu hay hàng hóa thì kết quả đầu tư nói chung lại phụ thuộc vào cả nền kinh tế. Hai biến số kinh tế quan trọng là lạm phát và tốc độ tăng trưởng có vai trò then chốt. Mặc dù trên thế giới, người ta hết sức quan tâm đến hai biến số này nhưng biến động và ảnh hưởng của chúng đến thị trường thường không được đánh giá đúng mức và những ảnh hưởng đó cũng kéo dài hơn mọi người tưởng.

Các cơ hội dài hạn khi bạn đầu tư với môi trường phổ biến

Vào đầu những năm 1970, OPEC tăng giá dầu, gây ra tình trạng lạm phát cao và tăng trưởng thấp. Xét về nghĩa đen, sự kiện lớn này đã dẫn đến hậu quả là thị trường chứng khoán hoạt động èo uột suốt một thập niên. Đó là trường hợp cho thấy một biến động lớn có ảnh hưởng lâu dài đến thế nào. Nếu trong một thị trường hoàn toàn hiệu quả, sự điều chỉnh giá cả phải diễn ra thật nhanh và gây ra sụt giảm hàng loạt. Nhưng vì sự giảm giá này diễn ra chậm chạp và kéo dài nên bạn sẽ có thời gian để điều chỉnh và giữ đưỢC Vốn đầu tư của mình.

Hồi cuối những năm 1980 và 1990, tỷ lệ lạm phát giảm do một loạt các nhân tố nền tảng thay đổi như cạnh tranh, toàn cầu hóa, công nghệ, luật lao động linh động, hợp tác liên minh và quá trình tư nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước. Thật khó có thể mô hình hóa và định lượng những biến động này, và rất nhiều người đã đánh giá thấp chúng. Chúng có thể gây ra tác động lâu dài, khiến thị trường cổ phiếu và trái phiếu tăng giá.

Qua những kinh nghiệm này, bạn có thể thấy nếu bạn đầu tự với môi trường đang thịnh hành thì sẽ xuất hiện các cơ hội dài hạn. Thị trường có thể rất chậm chạp khi phản ứng với lạm phát và tăng trưởng, giống như khi xảy ra các biến động lớn khác. Chẳng hạn, giữa những năm 1990, tôi tin rằng nền kinh tế đang trên đà phát triển thế là tôi chớp được những cơ hội tuyệt vời trên thị trường chứng khoán trong gần năm năm.

Nhận thức về tình hình kinh tế chung

Có hai cách để nắm bắt được tình hình kinh tế chung:

Cách dễ nhất là nắm bắt các quan điểm chung của mọi người bằng cách liên tục theo dõi tin tức và các ý kiến liên quan đến kinh tế. Trong Chiến lược 9.5, chúng ta sẽ thấy không những không nghi ngờ gì các quan điểm chung, tôi thậm chí còn tin rằng chúng đóng vai trò là một động lực rất mạnh mẽ và lâu dài của nền kinh tế. Biết được tình trạng chung của nền kinh tế sẽ giúp bạn định hướng đầu tư vào đúng lĩnh vực nếu bạn tuân theo những chiến lược còn lại trong chương này. Phải mất nhiều năm mới kết thúc một chu kì kinh tế, và vì vậy, sẽ có rất nhiều cơ hội dành cho bạn.

Cách khác để theo dõi nền kinh tế là phân tích bản thân nền kinh tế, và nếu vậy, tôi cho rằng bạn nên sử dụng bảng đánh giá được nói đến trong chiến lược tiếp theo. Hiểu biết sâu sắc về tình hình kinh tế theo phương pháp này cho phép tôi phản ũng khá nhanh với các chu kỳ kinh tế. Nó giúp ích cho tôi rất nhiều bởi có khi những thương vụ giao dịch béo bở nhất lại chỉ xảy ra khi nền kinh tế có biểu hiện rõ ràng là sắp phát triển hơn hay lụn bại đi.

Cuối cùng, nhận thức được tình hình kinh tế chung cũng có thể rất có ích cho những lý do bảo vệ khoản đầu tư. Ngay cả những ý tưởng đầu tư hoàn hảo nhất cũng có thể phải vật lộn trên một thị trường giá xuống, vì vậy có lẽ nên giữ khoản đầu tư lại, chờ cho đến khi tình hình kinh tế thuận lợi hơn.

5.4. Hãy đầu tư có phưƠng pháp - sử dụng bản danh sách đánh giá' để định lượng và củng cố ý tưởng của mình

Đưa ra quan điểm về một thị trường chính là ta đang xem xét rất nhiều các yếu tố cơ bản. Chẳng hạn, sau này tôi sẽ nói cho các bạn biết để đầu tư vào một công ty nhỏ cần phải xem xét đến một loạt các yếu tố như trình độ quản lý, định giá, lợi thế cạnh tranh và sản phẩm.

Checklist.

Sử dụng bản danh sách đánh giá sẽ rất hữu ích khi bạn đầu tư hay giao dịch. Trong bản danh sách này, bạn sẽ nêu ra những yếu tố nền tảng mà bạn thấy có liên quan và hãy chấm điểm cho chúng. Theo tôi thì mỗi một yếu tố nên được cho điểm từ 3 đến +3.

Lợi ích của bản đánh giá

Có rất nhiều lợi ích của việc lập ra bản danh sách này. Thứ nhất, nó buộc bạn phải xem xét toàn bộ các nhân tố ảnh hưởng và không bỏ sót hay bỏ qua các ý kiến trái ngược. Thứ hai, tổng số điểm từ bản danh sách này chính là bản lưu lại quan điểm của bạn trong một thời điểm nhất định mà sau này bạn có thể xem xét lại để kiểm tra chiến lược đầu tư của mình đã đúng chưa. Là người rất ủng hộ chiến lược dùng bản danh sách đánh giá, tôi đã sử dụng chúng trong việc định giá nhiều thị trường khác nhau. Một đồng nghiệp của tôi thậm chí còn áp dụng cả phương pháp này trong cuộc sống. Anh ta gọi điện cho tôi từ Australia khi tôi đang ở châu Âu để thảo luận về bản đánh giá mà anh đang nghiên cứu để quyết định xem nên sống ở Sydney hay Melbourne.

Bây giờ, tôi sẽ lý giải việc tôi lập ra một bảng đánh giá theo dõi nền kinh tế như thế nào. Đừng lo lắng nếu như bạn không thể tìm được các số liệu thống kê kinh tế, bạn có thể bỏ qua phần còn lại của chiến lược này, bởi đó không phải nền tảng của cả cuốn sách 100 chiến lược đầu tư, hoặc bạn cứ nên đọc tiếp, vì ít nhất nó cũng giúp bạn biết được bản đánh giá này có chức năng gì. Mặt khác, việc theo dõi sát sao diễn biến trên nền kinh tế giúp bạn phản ứng nhanh hơn khi có thay đổi diễn ra.

Tôi bắt đầu sử dụng một bản đánh giá áp dụng cho nền kinh tế từ những ngày tôi còn ở Bankers Trust. Hồi ấy, tôi thích công việc ở phòng giao dịch làm việc với vô số các khách hàng. Không gì có thể sánh được với không khí thân thiết, tình bạn, những cuộc chuyện trò trao đổi ý tưởng của chúng tôi ở đó.

Mọi người đều rất thông minh, nhanh trí và hài hước. Thực sự, chỉ có một điều duy nhất tôi không thích ở Bankers Trust đó là phải dành quá nhiều thời gian nhìn chằm chằm vào màn hình với các con số bé xíu và chờ đợi việc công bố các số liệu kinh tế. Lượng dữ liệu có thể quá tải và ngay cả những nhà giao dịch đầu tư giỏi nhất cũng dễ bị lạc trong mớ thông tin này.

Theo dõi tăng trưởng kinh tế và lạm phát

Chính vì vậy, ngay từ khi mới vào nghề, đội của tôi và đồng nghiệp đã thấy rằng cách tốt nhất để theo dõi được các thông tin kinh tế là sử dụng một bảng danh sách đánh giá. Bảng này gồm hai phần là tăng trưởng kinh tế và tình hình lạm phát. Đây là hai nhân tố vĩ mô nền tảng của tất cả các số liệu thống kê khác. Một bản đánh giá có thể giống như bảng được trình bày dưới đây:

Bản đánh giá: Tăng trưởng kinh tế xếp loại ++, Doanh số bán lẻ xếp loại + +, Việc làm xếp loại +, Nhà ở xếp loại +, Niềm tin của người tiêu dùng Niềm tin của doanh nghiệp xếp loại +, Sản xuất công nghiệp xếp loại +, Thặng dư/Thâm hụt của chính phủ xếp loại --, Tổng thu nhập quốc dân xếp loại +. Tổng là 6; Lạm phát xếp loại --, Lương xếp loại --, Thất nghiệp xếp loại ++, Tỷ giá hối đoái xếp loại +, Giá hàng hóa xếp loại -, Giá cả đầu vào xếp loại -, Công suất sử dụng +, Tổng là 0;

Trong ví dụ này, tình hình tăng trưởng kinh tế có vẻ khả quan, trong khi lạm phát đang ở mức bình thường. Trong chiến lược tiếp theo, bạn sẽ thấy đây có thể là một dấu hiệu để ta tiến đến đầu tư vào thị trường cổ phiếu. Mỗi điểm số nằm trong khoảng từ 3 đến +3, vì rất khó có thể cho điểm chính xác hơn. Nhìn chung, chúng ta sẽ xem xét mọi thứ trên một trục thời gian ba tháng, vì vậy nếu tình hình ba tháng hiện thời tốt hơn ba tháng trước, chúng ta sẽ cho điểm dương. Như vậy, chúng ta đã tránh được việc phải tìm hiểu số liệu của từng tháng một, đồng thời có thời gian để theo dõi xem một xu hướng kinh tế phát triển như thế nào. Chúng ta có thể chờ đợi lâu hơn để biết chắc về xu thế đó, nhưng đổi lại, bạn có thể sẽ lỡ mất cơ hội đầu tư nếu chờ đợi quá lâu.

Độ lớn của điểm số sẽ được dùng cho công việc đánh giá, và chúng ta cũng phải để ý thêm đến quan điểm chung trên thị trường, vì vậy nếu lạm phát giảm một cách khả quan hơn thị trường mong đợi thì ta phải cho nó điểm cao hơn.

Các thành viên cá nhân của đội chịu trách nhiệm chuẩn bị các bảng đánh giá cho các quốc gia khác nhau và họ sẽ trình bày kết quả cho những người còn lại để mọi người tranh luận. Thế là bỗng nhiên những số liệu khô khan trở nên có sức sống và dường như biết nói! Chúng tôi sử dụng những thông tin này để đặt lệnh mua bán trên thị trường, vì vậy điều quan trọng là bảng đánh giá phải chính xác, và đôi khi cuộc tranh luận xoay quanh điểm số của các yếu tố trở nên khá sôi nổi.

Là vật cản trước cuốn hút của những thương vụ hấp dẫn

Khi mắc sai lầm, chúng tôi nhìn lại các bản đánh giá, và nhờ vậy chúng tôi có thể xác định được nguyên nhân. Chúng tôi nhận thấy các nhận định của chúng tôi về điểm số trên bảng đánh giá ngày càng đúng đắn hơn. Lợi ích nữa của việc sử dụng bảng đánh giá là chúng được thiết kế để theo dõi toàn cảnh tất cả các thông tin có được nên chúng buộc bạn phải xem xét tất cả các khía cạnh của một lập luận. Chúng có thể giúp bạn tránh bị cuốn hút bởi những thương vụ hấp dẫn.

Việc sử dụng công cụ này đã đem lại cho chúng tôi rất nhiều thành công. Đối với tôi, nó đã giúp ích nhiều trong việc xác định rõ ràng các biến động của nền kinh tế trong khoảng 10 đến 15 năm qua. Tôi tin tưởng vào phương thức làm việc với bảng đánh giá đến mức gần đây tôi còn nghiên cứu thử nghiệm tự động áp dụng nó để tạo ra một hệ thống giao dịch. Đó sẽ là một dạng trí thông minh nhân tạo, cố gắng bắt chước các hoạt động của một nhà giao dịch giỏi. Khi đó, có thể tôi sẽ được nghỉ xả hơi và để máy tính làm mọi việc.

5.5. Mua cổ phiếu khi tăng trưởng kinh tế mạnh và lạm phát yêu

Ý tưởng của chương này là thị trường thường phản ứng chậm với những thay đổi về mặt cơ cấu. Có một thay đổi mang tỉnh cơ cấu khá lớn đó là thực trạng nền kinh tế, muốn theo dõi được thực trạng này thì cần để ý đến các đánh giá chung hay sử dụng một bảng đánh giá. Nếu một nhà đầu tư muốn sử dụng đánh giá về nền kinh tế như một công cụ đầu tư, dĩ nhiên họ cần phải biết được tài sản nào có giá nhất trong mỗi một môi trường kinh tế khác nhau. Đây chính là chủ đề của chiến lược này và cả ba chiến lược tiếp theo.

Thời điểm là vô cùng quan trọng

Bây giờ, chúng ta sẽ xem xét cụ thể một thị trường chứng khoán lớn như FTSE 100' hay S&P 500°. Quan điểm của tôi đối với việc giao dịch trên các thị trường này là: Trái với rất nhiều lời khuyên, chúng ta nên cố gắng nhảy vào và rút khỏi thị trường trong những thời điểm thích hợp, và những thị trường này thực sự cần có thời gian mới phản ứng lại được các biến động trong nền kinh tế. Các biểu đồ dưới đây thể hiện hoạt động của thị trường chứng khoán Mỹ kể từ năm 1990.

Trong khoảng hơn 100 năm qua, thị trường chứng khoán vận động theo các chu kì rất lớn. Nhìn chung, những năm 1920, 1950, 1980 và 1990 là những thời kỳ thị trường chứng khoán hoạt động mạnh và ổn định nhất. Những năm 1900, 1910, 1930 và 1970 cũng như đầu những năm 2000, thị trường lên xuống khả thất thường.

Tôi tin rằng những biến động lớn này chính là điều mà các nhà đầu tư cần tập trung quan tâm. Nắm bắt được những diễn biến này là việc rất hữu ích. Nhưng mặt khác, cố gắng đánh bại thị trường bằng cách liên tục tham gia rồi rút khỏi thị trường lại là điều quá tham vọng. Trong số tất cả các thị trường thì thị trường cổ phiếu được phân tích nhiều và kĩ lưỡng nhất. Bạn có thể dễ dàng nhận thấy điều này nếu SO sánh lượng tin bài trên báo chí và truyền hình về thị trường này so với các thị trường khác. Để có thể kiếm lời được từ các chu kỳ vận động của thị trường, nhà đầu tư cần phải quay lại xem xét các ảnh hưởng ngắn hạn hơn đối với thị trường. Điều quan trọng là phải chú trọng vào môi trường chung và quyết định xem liệu môi trường ấy có tạo điều kiện cho thị trường cổ phiếu phát triển không. Một nhà đầu tư chắc chắn không nên cố gắng chớp lấy một thời điểm biến động trên thị trường. Điều mấu chốt ở đây hoàn toàn ngược lại: hãy để cho một vài đánh giá chung được hình thành trên thị trường đã rồi mới tiến hành đầu tư sau khi giá cả bắt đầu biến động. (Kiểu đầu tư này vô cùng quan trọng trong 100 Chiến lược đầu tư này và tôi sẽ làm sáng tỏ nó ở phần sau.)

'Chỉ số bao gồm 100 công ty có giá trị vốn hóa lớn nhất được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn.

* Chi số bao gồm 500 loại cổ phiếu được lựa chọn từ 500 công ty có mức vốn hóa thị trường lớn nhất của Mỹ.

Bắt đầu với nền kinh tế

Điểm khởi đầu để có được cái nhìn thấu đáo về các biến động lớn trên thị trường có lẽ chính là nền kinh tế. Cổ phiếu tăng trưởng tốt trong điều kiện kinh tế tăng trưởng cao và lạm phát thấp, bởi;

1. Tăng trưởng kinh tế tạo ra lợi nhuận.

2. Lạm phát thấp cho phép tỷ lệ lãi suất thấp, rất có lợi cho doanh nghiệp.

3. Tỷ lệ lãi suất thấp sẽ tăng tính hấp dẫn tương đối của cổ phần như tài sản và đẩy giá lên cao hơn. (Lạm phát cao thường dẫn đến tỷ lệ lãi suất cao, vì các ngân hàng trung ương đều cố gắng rút tiền ra khỏi hệ thống, nên có thể nó còn có tác dụng đẩy lãi suất danh nghĩa lên cao hơn nữa).

Như vậy, tôi cho rằng một nhà đầu tư chỉ nên hi vọng thị trường chứng khoán nói chung sẽ hoạt động tốt khi tăng trưởng kinh tế duy trì ở tốc độ cao và lạm phát nằm trong tầm kiểm soát. Nhà đầu tư này có thể tự nghiên cứu về nền kinh tế bằng cách sử dụng phương thức bảng đánh giá trong chiến lược trước, hoặc bằng cách nhận thức rõ ràng về đánh giá chung đối với thực trạng nền kinh tế.

Khi nhìn vào nền kinh tế, rõ ràng nhà đầu tư cần phải nhận thức được điều gì đang diễn ra trên thế giới. Thế kỷ trước đã diễn ra hai cuộc chiến tranh thế giới, một cuộc đại suy thoái, chiến tranh Việt Nam và hai cuộc khủng hoảng dầu lửa. Đương nhiên rất khó có thể đo lường những sự kiện này về mặt kinh tế, nhưng gần như chúng chi phối thị trường trong thời gian dài và góp phần dẫn đến những giai đoạn thị trường hoạt động không ổn định.

Chiến tranh lạnh kết thúc và bùng nổ kinh tế những năm 1990

Một sự kiện rất lớn có tác động tích cực đến thị trường chính là kết thúc cuộc chiến tranh lạnh vào năm 1989. Sự kiện này cùng với tốc độ lạm phát thấp và sự bùng nổ công nghệ đã giúp thị trường chứng khoán đạt được những bước phát triển lớn vào những năm 1990. Đây là thời điểm tôi áp dụng chiến lược này vào thực tiễn. Tôi rút khỏi thị trường trái phiếu và bắt đầu đầu tư vào cổ phiếu vào đầu những năm 1990 khi tôi thấy nền kinh tế đang bắt đầu từng bước thoát ra khỏi thời kỳ suy thoái. Thực tế thì một số nhà bình luận vẫn lo ngại về khả năng làm phát sẽ leo thang, kể cả Alan Greenspan' khi ông có vẻ lo lắng về giá vàng gia tăng. Vậy mà thật lạ là tôi mới là người nhận định đúng vì tỷ lệ lãi suất vẫn luôn trong tầm kiểm soát. Thời kỳ đầu tư suôn sẻ của tôi trên thị trường cổ phiếu kéo dài hơn nửa thập niên bất chấp thị trường chao đảo vào năm 2000, nhìn chung, các khoản đầu tư của tôi vẫn đem lại hiệu quả rất tốt.

"Người đảm nhận chức vị Giám đốc Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED) từ năm 1987 đến năm 2006. Năm 2004, ông được các chuyên gia kinh tế tài chính và các sử gia đánh giá là một trong những người quyền uy nhất thế giới.

Ngoài việc theo dõi diễn biến nền kinh tế và các chu kì lớn theo cách mà tôi đã gợi ý, bạn vẫn còn có vô khối việc phải làm để có thể tìm ra nhân tố nào là động lực của thị trường chứng khoán. Thị trường này đã được phân tích tới n cấp độ, tất cả các lý thuyết và quan điểm đều đã được kiểm chứng.

Có rất nhiều dữ liệu cần được phân tích, một số chuyên gia phân tích còn quay lại nghiên cứu tình hình từ tận đầu thế kỷ XIX. Điều thú vị ở đây là, theo tôi biết thì người ta không tìm thấy gì nhiều ngoại trừ một vài lý thuyết chung chung.

Các học thuyết cũ có thể đã từng đúng

Một lý thuyết phổ biến trong vài năm trước cho rằng các nhà đầu tư nên mua và giữ các khoản đầu tư cổ phiếu của họ trong thời gian lâu dài. Họ không nên cố gắng tỏ ra hiểu biết hơn thị trường chứng khoán. Ý tưởng này đã trở thành câu thần chú sau khi thị trường có bước phục hồi tuyệt vời sau vụ đổ vỡ thị trường cổ phiếu năm 1987. Vụ đổ vỡ đó giờ đây chỉ được xem như một biến động nho nhỏ trong đợt bùng nổ thị trường của những năm 1980, 1990. Sự phục hồi đó chính là minh chúng cho khả năng “mau phục hồi” dài hạn của thị trường.

Có thêm một lý thuyết liên quan nói rằng thị trường Cổ phiếu luôn luôn đem lại lợi nhuận cao hơn so với lãi suất trái phiếu trong dài hạn, vì các nhà đầu tư cổ phiếu được đền bù nhiều hơn cho độ rủi ro cao xuất phát từ việc thị trường không ổn định. Hiện giờ các lý thuyết kiểu này có lẽ đã mờ nhạt đi phần nào, sau khi các nhà đầu tư toàn cầu trải qua năm năm liền thị trường xuống giả kể từ năm 2000. Ở Mỹ, năm 2005 các chỉ số chứng khoán lớn đóng cửa ở mức thấp hơn so với mức năm năm trước đó. Năm năm là một khoảng thời gian dài, ngay cả đối với những nhà đầu tư kiên nhẫn. Tôi cũng cho rằng vì các lý thuyết về mua bán được công nhận rộng rãi nên nó mới có ảnh hưởng đẩy giá lên cao hơn, làm tăng phí gia nhập thị trường đối với các nhà đầu tư mới khiến họ không còn quan tâm đến thị trường nữa - đây chính là một kiểu dự đoán trước là mình sẽ thất bại.

Các lý thuyết khác, căn cứ vào các tỉ suất như tỷ suất giá trên doanh thu, đã rất thành công trong việc báo hiệu đợt đổ vỡ công nghệ vài năm về trước. Tuy nhiên, tôi nghĩ rất nhiều về các lý thuyết này, tôi đã quá cẩn trọng và đã bỏ lỡ rất nhiều thời điểm thị trường phát triển huy hoàng trong vòng năm năm trước đó. Điều này chắc hẳn đã làm cho nhiều nhà đầu tư mất rất nhiều tiền do lợi nhuận bị bỏ lỡ. Tóm lại, lời khuyên của tôi là hãy chọn thời điểm tốt nhất để đầu tư vào thị trường cổ phiếu. Có những thời kỳ dài khi mà thị trường phát triển mạnh mẽ hoặc yếu kém. Hãy theo dõi diễn biến trong nền kinh tế và các tác động lớn. Ở phần sau, tôi sẽ lý giải cho các bạn biết phương thức tốt nhất để xác định thời điểm đầu tư chính là chờ cho các quan điểm chung hình thành trên thị trường và đầu tư sau khi giá bắt đầu biến động.

5.6. Mua trái phiếu khi cả tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế đều yếu

Tất cả những gì liên quan đến trái phiếu chỉ là lãi suất. Vì chúng đem lại cho ta một tỷ suất hoàn vốn cố định nên giá trị của trái phiếu tăng lên khi tỷ lệ lãi suất giảm xuống. Mọi người sẽ trả hơn 100 đô la để mua một trái phiếu mệnh giá 100 đô la, nếu như lãi trái phiếu là 5% còn lãi suất thị trường chỉ là 4%.

Lạm phát có ảnh hưởng lớn hơn đến lãi trái phiếu

Trái phiếu thời hạn 10 năm có xu hướng trở thành trái phiếu chuẩn của hầu hết các quốc gia. Nói nôm na thì khi quyết định lãi suất của trái phiếu thời hạn 10 năm, thị trường đã xem xét đến việc liệu các tỷ lệ lãi suất ngắn hạn như lãi suất theo ngày hay lãi suất theo quý trung bình sẽ là bao nhiêu trong vòng 10 năm tới. Điều này liên quan đến việc phải xem xét tình hình lạm phát và tăng trưởng kinh tế. Xét về mặt lịch sử thì lạm phát thường là nguyên nhân lớn hơn gây ra biến động lại trái phiếu và lạm phát nói chung dễ bị tác động bởi các chu kì dài hơn là tăng trưởng.

P/E: price-earnings ratios.

Những khoản lợi từ thị trường trái phiếu có thể sẽ là một chỉ số hữu ích cho thấy niềm tin của thị trường vào khả năng kiểm soát lạm phát của chính phủ.

Những xu thế lớn trong thế kỷ XX

Biểu đồ dưới đây thể hiện tình hình biến động lãi suất dài hạn của Mỹ kể từ năm 1950.

Lợi nhuận trái phiếu của chính phủ Mỹ, thời hạn 10 năm trở lên, giai đoạn 1950 - 2004.

Vào đầu những năm 1950, lãi trái phiếu của chính phủ Mỹ ở vào khoảng 3%, không chênh lệch mấy so với mức 4% hiện nay. Trong thời kỳ đó, thị trường trái phiếu có hai biến động lớn, đó là một đợt tăng lãi suất khá đều trong vòng hơn 30 năm lên tới khoảng 14% vào năm 1981 và một đợt giảm khả đều trong hai thập niên tiếp theo.

Có một điều thú vị là những khoản lợi nhuận từ trái phiếu đã duy trì khá ổn định trong nửa đầu thế kỷ XX vì thị trường trái phiếu vẫn tin tưởng vào khả năng kiểm soát lạm phát của chính phủ. Điều này xảy ra bất chấp những biến động lớn do hai cuộc chiến tranh thế giới gây ra.

Các đợt tăng lãi suất vào những năm 1950, 1960 và 1970 chính là do lòng tin đó bị mất đi. Hầu hết những tổn hại đối với thị trường xuất phát từ các đợt tăng mạnh giá dầu vào những năm 1970. Đó là thập kỉ đen tối. Việc chính phủ tăng mạnh tỷ lệ lãi suất ngắn hạn vào đầu những năm 1980 khiến thực trạng lạm phát dổi chiều, và người tiêu dùng cũng như cả thị trường dần dần hạ thấp mức lạm phát mong đợi của họ.

Những biến động lớn này xuất hiện trên thị trường trái phiếu đã tạo ra các cơ hội giao dịch đầu tư trong dài hạn. Bằng việc tập trung theo dõi tình hình tăng trưởng và lạm phát, bạn có thể sẽ có rất nhiều thời gian để quyết định đầu tư sao cho có hiệu quả.

Một trong những xu thế lớn nhất đó là đợt sụt giảm lãi trái phiếu từ cuối những năm 1980

Tôi bắt đầu giao dịch đầu tư trên thị trường trái phiếu từ cuối những năm 1980. Khi ấy tôi vừa thành lập một bộ phận giao dịch chiến lược mới ở Bankers Trust. Ở thời điểm đó, việc làm ăn của chúng tôi khá thuận lợi nhờ tận dụng được một xu thế tăng lãi trái phiếu trong ngắn hạn. Đó chỉ là diễn biến tạm thời đi ngược lại xu thế chung trong dài hạn là lãi trái phiếu sụt giảm mạnh kể từ năm 1980.

Trong vòng hai năm, chúng tôi đều có giá lên khi tình hình tăng trưởng kinh tế và lạm phát bắt đầu yếu đi. Bảng đánh giá của chúng tôi về nền kinh tế thật là hữu ích trong việc phát hiện ra môi trường đầu tư đang thay đổi, và những gì chúng tôi phán đoán hoàn toàn phù hợp với nhận định chung của các chuyên gia kinh tế và các phương tiện truyền thông.

Hồi đó, có rất nhiều nhân tố đẩy lạm phát xuống mức thấp như toàn cầu hóa, kỳ vọng lạm phát giảm, các liên minh tan rã, tư hữu hóa, cạnh tranh mạnh mẽ hơn, chủ nghĩa kinh doanh phát triển hơn, công nghệ và năng suất lao động tăng cao, thuyết Thatcher' và ngân hàng trung ương tách ra độc lập với chính phủ.

'Chi sự tự do cá nhân, chấm dứt phân biệt.

Thực sự tôi không thấy có yếu tố nào có thể đẩy thị trường đi theo hướng khác.

Tôi thích những thương vụ này, khi mà tất cả các yếu tố nền tảng đều đi cùng một hướng, cùng đẩy thị trường hoặc tăng giá, hoặc giảm giá. Tôi thấy rằng trong những trường hợp như vậy, thị trường thực sự có thể tiến những bước rất dài, ngay cả quan điểm trở thành xu thế chủ đạo. Thường cũng có rất nhiều thời gian để các nhà đầu tư gia nhập thị trường và các diễn biến còn xảy ra trong rất nhiều năm mới kết thúc.

Sau này bạn sẽ thấy là tôi thích mọi người có cùng quan điểm với tôi, chứ tôi không hề cố gắng đi ngược lại với số đông.

Đây vẫn là một trong những cơ hội xuất phát từ tình hình kinh tế vĩ mô mà tôi đã chứng kiến. Bằng cách này hay cách khác, tôi duy trì các khoản đầu tư trong gần 10 năm. Hồi năm 1994, đã có lúc tôi hơi dao động vì tốc độ tăng trưởng kinh tế bỗng phục hồi còn lại trái phiếu tăng từ 6% lên 8%. Tuy nhiên, đến năm 1995, tôi trở lại chiến lược đầu tư cũ vì lãi trái phiếu lại giảm 3% trong vòng 2 đến 3 năm.

Suốt trong cả quá trình, tôi đã thấy có rất nhiều nhà giao dịch đầu tư kiên quyết giữ vững lập trường khi tình hình thay đổi. Họ không thể tin được là tỷ lệ lãi suất có thể liên tục giảm như thế. Ở Australia, tôi đã gặt hái được rất nhiều thành công dễ dàng khi lãi suất tăng vọt lên 10%; hiện giờ chúng chỉ ở mức 5% thôi.

Thực sự kể từ cuối những năm 1990 đến giờ, tôi chưa đầu tư lại vào thị trường trái phiếu. Hiện giờ không có biến động gì mấy đối với lãi trái phiếu, còn trong vòng mấy năm qua, lãi trái phiếu chính phủ kì hạn 10 năm của Mỹ vẫn chỉ dao động trong khoảng từ 3% đến 5%. Tuy nhiên, hãy để ý theo dõi những thay đổi trong dài hạn đối với tăng trưởng kinh tế và đặc biệt chú ý đến tình hình lạm phát. Mọi thứ có thể sẽ thay đổi.

5.7. Mua hàng hóa khi lạm phát và tăng trưởng kinh tế đều mạnh

Hàng hóa' ở đây là các nguyên vật liệu thô. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện tốt cho giá hàng hóa tăng lên bởi một nền kinh tế đang tăng trưởng sẽ cần nhiều đầu vào cho sản xuất. Lạm phát cũng có tác dụng tốt đối với giá cả hàng hóa vì hàng hóa là các tài sản hữu hình, giá trị của chúng tăng khi giá trị của tiền giấy giảm.

Giống như tất cả các thị trường khác, thị trường hàng hóa cũng có một số biến động lớn gây ra bởi một loạt các yếu tố cơ bản, đẩy giá cả đi xa hơn nhiều so với người ta dự tính. Đây là những loại biến động mà các chiến lược trong cuốn sách này muốn tìm ra và khai thác. Vì vậy, điều mấu chốt ở đây là phải xác định được những thời kỳ mà tăng trưởng và lạm phát đều mạnh, và rồi xem xét phương thức đầu tư lâu dài. Những thay đổi khả quan này chính là những điều mà chúng ta đang cần xác định rõ ràng.

Đầu tư vào một giỏ hàng hóa

Để thực hiện được chiến lược này, có lẽ bạn sẽ phải đầu tư vào một giỏ gồm vài loại hàng hóa khác nhau chứ không phải chỉ một loại mặt hàng nhất định. Nguyên nhân là để thu được lợi nhuận đầu tư nhờ tăng trưởng và lạm phát, bạn sẽ phải loại bỏ rất nhiều tính ngẫu nhiên trong giá cả xảy ra do các nhân tố thuộc nguồn cung. Trong Chiến lược 4.7, tôi đã nói đến những khó khăn xuất hiện thêm trên các thị trường do nguồn cung chi phối. Những thị trường này thường khó kiểm soát hơn. Chúng có thể bị ảnh hưởng bởi những sự kiện xảy ra ở những đất nước xa xôi với điều kiện kinh tế chính trị không ổn định và nhiều tệ nạn tham nhũng. Chúng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi những ảnh hưởng thất thường của thời tiết. Bạn không muốn nhận định rằng mức lạm phát cao sẽ đẩy giá hàng hóa cao lên, thế nhưng cuối cùng giá lại giảm chỉ vì điều kiện thời tiết tốt đem lại một vụ mùa bội thu cho loại hàng hóa này.

Nhiều thông tin tác động lên thị trường hàng hóa có thể rất khó xác định. Đó quả là một công việc khó khăn đối với nhà đầu tư trong việc nắm bắt được những thông tin này. Vì vậy, bằng cách giao dịch đầu tư cả một giỏ hàng hóa, chúng ta sẽ lãi với một số mặt hàng và lỗ với một số khác và vẫn duy trì được hiệu quả kinh tế của đầu tư. Tôi cũng sẽ làm như vậy chứ không đời nào đi đánh cuộc xem liệu năm nay, ở một quốc gia có cái tên khó nhớ, mùa màng có bị thất bát không.

Chỉ số hàng hóa CRB

Trong khi bạn có thể tự mình lựa chọn một loạt các hàng hóa để đầu tư thì có lẽ sẽ dễ dàng hơn nếu bạn sử dụng một chỉ số có sẵn. Chỉ số chỉ dẫn phổ biến nhất hiện nay là chỉ số CRB. Các hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn trên chỉ số CRB đều được giao dịch trên bảng giao dịch New York. Nó gồm các danh mục hàng hóa khác nhau:

- Năng lượng: dầu thô, dầu đốt, khí gas tự nhiên - Ngũ cốc: ngô, đậu nành, lúa mì

• Nguyên liệu công nghiệp: vải bông, đồng

• Vật nuôi: trâu, bò, lợn

• Kim loại quý: vàng, bạc, platinum

• Đồ uống không cồn: ca cao, cà phê, nước cam, đường

Vì chỉ số này bao gồm một lượng lớn các chủng loại hàng nguyên vật liệu nên khi nhà đầu tư quan tâm đến sự biến động của chỉ số CRB, họ sẽ không để ý đến biến động của từng thành phần hàng hóa, và nhờ đó giảm mức độ nghiêm trọng các vấn đề xảy ra đối với nguồn cung hàng hóa mà tôi đã đề cập ở trên. Dĩ nhiên vẫn có rất nhiều hàng hóa không được đưa vào chỉ số CRB.

Commodity Research Bureau.

Thay vì giao dịch theo một chỉ số trên thị trường hàng hóa, còn có rất nhiều các phương thức khác nhau để giao dịch đầu tư vào hàng hóa - trừ cách dự trữ đầy hàng hóa trong sân nhà bạn ra. Bạn cũng có thể đầu tư vào các công ty, như Công ty thép hay Công ty dầu mà bạn cảm thấy sẽ thu được lợi nhuận khi giá của các sản phẩm này tăng cao. Hoặc thậm chí bạn còn có thể mua hẳn đồng tiền của những quốc gia rất giàu tài nguyên thiên nhiên.

Hiếm khi nào xảy ra một thời kỳ dài mà tăng trưởng và lạm phát đều ở mức cao

Mọi phương thức đầu tư nói trên đều có thể được sử dụng để thực hiện chiến lược này và tận dụng được tình hình tăng trưởng và lạm phát cao. Tuy nhiên trên thực tế không xảy ra nhiều thời kỳ mà cả tăng trưởng và lạm phát có thể cùng tăng một lúc. Các chính phủ thường phản ứng lại với lạm phát cao bằng cách tăng lãi suất. Nếu lãi suất tăng cao ảnh hưởng quả xấu đến nền kinh tế thì họ chỉ gặp khó khăn trong việc duy trì lạm phát cao. Khi tăng trưởng đang mạnh, chính phủ có rất nhiều phương cách để can thiệp vào nền kinh tế mà không gây ra tình trạng khủng hoảng định trệ, vì vậy nếu cần thiết, họ hoàn toàn có thể kiềm chế lạm phát. Chính vì vậy, hầu như rất hiếm xảy ra trường hợp tăng trưởng và lạm phát cùng duy trì ở mức cao trong một thời gian dài. Điều này lý giải tại sao trong khoảng 50 năm liền giá cả thực tế của hàng hóa lại giảm.

Biểu đồ sau đây thể hiện diễn biến của chỉ số CRB kể từ năm 1950.

Chủ yếu là do tác động từ OPEC, nhưng tăng trưởng kinh tế lại ở mức thấp. Suốt trong một thời gian dài, giá trị của hàng hóa tăng lên nhưng giá cả thực tế hầu như không tăng vì lạm phát đã khiến cho mức giá trung bình trên toàn thị trường tăng lên gấp ba lần.

Vào những năm 1980 và 1990, tình hình lại hoàn toàn ngược lại, tỷ lệ lạm phát giảm và có rất nhiều giai đoạn tăng trưởng tốt. Đây quả là thời kỳ tồi tệ đối với giá cả thực tế của hàng hóa. Tăng trưởng kinh tế là điều kiện chưa đủ. Mức cầu tăng lên từ nền kinh tế thế giới đang phát triển nói chung lại chỉ đủ bù cho chi phí sản xuất sụt giảm do những tiến bộ mạnh mẽ trong Công nghệ Công nghệ cũng góp phần giúp nền kinh tế giảm bớt mức độ phụ thuộc vào các loại hàng hóa nguyên liệu đắt tiền hơn như dầu lửa. Những đổi thay về mặt xã hội cũng làm giảm mức tăng của cầu đối với hàng hóa và các nền kinh tế chuyển sang định hướng phát triển dịch vụ nhiều hơn và không còn dựa nhiều vào ngành sản xuất.

Những vấn đề hiện nay đều liên quan đến Trung Quốc

Như tôi đã nói từ trước, trong vài năm trở lại đây một kỉ nguyên mới đã nổi lên. Các nền kinh tế đang phát triển, đặc biệt là Trung Quốc đều có tốc độ tăng trưởng và lạm phát đồng thời ở mức rất cao. Họ chấp nhận duy trì lạm phát và không kiềm chế tăng trưởng. Thế là thời hoàng kim của hàng hóa trở lại. Đã xuất hiện những tranh luận xoay quanh vấn đề liệu trong tương lai Trung Quốc có cố gắng giảm lạm phát hay không, nhưng hiện giờ, giá cả hàng hóa đã tăng vọt khủng khiếp như con rồng đói đang lục lọi cả thế giới để tìm kiếm nguồn nguyên liệu thô. Trước tình hình này, vào năm 2003, tôi đã mua đô la Australia vì đây là một trong những đồng tiền được sử dụng trên thị trường hàng hóa quốc tế. Tôi đồng tình với quan điểm chung cho rằng cầu của Trung Quốc đối với hàng hóa sẽ đẩy giá lên cao hơn, và rằng Australia chắc chắn sẽ được lợi với tư cách là một nước cung cấp hàng. Ngoài ra, cũng có một số yếu tố khác góp phần làm tăng giá đồng đô la Australia, đó là mức tăng trưởng kinh tế mạnh và tỷ lệ lãi suất tương đối cao, khiến tôi càng yên tâm hơn khi đầu tư. Thường vụ này đã đem lại kết quả tốt, và cho đến nay tôi vẫn duy trì khoản đầu tư này. Hãy cẩn trọng với đồng đô la.

Sau đây là một lời cảnh báo về thị trường hàng hóa. Vì chúng thường được định giá bằng đồng đô la Mỹ nên đôi khi giá cả sẽ phụ thuộc nhiều vào sức mạnh của đồng đô la hơn là bản thân hàng hóa. Chẳng hạn, trong thời kỳ đồng đô la suy yếu, giá cả hàng hóa có thể sẽ tăng để duy trì giá trên thị trường châu Âu và Nhật Bản tương đối ổn định. Đây luôn là một yếu tố quan trọng cần xem xét nếu như bạn không muốn phải dự đoán về đồng tiền.

5.8. Khi lạm phát mạnh và tăng trưởng kinh tế yếu, hầu như không có loại tài sản nào đem lại lợi nhuận

Một sự kết hợp giữa lạm phát và tăng trưởng yếu hầu như không giúp ích gì cho việc đầu tư vào bất kì loại tài sản nào. Chúng ta đã chứng kiến gần một thập kỷ diễn ra tình trạng này vào những năm 1970, cả thị trường cổ phiếu và trái phiếu đều bị ảnh hưởng vô cùng nặng nề. Ngay cả thị trường hàng hóa cũng phải khó khăn lắm mới tăng được giá cả thực tế.

Những năm 1970 - thập niên đen tối

Chắc hẳn bạn còn nhớ thời kỳ này. Lúc này tôi mới đang ở độ tuổi mới lớn. Mọi người dường như đều gặp khó khăn. OPEC tác động lên nền kinh tế thế giới bằng hai đợt tăng giá dầu. Vào năm 1973, giá dầu tăng từ vài đô la lên hơn 10 đô la một thùng, và đến năm 1979, từ mức mười mấy đô la, giá lại tăng lên tới hơn 30 đô la. Hồi ấy các nước phương Tây còn phụ thuộc vào dầu hơn bây giờ nhiều. Điều này giống như hai cú đánh trời giáng vào nền kinh tế thế giới.

Giá dầu đẩy giá của mọi hàng hóa tăng theo và lạm phát vượt ra ngoài tầm kiểm soát. Đến năm 1980, lạm phát là 10%. Mọi người đã quen với các chu kì của nền kinh tế. Thường thì lạm phát sẽ chỉ tăng lên khi nền kinh tế đang tăng trưởng tốt và có lượng cầu vượt quá cung đẩy giá cả tăng lên. Tuy nhiên, vào những năm 1970, việc làm rất hiếm và tỷ lệ thất nghiệp cũng tăng dần đến con số 10%, vì vậy rất nhiều nguồn lực trở nên dư thừa. Đây là tình trạng lạm phát cộng với sự đình trệ, trong tiếng Anh người ta có riêng cả một từ để chỉ hiện tượng này đó là stagflation'. Tôi nhớ hồi những năm 1970, ở trường học tôi được học kinh tế và môn học về lạm phát đình trệ. Không ai biết phải làm gì để thoát khỏi tình trạng này. Tôi nghĩ ở Australia, họ đã thử thực hiện chính sách đóng băng tiền lương. Khi ấy các Công đoàn mạnh hơn bây giờ, họ cố gắng đảm bảo duy trì mức lương của người lao động. Còn ở Anh, người dân trải qua một “mùa đông bất mãn” và tình hình trở nên tồi tệ đến mức ai cũng phải sẵn sàng tiếp nhận một liều thuốc gọi là thuyết Thatcher'.

"Tình trạng lạm phát đình đốn (tình trạng lạm phát tiền tệ mà không có tăng nhu cầu và công ăn việc làm).

Không dễ có câu trả lời để giải quyết tình trạng lạm phát đình trệ

Tuy nhiên, nhà cầm quyền có thể làm gì? Việc tăng giá dầu cũng giống như xuất hiện thêm một loại thuế đánh lên cả nền kinh tế. Hầu như đời sống của ai cũng tồi tệ đi và xuất hiện những tranh chấp nảy lửa xoay quanh vấn đề chi phí sẽ do những ai cũng chịu. (Bi kịch thực sự của thời kỳ này chính là ảnh hưởng về mặt xã hội dẫn đến tình trạng hỗn độn). Thật không may là không có chính sách nào mà chính phủ có thể áp dụng một cách dễ dàng để đối phó với loại lạm phát đình trệ này. Lý thuyết kinh tế, hay còn gọi là môn “khoa học nhạt nhẽo” đã giúp ích rất nhiều trong việc quản lý kinh tế trong điều kiện bình thường. Nhà kinh tế học vĩ đại nhất mọi thời đại, John Maynard Keynes đã nói với chúng ta giải pháp cần thực hiện, đó là tăng hoặc giảm chi tiêu chính phủ để giảm nhẹ tác động của các chu kì kinh tế. Khi mọi người không chi tiêu gì cả thì chính phủ phải chỉ tiêu cho họ và vay thêm tiền. Ấy vậy mà trong thời kỳ Đại Suy thoái”, các khoản chi tiêu của chính phủ lại bị cắt giảm chứ không hề tăng. Mặt khác, nếu người dân tiêu dùng quá nhiều và nền kinh tế trở nên quá nóng thì chính phủ nên cắt giảm chi tiêu. Keynes không thực sự tin tưởng vào lãi suất như một công cụ kinh tế. Nguyên nhân là trong thời kỳ suy thoái, cắt giảm lãi suất có lẽ chưa đủ để khuyến khích những người tiêu dùng và các doanh nghiệp vốn đang quá bi quan đi vay mượn và tiêu dùng. Bạn chỉ có thể dẫn một con ngựa đến chỗ có nước chứ không thể bắt nó uống được. Nhưng có điều, trong điều kiện bình thường, lãi suất lại có thể được sử dụng rất hiệu quả. Khi lạm phát tăng, chỉ cần hơi thắt chặt tỷ lệ lãi suất là đủ làm cho tốc độ mọi thứ giảm đi một ít và tình trạng lạm phát được giải quyết. Biện pháp kiểm soát nền kinh tế này thậm chí đã trở nên quan trọng hơn và các nhà chính trị thường lạm dụng ngân sách vì mục đích chính trị hơn là mục đích kinh tế.

"Margaret Thatcher: Nữ Thủ tướng Anh lúc bấy giờ.

* Great Depression (1929 - 1933): Thời kỳ suy thoái kinh tế bắt đầu sau sụp đổ của thị trường chứng khoán Phố Wall. Nó bắt đầu ở Hoa Kỳ và nhanh chóng lan rộng ra châu Âu và mọi nơi trên thế giới, phá hủy cả các nước đang phát triển.

Vấn đề với hiện tượng lạm phát đình trệ đó là chính phủ không biết nên thúc đẩy kinh tế phát triển hơn hay ngăn nó chậm lại. Cố gắng tạo thêm việc làm sẽ dẫn đến nguy cơ lạm phát thậm chí Còn cao hơn, nếu ra sức giải quyết vấn đề lạm phát chỉ làm cho tình trạng việc làm tồi tệ đi. Vì vậy, họ không biết rõ phải làm gì Với vấn đề cân bằng ngân sách hay với tỷ lệ lãi suất.

Những vấn đề như vậy đối với nền kinh tế và các nhà hoạch định chính sách đã được phản ánh ngay trên thị trường, khi thị trường không còn gì hấp dẫn các nhà đầu tư nữa. Tất cả những gì bạn có thể làm là ngồi trên đống tiền của mình hay đem nó sang các thị trường khác đầu tư.

Cuộc khủng hoảng lạm phát đình trệ những năm 1970 chỉ chấm dứt thực sự khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tiêm cho nền kinh tế một liều thuốc mạnh - đó là nâng tỷ lệ lãi suất lên rất cao vào đầu những năm 1980 và cho phép duy trì tình trạng suy thoái. Hi vọng rằng trong nhiều năm tới, chúng ta sẽ không phải chứng kiến một thập niên tương tự như thập niên 1970 nữa.

5.9. Có thể bạn không thể phân tích xuất sắc hơn các chuyên gia phân tích

Những ý tưởng mà tôi bàn luận trong chương này liên quan đến các cơ hội trên thị trường, xuất phát từ thực tế là thị trường cần một thời gian quá dài để có thể điều chỉnh với những biến động lớn trong nền kinh tế và trong xã hội. Bằng việc xác định và hiểu được những thay đổi lớn này, tôi tin rằng chúng ta có thể sẽ gia nhập được vào những thị trường lớn nhất thế giới và giành chiến thắng. Hầu hết những biến động lớn đều rất khó có thể đo lường được và mọi người đều trong tình trạng tương tự.

Những phân tích chi tiết có thể sẽ không hiệu quả mấy bởi việc cần làm thực sự là theo dõi và ngẫm nghĩ về những vấn đề lớn cũng như tác động của chúng, chứ không phải chỉ là những con số chi li hay quá chi tiết.

Tôi thích các vụ đầu tư dựa vào biến động lớn. Việc này thực sự rất thú vị bởi nó liên quan đến những yếu tố căn bản trong đời sống của chúng ta và mọi nghiên cứu đều không cần thiết phải quá cụ thể hay liên quan đến các chi tiết đầy con số. Tôi đã nêu ra một vài ví dụ về ý tưởng đầu tư vào những biến động lớn, chẳng hạn như sự sụt giảm mạnh trong lạm phát, sự bùng nổ và biến động trong lĩnh vực công nghệ và sự nổi lên của Trung Quốc. Nếu bạn có thể cố gắng hiểu được những điều này, chắc chắn bạn sẽ đầu tư rất có lãi.

Từ trên xuống dưới và từ dưới lên trên

Khi bạn không quan tâm đến những ảnh hưởng lớn, bạn bắt đầu săm soi những chi tiết vụn vặt. Chẳng hạn, có thể bạn xem xét IBM' và cố gắng quyết định xem nên đầu tư mua hay bán. Việc này đòi hỏi những phân tích kĩ lưỡng hơn. Chúng ta đã chuyển từ phương thức tiếp cận từ trên xuống dưới sáng từ dưới lên trên. Giờ bạn đã đánh mất lợi thế so sánh của việc hiểu biết về phản ứng không chắc chắn của thị trường trước biến động lớn, và bạn căn cứ vào phân tích của bạn, những phân tích tốt hơn của người khác.

Đây quả là một việc khó khăn. Bạn có thực sự cho rằng bạn có thể chỉ ra một sai lầm của thị trường khi định giá IBM không? Tôi sẽ chủ đầu tư vào cổ phiếu trên cơ sở có một cái nhìn tổng quan, mà biết đâu cái nhìn tổng quan ấy lại dẫn đến khả năng tối đầu tư vào một chỉ số chứng khoán hay một chỉ số ngành nói chung nào đó. Thật sai lầm khi cố gắng phân tích vượt trội hơn các chuyên gia phân tích. Tôi biết có những nhà giao dịch đầu tư đã tiến hành rất nhiều nghiên cứu phân tích về các công ty lớn, và tôi tin tưởng rằng họ chỉ đang phí thời gian mà thôi. Kết quả đầu tư của những người này thường được quyết định bởi những biến động lớn trên thị trường nói chung hay bởi may mắn, chứ không phải do những phân tích chuyên sâu về một loại cổ phiếu nhất định.

'International Business Machines: Tập đoàn Công nghệ máy tính đa quốc gia có trụ sở tại Armonk, New York, Mỹ.

Thật may, không phải tất cả các thị trường đều được nghiên cứu cặn kẽ như Cổ phiếu của IBM. Do đó, tôi cho rằng để có được lợi thế, bạn cần phải chọn lựa những thị trường nhỏ hơn và ít được phân tích hơn. Bạn có thể xem xét một số thị trường tiền tệ, lãi suất và bất động sản có quy mô nhỏ hơn. Tuy nhiên, điều khiến người ta quan tâm nhất luôn là thị trường Cổ phiếu. Trong chương tiếp theo, tôi sẽ nói về các cổ phiếu nhỏ và giải thích lý do tại sao tôi thích các cổ phiếu này hơn là những cổ phiếu thượng hạng của các công ty lớn. Hãy để IBM lại cho người khác đầu tư.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.