Tuổi Trẻ Băn Khoăn - Chương 4
IV. Beatrice
Vào cuối những ngày nghỉ và không được gặp lại bạn tôi, tôi lên đường đi đến St – Song thân tôi đã đưa tôi đi và giao phó tôi cho một trường lưu trú nam sinh coi sóc, điều khiển bởi một trong những thầy giáo ở trường dự bị. Song thân tôi ắt sẽ lặng điếng người nếu họ biết cái thế giới nào mà họ để tôi phiêu lưu vào đó.
Vấn đề vẫn nguyên vẹn. Sau cùng tôi sẽ trở thành một đứa con ngoan và một công dân hữu dụng hay là bản chất tôi nhắm vào một con đường hoàn toàn khác hẳn? Cuộc nỗ lực cuối cùng của tôi để đạt đến hạnh phúc trong sự che chở của quê hương bên nội đã tồn tại một thời gian dài có lần gần như thành công, nhưng cuối cùng đã hoàn toàn thất bại.
Sự trống rỗng đặc biệt và tình trạng cô lập mà tôi cảm thấy lần đầu tiên sau bài học kinh kiên tín (ôi, sau đó nó trở nên quen thuộc biết bao, nỗi cô đơn này, cái không khí thưa thớt ấy!) chỉ trôi qua rất chậm chạp. Việc đi xa nhà của tôi thì hẳn là ngạc nhiên rồi, tôi gần như hổ thẹn là tôi không còn cảm thấy lòng tư cố hương nữa. Các chị em tôi khóc than không lý do gì cả; tôi thì cặp mắt vẫn ráo hoảnh. Tôi lấy làm ngạc nhiên cho mình. Luôn luôn tôi là một thằng con trai đa cảm và tuyệt đối ngoan ngoãn. Bây giờ tôi đã hoàn toàn biến đổi. Tôi đã hành động với sự hoàn toàn lãnh đạm với thế giới bên ngoài, và, bởi vì vào những ngày cuối cùng, những giọng nói bên trong đã làm cho tôi chú tâm đến, những dòng suối nội tâm, những dòng suối tối tăm bị ức chế đã gào thét lên ở phía dưới bề mặt. Trong những năm sau cùng tôi đã cao lớn nhiều phân, tôi đã bước đi lêu khêu, và đã chấm dứt một nửa qua cuộc đời.
Tôi đã đánh mất mỗi một vẻ quyến rũ mà có thể là điều ấy tôi đã có tự bao giờ, và cảm thấy rằng không ai còn có thể yêu thương cái cách thức của tôi hiện có nữa. Chắc chắn tôi cũng không thương yêu gì mình. Thường thường tôi cảm thấy rất đỗi khao khát Max Demian, nhưng thường cũng không thua gì việc tôi ghét hắn, buộc tội hắn là nguyên nhân làm hao mòn cuộc sống của tôi, đã giữ tôi dưới sự điều khiển của hắn y như một bệnh tật gớm guốc.
Tôi không thích cũng không kính trọng ở trường lưu trú nam sinh của tôi. Tại trường ấy khởi đầu tôi đã trêu chọc rồi trốn tránh và được coi như một học sinh mách lẻo và một đứa kỳ khôi không niềm nở gì cả. Tôi rơi vào vai trò này, thậm chí đã phóng đại nó ra, và đã than thở cho mình ở trong một tình trạng tự cô lập ắt đã xuất hiện đối với những kẻ ở bên ngoài cũng như sự thường trực và sự khinh miệt nam tính của thế giới, trong khi đó, đúng ra, tôi thường bị áp đảo một cách bí mật để phá hủy sự khởi phát của tính sầu muộn và nỗi tuyệt vọng. Ở trường học tôi đã được sắp xếp học hành dựa trên sự hiểu biết súc tích trong lớp học trước tôi, lớp học hiện giờ bài học hơi có phần kém lớp học tôi đã rời khỏi và tôi bắt đầu coi thường các học sinh trong nhóm tuổi tôi như chỉ là những đứa bé con mà thôi.
Ở trường học ấy tiếp tục như thế đó trong một năm hay hơn nữa. Lần đầu tiên tôi đã dửng dưng trong một vài lần trở về thăm nhà. Tôi vui thích khi tôi có thể ra đi trở lại.
Đó là vào lúc bắt đầu tháng mười một. Tôi trở nên quen với việc thường hay trầm ngâm bách bộ một đoạn đường trong tất cả mọi thời tiết, thường thì tôi tiếp tục bước đi, vui thú trong một thứ khoái trá lẫn sầu muộn, tự thù ghét và khinh miệt cuộc đời. Như thế đó tôi đã đi vơ vẩn suốt cả một chiều đầy sương mù ám phủ qua thành phố. Đại lộ rộng rãi của công viên công cộng vắng người đang mời gọi, tôi bước vào con đường nhỏ phủ đầy lá khô mà bàn chân tôi giẫm lên một cách giận dữ. Ở đấy có mùi ẩm ướt, gay gắt, và những thân cây ở xa, bóng nó y như những bóng ma, lù lù hiện ra lờ mờ dưới lớp sa mù.
Tôi lưỡng lự dừng lại ở cuối đầu đại lộ; nhìn trừng trừng vào cây cối tối đen, tôi hít thở một cách thèm khát cái hương vị ẩm ướt của sự tàn úa và chết chóc mà với hương vị ấy, một cái gì trong con người tôi đã đáp ứng lại bằng sự đón chào.
Có một kẻ nào đó đi bên cạnh đường mòn bước ra, chiếc áo khoác của y đánh phần phật khi y bước đi. Tôi sắp sửa tiếp tục bước đi thì lúc đó một giọng nói vang lên:
“Ê, Sinclair”
Hắn tiến trước mặt tôi. Đó là Afons Beck, đứa học trò lớn nhất trong trường lưu trú học sinh chúng tôi. Tôi luôn luôn gặp nó, không có gì chống lại nó cả ngoại trừ việc nó đối đãi với tôi, và tất cả những đứa khác tụi nó nhỏ tuổi hơn, với một yếu tố hài hước và một sự vị nể bậc cha chú đàn anh. Nó được nổi danh là mạnh như gấu, và ở trong trường chúng tôi, có một thầy giáo hoàn toàn dưới quyền điều khiển của nó. Nó là một vị anh hùng của biết bao lời đồn đãi của một số học sinh.
“Nào, mày đang làm gì đây”; nó nói lên một cách nhũn nhặn trong giọng điệu bộ tịch của những thằng lớn khi chúng có dịp hạ cố nói với một đứa trong bọn chúng tôi. “Tao đánh cuộc là mày đang làm thơ.”
“Sao anh lại nghĩ thế?” Tôi trả lời giọng sần sượng.
Nó cười rộ lên, bước đi bên cạnh tôi, và nói nho nhỏ trong một cách thức tôi đã không dùng đến từ lâu.
“Mày không việc gì phải e ngại là tao sẽ không hiểu, Sinclair. Có một cái gì đi với những ý tưởng mùa thu qua buổi chiều đầy sương mù ám phủ. Tao biết mà, người ta thích làm thơ vào những lúc như thế. Dĩ nhiên, về cái cảnh chiều hôm xế tà của vạn vật; và một người đã mất mát tuổi trẻ, nó giống với điều ấy. Chẳng hạn như thi sĩ Heinrich Heine.”
“Tôi không đa cảm như tất cả những lời anh nói đâu,” tôi tự bênh vực.
“Được rồi, thôi hãy bỏ qua chuyện ấy, nhưng đối với tao thì hình như trong thời tiết như thế này, kẻ nào làm việc hợp thời là lúc ấy đi tìm một chốc yên tĩnh nào đó, nơi ấy hắn có thể nhắm một ly rượu chát thứ ngon hoặc một cái gì. Mầy sẽ theo tao chứ? Tình cờ vào lúc này tao chỉ có một mình. Hay là mày không muốn đi? Tao không muốn là người dẫn mày lạc lối đâu ông bạn ạ, nghĩa là trong trường hợp tình cờ mày là hạng người đàng hoàng và kỹ lưỡng.”
Chẳng bao lâu sau đó chúng tôi đã ngồi vào một quán rượu lụp xụp ở ven thành phố; uống thứ rượu chát mà phẩm chất rất đáng ngờ, và cụng những ly rượu đầy với nhau. Khởi đầu cuộc nhậu nhẹt này tôi không mấy thích, nhưng sau cùng nó có một cái gì mới mẻ. Tuy nhiên, ngay sau khi không dùng đến rượu chát, tôi trở nên rất nhiều lời lắm tiếng. Việc ấy tuồng như cánh cửa sổ nội tâm đã mở ra cái thế giới sáng chói. Bởi vì đã lâu biết bao, bởi vì đã lâu kinh khủng tôi không hề thật sự nói chuyện với bất cứ ai như thế nào? Trí tưởng tượng tôi bắt đầu bỏ tôi đi mất và sau cùng, tôi cả đến bất thần còn tuôn ra từng tràng câu chuyện về Cain và Abel.
Beck lắng nghe với sự thích thú rõ ràng – sau cùng, tại đây có một kẻ nào đó mà với hắn tôi có thể cho biết một cái gì. Nó vỗ vai tôi, gọi tôi là một thằng bạn kỳ quái, tim tôi tràn ngập niềm ngây ngất sững sờ ở dịp may này để tha hồ phóng thích một nhu cầu bị giam hãm từ lâu cho cái việc nói năng và giao tiếp này, bởi sự tán đồng từ một đứa học trò lớn tuổi hơn. Khi nó gọi tôi là thằng nhóc con tinh ranh láu cá, những lời nói ấy như thứ rượu chát ngọt ngào rót vào linh hồn tôi. Thế giới đã lóng lánh trong những sắc màu mới lạ, những ý tưởng đã vọt ra hằng trăm ý nghĩ trơ tráo liều lĩnh. Ngọn lửa nhiệt thành đã bừng cháy trong con người tôi. Chúng tôi đã nói đến các thầy giáo và các bạn học của chúng tôi, và đối với tôi thì hình như chúng tôi đã hiểu nhau một cách tuyệt diệu. Chúng tôi nói về người Hy lạp và những kẻ tà giáo nói chung, và Beck rất hết sức muốn tôi thú nhận là đã ngủ với các cô gái. Điều này nằm ngoài sở trường của tôi. Tôi chẳng có một kinh nghiệm nào, chắc chắn là không có gì đáng nói cả. Và những gì tôi cảm thấy, những gì tôi đã cấu tạo trong trí tưởng tượng tôi nhưng không hề rời ra hoặc làm cho có thể thông trí được bởi rượu chát. Beck đã biết rất nhiều về các cô gái, thế nên tôi đã lắng nghe những thành tích vĩ đại của nó mà không thể nói một lời nào. Tôi đã nghe được những điều không thể tin được. Những điều mà tôi không bao giờ nghĩ rằng nó có thể trở nên thực tế hằng ngày, có vẻ thông thường được. Allfons Beck, nó mới mười tám tuổi, hình như có thể quyến rũ ở cái kinh nghiệm của một thể xác hộ pháp của nó. Chẳng hạn như nó đã biết cái điều buồn cười về các cô gái là các ả chỉ muốn được ve vãn tán tỉnh, mà tất cả chuyện ấy rất tuyệt. Nhưng không phải là điều thật sự. Vì điều thực sự người ta có thể hy vọng thành công lớn lao hơn với các mụ đàn bà. Chẳng hạn, bà Jaggett, chủ tiệm văn phòng phẩm, phải, với bà ta, người ta có thể nói đến công chuyện làm ăn và tất cả những chuyện xảy ra đằng sau ghi-sê của bà mà không hề được ghi chép vào sách vở.
Tôi ngồi đó vô cùng thích chí và cũng ngẩn người ra. Chắc chắn, không bao giờ tôi có thể yêu bà Jaggett cho được – song những tin tức ấy không thể tin được. Hình như nó có che đậy những nguồn gốc của sự khoái trá, ít nhất cho những đứa học trò lớn hơn, mà điều ấy tôi thậm chí không hề mơ tưởng đến. Về chuyện ấy có một cái gì không đúng, và nó có vẻ ít mời gọi và thông thường hơn là tình yêu, tôi cảm thấy, thiết tưởng tùy theo sở thích – nhưng ít ra: đây là điều thực tế, đây là đời sống và mạo hiểm, và ngồi kế bên tôi là một con người đã từng trải việc ấy, đối với hắn thì việc ấy có vẻ thông thường.
Một lần nó đã đạt đến tột đỉnh này, cuộc nói chuyện của chúng tôi bắt đầu sâu sắc. Tôi không còn là thằng nhóc con tinh ranh láu cá; tôi đã co rút lại chỉ còn là một đứa trẻ con lắng tai nghe một người lớn. Nhưng mà cũng vậy – so sánh cuộc sống của tôi với những gì trong nhiều tháng – thì đây là điều thích thú, đây là thiên đàng. Ngoài ra, như tôi bắt đầu dần dà nhận ra, đây là một điều bị cấm đoán gắt gao – từ sự có mặt của chúng tôi ở quán rượu cho đến đề tài cuộc nói chuyện. Đối với tôi thì ít ra nó đã có cái dư vị của một cuộc nổi loạn.
Tôi có thể nhớ lại cái đêm hôm đó hết sức rõ ràng. Chúng tôi bắt đầu đi về nhà chúng tôi qua ngọn đèn hơi lù mù thắp lên giữa đêm khuya; bởi vì đây là lần đầu tiên trong đời tôi, tôi bị say rượu. Điều đó không thú vị gì. Thật ra đó là điều đau đớn nhất, song nó cũng có một cái gì, một mối xúc động, một sự dịu dàng của việc chè chén say sưa, ồn ào hỗn độn, đây là sự sống và tinh thần. Beck đã làm một việc tốt lành là giữ gìn chăm nom tôi mặc dù nó đã nguyền rủa tôi một cách cay nghiệt như là một “kẻ mới tập sự giết người” và vừa dắt tôi vừa vác tôi về nhà. Tại đó nó đã thành công trong việc lén đẩy tôi vào cánh cửa sổ mở ở phòng trước.
Cái thực tế tỉnh rượu mà tôi thức dậy sau một giấc ngủ ngắn như chết đã xảy ra cùng lúc với sự đau đớn và sự chán nản ngã lòng, vô cảm giác. Tôi ngồi dậy trên giường ngủ, vẫn còn mặc chiếc áo sơ mi. Số quần áo còn lại của tôi vung vãi trên sàn nhà, có mùi thuốc lá và mùi nôn mửa, và khát nước dữ dội, một hình ảnh đến với đầu óc tôi mà tôi không hề nghĩ đến một thời gian lâu dài; tôi nhớ lại căn nhà của song thân tôi, căn nhà của tôi, cha tôi và mẹ tôi, các anh chị em tôi, và khu vườn. Tôi có thể thấy cái phòng ngủ quen thuộc, trường học, chợ, có thế thấy Demian và các giờ học bài kinh kiên tín – mọi sự thì tuyệt diệu, thuần túy thành kính, và mọi sự, tất cả điều này – như hiện giờ tôi nhận ra – vẫn còn thuộc về tôi ngày hôm qua, mới một ít giờ trước đây thôi, đã chờ đợi tôi, tuy hiện giờ, ở chính cái giờ phút này đây mọi sự trông đã bị tàn phá và hư hại, không còn thuộc về tôi nữa, đã phủ nhận tôi, đã coi tôi với sự gớm ghét. Mọi sự mến yêu và thân thiết, mọi điều cha mẹ tôi đã cho tôi ở tận những khu vườn xa xôi của thời thơ ấu của tôi, mỗi nụ hôn ở mẹ tôi, mỗi cuộc lễ Giáng sinh, mỗi buổi sáng chủ nhựt cung kính đầy ánh sáng ở nhà, mỗi mỗi bông hoa trong khu vườn – mọi sự đã bị tàn phá, mọi sự đã bị giày xéo lên bởi tôi! Nếu cánh tay luật lệ hiện giờ đây với đến tôi, nó buộc chặt và bịt miệng tôi lại và bắt tôi đến giảo hình đài như cặn bã của trái đất và một kẻ xúc phạm đến đền thờ, tôi sẽ không phản đối, sẽ đi một cách vui vẻ, sẽ nhìn nhận việc ấy là chánh đáng và công bình.
Thê nên đó là những gì mà bên trong con người tôi trông giống như vậy? Tôi, kẻ sắp sửa ra mặt khinh miệt cuộc đời? Tôi, kẻ có tinh thần hãnh tiến và đã chia sẻ những ý tưởng của Demian? Đây là những gì tôi trông giống như thế, một con heo bẩn thỉu, say sưa và thô bỉ, ghê tởm và non dại, một con thú đê tiện, lắng nghe bởi sự háu ăn gớm guốc. Đấy là những gì tôi trông giông như thế, tôi, một kẻ đã ra khỏi những khu vườn trong sạch, nơi mọi vật đều sạch sẽ, sáng chói và dịu dàng như thế, tôi một kẻ yêu âm nhạc của Bach và thi ca diễm lệ. Với nôn mửa và nhục nhã tôi có thể vẫn còn nghe thấy sự sống của tôi, say sưa và mất dạy, nói lắp bắp trong giọng cười ngốc nghếch, trong sự bất thần động đậy và lên cơn. Tôi là thế đấy.
Bất chấp hết thảy tôi gần như vui chơi trong những nỗi thống khổ của tôi. Tôi đã bị mù lòa, vô cảm giác và tâm hồn tôi đã im lặng thật lâu, đã ngồi khúm núm tiều tụy trong một góc xó ngay đến điều tự buộc tội này, điều kinh khủng này tất cả những cảm giác kinh khủng này đã được chào đón. Ít ra đó là một vài loại cảm giác ít ra ở đó nó có một vài nhiệt tình, ít ra tâm hồn đã chập chờn leo lét… một cách bối rối hoang mang tôi cảm thấy một cái gì giống như sự giải phóng ở giữa nỗi thống khổ của tôi.
Trong khi đó, theo quan điểm ở bên ngoài thì tôi xuống dốc một cách nhanh chóng. Cơn say sưa cuồng loạn đầu tiên của tôi chẳng bao lâu được tiếp theo bởi những cơn say sưa khác. Thường đi đến các quán rượu và chè chén ở trường trung học của chúng tôi. Tôi là một trong những đứa nhỏ nhất tham gia, song chẳng mấy lâu tôi không chỉ là một tên thiếu kinh nghiệm, một kẻ a dua một cách bất đắc dĩ, tôi đã trở thành một kẻ chủ mưu và một ngôi sao sáng, một kẻ lê gót đến quán rượu luông tuồng bất sá. Lại một lần nữa, tôi hoàn toàn thuộc về cái thế giới tối tăm và tội lỗi, và trong thế giới này tôi nổi tiếng là một thằng rất mực chịu chơi.
Tuy vậy, tôi đã cảm thấy đau đớn. Tôi sống trong sự chè chén say sưa tự hủy diệt và trong khi các bạn tôi coi tôi như một tên cầm đầu, như một thằng buồn cười, quỷ quyệt, và trong cùng tận con người tôi, linh hồn tôi đã khốn khổ. Tôi vẫn còn có thể nhớ lại những dòng lệ từ cặp mắt tuôn ra, khi tôi thấy các đứa bé nô đùa trên đường vào sáng chủ nhựt, khi tôi từ trong quán rượu hiện ra, những đứa bé với mái tóc chải chuốt bóng láng và ăn mặc đẹp nhất trong ngày chủ nhựt của chúng. Những đứa bạn bè đó ngồi với tôi ở những cái quán rượu tồi tàn nhất giữa những chai la-ve chồng chất và những chiếc bàn bẩn thỉu, tôi vui thú với những nhận xét của những lời nói thô tục chưa từng nghe bao giờ, thường thường ngay cả còn khích động với những lời nói ấy: song tận cùng trong tâm hồn tôi, tôi đã e ngại một việc tôi làm hạ phẩm giá và nằm khóc lóc trước linh hồn tôi, quá khứ tôi, mẹ tôi, trước Thượng đế.
Cái lý do hiển nhiên vì đâu tôi không bao giờ trở thành một với những thằng bạn của tôi, vì đâu tôi cảm thấy cô đơn giữa chúng nó và do đó có thể đã bị đau đớn rất nhiều. Tôi là một anh hùng đệ tử lưu linh và sự trơ trẽn vô liêm sỉ là để thỏa mãn sự thưởng thức của điều tàn bạo nhất…tôi đã phô diễn trí thông minh và lòng quả cảm theo những quan niệm của tôi, nhận xét về các thầy giáo, trường học, cha mẹ và giáo hội. Tôi cũng có thể chịu nghe những câu chuyện tục tĩu nhất và ngay đến chính mình dám liều thử một phen, nhưng tôi không bao giờ theo các bạn tôi khi chúng đi thăm viếng các phụ nữ. Tôi cô đơn và lòng tràn đầy khát khao tình yêu mãnh liệt, một khát khao vô vọng, trong khi đó, được phán đoán bởi cuộc nói chuyện của tôi, thì tôi sẽ là một tên theo khoái lạc chủ nghĩa gan lì, không ai dễ tổn thương, không ai dễ bẽn lẽn rụt rè hơn tôi. Và khi tôi, tình cờ gặp các cô gái trẻ, con nhà gia giáo của thành phố, đi trước mặt tôi, xinh đẹp và gọn gàng, ngây thơ và kiều diễm, thì bọn họ hình như hoàn toàn giống như những giấc mơ tuyệt diệu, hằng ngàn lần quá tuyệt cho tôi. Có lúc tôi không thể nào vác mặt mình đến cửa tiệm văn phòng phẩm của bà Jaggett, bởi vì tôi thẹn đỏ mặt khi gặp bà lại nhớ đến những gì mà Alfons Beck đã nói với tôi.
Tôi càng nhận ra điều ấy, tôi vẫn mãi cô đơn và xa lạ trong nhóm bạn bè mới của tôi bao nhiêu thì tôi càng ít có thể tự ý rút ra khỏi nhóm bè bạn mới ấy bấy nhiêu. Thực ra, tôi không biết gì về cái việc tôi say sưa và đi lảo đảo chuếnh choáng hiện giờ, có khi nào có thể đem đến cho tôi bất cứ điều vui thú nào chăng. Tuy nhiên, tôi không bao giờ trở nên quen say sưa mà tôi không luôn luôn cảm thấy luống cuống sau khi tỉnh rượu đến như vậy. Hết thảy những lần đó, tuồng như bề nào, tôi đã bị cưỡng bách để làm những điều này. Giản dị là tôi chỉ làm những gì tôi phải làm, bởi vì tôi không có ý nghĩ làm những gì với mình trái lại. Tôi sợ bị cô đơn lâu, sợ nhiều nỗi dịu dàng và những trạng thái trinh bạch sẽ tràn ngập người tôi, sợ những ý nghĩ yêu đương nổi dậy trong con người tôi.
Những gì tôi thiếu thốn khác nữa, phải nói rằng, quan hệ nhất là một thằng bạn. Có hai hay ba đứa bạn học mà với chúng, tôi có thể được thương mến, nhưng chúng nó đang ở trong chỗ tốt lành và các thói hư tật xấu của tôi đã bí mật bật mí từ lâu. Chúng nó lẩn tránh tôi. Đối với phần đông, tôi được coi như một tên nổi loạn vô vọng, nền tảng của nó đang sụp lở dưới bàn chân. Các thầy giáo đã biết rõ ràng về tôi, tôi đã bị trừng phạt nghiêm khắc nhiều lần, việc sau cùng là sự tống cổ tôi ra khỏi trường học hình như chỉ còn là một vấn đề thời gian. Tôi nhận ra mình đã trở thành một đứa học trò dở tệ, nhưng tôi đã vùng vẫy mãnh liệt từ cuộc thi này qua cuộc thi khác, luôn luôn nghĩ rằng nó – không thể nào tiếp tục như thế này mãi.
Có vô số phương thức mà trong đó Thượng đế có thể làm cho chúng ta cô đơn và dẫn dắt chúng ta trở lại với chúng ta. Đây là cách thức ngài đã tiếp xúc với tôi vào lúc đó. Việc ấy giống như một giấc mộng xấu xa. Tôi có thể thấy mình: bò lê dọc theo trên con đường dơ dáy và khả ố, băng qua rác rến và bùn lầy, qua những đêm phí phạm thô bỉ, một kẻ mộng ảo say mê, bồn chồn và khốn khổ. Có những giấc mơ mà trong đó bạn lên đường đi đến vị công chúa, bạn trở nên mắc vướng vào những tình cảnh khó khăn, ở sau những lối đi đầy mùi khó ngửi và rác rến. Đấy là điều liên quan với tôi như thế nào. Trong phương cách bực mình này, tôi bị kết án phải trở nên cô đơn, và tôi đã nổi dậy giữa bản thân tôi và thời thơ ấu của tôi, cổng đến vườn Địa đàng đã bị khóa lại với viên quản thủ rực rỡ tàn nhẫn của nó. Đây là một cuộc bắt đầu, một sự thức tỉnh của lòng hoài vọng thằng người của tôi trước đây.
Song tôi không trở nên lãnh đạm cũng như không hề bị hốt hoảng trong sự bị cắn rứt của nỗi sợ hãi thân phụ tôi, được vị giáo sư dạy riêng cho tôi báo tin, lần đầu tiên có mặt ở St – và đã đứng trước mặt tôi một cách bất ngờ. Sau mùa đông ấy, khi ông lại đến lần thứ hai, không gì có thể làm cho tôi xúc động nữa cả, tôi mặc cho ông rầy la và mắng nhiếc tôi, mặc cho ông nhắc lại mẹ tôi. Sau cùng, đến khi chấm dứt cuộc gặp gỡ, ông trở nên hoàn toàn giận dữ và nói nếu tôi không thay đổi ông sẽ cho tôi nghỉ học và gửi tôi vào trại cải hóa. Được, cứ để ông làm thế! Khi ông đã ra đi, lúc ấy tôi cảm thấy hối tiếc cho ông; ông đã không thành tựu được việc gì cả, ông không tìm ra con đường đến với tôi – và có những phút giây tôi cảm thấy rằng ông đã cư xử đúng.
Tôi chẳng thèm quan tâm mảy may những gì sẽ xảy đến cho tôi. Thói quen kỳ quặc và khó thương của tôi là đi đến các quán rượu và nói phách lối là cái cách thức của tôi cãi lộn với cuộc đời – đây là lề lối phản kháng của tôi. Trong quá trình, tôi đã tự hủy hoại mình nhưng có những khi tôi đã hiểu cái tình cảnh như sau: nếu cuộc đời không ích lợi cho những người như tôi, nếu nó không có một chỗ tốt hơn và những việc làm cao cả hơn cho họ, vâng, trong trường hợp ấy, những người như tôi sẽ hoàn toàn hư hỏng, và sự mất mát ấy sẽ tại bởi cuộc đời.
Kỷ nghỉ lễ Giáng sinh năm ấy là một việc không vui vẻ gì. Mẹ tôi hoảng hốt sâu xa khi bà thấy mặt tôi. Tôi lại còn lớn nhanh như thổi và khuôn mặt gầy guộc của tôi trông xám xịt và tiều tụy với những nét hờ hững và cặp mắt phẫn nộ. Râu mép mới mọc lún phún và cặp mắt kiếng tôi vừa mới đeo khiến trông tôi càng kỳ dị hơn. Các chị em tôi đã e thẹn bỏ đi và khúc khích cười. Tất cả đều ngụ ý mất dạy nhất. Điều khốn khổ và khó chịu là cuộc nói chuyện của tôi với cha tôi trong phòng việc của người, nhưng lời chào hỏi bỡ ngỡ đã trao đổi với những tỉ đối làm phiền lòng, và khó chịu đặc biệt là chính vào đêm áp lễ Giáng sinh. Lúc còn bé tôi chưa bao giờ có như thế này vào cái ngày trọng vọng trong nhà chúng tôi. Đêm đến là cả một sự hoan hỉ của tình yêu thương và lòng biết ơn, khi mối ràng buộc giữa con cái và cha mẹ được nối kết lại. Lần này thì mọi sự chỉ là sự nặng nề khó chịu và sự bối rối luống cuống. Như thường lệ, cha tôi đọc to lên đoạn người chăn cừu trên cánh đồng “đang chăn giữ đàn cừu”, như thường lệ, các chị em tôi vẻ mặt hớn hở đứng trước mặt bàn với những quà tặng, giọng cha tôi oai vệ vang lên, khuôn mặt người trông già nua và mệt mỏi, và mẹ tôi thì buồn rầu. Mọi sự hình như lạc lõng; các quà tặng và những lời chúc tụng lễ Giáng sinh, việc đọc Thánh kinh và thắp sáng cây Giáng sinh. Có mùi bánh ngọt thơm vị mật và gừng; nó tiết ra cái mùi bánh thánh của những kỷ niệm mà ngay đến nó còn ngọt dịu hơn. Hương thơm của cây Giáng sinh đã nói với thế giới rằng nó không còn tồn tại nữa. Tôi mong mỏi cho đêm và cuộc lễ qua đi.
Sự việc tiếp tục như thế suốt cả mùa đông. Chỉ có một thời gian ngắn sau tôi bị cảnh cáo nghiêm khắc bởi hội đồng giáo sư và bị đe dọa đuổi ra khỏi trường. Chuyện ấy không thể tiếp tục lâu. Vâng, tôi không hề quan tâm.
Tôi giữ một mối ác cảm đặc biệt chống lại M. Demian, tôi không gặp lại hắn dù chỉ một lần. Tôi đã viết cho hắn hai lần trong những tháng đầu tiên của tôi ở St- nhưng không nhận được hồi âm: vì thế tôi không tới thăm hắn trong những ngày nghỉ lễ.
Trong cùng một công viên, nơi tôi đã gặp Alfons Beck vào mùa thu vào một buổi chớm xuân, khi những hàng gai bắt đầu lú mầm, một cô gái hiện ra trước mắt tôi. Tôi một mình thả bộ, đầu óc tràn đầy những ý nghĩ đê tiện và xôn xao – bởi vì sức khỏe của tôi đã hư hỏng – và để làm cho sự việc tệ thêm, tôi mãi mãi lâm vào tình cảnh tài chánh khó khăn, đã mắc bạn bè một số tiền đáng kể và đã vậy còn tiếp tục bày đặt xài phí tiền bạc như thể là tiền bạc nhận được ở nhà. Trong một số cửa tiệm tôi được phép mua bông một số thuốc xì-gà và những vật tương tự. Việc này không làm tôi lo ngại lắm. Nếu sự sinh tồn của tôi sắp sửa đi đến một chung cục bất thần nào đó – nếu tôi tự trầm mình xuống sông hay bị gửi đến trại cải hóa – một ít đồng tiền phụ cấp nhỏ nhoi không làm cho sự thể khác mấy. Song tôi quyết sống đương đầu với những chi tiết khó chịu này: nó đã làm tôi đau đớn.
Trong ngày xuân hôm đó ở công viên, tôi trông thấy một thiếu nữ trẻ đã hấp dẫn tôi. Nàng cao ráo và mảnh mai, ăn mặc thanh nhã, có một gương mặt thông minh và như trẻ con. Tôi thích nàng ngay lập tức. Nàng là kiểu mẫu của tôi và bắt đầu rót đầy trí tưởng tượng của tôi. Chắc chắn là nàng không lớn hơn tôi nhưng có vẻ già giặn hơn, một cô gái nở nang đầy đặn nhưng với sự hơi dồi dào sinh lực và vẻ mặt như con nít của nàng, và đấy là điều tôi thích nhất.
Tôi không bao giờ chuẩn bị đến gần một cô gái mà tôi yêu, tôi cũng không hề sửa soạn trong trường hợp này. Nhưng cái ấn tượng nàng gây cho tôi thì sâu đậm hơn ấn tượng trước đây và sự say mê đắm đuối đã ảnh hưởng sâu xa đến đời tôi.
Bỗng nhiên một hình ảnh mới đã nổi dậy trước mặt tôi, một hình ảnh rất cao thượng và âu yếm. Và không cần kíp, không giục giã sâu xa hoặc cũng như sự nhiệt thành trong người tôi, như một sự khẩn khoản tôn sùng và ngưỡng mộ. Tôi đã đặt cho nàng cái tên Beatrice, vì, mặc dù tôi chưa hề đọc Dante, tôi cũng đã biết đến Beatrice do một bức họa Anh mà tôi có một bản sao. Bức họa ấy tiêu biểu một phụ nữ trẻ tiền – Raphaelite tay chân dài thòn và mảnh khảnh, với cái đầu dài, vẻ mặt và bàn tay thanh tú. Cô gái trẻ đẹp của tôi không hoàn toàn phù hợp với nàng mặc dù ngay cả nàng nữa, đã tiết lộ cái vẻ mặt như con trẻ, đó là điều khiến tôi yêu thích, và một cái gì của sự thanh khiết ấy là cái phẩm chất đầy tình cảm của gương mặt nàng.
Mặc dù tôi chưa bao giờ nói một lời độc nhất nào với Beatrice, nàng đã vận dụng một ảnh hưởng sâu xa đến tôi vào lúc đó. Nàng đã nâng hình ảnh của nàng lên trước mặt tôi, nàng đã cho tôi lối vào nơi điện đài thiêng liêng, nàng đã biến hóa tôi thành kẻ thờ phụng trong một điện đài. Từ hôm đó về sau tôi không đi đến các quán rượu và lợi dụng đêm tối nữa. Tôi lại có thể đơn độc với mỗi mình mình và vui thú với việc đọc sách, báo và nhàn tản bách bộ.
Sự biến hóa bất thần của tôi đã lôi cuốn rất nhiều điều mỉa mai trong sự khêu gợi của nó. Nhưng giờ đây tôi đã có một cái gì để tôi yêu dấu và tôn kính, tôi lại có lý tưởng, đời sống lại phong phú với những cáo tri huyền nhiệm và cái cảm giác bình minh ló dạng- ấy dã làm cho tôi tránh khỏi tất cả những điều lăng nhục. Tôi lại trở về với căn nhà của mình, dù chỉ như một tên nô lệ và tôi tớ của một hình ảnh yêu dấu.
Tôi nhận thấy khó lòng nghĩ đến thời gian ấy mà không có cái cảm giác êm đềm nhất định nào. Hơn một lần tôi đã cố gắng một cách mãnh liệt nhất để tạo nên mối thân thiết với “thế giới ánh sáng” cho mình để ra khỏi những sự khốn khó của một thời kỳ hủy hoại: hơn một lần tôi đã hy sinh mọi sự trong con người tôi cho cái mục đích xua đuổi bóng tối và thói xấu của mình.
Và, gia dĩ, cái “Thế giới ánh sáng” hiện tại này là một vài gia tăng sự sáng tạo của tôi; nó không còn là một sự trốn thoát, không còn bò lê trở lại người mẹ và điều an toàn của sự vô trách nhiệm; nó là một bổn phận mới, một điều tôi đã đặt ra và khao khát cho mình, với cái tinh thần trách nhiệm và sự tự chủ. Tình dục của tôi, sự hành hạ mà từ đó tôi không ngừng chạy trốn, đã biến dạng thành ra tâm linh và miệt mài ngưỡng vọng bởi ngọn lửa thiêng liêng này. Mọi sự tối tăm và gớm guốc đã bị xua đuổi, không còn những đêm bị hành hạ dày vò nữa, không còn kích thích trước những bức hình dâm dật, không còn rình mò ở những cánh cửa bị ngăn cấm, không còn vật dục. Để thay thế cho tất cả những điều này, tôi đã nâng cái tế đài của tôi cho hình ảnh của Beatrice, và bằng cách hiến dâng mình cho nàng tôi đã hiến dâng tôi cho tinh thần và thần linh, hiến dâng cái phần đó của cuộc đời mà tôi đã lấy lại từ những động lực tối tăm đến cái ánh sáng của nó. Chí nguyện của tôi không phải là niềm vui nhưng là trinh khiết, không phải hạnh phúc nhưng là sự mỹ và tâm linh.
Việc tôn sùng Beatrice này đã hoàn toàn thay đổi đời tôi. Hôm qua là một kẻ vô liêm sỉ chưa sạch mũi, hôm nay tôi là một sa di mà mục đích của ông ta là trở thành chánh quả. Tôi không chỉ trốn tránh cái cuộc sống tồi tệ mà tôi đã trở thành thói quen thôi đâu, tôi lại còn tìm kiếm sự biến hóa mình bằng cách du nhập sự thuần khiết và cao thượng trong mỗi phương diện của cuộc sống của tôi. Liên quan đến việc này, tôi nghĩ đến thói quen ăn uống của tôi, ngôn ngữ và áo quần của tôi. Tôi bắt đầu những buổi sáng của tôi với sự tắm lạnh mà thoạt tiên nó là một nỗ lực rất lớn lao đối với tôi. Tánh tình của tôi trở nên nghiêm trang và đứng đắn; tôi đã đặt lên bản thân mình sự không tự nhiên và giả vờ một dáng đi chậm chạp và nghiêm trang. Việc ấy đối với những kẻ bên ngoài, trông có vẻ khôi hài, nhưng đối với tôi thì nó hoàn toàn là một hành động tôn sùng.
Tất cả những điều thực hành mới mẻ, trong đó tôi tìm kiếm sự phô diễn điều xác tin mới mẻ của tôi, nó trở nên là một điều thực sự quan trọng đối với tôi. Tôi bắt đầu vẽ. Điểm khởi đầu việc này là mô phỏng bức họa Anh mà tôi có, dù không đủ thật giống với Beatrice của tôi. Tôi muốn chính mình cố gắng vẽ lấy chân dung nàng. Với niềm vui mới và hy vọng tôi đi mua giấy tốt, sơn và cọ mang về phòng tôi – tôi vừa mới cho một trong những bức họa của tôi – và sửa soạn tấm điều sắc, kính, đĩa sứ và bút chì. Các màu sắc trộn bằng thuốc màu, hồ, lòng trắng trứng sắc sảo trong những ống màu nhỏ tôi mua làm tôi thích thú. Giữa những thứ ấy là một thứ phẩm xanh rực, tôi nghĩ, ngày hôm nay tôi vẫn còn có thể thấy nó bừng lóe lên rực rỡ lần thứ nhất trong cái đĩa trắng nhỏ.
Tôi bắt đầu thật là cẩn thận. Vẽ một khuôn mặt thật giống hệt là một việc khó. Thoạt tiên tôi muốn mình thử cẩn thận vẽ một cái gì khác nữa. Tôi vẽ những vật trang hoàng, bông hoa, những phong cảnh tưởng tượng nho nhỏ, một cái cây cạnh nhà thờ chiếc cầu La mã với những cây trắc bá. Đôi khi tôi trở nên thật hoàn toàn mê mải trong trò chơi này đến nỗi tôi sung sướng như một đứa bé với hộp màu của nó. Sau cùng tôi bắt đầu vẽ chân dung nàng Beatrice của tôi.
Một vài cố gắng đã thất bại hoàn toàn và tôi đã xóa bỏ. Tôi càng tìm kiếm sức tưởng tượng khuôn mặt cô gái tôi gặp gỡ đây đó trên đường bao nhiêu thì tôi càng ít thành công hơn bấy nhiêu. Cuối cùng, tôi từ bỏ sự cố gắng và tự bằng lòng với việc để cho trí tưởng tượng và trực giác tôi, đã mọc dậy một cách tự nhiên từ những tiếng sét đầu tiên, như thể ở ngoài sự vẽ và tự chúng chạm phải. Đó là cái khuôn mặt mộng mị đã nổi lên và tôi không bất mãn với nó. Song tôi đã khăng khăng vẽ cho được và mỗi cái phác vẽ mới rõ ràng hơn, gần như đã đến gần hơn với cái kiểu mẫu mà tôi khao khát, dù cho nó không phải là cái cách thức mô phỏng thực tại.
Càng lúc tôi đã quen với việc vẽ những đường nét một cách thờ ơ với một cái cọ mộng mị và tô màu những khuôn diện tôi không cố kiểu mẫu trong đầu, đó là kết quả của việc lục lạo tứ tung đầy khoái hoạt của phần vô thức của tôi. Sau cùng, một hôm gần như không biết đến, tôi đã vẽ được cái khuôn mặt mà tôi đã từng đáp ứng một cách mãnh liệt hơn là tôi phải có với bất cứ vật gì khác. Đấy không phải là khuôn mặt của cô gái đó – không thể tưởng là nó có giống bất cứ chút nào. Đó là một cái gì khác nữa, một cái gì phi thực, song nó không kém giá trị đối với tôi. Trông nó giống như một khuôn mặt con trai hơn là con gái, mái tóc không hoe vàng giống như cô gái yêu kiều của tôi, nhưng nâu sậm với màu hoe đỏ. Cái cằm thì mạnh dạn và quả quyết, cái miệng giống như một bông hoa đỏ thắm. Toàn thể khuôn mặt ấy phần nào hơi cứng ngắc và giống như chiếc mặt nạ, nhưng nó có cảm tình và đầy sức sống kỳ bí riêng của nó.
Khi tôi nằm xuống trước bức họa đã hoàn thành, nó đã có một kết quả kỳ dị ở tôi. Nó giống với một thứ hình ảnh của Thượng đế hoặc cái mặt nạ linh thiêng, á nam á nữ, phi tuổi tác, đầy chủ hướng cũng như mộng mị, cứng ngắc cũng như sống động một cách huyền nhiệm. Khuôn mặt này hình như có một thông điệp cho tôi, nó thuộc về tôi, nó đang chất vấn tôi một cái gì đó. Nó giống với một kẻ nào đó, tuy rằng tôi không biết kẻ ấy là ai.
Có lúc bức chân dung này ám ảnh những ý nghĩ của tôi và chia sẻ cuộc sống của tôi. Tôi đem bỏ nó vào ngăn tủ khóa lại, như vậy để không ai sẽ lấy nó ra và đem nó ra chế giễu tôi. Nhưng ngay sau khi tôi ở một mình trong căn phòng nhỏ tôi bèn lấy nó ra và nói chuyện với nó. Tối đến, tôi ghim nó lên vách đối diện với giường ngủ tôi, đăm đăm nhìn nó cho đến khi nào tôi buồn ngủ, và vào buổi sáng, bức chân dung ấy là vật đầu tiên cặp mắt tôi mở ra nhìn vào đấy.
Một điều chắc chắn là vào lúc này tôi lại bắt đầu nằm chiêm bao mộng mị nhiều lần, như tôi thường nằm mơ luôn lúc tôi còn là một đứa bé. Việc ấy như thể cho thấy rằng tôi đã không chiêm bao mộng mị có hằng năm trời. Giờ đây, các giấc mộng lại đến với những hình ảnh hoàn toàn mới lạ, và dần dà bức chân dung cũng hiện diện giữa những mộng mị ấy, linh động và hùng biện, thân hữu hoặc cừu địch với tôi, đôi khi làm méo mó hình dáng trong nét mặt nhăn nhó, đôi khi vô cùng đẹp đẽ, điều hòa và cao quí.
Rồi một buổi sáng kia, khi tôi thức giấc từ một trong những giấc mộng này, bất thần tôi nhận ra nó. Nó nhìn đến tôi như thể là nó đã quen biết quá nhiều và hình như gọi tên tôi. Nó có vẻ biết tôi là ai, như một bà mẹ, như thể cặp mắt của nó đã chiếu vào người tôi kể từ khi khởi đầu của thời gian. Với một tâm hồn rung động, tôi trừng trừng nhìn tấm ra giường, mái tóc màu nâu, cái miệng nửa nữ tính, vầng trán cương nghị, sáng chói, kỳ lạ, nó (tự khô trong cách thức này) và tôi cảm thấy mình càng lúc càng tiến đến gần với sự thừa nhận, sự khám phá, sự hiểu biết.
Tôi nhảy ra khỏi giường, bước đến khuôn mặt, và từ khoảng cách vài phân, nhìn thẳng vào cặp mắt cứng ngắc, xanh biếc mở rộng đó, con mắt phải hơi cao hơn con mắt trái. Tức thì con mắt phải nhấp nháy, chưa bao giờ có cái nhấp nháy mắt nhẹ nhàng đến như vậy, nhưng không thể lầm lẫn được và tôi có thể nhận ra bức tranh.
Tại sao nó đã chiếm hữu tôi lâu như vậy? Đó là khuôn mặt Demian.
Sau này tôi thường so sánh bức chân dung với nét mặt thực sự của Demian khi tôi nhớ đến chúng. Khuôn mặt và bức chân dung ấy không mảy may giống nhau dù nó có một sự tương tự. Tuy vậy bức chân dung là Demian.
Một lần ánh mặt trời đỏ rực chớm hạ chiếu xiên vào cánh cửa sổ đối diện về hướng tây. Bụi bậm đầy cả căn phòng tôi. Lúc ấy một ý nghĩ chợt đến với tôi là bức chân dung của Beatrice hay Demian được ghim ở song cửa sổ, và nó đã quan sát ánh nắng chiếu chiếu rọi qua nó. Những nét đại cương của khuôn mặt trở nên lu mờ, nhưng khóe mắt thì đỏ thắm, vầng trán sáng chói và cái miệng từ biểu diện thật là thắm tươi rực rỡ và hoang dã. Tôi ngồi đối diện với nó một lúc lâu, dù sau khi mặt trời đã lặn, và dần dà tôi bắt đầu ý thức rằng đây không phải là Beatrice cũng chẳng phải là Demian mà chính là tôi. Không phải là bức họa đó giống tôi – tôi không cảm thây thế – những đó là những gì đã quyết định cuộc sống của tôi, đây chỉnh là cái ngã nội tâm tôi, định mệnh hoặc là Daemon của tôi. Đây là những gì bạn tôi trông giống như vậy, nếu có bao giờ tôi nhận ra một người trở lại. Đấy là những gì mà người đàn bà tôi sẽ yêu nàng sẽ trông giống như thế, nếu có khi nào tôi yêu một người nào. Đó là những gì là sống và chết của tôi sẽ giống như thế, đây là âm điệu và nhịp phách của định mệnh của tôi. Trong những tuần lễ nọ tôi bắt đầu đọc một cuốn sách đã gây một ấn tượng bền vững cho tôi hơn bất cứ những gì tôi đã đọc trước đó. Ngay đến sau này, trong đời tôi cũng hiếm có dịp đọc qua một cuốn sách nào mãnh liệt hơn, có lẽ ngoại trừ Nietzsche. Đó là một tác phẩm của Novalis, gồm có thư từ và cách ngôn, tôi chỉ hiểu có một ít, nhưng nó đã hấp dẫn tôi một cách không sao diễn tả được. Hiện giờ, một trong những câu cách ngôn hiện đến với tôi và tôi đã chép lại dưới bức hình: “Định mệnh và khí chất là hai chữ chỉ một nghĩa và cùng một ý niệm tương tự.” Hiện tại câu cách ngôn ấy thật rõ ràng đối với tôi.
Tôi thường thoáng thấy cô gái tôi gọi là Beatrice, nhưng tôi không cảm thấy xúc động trong những cuộc gặp gỡ này, chỉ có một hòa hợp nhẹ nhàng, một linh cảm mờ mịt: nàng và tôi đã kết liên, nhưng không là nàng, chỉ có hình ảnh của nàng thôi; nàng là một phần của thể phận tôi.
Lòng hoài vọng Demian lại tràn ngập người tôi. Hằng năm trời rồi tôi không nhận được tin tức gì của hắn cả. Một dạo tôi gặp hắn vào dịp nghỉ lễ. Bây giờ tôi nhận thấy là tôi dã giấu đi cuộc gặp gỡ ngắn ngủi này trong kỳ chú của tôi và tôi nhận thấy rằng không có gì là hợm hĩnh và hổ thẹn cả. Tôi phải đền bù hòa giải với nó.
Như vậy, vào một trong những ngày nghỉ lễ của tôi, khi tôi mang cái bộ mặt thiểu não chán chường đi thơ thẩn qua thành phố quê hương tôi, luôn luôn hơi biểu lộ sự mệt mỏi của những ngày chui rúc trong quán rượu, xuất hiện nơi cùng một chỗ cũ, giữa những bộ mặt khinh thị của những kẻ đồi trụy, tôi thấy người bạn cũ của tôi đang tiến đến tôi. Tôi khó lòng nhìn hắn khi mà tôi đã nao núng rồi. Đồng thời lúc ấy tôi không thể nào không nghĩ đến Franz Kromer. Nếu Demian chỉ thực sự quên đi câu chuyện tình cờ ấy. Thật ra, đó chỉ là một câu chuyện trẻ con vớ vẩn, ngoại trừ một bổn phận bất đắc dĩ…
Hắn cho thấy đang chờ đợi, tôi có nên chào hỏi hắn chăng? Khi tôi làm ra vẻ tự nhiên chỉ là chuyện tình cờ thì hắn đưa tay ra. Phải, đấy là sự nắm lấy của hắn. Quả quyết, hăng hái song điềm tĩnh và già giặn như tự bao giờ.
Hắn xem xét kỹ lưỡng khuôn mặt tôi và nói: “Cậu đã trưởng thành rồi, Sinclair ạ.” Chính hắn thì có vẻ như hoàn toàn như thường, già giặn hay trẻ trung như tự bao giờ.
Hắn theo tôi và chúng tôi cùng bách bộ, nhưng chỉ nói đến những vấn đề đầu Ngô mình Sở. Lúc ấy tôi nhớ lại là tôi thường viết cho hắn nhiều lần mà không được hồi âm. Tôi hy vọng rằng hắn cùng quên đi những bức thư vớ vẩn ấy! Hắn cũng không đề cập đến những bức thư ấy.
Lúc đó là lúc tôi hãy còn chưa gặp Beatrice và cũng không có bức họa chân dung. Tôi vẫn còn ở giữa cái thời kỳ chè chén say sưa của tôi. Ở ngoại vi thành phố tôi uống một ly rượu chát và hắn đã làm theo. Lập tức tôi làm một pha biểu diễn, cho gọi cả chai rượu nguyên, rót đầy ly hắn, chạm ly tôi với ly hắn, và phô diễn sự thành thạo một cây của tôi với phong thái của tên học sinh nhậu nhẹt bằng cách nốc một hơi cạn hết ly rượu đầu tiên.
"Cậu đến các quán rượu nhiều lần rồi có phải không?” Hắn hỏi.
“Phải, vâng,” tôi trả lời, “có gì khác nữa đâu? Sau hết nó vui vẻ hơn là bất cứ điều gì khác.”
“Cậu nghĩ thế à? Có lẽ như vậy lắm, một phần của việc nhậu nhẹt ấy tất nhiên rất tuyệt – sự chuếnh choáng lảo đảo, yếu tố ồn ào huyên náo. Nhưng tôi nghĩ hầu hết những người thường hay đến các quán rượu đều bị hoàn toàn mất mát. Đối với tôi thì hình như việc đi đến các quán rượu có một cái gì hoàn toàn đồi trụy, phi nhân. Vâng, bởi vì chỉ nội một đêm, với những bó đuốc bừng cháy, một cơn say cuồng loạn thực sự! Nhưng lặp đi lặp lại mãi, một ly nhỏ này tới ly nhỏ kia, tôi tự hỏi không biết đó có phải là điều thực hay chăng? Cậu có thể thấy Faust đang khòm lưng ngồi đêm này tới đêm kia ở quán rượu chứ?”
Tôi tu một ngụm và nhìn đến hắn với sự oán ghét.
“Vâng, không phải ai cũng là Faust cả,” tôi nói giọng cộc cằn.
Hắn nhìn đến tôi, cười trong cái kiểu cách linh hoạt, cao thượng, cố hữu của hắn. “Thôi, đừng cãi cọ chuyện ấy nữa. Dù sao đi nữa, đời sống của một gã lưu linh vẫn được coi là nguy hiểm hơn một công dân có giáo dục thông thường. Và lúc bấy giờ – có lần tôi đọc ở một nơi nào đó, đời sống của một kẻ theo chủ nghĩa khoái lạc là sự chuẩn bị tốt nhất cho việc trở thành một người thần bí. Những người như St. Augustine luôn luôn là những người trở thành những kẻ ảo tưởng đó. Cậu nữa, thoạt tiên cậu cũng là người theo khoái lạc chủ nghĩa và người của thế giới.”
Tôi không tin hắn và không muốn hắn lên mặt ta đây trong bất cứ trường hợp nào. Thế nên tôi nói một cách đầy ngờ vực: “Được rồi, mọi người tùy theo sở thích của hắn. Như về phần tôi, tôi không hề có tham vọng trở nên một kẻ ảo tưởng hoặc bất cứ điều gì của thứ ấy cả.”
Demian quắc mắt ném tôi một cái nhìn của cặp mắt nửa khép lại.
“Sinclair thân mến của tôi,” hắn nói một cách chậm rãi. “Tôi không có ý định nói với cậu bất cứ điều khó chịu nào. Ngoài ra – chúng ta không một ai biết vì lẽ gì bỗng nhiên cậu đang uống rượu chát ở cái giây phút này đây. Thế có nghĩa là trong người cậu, và những mạng lệnh điều khiển cuộc đời của cậu nó đã biết. Điều phải lẽ là nhận ra trong người chúng ta có một kẻ nào đó hắn biết mọi sự, quyết định mọi sự, làm mọi sự còn tuyệt hơn chính chúng ta. Nhưng thôi hãy tha thứ cho tôi, tôi phải đi về nhà.”
Chúng tôi trao đổi những lời chia tay ngắn ngủi. Tôi vẫn ở lại trong trạng thái ưu sầu và uống hết nhẵn chai rượu. Khi tôi muốn ra đi, tôi mới hay là Demian đã trả tiền rượu rồi – việc ấy còn khiến tôi cảm thấy tệ hại hơn là buồn cười.
Những ý nghĩ của tôi quay trở lại với việc tình cờ nhỏ nhặt này cùng Demian. Tôi không thể nào quên hắn. Và những lời hắn nói với tôi trong quán rượu ở ngoại ô, sẽ đến với trí nhớ, mới lạ và trọn vẹn một cách lạ thường: “Điều phải lẽ là nhận ra trong người chúng ta có một kẻ nào đó hắn biết hết mọi sự.”
Tôi đã khao khát chờ đợi Demian biết bao. Tôi không rõ nơi hắn ở cũng không biết làm thế nào đi đến hắn. Tất cả điều tôi biết, là hình như hắn đang theo học ở vài đại học và mẹ hắn đã rời khỏi thành phố, sau khi hắn đã thành tựu ở trường dự bị trung học.
Tôi cố gắng nhớ lại bất cứ điều gì tôi có thể nhớ đến Max Demian, lui trở lại tận mãi cái thời kỳ Kromer. Biết bao nhiêu điều hắn đã nói với tôi trong những năm qua, đã trở lại với trí nhớ, hôm nay vẫn còn ý nghĩa, vẫn thích hợp và liên can đến tôi! Và những gì hắn nói trong cuộc họp mặt rất khó chịu cuối cùng của chúng tôi, về cái đời sống hoang phí đưa đến việc thành thánh bất thần cũng hiện rõ ràng trước mắt tôi. Đó không phải là những gì đã xảy ra cho tôi một cách xác đáng sao? Tôi đã chẳng sống trong sự say sưa và đê tiện, khờ dại và mất mát, cho mãi đến ngay khi sự sống đem đến trong người tôi một phấn khích mới mẻ cho cuộc sống, lòng hoài vọng thanh khiết, sự khao khát cho thiêng liêng hay sao?
Như vậy tôi đã tiếp tục theo đuổi những ký ức này. Đêm đến đã từ lâu và giờ đây mưa đang rơi. Trong các ký ức của tôi, tôi cũng nghe mưa đang rơi nữa: đó là giờ khắc dưới những cây dẻ tây khi hắn dò xét tôi về Franz Kromer và phỏng đoán những điều bí mật. Một việc bất ngờ xảy đến sau khi việc khác trở lại với tôi, những cuộc nói chuyện trên đường tới trường, những giờ học kinh kiên tín, và sau cùng, đến tất cả những cuộc gặp gỡ đầu tiên của tôi với hắn. Hắn đã nói đến những gì? Tôi không thể nhận ra ngay, nhưng tôi cho mình thời gian, tập trung một cách mãnh liệt. Và giờ đây, câu chuyện ấy đã trở lại. Chúng tôi đứng trước nhà song thân tôi, sau khi hắn đã nói với tôi sự tường thuật của hắn về câu chuyện Cain. Rồi hắn đề cập đến chiếc huy chương cũ kỹ nửa khuất lấp gắn trên cửa tò vò trên cổng lối vào nhà chúng tôi. Hắn nói rằng những vật như thế đã làm hắn chú ý đến và người ta phải săn sóc đến chúng.
Đêm hôm đó tôi đã nằm mộng thấy Demian và chiếc huy chương. Nó vẫn không ngớt biến đổi. Demian cầm nó trên tay, thường thì nó nhỏ xíu và xám xịt, thường thì nó đầy sức mạnh và có nhiều màu sắc khác nhau, nhưng hắn giải thích với tôi rằng nó luôn luôn có một thôi và là một vật tương tự. Cuối cùng hắn bắt buộc tôi ăn chiếc huy chương! Khi tôi nuốt chiếc huy chương vào bụng, tôi cảm thấy khủng khiếp là con chim trong huy chương đang trở nên sống dậy trong bụng tôi, cắn xe tôi. Hoảng sợ đến chết được, tôi giật mình trên giường ngủ, thức giấc.
Tôi đã thức hẳn; đó là vào nửa đêm và tôi có thể nghe mưa đang nhỏ giọt trong phòng. Khi tôi đứng dậy khép cửa sổ lại, tôi giẫm trên một vật gì chiếu sáng trên sàn. Sáng ra tôi nhận thấy đó là bức họa của tôi. Nó nằm trên vũng nước và miếng giấy đã cong queo. Tôi đặt nó giữa hai tờ giấy chậm bên trong một cuốn sách dày nặng. Hôm sau khi tôi xem lại thì nó đã khô, nhưng đã biến đổi. Cái miệng đỏ thắm đã lạt màu và hơi nhỏ lại một chút. Bấy giờ trông nó giống y như cái miệng của Demian.
Tôi bắt đầu vẽ một bức họa mới về con chim trong huy chương. Tôi không thể nhớ một cách rõ ràng nó trông giống như gì và các chi tiết chắc chắn, như tôi đã biết, dù ở sát một bên cũng không thể nhận ra, bởi vì tấm huy chương đã cũ kỹ và thường được sơn đi phết lại mãi. Con chim đứng hay đậu trên một cái gì, có lẽ trên một bông hoa hoặc trên một cái giỏ hoặc cái tổ hoặc trên một ngọn cây. Tôi không thể tự bực mình ở chi tiết này và bắt đầu với những gì tôi có thể tưởng tượng ra một cách rõ ràng. Cần thoát ra sự mơ hồ, tôi lập tức bắt đầu sử dụng màu sắc sặc sỡ, vẽ cái đầu con chim trong màu vàng sậm. Tôi tiếp tục vẽ bức tranh, bất kể trạng thái nào chiếm hữu tôi, để mang đến sự hoàn thành trong nhiều ngày. Giờ đây nó tiêu biểu một con chim mãnh cầm với cái đầu ngạo mạn cong như mỏ diều hâu sẻ, một nửa thân hình của nó cắm vào một vài hình quả địa cầu đen tối đang vùng vẫy để được tự do, như thể từ một cái trứng khổng lồ – tất cả màu sắc này đối lại với cái nền bầu trời xanh. Khi tôi tiếp tục xem xét kỹ lưỡng tờ giấy, đối với tôi, trông nó càng lúc càng giống với chiếc huy chương nhiều màu sắc đã từng xuất hiện trong giấc mộng của tôi.
Tôi không thể nào viết cho Demian dù tôi biết địa chỉ hắn. Tuy nhiên, tôi đã quyết định – trong một trạng thái tương tự của điều linh cảm, giống như giấc mộng trong ấy tôi đã làm mọi sự – là gửi cho hắn bức họa con diều hâu sẻ, dù nó sẽ không bao giờ đến tay hắn. Tôi không thêm một chữ nào, không cả đề tên tôi, tôi cắt xén các góc một cách cẩn thận và viết tên bạn tôi lên bức hình. Rồi tôi dán tem gửi đi.
Tôi có một kỳ thi sắp đến và phải làm việc nhiều hơn thường lệ. Các giáo sư đã xếp tôi vào chỗ cũ trong sự hảo tâm của họ, vì lẽ rằng tôi đã quyết định thay đổi cách ăn ở đáng khinh của tôi trước đây. Điều ấy không phải tôi trở nên là một học sinh tiêu biểu, nhưng hiện giờ không phải tôi cũng chẳng phải bất cứ kẻ nào khác đã cho việc ấy bất cứ ý nghĩ nào là nửa năm trước đây, sự trục xuất tôi có vẻ hầu như chắc chắn.
Các bức thư của thân phụ tôi đã lấy lại được một vài giọng điệu cũ của nó, không còn quở mắng hay đe dọa nữa. Song tôi cảm thấy không có ý hướng giải thích với ông hoặc với bất cứ ai khác về sự thay đổi trong người tôi đã xảy đến như thế nào: ngẫu nhiên điều biến hóa này lại phù hợp với ước vọng của song thân và các giáo sư của tôi. Sự thay đổi này không mang tôi vào cái cộng đồng của kẻ khác, cũng không hề làm tôi gần hơn bất cứ ai, mà thậm chí hiện tại, nó còn làm cho tôi cô đơn hơn. Sự sửa mình của tôi hình như nhắm đến con đường của Demian nhưng ngay cả điều này nữa cũng là một định mệnh xa vời. Tôi không tự biết mình, bởi vì tôi quá mắc vướng sâu đậm. Việc ấy đã bắt đầu với Beatrice nhưng vì đôi lần tôi đã sống trong một thế giới không thực như vậy với bức họa của tôi và những ý nghĩ của Demian nên tôi cũng đã quên hết tất cả về nàng. Tôi không thể nào thốt ra một lời đơn thuần về những giấc mộng và những hoài vọng của tôi, sự biến đổi nội tâm của tôi, với bất cứ ai, không cả đến điều tôi mong muốn nữa. Nhưng làm sao tôi có thể muốn được?

