Tuổi Trẻ Băn Khoăn - Chương 5

V. Con chim vùng vẫy ra khỏi vỏ trứng

Bức hình vẽ con chim mộng mị của tôi đang trên đường tìm kiếm bạn tôi của nó. Điều có vẻ kỳ lạ nhất có lẽ là cái cách thức sự hồi âm đã đến với tôi.

Trong lớp học, trên bàn tôi, sau giờ ra chơi giữa hai bài học tôi nhận thấy một tờ giấy nhét trong quyển sách của tôi. Miếng giấy được xếp y chang như các miếng giấy các bạn học tôi chuyền nhau một cách bí mật trong lớp học. Ít ra tôi chỉ ngạc nhiên việc nhận được một miếng giấy như thế. Vì tôi không bao giờ có mối giao tiếp loại ấy với bất cứ học sinh nào. Tôi nghĩ nó sẽ thành ra một sự mời mọc với một vài trò đùa, việc ấy dù sao đi nữa, tôi sẽ không dự vào. Tôi không đọc ngay, nhét miếng giấy trước cuốn sách của tôi. Tôi chỉ coi lại nó trong giờ học.

Chơi đùa với miếng giấy, tôi cẩn thận mở nó ra và chú ý đến một vài chữ viết trong đó. Một cái thoáng nhìn cùng vừa đủ. Một chữ đã làm tôi thất kinh ngưng lại: trong nỗi kinh hồn tôi tiếp tục đọc trong khi cái sợ lạnh cả người đã làm tìm tôi thắt lại: “Con chim vùng vẫy ra khỏi vỏ trứng của nó; quả trứng là vũ trụ. Kẻ nào sẽ được sinh ra điều hắn phải làm trước tiên là hủy diệt vũ trụ. Con chim bay đến Thượng đế. Đấng Thượng đế ấy có tên là Abraxas.”

Sau khi đọc xong những dòng này nhiều lần, tôi chìm đắm trong một ảo tưởng sâu xa. Không thể còn ngờ gì nữa, hồi âm này là của Demian. Không một ai khác có thể biết gì về bức họa của tôi. Hắn đã am tường ý nghĩa bức họa và giúp tôi diễn dịch nó. Nhưng làm thế nào thích nghi tất cả điều này với nhau? Và – đây là điều bức bách tôi hơn hết cả – Abraxas biểu thị cái gì? Tôi chưa bao giờ nghe cũng không hề đọc một chữ nào. “Đấng Thượng đế ấy có tên là Abraxas.”

Bài học tiếp tục tôi không nghe lấy một chữ. Bài học kế bắt đầu là bài học cuối cùng sáng hôm đó. Bài học do một người trợ giảng sư trẻ dạy, tiến sĩ Follens, người mới vừa tốt nghiệp đại học, người mà chúng tôi thành thật ưa mến bởi vì ông ta còn trẻ và giản dị.

Tiến sĩ hướng dẫn chúng tôi học về Herodotus – một trong những đôi đề tài làm cho tôi chú ý đến phần nào – nhưng hôm nay ngay cả Herodotus cũng không thể làm cho tôi chú ý. Tôi lật quyển sách ra một cách máy móc nhưng không theo dõi bài dịch và vẫn đắm mình trong những ý nghĩ của tôi. Lại nữa, tôi thường xác nhận những gì Demian nói với tôi một lần trong lớp học bài kinh kiên tín của chúng tôi: cậu có thể đạt đến bất cứ điều gì cậu khao khát một cách mãnh liệt. Nếu tình cờ tôi vướng vào những ý nghĩ riêng rẽ của tôi trong giờ học, tôi không phải lo lắng là thầy giáo sẽ gọi đến tôi. Nếu tôi đãng trí hoặc không vừa ý, thì ông sẽ bất thần xuất hiện bên cạnh tôi. Điều ấy đã xảy ra cho tôi. Nhưng nếu tôi thực sự tập trung tinh thần, hoàn toàn đắm chìm trong ý tưởng của tôi, thì tôi đã cưỡng kháng lại được. Tôi cũng đã nghiệm cái mánh khóe nhìn trừng trừng vào mắt người nào làm họ cụp xuống và nhận thấy rằng việc ấy đã thành công. Khi vẫn còn với Demian, tôi không thành công việc này; hiện tại tôi thương cảm thấy rằng có thể thành tựu rất nhiều bằng một cái nhìn sắc bén và trầm ngâm.

Hiện tôi ở một nơi nào đó gần Herodotus hay là trường học. Bất thần giọng thầy giáo bắn ra y như một làn chớp trong ý thức tôi và tôi hoảng hồn thức giấc. Tôi nghe giọng ông nói, gần như ông đứng kế một bên tôi, tôi còn nghĩ là ông gọi đến tôi nữa. Nhưng ông không nhìn đến tôi. Tôi nhẹ hẳn người.

Rồi tôi lại nghe giọng nói của ông. Một cách to lớn giọng đó xướng đọc lên chữ “Abraxas”.

Trong sự giải thích dài dòng, tôi thiếu mất đoạn đầu, tiến sĩ Follens tiếp tục: “Chúng ta không nên coi các ý kiến của những giáo phái và hội đoàn thần bí ngây thơ nọ như chúng xuất hiện từ một quan điểm hợp lý. Khoa học, như chúng ta biết nó ngày nay, thì xa lạ đối với thời Thượng cổ. Thay vì thế nó đã có một dự kiến với sự trầm tĩnh và những sự thật huyền bí được phát triển một cách cao xa. Những gì xẩy ra ngoài dự kiến này chỉ là một sự kéo dài ra một ma thuật đi chân và tánh ưa những chuyện phù phiếm viển vông; có lẽ nó thường đưa đến những sự lừa phỉnh và tội lỗi, nhưng ma thuật này nó cũng có những hành tích cao quý trong một nền triết học thâm thúy. Chẳng hạn, như các giáo điều liên quan đến Abraxas tôi vừa trích dẫn. Tên tuổi này xuất hiện liên quan với những định thức ma thuật Hy Lạp, và thường được coi là tên tuổi của một vài thuật sĩ chữa bệnh như các bộ lạc bán khai tin tưởng ngay cả hiện nay. Nhưng nó cho thấy rằng Abraxas có một quan trọng sâu xa hơn. Chúng ta có thể nhận thức cái tên như là một cái thần tính mà công việc tượng trưng của nó là kết hợp lòng thành kính và những yếu tố thuộc về ma quỷ!”

Con người học giả nhỏ nhoi nói với sự thông minh và say xưa nhưng không ai chú ý mấy, và khi cái tên Abraxas không lặp lại nữa, ý nghĩ của tôi quay lại với những công việc của riêng tôi.

“Kết hợp lòng thành kính và những yếu tố thuộc về ma quỷ” câu này lại vang lên trong người tôi. Đây là một cái gì để cho các ý nghĩ của tôi bám vào, ý tưởng này quen thuộc với tôi từ các cuộc nói chuyện với Demian. Trong thời kỳ sau cùng của tình bạn chúng tôi, hắn đã nói rằng chúng ta được trao tặng một vị thần để tôn thờ mà ngài chỉ tiêu biểu có một nửa thế giới cách biệt chuyên chế (đó là thế giới sáng ngời, chính thức và được tán đồng) nhưng có lẽ chúng ta phải tôn thờ toàn thể thế giới, điều này có nghĩa là hoặc chúng ta sẽ phải có một vị thần mà ngài cũng là một con quỷ hoặc sáng lập ra một sự thờ phượng ma quỷ song song với việc thờ phượng thần linh. Và giờ đây, Abraxas là vị thần ma, ngài là cả hai, thần linh và ác quỷ.

Cố lần tôi mê mải đeo đuổi cái tư tưởng này nhưng không tiến được chút nào cả. Tôi còn say mê lục lạo cả một thư viện đầy sách đề cập đến Abraxas. Tuy nhiên bản chất tôi không bao giờ có khuynh hướng trực tiếp về loại này và ý thức tìm tòi dò xét nơi thoạt tiên người ta tìm ra những sự thật duy nhất mà trách nhiệm thật hết sức lớn lao!

Hình ảnh của Beatrice mà tôi đã tự mình chiếm hữu một cách thân thiết và nhiệt thành đến thế dần hồi trở nên chìm đắm, hay đúng hơn, đã từ từ lánh xa, càng lúc càng tiến đến chân trời biệt mù, càng trở nên khuất lấp và xa vời, mờ nhạt hơn. Nàng không còn thỏa mãn khát vọng của linh hồn tôi nữa.

Trong một tình trạng cô lập đặc biệt tự chuốc lấy đó, trong ấy tôi hiện diện như một kẻ thụy du, một sự tăng trưởng mới đã bắt đầu chiếm chỗ trong tôi. Khát vọng cho sự sống trỗi dậy – hay đúng hơn là khát vọng cho tình yêu. Động lực dục tính của tôi, có lần tôi đã thăng hoa trong sự tôn sùng Beatrice, đã đòi hỏi những vật thể. Nhưng những khát vọng của tôi vẫn không thỏa mãn và nó càng bất khả hơn bao giờ hết cho tôi đánh lừa những khát vọng và hy vọng của tôi cho một cái gì từ các phụ nữ mà với họ tôi cố gắng kết thân với vận may của họ. Tôi lại mộng mị một cách đầy sinh khí, thật ra mộng vào ban ngày hơn là về đêm. Những ảnh tượng hình ảnh, khát vọng mọc dậy tự do trong con người tôi, kéo tôi đi xa thế giới bên ngoài, đến nỗi tôi có một sự liên quan thiết thực và sống động với thế giới của sự sáng tạo của riêng tôi, với những hình ảnh, những giấc mơ và những cái bóng hơn là với thế giới thực tại xung quanh tôi.

Một giấc mơ, hay ảo ảnh nhất định, vẫn thường tái xuất hiện chiếm ý nghĩa với tôi. Giấc mộng ấy, quan trọng nhất và có đầy ý nghĩa bền vững của đời tôi, hiện đến có một cái gì giống như thế này: tôi đang trở lại ngôi nhà thân phụ tôi – bên trên cổng vào chiếu sáng tấm huy chương con chim màu vàng nổi trên nền xanh; từ trong căn nhà, chính mẹ tôi đang tiến về hướng tôi – nhưng khi tôi bước vào và muốn ngã vào lòng bà, thì đó không phải là bà mà là một hình thể tôi chưa hề thấy bao giờ, cao lớn và khỏe mạnh, giống Max Demian và bức hình tôi vẽ; song khác biệt, bởi vì bất chấp sức mạnh của nó, nó hoàn toàn là đàn bà. Hình thể này kéo tôi đến với nó và bao bọc tôi trong một cái siết chặt rung động sâu xa. Tôi thấy một cảm giác lẫn lộn giữa ngây ngất và kinh hãi – cái siết chặt ấy tức thì là một hành động hoàn toàn tôn sùng và tội lỗi. Đã có nhiều lần với mẹ và bạn tôi cũng đã lẫn lộn với cái hình ảnh siết chặt tôi này. Sự siết chặt ấy đã vi phạm tất cả ý thức của lòng tôn kính, song nó là điều tối hạnh phúc. Đôi khi tôi thức giấc từ giấc mộng này với cảm giác hoan hỉ cực điểm, ở những lần khác lại là sự sợ điếng cả người và với một lương tâm khốn khổ như tôi đã phạm phải một vài tội lỗi tày trời.

Chỉ dần dà và một cách vô thức cái hình ảnh rất thân thiết này trở nên nối kết với lời ám chỉ về Thượng đế mà tôi tìm kiếm, lời ám chỉ ấy đến với tôi từ bên ngoài. Sự tiếp nối ấy càng trở nên gần gũi và thân thiết hơn và tôi bắt đầu ý thức rằng tôi đang đến thăm viếng Abraxas một cách đặc biệt trong linh cảm của giấc mộng này. Thích thú và hãi hùng, đàn ông và đàn bà hòa lẫn, điều thiêng liêng nhất và điều chướng tai gai mắt quấn quýt lẫn nhau, tội lỗi sâu xa chiếu qua sự trong trắng ngây thơ nhất, đó cũng là sự xuất hiện hình ảnh giấc mơ của tôi và Abraxas. Tình yêu thôi không còn là động lực thú tính tối tăm thoạt tiên tôi đã trải qua với nỗi sợ hãi, nó cũng không còn là bất cứ sự miệt mài biến dạng nào mà tôi đã từng hiến dâng cho Beatrice. Nó là cả hai, và tuy vậy nó còn hơn thế nữa. Đó là hình ảnh của thiên thần và quỷ Satan, đàn ông và đàn bà trong da thịt của mỗi người đàn ông và con thú, đều thiện cao cả nhất và điều ác tồi tệ nhất. Hình như tôi được định mệnh an bài sống trong lối này, đây hình như là cái định mệnh đã được an bài của tôi. Tôi khao khát nó nhưng đồng thời cũng sợ hãi nó. Đó là cái hiện tại bất diệt, không ngớt bay liệng bên trên tôi.

Mùa xuân tiếp theo đó tôi rời khỏi trường dự bị trung học và vào đại học. Tuy nhiên, tôi vẫn chưa quyết định gì cả, như là việc đến học nơi nào và học môn gì. Râu mép tôi đã mọc lún phún, tôi đã là một kẻ trưởng thành, và tuy thế tôi vẫn hoàn toàn bơ vơ và không có mục đích trong đời sống. Chỉ có một điều chắc chắn; đó là tiếng vọng trong người tôi, hình ảnh của giấc mộng. Tôi cảm thấy có bổn phận theo đuổi tiếng vọng này một cách mù quáng bất kể nó có thể đưa tôi đến đâu. Nhưng đó là việc khó khăn và mỗi ngày tôi đã nổi loạn chống lại nó bằng một cách khác. Có lẽ tôi điên mất, khi tôi nghĩ đến những giây phút ấy; có lẽ tôi không giống như những kẻ khác chăng? Nhưng tôi có thể làm những điều tương tự như những kẻ khác đã làm; với một ít cố gắng và cần mẫn, tôi có thể đọc Platon, có thể giải quyết những vấn đề trong phép toán lượng giác hoặc theo đuổi một sự phân tích hóa học. Chỉ có một điều tôi không thể làm: là giựt lấy cái chí nguyện bí mật tối tăm từ con người tôi và đặt nó trước mặt tôi như những kẻ khác đã làm là họ biết đích xác họ muốn gì – các giáo sư, luật sư, bác sĩ, nghệ sĩ, tuy nhiên lâu dài điều này sẽ bắt lấy họ và bất cứ những gì khác biệt và những lợi điểm của quyết định này sẽ chịu trách nhiệm theo ngay với nó. Điều này tôi không thể làm được. Có lẽ tôi sẽ trở nên một cái gì tương tự, nhưng làm sao tôi biết được? Có lẽ tôi sẽ phải tiếp tục cuộc tìm kiếm của tôi hằng năm trời cho đến chung cuộc và sẽ không trở nên bất cứ là gì cả, và sẽ không đạt đến mục đích. Có lẽ tôi sẽ đạt đến mục đích này nhưng nó sẽ hóa ra là một điều xấu xa, nguy hiểm ghê gớm?

Tôi chỉ muốn gắng sống trong sự hòa hợp với những giục giã đến từ cái tự ngã thực sự của tôi thôi. Tại sao ước vọng chỉ có thế lại rất đỗi khó khăn?

Tôi thường hay cố gắng vẽ ra cái tình yêu lạ thường hiện ra trong giấc mộng của tôi. Tôi không bao giở thành công cả. Nếu tôi vẽ được ắt tôi đã gửi bức họa ấy cho Demian rồi… Hắn ở đâu tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết rằng chúng tôi đã dính liền nhau. Khi nào thì chúng tôi sẽ gặp lại nhau?

Sự yên ổn của những tuần lễ và những tháng của cái thời kỳ Beatrice của tôi đã trôi qua từ lâu. Vào lúc đó, tôi cảm thấy tôi đã tiến đến một hải cảng an toàn, một nội đảo thanh bình. Nhưng như luôn luôn thế, ngay sau khi tôi đã trở nên quen thuộc với cảnh ngộ của tôi, ngay sau khi một giấc mơ đem đến cho tôi niềm hy vọng, nó đã trở nên tàn tạ và vô dụng. Đó là một phiền muộn vô ích theo sau sự mất mát. Giờ đây tôi sống trong ngọn lửa của mối khát vọng khôn nguôi, của sự nôn nóng chờ đợi thường làm cho tôi rối mù. Tôi thường thấy người yêu dấu hiện hình trong giấc mơ của tôi rõ ràng, to lớn hơn sự sống, hiển nhiên hơn bàn tay tôi, nói với nó, khóc than trước mặt nó, nguyền rủa nó. Tôi gọi hình ảnh giấc mơ ấy là mẹ và quỳ xuống trước mặt nó, giàn giụa nước mắt. Tôi gọi nó là người yêu dấu của tôi và đã có một linh cảm cái hôn chín mọng của tất cả sự thỏa mãn. Tôi gọi hình ảnh mộng mị ấy là ma quỷ và con đĩ, ma cà rồng và tên sát nhân. Hình ảnh giấc mộng ấy đã phủ dụ tôi với những giấc mơ ái ân dịu dàng làm tiêu tan điều ô nhục, không có gì tốt lành cũng như quý giá, không có gì độc ác cũng như hèn hạ về giấc mơ ấy cả.

Tôi đã trải qua suốt cả một mùa đông đó như một sự náo động nội tâm không dứt mà tôi nhận thấy khó khăn diễn tả nó ra. Đã từ lâu tôi trở nên tri ngộ với nỗi cô đơn của tôi – nó không hề lấn áp tôi; tôi sống với Demian, với con diều hâu sẻ, với sự xuất hiện lạ thường của giấc mơ của tôi mà nó là cả hai, định mệnh và người yêu. Điều này đã đủ chống đỡ tôi, vì bất cứ việc gì cũng hướng đến vô hạn và khoảng không – tất cả đều nhắm đến Abraxas. Nhưng trong những giấc mơ này không một giấc mơ nào, không ý nghĩa nào vâng phục tôi, không một vật gì ở cái vẫy tay và sự kêu gọi của tôi, tôi không thể nào hình dung một điều gì về những điều ấy khi tôi thích cả. Chúng đến và bắt lấy tôi, tôi đã bị chúng điều khiển, là huyết quản của những giấc mơ ấy.

Tuy nhiên, tôi đã được trang bị chu đáo để chống lại thế giới bên ngoài. Tôi không còn sợ người ta nữa; ngay cả các bạn học tôi cũng đã biết điều này và đối xử tôi với lòng kính nể kín đáo, việc ấy thường đem đến cái mỉm cười trên môi tôi. Nếu tôi muốn, tôi cũng có thể nhận biết phần lớn bọn chúng và thỉnh thoảng cũng làm cho chúng nó giật mình. Tôi chỉ có một điều hy hữu hay chẳng bao giờ cố gắng cả. Tôi luôn luôn bận tâm với mình. Và tôi đã khát khao một cách vô vọng được sống thực sự lấy một lần, hiến dâng một cái gì của mình cho cuộc đời để bước vào mối liên quan thân thuộc và chiến đấu với nó. Một đôi lần lúc tôi đi qua hết những đường phố vào một buổi tối; không thể trở lại trước nửa đêm bởi vì tôi bồn chồn đến như thế, tôi cảm thấy rằng hiện cái giây phút này đây tôi sẽ phải gặp mặt người yêu dấu của tôi – y như nàng đi qua mặt tôi ở góc phố kế cận, từ một cánh cửa sổ gần nhất gọi tên tôi. Ở các khi khác tất cả điều này hình như đau đớn một cách không chi chịu nổi và tôi đã toan quyên sinh.

Thế rồi lúc bấy giờ tôi nhận thấy một nơi ẩn náu kỳ lạ – “tình cờ”, như người ta thường nói thế – mặc dù tôi tin rằng không làm gì có chuyện như thế. Nếu bạn cần một cái gì đó một cách tuyệt vọng và tìm được ra nó, điều này không phải là một chuyện ngẫu nhiên đâu: nỗi khao khát và sự cưỡng bách của bạn đã đưa đến với nó đấy.

Hai hoặc ba lần trong cuộc bách bộ của tôi, tôi cố nghe tiếng đàn đại phong cầm vẳng đến từ một tiểu giáo đường ở cạnh thành phố. Tôi không dừng lại để nghe. Lần sau tôi đi qua nhà thờ này lại nghe tiếng đàn và nhận ra đó là một tấu khúc của Bach. Tôi đi đến cửa, thấy cửa khóa, và vì dường phố gần như vắng vẻ nên tôi ngồi xuống lề đường sát nhà thờ, lật đứng cổ áo chiếc áo khoác của tôi lên và lắng nghe. Đấy không phải là chiếc đàn đại phong cầm thứ lớn nhưng có âm thanh tốt. Nó được chơi với một sự phô diễn đầy chủ đích của một cá nhân cao vời kỳ lạ và chí kiên nhẫn đã cho thấy cái ấn tượng của một kẻ nguyện cầu. Tối cảm thấy rằng người chơi đàn đại phong cẩm đã biết đến những kho tàng ẩn giấu trong âm nhạc, rằng y đang tán tụng, đang đập vào chí điểm, đang vật lộn cho cái kho tàng này cũng như cho đời y. Sự hiểu biết về kỹ thuật âm nhạc của tối rất giới hạn, nhưng từ lúc còn nhỏ, tôi đã có một trực giác thâu suốt, đã ý thức âm nhạc như là một cái gì hiển nhiên trong con người tôi.

Gã chơi đàn đại phong cầm cũng chơi một cái gì hiện đại hơn, có lẽ là nhạc của Max Reger. Giáo đường gần như hoàn toàn tối tăm, chỉ có một tia sáng rất mờ nhạt chiếu qua khung cửa sổ nơi gần tôi nhất. Tôi đợi cho đến khi tiếng đàn ngừng lại và rồi đứng dậy đi tới đi lui cho đến khi tôi thấy gã chơi đàn đại phong cầm rời khỏi giáo đường. Gã vẫn còn trẻ, dù rằng lớn tuổi hơn tôi, vai vuông, lùn và mập, và gã bước đi với những bước chắc nịch song có vẻ là những bước dài ngập ngừng.

Từ đó trở đi tôi hay ngồi bên ngoài nhà thờ hoặc đi đi lại lại trước đó vào những giờ buổi chiều. Cố lần tôi còn nhận thấy cả cánh cửa mở và ngồi nửa giờ trên chiếc ghế băng, run rẩy với cái lạnh, song vui sướng chừng nào mà gã đại phong cầm thủ còn chơi đàn trong tiểu phòng. Chỉ có một điều là tôi không phân biệt được nhân cách của gã ở âm nhạc gã đang tấu – mỗi âm điệu gã trình tấu cũng có cái âm thanh tương tự với các âm thanh theo sau đó, một sự liên can huyền bí. Mỗi âm điệu gã tấu lên thì đầy niềm tin, hàng phục và sùng ngưỡng. Song nó không phải là lòng thành kính theo sau cái kiểu cách của các tín đồ và các mục sư, cách thức cung kính của những người hành hương và những kẻ ăn xin ở thời Trung cổ, thành kính với sự hàng phục vô điều kiện đối với một cảm giác phổ quát đã vượt quá tất cả những lời thú tội. Gã cũng chơi âm nhạc tấu khúc trước Bach và cổ khúc Ý đại lợi. Và tất cả âm nhạc này điều là trong linh hổn của nhạc sĩ: nỗi khao khát, một sự chuộc tội thân thiết nhất với cuộc đời và một sự buông xả dữ dội, một sự khẩn thiết nghe ngóng linh hổn hoang vu của một kẻ nào, một sự chuếnh choáng hàng phục và rất đỗi hiếu kỳ về những phép lạ.

Một lần khi tôi dõi theo gã đại phong cầm thủ sau khi gã rời khỏi nhà thờ, tôi thấy gã bước vào một tửu quán nhỏ ở ngoại ô. Tôi không thể nào cưỡng lại việc bước theo gã. Bởi vì đây là lần thứ nhất tôi cố thể thấy gã rõ ràng. Gã ngồi ở chiếc bàn xa mãi góc căn phòng nhỏ. Gã đội một cái nón phớt đen. Một hũ rượu vang đặt trước mặt gã. Mặt gã trông như tôi đã ngờ ngợ như vậy. Gã xấu xí và hơi hoang dã, bướng bỉnh và hiếu kỳ, có tánh khí bất thường và quả quyết, tuy vậy cái miệng gã có một phẩm chất dịu dàng giống như đứa bé. Tất cả sức mạnh, và nam tính của gã tập trung ở trán và cặp mắt của gã, trong khi phần dưới khuôn mặt thì đa cảm và không chín chắn, không tự chủ và bề nào cùng rất dịu dàng. Sự lưỡng lự, cái cằm giống như trẻ con xuất hiện trái ngược với cặp mắt và vầng trán – mà tôi thích nhất là cặp mắt nâu sẫm đó, đầy kiêu hãnh và thù nghịch.

Không nói một lời, tôi ngồi xuống đối diện với gã. Chúng tôi là hai khách hàng duy nhất trong tửu quán. Gã ném tôi một cái nhìn như thể gã muốn đuổi tôi đi chỗ khác. Nhưng tôi không hề xê dịch đi, và trừng trừng nhìn lại gã không chớp mắt mãi đến khi gã càu nhàu một cách bực bội. “Trời ơi việc gì mà anh nhìn tôi dữ thế? Anh có muốn gì chăng?”

“Không, tôi không muốn gì ở ông cả,” tôi nói. “Ông đã cho tôi rất nhiều rồi.”

Gã cau mặt lại.

“Vậy à, anh là một người yêu âm nhạc à. Tôi nhận thấy việc say mê âm nhạc nó gớm ghiếc lắm.”

Tôi không để cho gã dọa nạt tôi.

“Tôi thường nghe ông đàn luôn, mãi tận nhà thờ,” tôi nói. “Nhưng tôi không muốn quấy rầy ông. Tôi nghĩ rằng tôi có thể nhận thấy một cái gì, một cái gì đặc biệt: thực ra thì tôi không biết nó là gì. Nhưng đừng để ý đến tôi. Tôi có thể nghe ông đàn ở nhà thờ.”

“Nhưng tôi luôn luôn khóa cửa lại mà.”

“Trước đây không lâu la gì ông quên khóa cửa và tôi có vô ngồi ở bên trong. Còn thường thì tôi đứng ở bên ngoài hoặc ngồi trên lề đường.”

“Thực à? Lần sau anh có thể vô bên trong, ấm áp hơn. Tất cả điều anh phải làm là gõ cửa. Nhưng anh phải gõ mạnh và đừng gõ trong khi tôi đang đánh đàn. Bây giờ bắt đầu đi, anh muốn nói với tôi những gì nào? Anh hoàn toàn còn trẻ vậy mà, chắc chắn là một sinh viên gì đó. Anh có phải là nhạc sĩ không?”

“Không phải. Tôi thích nghe âm nhạc, nhưng chỉ thích nghe thứ âm nhạc ông chơi thôi, thứ âm nhạc hoàn toàn chân thật, thứ âm nhạc ấy làm ông cảm thấy rằng con người là kẻ lắc lư giữa thiên đàng và địa ngục. Tôi tin rằng tôi yêu thứ âm nhạc ấy chỉ vì nó là phi luân. Mọi thứ khác thì luân lý quá, nên tôi tìm kiếm một cái gì không phải thế. Huấn tắc, đức luân, đối với tôi luôn luôn hình như không sao chịu nổi. Tôi không thể giãi bày nó thật rõ ràng – Ông có biết rằng có một vị thần mà ngài là cả hai thần linh và ngạ quỷ ở một người và đồng lúc chăng? Thiết tưởng đã có lần có một vị. Tôi có nghe về việc ấy.”

Gã nhạc sĩ hơi kéo chiếc nón rộng vành của gã ra sau và vuốt mớ tóc xõa xuống trước mặt gã; tất cả trong khi ấy vẫn chăm chú nhìn tôi. Gã cúi thấp mặt xuống trên chiếc bàn.

“Rất tiếc tôi không biết gì khác về ngài, hiện tôi chỉ biết tên ngài thôi. Ngài được gọi là Abraxas.”

Gã nhạc sĩ chớp mắt một cách ngờ vực xung quanh gã, như thể một kẻ nào đó có thể đang rình nghe. Rồi gã xích gần đến tôi hơn và nói nhỏ: “Đó là những gì tôi cũng nghĩ đến. Cậu là ai?”

“Một học sinh ở trường dự bị trung học.”

“Làm thế nào cậu có dịp nghe về Abraxas vậy?”

“Tình cờ.”

Gã đập xuống bàn đến nỗi rượu chắt trong ly gã văng ra. “Tình cờ! Đừng có ba xạo vậy ông bạn trẻ! Người ta không nghe được chuyện Abraxas bởi tình cờ, và cậu đừng có quên điều ấy. Tôi sẽ nói với cậu nhiều về ngài. Tôi có biết chút đỉnh.”

Gã im lặng và kéo xích ghế trở lại. Khi tôi nhìn đến gã đầy những mong đợi, thì gã lại tỏ vẻ khó chịu.

“Không phải tại đây. Một dịp nào khác. Nào, hãy lấy những cái này đi.”

Gã thọc tay vào chiếc áo khoác của gã vẫn chưa cởi ra và móc ra một vài trái hạt dẻ rang và ném đến tôi.

Tôi không nói gì, nhặt lấy, ăn và cảm thấy hài lòng.

“Được rồi,” gã nói khẽ sau một lát. “Cậu đã tìm ra chuyện ấy ở đâu – về ngài?”

Tôi không do dự nói với ngài.

“Một dạo tôi cô đơn và tuyệt vọng,” tôi bắt đầu. “Rồi tôi nhớ đến một người bạn tôi quen biết nhiều năm mà hắn cảm thấy hiểu biết nhiều hơn tôi. Tôi có vẽ một bức họa gì đó, một con chim vùng vẫy ra khỏi quả địa cầu. Tôi gửi cho hắn bức họa này. Sau một thời gian tôi nhận được một mảnh giấy với những lời sau đây: “Con chim vùng vẫy ra cái vỏ trứng. Quả trứng là thế giới. Kẻ nào sẽ được sinh ra, điều trước hết là phải hủy diệt thế giới. Con chim bay đến Thượng dế, Đấng Thượng đế ấy có tên là Abraxas.”

Gã không trả lời. Chúng tôi lột vỏ hạt dẻ và uống rượu chát của chúng tôi.

“Ly nữa chứ,” gã hỏi.

“Không, cảm ơn. Tôi không thích uống.”

Gã cười, hơi thất vọng.

“Tùy cậu. Đối với tôi thì khác. Tôi sẽ ở lại đây nhưng cậu có thể ra đi nếu cậu muốn.”

Khi tôi đi theo gã lần sau, sau khi gã đã chơi đàn, gã rất không niềm nở. Gã dắt tôi xuống một con đường nhỏ hẹp và đi qua một căn nhà đặc biệt cũ kỹ và dắt lên một căn phòng rộng lớn, hơi có phần tối tăm và trống trải. Ngoại trừ một chiếc đàn dương cầm, trong căn phòng ấy không có gì cho thấy cái dấu hiệu gã là một nhạc sĩ cả nhưng có một kệ sách lớn và một cái bàn, cho thấy cái không khí gần như là một căn phòng của nhà học giả.

“Anh có nhiều sách quá,” tôi kêu lên.

“Một phần sách ấy là do ở thư viện của thân phụ tôi trong căn nhà tôi cư ngụ. Phải, anh bạn trẻ, tôi, đang sống với song thân tôi nhưng tôi không thể giới thiệu cậu với họ. Trong căn nhà này tương giao không được coi trọng. Tôi là một con chiên ghẻ. Thân phụ tôi được kính trọng quá mức và là một mục sư quan trọng, thuyết giáo trong thành phố này. Và tôi, đến nỗi cái đặc điểm của tôi, ngay cả là một đứa con tài năng và đầy hứa hẹn, một kẻ đã phản bội với chính mình và với một vài sự đánh giá, thậm chí còn bị cho là điên khùng. Tôi là một sinh viên thần học, nhưng một thời gian ngắn trước khi định cuộc thi cửa tôi, tôi đã rời bỏ cái ngành rất đáng trọng vọng này: nghĩa là, không hẳn hoàn toàn, bằng cách không liên quan đến những nghiên cứu riêng rẽ của tôi, vì tôi vẫn còn chú ý nhất để xem những loại thần nào mà người ta đã tìm ra cho mình. Trái lại, hiện tại tôi là một nhạc sĩ và trông công việc ấy như thể là tôi sẽ nhận được một chỗ khiêm tốn như một đại phong cầm thủ ở một nơi nào đó. Lúc bấy giờ tôi sẽ lại được nhà thờ thuê trở lại.

Cũng như ánh sáng yếu ớt từ ngọn đèn ở chiếc bàn nhỏ chiếu rọi, tôi đưa mắt nhìn dọc theo những chồng sách và chú ý đến những nhan đề Hy lạp, Latin và Hy bá lai. Trong khi đó ông bạn của tôi nằm xuống sàn nhà và tự mình bận rộn với một việc gì đó.

“Đến đây,” gã gọi sau một lúc, “chúng ta nên thực tập một ít triết lý. Điều đó có nghĩa là: hãy ngậm miệng cậu lại, nằm sấp xuống và trầm tư mặc tưởng.”

Gã bật một diêm quẹt và đốt giấy và củi trong lò sưởi trước chỗ gã nằm duỗi dài ra. Ngọn lửa bốc cao, gã khêu lửa và chụm với sự thận trọng lớn lao nhất. Tôi nằm xuống bên cạnh gã trên tấm thảm sờn rách. Khoảng nửa giờ chúng tôi nằm sấp im lặng trước bếp củi nhấp nhoáng, nhìn ngọn lửa phực lên và kêu ro ro, hạ xuống và lại bùng lên cao hơn, chập chờn và leo lét, và sau cùng lặng lẽ tỏa ra trong những cục than còn đỏ.

“Việc thờ phượng lửa không hề có mảy may điều vớ vẩn nhất chưa bao giờ đặt đề ra,” gã lầm bầm với mình ở một cái chỉ chỏ. Trái lại chúng tôi không ai nói một lời. Tôi giương mắt nhìn trân trối vào ngọn lửa, đánh mất tự ngã mình trong những giấc mơ và sự tịch nhiên bất động, nhận ra các hình ảnh trong đám tro tàn. Một lần tôi đã giật mình. Anh bạn tôi ném một miếng nhựa cây vào mấy cục than còn cháy đỏ: một ngọn lửa mỏng manh bựt lên và nhận ra con chim với cái đầu diều hâu sẻ màu vàng. Trong các cục than tàn, những sợi chỉ đỏ và vàng rực cùng chạy vào những cái tổ, các chữ mẫu tự xuất hiện, các ký ức của những khuôn mặt, những con thú, những cây cỏ, côn trùng và các con rắn. Khi tôi từ những mộng tưởng của tôi nhô lên, tôi nhìn đến bạn tôi, cằm gã dựa vào hai tay, đang đăm đăm nhìn một cách cuồng tín vào đống tro tàn với sự hoàn toàn hàng phục.

“Giờ tôi phải đi đây,” tôi nói một cách dịu dàng.

“Cứ việc đi. Tạm biệt.”

Gã không đứng dậy. Ngọn đèn đã tắt, tôi sờ soạng mò đường qua các căn phòng tối om và những hành lang của căn nhà cũ kỹ làm mê hồn. Khi đã ra bên ngoài, tôi dừng lại và nhìn lên dọc theo mặt tiền của căn nhà. Một tấm bảng đồng thau nhỏ trên cửa trước lấp lánh dưới ánh sáng từ ngọn đèn đường. Trên đó tôi đọc mấy chữ: “Pistorius, mục sư primarius.”

Đi không ngừng nghỉ cho đến khi tôi về tới nhà và ngồi trong căn phòng nhỏ của tôi, sau khi dùng cơm tôi mới chợt nghĩ tới là tôi không hề nghe bất cứ điều gì về Abraxas cũng như Pistorius – chúng tôi đã trao đổi hầu như chỉ hơn một chục tiếng. Nhưng tôi rất hài lòng với cuộc thăm viếng của tôi. Và bởi vì cuộc gặp gỡ tiếp của chúng tôi gã đã hứa chơi một bản nhạc hay của âm nhạc cổ điển, một tấu khúc khiêu vũ ở Ý và Tây Ban Nha soạn cho đàn đại phong cầm của Buxtehude.

Tôi hoàn toàn không hề hiểu biết gì về nhạc khúc ấy cà, nhà đại phong cầm thủ Pistorius đã cho tôi bài học đầu tiên của tôi khi chúng tôi nằm sấp trên sàn nhà trước ngọn lửa trong căn phòng của kẻ tu kín buồn nản của gã.

Đăm đăm nhìn ngọn lửa đã có một cường lực cho tôi, những xu hướng đã được chứng thật mà tôi luôn luôn có những lúc không bao giờ khai thác. Dần hồi một số những xu hướng ấy trở nên có thể lý hội được đối với tôi.

Ngay khi còn là một đứa trẻ nhỏ tôi đã có cái thói quen nhìn chầm chập vào những hiện tượng thiên nhiên kỷ quái, không phải có ý gì để quan sát những hiện tượng ấy cả, ngoại trừ là sự hàng phục ở sức lôi cuốn của những hiện tượng ấy, ở cái ngôn ngữ sâu xa mơ hồ của chúng. Những rễ cây có chiếc bướu dài, những màu vân trên các viên đá, những vết dầu nổi trên mặt nước, những vết khúc xạ quang trong kiếng – hết thảy những vật này có lần đã có sức lôi cuốn lớn lao đối với tôi: nước và đặc biệt là lửa, khói, mây và bụi, nhưng đặc biệt nhất là những đốm nhỏ quay cuồng của màu sắc bơi lội trước mặt tôi, giây phút tôi khép cặp mắt lại. Tôi bắt đầu nhớ lại tất cả những hình ảnh này trong những ngày sau cuộc viếng thăm Pistorius của tôi, bởi vì tôi chú ý rằng một sự khỏe mạnh chắc chắn và niềm vui, một sự làm cường tráng thêm cái tự giác của tôi mà tôi đã cảm thấy kể từ chiều hôm ấy, tôi chịu ơn một cách độc đoán ở việc kéo dài cái nhìn đăm đăm vào ngọn lửa này.

Đối với một vài kinh nghiệm đã từng giúp tôi tiến đến mục đích thực sự của cuộc sống của tôi, tôi thêm vào một kinh nghiệm mới mẻ này: sự quan sát những hình trạng như thế. Sự hàng phục đối với điều phi lý của thiên nhiên, những cấu tạo phức tạp một cách kỳ lạ gây nên trong chúng tôi một cảm giác hòa điệu nội tâm với khả năng trách nhiệm cho những hiện tượng này. Chẳng bao lâu chúng tôi trở thành nạn nhân cho sự cám dỗ của sự suy nghĩ về chúng như là những khí chất của chúng tôi, và xem những biên giới chia cách chúng tôi với thiên nhiên bắt đầu rung chuyển và tiêu tan. Chúng tôi trở nên tương tri với trạng thái tư tưởng ấy mà chúng tôi không thể quyết định rằng có phải chăng những hình ảnh trong võng mạc chúng tôi là kết quả của những ấn tượng đến từ bên ngoài hay từ bên trong.

Không một nơi nào như trong việc luyện tập này mà chúng tôi có thể khám phá ra một cách dễ dàng và giản dị đến như vậy, đối với những gì đánh giá chúng tôi là phát minh, những gì đánh giá linh hồn chúng tôi, chia sẻ với sự sáng tạo liên lũy của thế giới. Bởi vì đó là thần linh tương tự không thể phân chia ra được, đó là sự hoạt động qua chúng tôi và trong thiên nhiên, và nếu thế giới bên ngoài có bị hủy diệt đi nữa, thì một cá nhân đơn thuần của chúng tôi cũng sẽ có khả năng xây dựng lại nó: núi non, và sông suối, cây và lá, rễ và bông hoa, phải, mỗi hình thức thiên nhiên thì đã tiềm phục ở trong chúng tôi, khởi nguyên trong linh hồn mà yếu tính của nó là vô cùng, yếu tính ấy chúng tôi không biết nhưng mà những mối tương liên thường hằng nhất của chính nó đối với chúng tôi thì như là cái khả năng của yêu đương và sáng tạo.

Bặt đi cho đến nhiều năm sau này tôi mới tìm ra những điều đã xác nhận những quan sát này của tôi, trong một tác phẩm của Leonardo da Vinci, trên điểm đại thể ông đã diễn tả tuyệt biết bao, thật đáng chú ý xiết bao đó là cái nhìn ở bức tường nhiều người đã khạc nhổ trên đó. Đối diện với mỗi vết bẩn trên bức tường ẩm ướt, ông ta hẳn đã cảm thấy tương tự như Pistorius và tôi đã cảm thấy như thế trước ngọn lửa,

Lần sau chúng tôi gặp nhau, nhà đại phong cầm thủ cho tôi một giải thích: “Chúng ta luôn luôn định nghĩa những giới hạn của cá nhân chúng ta quá hạn hẹp. Nói chung, chúng ta chỉ coi như một phần của cá nhân chúng ta, mà chúng ta có thể nhìn nhận cái phần ấy như là một cá tánh hoặc như sự phân kỳ với quy phạm. Nhưng chúng ta cũng gồm có, mỗi chúng ta, và cả thể xác chúng ta nữa cũng gồm có bản truyền hệ của tiến hóa như tận mãi cái thời ngư khí và thậm chí còn xa vời hơn nữa, thế nên chúng ta có mang chứa bất cứ vật gì trong linh hồn chúng ta mà một lần nó đã sống trong linh hồn của nhân loại. Mỗi thần linh và ngạ quỷ đó mãi mãi tồn tại là thuộc về những người Hy lạp, Trung hoa hay những bộ lạc Zulus thì ở trong chúng ta, tồn tại như những điều cố thể tiềm ẩn, như những ước mơ, như những phiên luân. Nếu loài người bị biến hóa khỏi mặt địa cầu, chỉ sống sót có một đứa bé tài năng nửa vời, không nhận được giáo dục gì cả, đứa bé ấy cũng sẽ khám phá lại được toàn thể dòng tiến hóa, nó sẽ có khả năng tạo nên bất cứ vật gì một lần nữa, các thần linh và những tà thần, thiên đàng, những giới luật, Tân và Cựu ước.”

“Được, tuyệt lắm,” tôi trả lời. “Nhưng trong trường hợp đó những gì là giá trị cá nhân? Tại sao chúng ta vẫn tiếp tục phấn đấu nếu bất cứ mọi sự gì đã hoàn hảo trong người chúng ta rồi?”

“Ngừng!” Pistorius kêu lên. “Có một sự khác biệt mênh mông giữa việc đơn thuần mang thế giới trong người chúng ta và sự nhận định được nó. Một gã điên cũng có thể thốt ra những ý nghĩ khiến cậu nhớ đến Platon, và một cậu thư sinh sùng đạo ở chủng viện cũng suy nghĩ lại những thần thoại tương hợp sâu xa, nhận thấy giữa những người theo phái Duy trí chủ nghĩa hoặc Zoroaster. Nhưng hắn không nhận thấy những việc ấy. Hắn là cành cây hay viên đá, nhiều nhất là một con thú, chừng nào mà hắn không ý thức. Nhưng ngay sau khi cái tia sáng đầu tiên thừa nhận ánh bình minh trong người hắn thì hắn là một con người. Cậu sẽ không nhận ra tất cả những động vật hai chân mà cậu đi qua mặt trên đường, đơn thuần là những con người bời vì họ đi thẳng đứng và mang bào thai chín tháng mười ngày trong bụng họ! Hiển nhiên là có biết bao nhiêu người là cá hay trứng, côn trùng hay thiên thần, biết bao là kiến, biết bao là ong! Vâng, mỗi một sinh vật của chúng đều chứa đựng cái khả hữu trở nên người, nhưng chỉ bởi một sự bắt chước những khả hữu này, dù ngay cả một phần do bởi việc học hỏi tự làm cho mình ý thức đến chúng; chỉ trong phương diện này mà những khả hữu này mới là của hắn mà thôi.”

Đây là tổng quát xu hướng cuộc nói chuyện của chúng tôi. Chúng đối diện với tôi một cách hãn hữu với bất cứ điều hoàn toàn mới mẻ nào, bất ức điều kinh ngạc nào. Nhưng bất cứ điều gì, ngay cả những vấn đề thông thường nhất, đã giống với tiếng búa dịu dàng đập không ngớt trong cùng một chỗ tương tự trong con người tôi; tất cả những điều ấy đã giúp tôi rèn luyện mình, hết thảy những điều ấy đã giúp tôi lột bỏ những lớp vỏ, đập vỡ những vỏ trứng và sau mỗi cái đập tôi nâng đầu tôi lên cao hơn một chút, tự do hơn một chút, cho đến khi con chim mày vàng của tôi đẩy cái đầu đẹp đẽ khoái trá của nó ra khỏi cái vỏ vỡ của quả địa cầu.

Chúng tôi cũng hay kể cho nhau nghe những giấc mở của chúng tôi. Pistorius biết giải thích những giấc mơ ấy như thế nào. Một ví dụ của giấc mơ này vừa mới đến với đầy óc tôi hiện giờ. Tôi nằm mơ thấy tôi có thể bay, nhưng trong một cách như là tôi có vẻ đã bị ném vào không gian và mất cả sự tự chủ. Cái cảm giác bay bổng đã làm cho tôi khoái trá, nhưng sự vui sướng đã biến thành nỗi hãi hung khi tôi thấy mình càng lúc càng bị đẩy lên cao hơn, càng lúc càng trở nên bất lực. Vào lúc khẩn cấp ấy tôi khám phá ra sự cứu nạn là tôi có thể điều chỉnh việc bay lên hay hạ xuống của việc bay của tôi bằng cách nín thở hoặc thở ra hơi thở của tôi.

Pistorius giải thích là: “Sức đẩy tới làm cậu bay là sự sở hữu lớn lao của con người của chúng ta. Mỗi người đều có nó. Đó là cái cảm giác của sự được tiếp nối với những gốc rễ của quan năng, nhưng người ta chẳng bao lâu trở nên sợ hãi cái cảm giác này. Đó là một điều nguy hiểm tai hại! Đó là vì lẽ gì hầu hết người ta đã lột cánh họ đi, thích đi bộ và vâng theo lề luật. Nhưng không phải cậu. Cậu vẫn tiếp tục bay. Và xem đây! Cậu khám phá ra rằng cậu dần hồi bắt đầu làm chủ sự bay bổng của cậu, rằng cái sức mạnh tổng quát lớn lao ấy xâu xé cậu trên đó thì thêm vào một sự tinh xảo, cái động lực nhỏ nhoi của riêng cậu, một bộ phận, một cơ quan máy lái. Tuyệt diệu biết bao! Thiếu thốn cái đó, cậu sẽ bị kéo lên những đỉnh cao, bất lực – điều ấy là những gì xảy ra cho những kẻ điên khùng. Họ sở hữu những cáo tri sâu xa hơn là những người vẫn bị buộc vào với quả đất, nhưng họ không có chìa khóa và không có máy lái và đã rồ máy phóng vào vô biên. Nhưng cậu, Sinclair ạ, cậu lo liệu công việc ấy theo một lộ trình đúng. Thế nào? Cậu chắc chắn không biết mình ư. Cậu đang làm việc ấy với một bộ phận mới, với một cái gì điều chỉnh hơi thở của cậu. Và giờ đây cậu sẽ nhận ra cái “cá tánh” nhỏ nhoi của linh hồn cậu sẽ đạt đến nó sâu xa nhất là dường nào. Bởi vì nó không phát minh ra kẻ hiệu chính này! Nó không là gì mới mẻ! Cậu đã mượn nó: nó đã tồn tại hằng ngàn năm rồi. Nó là cái bộ phận mà loài cá điều chỉnh thế quân bình của chúng – cái bong bóng chứa không khí. Và thật ra giữa loài cá vẫn còn một vài giống nguyên thủy kỳ lạ, ở nơi nó, sự hoạt động của cái bong bóng như một loại phổi và có thể thỉnh thoảng dùng như một bộ phận để thở. Nói khác đi, giống y như cái phổi mà trong giấc mơ của mình cậu đã sử dụng như một cái bong bóng bay.”

Gã còn mang ra cả một quyển sách động vật học và chỉ tôi những cái tên và những hình ảnh của loài cá sai lầm niên biểu này. Và với một cái rùng mình kỳ lạ, tôi cảm thấy rằng một bộ phận từ cái thời kỳ tiến hóa đầu tiên vẫn đang tồn tại trong con người tôi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.