Tuổi Trẻ Băn Khoăn - Chương 6

VI. Jacob đô vật

Không thể nào kể lại một cách vắn tắt tất cả những điều mà Pistorious, nhà nhạc sĩ kỳ quặc đã nói với tôi về Abraxas. Điều quan trọng nhất, những gì tôi học hỏi được ở gã đã tiêu biểu thêm một bước nữa trên con đường hướng đến bản thân tôi. Vào lúc đó, tôi là một chàng trai lạ lùng mười tám tuổi, sớm già giặn cũng nhiều mà non nớt vụng về cũng lắm. Khi tôi tự so sánh mình với những đứa trai trẻ khác trang lứa tôi, tôi thường cảm thấy kiêu hãnh và tự phụ, nhưng vừa lúc ấy cũng hay xấu hổ và chán nản. Vừa mới đây tôi tự nhận mình là thiên tài, và cũng ngay khi ấy tôi coi mình là một kẻ điên khùng. Tôi không hề thành công trong việc tham dự vào đời sống của những đứa thanh niên lứa tuổi tôi, và thường bị tiều tụy hao mòn bởi sự tự trách mắng và buồn rầu lo lắng: tôi cách biệt với chúng nó một cách vô phương cứu chữa, tôi đã bị đời sống ngăn chặn.

Pistorius, chính gã cũng là một kẻ kỳ quặc trưởng thành, đã khuyên bảo tôi nên duy trì can đảm và lòng tự trọng của tôi. Bởi việc luôn luôn tìm ra một cái gì giá trị ở những gì tôi nói, trong những giấc mơ của tôi, những ý tưởng và ảo tưởng kỳ quái của tôi, bởi việc không bao giờ coi nhẹ những điều ấy, luôn luôn cho những điều ấy là quan trọng, gã đã trở nên kiểu mẫu của tôi.

“Cậu đã nói với tôi,” gã nói, “rằng cậu thích âm nhạc chỉ vì nó phi luân, điều đó đối với tôi cũng thế. Nhưng trong trường hợp đó cậu cũng không nên tự cho mình là một nhà luân lý. Cậu không nên so sánh mình với các kẻ khác: nếu Tạo hóa đã làm cậu là một loài dơi cậu không nên cố gắng để trở nên một con đà điểu làm gì. Có những lúc cậu nhận thấy mình là kỳ quặc cậu buộc tội mình đã chọn một con đường khác với phần lớn người đời. Cậu cần phải bất chấp những điều ấy; giương mắt nhìn trừng trừng vào ngọn lửa, vào các đám mây và ngay sau khi những tiếng nói nội tâm bắt đầu lên tiếng, hãy cứ hàng phục chúng, thoạt tiên đừng có hỏi có thể tiếng nói ấy có thể cho phép hoặc sẽ làm hài lòng thầy giáo hoặc thân phụ, hay một vài vị thần hay chăng. Cậu sẽ hủy hoại mình nếu cậu làm thế. Làm thế cậu sẽ trở nên một loài thảo mộc tầm thường, Sinclair ạ, tên vị thần linh của chúng ta là Abraxas và ngài là thần linh và quỷ Satan, và ngài chứa đựng cả hai thế giới, tối tăm và ánh sáng, Abraxas không chống lại bất cứ những tư tưởng nào, bất cứ những mộng tưởng nào của cậu cả. Đừng bao giờ quên điều đó. Nhưng ngài sẽ lìa bỏ cậu một khi cậu trở nên vô tội và bình thường. Lúc bấy giờ, ngài sẽ lìa bỏ cậu và đi tìm kiếm một mẫu người khác, để đặt những ý tưởng của ngài vào đó.”

Giữa tất cả những giấc mộng của tôi, giấc mộng yêu đương tối tăm là giấc mộng trung thành nhất. Tôi thường hay nằm mộng biết bao, đó là giấc mộng tôi bước đi dưới con chim trong tấm huy chương để đi vào căn nhà của chúng tôi, muốn kéo mẹ tôi đến với tôi và thay vì thế, lại kéo đến một người đàn bà to lớn nửa mẹ, nửa ái nam trong tay tôi, người này làm tôi sợ hãi nhưng cũng hấp dẫn tôi một cách mãnh liệt. Và tôi có thể chẳng bao giờ thú nhận giấc mơ này với bạn tôi. Tôi giữ giấc mộng đó cho mình ngay cả sau khi tôi đã kể với gã bất cứ điều gì khác nữa. Đó là góc cạnh khuất lấp của tôi, điều bí mật của tôi, chốn nương náu của tôi.

Khi tôi muốn bệnh tôi yêu cầu Pistorious chơi nhạc luân vũ của Buxtehude. Lúc bấy giờ tôi sẽ ngồi trong cái nhà thờ đầy bụi bặm, hoàn toàn bị lôi cuốn trong sự thân thiết khác thường này, tự mê mải âm nhạc, thứ âm nhạc hình như để nghe cho chính mình nó, thứ âm nhạc ấy mỗi lần đã an ủi tôi, càng lúc càng sửa soạn để lưu ý đến những tiếng nói nội tâm của riêng tôi.

Có những khi chúng tôi ở lại ngay cả sau khi âm nhạc đã dứt, chúng tôi đưa mắt nhìn làn ánh sáng yếu ớt chiếu qua mái vòm sắc nhọn của những cánh cửa sổ và lại đánh mất trong giáo đường.

“Chuyện có vẻ kỳ cục,” Pistorious nói, “rằng có lần tôi đã là một sinh viên thần học và gần như trở thành một mục sư. Nhưng tôi chỉ phạm một lỗi lầm về hình thức. Công việc và mục đích của tôi vẫn còn là một tu sĩ, song tôi đã thỏa mãn quá sớm và tự biến mình cho Thượng đế Jehovah trước khi tôi biết về Abraxas. Ồ phải, mỗi mỗi và hết thảy tôn giáo đều tốt đẹp: tôn giáo là linh hồn, có bề gì nếu cậu dự phần vào cộng đồng Ky tô, giáo hay làm cuộc hành hương đến Mecca.”

“Nhưng trong trường hợp đó,” tôi ngắt lời, “anh hiện có thể trở thành mục sư.”

“Không đâu Sinclair ạ. Tôi đã nói dối đấy. Tôn giáo của chúng ta được thực hành như thể là một cái gì khác lạ, một cái gì hoàn toàn vô ích. Nếu vạn nhất chuyện không may xảy ra tôi có thể trở thành một người theo Ky tô giáo, nhưng một mục sư Tin lành – không. Có một ít người tin tưởng chân thật – tôi có biết một ít người ấy – thích sự giải thích trực nghĩa. Tôi sẽ không thể nào nói với họ chẳng hạn đối với tôi. Thượng đế không phải là một anh hùng, một huyền thoại, một hình bóng phi thường mà loài người đã vẽ nó lên trên bức tường vĩnh cửu. Và có những kẻ khác, đến nhà thờ, để nghe một vài câu khôn ngoan, để làm đầy đủ bổn phận, không thiếu sót gì cả, vân vân, tôi sẽ nói gì với họ? Hoán đạo họ à? Có phải đó là những gì cậu định nói không? Nhưng tôi không có ý muốn làm điều ấy. Một tu sĩ không muốn hoán đạo, y chỉ muốn sống giữa những tín đồ, giữa thứ tôn giáo của riêng y thôi.

Y muốn được là dụng cụ và bày tỏ cái cảm giác mà từ đó chúng ta tạo ra các vị thần của chúng ta.”

Gã tự gián đoạn, rồi tiếp tục: “Ông bạn tôi ơi, nếu tôn giáo mới của chúng ta, mà chúng ta đã chọn cái tên là Abraxas thì tốt đẹp. Đó là điều tuyệt nhất mà chúng ta có được. Nhưng nó vẫn là một tôn giáo còn non nớt. Tuy vậy lông cánh nó hãy chưa mọc. Một tôn giáo đơn độc cũng không đúng. Phải có một cộng đồng, phải có sự thờ phụng và những nghi lễ chuếnh choáng, phải có những cuộc lễ lạc và phép thần bí…”

Gã chìm đắm trong ảo tưởng và trở nên mất mát trong con người gã.

“Người ta không thể phô diễn tất cả những phép thần bí duy chỉ có một nhóm người rất ít ỏi sao?” tôi hỏi một cách lưỡng lự.

“Vâng, người ta có thể chứ.” Gã gật đầu. “Tôi đã từng thi thố việc ấy một thời gian dài chỉ có một mình tôi. Tôi có những sự thờ phượng của riêng tôi mà việc ấy nếu có kẻ nào khám phá ra thì tôi sẽ bị xử tù cả năm trời. Lại nữa, tôi biết rằng nó cũng không phải là điều đúng.”

Bỗng nhiên gã vỗ mạnh trên vai tôi đến nỗi tôi giật mình. “Này cậu,” gã nói giọng nhiệt liệt, “cậu cũng có những điều bí mật của cậu nữa. Tôi biết rằng cậu ắt phải có những giấc mơ mà cậu không nói với tôi. Tôi không muốn biết những giấc mơ ấy. Nhưng tôi có thể nói với cậu: hãy sống với những giấc mơ ấy, vui chơi với chúng, hãy xây những điện thờ cho những giấc mơ ấy. Cho tới bây giờ những giấc mơ ấy vẫn chỉ là ảo tưởng nhưng nó nhắm đến hướng đúng đấy. Có thể là cậu và tôi có một vài kẻ khác, một ngày nào đó sẽ đổi mới lại thế giới cũng chưa biết chừng. Nhưng bên trong con người chúng ta, chúng ta phải đổi mới mỗi ngày, nếu không thế chúng ta chỉ là hạng người không đứng đắn. Đừng có quên điều đó! Cậu mười tám tuổi đầu rồi Sinclair ạ, cậu không nên đâm đầu vào bọn gái đĩ. Cậu cần có những giấc mơ yêu đương, cậu cần có những khát vọng. Có lẽ chúng làm cậu sợ hãi. Đừng có vậy. Những giấc mơ ấy là những điều tuyệt nhất mà cậu có được đấy. Cậu có thể tin tôi. Tôi đã bị thua thiệt rất nhiều khi tôi ở vào từng tuổi của cậu bởi việc tiết lộ những giấc mơ yêu đương ấy. Ta không nên làm thế. Khi cậu biết một cái gì về Abraxas thì cậu không thể nào làm bất cứ điều này lâu hơn nữa. Cậu không nên cho phép sợ hãi bất cứ điều gì, không thể coi là bị ngăn cấm bất cứ điều gì mà linh hồn cậu khao khát.”

Giật mình, tôi vặn lại: “Nhưng anh không thể làm bất cứ điều gì xảy đến từ ý nghĩ của anh! Anh không thể giết một người nào đó bởi vì anh không ưa hắn.”

Gã xích tới gần tôi hơn:

“Trong trường hợp ấy, ngay cả việc đó nữa. Song đó là một lần lầm lỗi nhất của thời đại. Tôi không định nói rằng cậu nên đơn thuần làm tổn thương và xua đuổi những ý tưởng nó làm nên ý thức bằng cách trừ yếm chúng hoặc khuyến giới chúng. Thay vì tự hành xác cậu hay một người nào khác, cậu có thể nhậu rượu chát từ một bình rượu lễ và trầm tư mặc tưởng về điều bi nhiệm của sự tế lễ. Dù cho không có phương thức như thế đi nữa cậu cũng có thể đãi ngộ các động lực và cái gọi là những sức cám dỗ với lòng tôn kính và yêu thương. Lúc bấy giờ chúng sẽ tiết lộ ý nghĩa của chúng – và chúng đã có tất cả ý nghĩa. Nếu ngẫu nhiên cậu lại nghĩ đến một cái gì thực sự điên cuồng hay tội lỗi, nếu cậu muốn giết một kẻ nào đó hay muốn phạm vào một vài điều quái gở, Sinclair ạ, giây phút ấy hãy cứ nghĩ rằng đấy chúng là Abraxas đã gây nên ảo tưởng trong con người cậu! Con người mà cậu sẽ thích hủy đi dĩ nhiên không bao giờ là ông X nhưng chỉ là một kẻ giả dạng. Nếu cậu ghét một người, thì cậu ghét cái gì đó trong con người hắn, ấy là một phần của chúng con người cậu. Những gì không phải là một phần của chính chúng ta thì nó không quấy rầy chúng ta.”

Trước đây không bao giờ Pistorius nói bất cứ điều gì với tôi mà làm cho tôi xúc động sâu xa đến như thế này. Tôi không thể trả lời. Nhưng những gì làm tôi xúc động nhất và trong một đường lối kỳ lạ nhất, là sự tương tự của những lời khích lệ này với những lời của Demian, những lời nói ấy tôi đã mang theo với tôi hằng năm trời. Hai điều khích lệ ấy không hề tri ngộ lẫn nhau, song cả hai đều khích lệ và những lời nói ấy đã nói với tôi trong một điều tương tự.

“Những điều chúng ta thấy,” Pistorius nói giọng dịu dàng, “là những điều tương tự trong người chúng ta. Không có cái thực tại nào mà lại không chứa đựng trong con người của chúng ta. Đó là lý do có rất nhiều người sống một đời sống phi thực đến như vậy. Họ coi những hình ảnh bên ngoài họ là thực tại và không bao giờ cho phép chỉ thế giới bên trong công nhận chính cái thế giới ấy. Cậu có thể hạnh phúc theo đường lối ấy. Nhưng một lần cậu đã biết đến những sự giải thích khác, cậu không còn chọn lựa theo con đường của đám đông, Sinclair ạ, con đường của đa số là một con đường dễ đàng, còn con đường của chúng ta thì khó khăn vất vả.”

Một vài ngày sau đó, sau khi tôi đã hai lần chờ đợi gã trong vô vọng, sau cùng tôi gặp gã tiến đến vào mãi giữa đêm khuya khoắt có vẻ như bị thổi tung quanh góc đường bởi cơn gió đêm lạnh lẽo, say bí tỉ, bước đi ngã tới ngã lui. Tôi không thấy muốn gọi gã. Gã đi qua mặt tôi không trông thấy tôi, nhìn trừng trừng về trước mặt gã với cặp mắt bối rối chiếu sáng, như thể gã theo đuổi một cái gì tối tăm gọi lên của cái vô danh. Tôi đi theo gã khoảng đường dài của một con phố: gã đi vơ vẩn như thể bị lôi kéo bởi một sợi dây vô hình, với dáng đi cuồng tín, song lạc lõng, giống như một bóng ma. Buồn rầu, tôi trở về nhà với những giấc mơ không trọn vẹn của tôi.

Như thế có nghĩa là gã đổi mới thế giới trong bản thân gã đó sao? Ý nghĩ ấy chợt đến với tôi. Đồng thời giây phút ấy tôi cảm thấy rằng đó là một ý tưởng khuyến giới thấp kém. Tôi biết gì về các giấc mơ của gã? Có lẽ gã đi trên một lộ trình nhất định hơn trong men say chuếnh choáng của gã hơn là tôi bên trong giấc mơ của tôi.

Một vài lần trong những lúc nghỉ giữa các giờ học tôi chú ý đến một đứa học trò cùng lớp mà trước đây tôi không bao giờ chú ý đến, có vẻ tò mò muốn tìm hiểu tôi. Nó là một đứa học trò mảnh khảnh, yếu đuối, với mái tóc nâu thưa thớt, nó có một cử chỉ và cái nhìn có vẻ khác thường. Một buổi chiều khi tôi đi về nhà thì nó đã chực sẵn trên con đường mòn chờ tôi. Nó để tôi đi qua, rồi đi theo và dừng lại khi tôi cũng dừng lại trước cánh cửa cái.

“Mày cần tao việc gì?” tôi hỏi nó.

“Tôi chỉ muốn được nói chuyện với anh 1 lần thôi” nó nói giọng e lệ. “Xin anh hãy vui lòng làm ơn đi bộ với tôi một lát.”

Tôi đi theo nó, ý thức rằng nó bị kích thích và hết sức mong mỏi. Hai tay nó run rẩy.

“Anh có phải là người chiêu hồn thuật không?” bất thần, nó hỏi.

“Không, Knauer,” tôi nói, cười xòa. “Không phải đâu. Việc gì làm cậu nghĩ rằng tôi là kẻ như vậy?”

“Nhưng thế thì anh phải là một nhà thông thần học?”

“Cũng không phải.”

“A, đừng có kín đáo như vậy! Tôi cũng có thể cảm thấy về con người anh có một cái gì đặc biệt. Cái nhìn trong cặp mắt anh kìa… Tôi quả quyết là anh có liên lạc với ma quỷ. Tôi hỏi anh không phải vì tánh hiếu kỳ đâu, Sinclair. Không, tôi là một người tự tìm kiếm mình, anh biết không và tôi thật rất cô đơn.”

“Cứ tiếp tục, hãy nói với tôi về chuyện đó,” tôi khuyến khích nó. “Tôi không biết nhiều về ma quỷ, thần linh đâu. Tôi sống trong những giấc mộng của tôi – đó là những gì cậu ý thức đến. Người khác họ sống trong những giấc mơ nhưng không phải trong giấc mơ của riêng họ. Khác biệt là ở chỗ ấy.”

“Phải, có thể cái cách thức nó là như vậy,” nó thì thào. “Không thành vấn đề những loại mộng mị nào chúng có mà anh sống với nó – anh có nghe nói về phép ảo thuật không?”

Tôi phải nói không.

“Nghĩa là khi anh học cách tự chủ. Anh có thể trở nên bất tử và làm người ta say mê. Có bao giờ anh đã thực hành bất cứ sự luyện tập nào chưa?”

Sau khi tôi hỏi những gì là “những sự luyện tập” này thì nó trở nên rất kín đáo: cho mãi đến khi tôi quay lại đi trở về. Lúc đó nó đã nói với tôi tất cả.

“Chẳng hạn, khi tôi muốn ngủ hoặc muốn tập trung tinh thần vào một cái gì, tôi làm một trong những sự thực tập này. Tôi nghĩ đến một cái gì đó, chẳng hạn một chữ, hay một danh tánh, một hình thể kỷ hà học. Lúc bấy giờ tôi nghĩ hình thể này thành ra chính con người tôi, cứng rắn như tôi có thể có được. Tôi cố tưởng tượng nó mãi đến khi nào tôi có thể cảm thấy nó bên trong đầu tôi. Rồi tôi nghĩ đến nó ở trong cổ, vân vân, cho mãi đến khi tôi hoàn toàn lấp đầy bởi hình thể ấy. Rồi tôi quả quyết như thể là tôi đã hóa ra đá và không gì có thể làm cho tôi rối loạn nữa.”

Tôi đã có cái ý tưởng lờ mờ về những gì nó định nói. Song tôi cảm thấy chắc chắn rằng có một cái gì khác nữa đang quấy rối nó, làm nó bị kích thích một cách lạ lùng và bồn chồn đến như vậy. Tôi cố làm cho nó nói ra dễ dàng và không lâu gì trước khi nó bày tỏ mối liên quan thực sự của nó.

“Anh cũng là người còn trinh phải không?” nó lưỡng lự hỏi.

“Mày định nói gì, tình dục à?”

“Phải. Tôi đã tiết dục trong hai năm trời – chưa bao giờ tôi khám phá ra việc ấy cả. Tôi đã suy đồi cho mãi đến lúc bấy giờ, anh biết tôi định nói gì – Thế anh chưa bao giờ biết đến con gái?”

“Không,” tôi nói. “Tôi chưa bao giờ tìm ra một người hoàn toàn.”

“Nhưng nếu anh tìm ra được một cô gái mà anh cảm thấy hoàn toàn thì rồi anh có ngủ với nàng không?”

“Tự nhiên là ngủ chớ – nếu nàng không phản đối,” tôi nói hơi có vẻ báng nhạo.

“Ồ, anh ở trên con đường sai lầm hết ráo! Anh chỉ có thể huấn luyện sức mạnh trong người anh nếu anh hoàn toàn tiết dục. Tôi đã từng – suốt hai năm trời. Hai năm và gần một tháng! Thật là khó khăn vất vả quá! Đôi khi tôi nghĩ rằng tôi không thể chịu đựng lâu hơn nữa.”

“Knauer, nghe đây này, tôi không tin rằng sự tiết dục là quan trọng hết thảy đâu.”

“Tôi biết,” nó chống chế. “Đó là những gì thiên hạ đều nói đến. Nhưng tôi mong anh nói đến điều tương tự. Nếu anh muốn cao cả hơn, con đường tinh thần anh vẫn phải thuần túy tuyệt đối.”

“Phải, thuần túy cái chắc rồi! Nhưng tôi không hiểu, vì lẽ gì, một người nào đó tin tưởng là mình thuần túy hơn kẻ khác nếu hắn chế ngự những thôi thúc tình dục của hắn. Hay là cậu có khả năng loại bỏ tình dục ra khỏi tất cả những mộng mị và ý tưởng của cậu?”

Nó nhìn đến tôi, vẻ tuyệt vọng.

“Không, đó chỉ là luận chứng. Trời ơi, nhưng tôi phải có. Về đêm tôi có những giấc mơ mà tôi không thể nào chịu nổi, dù chỉ kể lại cho chính mình nghe. Những giấc mơ khủng khiếp.”

Tôi nhớ đến những gì mà Pistorius đã nói với tôi. Nhưng cũng như tôi đã đồng ý với những ý kiến của gã, tôi không thể bỏ qua nó được. Tôi không có tài đưa ra lời khuyên bảo mà nó không lấy ra từ kinh nghiệm riêng rẽ của tôi và điều đó chính bản thân tôi cũng không có khả năng theo đuổi! Tôi rơi vào im lặng và cảm thấy xấu hổ ở chỗ không thể đưa ra lời khuyên bảo cho một kẻ tìm kiếm lời khuyên bảo ấy ở tôi.

“Tôi đã cố gắng bất cứ việc gì” Knauer than vãn bên cạnh tôi. “Tôi đã làm tất cả những gì làm được. Nào nước lạnh, tuyết, tập thể dục và chạy bộ, nhưng không có gì hữu ích cả. Mỗi đêm tôi thức giấc từ giấc mơ mà ngay cả việc nghĩ đến tôi cũng không được phép nữa kia – và cái phần kinh khủng là trong quá trình tôi đã dần hồi quên lãng tất cả tinh thần mà tôi chưa hề biết đến. Tôi chẳng bao giờ thành công chút nào trong việc tập trung tinh thần hay tự làm cho mình buồn ngủ. Thường khi tôi nằm thức suốt đêm. Việc đó không thể nào tiếp tục lâu hơn như thế này mãi. Nếu tôi không thể thắng trong cuộc tranh đấu, nếu cuối cùng tôi đầu hàng và trở nên không tinh khiết trở lại thì tôi sẽ là kẻ độc ác hơn tất cả những kẻ nào khác không hề thực hiện một cuộc tranh đấu nào. Anh hiểu điều đó rồi chứ, có phải không?”

Tôi gật đầu nhưng không thể nào đưa ra nhận xét gì cả. Nó bắt đầu quấy rầy tôi và tôi đã giật mình khi nhận thấy rằng cái nhu cầu hiểu nhiên và nỗi thất vọng của nó không gây một xúc động sâu xa nào hơn trong con người tôi. Cảm tưởng duy nhất của tôi là: tôi không thể nào giúp nó được.

“Vậy ra anh không biết gì cả à?” Sau cùng nó hỏi giọng buồn rầu và mệt nhoài. “Không có gì cả à? Nhưng phải có một phương pháp chứ. Anh đã làm phương pháp ấy như thế nào?”

“Knauer ạ, tôi không thể nói với cậu điều gì cả. Chúng ta không thể giúp đỡ gì cho bất cứ ai cả. Cũng không có ai giúp được cậu. Cậu phải thỏa thuận với chính con người cậu, và lúc bấy giờ cậu phải làm những khát vọng nào thâm thiết nhất trong tâm hồn cậu. Không hề có một phương pháp nào khác. Nếu cậu không hể tìm nó ra cho chính bản thân cậu, cậu cũng không tìm ra tinh thần được.”

Anh chàng bé nhỏ nhìn đến tôi, thất vọng, và bỗng nhiên mất cả lời nói. Bấy giờ cặp mắt nó ánh lên vẻ thù ghét, nó nhăn mặt lại và thét lên: “A, anh là một vị thánh tốt đẹp! Anh tự làm cho mình tồi bại, tôi biết mà. Anh giả vờ khôn ngoan nhưng một cách kín đáo anh lại bám vào sự phóng đãng tương tự như phần đông bọn tôi đã làm! Anh là đồ heo, một con heo lợn, giống như tôi. Hết thảy chúng ta là đồ heo lợn!”

Tôi bỏ đi và để nó đứng đó. Nó đi theo tôi hai hay ba bước, đoạn quay lại và chạy mất. Tôi cảm thấy muốn nôn mửa với lòng thương hại và ghê tởm và cảm giác ấy không rời bỏ tôi mãi đến khi tôi tự mình vây quanh với nhiều bức họa ở trong phòng tôi và đã hàng phục với những giấc mơ của riêng tôi. Lập tức giấc mơ trở lại, lối vào căn nhà và tấm huy chương, người mẹ và mụ đàn bà xa lạ, và tôi có thể thấy hình dáng của bà rõ ràng đến nỗi tôi bắt đầu vẽ chân dung bà ta đêm hôm ấy.

Khi bức họa đã hoàn thành sau nhiều ngày làm việc, phác họa thoát ra giống như giấc mơ trong mười lăm phút, tôi đem ghim nó lên tường, dời cây đèn học đến trước nó và đứng trước mặt bức họa như thể là đứng trước bóng ma mà với nó, tôi phải tranh đấu cho đến cùng. Đó là một khuôn mặt tương tự với một khuôn mặt trước đây và thậm chí một nét trên mặt còn giống với tôi nữa. Một con mắt thấy rõ cao hơn con mắt khác và cái nhìn chăm chú ném qua và ở bên kia tôi,, tự chú ý và nghiêm khắc, đầy định mạng.

Tôi đứng trước nó, và bên trong người tôi bắt đầu lạnh run lên từ sự cố gắng hết sức. Tôi cật vấn bức họa, mắng mỏ nỏ, làm tình với nó, cầu nguyện nó; tôi gọi nó là mẹ, gọi nó là con đĩ và mụ đàn bà dâm đãng, gọi nó là người yêu dấu của tôi, gọi nó là Abraxas. Những lời ấy đã được Pistorius nói ra – hay Demian? – đã xuất hiện với tôi giữa những lời nguyền rủa. Tôi không thể nhớ ai đã nói những lời ấy nhưng tôi cảm thấy tôi có thể nghe chúng trở lại. Chúng là những lời nói về cuộc đô vật của Jacob với thiên thần của Thượng đế và hắn, “ta sẽ không để cho ngươi đi ngoại trừ ngươi ban phúc cho ta.”

Nét mặt vẽ dưới ánh ngọn đèn đã biến đổi với mỗi sự kích thích – trở nên sáng sủa và chói lọi, tối tăm và che kín tất cả, nhắm hai mắt xanh xao lại trên cặp mắt chết, lại mở ra và những cái thoáng nhìn chiếu sáng. Đó là đàn bà, đàn ông, cô gái, đứa bé, con thú, nó thành một vết màu nhỏ xíu, rồi lại tỏa lớn ra và rõ ràng trở lại. Sau cùng một sức xung động mạnh mẽ, tôi nhắm mắt lại và hiện giờ thấy bức họa ở bên trong con người tôi mạnh hơn và to lớn hơn trước. Tôi muốn quì xuống trước mặt nó nhưng nó cũng như một phần của tôi nên từ chính mình tôi không thể chia cách với nó, như thể nó đã chuyển vào bên trong tự ngã của tôi.

“Tôi không đi tìm cậu,” tôi nói, tê cóng cả người. Mỗi khi nói ra có nghĩa là một sự nỗ lực lớn lao và chỉ thoát ra một cách ngập ngừng qua hai cái môi chết.

Nó trân trối nhìn tôi.

“Anh không đi tìm tôi hả?”

“Không. Có một cái gì lôi kéo tôi đi. Cậu có gọi tôi không? Cậu ắt đã gọi đến tôi. Dù sao thì cậu đang làm gì ở đây? Đêm tối mà.”

Nó siết chặt tôi một cách rối rít với hai bàn tay tong teo của nó.

“Phải, đêm tối. Chẳng bao lâu nữa bình minh sẽ đến đây. Anh có thể tha thứ?”

“Tha thứ cậu cái gì?”

“Ồ, tôi thật tệ.”

Chỉ hiện giờ đây tôi nhớ lại cuộc nói chuyện của chúng tôi. Dễ thường cũng đã bốn năm ngày trước đây? Toàn thể cuộc đời hình như đã trải qua kể từ khi ấy. Nhưng bỗng nhiên tôi đã biết hết tất cả. Không phải chỉ biết đến những gì đã tiết lộ giữa hai chúng tôi mà còn biết tại sao tôi đến đây và những gì Knauer muốn làm ở tại đây.

“Cậu muốn tự tử hả, Knauer?”

Nó run rẩy với nỗi lạnh lẽo và sợ hãi.

“Phải, tôi muốn thế. Tôi không biết là tôi sẽ có thể làm được thế hay không. Tôi muốn đợi cho đến sáng.”

Tôi kéo nó ra ngoài trống. Những tia sáng ban mai đầu tiên đằng chân trời chiếu sáng lờ mờ, lạnh lẽo và ảm đạm trong buổi rạng đông xám xịt.

Tôi nắm tay cu cậu dắt đi một đỗi đường. Tôi nghe mình nói:

“Bây giờ hãy về nhà và đừng hé môi một lời nào với bất cứ ai. Cậu đã đi trên con đường lầm lạc. Chúng ta không phải là loài heo lợn như cậu nghĩ đây, mà là những con đường. Chúng ta đã tạo ra thần thánh và tranh đấu với họ, và họ đã ban phúc cho chúng ta.”

Chúng tôi bước đi và chia tay, không nói một lời nào khác. Khi tôi về đến nhà thì trời đã sáng hẳn.

Điều tuyệt nhất mà tôi giành được từ những tuần lễ ở St, là những giờ ở với Pistorius bên cạnh cây đàn đại phong cầm hoặc ở trước bếp của gã. Chúng tôi đã nghiên cứu văn bản Hy lạp về Abraxas và gã đọc cho tôi nghe những đoạn trích dẫn từ một bản dịch của kinh Veda và dạy tôi cách đọc tiếng “OM” thiêng liêng như thế nào. Song những vấn đề huyền bí này không bồi dưỡng tinh thần tôi. Những gì làm tôi thêm hăng hái là sự tiến bộ đã thu đạt được trong sự khám phá ra cái tự ngã của tôi, những ý nghĩ, và những cáo tri, và sự phát triển kiến thức của sức mạnh mà tôi đã sở hữu trong con người tôi.

Pistorius và tôi đã hiểu nhau trong mỗi phương cách có thể hiểu nhau được. Tất cả điều tôi phải làm là nghĩ đến gã và có thể chắc chắn là gã – hoặc một thông điệp ở gã – sẽ đến. Tôi có thể hỏi gã bất cứ điều gì, như tôi hỏi Demian, dù gã không hiện diện bằng xương bằng thịt trước mắt: tất cả điều tôi phải làm là tưởng tượng ra gã rõ ràng trong trí và đặt những câu hỏi của tôi với gã trong hình thức của một ý tưởng khốc liệt. Rồi thì tất cả nỗ lực tâm linh sử dụng trong câu hỏi trở lại với tôi như một câu trả lời. Không chỉ là con người Pistorius hoặc cũng chẳng phải là Max Demian mà tôi đã nhắc nhở và nói đến, mà cái hình ảnh mà tôi nằm mộng và vẽ ra, hình ảnh mộng mị á nam á nữ ấy là một daemon của tôi. Điều phát hiện này đây hiện giờ không còn hạn chế với những giấc mộng của tôi, không còn chỉ là sự mô tả trên giấy, mà nó sống trong con người tôi như một lý tưởng và làm mạnh thêm cái tự ngã của tôi.

Mối liên quan mà anh chàng tự cho là mình tự tử Knauer đã tạo với tôi cái cá biệt, đôi khi còn buồn cười là khác. Kể từ cái đêm tôi được đưa đẩy đến đó, nó bám vào tôi y như một tên đầy tớ trung thành hay một con chó, cố gắng mọi sự để đặt điều cuộc sống của nó với tôi và vâng lời tôi một cách mù quáng. Nó đến với tôi với những câu hỏi và lời khẩn cầu làm ngạc nhiên nhất, muốn được thấy quỷ thần, học phép thần thông, và sẽ không tin tôi khi tôi đoan chắc với nó là tất cả những vấn đề này tôi hoàn toàn dốt nát. Nó nghĩ rằng không có gì vượt quá khả năng của tôi. Tuy vậy, kỳ lạ làm sao là nó sẽ thường hay đến tôi với những câu hỏi làm rối trí và vớ vẩn khi tôi đương đầu với một vấn đề nan giải của riêng tôi, mà những ý tưởng ngông cuồng và những lời cầu khẩn của nó lại thưởng đem đến một lời giải và sức kích thích cho một kết luận. Thường khi nó là một đứa quấy rầy và tôi sẽ tống cổ nó đi một cách độc đoán: song tôi ý thức rằng nó cũng được gửi đến tôi, rằng từ ở nó cũng hồi âm bất cứ những gì mà tôi cho nó, trong sự đo lường gấp đôi; nó nữa, cũng là một người lãnh đạo tôi, hay ít ra là một cây trụ chỉ đường. Những cuốn sách huyền bí và những bài viết nó mang đến cho tôi trong đó nó đã tìm kiếm sự giải thoát, đã dạy tôi nhiều hơn là tôi nhận ra vào lúc đó.

Sau này Knauer đã ra khỏi sự chú ý của đời sống của tôi. Chúng tôi không bao giờ đi đến chỗ tranh chấp với nhau; không có lý do gì để làm việc ấy. Không giống như Pistorius, với gã tôi vẫn còn chia sẻ một kinh nghiệm kỳ lạ cho đến cuối những ngày ở St – của tôi.

Trong một hay nhiều cơ hội trong dòng sống của họ, ngay đến con người vô hại nhất cũng không hẳn hoàn toàn thoát khỏi cuộc tranh chấp với các đức tánh tốt đẹp của lòng thương xót và sự biết ơn. Chẳng chóng thì chầy mỗi người chúng ta phải chọn con đường chia cách hắn với thân phụ hắn, với những người dẫn đạo hắn; mỗi người chúng ta phải trải qua một vài nỗi cô đơn tàn bạo – cho dù phần lớn người đời không thể coi trọng điều này và chẳng bao lâu đã mò mẫm trở lại. Bản thân tôi không hề chia lìa với song thân tôi và thế giới của họ, cái thế giới “chói lọi” trong một cuộc tranh đấu dữ dội, nhưng dần dà và gần như không thể trông thấy được nó trở nên mất thiện cảm. Tôi buồn rầu khi thấy rằng nó phải theo cái phương cách này, và nó làm cho cuộc trở lại quê nhà của tôi có nhiều giờ khó chịu; nhưng việc ấy không làm tôi xúc động xâu xa, nó có thể chịu đựng được.

Nhưng, nơi mà chúng ta dâng hiến tình yêu và lòng tôn kính của chúng ta, không ò do từ thói quen nhưng do ở ý chí tự do của chúng ta, nơi chúng ta là những môn sinh và bằng hữu ở bên ngoài những tâm hồn sâu kín của chúng ta, nó là cái giây phút đắng cay và nỗi kinh khiếp khi chúng ta bất thần nhận ra rằng, dòng sông bên trong con người chúng ta muốn lôi kéo chúng ta đi khỏi những gì là thân mến nhất đối với chúng ta. Rồi mỗi ý tưởng phủ nhận tình bằng hữu và người dẫn đạo đó quay lại trong tâm hồn y như một cái ngạnh tẩm thuốc độc, rồi mỗi cú đánh tự vệ bay trở lại khuôn mặt một ngời, những chữ “bất chánh” và “vô ơn” làm cho con người hắn cảm thấy hắn ngụ ý có vẻ giống như những tiếng xuỵt chê bai và vết nhơ, và trái tim hoảng hốt bẽn lẽn bay trở lại những thung lũng quyến rũ của những đức tính thủa ấu thời, không thể tin rằng điều tan vỡ này nó cũng phải được làm ra, mối ràng buộc này cũng đã tan vỡ nữa.

Với thời gian, những cảm giác nội tâm của tôi dần dà quay chống lại sự chấp nhận Pistorius như một bậc thầy hoàn toàn. Tình bạn của tôi với gã, sự chỉ bảo của gã, sự an ủi mà gã mang đến cho tôi, sự gần gũi với gã đã có kinh nghiệm rất quan hệ trong những tháng quan trọng nhất của thời hoa niên của tôi. Thượng đế đã nói với tôi qua con người gã. Từ cặp môi của gã, những giấc mơ của tôi trở nên minh bạch và đã được giải thích. Gã đã cho tôi niềm tin ở mình. Và giờ đây dần hồi tôi bắt đầu trở nên ý thức việc cưỡng kháng lại gã. Trong những gì gã nói có quá nhiều điều có trong loại sách giáo khoa, và tôi cảm thấy ngay rằng gã chỉ hiểu biết một phần nào về tôi mà thôi.

Giữa chúng tôi không có sự cãi cọ hoặc làm bộ làm tịch, không có sự tan vỡ và cả đến cùng không hề có sự thanh toán gì cả. Tôi hoàn toàn chỉ là một người đơn độc – thật ra vô hại – song nói theo văn hoa bay bướm thì vào giây phút đó một ảo tưởng đã tan vỡ.

Một linh cảm lờ mờ của một biến cố như thế đôi lúc đè nặng trên người tôi; nó trở nên một cảm giác rõ ràng vào sáng chủ nhựt trong phòng việc của gã. Chúng tôi đang nằm trước bếp lửa, trong khi gã đang nói về những phép thần bí và các hình thức tôn giáo mà gã nghiên cứu và cái tiềm thế tương lai của nó làm cho gã lo ngại. Tất cả điều này đối với tôi có vẻ kỳ quặc và trung bình và không phải là điều quan trọng thiết yếu: về nó có một cái giờ lờ mờ thuộc về giáo dục học; có vẻ nó giống như sự tìm kiếm vô vọng những đổ nát của những thế giới xa xưa. Và ngay tức thì tôi cảm thấy sự mâu thuẫn ở tất cả cử chỉ của gã, bởi vì sự thờ phượng những thần thoại này, cái trò chơi màu mè này mà gã biểu diễn với cách thức của niềm tin thì đã cũ kỹ rồi.

“Pistorius,” bất thần tôi nói trong một giọng độc ác, làm cho tôi cảm thấy hai điều cùng lúc là ngạc nhiên và sợ hãi. “Thỉnh thoảng anh nên kể lại cho tôi nghe một trong những giấc mơ của anh đi, một giấc mơ thực sự, một giấc mơ mà anh có vào ban đêm. Những gì anh nói với tôi tất cả đều như thế cả: cổ hủ tệ mạt đến thế.”

Trước đây gã chưa bao giờ nghe tôi nói như thế và đồng thời tôi nhận thấy một thoáng hổ thẹn và kinh hãi mà mũi tên tôi đã bắn vào gã, đã xuyên qua áo giáp gã, đâm thấu vào tim gã; bây giờ tôi ném trở lại gã những lời quở trách và một lần gã đã trực tiếp chống lại mình nửa mỉa mai châm chọc.

Gã im lặng ngay. Tôi nhìn gã với sự hoảng sợ trong tim tôi và thấy mặt mày gã trở nên xanh xao kinh khủng.

Sau khi ngừng lại một lúc lâu đầy ý nghĩa, gã đặt nhánh củi vào bếp lửa và nói trong một giọng nhỏ nhẹ: “Sinclair ạ, cậu nói đúng. Sinclair ạ, cậu là một cậu bé thông minh. Từ đây trở đi tôi sẽ thay thế cho cậu cái điều cổ hủ ấy.” Gã nói rất điềm tĩnh nhưng hiển nhiên là gã đã bị tổn thương. Tôi đã làm gì?

Tôi muốn nói một điều gì đó để khuyến khích gã, van xin sự tha thứ của gã, quả quyết với tình thương và sự biết ơn sâu xa ở gã của tôi. Những lời cảm động đến trong óc tôi – nhưng tôi không thể thốt ra. Tôi chỉ nằm đó giương mắt nhìn vào ngọn lửa và im lặng. Gã cũng im lặng và như vậy chúng tôi nằm một lúc trong khi ngọn lửa tắt dần và với mỗi ngọn lửa chớp tắt đi tôi cảm thấy một cái gì đẹp đẽ, một sự thân thiết bất biến đã cháy rụi và trở nên lần hồi biến mất.

“Tôi e là anh đã hiểu lầm tôi,” sau cùng tôi nói với một giọng rất mạnh dạn và lẹ làng. Những lời vớ vẩn vô nghĩa thoát ra một cách máy móc từ cặp môi tôi như thế tôi đọc ở tạp chí định kỳ.

“Tôi hoàn toàn hiểu,” Pistorius nói giọng dịu dàng. “Cậu đúng đấy. Tôi đã chờ đợi.” Rồi gã tiếp tục giọng chậm rãi. “Một người có thể đúng được bao nhiêu trong việc chống lại kẻ khác.”

Không, không! Tôi sai lầm, một giọng nói thét lên trong người tôi – nhưng tôi không thể thốt nên lời. Tôi biết rằng với một ít lời tôi đã thọc ngón tay của tôi vào nhược điểm gã, gã đã buồn rầu và đã bị tổn thương. Tôi đã đụng chạm đến nơi mà gã đã ngờ vực mình nhất. Lý tưởng của gã là “cổ hủ”, gã tìm kiếm trong quá khứ, gã là một người lãng mạn. Và bỗng nhiên tôi nhận ra một cách sâu xa trong người tôi: nhưng gì Pistorius đã có và đã hiến dâng cho tôi thì đúng là những gì gã không thể có và hiến cho mình. Gã đã dẫn tôi đi dọc theo một con đường mòn nó sẽ vượt quá xa, và ngay cả việc bỏ rơi gã, người dẫn đường ở lại đằng sau.

Có trời mà biết làm thế nào một người bỗng nhiên nói ra một cái gì như thế. Tôi không định nói đến tất cả những lời độc ác ấy, không hề có cái ý tưởng phá hoại mà tôi sẽ tạo ra. Tôi đã thốt ra một cái gì của những lời ám chỉ mà tôi không hề ý thức vào cái phút giây nói nó ra. Tôi đã bị sự yếu đuối đè bẹp, có phần khôn ngoan nhưng cái động lực thì hiểm độc và nó trở nên không thể tránh được. Tôi đã phạm một lỗi nhẹ và cái hành động tàn ác vô cố mà gã lại coi như một sự phán xét.

Lúc bấy giờ tôi đã mong sao cho gã trở nên tức giận như chống chế mình và mắng nhiếc tôi như thế nào! Gã không làm gì chuyện ấy cả – tôi phải làm lấy tất cả những chuyện ấy cho mình. Gã sẽ mỉm cười nếu gã có thể cười được, và thật ra thì gã nhận thấy rằng điều ấy không thể là cái chứng cớ chắc chắn nhất tôi đã làm gã tổn thương sâu xa như thế nào.

Bởi việc chấp nhận cái cú xốc này ở tôi một cách lặng lẽ như thể một đứa học trò vô liêm sỉ và vô ơn của gã, bởi việc giữ im lặng và chấp nhận rằng tôi đã nói đúng, bởi việc chấp nhận những lời nói của tôi như định mệnh của gã, gã còn làm cho tôi ghét gớm mình và làm gia tăng thêm sự khinh xuất của tôi nữa. Khi tôi đã thoi một cú, tôi nghĩ rằng mình sẽ coi một cú mạnh, của con người có võ – gã hóa ra một kẻ im lặng, thụ động, một người không tự vệ, đầu hàng không một lời phản kháng.

Bởi vì một lúc lâu chúng tôi ở lại trước ngọn lửa tàn, mà mỗi hình thể ánh sáng lóe ra, mỗi nhánh củi nhỏ vặn vẹo nhắc tôi nhớ lại những giờ phong phú của chúng tôi và làm tăng thêm cái ý thức phạm tội của tôi đã mắc phải với Pistorius. Sau cùng tôi không thể chịu đựng lâu hơn nữa. Tôi đứng dậy và bỏ đi. Tôi đứng một lúc lâu trước cánh cửa căn phòng gã, một lúc lâu trên thang lầu tối tăm, và còn đứng lâu hơn nữa ở bên ngoài nhà gã nghe ngóng xem thử gã có đi theo tôi không. Rồi tôi quay đi và bách bộ hàng giờ qua thành phố, qua các vùng ngoại ô, qua các công viên và đồi núi cho mãi đến tối. Trong khi ấy lần đầu tiên tôi cảm thấy cái dấu vết của anh chàng Cain ở trên trán tôi.

Chỉ lần hồi tôi mới có thể nghĩ lại một cách rõ ràng về những gì xảy ra. Thoạt tiên những ý nghĩ của tôi đầy những sự trách móc, có ý định bênh vực Pistorius. Nhưng tất cả những điều ấy hóa ra đối nghịch với ý muốn của tôi. Cả ngàn lần tôi đã sẵn sàng hối hận và rút lại sự phát biểu dại dột của tôi – song nó đã là sự thật. Chỉ giờ đây tôi mới thu xếp để hiểu Pistorius một cách hoàn toàn và đã thành công trong việc cấu tạo toàn thể giấc mơ của gã trước mắt tôi. Giấc mơ này là muốn được thành một tu sĩ, để công bố một nền tôn giáo mới, đưa ra những hình thức mới của việc tán dương, của tình yêu, sự tôn sùng, để dựng nên những biểu tượng mới. Nhưng việc này, không phải là khả năng của gã và nó cũng không phải là công việc của gã. Gã đã kéo dài việc tin vào quá khứ một cách ngây ngô, kiến thức của gã về cái quá khứ này thì cũng chính xác, gã biết quá nhiều về Ai cập và Ấn độ, Mithras và Abraxas. Tình yêu của gã buộc chặt vào với những hình ảnh của mặt đất đã thấy được trước đó và tuy vậy, cũng tận trong tâm hồn gã, gã nhận ra rằng cái mới đó phải là cái thực sự mới và cá biệt, rằng nó phải vọt lên từ miếng đất mới và không thể lấy ra từ các bảo tàng viện và thư viện. Công việc của gã có lẽ là để dẫn dắt con người đến với chính bản thân họ như gã đã hướng dẫn tôi. Cung cấp cho họ với cái điều chưa từng nghe thấy đó là những vị thần mới, đấy không phải là công việc của gã.

Ở điểm này một sự trực nhận rốt ráo đã bùng cháy trong con người tôi; mỗi người có “phận sự” của hắn nhưng không một ai có thể chọn lựa chính bản thân hắn, xác định hay thi hành khi hắn thích thú muốn như vậy cả. Việc ao ước những vị thần mới đó là một điều sai lầm, hoàn toàn sai lầm khi muốn cung cấp cho thế giới một cái gì. Một con người giác ngộ là người chỉ có một bổn phận duy nhất tìm kiếm ra con đường cho bản thân mình, để đạt tới nội tâm xác thật, mò mẫm tiến tới con đường của hắn, bất kể nó đưa dắt đến đâu. Sự trực nhận này làm tôi xúc động một cách thâm trầm, đó là quả của cái kinh nghiệm này. Tôi thường hay suy nghĩ với những hình ảnh của tương lai, mơ tưởng đến các vai trò mà tôi có thể được chỉ định, có lẽ như một thi sĩ hay nhà tiên tri, hay một họa sĩ hoặc một cái gì tương tự.

Tất cả đều vô ích. Tôi không thể hiện hữu để làm thơ, để giảng đạo hay để vẽ, tôi cũng không là bất cứ ai khác cả. Tất cả chỉ là sự tình cờ. Mỗi người có một khuynh hướng rõ ràng – là tìm kiếm ra con đường cho chính mình. Hắn có thể chung cục như một thi sĩ hay gã điên, như nhà tiên tri hay một tội phạm – đó không phải là công việc của hắn, không liên quan gì đến chung cục cả. Công việc của hắn là để khám phá ra cái định mệnh của hắn – không phải là một định mệnh độc đoán – và sống hết mình và cương quyết ở bên trong người hắn. Tất cả mọi điều khác chỉ là một sự tự nhận hiện hữu, một cố gắng đào thoát, một sự bay bổng trở lại với những ý kiến của đám đông, sự phù hợp với nỗi sợ hãi cái tính chất của mình. Một ảo tưởng mới nổi dậy trước mặt tôi, thoáng thấy hằng trăm lần, có lẽ còn diễn ra ngay cả trước đây, nhưng hiện giờ kinh nghiệm bởi tôi lần thứ nhất. Tôi là một thực nghiệm trong một phần của thiên nhiên, một trò chơi trong vòng vô danh; có lẽ cho một mục đích mới, có lẽ không là gì cả, và công việc duy nhất của đời tôi là cho phép trò chơi này, trong một phần sâu thẳm ban sơ bắt lấy sự tiến triển của nó, để cảm thấy nó sẽ tràn đầy trong người tôi và làm cho nó tất cả là tôi. Thế đó, hay không là gì cả!

Tôi đã từng cảm thấy nhiều nỗi cô đơn, hiện giờ vẫn còn có một nỗi cô đơn sâu xa không thể trốn thoát được.

Tôi không hề cố gắng ở sự hòa giải với Pistorius. Chúng tôi vẫn là bạn hữu nhưng mối giao tiếp đã thay đổi. Song le điều này là một cái gì chúng tôi chỉ mới đụng chạm đến có một lần; hiện Pistorius là kẻ cô đơn đã làm như vậy. Gã nói:

“Cậu biết rằng tôi có ước vọng trở thành một tu sĩ của một nền tôn giáo mà cậu và tôi đã có nhiều cáo tri đến như vậy. Vai trò đó sẽ không bao giờ là tôi – tôi nhận ra rằng một khi tôi còn biết được cả đến cái điều nó không chấp nhận mình. Vậy nên thay vì thế lại thi hành những nhiệm vụ thuộc về tu sĩ khác, có lẽ ở chiếc đàn đại phong cầm, có lẽ ở một vài đường lối khác. Nhưng tôi luôn luôn phải có những điều gì xung quanh tôi mà tôi cảm thấy chúng là tốt đẹp và thiêng liêng, âm nhạc của đại phong cầm và những phép thần bí, các biểu trưng và những thần thoại. Tôi cần và không thể từ bỏ chúng. Đấy là nhược điểm của tôi, Sinclair ạ, đôi khi tôi biết rằng tôi không nên có những ước vọng như thế, rằng chúng là yếu đuối và xa xỉ. Sẽ là độ lượng và đúng hơn nếu tôi đặt mình một cách thành thật ở sự quyết định của định mệnh. Nhưng tôi không làm thế, tôi không có khả năng làm việc ấy. Đấy là điều khó khăn, đấy là điều thật sự khó khăn duy nhất. Tôi thường hay nằm mộng làm như thế, nhưng tôi không thể làm được; cái ý tưởng ấy làm tôi tràn ngập một nỗi hoảng sợ; tôi không có khả năng đương đầu trơ trọi và đơn độc như vậy. Tôi cũng là một sinh vật yếu đuối, nghèo nàn, cần đến sự ấm áp và thực phẩm và có cơ hội cũng cần đến điều an lạc của tình thân hữu của con người. Một kẻ nào đó hắn không tìm kiếm gì cả, nhưng định mệnh riêng rẽ của hắn không còn có bất cứ những kẻ đồng hành nào, hắn hoàn toàn đứng đơn độc và chỉ có toàn thể cái khoảng không gian lạnh lẽo trơ trơ xung quanh hắn mà thôi. Cậu biết đó, đấy chính là Jêsus ở vườn Gethsermane. Ở đó có những kẻ tuẫn giáo, họ vui vẻ để mình đóng đinh trên cây thập tự, nhưng ngay đến những người này họ cũng không phải là những đấng anh hùng, không phải đã được giải thoát, bởi vì ngay cả cái việc họ muốn một cái gì mà họ trở nên ưa thích và đã trở thành thói quen – họ có những kiểu mẫu, họ có những lý tưởng. Nhưng con người chỉ tìm kiếm cái định mệnh của mình thì không cần đến những kiểu mẫu cũng chẳng cần đến những lý tưởng nữa, không có gì là yêu dấu và an ủi cả! Và hiện cái điều này là một lộ trình mà người ta nên theo đuổi. Những người như cậu và tôi thì hoàn toàn cô đơn thực sự đấy, nhưng chúng ta vẫn còn có nhau, chúng ta có sự kín đáo hài lòng ở sự khác biệt của tinh thần nổi loạn, của cái ước muốn lạ thường. Nhưng cậu phải lột bỏ cả điều ấy nữa, nếu cậu muốn đi suốt con đường đến cùng. Cậu không thể cho phép mình trở thành một nhà cách mạng, một kiểu mẫu, một kẻ tuẫn giáo. Điều ấy vượt quá trí tưởng tượng.”

Phải, đấy là điều vượt quá trí tưởng tượng. Nhưng điều ấy có thể mơ mộng, dự liệu, ý thức đến. Một vài lần tôi đã có cái mặc khải đó – trong hằng giờ tuyệt đối tĩnh lặng. Lúc đó tôi chăm chú nhìn vào con người tôi và đối đầu với cái hình ảnh của định mệnh của tôi. Cặp mắt nó sẽ đầy khôn ngoan, đầy điên khùng, chúng sẽ lộ vẻ yêu thương hay hiểm độc khôn lường, hết thảy cũng đều như nhau cả. Cậu không được phép chọn lựa hay ước muốn bất cứ một điều nào trong những điều ấy. Cậu chỉ được phép ao ước cho bản thân mình, là cái định mệnh của cậu mà thôi. Ở điểm này, Pistorius đã là người hướng dẫn tôi.

Trong những ngày nọ tôi đã từng đi vơ vẩn tuồng như tôi bị mù lòa. Tôi cảm thấy những nỗi thất vọng điên cuồng – mỗi bước là một bước hiểm nghèo mới mẻ. Trước mắt tôi không thấy gì cả, ngoại trừ cái bóng tối không thể dò được, mà tất cả những con đường dẫn dắt tôi mãi đến hiện giờ đã tan biến. Và trong người tôi, tôi thấy hiển hiện lên hình ảnh của bậc thầy, kẻ giống với Demian, là trong cặp mắt của y định mệnh tôi đã được viết ra.

Tôi viết trên một mảnh giấy: “Người dẫn đường đã bỏ tôi. Tôi bị vây phủ trong bóng tối. Tôi không thể nào lại cất bước một mình. Hãy giúp tôi.”

Tôi muốn gửi mảnh giấy này đến Demian nhưng rồi không gửi. Mỗi lần tôi muốn gửi, thì việc ấy trông vớ vẩn và vô ý thức. Nhưng tôi thuộc lòng bài kinh cầu nguyện ngắn của tôi và thường đọc đoạn kinh ấy lên cho mình nghe. Hằng giờ trong ngày tôi đọc đoạn kinh ấy. Tôi đã bắt đầu hiểu biết.

Những ngày học hành của tôi đã qua. Tôi sẽ đi du ngoạn trong dịp nghỉ học của tôi – ý kiến của phụ thân tôi – và rồi thi vào một đại học. Nhưng tôi không biết tôi sẽ học môn gì. Tôi được đặc hứa theo ước muốn của tôi: một khóa học triết lý. Bất cứ môn học nào khác cũng được làm như vậy.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.