Tuổi Trẻ Băn Khoăn - Chương 7

VII. Eva

Một dạo trong cuộc nghỉ hè của tôi, tôi đến thăm căn nhà nơi mấy năm trước đây Demian và mẹ hắn đã trú ngụ ở đó. Tôi thấy một bà cụ đang đi thơ thẩn trong vườn, và ngỏ chuyện với cụ thì biết đó là căn nhà của cụ. Sau đó tôi hỏi thăm gia đình Demian. Bà cụ nhớ họ rất tường tận nhưng không thể nói với tôi nơi họ cư ngụ hiện thời. Để ý đến sự chú tâm của tôi, cụ dắt tôi vào nhà mang ra một tập dán ảnh bằng da, cho tôi xem bức hình của thân mẫu Demian. Tôi khó có thể nhớ lại bà trông giống ai, nhưng bây giờ khi tôi thấy bức chân dung nhỏ nhoi của bà, tim tôi đứng lặng: đó là hình ảnh giấc mơ của tôi! Chính là bà, người đàn bà gần như thuộc phái nam, cao lớn, giống với con trai bà, với những đặc chất thuộc về mẹ, nghiêm trang, tình thương thắm thiết: đẹp và quyến rũ, kiều diễm và không thể đến gần được, daemon và người me, định mệnh và người yêu. Ở bà không có gì lầm lẫn được Khám phá ra trong cách thức này thì đó là hình ảnh giấc mơ của tôi từng có, đã xúc động tôi như một phép nhiệm mầu. Vậy ra có một người đàn bà trông giống như vậy, mà bà ta mang chứa những đặc tính của định mệnh của tôi! Và là mẹ của Demian. Bà ở đâu?

Không lâu ngay sau đó tôi đáp tàu cho cuộc du ngoạn của tôi. Thật là một cuộc hành trình lạ thường! Tôi đã lãng du không ngừng nghỉ từ nơi này đến nơi nọ, dõi theo mỗi động lực, luôn luôn tìm kiếm người đàn bà này. Có những ngày khi mọi người tôi gặp gỡ gợi tôi nhớ đến bà, vang vọng hình ảnh bà, có vẻ giống với bà, lôi cuốn tôi đi qua các đường phố của những đô thị xa lạ, qua những nhà ga và lên những chuyến xe lửa như trong một giấc mơ hỗn tạp. Có những ngày khác, tôi nhận ra sự hoài công ở việc tìm kiếm của tôi. Lúc bấy giờ tôi sẽ uể oải ngồi xuống một nơi nào đó trong công viên hoặc tại một khu vườn ở khách sạn, trong căn phòng đợi, cố gắng làm cho cái hình ảnh sống động trong con người tôi. Nhưng nó trở nên do dự và dễ thoái thác. Tôi nhận thấy không thể nào ngủ được. Chỉ trong khi du hành trên chuyến xe lửa tôi mới có thể ngủ được một giấc ngắn ngủi. Một lần ở Zurich, một người đàn bà tiến về phía tôi, một sinh vật đẹp lộ liễu. Tôi khó lòng mà không chú ý đến bà ta và đi qua mặt bà như bà không hề hiện diện. Tôi thà cam chịu chết ngay còn hơn là chú ý đến người đàn bà nào khác, dù chỉ một giờ thôi.

Tôi cảm thấy cái định mệnh của tôi tiếp tục lôi kéo tôi, tôi cảm thấy cái giây phút thỏa lòng mong ước của tôi đang đến gần và tôi bực bội nao nức ở chỗ không thể làm bất cứ điều gì. Một lần tại một nhà ga xe lửa, tôi nghĩ có lẽ ở tại Innsbruck, tôi thoáng thấy một người đàn bà mà thị gợi tôi nhớ đến bà – trên một chuyến xe lửa đang chuyển bánh. Tôi đã khốn khổ trong nhiều ngày. Và bỗng nhiên về đêm hình ảnh lại xuất hiện trong giấc mơ. Tôi thức giấc cảm thấy xấu hổ và ngã lòng bởi cuộc săn đuổi vô ích của tôi và lấy vé chuyến tàu kế đó về quê.

Một vài tuần sau tôi ghi tên vào đại học H. Tôi nhận thấy mọi sự đã biến mất. Những bài giảng về lịch sử triết học đúng là sự nhạt nhẽo và khô cỗi như các hoạt động của hầu hết các sinh viên. Mọi sự dường như chạy theo một nền nếp cũ kỹ, mọi người thì đang làm cùng một công việc; và sự vui vẻ quá đáng trên những khuôn mặt trẻ con trông trống trải và máy móc một cách chán nản. Nhưng ít ra tôi được tự do, tôi có suốt cả ngày với mình, sống lặng lẽ và êm ả trong một căn nhà cũ, kỹ gần bức tường thành phố, và trên bàn tôi có một vài tác phẩm của Nietzsche. Tôi sống với ông ta, ý thức đến nỗi cộ đơn của linh hồn ông, nhận ra cái định mệnh đã xô đẩy ông trong đó một cách tàn nhẫn; tôi đã khốn khổ với ông ta, và đã lấy làm khoan khoái là đã từng có một người đã theo đuổi định mệnh của mình một cách cay nghiệt đến như thế.

Xế chiều tôi lang thang qua thành phố, một cơn gió thu đang trổi giọng và tôi có thể nghe sự nô đùa của các bạn học trong các quán cơm. Những làn khói thuốc bay ra ngoài cửa sổ tựa như những đám mây với cái âm điệu huyên náo ồn ào của bài hát, tuy vậy chẳng có hứng thú gì, vì âm điệu ấy đều cùng một giọng nhạt nhẽo.

Tôi đứng ở góc phố và lắng nghe: hai giọng ca tập thử linh hoạt có phương pháp của bọn trẻ vang lên dội lại đêm tối. Sự tương giao giả dối có ở khắp mọi nơi, khắp mọi nơi đang toát ra cái trách nhiệm của định mệnh, tìm bay về bầy đàn ấm cúng.

Hai người đàn ông chậm chạp đi qua phía sau tôi. Tôi nghe được một vài lời cuộc nói chuyện của họ.

“Nó không giống y như căn nhà của những thanh niên ở trong làng của thổ dân sao?,” một trong hai người nói. “Mọi sự làm cho thích nghi với tục xâm mình mà nó lại được hoan nghênh nữa chứ. Xem kìa, tuổi trẻ Âu châu đấy.”

Giọng nói vang lên cách kỳ lạ và nhắc lại rằng giọng ấy quen thuộc. Tôi rảo bước theo hai người, đi xuống con đường nhỏ hai bên có hàng rào tối tăm. Một trong hai người là người Nhật, nhỏ thó và xinh xắn. Dưới ngọn đèn đường tôi thấy khuôn mặt màu vàng của y thắp sáng trong nụ cười.

Người kia bây giờ lại lên tiếng:

“Tôi tưởng tượng nó cũng tệ hại như nơi anh đến, ở Nhật. Tại khắp mọi nơi, con người không hùa theo bè nhóm lao xao rất là hiếm hoi. Tại đây cũng có một số.”

Tôi cảm thấy một cảm giác lẫn lộn giữa sự loan báo và niềm vui ở mỗi lời nói. Tôi đã biết người nói. Đó là Demian! Tôi đi theo hắn và người Nhật qua những đường phố lộng gió: lắng nghe cuộc đàm đạo của họ, tôi thưởng thức cái âm thanh giọng nói của Demian. Giọng nói ấy vẫn còn cái âm điệu quen thuộc; tính cách đích xác quyến rũ cố hữu tương tự, giọng êm đềm nhưng hùng tráng của nó xưa kia đã từng chinh phục tôi. Giờ đây tất cả đã hoàn hảo. Tôi đã tim ra hắn.

Ở cuối phố trong vùng phụ cận ngoại ô, người Nhật chia tay và y mở cửa căn nhà của y. Demian quay gót trở lại đường cũ, tôi dừng lại và chờ đợi hắn ở giữa phố. Tôi trở nên rất bối rối khi tôi thấy hắn tiến tới, thẳng đứng với bước dẻo dai, trong chiếc áo mưa màu nâu! Hắn tiến đến gần hơn mà không thay đổi bước đi mãi đến khi hắn dừng lại một vài bước trước mặt tôi. Rồi hắn dở nón ra và để lộ khuôn mặt có làn da nhợt nhạt cố hữu với cái miệng quả quyết và vầng trán mênh mông sáng chói đặc biệt của hắn.

“Demian,” tôi kêu lên.

Hắn đưa tay ra.

“Thế ra Sinclair đấy à! Tôi đang đợi cậu đây”.

“Anh có biết tôi ở đây không?”

“Tôi không biết chắc nhưng rõ ràng là tôi mong cậu có mặt. Tôi không thấy tăm dạng cậu đâu cho mỗi tới chiều nay. Đôi khi cậu hoàn toàn theo dõi chúng tôi?"

"Anh có nhận tôi ra ngay không?"

"Dĩ nhiên! Bề nào cậu cũng đã thay đổi. Nhưng cậu đã có cái dấu!”

“Cái dấu à. Thứ dấu gì thế!”

“Trước đây chúng ta vẫn thường gọi nó là cái dấu của Cain – nếu cậu có thể vẫn còn nhớ. Đó là cái dấu của chúng ta. Đó là vì lẽ gì tôi trở thành bạn của cậu. Nhưng hiện giờ thì cái dấu ấy trở nên rõ ràng hơn.”

“Tôi không để ý đến điều đó. Hay là hiện giờ, phải, có lần tôi đã vẽ chân dung của anh, Demian ạ, và lấy làm ngạc nhiên là bức chân dung ấy nó cũng giống tôi nữa. Đó là cái đấu đấy à?”

“Nó đấy; thật tiện là cậu có mặt tại đây. Mẹ tôi cùng hài lòng nữa.”

Bỗng nhiên tôi hoảng sợ.

“Mẹ anh à? Bà cũng có ở đây? Nhưng bà không biết tôi mà.”

“Nhưng bà có nghe nói về cậu. Bà sẽ nhận ra cậu dù tôi không nói cậu là ai. Một thời gian dài chúng tôi không hay biết gì hết về cậu,”

“Thường khi tôi muốn viết cho anh nhưng việc ấy không ích lợi gì. Đôi khi tôi biết rằng tôi sẽ tìm ra anh ngay. Tôi đã chờ đợi việc ấy mỗi ngày."

Hắn choàng tay qua người tôi và cùng bách bộ với tôi. Cái không khí yên tĩnh vây phủ người hắn dã làm tôi cảm kích. Chẳng bao lâu chúng tôi tán chuyện như chúng tôi vẫn thường nói với nhau trong những ngày qua. Những ý tưởng của chúng tôi quay lại cái thời gian chúng tôi cùng ở trường học, những giờ học kinh kiên tín và cùng quay lại cuộc họp mặt bất hạnh cuối cùng trong kỳ nghỉ hè của tôi, Chỉ nói đến thời kỳ trước nhất và mối ràng buộc thân thiết nhất của chúng tôi thôi, câu chuyện tình cờ xảy ra với Franz Kromer, không bao giờ được đề cập đến.

Bỗng nhiên chúng tôi nhận thấy mình ở giữa một cuộc đàm thoại kỳ lạ, đề cập đến nhiều đề mục bất tường. Trở lại nơi Demian bỏ đi trong cuộc nói chuyện của hắn với người Nhật, chúng tôi đã bàn bạc đến lối sống của phần lớn các sinh viên, rồi nồi đến một cái gì khác, một cái gì có vẻ lạc đề. Tuy nhiên trong những lời nói của Demian có một sự chắp nối thân thiết trở nên rõ ràng.

Hắn nói đến tinh thần Âu châu và những dấu hiệu của các thời đại, ở khắp mọi nơi, hắn nói, chúng ta có thể quan sát sự thống trị của cái bản năng bè phái, không nơi nào có tự do và yêu thương, tất cả mối liên lạc giả ngụy này – từ những đoàn thể cho tới những hợp xướng đội và chính các quốc gia – có một sự phát triển không thể tránh được là một cộng đồng sinh ra sợ hãi và hoảng hốt, bên ngoài thì bối rối, luống cuống nhưng bên trong thì thối tha, rách nát, gần sụp đổ.

“Mối liên lạc chân thật,” Demian nói, “là điều tốt đẹp.” Nhưng những gì chúng ta thấy đang phô trương ở khắp mọi nơi thì không có chi cho thứ ấy cả. Cái tinh thần thực sự nó sẽ đến từ cái kiến thức chia cách cá nhân có một mặt khác và có lúc nó sẽ chuyển hóa thế giới. Tinh thần dân chúng ở thời hiện tại chỉ là một diều bày tỏ cái bản năng phe phái bè nhóm mà thôi. Người ta xông vào vòng tay với nhau chỉ vì họ sợ lẫn nhau, chủ nhân theo phe chủ nhân, công nhân theo phe công nhân, học giả theo phe học giả! Và tại sao họ sợ hãi? Cậu chỉ sợ hãi nếu cậu không hòa điệu với bản thân cậu. Người ta sợ bởi vì họ không bao giờ chịu nhận lỗi lầm của mình. Cả một xã hội đã làm nên những người sợ hãi cái vô danh trong con người họ! Tất cả bọn họ đều ý thức rằng những lề luật đều hướng cuộc sống của họ không còn kiên cố nữa, rằng họ sống lệ thuộc vào những lề luật cổ hủ, chẳng phải tôn giáo mà cũng không phải nền đạo đức của họ dù sao đã ngã theo những nhu cầu hiện tại. Bởi vì hằng trăm năm hay hơn nữa Âu châu không làm gì cả, ngoại trừ việc nghiên cứu và xây dựng những xưởng máy! Họ biết một cách đích xác bao nhiêu gam bột giết chết một mạng người nhưng họ không biết cầu nguyện Thượng đế như thế nào, họ còn không biết cả đến việc làm thế nào có lấy một giờ đồng hồ đơn thuần thỏa mãn hạnh phúc. Hãy xem anh chàng sinh viên hối hả kia! Hoặc phương cách nơi kẻ giàu có tụ tập lại với nhau. Đó là điều vô vọng, Sinclair thân mến, không có gì tốt lành có thể đến từ tất cả những điều này. Những kẻ mà bọn họ chen chúc với nhau trong nỗi sợ hãi đây thì đã đầy tràn nỗi kinh hoàng và ác độc, không ai tin cậy lẫn nhau. Họ khao khát các lý tưởng mà các lý tưởng ấy không còn nhưng họ sẽ săn đuổi con người mà y tạo ra một điều mới mẻ cho đến chết. Tôi có thể cảm thấy sự tranh chấp đang tới. Nó đang tiến tới, tin tôi đi và chẳng lâu la gì đâu. Dĩ nhiên nó sẽ chẳng cải thiện thế giới. Có thể là các công nhân giết chết các kỹ nghệ gia hoặc có thể nước Đức tuyên chiến với Nga, điều ấy sẽ chỉ có nghĩa là một sự thay đổi người cầm đầu mà thôi. Nhưng nó không phải là vô ích cả đâu. Nó sẽ tiết lộ sự phá sản của những lý tưởng hiện thời, rồi sẽ có một cuộc cuốn phăng đi của những vị thần thời thạch khí. Thế giới, như nó hiện nay, cần được hủy diệt, cần phải tan biến – và nó sẽ như vậy.

“Và trong cuộc tranh chấp này những gì sẽ xảy đến cho chúng ta?”

“Chúng ta à? Ồ, có lẽ chúng ta cũng sẽ bị hủy diệt. Hạng người của chúng ta cũng có thể bị bắn lắm! Chúng ta chỉ không bị hủy diệt dễ dàng như tất cả điều ấy thôi. Xung quanh những gì còn lại với chúng ta, xung quanh những con người của chúng ta còn tồn tại đó, cái ý chí tương lai sẽ tập họp lại. Ý chí của nhân loại mà Âu chau có lúc đã hạ thủ nó với cái kỹ thuật học điên rồ, sẽ được đặt lên hàng đầu trở lại. Và rồi việc đó sẽ trở nên hiển nhiên là ý chí của nhân loại là hư không – và chẳng bao giờ – đồng nghĩa với cái ý chí của các hội đoàn hiện nay, những quốc; gia và dân tộc, những hội đoàn và các giáo hội. Không, những gì Tạo hóa muốn con người hiện diện không thể nào xóa bỏ được, đã được viết ra trong cá nhân, trong cậu, trong tôi. Nó được viết trong cuộc sống của Jêsus, nó đã được viết trong tác phẩm của Nietzsche. Những xu hướng này – nó là những xu hướng quan trọng nhất, dĩ nhiên, nó có thể gánh vác những hình thức khác biệt mỗi ngày – sẽ có chỗ để hô hấp một lần cho những hội đoàn hiện tại bị sụp đổ.”

Khi chúng tôi dừng lại trước khu vườn cạnh dòng sông thì trời đã tối.

“Đây là nơi chúng tôi cư ngụ,” Demian nói. “Cậu nên đến thăm chúng tôi ngay. Chúng tôi đã chờ đợi cậu.”

Rất đỗi vui mừng tôi đi một đoạn đường dài về qua đêm tối, giờ đây đã trở nên lạnh lẽo. Đó đây nhà các sinh viên đang quay cuồng ồn ào ở phía bọn họ. Tôi thường để ý đến sự mâu thuẫn giữa sự vui vẻ gần như buồn cười của họ và sự hiện điện của nỗi cô đơn của tôi, đôi khi khinh miệt, đôi khi với mọi cảm giác mất mát. Nhưng cho mãi đến hôm nay chưa bao giờ tôi cảm thấy một sự yên tĩnh nhiều như thế và cái sức mạnh bí mật nhỏ nhoi đã có quan hệ với tôi như thế nào, cái sự hoang vắng chết chóc với cái thế giới này đối với tôi ra sao. Tôi nhớ đến những công chức ở thành phố quê hương tôi, những ông cụ đứng đầu, xứng đáng, họ bám vào những ký ức của những ngày đại học say sưa của họ như để làm vật kỷ niệm từ thiên đàng và đã làm theo cách thức thờ phượng những năm sinh viên “biến mất” của họ như những thi sĩ hay thích nghi với những sự lãng mạn khác thời hoa niên,của họ. Điều ấy tương tự ở khắp mọi nơi. Khắp mọi nơi họ tìm kiếm tự do và vận may trong quá khứ chỉ vì hoảng sợ những trách nhiệm hiện tại và dòng tương lai của họ. Họ chè chén nhậu nhẹt say sưa trong ít năm và rồi họ lẩn trốn để trở thành một người đứng đắn nghiêm trang trong công vụ của nhà nước. Phải, xã hội chúng ta đã thối nát, và những điều ngu xuẩn của những sinh viên này không đến nỗi tệ hại như hàng trăm điều khác đâu.

Vào lúc tôi đã đến căn nhà xa tắp của tôi và sửa soạn đi ngủ, tất cả những ý nghĩ này đã biến mất và toàn thể con người tôi bám víu vào việc trông mong điều hứa hẹn lớn lao mà hôm nay đã mang tôi đến. Ngay sau khi tôi đã ước ao, cả đến ngày mai, tôi đến thăm mẹ Demian. Thây kệ những sinh viên họ cứ chè chén say sưa cuồng lạc và xăm mặt xăm mày họ: thế giới thối nát có thể chờ đợi sự hủy diệt của nó – bởi vì tất cả tôi đã bận tâm rồi, Tôi dang chờ đợi một điều – là được thấy bước chân định mệnh của tôi tiến tới trong một trá hình mới mẻ.

Tôi ngủ say mãi đến sáng bửng. Ngày mới ló dạng với tôi y như một cuộc lễ trọng thể, một điều mà tôi chưa hề trải qua kể từ thời hoa niên của tôi. Tôi tràn ngập một nao nức vô bờ, song không hề sợ sệt bất cứ điều gì cả. Tôi cảm thấy rằng một ngày quan trọng đã bắt đầu với tôi và tôi đã thấy và kinh nghiệm sự biến đổi thế giới xung quanh tôi. chờ đợi, đầy ý nghĩa và nghiêm trọng; ngay cả trận mưa thu cũng có cái đẹp của nó và một không khí tĩnh lặng và hoan hỉ đầy hạnh phúc, âm nhạc thiêng liêng. Bởi vì lần thứ nhất cái thế giới bên ngoài đã hòa hợp một cách hoàn hảo với thế giới bên trong; nó là một niềm vui đang sống động. Không nhà cửa, không cửa sổ, tiệm quán, không một khuôn mặt quấy rầy tôi, mọi sự thì như nó là vậy, không hề có bất cứ cái gì phẳng phiu, cái nhìn buồn tẻ vô vị hằng ngày; mọi sự là một phần của Tạo hóa, chờ đợi và sẵn sàng đương đầu với định mệnh cua nó với lòng sùng kính. Đó là điều thế giới đã xuất hiện với tôi trong một buổi sáng như thế nào khi tôi còn là một đứa bé, vào những ngày đại lễ, Giáng sinh hay Phục sinh. Tôi đã quên rằng vũ trụ có thể vẫn còn đáng yêu như thế. Tôi đã trưởng thành, quen sống với nội tâm của mình. Tôi đã từ bỏ sự hiểu biết cho rằng tôi đã đánh mất tất cả sự nhận xét đúng đắn thế giới bên ngoài, rằng sự mất mát màu sắc rực rỡ của nó là một phần bất khả phân ly của sự mất mát của thời thơ ấu của tôi, và như thế, trong một ý thức nhất định nào đó, người ta phải trả giá pho sự tự do và sự già giặn của linh hồn với sự từ bỏ cái hương vị âu yếm này. Nhưng giờ đây, niềm vui tràn ngập, tôi thấy tất cả điều này chỉ bị khuất lấp hoặc bị bao phủ mà thôi và nó vẫn còn có thể – ngay cả việc bạn trở nên được giải thoát và từ bỏ lạc thú ấu thời của bạn – thấy rằng thế giới đã chiếu sáng và để nếm trải cái rùng mình khinh khoái của cái ảo tưởng trẻ thơ.

Giây phút đó đã đến khi tôi nhận ra con đường tôi đi trở lại khu vườn ở ven bìa thành phố nơi tôi chia tay với Demian đêm trước. Ẩn mình sau hàng cây cao ẩm ướt là căn nhà nhỏ, sáng rực và có thể ở được, ở phía sau tấm kiếng có những cây mọc cao lên, đã trổ hoa: phía sau những cánh cửa sổ lóng lánh, các bức vách chiếu sáng những bóng hình và những chồng sách. Cánh cửa trước dẫn thẳng vào tiền sảnh nhỏ, gọn ấm cúng. Một bà vú già lặng lẽ, mặc bộ đồ đen quàng chiếc yếm trắng, chỉ lối vào và đem treo chiếc áo khoác của tôi.

Bà để tôi một mình trong căn phòng trước. Tôi nhìn quanh quất và lập tức bị lôi cuốn vào giữa giấc mơ của tôi. Mãi trên bức vách cẩn ván phía trên cánh cửa tối tăm, có treo một bức hình quen thuộc, hình con chim sẻ diều hâu của tôi với cái dầu vàng óng đang cố gắng nhô ra khỏi cái vỏ địa cầu. Vô cùng xúc động, tôi đứng bất động ở đó – tôi cảm thấy vui sướng và đau đớn như thể ở giây phút ấy mọi điều tôi chưa hề trải qua đã quay về với tôi trong một hình thức của một sự hồi âm và thành tựu. Trong một thoáng tôi thấy vô số hình ảnh lướt qua cặp mắt tư tưởng của tôi: ngôi nhà song thân tôi với tấm huy chương cũ kỹ trên lối vào cổng, anh chàng Demian đang vẽ bức họa tượng trưng, chính tôi như một cậu bé bị áp đảo dưới sự hoảng sợ kẻ thù tôi là thằng Kromer, chính tôi như một đứa trẻ ngây thơ trong lớp học ở nhà trường đang vẽ con chim ở chiếc bàn tĩnh mịch, linh hồn thì bị sự phức tạp rắc rối lấy trong những nỗi đe dọa của nó và mọi sự, mọi sự đối với cái giây phút hiện tại này đây một lần nữa, lại dậy lừng trong con người tôi, được xác định bởi tôi, đã lên tiếng đáp lời, đã được chuẩn nhận.

Với cặp mắt đầy lệ tôi nhìn trân trối vào bức họa của tôi và đọc trong nội tâm mình. Rồi tôi đưa mắt nhìn xuống dưới bức họa con chim, trong cánh cửa mở hiện diện người đàn bà cao lớn trong bộ y phục đen. Đó là bà.

Tôi không thể thốt nên lời. Với khuôn mặt giống với con trai bà, phi thời gian, phi tuổi tác, và đầy sức mạnh nội tâm, người đàn bà xinh đẹp mỉm cười với vẻ đường bệ. Cái nhìn chăm chú của bà thì trọn vẹn, lời chào hỏi của bà có vẻ như chào đón một sự trở về với gia đình. Một cách im lặng tôi duỗi hai tay tôi cho bà. Bà bắt lấy cả hai bàn tay trong đôi tay ấm áp cứng rắn của bả.

“Cậu là Sinclair. Tôi nhận ra cậu ngay, mừng cậu.”

Giọng bà trầm và ấm. Tôi uống giọng nói ấy như uống thứ rượu chát hương vị ngọt ngào. Và giờ đây, tôi nhìn lên khuôn mặt điềm tĩnh, của bà, cặp mắt đen huyền không thể dò xét được, nhìn vào cặp môi đỏ thắm của bà, nhìn vào vầng trán rộng lộng lẫy của bà có mang cái dấu hiệu.

“Cháu vui sướng biết bao,” tôi nói và hôn hai tay bà. Cháu tin rằng cháu đã ở trên đường của toàn thể cuộc sống của cháu và giờ đây cháu đã trở về nhà.”

Bà mỉm cười như một người mẹ.

“Người ta chẳng bao giờ về đến quê nhà,” bà nói. “Nhưng có khi ở nơi những con đường nhỏ hẹp tiếp nối của mỗi ngã ba; toàn thể thế giới trông giống như ở quê nhà.”

Bà diễn tả những gì mà tôi đã cảm thấy trên con đường đi đến bà. Giọng nói và những lời lẽ của bà giống y với con trai bà và tuy vậy nó hoàn toàn khác hẳn. Tất cả giọng nói ấy đều chín chắn hơn, già giặn hơn, ấm áp, nồng nàn hơn, minh bạch hơn. Nhưng ngay như Max cũng không bao giờ cho bất cứ ai thấy cái ấn tượng là một cậu bé, thế nên mẹ anh ta không có vẻ gì như là một người đàn bà đã có một đứa con trai lớn cả, mái tóc và khuôn mặt bà trẻ trung và dịu dàng đến thế, làn da vàng óng của bà mơn mởn và mịn màng đến thế, cái miệng của bà tươi thắm đến thế. Bà đứng trước mặt tôi còn lộng lẫy hơn là trong những giấc mơ cửa tôi.

Như thế này, nhiên hậu, cái dáng vẻ mới mẻ mà trong đó định mệnh của tôi chính nó đã tiết lộ với tôi, không còn nghiêm khắc nữa, mà mới lạ và hoan hỉ!

Tôi không hề quyết ý, không hề phát nguyện – tôi đã được chí nguyện, một cao điểm trên lộ trình; từ đó giai đoạn kế của cuộc hành trình đã cho thấy không bị ngăn trở và tuyệt diệu, dẫn đến những miền đất hứa. Dù cho việc gì có thể xảy đến cho tôi hiện giờ đi nữa tôi cũng cảm thấy tràn ngập với niềm hân hoan cực điểm: rằng người đàn bà nầy đã tồn tại trên đời, rằng tôi có thể uống giọng nói của bà và thở sự hiện diện của bà. Có thể bà sẽ trở thành mẹ tôi, là người yêu của tôi hay là một vị nữ thần cũng khổng thành vấn đề – chỉ cần bà có mặt tại đây thôi! Chỉ cần lộ trình của tôi sẽ gần gũi với bà thôi!

Bà chỉ lên bức họa tôi.

“Cậu không bao giờ làm cho thằng Max sung sướng hơn với bức họa này,” bà nói giọng thâm trầm. “Và tôi cũng vậy. Chúng tôi đã chờ đợi cậu và khi bức họa được gửi đến, chúng tôi biết rằng cậu đã lên đường. Khi cậu còn là một đứa bé, Sinclar ạ, một hôm thằng con trai tôi ở trường học về nhà và nó nói với tôi; ở trường học có một thằng nó có cái dấu hiệu trên trán, nó đã trở thành bạn của con. Là cậu đấy. Cậu không gặp hồi đễ dãi nhưng chúng tôi tin ở cậu. Cậu đã gặp lại thằng Max vào những kỳ nghĩ hè của cậu chứ. Vào lúc ấy cậu hẳn đã vào khoảng mười sáu tuổi. Thằng Max đã nói với tôi điều ấy.”

Tôi ngắt lời: “Ảnh nói với bác về việc gì thế? Đó là một thời kỳ khốn khổ nhất của đời cháu.”

“Phải, Max có nói với tôi. Hiện giờ cái phần khó khăn nhất đang đến với Sinclair. Nó đã hơn một lần cố gắng trốn tránh giữa những kẻ khác. Cả đến việc nó còn sắp sửa bị trở ngại. Nhưng nó sẽ không thành công. Dấu vết của nó thì tối tăm nhưng một cách kín đáo nó đã làm cho nó lãnh đạm. Không phải như thế sao?”

“Phải, đúng như thế. Lúc bấy giờ cháu tìm ra Beatrice và sau cùng lại tìm ra bậc thầy. Tên ông ta là Pistorius. Chỉ lúc bấy giờ mới rõ ràng với cháu tại sao thời thơ ấu của cháu không thể nào thoát khỏi ảnh. Thưa mẹ yêu dấu lúc ấy con thường hay nghĩ rằng con cần phải đảm trách lấy đời mình. Có phải đấy là con đường khó khăn như đối với phần lớn mọi người chăng?”

Bà vuốt tóc tôi, cái vuốt ve của bà cảm nghe nhẹ nhàng như cơn gió hanh khẽ gợn.

“Đã sinh ra ở đời luôn luôn phải chịu khốn khổ. Cậu biết con gà con không tìm ra được cách thức dễ dàng để chui ra khỏi cái vỏ của nó. Hãy suy nghĩ điều đó và tự vấn mình: có phải đó là đường lối khó khăn tất cả không? Có phải đó là khó khăn duy nhất không! Có phải điều ấy nó cũng đẹp nữa? Có thể nào cậu nghĩ ra một đường lối dễ dàng và tốt dẹp hơn không?”

Tôi gật đầu.

“Đó là một điều khó khăn,” tôi nói như thể tôi ngủ mê đấy là điều vất vã cho mãi đến khi giấc mộng xảy tới"

Bà gật đầu và đâm thấu qua người tôi với cái thoáng nhìn.

“Phải, cậu phải tìm ra giấc mơ của cậu, rồi thì con đường sẽ trở nên dễ dàng. Nhưng không hề có một giấc mơ tồn tại mãi mãi đâu, mỗi giấc mơ đều xảy theo một giấc mơ khác, và người ta sẽ không bám víu vào bất cứ một giấc mơ đặc biệt nào.”

Tôi giật mình và kinh hãi. Đó có phải là một lời khuyên, một cử chỉ tự vệ, nhanh đến như vậy? Nhưng điều ấy không thành vấn đề: tôi đã sẵn sàng để cho bà hướng dẫn tôi và không dò xét những tiêu đích.

“Cháu không biết,” tôi nói, “thiết tưởng giấc mơ của cháu tồn tại bao lâu. Cháu ao ước nó có thể tồn tại mãi mãi. Định mệnh của cháu đã chấp nhận cháu dưới hình ảnh của một con chim giống như người yêu và giống như người được yêu. Cháu thuộc về định mệnh của cháu và không thuộc về ai khác cả.”

“Chừng nào giấc mơ là định mệnh của cậu, cậu sẽ vần còn trung thành với nó,” bà quả quyết trong một giọng nghiêm trang.

Tôi tràn ngập một nỗi buồn và mong được chết quách đi trong cái giờ thỏa thích này. Tôi cảm thấy trào lệ – thật là một điều đau khổ, vì lẽ sau cùng tôi đã khóc – không thể nào cầm được nước mắt giàn giụa trong mắt tôi và áp đảo người tôi. Tôi vội vàng quay khỏi một bà, bước đến cửa sổ, và nhìn đăm đăm vào khoảng xa.

Tôi nghe giọng bà vang lên đằng sau tôi, giọng điềm tĩnh tuy đầy tràn với sự dịu dàng như một cái bình nhạu với rượu vang.

“Sinclair ạ, cậu là một đứa trẻ! Định mệnh của cậu nó yêu cậu. Một ngày nào đó nó sẽ hoàn toàn thuộc về cậu – đúng ý như cậu mộng tưởng – nếu cậu vẫn kiên trì với nó.”

Tôi đã tự chủ mình được và lại quay về phía bà. Bà đưa tay ra cho tôi.

“Tôi có một ít bạn hữu,” bà nói với cái mỉm cười, “một ít bạn bè rất thân mà họ gọi tôi là Frau Eva. Cậu sẽ là một trong những người bạn ấy nếu cậu muốn.”

Bà dẫn tôi đến cửa, mở ra và chỉ ra khu vườn: “Cậu sẽ tìm thấy thằng Max ở ngoài đó.”

Tôi đứng luông cuống và run rẩy dưới những cây cao, không biết cố phải là tôi tỉnh thức hoặc mộng mị hơn bao giờ hết chăng. Mưa từ các nhánh cây thánh thót rơi xuống từng giọt. Chậm rãi, tôi đi ra khu vườn dài theo một vài đoạn đường dọc theo dòng sông. Cuối cùng tôi nhận thấy Demian. Hắn đang đứng trong căn nhà lộ thiên mùa hè, mình trần, đang treo bao cát để đấm.

Tôi dừng lại, ngạc nhiên. Demian trông tuấn tú một cách lạ lùng với cặp ngực nở rộng và bộ dạng nam nhi quả quyết: cánh tay đưa lên với những đường gân phồng mạnh dạn và có sức lực, những chuyển động thoát ra một cách linh hoạt bình thản từ mông, vai và cổ tay.

“Demian,” tôi kêu lên, “Anh đang làm gì ở đây?” Hắn cười sung sướng.

“Thực tập. Tôi hứa với anh chàng Nhật Bản một trận quyền anh, anh chàng oắt con ấy nhanh nhẹn như một con mèo, và dĩ nhiên cũng tinh quái nữa, nhưng y không thể hạ nổi tôi đâu. Có một điều rất làm mất thể diện mà tôi phải đáp lễ lại với y.”

Hắn mặc áo sơ mi và áo khoác vào.

“Cậu đã gặp mẹ tôi rồi chứ?” Hắn hỏi.

“Gặp rồi Demian ạ, anh có một bà mẹ thật là tuyệt diệu. Bà Eva! Cái tên thật hoàn toàn thích hợp với bà. Bà thì giống như một bà mẹ chung.”

Lúc ấy hắn nhìn một cách ân cần vào khuôn mặt tôi:

“Thế cậu đã biết tên bà rồi à? Cậu có thể hãnh diện với mình. Cậu là người đầu tiên bà cho biết tên trong cuộc gặp gỡ ban sơ.”

Từ ngày hôm nay trở đi tôi ra vào căn nhà như một đứa con hoặc một người em – nhưng cũng như một người nào đó được yêu. Ngay sau khi tôi mở cánh cổng, ngay sau khi tôi thoáng thấy những cây cao trong khu vườn, tôi cảm thấy hạnh phúc và phong phú. Bên ngoài là thực tại: đường phố, nhà cửa, thiên hạ và cơ quan, thư viện và các giảng đường – nhưng bên trong chốn này là yêu thương, tại nơi đây giấc mơ vá huyền thoại đã sống. Và tuy vậy chúng tôi không hề sống gián đoạn với thế giới bên ngoài, và các cuộc đàm thoại và ý nghĩ của chúng tôi, chúng tôi thường sống giữa nó, chỉ trong một bình diện hoàn toàn khác hẳn. Chúng tôi không chia cách với đa số người đời bằng một biên thùy mà chỉ đơn thuần bằng cái kiểu cách của một thị quan khác biệt. Công việc của chúng tôi là dể tiêu biểu cho một nội đảo trên cuộc đời, có lẽ là một kiểu mẫu đầu tiên hay ít ra là một viễn cảnh của một cách sống cá biệt. Tôi, một kẻ trơ trọi lâu như vậy, đã học hỏi được về một tình bằng hữu mà có lẽ giữa hai kẻ với nhau đã nếm trải cái hương vị hoàn toàn cô đơn. Không bao giờ tôi lại khao khát cái thời vận và hồng ân ban rưới. Không bao giờ cái tánh ganh tị hay lòng hoài hương lại chế ngự tôi được khi mà tôi đã chứng kiến những lạc thú tập thể của những kẻ khác. Và dần dà tôi được mở lòng đi vào cái bí nhiệm của những kẻ có mang cái dấu trên khuôn mặt họ.

Chúng tôi, những kẻ mang dấu hiệu ấy có thể bị cuộc đời coi như “kỳ quặc”: phải, còn bị coi là điên khùng và nguy hiểm nữa là khác. Chúng tôi đã nhận định được hoặc là trong quá trình đã trở nên nhận định được và sự phấn đấu của chúng tôi là để đạt tới một trạng thái hiểu biết toàn hảo hơn, trong khi sự phấn đấu của những kẻ khác là tìm kiếm cái mục đích ở chỗ trói buộc các ý kiến, lý tưởng, bổn phận của họ, sự sống và thời vận của họ, càng gần gũi hơn với cái bầy đàn nọ. Ở đó cũng có sự phấn đấu, ở đó cũng có sức mạnh và sự cao đại. Nhưng khi mà trái lại, chúng tôi, những kẻ bị đóng dấu, tin rằng chúng tôi tiêu biểu cho ý chí của Tạo hóa, để đạt tới một cái gì mới mẻ, tiến tới cái chủ nghĩa cá nhân của tương lai, thì các người khác tìm kiếm sự vĩnh viễn cửa hiện trạng. Lòng nhân đạo – mà họ đã yêu thương như chúng tôi yêu thương – là để cho họ một cái gì hoàn toàn mà nó phải duy trì và che chở. Đối với chúng tôi thì lòng nhân đạo là một mục đích xa vời mà tất cả mọi người đang hướng về, mà hình, ảnh của nó không ai biết, mà luật lệ của nó không được viết ra ở đâu cả.

Tách riêng bà Eva, Max và tôi ra, nhiều kẻ tìm kiếm khác ít nhiều đã bị ràng buộc một cách chặt chẽ với đoàn thể. Chỉ có một vài người khởi hành trên những con đường rất cá nhân, đã đặt mình vào những chí chuyện hoàn toàn khác thường và bám vào với những nghĩa vụ và lý tưởng đặc biệt của họ. Họ gồm có những nhà chiêm tinh học và các pháp sư, cũng có một môn đệ của Bá tước Tolstoi, và hết thảy những hạng người cả thẹn, nhẹ dạ, và những sinh vật có nhược điểm, các môn đệ của những giáo phái mới, các tín đồ giáo phái khổ hạnh Ấn Độ, các người chủ trương ăn chay, vân vân. Hiện thời chúng tôi không có những mối ràng buộc tinh thần tổng quát để cứu vãn lòng tôn kính mà mỗi người đã tán đồng các ý kiến của kẻ khác. Với những kẻ mà chúng tôi cảm thấy có một mối quan hệ thân thiết ấy đã liên quan với sự tìm kiếm những thần linh và các lý tưởng của nhân loại trong quá khứ – bổn phận của họ thường gợi nhớ đến pistorius. Họ mang theo những cuốn sách diễn dịch to lên những đoạn văn trong các ngôn ngữ cổ đại, chỉ cho chúng tôi xem những hình ảnh và những biểu tượng xưa cũ và xướng lên và dạy cho chúng tôi thấy nhân loại đã bồi bổ những lý tưởng mà cho tới nay gồm có những giấc mơ mà nguồn gốc ở từ vô thức như thế nào, những giấc mơ mà trong đó nhân loại đã lần mò dò theo những cáo tri của dòng tiềm thế tương lai của nó ra sao. Như vậy chúng tôi trở nên tri ngộ với các vị thần có hằng ngàn cái đầu rối beng kỳ diệu từ thời tiền sử cho đến buổi khai nguyên của cuộc hoán vị của Ky tô giáo. Chúng tôi nghe các tín ngưỡng của các bậc thánh ẩn dật, sự chuyển hóa các tôn giáo trải qua các cuộc truyền thần của nó từ người này đến người nọ. Như vậy, từ tất cả mọi điều chúng tôi thu thập được trong cách thức này, chúng tôi đã có được một sự phán xét thấu đáo của thời đại chúng tôi và của cả Âu châu đương thời: với những nỗ lực mạnh mẽ phi thường, các vũ khí mới đã được tạo ra cho loài người nhưng chung cục thì hiển nhiên các vũ khí ấy chỉ là một sự hủy hoại sâu xa của tinh thần. Âu châu đã chinh phục toàn bộ thế giới chỉ bằng cách đánh mất linh hồn của nó.

Đoàn thể của chúng tôi cũng kể cả những tông dồ, những kẻ gia nhập vào những niềm hy vọng chắc chắn và những niềm tin lành mạnh. Có những Phật tử họ tìm kiếm sự hoán đạo Âu châu, một môn đệ của Tolstoi ông ta truyền giảng bất bạo động với tội lỗi cũng như các giáo phái khác. Chúng tôi ở trong đoàn thể nội tâm lắng nghe nhưng không chấp nhận bất cứ một trong những học thuyết này ngoại trừ các ẩn dụ. Chúng tôi, những kẻ mang dấu hiệu không cảm thấy áy náy băn khoăn về cái tương lai sắp hình thành. Tất cả các niềm tin và học thuyết này đối với chúng tôi có vẻ đã suy vong rồi và vô ích. Cái nghĩa vụ duy nhất và cái định mệnh mà chúng tôi chấp nhận là mỗi người chúng tôi sẽ trở nên thật sự hoàn toàn là chính mình, thật sự trọn vẹn trung thành với hạt giống năng động mà tạo hóa đã gieo trong người mình, rằng trong việc bầy tỏ sự trưởng thành của nó bằng cuộc sống của mình, hắn có thể không ngạc nhiên gì những điều xa lạ xảy đến.

Mặc dù có thể là chúng tôi không có khả năng diễn tả nó ra, tất cả chúng tôi đều cảm thấy một cách rõ ràng rằng một cuộc tân sinh giữa sự sụp đổ của cái thế giới hiện tại này sắp xảy ra rồi, có thể nhận rõ được. Demian thường hay nói với tôi: “Những gì sẽ xảy đến, nó vượt quá sức tưởng tượng. Linh hồn Âu châu là một con thú đã bị kềm giữ trong một thời gian dài vô hạn. Và khi nó được tự do, hành động đầu tiên của nó sẽ không là hành động dịu dàng nhất. Nhưng cái phương cách không quan trọng nếu nó là nhu cầu duy nhất của linh hồn mà từ lâu đã được lập lại một cách rầm rộ khoa trương và mất cảm giác đến như vậy – đã tìm ra được. Rồi thì lúc bây giờ cái ngày của chúng ta sẽ đến, rồi chúng ta sẽ được cần đến. Không phải như các nhà lãnh đạo và các nhà lập pháp – chúng ta sẽ không có mặt ở đó để thấy những luật lệ mới – nhưng có phần như những kẻ ước muốn, như những kẻ sẵn sàng tiến tới và sẵn sàng đương đầu bất cứ ở nơi đâu định mệnh có thể cần đến họ. Hãy xem đó, tất cả mọi người sẵn sàng thành tựu điều không thể tin được nếu lý tưởng của họ bị đe dọa. Nhưng không một ai sẵn sàng khi một lý tưởng mới, một lý tưởng mới và có lẽ là một động lực nguy hiểm và bất tường nữa, lại làm cho chính nó cảm thấy thế. Cái số ít kẻ nào mà họ sẽ sẵn sàng vào lúc đó và họ sẽ tiến tới – sẽ là chúng ta. Đó là lý do vì sao chúng ta đã bị đánh dấu – như Cain đã bị…sự sợ hãi và căm thù bùng dậy lôi cuốn mọi người ra khỏi lòng tin chất phác để tiến đến chốn hiểm nguy hơn. – Tất cả mọi người là cái kết quả trong dòng lịch sử nhân loại, hết thảy bọn, họ không trừ một ai, chỉ có khả năng và hiệu lực bởi vì họ sẵn sàng chấp nhận điều không thể tránh được, Đó là sự thực của Moses, của Đức Phật Thích Ca, của Napoléon và Bismarck. Những hành động dặc thù nào mà người ta phụng sự và cái thái cực nào mà người ta trực tiếp dính dáng vào là những vấn đề từ bên ngoài sự lựa chọn của họ. Nếu Bismarck đã biết đến Đảng Dân chủ Xã hội và thỏa hiệp với nó thì ông ta sẽ chỉ là một người sáng suốt nhưng không phải là con người của tiền định. Điều tương tự cũng ứng dụng với Napoléon, Caesar, Loyolla, thật ra cho tất cả mọi người của loại đó. Luôn luôn cậu phải nghĩ đến những điều này trong những điều kiện tiến hóa và lịch sử! Khi sự nổi dậy của bề mặt trái đất ném những sinh vật ở biển cả lên mặt đất và ở mặt đất xuống biển cả, thì những thể thức của nhiều trật khác biệt sẵn sàng cuốn theo định mệnh của chúng, những cái đó nó tựu thành cái mới và vô tiền khoáng hậu; bởi việc điều chỉnh nền sinh vật học mới mẻ họ có thể cứu vớt chủng loại của họ khỏi sự hủy diệt. Chúng ta không biết có phải là những mẫu tương tự này mà trước đây chính họ đã phân biệt giữa bọn họ như những kẻ chống đỡ, bảo vệ hiện trạng hay có phần như những kẻ quái gở, những nhà cách mạng; nhưng chúng ta biết họ đã sẵn sàng, và vì lẽ ấy có thể dẫn dắt chủng loại của họ đi vào những giai đoạn mới của cuộc tiến hóa. Đó là lý do vì sao chúng ta cần phải sẵn sàng.”

Frau Eva thưởng hiện diện trong các cuộc đàm thoại này, song bà hoàn toàn không tham dự trong một cách thức tương tự. Bà là một thính giả, đầy tin cậy và hiểu biết, một hồi thanh cho sự giải thích tư tưởng của mỗi chúng ta. Dù vậy, có vẻ như tất cả tư tưởng nguyên ủy đều do ở bà và chung cục trở lại với bà. Điều vui sướng của tôi gồm có việc được ngồi gần bên bà, thỉnh thoảng nghe giọng bà cất lên và chia sẻ cái không khí phong phú, đầy tình cảm vây quanh bà.

Bà cũng biết ngay bất cứ sự thay đổi nào, bất cứ điều bất hạnh nào hay là điều tiến triển mới mẻ nào trong con người tôi. Đối với tôi thì hình như ngay cả những giấc mơ về đêm của tôi cũng đã được phát sanh bởi bà. Tôi cũng thường hay kể lại những giấc mơ ấy cho bà nghe và bà nhận rằng những giấc mơ ấy có thể lý hội được và tự nhiên; ngược lại không có gì khác thường trong những giấc mơ mà bà không thể theo dõi được. Có khi những giấc mơ của tôi lặp lại các khuôn mẩu các cuộc đàm thoại ban ngày của chúng tôi. tôi đã mơ thấy rằng toàn thể thế giới đang ở trong sự hỗn loạn và lúc ấy chỉ một mình tôi, hay với Demian, tôi hết sức chờ đợi cái biến cố trọng đại đó. Khuôn mặt của định mệnh vẫn tối tăm nhưng bề nào nó cũng đã mang chứa những dáng dấp của bà Eva: được lựa chọn hoặc là bị cự tuyệt, đấy là định mệnh.

Đôi khi bà sẽ lên tiếng với một nụ cười: “Sinclair ạ, giấc mơ của cậu chưa đầy đủ. Cậu còn để lại một phần tuyệt nhất.” Và lúc bấy giờ tôi sẽ…nhớ lại cái phần tôi còn giữ lại đó và không hiểu làm sao tôi có thể quên lãng nó đi.

Có những lúc tôi không thỏa mãn với mình và khốn khổ với ước muốn: tôi tin tôi không chịu nổi việc có bà gần bên mà không nắm lấy bà trong hai bàn tay tôi. Lập tức bà cũng cảm thấy điều này nữa. Một dạo khi tôi bỏ đi vắng nhiều ngày và trở về với sự bối rối, bà kéo tôi đến bên cạnh và nói: “Cậu không nên đưa ra những ước muốn mà cậu không tin tưởng ở nó. Tôi biết cậu ước muốn gì. Tuy nhiên, cậu sẽ hoặc có khả năng từ bỏ những ước muốn này hoặc cảm thấy chứng minh hoàn toàn trong việc có những ước mơ ấy. Một lần cậu có thể làm sự thỉnh nguyện của cậu trong cách thức như vậy, cậu sẽ hoàn toàn chắc chắn với sự thành tựu của nó, rồi lúc bấy giờ sự thành tựu sẽ đến. Nhưng hiện giờ cậu lưỡng lự giữa ước muốn và sự từ bỏ và lúc nào cũng sợ hãi. Tất cả cần phải vượt qua. Để tôi kể cậu nghe một câu chuyện.”

Và bà kể cho tôi nghe về một chàng thanh niên đã đem lòng yêu dấu một vì sao. Y đứng cạnh biển cả, đưa tay ra và cầu nguyện với vì sao, mộng tưởng đến nó và hướng tất cả ý nghĩ của y đến với nó. Nhưng y biết hoặc cảm thấy rằng một vì sao không thể nào được ôm ấp bởi một con người. Y nhìn nhận định mệnh của y là yêu một thể xác đẹp tuyệt trần mà không hề có mảy may nào hy vọng thành tựu, và ở bên ngoài trí sáng suốt này, y đã cấu tạo một triết lý nguyên vẹn của sự từ bỏ và im lặng, sự trung thành một cách khốn khổ sẽ cải thiện và làm thuần khiết y. Song tất cả những mộng tưởng của y đã đạt đến vì sao. Một hôm về đêm y lại đứng trên một mỏm đá cao cạnh biển, và đăm đăm hướng về vì sao và bùng cháy tình yêu với nó. Và ở tận đỉnh khát khao của y, y đã nhảy vọt vào cái trống trơn hướng về vì sao, nhưng vào cái lúc nhảy vọt cấp bách “bất khả của nó”, một lần nữa, đã lóe lên qua ý nghĩ y. Y nằm đó trên bãi biển, bị thương tích. Y không hề hiểu tình yêu như thế nào. Nếu vào cái lúc cấp bách của việc nhảy vọt ấy y có cái niềm tin khả quyết ở sự tựu thành tình yêu của y thì y sẽ đã đạt đến cực điểm của tình yêu và đã hợp nhất với vì sao rồi.

“Tình yêu không nên van xin,” bà nói thêm: “hay đòi hỏi. Tình yêu phải có sức mạnh để trở nên nhất định trong chính bản thân của nó. Rồi thì nó thôi chỉ là điều quyến rũ và bắt đầu hấp dẫn. Sinclair ạ, tình yêu của cậu thì đã hấp dẫn tôi. Một lần nó bắt đầu quyến rũ tôi, tôi sẽ đến. Tôi sẽ không làm mình là một tặng vật đâu, tôi phải là kẻ thắng cuộc.”

Lần khác bà kể tôi nghe một câu chuyện khác nữa, liên quan đến một người yêu mà tình yêu của y không được đáp ứng. Y hoàn toàn thu rút trong con người mình, tin rằng tình yêu của y sẽ làm hao mòn y thôi. Thế giới trở nên mất mát đối với y, y không còn để tâm đến bầu trời xanh và khu rừng thẳm, y không còn nghe thấy tiếng suối rì rào, tai y trở nên điếc lác với những âm điệu của đàn thụ cầm: không gì còn có ý nghĩa nữa cả; y trở nên nghèo nàn và khốn khổ. Tuy vậy tình yêu của y đã gia tăng thêm và y thà là chết đi hoặc tàn tạ hơn là từ bỏ việc chiếm hữu người đàn bà xinh đẹp này. Rồi y cảm thấy rằng khát vọng của y cũng đã hủy hoại mọi sự khác nữa trong con người y và trở nên mạnh mẽ như thể có sức lôi cuốn đến nỗi người dàn bà đẹp ấy phải đi theo. Nàng đến với y và y đứng đó với hai tay đưa ra sẵn sàng kéo nàng về mình. Khi nàng đứng trước y, nàng hoàn toàn biến đổi, và với sự sợ hãi, y cảm thấy và đã thấy rằng y đã chiếm lại được tất cả điều mà y mất mát trước đây. Nàng đứng trước mặt y, nàng đã hàng phục y, và bầu trời, khu rừng, và suối ngàn, tất cả đối với y đều mới lạ, và lên tiếng với y trong một ngôn ngữ của riêng y. Và thay vì chỉ chiếm được một người đàn bà y đã ôm vào lòng mình toàn thể vũ trụ, và mỗi vì sao trên trời đã chiếu sáng trong người y và lấp lánh với niềm vui trong linh hồn y. Y đã được yêu và đã tìm ra mình. Nhưng phần lớn người đời yêu đương là để đánh mất chính con người của họ.

Tình yêu của tôi với Frau Eva hình như rót đầy toàn thể cuộc sống của tôi. Nhưng mỗi ngày tình yêu ấy đã biểu thị một cách khác hẳn. Đôi khi tôi cảm thấy chắc chắn, tình yêu ấy không phải là bà mà là một người đã hấp dẫn tôi và khao khát với tất cả con người tôi. Nhưng là bà chỉ hiện hữu như một ẩn dụ của cái ngã nội tâm tôi một ẩn dụ mà mục đích duy nhất của nó là dẫn đắt tôi, đi sâu hơn vào con người mình mà thôi. Những điều bà nói thường có vẻ giống như những hồi âm từ tiềm thức tôi với những vấn đề từng làm cho tôi khốn khổ. Có những phút giây khác khi, tôi ngồi bên cạnh bà và bùng cháy với khát vọng dục tính và hôn hít những đồ vật bà cầm đến. Và dần dà, tình yêu nhục dục và tinh thần, thực tại và biểu trưng bắt đầu chèn lấn nhau. Rồi lúc bấy giờ nó sẽ xảy ra như tôi nghĩ về bà trong căn phòng của tôi ở quê nhà, trong một sự yên tĩnh thân thiết, tôi cảm thấy tay bà trong tay tôi và môi bà chạm vào môi tôi. Hay là tôi sẽ có mặt tại nhà bà, sẽ nhìn vào mặt bà và nghe giọng bà nói, tuy không biết có phải thực là bà hay chỉ là một giấc mơ. Tôi bắt đầu cảm thấy người ta có thể sở hữu một tình yêu bất biến và vĩnh viễn như thế nào. Tôi sẽ có sự minh mẫn trong khi đọc sách – và điều này sẽ cảm thấy tương tự như cái hôn của Eva. Bà vuốt tóc tôi và mỉm cười với tôi một cách trìu mến, và điều này cảm nghe như một bước tiến vào con người tôi. Mọi sự gì quan trọng và đầy định mệnh cho tôi đã phỏng theo hình thể của bà. Bà có thể chuyển hóa con người bà thành ra bất cứ ý tưởng nào của tôi và mỗi ý tưởng của tôi cũng có thể chuyển hóa vào người bà.

Tôi đã e ngại về kỳ nghỉ lễ Giáng sinh – có mặt ở nhà song thân tôi – bởi vì tôi nghĩ sẽ là một diều khốn khổ khi phải xa cách Eva suốt cả hai tuần lễ. Nhưng chuyện không xảy ra như thế. Ở nhà cũng tuyệt diệu và tuy vậy cũng có thể nghĩ đến bà. Khi tôi trở lại H. Tôi đã đợi hơn hai ngày nữa trước khi đi đến thăm bà, làm vậy cũng như để thưởng thức điều bí mật này, đây là điều không tùy thuộc vào sự hiện diện của thân thể bà.

Tôi cũng đã có những giấc mơ, trong ấy tôi được hợp nhất với bà và đã kết thúc trong những hành động tiêu biểu mới mẻ. Bà là đại dương mà trong đó tôi bơi lội.

Bà là một vì sao và tôi là một vì sao khác trên đường tiến đến bà, xoay quanh lẫn nhau. Tôi kể bà nghe giấc mơ này khi tôi lại đến viếng bà lần thứ nhất.

“Giấc mơ đẹp đấy,” bà nói giọng nhỏ nhẹ, “hãy làm cho nó thành sự thực.”

Rồi đến một ngày chớm xuân mà tôi chẳng bao giờ quên được. Tôi bước vào tiền sảnh, có một cánh cửa sổ mở và một làn không khí mang vào cái hương vị nồng nàn của hoa Dạ hương Lan. Khi không có một ai ở đâu đó, tôi leo thang gác lên phòng học của Max Demian. Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa và như thói quen của tôi, bước vào không đợi trả lời.

Căn phòng tối tăm, tất cả các bức màn kéo lên. Cánh cửa dẫn đến phòng nhỏ kế bên cũng mở ra. Tại đó Max đã dựng một phòng thí nghiệm hóa học. Đó là nơi duy nhất có ánh sáng hắt ra. Tôi nghĩ không có ai ở trong và kéo lại một trong những tấm màn.

Rồi tôi thấy Max ngã trên chiếc ghế đẩu cạnh cửa sổ hạ màn, trông biến đổi một cách kỳ lạ, và điều ấy đã lóe qua tôi: cậu đã thấy trước điều này: Tay chân hắn yếu ớt, tay đặt trên đầu gối, đầu cúi hơi ngã về phía trước, và cặp mắt hắn, mặc dù mở có vẻ không thấy gì và chết chóc; ở một trong hai con ngươi của nó như trong một miếng kiếng mỏng, tia sáng chói chang bật ra cái tròng đen mở ra nhắm lại, mở ra nhắm lại. Cái mặt xanh xao thì mê mãi trong chính nó và vô cảm giác, ngoại trừ sự cứng ngắc vô kể; hắn giống với cái mặt nạ thú vật thời xưa tại chánh điện của một đền thờ. Hắn không có vẻ gì là thở cả.

Tràn ngập bởi một nỗi hoảng sợ tôi lặng lẽ ra khỏi căn phòng và bước xuống thang gác. Ở phòng trước tôi gặp Frau Eva, xanh xao và có vẻ mệt mỏi, một điều mà trước đây tôi chưa bao giờ biết bà có như vậy cả. Ngay khi một chiếc bóng kéo lướt qua cánh cửa sổ, cái ánh sáng chói lọi trắng xóa của mặt trời bất thần trốn chạy.

“Cháu ở trong phòng Max,” tôi thì thào nhanh. “Đã có xảy ra một việc gì? Anh chẳng phải ngủ và cũng không phải hôn mê, cháu không biết là gì; trước đây cháu có trông thấy ảnh một lần như thế.”

“Cậu không đánh thức nó dậy, phải không?” Bà vội hỏi.

“Không. Ảnh không nghe cháu, cháu rời căn phòng ngay. Hãy kể cho cháu nghe, có việc gì với ảnh vậy?”

Bà quệt mu bàn tay lên trán bà một cái.

“Đừng lo, Sinclair ạ, sẽ không có việc gì xảy đến cho nó đâu. Nó đã kéo màn rồi. Việc đó sẽ xong ngay.”

Bà đứng dậy và đi ra vườn – mặc dù trời bắt đầu đổ mưa. Tôi cảm thấy rằng bà không muốn tôi đi theo bà và vì vậy tôi đứng dậy và bước ra hành lang, hít vào cái hương thơm lạc lõng của hoa Dạ hương Lan. Trừng trừng nhìn vào bức họa con chim ở trên cổng vào của tôi và hít thở cái không khí ngột ngạt đã tràn ngập căn nhà sáng hôm đó. Có chuyện gì? Việc gì đã xảy ra?

Chẳng bao lâu bà Frau Eva đã trở lại. Những giọt mưa dính vào mái tóc đen huyền của bà. Bà ngồi xuống trên chiếc ghế bành. Bà có vẻ mệt mỏi. Tôi bước đến bên bà, cúi xuống đầu bà và hôn lên nước mưa trên mái tóc bà. Cặp mắt bà sáng và điềm tĩnh nhưng những giọt mưa đã có cái hương vị giống như những giọt lệ.

“Cháu có nên đi xem ảnh ra sao chăng?” Tôi hỏi, giọng thì thào.

Bà mỉm cười yếu đuối.

“Đừng có trẻ con vậy Sinclair ạ!” Bà cảnh cáo tôi, nói to lên như thể cố gắng phá vỡ sức dụ hoặc bên trong con người bà. “Giờ hãy đi đi và sau đó trở lại. Bây giờ tôi không thể nói chuyện với cậu được”.

Tôi vừa đi vừa chạy khỏi căn nhà và thành phố, hướng về đồi núi. Mưa bụi xiên vào mặt tôi, những đám mây cuốn đi như thể bị trọng lượng kéo xuống với nỗi sợ hãi. Gần mặt đất họa hoằn mới có hơi thở của không khí những trên những chỗ cao hơn cơn bão có vẻ dữ đội. Nhiều lần ánh mặt trời trắng nhợt gọn gàng vờ ra qua những kẽ hở xù xì trong những đám mây xám màu thép.

Rồi lúc bấy giờ loãng ra một đám mây vàng cuốn qua bầu trời, choảng nhau với đám mây khác, dải mây xám. Trong một vài giây ngọn gió làm lộ ra một hình thể trên đám mây vàng này, và một đám mây xám xanh, một con chim khổng lồ nhô ra khỏi đám mây thép xanh chồng chất và bay vào bầu trời với cái vỗ cánh vĩ đại. Rồi thì cơn bão trở nên có thể nghe dược và mưa ào ào trút xuống pha lẫn với hạt mưa đá. Một tiếng sét kinh hồn vạch qua quang cảnh đầy hạt mưa và ngay sau đó một tia sáng mặt trời chiếu qua. Bên cạnh đồi, núi tuyết xanh xao chiếu lên màu xanh mét và phi thực trên khu rừng nâu.

Khi nhiều giờ sau, tôi trở lại ướt sũng và bị gió cuốn thì chính Demian đã mở cửa.

Hắn dắt tôi vào phòng hắn. Một tia hơi khí đang cháy trong phòng thí nghiệm của hắn và giấy tờ vung vãi trên sàn. Rõ ràng là hắn đang làm việc.

“Ngồi xuống,” hắn mời, “cậu phải mệt nhoài người ra, thời tiết thật kinh khủng. Người ta có thể thấy rằng cậu thực sự ở bên ngoài. Trà sẽ có trong chốc lát.”

“Hôm nay có một cái gì hệ trọng,” tôi do dự bắt đầu. “Không chỉ là một cơn mưa bão sấm sét.”

Hắn nhìn đến tôi một cách dò xét.

“Cậu đã thấy một cái gì ạ?”

“Phải. Tôi đã thấy một hình ảnh trên đám mây, hoàn toàn rõ ràng trong một lúc.”

“Thứ hình ảnh nào vậy?”

“Đó là một con chim.”

“Con chim sẻ diều hâu? Con chim mộng mị của cậu?”

“Phải, đó là con chim sẻ diều hâu của tôi. Đó là con chim vàng óng khổng lồ và nó đã bay vào những đám mây xanh thẳm.”

Demian thở phào ra một cái.

Có tiếng gõ cửa. Người lão bộc mang trà vào.

“Sinclair, vui lòng tự rót lấy. Tôi không tin cậu thấy con chim là do bởi tình cờ”.

“Tình cờ à? Người ta thấy được những điều như thế do bởi tình cờ sao?”

“Hoàn toàn đúng. Không, người ta không tình cờ mà thấy được. Con chim có một điều trọng đại. Cậu có biết là gì không?”

“Không, tôi chỉ cảm thấy nó biểu thị một vài biến cố tan vỡ, một sư chuyển động trong cái phần của định mệnh. Tôi tin rằng nó có liên quan đến tất cả chúng ta.”

Hắn đi đi lại lại một cách kích thích.

“Một sự chuyển động trong cái phần của định mệnh!” Hắn kêu lên, “Đêm rồi tôi nằm mơ thấy điều tương tự và mẹ tôi ngày hôm qua cũng đã linh cảm một điều cũng chuyên chở thông điệp như thế. Tôi nằm mơ thấy mình leo lên một cái thang bắc trên thân cây hoặc cái tháp gì đó. Khi tôi leo lên tới đỉnh tôi thấy toàn thể quang cảnh mênh mông rõ ràng của vô số tỉnh thành và làng mạc. Song tôi không thể kể với cậu toàn thể giấc mơ được, tất cả vẫn còn hơi có phần lẫn lộn.”

“Anh có cảm thấy rằng giấc mơ có liên can đến cá nhân anh không?"

“Dĩ nhiên, không ai nằm mộng bất cứ điều gì mà không liên can đến cá nhân hắn. Nhưng nó không chỉ liên can đến cá nhân tôi thôi đâu, cậu nói đúng. Tôi hoàn toàn phân biệt một cách đúng giữa các giấc mơ đã tiết lộ những chuyển động bên trong linh hồn tôi và kẻ khác, những giấc mơ hiếm có xa vời hơn mà trong đó định mệnh của tất cả nhân loại đã được gợi ra trong chính giấc mơ ấy. Trước đây tôi không có những giấc mơ nào một cách hy hữu như vậy và tôi có thể nói rằng nó là một lời tiên tri đã thành tựu. Những điều giải thích của nó thì cũng bấp bênh. Nhưng tôi biết rằng tôi đã nằm mơ một điều gì không liên can chỉ mỗi mình tôi thôi. Bởi vì giấc mơ này chắp nối với những giấc mơ khác, những giấc tôi mơ đã có từ trước mà nó là một hậu quả. Sinclair ạ, nhưng giấc mơ này tràn ngập người tôi với những linh tính báo trước mà tôi đã từng nói với cậu. Cả hai chúng ta đều biết rằng thế giới hoàn toàn thối nát cả rồi, nhưng không có bất cứ lý do nào để dự đoán sự sụp đổ sắp xảy ra của nó hoặc một việc gì về loại đó cả. Nhưng bởi nhiều năm tối có những giấc mơ mà do đó tôi thêm vào hoặc nó làm tôi cảm thấy được, rằng sụp đổ của một thế giới cũ kỹ quả là sắp xảy đến nơi rồi. Thoạt tiên những điều này là sự yếu đuối và là những lời cáo tri xa vời nhưng nó đã trở nên gia tăng mạnh hơn. Tôi vẫn không biết gì cả ngoại trừ một việc gì đó sắp sửa xảy ra trên một bình diện mênh mông, một việc gì khủng khiếp đó mà chính bản thân tôi sẽ bị lôi cuốn vào. Sinclair ạ, chúng ta sẽ dự phần vào cái biến cố này mà chúng ta thường hay bàn luận đến như thế. Thế giới muốn chính nó được đổi mới. Trong không khí đã có mùi chết chóc. Không gì có thể sinh ra mà thoạt tiên không hấp hối. Nhưng nó còn khủng khiếp hơn là tôi nghĩ.”

Tôi hoảng sợ đăm đăm nhìn hắn.

“Anh có thể kể tôi nghe điều còn lại của giấc mơ không?” Tôi hỏi giọng rụt rè. Hắn gật đầu.

“Không.”

Cánh cửa mở ra, bà Eva bước vào.

“Con không cảm thấy buồn rầu chớ, ta hy vọng thế.” Bà trông tươi tỉnh lại, tất cả dấu vết mệt mỏi đã biến mất. Demian mỉm cười với bà và bà bước đến chúng tôi như một bà mẹ tiến đến những đứa trẻ hoảng sợ.

“Không, chúng con không buồn đâu mẹ ạ. Chúng con chỉ gắng khám phá ra những điềm triệu mới mẻ này. Nhưng dù sao cũng không kết quả. Bất cứ chuyện gì xảy ra sẽ bất thần xảy ra tại đây; rồi chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ biết đầy đủ những điều chúng ta cần biết.”

Nhưng tôi đã cảm thấy chán nản, và khi tôi ngỏ lời chia tay, một mình đi qua hành lang, mùi úa héo của hoa Dạ hương Lan có vẻ như mùi của xác chết. Một chiếc bóng đã rơi xuống trước mặt chúng tôi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.