Vào Trong Dòng Nước - Phần 1
PHẦN MỘT
2015**
* * *
*Jules*
Chị có chuyện cần nói với em, phải không? Chị đang cố nói với em chuyện gì? Em có cảm giác đã trôi khỏi cuộc trò chuyện này lâu lắm rồi. Em đã mất tập trung, em mải nghĩ đến vấn đề khác, chuyện này chuyện kia, em đã không lắng nghe, và em đã đánh mất mạch chuyện. Thế đấy, giờ thì em đã chú ý rồi đây. Chỉ có điều, em không thể thôi nghĩ rằng em đã bỏ lỡ mất vài điểm quan trọng.
Khi họ đến báo cho em, em đã tức giận. Ban đầu thì nhẹ nhõm, vì khi hai sĩ quan cảnh sát xuất hiện trên ngưỡng cửa nhà ta đúng lúc ta đang tìm vé tàu, chuẩn bị chạy ra khỏi cửa đi làm, ta sẽ lo sợ điều tệ hại nhất. Em lo cho người em quan tâm - bạn bè em, người yêu cũ của em, đồng nghiệp em. Nhưng chuyện không phải về họ, người ta bảo thế, chuyện là về chị. Vậy nên em thấy nhẹ nhõm, chỉ trong thoáng chốc thôi, và rồi sau đó họ kể cho em nghe chuyện đã xảy ra, điều chị đã làm, họ bảo em rằng chị đã ở trong dòng nước và thế rồi em giận điên lên. Giận dữ và sợ hãi.
Em nghĩ mãi không biết sẽ nói gì với chị khi em đến đó, làm sao em lại biết chị hành động thế này là cốt để chọc giận em, để khiến em bất an, dọa cho em sợ, để đập nát cuộc sống của em. Để khiến em chú ý, để lôi em quay trở về nơi chị muốn. Và được rồi đấy, Nel, chị đã thành công: em đã ở đây, nơi em không bao giờ muốn quay lại, để chăm sóc con gái chị, để dọn dẹp mớ bòng bong chết tiệt của chị.
THỨ HAI, NGÀY 10 THÁNG TÁM**
* * *
*Josh*
Cái gì đó đã đánh thức tôi. Tôi rời khỏi giường đến phòng vệ sinh và để ý thấy cửa phòng bố mẹ đang mở, và khi ngó vào tôi thấy mẹ không ở trên giường. Bố vẫn đang ngáy như mọi khi. Đồng hồ báo thức radio cho biết giờ đang là 4:08. Tôi nghĩ chắc mẹ đang ở dưới nhà. Mẹ thường khó ngủ. Giờ cả hai đều thế, nhưng bố tôi uống thuốc liều mạnh đến độ ta có đứng ngay bên giường mà hét vào tai thì ông ấy cũng chẳng thèm tỉnh dậy.
Tôi rón rén xuống cầu thang và thường thì tình hình sẽ là mẹ đang bật ti vi xem mấy quảng cáo chán ngắt về các loại máy móc giúp ta giảm cân hay lau sàn nhà hay thái rau củ theo đủ các cách khác nhau và rồi sau đó mẹ sẽ ngủ thiếp đi. Nhưng ti vi không bật, mẹ cũng không trên sofa, vậy nên tôi biết chắc hẳn mẹ đã ra ngoài rồi.
Mẹ đã làm thế vài lần - ít nhất theo tôi biết là thế. Tôi đâu thể lúc nào cũng theo dấu vị trí của tất cả mọi người chứ. Lần đầu tiên, mẹ bảo tôi mẹ chỉ ra ngoài đi dạo cho thoải mái đầu óc, nhưng rồi sau đó có một sáng tôi thức dậy thì thấy mẹ đã đi đâu mất và lúc nhìn ra ngoài cửa sổ, tôi thấy ô tô của mẹ đã không còn đậu trước nhà như thường lệ.
Tôi nghĩ có khi mẹ đi dạo ven sông hoặc thăm mộ Katie. Thỉnh thoảng tôi vẫn làm thế, tuy nhiên không phải là vào giữa đêm khuya. Tôi sợ đi trong bóng tối, thêm nữa tôi cứ cảm thấy chuyện đó thật kỳ dị, vì đó chính là điều Katie đã làm: chị dậy giữa đêm đi ra sông và không quay trở lại. Tuy nhiên, tôi hiểu tại sao mẹ lại hành động như vậy: giờ đây đó là cách giúp mẹ có thể đến gần Katie nhất, thay vì có lẽ cứ ngồi trong phòng chị, một việc khác tôi biết thỉnh thoảng mẹ vẫn làm. Phòng Katie cạnh phòng tôi và tôi có thể nghe thấy tiếng mẹ khóc.
Tôi ngồi xuống sofa đợi mẹ, nhưng hẳn tôi đã ngủ thiếp đi, vì lúc tôi nghe tiếng của mở thì trời bên ngoài đã sáng và khi tôi nhìn lên đồng hồ trên mặt lò sưởi thì đã là bảy giờ mười lăm. Tôi nghe tiếng mẹ đóng cửa ra vào lại sau lưng và rồi bước thẳng lên cầu thang.
Tôi theo mẹ lên tầng. Tôi đứng ngoài phòng ngủ, quan sát qua khe nứt trên cửa. Mẹ đang quỳ cạnh giường, bên phía bố đang nằm, mặt mẹ đỏ bừng, dường như vừa mới chạy. Mẹ thở hồng hộc, vừa gọi,“Alec, dậy đi. Dậy đi,” vừa lay người bố. “Nel Abbott chết rồi,” mẹ nói. “Họ tìm thấy cô ta trong dòng nước. Cô ta đã nhảy xuống.”
Tôi không nhớ là mình có nói gì, nhưng ắt hẳn tôi đã gây nên tiếng động gì đó, vì mẹ ngước lên nhìn tôi và lồm cồm đứng dậy.
“Ôi, Josh,” mẹ nói, tiến lại phía tôi. “Ôi, Josh.” Nước mắt lăn dài trên mặt mẹ và mẹ ôm chầm lấy tôi. Khi tôi giằng người ra khỏi vòng ôm của mẹ, mẹ tôi vẫn đang khóc, nhưng mẹ cũng đang mỉm cười. “Ôi, con yêu” mẹ nói.
Bố ngồi dậy trên giường. Bố dụi mắt. Phải mất đến cả thế kỷ bố tôi mới tỉnh táo hẳn.
“Anh không hiểu. Khi nào… Em bảo là tối qua hả? Làm sao em biết?”
“Em ra ngoài mua sữa,” mẹ nói. “Ai cũng bàn tán chuyện đó… trong cửa hàng. Họ phát hiện ra cô ta lúc sáng nay.” Mẹ ngồi xuống giường và lại bắt đầu khóc. Bố ôm mẹ nhưng đồng thời chăm chăm nhìn tôi và vẻ mặt bố có gì đó rất lạ.
“Mẹ đi đâu vậy?” tôi hỏi mẹ. “Mẹ đã đi đâu vậy?”
“Tới cửa hàng, Josh ạ. Mẹ vừa nói còn gì.”
Mẹ nói dối, tôi những muốn nói thế. Mẹ đã biến mất tận mấy tiếng đồng hồ, làm gì có chuyện mẹ chỉ đi mua sữa. Tôi những muốn nói thế, nhưng tôi không thể, bởi vì bố mẹ tôi đang ngồi trên giường nhìn nhau, và họ có vẻ vui mừng.
THỨ BA, 11 THÁNG TÁM**
* * *
*Jules*
Em vẫn nhớ. Trên ghế sau chiếc xe cắm trại, gối chất lên thành chồng ở chính giữa đánh dấu ranh giới giữa lãnh thổ của em và của chị, trên đường đến Beckford nghỉ hè, chị bồn chồn phấn khích - chị nóng lòng đến đó - em thì xanh rớt vì say xe, cố không nôn.
Tôi không chỉ nhớ lại chuyện đó, tôi còn cảm thấy nó. Chiều nay tôi cũng cảm thấy đúng cái cảm giác buồn nôn ấy, gò người trên vô lăng như một mụ già, lái xe nhanh và ẩu, đánh võng ra tận giữa đường khi rẽ, đạp phanh quá gấp, cố gắng quá đà để cứu vãn tình hình khi nhìn thấy những chiếc ô tô đang tới. Tôi lại có nó, cái cảm giác ấy, cứ nhìn thấy một chiếc xe tải trắng vùn vụt về phía mình trên một cung đường hẹp là lại nghĩ, Mình sẽ đánh tay lái, mình sẽ làm thế, mình sẽ ngoặt xe sang thẳng làn đường của nó, không phải vì tôi muốn mà vì tôi phải làm như vậy. Cứ như thể đúng vào phút cuối tôi sẽ mất hết tự chủ thật. Nó giống như cảm giác khi ta đứng trên rìa vách đá, hay trên mép sân ga, và ta cảm thấy một bàn tay vô hình nào đó đang đẩy ta về phía trước. Và nếu thế thì sao? Nếu tôi cứ dấn một bước về phía trước thì sao? Nếu tôi đánh tay lái thì sao?
(Xét cho cùng, em và chị cũng chẳng khác nhau nhiều lắm.)
Điều khiến tôi băn khoăn là chẳng hiểu sao tôi lại nhớ rất rõ ràng. Quá rõ ràng. Sao tôi có thể hồi tưởng rõ mồn một những chuyện xảy ra từ hồi tám tuổi mà lại chẳng thể nhớ nổi mình đã nói với đồng nghiệp chuyện không thể dời lịch họp với khách hàng tuần tới chưa? Chuyện muốn nhớ thì tôi không nhớ được, trong khi những chuyện tôi cố hết sức để quên thì cứ hiện về. Càng đến gần Beckford, nó lại càng trở nên không thể chối bỏ, quá khứ vọt về phía tôi như những con chim sẻ bay vụt khỏi hàng rào cây, khiến ta giật mình và không đường trốn tránh.
Tất thảy sự tươi tốt đó, màu xanh không thể tin nổi đó, màu vàng tươi rực rỡ của cây kim tước trên đồi, nó khắc sâu vào trí não em, mang theo một cuốn phim thời sự của ký ức: bố mang em, đương la hét và không ngừng vặn vẹo vì phấn khích, vào trong dòng nước, hồi em tầm bốn năm tuổi, chị nhảy từ trên bãi đá xuống sông, mỗi một lần lại trèo lên cao hơn, cao hơn nữa. Những chuyến picnic trên bờ cát cạnh vùng sông, vị kem chống nắng trên lưỡi em; vụ bắt con cá nâu béo mẫm trong dòng nước ngầu bùn lờ đờ chảy xuôi dòng từ Cối Xay. Chị về nhà máu chảy thành dòng trên chân sau một cú nhảy tính toán nhầm, cắn chặt một cái khăn bếp trong khi bố vệ sinh vết rách vì chị không muốn khóc. Không muốn khóc trước mặt em. Mẹ, đang mặc váy hè màu xanh nhạt, đi chân trần trong bếp nấu cháo ăn sáng, lòng bàn chân mẹ màu nâu sẫm. Bố đang ngồi trên bờ sông, vẽ phác họa. Sau này, khi chúng ta lớn hơn, chị mặc quần soác denim và áo bikini bên dưới áo phông, lẻn ra ngoài giữa đêm khuya để gặp một anh chàng. Không phải một anh chàng bất kỳ nào, là anh chàng đó. Mẹ, gầy hơn và yếu hơn, đang ngủ trên ghế bành trong phòng khách, bố đang dần khuất bóng trên những con đường đi dạo hun hút cùng với bà vợ phốp pháp trắng xanh đội mũ che nắng của ông cha sở. Em nhớ một trận bóng đá. Mặt trời bỏng rẫy trên mặt nước, mọi ánh mắt đổ dồn vào em; chớp chớp mắt ngăn dòng lệ, máu trên bắp đùi em, tiếng cười rung lên trong tai em. Em vẫn nghe thấy nó. Và bên dưới tất cả, tiếng của dòng nước xiết.
Tôi chìm đắm quá sâu vào trong dòng nước đó, đến độ không nhận ra mình đã tới nơi. Tôi đã ở đó, trung tâm thị trấn; nó xuất hiện trước mặt tôi đột ngột như thể tôi đã nhắm mắt lại và được đưa vào đến nơi, và tôi còn chưa kịp ý thức được gì thì đã thấy mình đang chậm rãi chạy xe xuyên qua những con đường nhỏ hẹp nườm nượp những chiếc xe hai cầu, lờ mờ đá hồng nơi rìa tầm nhìn, tiến về nhà thờ, tiến về cây cầu cổ, giờ thì đầy cẩn trọng. Tôi dán mắt vào con đường rải nhựa phía trước và cố không nhìn cây cối, không nhìn dòng sông. Đã cố không nhìn rồi, nhưng vẫn chẳng tài nào cưỡng lại được.
Em đỗ xe bên vệ đường và tắt máy. Em nhìn lên. Trước mắt em là cây cối và những bậc thang đá, xanh ngắt màu rêu và trơn trượt sau cơn mưa. Em nổi da gà khắp toàn thân. Em nhớ lại cảnh tượng này: cơn mưa buốt giá giội xuống lớp nhựa đường, những ánh đèn xanh nhoang nhoáng ganh đua với ánh chớp để chiếu sáng dòng sông và bầu trời, hơi thở phả ra thành từng đám khói trắng phía trước những khuôn mặt hoảng loạn, và một cậu bé, trắng bệch và run bần bật, được một nữ cảnh sát dắt qua những bậc thang lên đường cái. Cô cảnh sát nắm chặt bàn tay cậu bé, đôi mắt cô mở to hoang dại, đầu cô ngoẹo hết hướng này sang hướng khác khi cô hét gọi ai đó. Em vẫn có thể cảm thấy nguyên vẹn những cảm xúc tối hôm đó, nỗi kinh hoàng và sự mê hoặc. Em vẫn có thể nghe rõ lời chị nói văng vẳng trong đầu: Sẽ như thế nào nhỉ? Em có tưởng tượng được không? Khi phải chứng kiến mẹ mình chết?
Tôi nhìn sang chỗ khác. Tôi khởi động xe và quay trở lại đường cái, lái xe qua cây cầu nơi con đường nhỏ bắt đầu ngoằn ngoèo. Tôi dõi mắt tìm ngã rẽ - chỗ rẽ đầu tiên bên trái nhỉ? Không, không phải, ngã rẽ thứ hai. Nó kia rồi, khối đá cũ kỹ khổng lồ màu nâu, Nhà Cối Xay. Cảm giác gai gai râm ran trên da tôi, mát lạnh và ẩm ướt, tim tôi đập dồn dữ dội, tôi đánh xe qua cánh cổng để mở vào lối xe trong nhà.
Một người đàn ông đứng ở đó, đang xem điện thoại. Một cảnh sát mặc cảnh phục. Ông ta bước nhanh về phía ô tô và tôi hạ kính cửa sổ xuống.
“Tôi là Jules,” tôi nói. “Jules Abbott. Tôi là… em gái chị ấy.”
“Ồ.” Ông ta có vẻ lúng túng. “Vâng. Đúng rồi. Tất nhiên. Nghe này,” ông ta liếc mắt về phía ngôi nhà, “hiện giờ không có ai ở đây đâu. Con bé… cháu gái cô… con bé ra ngoài rồi. Tôi không biết đích xác là ở đâu…” Ông ta lôi điện đàm ra khỏi thắt lưng.
Em mở cửa xe bước ra ngoài. “Tôi vào trong nhà được chứ?” em hỏi. Em ngước nhìn lên ô cửa sổ để mở, nơi từng là phòng cũ của chị. Em có thể nhìn thấy chị vẫn đang ở đó, ngồi trên bậu cửa sổ, hai chân vắt vẻo bên ngoài. Chóng cả mặt.
Viên cảnh sát có vẻ không biết làm sao. Ông ta quay đi tránh mặt tôi, khẽ nói gì đó vào điện đàm rồi xoay người lại. “Được, không vấn đề gì. Cô cứ vào trong đi.”
Tôi lơ mơ leo lên bậc thềm, nhưng tôi nghe thấy tiếng nước và ngửi thấy mùi đất, đất trong bóng râm của ngôi nhà, bên dưới tán cây, ở những chỗ ánh mặt trời không chiếu tới, mùi hăng của lá mục, và thứ mùi ấy đã lôi tôi trở về quá khứ.
Tôi đẩy mở cửa trước, gần như trông ngóng sẽ nghe thấy giọng mẹ gọi với ra từ bếp. Không cần suy nghĩ, tôi biết mình sẽ phải huých hông đẩy cánh cửa khi nó hơi kẹt vào sàn. Tôi bước vào hành lang, đóng cửa lại sau lưng, hai mắt chật vật tập trung trong bóng tối, tôi rùng mình trước hơi lạnh đột ngột.
Trong bếp, một cái bàn gỗ sồi kế bên dưới cửa sổ. Vẫn là cái cũ đó nhỉ? Nó trông cũng na ná, nhưng không thể có chuyện đó, từ hồi ấy đến giờ nơi này đã sang tay không biết bao nhiêu người. Nếu muốn biết chắc chắn, em có thể bò xuống dưới gầm bàn để tìm kiếm những dấu hiệu hai chị em mình để lại, nhưng chỉ cần nghĩ đến việc đó thôi nhịp tim em đã dồn dập hẳn lên.
Em nhớ lại cách nó bắt nắng buổi sáng, cảnh tượng chị ngồi ở phía bên trái bàn, đối diện bếp lò, chị bao trọn tầm nhìn ra cây cầu cổ, được đóng khung một cách hoàn hảo. Đẹp biết nhường nào, ai cũng nhận xét thế về quang cảnh ấy, nhưng chẳng ai từng nhìn cho ra nhìn. Họ chưa từng mở cửa sổ để nhoài người ra ngoài, họ chưa từng nhìn xuống cái bánh xe nước đang dần mục nát, họ chưa từng nhìn vượt quá ánh mặt trời đùa nghịch trên mặt nước, họ chưa từng thấy được dòng nước này thực sự là như thế nào, màu đen ngả lục và nhung nhúc cả vật sống lẫn vật chết.
Rời khỏi bếp, vào trong hành lang, qua cầu thang, tiến sâu hơn vào bên trong nhà. Tôi đụng phải nó đột ngột đến độ nó gần như ném tôi, đang ở bên cạnh khung cửa sổ khổng lồ trổ ra sông - vào trong dòng sông, như thể chỉ cần mở cửa sổ ra, nước sẽ tràn vào lênh láng khắp bệ ngồi rộng rãi bằng gỗ chạy dọc bên dưới.
Tôi vẫn nhớ. Suốt những mùa hè ấy, mẹ và tôi ngồi trên chiếc ghế cửa sổ đó, tựa người lên gối, hai chân gác cao, các ngón chân gần như chạm hẳn vào nhau, sách để trên đầu gối. Một đĩa đồ ăn vặt đặt đâu đó, mặc dù mẹ chẳng bao giờ động vào.
Tôi không thể nhìn thẳng vào nó; lại nhìn thấy nó như thế, tôi không khỏi cảm thấy au lòng, tuyệt vọng.
Lớp vữa trát tường đã bong tróc, để lộ lớp gạch trần bên dưới, và toàn bộ bài trí đều mang đậm dấu ấn của chị: những tấm thảm phương Đông trên sàn, đồ nội thất bằng gỗ mun nặng nề, sofa ngồn ngộn và ghế bành bọc da, cộng thêm thừa mứa nến. Và nhìn đâu cũng thấy bằng chứng những mối ám ảnh của chị: bản in những bức tranh lồng khung to tướng, Ophelia của Millais, xinh đẹp và thanh thản, mắt và miệng hé mở, hoa nắm trong tay. Nữ thần Hecate của Blake, Lễ Sabbath của các phù thủy của Goya, Con chó chết đuối cũng của Goya. Em ghét bức tranh đó nhất, con vật tội nghiệp vật lộn giữ cho đầu nhô lên khỏi mặt nước triều dâng.
Tôi nghe được tiếng chuông điện thoại, nó dường như vọng đến từ tầng dưới ngôi nhà. Tôi lần theo âm thanh ấy đi qua phòng khách xuống vài bậc thang - hình như ở đó trước đây từng có một phòng kho, chất đầy đồ tạp nhạp. Có một năm nó bị ngập nước và mọi thứ còn lại đều bị bọc trong bùn, như thể ngôi nhà đã biến thành một phần lòng sông.
Em bước vào căn phòng từng là studio của chị. Nó chất đầy đồ nghề máy ảnh, màn hình, đèn cây, hộp đèn, một cái máy in, giấy tờ và sách chống đống trên sàn, các tủ hồ sơ sắp hàng áp tường. Và ảnh nữa, tất nhiên. Các bức ảnh của chị, phủ kín từng phần vữa trát tường. Đối với một con mắt còn non, có vẻ như chị là một người hâm mộ các cây cầu: cầu Cổng Vàng, cầu sông Dương Tử thành phố Nam Kinh, cầu Prince Edward Viaduct. Nhưng nhìn lại đi. Nó không phải là về những cây cầu, nó không phải một tình yêu nào đó dành cho những kiệt tác xây dựng ấy. Nhìn lại mà xem, rồi ta sẽ thấy không phải chỉ có các cây cầu, mà còn có Mũi Đá Trắng, rừng Aokigahara, vách đá Preikestolen. Các địa điểm mà những con người vô vọng thường tới để chấm dứt hết thảy, những thánh đường của sự tuyệt vọng.
Đối diện với cửa vào, những hình ảnh về Vũng Sông Chết Đuối. Lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại, từ mọi góc độ khả dĩ, mọi điểm ngắm: nhợt nhạt và phủ băng trong mùa đông, vách đá đen nổi bật, hay đang lấp lánh giữa mùa hè, một ốc đảo, xanh tươi mơn mởn, hay xám xịt với những đám mây dông trên đầu, lặp đi lặp lại, lặp đi lặp lại. Những hình ảnh nhòe mờ rồi hòa lẫn làm một, một cuộc tấn công choáng váng vào thị giác. Tôi có cảm giác như tôi đã ở đó, giữa chốn ấy, như thể tôi đang đứng trên đỉnh vách đá nhìn xuống dòng nước, cảm thấy sự rộn ràng khủng khiếp ấy, cái cám dỗ của sự lãng quên.
Nickie
Trong số họ, có những người tự nguyện vào trong dòng nước, cũng có những người không, và nếu ta hỏi Nickie - nói thế không có nghĩa là sẽ có người hỏi, bởi vì chưa từng có ai làm thế - thì câu trả lời là Nel Abbott đã kháng cự. Nhưng sẽ chẳng ai đi hỏi bà, cũng sẽ chẳng ai thèm lắng nghe bà, vậy nên thật ra là có nói gì thì cũng chẳng quan trọng. Với cảnh sát thì lại càng không. Cho dù hồi xưa không dính phải các rắc rối với họ thì bà cũng không thể nói với họ về chuyện này. Quá mạo hiểm.
Nickie có một căn hộ bên trên cửa hàng tạp hóa, thực chất chỉ có một phòng, với một căn bếp tiết kiệm diện tích và một phòng tắm nhỏ tí hin đến độ gần như chẳng xứng được gọi như thế. Sống cả đời người mà chỉ có thế này thì cũng không có gì nhiều để nói, không có gì nhiều để khoe khoang, nhưng bà có một chiếc ghế bành thoải mái kê gần cửa sổ trông ra quang cảnh thị trấn, và bà vẫn lấy đó làm chỗ để ngồi, chỗ để ăn và thậm chí thi thoảng còn làm chỗ ngủ, bởi vì suốt dạo gần đây bà hiếm khi chợp mắt được, nên có vẻ có lên giường hay không cũng chẳng mấy quan trọng.
Bà ngồi quan sát hết thảy những kẻ đến người đi, và nếu không nhìn thì bà cảm nhận. Thậm chí, khi ánh đèn xanh còn chưa nhoáng lên trên cây cầu, bà đã cảm thấy một điều gì đó. Bà không biết đó chính là Nel Abbott, ban đầu thì không. Người ta những tưởng tận mắt thấy là rõ nhất, nhưng chuyện không đơn giản như vậy. Điều duy nhất bà biết là ai đó lại đi bơi. Tắt đèn, bà ngồi đó quan sát một người đàn ông dắt chó chạy lên trên các bậc thang, rồi một chiếc xe trờ đến; không phải một xe cảnh sát đúng kiểu, chỉ là một chiếc thông thường, màu xanh sẫm. Hẳn là thanh tra Sean Townsend, bà nghĩ, và bà đã đúng. Anh ta cùng người đàn ông dắt chó quay ngược xuống các bậc thang và rồi nguyên cả một đoàn xe cảnh sát kéo đến, đèn hiệu xoay nhoang nhoáng nhưng không hú còi. Không cần thiết. Không cần vội.
Hôm qua, lúc mặt trời lên, bà xuống nhà lấy sữa và báo, ai ai cũng đang bàn tán, ai ai cũng đang nói, lại một vụ nữa đấy, lần thứ hai trong năm nay, nhưng khi họ nói người này là ai, khi họ bảo lần này là Nel Abbott, Nickie đã biết vụ thứ hai không hề giống vụ thứ nhất.
Ngay lúc đó, bà đã chớm nảy ra ý định đến gặp Sean Townsend để kể cho anh ta nghe. Nhưng dẫu là một thanh niên trẻ tuổi lịch sự tử tế, anh ta vẫn cứ là cớm, và là con trai của bố anh ta, nên cũng không thể tin anh ta được. Nickie hẳn sẽ chẳng bao giờ cân nhắc đến chuyện này nếu không phải bà vốn có đôi chút cảm tình với Sean. Anh ta cũng là người từng phải trải qua thảm kịch và có Chúa mới biết còn những gì sau đó nữa, và anh ta luôn đối xử tử tế với bà - anh ta là người duy nhất đối xử tử tế với bà, hồi chính bà bị bắt giữ.
Bị bắt lần thứ hai, thành thật mà nói là thế. Chuyện xảy ra cũng tương đối lâu rồi, tầm sáu bảy năm về trước. Bà gần như đã buông bỏ hết công việc kinh doanh sau lần thứ nhất bị kết án lừa đảo, bà chỉ giữ mối giao thiệp với một vài khách quen và mấy người trong giới phù thủy thỉnh thoảng vẫn đến viếng Libby, May và tất cả những người phụ nữ của dòng nước. Đôi khi vào mùa hè bà cũng bói bài tarot, thực hiện vài ba buổi gọi hồn; thỉnh thoảng, người ta nhờ bà gọi hồn một người thân, hoặc một trong những người bơi. Nhưng bà không chèo kéo để kiếm tiền, không hề làm như thế suốt một thời gian dài.
Nhưng rồi người ta cắt các khoản trợ cấp của bà lần thứ hai, vậy nên Nickie đành phải rời khỏi tình trạng bán nghỉ hưu. Với sự giúp đỡ của một chàng tình nguyện viên ở thư viện, bà lập một trang web xem bói, với giá mười lăm bảng nửa giờ. Giá cả cũng tương đối tốt - cứ xét đến việc Susie Morgan trên truyền hình, trình độ đồng cốt chỉ đáng xách dép cho Nickie, vẫn thu phí 29,99 bảng cho hai mươi phút, mà ta thậm chí còn chẳng được nói chuyện trực tiếp với bà ta mà chỉ là với một người trong “tổ tâm linh” của bà ta thôi.
Bà mới lập trang web được vài tuần thì đã bị một nhân viên Cơ quan Tiêu chuẩn Chất lượng Anh tố cáo với cảnh sát vì tội “không cung cấp được những thông báo miễn trừ trách nhiệm cần thiết theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng”. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng! Nickie nói bà không biết là bà lại cần phải cung cấp thông báo miễn trừ trách nhiệm, cảnh sát bèn bảo bà luật đã thay đổi rồi. Sao bà biết được cơ chứ, bà hỏi. Và tất nhiên, câu đó khiến rất nhiều người cười nôn ruột. Cứ tưởng bà biết dự đoán cơ mà! Vậy ra bà chỉ nhìn được mỗi tương lai thôi hả? Quá khứ thì không?
Chỉ có thanh tra Townsend - hồi ấy mới chỉ là một cảnh sát quèn - là không hề cười cượt. Anh ta đã tỏ thái độ tử tế, giải thích rằng tất cả là do các luật mới của EU. Các luật của EU! Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng! Đã có thời, những người giống như Nickie thường bị khởi tố (đày đọa) theo Đạo luật Trừng trị phù thủy và Đạo luật Chống hành nghề tâm linh lừa đảo. Giờ họ lại đụng phải đám quan liêu châu Âu. Thật đúng là người hùng thất thế.
Vậy là Nickie đóng cửa trang web, thề sẽ tránh xa công nghệ và trở lại với cung cách xưa, nhưng thời buổi này hiếm hoi lắm mới có ai đấy đến. Bà phải thừa nhận rằng chuyện tìm thấy Nel chìm trong nước đã khiến bà hơi bất an. Bà không khỏi khó chịu trong lòng. Không phải cảm thấy tội lỗi hay gì, vì đó đâu phải lỗi của Nickie. Tuy nhiên, bà vẫn thầm băn khoăn không biết bà có nói quá nhiều, để lộ quá nhiều. Nhưng chẳng ai có thể đổ lỗi rằng bà là người đã bắt đầu toàn bộ chuyện này. Nel Abbott vốn đã đang đùa với lửa rồi - cô bị ám ảnh bởi dòng sông cùng các bí mật của nó, thứ ám ảnh kiểu ấy không bao giờ kết thúc có hậu. Không, Nickie chưa bao giờ khuyên Nel đi tìm rắc rối, bà chỉ chỉ đường cho cô mà thôi. Và đâu phải bà không cảnh báo cô? Vấn đề là, chẳng ai chịu nghe cả. Nickie vẫn bảo rằng ở trong cái thị trấn này, có những người đàn ông sẽ đày cô vào địa ngục ngay khi nhìn thấy cô, luôn luôn như thế. Nhưng mọi người cứ cố tình nhắm mắt làm ngơ, chẳng phải thế sao? Chẳng ai muốn nhớ đến cái thực tế rằng nước con sông này đã nhiễm máu và nỗi oán giận của những phụ nữ bị đọa đày, những phụ nữ thiếu hạnh phúc, người ta vẫn uống nước đó ngày ngày.
Jules
Chị chẳng bao giờ thay đổi. Lẽ ra em nên biết điều đó. Em đã biết điều đó.
Chị yêu Cối Xay cùng dòng nước và chị bị ám ảnh bởi những phụ nữ ấy, bởi những điều họ đã làm và những người họ đã bỏ lại phía sau. Và giờ thì thế này đây. Thật tình, Nel. Chị đã thực sự đi xa đến thế kia ư?
Trên tầng, em ngập ngừng một lúc bên ngoài phòng ngủ chính. Các ngón tay đặt trên tay nắm cửa, em hít một hơi thở sâu. Em biết họ đã nói gì, nhưng em cũng hiểu rõ chị, nên em không thể nào tin lời họ được. Em có cảm giác chắc chắn rằng khi em mở cửa, chị sẽ ở đó, cao dong dỏng, và chẳng hề dễ chịu khi nhìn thấy em.
Phòng trống không. Nó toát lên cái không khí của một nơi chỉ vừa bị bỏ trống, như thể chị chỉ vừa ra ngoài chạy xuống tầng dưới để pha một tách cà phê. Như thể chị sẽ quay trở lại bất kỳ lúc nào. Em vẫn có thể ngửi thấy mùi nước hoa của chị vương trong không khí, một thứ mùi đậm hương, ngọt ngào và cũ kỹ, giống y như một trong những loại nước hoa mẹ thường dùng, Opium hoặc Yvresse.
“Nel?” em khẽ gọi tên chị, như muốn gọi hồn chị, giống như với một con quỷ. Sự im lặng đáp lời em.
Xa hơn nữa về phía cuối hành lang là “phòng của em” - căn phòng em từng ngủ: bé nhất trong nhà, phù hợp với người nhỏ tuổi nhất. Nó thậm chí còn có vẻ nhỏ hơn so với trong trí nhớ của em, tối tăm hơn, u sầu hơn. Một phòng đơn trống hoác, chỉ có một cái giường đơn không dọn và bốc mùi âm ẩm như mùi đất. Em chưa từng có một giấc ngủ ngon trong căn phòng này, em chưa từng được thư thái. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, nếu xét đến chuyện chị vẫn thích dọa cho em phát hãi như thế nào. Chị ngồi ở phía bên kia bức tường, cào móng tay lên lớp vữa trát, dùng sơn móng tay màu đỏ máu để vẽ các biểu tượng lên phía sau cửa ra vào, viết tắt tên những phụ nữ đã chết lên cửa sổ. Lại còn tất tật những câu chuyện chị đã kể cho em, về các phù thủy bị lôi tới dòng nước, hay những phụ nữ tuyệt vọng gieo mình khỏi vách núi xuống bãi đá tảng bên dưới, về một cậu bé hoảng loạn trốn trong rừng và chứng kiến cảnh mẹ mình nhảy xuống cái chết.
Em không nhớ vụ đó. Tất nhiên em không nhớ. Lúc xem xét cái ký ức về việc quan sát cậu bé, em thấy nó thật phi lý: nó rời rạc y như một giấc mơ. Chị đang thì thầm vào tai em - chuyện đó đã không xảy ra vào một buổi tối giá rét căm căm nào đó bên dòng nước. Dù sao đi nữa, chúng ta chưa bao giờ ở đây vào mùa đông, chẳng hề có những buổi tối giá rét căm căm bên dòng nước. Em chưa từng nhìn thấy một đứa trẻ nào hoảng loạn trên cầu giữa đêm khuya - em, vốn cũng chỉ là một đứa bé con, thì làm gì ở đấy chứ? Không, đó là một câu chuyện chị đã kể, rằng cậu bé đã núp giữa đám cây và nhìn lên thấy bà ấy ra sao, mặt bà ấy tái nhợt y như chiếc váy ngủ của bà ấy dưới ánh trăng, cậu ấy nhìn lên và thấy bà ấy gieo mình như thế nào, tay dang ra như cánh, vào trong không trung tĩnh lặng, tiếng kêu trên đôi môi bà ấy tắt lịm ra sao khi bà ấy đâm vào dòng nước tối đen.
Em thậm chí còn chẳng biết liệu có thật là từng có một cậu bé chứng kiến cảnh mẹ cậu ta chết, hay chính chị đã bịa ra toàn bộ chuyện ấy.
Em rời khỏi căn phòng cũ của mình và sang phòng chị, nơi đã từng là phòng của chị, và nhìn bề ngoài thì giờ hẳn là phòng của con gái chị. Một đống bề bộn nào quần áo nào sách vở, một cái khăn tắm ẩm ướt nằm trên sàn, mấy cái ca bẩn trên bàn cạnh giường, mùi khói đi lởn vởn trong không khí và mùi nồng sực của những bông huệ tây đang đà thối rữa héo rũ trong một cái bình cạnh cửa sổ.
Chẳng suy nghĩ gì, em bắt tay vào dọn dẹp. Em giữ thẳng đống chăn ga gối đệm, treo khăn tắm lên giá trong phòng tắm. Em đang quỳ gối để lấy một cái đĩa bẩn dưới gầm giường ra thì nghe thấy tiếng chị, như con dao găm đâm vào trong lồng ngực em.
“Cô đang làm cái đếch gì vậy?”
Jules
Em lồm cồm bò dậy, nụ cười đắc thắng nở trên môi, vì em đã biết mà - em biết họ nhầm rồi, em đã biết thật sự chị vẫn chưa ra đi. Và chị đứng đó, trên ngưỡng cửa, bảo em hãy cút MẸ NÓ ra khỏi phòng chị. Mười sáu, mười bảy tuổi, bàn tay nắm cổ tay em, những móng tay sơn màu cắm vào da thịt em. Chị bảo RA NGOÀI cơ mà, Julie. Con bò béo.
Nụ cười chết lịm, bởi vì tất nhiên làm gì có chuyện đó là chị chứ, đó là con gái chị, trông gần như giống hệt chị hồi thiếu nữ. Con bé đứng trên ngưỡng cửa, một tay chống lên hông. “Cô đang làm gì ở đây?” nó hỏi lại.
“Dì xin lỗi,” tôi nói. “Dì Jules đây. Chúng ta chưa gặp nhau lần nào, nhưng dì là dì của cháu.”
“Cháu không hỏi dì là ai,” con bé nói, nhìn tôi như nhìn một con ngốc. “Cháu hỏi là dì đang làm gì vậy. Dì đang tìm cái gì?” Đôi mắt con bé trượt khỏi mặt tôi và nó liếc về phía cửa phòng tắm. Tôi chưa kịp trả lời thì nó đã nói tiếp, “Cảnh sát đang ở dưới nhà,” và nó hiên ngang bỏ đi xuôi theo hành lang, chân dài, dáng đi uể oải, đôi dép tông vỗ trên mặt sàn lát gạch.
Tôi vội đuổi theo con bé.
“Lena” tôi nói, đặt tay lên cánh tay con bé. Nó giật tay ra như phải bỏng, quay ngoắt lại trừng mắt nhìn tôi. “Dì xin lỗi.”
Con bé cụp mắt xuống, ngón tay xoa xoa chỗ tôi vừa chạm vào. Móng tay nó vẫn còn dấu sơn móng tay cũ màu xanh dương, các đầu ngón tay trông chẳng khác gì thuộc về một xác chết. Con bé gật đầu, không nhìn vào mắt tôi. “Cảnh sát cần nói chuyện với dì,” nó nói.
Con bé không giống như tôi trông đợi. Tôi đã hình dung ra một đứa bé con, đang con quẫn trí, tuyệt vọng cầu an ủi. Nhưng con bé không như thế, tất nhiên, nó không phải đứa bé con, nó đã mười lăm và trưởng thành đến nơi rồi, còn về chuyện tìm kiếm sự an ủi - con bé có vẻ chẳng hề cần đến điều này, hoặc ít nhất, không phải là từ tôi. Xét cho cùng, nó là con gái chị tôi cơ mà.
Các điều tra viên đang đợi trong bếp, đứng cạnh bàn, nhìn ra phía cây cầu. Một người đàn ông dáng cao mặt lún phún những sợi râu màu muối tiêu và bên cạnh anh ta là một phụ nữ thấp hơn chúng một cái đầu.
Người đàn ông bước về phía trước, chìa một bàn tay ra, đôi mắt màu xám nhạt dán chặt lên mặt tôi. “Thanh tra Sean Townsend,” anh ta nói. Lúc anh ta đưa tay ra, tôi để ý thấy anh ta hơi run. Da anh ta có vẻ lạnh lẽo và mong manh khi áp lên da tôi, như thể là da của một người già hơn nhiều. “Tôi rất tiếc về mất mát của cô.”
Thật kỳ lạ biết bao khi nghe những lời lẽ ấy. Hôm qua họ cũng nói thế, lúc đến thông báo cho tôi. Tôi suýt nữa đã nói những lời ấy với Lena, nhưng giờ nó mang lại cảm giác khác hẳn. Mất mát của cô. Tôi những muốn nói với họ, chị ấy không mất đâu. Không thể. Các vị không hiểu Nel, các vị không biết chị ấy là người như thế nào đâu.
Thanh tra Townsend đang nhìn thẳng vào mặt tôi, chờ tôi nói gì đó. Anh ta lừng lững phía trên tôi, gầy và sắc, như thể ai đứng gần anh ta quá thì có khi bị cắt vào người. Tôi vẫn đang nhìn anh ta thì nhận ra người phụ nữ cũng đang quan sát tôi, với vẻ cảm thông sâu sắc.
“Tôi là hạ sĩ Erin Morgan,” cô nói. “Tôi rất lấy làm tiếc.” Cô có nước da màu ô liu, mắt đen, tóc đen ánh xanh như màu cánh quạ. Cô đã chải hết tóc ra sau để nó không chờm lên mặt, nhưng những lọn tóc xoăn ở thái dương và sau tai vẫn thoát khỏi vòng kiểm soát, khiến cô trông có vẻ đầu bù tóc rối.
“Hạ sĩ Morgan sẽ là đầu mối giữa cô và cảnh sát.” Thanh tra Townsend nói. “Cô ấy sẽ thường xuyên cập nhật cho cô biết chúng tôi đã điều tra đến đâu.”
“Có cuộc điều tra à?” tôi lẳng lặng hỏi.
Người phụ nữ gật đầu mỉm cười và ra hiệu cho tôi ngồi xuống bàn bếp, tôi bèn làm theo. Hai cảnh sát ngồi đối diện tôi. Thanh tra Townsend cụp mắt xuống và chà lòng bàn tay phải ngang cổ tay trái anh ta với những chuyển động nhanh, giật cục: một, hai, ba.
Hạ sĩ Morgan đang nói với tôi, giọng nói bình tĩnh trấn an trái ngược hẳn với những lời lẽ thoát ra từ miệng cô. “Sáng sớm nay, một người đàn ông dắt chó đi dạo đã phát hiện ra thi thể của chị gái cô trong dòng sông, cô nói. Một giọng London, êm như làn khói. “Bằng chứng sơ bộ cho thấy cô ấy đã ở dưới nước được vài giờ.” Cô liếc nhìn sang viên thanh tra và rồi lại quay về phía tôi. “Cô ấy vẫn ăn mặc chỉnh tề, và các vết thương phù hợp với một cú ngã từ vách đá phía bên trên dòng sông.”
“Các vị cho rằng chị ấy bị ngã à?” tôi hỏi. Tôi nhìn từ hai viên cảnh sát cho tới Lena, vốn đã theo tôi xuống tầng dưới và giờ đang đứng ở phía bên kia căn bếp, tựa người vào quầy bếp. Chân trần, quần legging đen, áo ba lỗ xám chật căng trên hai xương quai xanh nhọn hoắt và hai núm vú nhỏ xíu, con bé phớt lờ mấy người chúng tôi, như thể chuyện đã xảy ra thật tầm thường, vô vị. Như thể nó là chuyện thường ngày. Con bé nắm chặt điện thoại trong bàn tay phải, ngón cái cuộn màn hình xuống, cánh tay trái ôm quanh cơ thể gầy gò, bắp tay phỏng chừng chỉ to bằng cổ tay tôi. Khuôn miệng rộng, sưng sĩa, lông mày đen, mái tóc vàng bết bẩn xõa xuống mặt.
Hẳn con bé đã cảm thấy tôi đang quan sát nó, vì nó nhướng mắt lên nhìn tôi và rồi thoáng trợn mắt, khiến tôi phải tránh mắt đi chỗ khác. Con bé nói, “Dì không nghĩ là mẹ ngã phải không?” con bé nói, môi cong lên. “Dì hiểu quá mà.”
Lena
Tất cả bọn họ đều nhìn tôi chằm chằm và tôi muốn hét thẳng vào mặt họ, bảo họ cút khỏi nhà chúng tôi đi. Nhà của tôi. Đây là nhà tôi, nhà của chúng tôi, nó sẽ không bao giờ là của dì. Dì Julia. Tôi tìm thấy dì ấy trong phòng tôi, lục lọi đồ đạc của tôi trong khi thậm chí còn chưa hề gặp tôi. Rồi dì cố gắng tỏ ra ân cần, bảo tôi rằng dì xin lỗi, như thể đúng lý ra tôi nên tin rằng dì cũng quan tâm cái khỉ gì đó.
Tôi mất ngủ đã hai ngày nay và tôi không muốn nói chuyện với dì hay với bất cứ ai. Cũng chẳng thèm sự giúp đỡ của dì hay lời chia buồn khỉ gió của dì, và tôi không muốn nghe những lý luận khập khiễng về chuyện đã xảy ra với mẹ tôi từ những người thậm chí chẳng hề quen biết mẹ.
Tôi vẫn cố giữ mồm giữ miệng, nhưng đến lúc họ nhắc đến chuyện có lẽ mẹ đã ngã như thế nào thì tôi không kiềm được cơn tức giận, bởi vì tất nhiên mẹ không ngã. Mẹ không ngã. Bọn họ không hiểu. Đây không phải một tai nạn ngẫu nhiên, mẹ đã chủ động làm thế. Ý tôi là, giờ thì chắc chuyện đó cũng chẳng thành vấn đề, nhưng tôi cảm thấy mọi người ít nhất cũng nên thừa nhận sự thật.
Tôi bảo họ: “Mẹ tôi không ngã. Bà ấy đã tự nhảy xuống.”
Cô nàng cảnh sát bắt đầu hỏi những câu ngu ngốc nào là tại sao tôi lại nói thế, có phải mẹ phiền muộn trong lòng và có phải trước đây mẹ đã từng thử làm thế rồi, và suốt trong lúc đó, dì Julia chỉ chăm chăm nhìn tôi bằng đôi mắt nâu sầu muộn như thể tôi là một đứa đồng bóng dở hơi.
Tôi bảo họ: “Cô chú biết thừa bà ấy bị ám ảnh bởi vũng sông đó, bởi tất cả những chuyện đã xảy ra ở đó, bởi tất cả những người đã chết ở đó. Cô chú biết chuyện đó. Thậm chí dì cũng biết,” tôi nói, nhìn Julia.
Dì ấy há miệng ra rồi lại ngậm miệng vào, như một con cá. Tôi phần nào muốn kể cho họ nghe tất cả mọi chuyện, phần nào muốn giải thích rõ ràng với họ, nhưng làm thế cũng có được cái gì đâu? Tôi không nghĩ là họ đủ khả năng hiểu được.
Sean - Thanh tra Townsend, cách gọi hẳn là tôi nên dùng trong lúc trao đổi công việc chính thức - bắt đầu hỏi dì Julia này nọ: dì nói chuyện với mẹ tôi lần cuối khi nào? Trạng thái tinh thần của mẹ tôi khi đó ra sao? Có vấn đề gì phiền lòng mẹ tôi không? Và dì Julia ngồi đó mà dối trá. “Tôi không nói chuyện với chị ấy nhiều năm nay rồi,” dì nói, mặt đỏ lựng khi thốt ra những lời ấy. “Chúng tôi đã trở nên xa cách.”
Dì ấy có thể thấy rõ tôi đang nhìn và dì hiểu rõ tôi biết thừa dì là đồ rác rưởi nên càng lúc mặt dì càng đỏ, rồi dì cố gắng chuyển hướng sự chú ý đang dồn vào dì bằng cách nói chuyện với tôi. “Tại sao, Lena, tại sao cháu lại bảo mẹ cháu đã tự nhảy?”
Tôi nhìn Julia một hồi lâu trước khi trả lời. Tôi muốn dì biết rằng tôi đã nhìn thấu dì. “Cháu lấy làm ngạc nhiên vì dì hỏi cháu câu ấy đấy,” tôi nói. “Chẳng phải chính dì từng bảo mẹ rằng mẹ vẫn chờ mong cái chết hay sao?”
Dì bắt đầu lắc đầu rồi nói,“Không, không, dì không bảo thế, không phải như thế…” Đồ dối trá.
Viên cảnh sát kia - người phụ nữ - bắt đầu nói về chuyện họ “trong lần này không thấy có bằng chứng nào chứng tỏ đây là một hành động cố ý”, và rằng họ không tìm thấy thư từ gì. Đến lúc đó, tôi không cách nào không phá lên cười. “Cô chú tưởng là mẹ cháu sẽ để lại thư à? Mẹ cháu sẽ chẳng để lại một cái thư khỉ gió nào đâu. Làm thế thì, nói thế nào nhỉ, tầm thường quá.”
Julia gật đầu. “Chuyện đó… đúng vậy đấy. Tôi có thể thấy rõ Nel muốn tất cả mọi người phải băn khoăn… Chị ấy thích sự bí ẩn. Và chị ấy cũng sẽ thích được làm trung tâm của một bí ẩn.”
Lúc đó, tôi chỉ muốn tát dì. Con mụ khốn kiếp ngu đần, tôi những muốn nói, đây cũng là lỗi của dì đấy.
Cô cảnh sát bắt đầu lăng xa lăng xăng, rót nước vào cốc cho tất cả mọi người rồi cố nhét một cốc vào tay tôi, và tôi chỉ thấy không thể chịu đựng thêm được nữa. Tôi biết tôi sắp òa khóc đến nơi nhưng tôi sẽ không làm thế trước mặt họ.
Thay vào đó, tôi về phòng, khóa cửa lại và khóc trong đó. Tôi quấn người trong một cái khăn quàng cổ, khóc một cách âm thầm hết mức. Tôi vẫn cố không nhượng bộ nó, cái thôi thúc được phó mặc bản thân cho cảm xúc và suy sụp, bởi vì tôi có cảm giác rằng một khi đã bắt đầu, nó sẽ không bao giờ dừng lại.
Tôi luôn cố không để cho những từ này bật ra, nhưng chúng vẫn trở đi trở lại trong đầu tôi: Con xin lỗi con xin lỗi con xin lỗi, là lỗi của con. Tôi không ngừng nhìn chăm chăm vào cửa phòng ngủ và tua đi tua lại trong đầu cái thời điểm buổi tối Chủ nhật đó khi mẹ vào chúc tôi ngủ ngon. Mẹ bảo, “Dù có chuyện gì xảy ra, con vẫn biết là mẹ rất yêu con, phải không, Lena?” Tôi lăn người đi và đeo tai nghe vào, nhưng tôi biết mẹ vẫn đứng đó, tôi có thể cảm nhận được mẹ đang đứng đó quan sát tôi, dường như tôi có thể cảm nhận được nỗi u sầu của mẹ và tôi đã lấy làm mừng vì tôi cảm thấy mẹ đáng bị như thế. Tôi sẵn lòng làm bất cứ điều gì, bất cứ điều gì, để có thể đứng dậy ôm chầm lấy mẹ và nói với mẹ rằng tôi cũng yêu bà, và mẹ hoàn toàn không hề có lỗi, lẽ ra tôi đừng bao giờ nói rằng lỗi hoàn toàn thuộc về mẹ. Nếu mẹ phạm phải tội lỗi gì đó, vậy thì chính tôi cũng vậy.
Mark
Hôm đó là ngày nóng nhất kể từ đầu năm và vì Vũng Sông Chết Đuối đang cấm người lai vãng, bởi những lý do hiển nhiên, Mark bèn lên thượng lưu sông bơi. Phía trước căn nhà nhỏ của gia đình Ward, nơi khúc sông nở rộng ra, con sông duỗi mình trải dài, dòng nước mát lạnh chảy xiết qua bãi đá cuội màu gỉ sét ven bờ, nhưng chính giữa sông, nước sâu và lạnh đến độ đủ sức giằng hơi thở ra khỏi buồng phổi ta và thiêu đốt da ta, cái lạnh theo kiểu khiến ta cười rú lên vì sốc khi chạm vào nó.
Và anh ta làm thế thật, anh ta cười rú lên - lần đầu tiên sau nhiều tháng, anh ta lại thấy muốn cười. Cũng là lần đầu tiên sau nhiều tháng, anh ta xuống nước. Đối với anh ta, dòng sông đã từ một nguồn thư giãn trở thành một chốn kinh hoàng, nhưng hôm nay nó đã chuyển đổi trở lại. Hôm nay, cảm giác thật đúng. Anh ta đã biết ngay từ lúc tỉnh dậy, đầu óc nhẹ nhõm sáng sủa hơn, chân tay thả lỏng hơn, rằng hôm nay là một ngày đẹp để đi bơi. Hôm qua, người ta đã phát hiện ra Nel Abbott chết trong dòng nước. Hôm nay là một ngày đẹp. Cũng không hẳn là anh ta cảm thấy một gánh nặng đã được dỡ bỏ, nhưng dường như một cái ê tô - một cái ê tô vẫn ấn vào hai bên thái dương anh ta, đe dọa sự sáng suốt của anh ta, đe dọa cuộc sống của anh ta - cuối cùng cũng đã được nới lỏng.
Một nữ cảnh sát đã đến nhà, một điều tra viên rất trẻ với vẻ ngọt ngào khá nữ tính khiến anh ta chỉ muốn kể cho cô nghe những chuyện thật sự không nên nói. Callie Gì Đó, tên cô là thế. Anh ta đã mời cô vào nhà và kể cho cô nghe sự thật. Anh ta bảo anh ta đã thấy Nel Abbott rời quán rượu vào tối Chủ nhật. Anh ta không nhắc đến chuyện mình đã đến đó với mục đích rõ ràng là để tình cờ gặp được cô ta, chuyện đó đâu có gì quan trọng. Anh ta bảo họ đã nói chuyện với nhau, nhưng chỉ chớp nhoáng thôi, vì Nel đang vội.
“Hai người nói chuyện gì?” cô cảnh sát hỏi anh ta.
“Con gái cô ấy, Lena, là học sinh của tôi. Tôi gặp chút rắc rối với nó học kỳ vừa rồi - các vấn đề kỷ luật, đại loại thế. Con bé sẽ lại học lớp tiếng Anh của tôi vào tháng Chín này - đây là một năm quan trọng, năm phải thi lấy chứng chỉ GCSE - vậy nên tôi muốn đảm bảo rằng chúng tôi sẽ không gặp thêm bất kỳ vấn đề nào nữa.”
Đủ xác thực.
“Cô ấy bảo không có thời gian, rằng cô ấy còn bận nhiều công chuyện khác.”
Cũng xác thực, mặc dù không phải là toàn bộ sự thật. Không phải là không gì ngoài sự thật.
“Cô ấy không có thời gian trao đổi về các vấn đề ở trường của con gái cô ấy?” cô cảnh sát hỏi.
Mark nhún vai, trao cho cô nụ cười ủ dột. “Phụ huynh thì vẫn có người để tâm nhiều người để tâm ít mà,” anh ta nói.
“Khi rời khỏi quán rượu, cô ấy đi đâu? Cô ấy có lái xe không?”
Mark lắc đầu. “Không, có lẽ cô ấy về nhà. Cô ấy đi bộ về hướng đấy.”
Cô điều tra viên gật đầu. “Sau đó anh không gặp lại cô ấy nữa à?” cô hỏi, và Mark lắc đầu.
Vậy đấy, nó có một phần là sự thật, một phần là dối trá, nhưng dù sao đi nữa cô cảnh sát có vẻ cũng hài lòng, Cô để lại cho anh ta tấm danh thiếp có số điện thoại để liên hệ và dặn anh ta liên lạc nếu có thêm bất kỳ thông tin gì khác.
“Tôi sẽ làm thế,” anh ta nói, rồi anh ta nở nụ cười quyến rũ quen thuộc và cô chùn lại. Anh ta thầm hỏi không biết có phải mình đã tỏ ra quá lố không.
Giờ anh ta đã ngụp xuống dưới dòng nước, lặn xuống tiến về phía lòng sông, học ngón tay vào trong lớp bùn mềm dày. Anh ta cuộn người lại thành một quả bóng chật khít và rồi bằng một cú bung lực mạnh mẽ, anh ta đẩy người quay ngược trở lên mặt nước, hóp không khí vào trong buồng phổi.
Anh ta rồi sẽ nhớ con sông cho xem, nhưng đã đến lúc anh ta sẵn sàng lên đường rồi. Anh ta sẽ phải bắt đầu tìm một công việc mới, có lẽ ở Scotland, hay thậm chí có khi xa hơn nữa: Pháp, hoặc Italy, một nơi nào đó không ai biết anh ta đến từ đâu, hay đã có chuyện gì xảy ra trong quá khứ. Anh ta mơ về một cuộc sống không ràng buộc, một tờ giấy trắng, một quá khứ không tì vết.
Lúc lao người về phía bờ sông, anh ta cảm thấy cái ô tô lại một lần nữa siết nhẹ. Anh ta vẫn chưa thoát khỏi nguy nan. Vẫn chưa đâu. Vẫn còn đứa con gái nữa, nó vẫn có thể gây nên rắc rối, tuy nhiên vì nó vẫn im hơi lặng tiếng suốt bao lâu nay nên có vẻ như không có nhiều khả năng đến bây giờ nó sẽ phá vỡ sự im lặng của mình. Ta thích nói gì về Lena Abbott thì cứ việc nói thoải mái, nhưng chắc chắn một điều nó là đứa trung thành; nó là đứa biết giữ lời. Và có lẽ bây giờ, sau khi được giải thoát khỏi tầm ảnh hưởng độc hại của người mẹ, nó thậm chí còn có thể trở thành một người tử tế.
Anh ta ngồi trên bờ sông một lát, đầu cúi xuống, lắng nghe khúc ca của dòng sông, cảm nhận hơi ấm mặt trời trên hai vai. Sự hồ hởi của anh ta đã bốc hơi cùng với những vệt nước trên lưng, nhưng lại để một thứ khác thế vào chỗ nó, không hẳn là cảm giác hy vọng, mà là một linh cảm thầm lặng rằng ít nhất ta cũng có thể hy vọng.
Anh ta nghe thấy tiếng động và ngước nhìn lên. Ai đó đang đến. Anh ta nhận ra hình dáng bà, bước đi chậm rãi đến khổ sở của bà, và trái tim anh ta đập mạnh hơn trong lồng ngực. Louise.
Louise
Có một người đàn ông đang ngồi bên bờ sông. Thoạt tiên bà tưởng anh ta không mặc gì nhưng đến lúc anh ta đứng dậy bà có thể nhìn ra anh ta đang mặc quần bơi, ngắn, chật khít và bó sát. Bà cảm thấy mình đang để ý đến anh ta, để ý đến da thịt anh ta, và bà đỏ bừng mặt. Đó là Mark Henderson.
Đến lúc bà tới được chỗ anh ta, Mark đã quấn một cái khăn tắm quanh eo và trong cái áo phông qua đầu. Anh ta bước về phía bà, chìa tay ra.
“Dạo này bà thế nào, bà Whittaker?”
“Louise,” bà nói. “Xin hãy gọi thế.”
Anh ta cúi đầu xuống, hơi nhếch môi cười. “Louise. Dạo này bà thế nào?”
Bà cố gắng mỉm cười đáp lại. “Anh biết mà.” Anh ta không biết. Chẳng ai biết hết. “Họ vẫn nói với ta - bọn họ ấy, để tôi nói cho mà nghe! Các chuyên gia tư vấn nỗi đau vẫn bảo ta rằng ta sẽ có cả ngày tốt lẫn ngày xấu, và ta phải đương đầu với nó thôi.”
Mark gật đầu, nhưng ánh mắt anh ta trượt đi không nhìn thẳng vào mắt bà, và bà thấy hai gò má anh ta đỏ ủng lên. Anh ta đang ngại ngùng.
Ai cũng ngại ngùng. Trước khi cuộc đời bà bị xé cho tan nát, bà chưa bao giờ nhận ra nỗi sầu đau lại khiến ta khó xử biết bao nhiêu, sự bất tiện lớn đến mức nào đối với tất cả những ai tiếp xúc với người có tang. Thoạt tiên, nó được thừa nhận, được tôn trọng và thuận theo. Nhưng sau một thời gian, nó lại chắn đường những thứ khác - những đối thoại, cười đùa, cuộc sống bình thường. Mọi người muốn để nó lại phía sau, muốn tiếp tục cuộc sống, nhưng rồi ta lại ở đó, giữa lối đi, chặn ngang con đường, lôi theo sau đứa con đã chết.
“Dòng nước thế nào?” bà hỏi, và màu sắc trên mặt anh ta càng đậm hơn. Dòng nước, dòng nước, dòng nước - trong thị trấn này thì chẳng cách nào thoát khỏi nó được. “Lạnh nhỉ,” bà nói, “tôi đoán vậy.”
Anh ta giũ đầu như chú chó ướt. “Brừùừừừừ!” anh ta nói và bật cười ngượng ngập.
Một con voi đang chắn giữa hai người họ và bà cảm thấy bà cần phải chỉ nó ra.
“Anh đã nghe chuyện của mẹ Lena chưa?” Như thể anh ta vẫn chưa nghe vậy. Như thể trong thị trấn này còn có ai vẫn chưa biết vậy.
“Rồi. Kinh khủng thật. Chúa ơi, chuyện thật kinh khủng. Sốc thế kia chứ.” Anh ta chìm vào im lặng, và vì Louise không đáp lại gì, anh ta lại nói tiếp. “Ừm… Ý tôi là, tôi biết bà và cô ấy…” Anh ta dừng lại giữa chừng, ngoái nhìn qua vai về phía ô tô riêng. Anh ta chỉ nhằm nhằm muốn được bỏ đi, anh chàng tội nghiệp.
“Không hẳn vừa mắt nhau?” Louise ướm lời. Bà nghịch nghịch sợi dây chuyền quấn quanh cổ, lôi lôi kéo kéo mặt dây, một chú chim sơn ca. “Không, chúng tôi không vừa mắt nhau. Dù có đúng như thế thì…”
Dù có đúng như thế là cách nói phù hợp nhất bà có thể tìm ra. Không vừa mắt nhau là một cách nói giảm nói tránh lố bịch, nhưng chẳng cần phải nói toạc móng heo ra làm gì. Henderson biết thừa về mối hiềm khích, và quỷ tha ma bắt bà đi nếu bà đứng bên dòng sông giả vờ như bà không lấy làm vui mừng vì Nel Abbott đã kết thúc cuộc đời ở trong nó. Bà không thể, bà không uốn.
Khi nghe các chuyên gia tư vấn về nỗi đau nói chuyện, bà đã biết họ chỉ đang nói vớ nói vẩn, và bà sẽ không bao giờ, vĩnh viễn không bao giờ có thêm một ngày tốt đẹp nào nữa trong suốt phần đời còn lại, tuy nhiên, trong khoảng hai mươi bốn tiếng đồng hồ vừa qua, đã có nhiều lúc bà cảm thấy thật khó để che giấu vẻ đắc thắng khỏi lồ lộ trên mặt.
“Có lẽ, theo một cách kinh khủng,” Henderson đang nói, “nó phù hợp đến kỳ cục, đúng không? Cái cách cô ấy đã…”
Louise gật đầu nghiêm trang. “Có lẽ đó đúng là điều cô ta muốn đấy. Có lẽ đó chính là điều cô ta đã muốn.”
Mark cau mày. “Bà cho là cô ấy… Bà nghĩ chuyện này đã được tính toán sẵn à?”
Louise lắc đầu. “Tôi thật sự chẳng biết gì hết.”
“Không. Không. Tất nhiên là không rồi.” Anh ta dừng lại. “Ít nhất… ít nhất bây giờ, thứ cô ấy đã bắt tay vào viết ấy sẽ không được xuất bản, phải không? Cuốn sách cô ấy đang viết về vùng sông ấy - nó chưa xong mà, phải không? Vậy thì nó không thể được xuất bản…”
Louise nhìn xoáy thẳng vào anh ta. “Anh nghĩ thế à? Tôi thì lại cho rằng cái cách cô ta chết sẽ khiến cho nó càng dễ được xuất bản hơn. Một phụ nữ viết sách về những người đã chết trong Vũng Sông Chết Đuối lại biến thành một trong những người bị chết đuối? Theo tôi thì sẽ có người muốn xuất bản nó đấy.”
Mark có vẻ hoảng. “Nhưng Lena… Chắc chắn Lena… Con bé sẽ không muốn…”
Louise nhún vai. “Ai mà biết được?” bà nói. “Tôi đoán con bé sẽ là người được hưởng nhuận bút.” Bà thở dài. “Tôi phải quay về thôi, anh Henderson.” Bà vỗ vỗ cánh tay anh ta và anh ta phủ bàn tay lên tay bà.
“Tôi rất tiếc, bà Whittaker,” anh ta nói, và bà không khỏi xúc động khi thấy nước mắt dâng lên trong đôi mắt của người đàn ông tội nghiệp.
“Louise,” bà nói. “Cứ gọi tôi là Louise. Và tôi biết chứ. Tôi biết anh cảm thấy thế nào mà.”
Louise bắt đầu lên đường về nhà. Cuốc đi bộ ngược xuôi quãng đường ven sông này khiến bà mất mấy tiếng đồng hồ - trong cái nóng này thì thậm chí còn lâu hơn - nhưng bà chẳng thể tìm ra cách nào khác để giết thời gian. Nói thế không có nghĩa là chẳng có việc gì để làm. Còn có các đại lý bất động sản cần liên hệ, các môn học cần nghiên cứu. Một cái giường cần dọn dẹp và một tủ quần áo chật ních cần đóng bọc cất đi. Một đứa trẻ cần bàn tay phụ huynh chăm sóc. Có lẽ là ngày mai. Ngày mai bà sẽ làm những việc ấy, còn hôm nay, bà đi dạo bên sông và nghĩ về con gái mình.
Hôm nay, bà vẫn làm như hằng ngày, bà lục lọi trong ký ức vô dụng của mình, tìm kiếm những dấu hiệu ắt hẳn bà đã bỏ lỡ, những tín hiệu đáng báo động ắt hẳn bà đã vô tình đi lướt qua. Bà tìm kiếm những mảnh vụn, tìm kiếm những dấu hiệu mơ hồ của bất hạnh trong cuộc sống hạnh phúc con bà. Bởi vì, quả thật, họ chưa bao giờ lo lắng về Katie. Katie là đứa sáng dạ, tài năng, điềm đạm, mang một ý chí thép. Con bé đã bước vào thời thiếu nữ như thể đó chỉ là chuyện vặt, nó dễ dàng vượt qua chướng ngại vật: nếu có bất kỳ điều gì phiền lòng, thì đó là thỉnh thoảng Louise thấy buồn vì Katie có vẻ chẳng cần gì đến bố mẹ. Chẳng gì khiến nó hoang mang - kể cả bài tập ở trường, sự quan tâm ở giả tạo của người bạn thân thiếu thốn tình cảm, thậm chí đến cả sự nở rộ đột ngột, gần như choáng váng của nhan sắc trưởng thành của con bé. Louise vẫn nhớ rõ mồn một nỗi xấu hổ gắt gao, tủi nhục dâng lên trong lòng khi bà để ý thấy cánh đàn ông đang nhìn vào cơ thể của bà hồi bà còn thiếu nữ, nhưng Katie chẳng thể hiện gì như thế hết. Thời thế khác nhau, Louise tự nhủ, con gái thời nay khác rồi.
Louise và chồng, Alec, không lo lắng về Katie, họ lo cho Josh. Vốn lúc nào cũng nhạy cảm, lúc nào cũng tỏ ra bất an, năm nay thằng bé lại gặp một chuyện gì đó, một chuyện gì đó đã quấy rầy nó, nó càng lúc càng trở lên rụt rè, càng sống nội tâm hơn, dường như mức độ tăng tiến theo từng ngày. Hai vợ chồng lo con trai bị bắt nạt, lo nó bị lưu ban, lo về những quầng thâm dưới mắt nó vào buổi sáng. Sự thật là - sự thật ắt phải là trong lúc họ chăm chăm dõi theo con trai, chờ đợi nó trượt chân thì thay vào đó, chính con gái họ lại vấp ngã, và họ đã không để ý, họ đã không có ở đó để đón đỡ con bé. Mặc cảm tội lỗi như một hòn đá mắc trong cổ họng Louise, bà vẫn không ngừng trông chờ nó làm bà tắc nghẹn, nhưng nó không làm thế, nó sẽ không làm thế, và bởi vậy bà vẫn phải tiếp tục thở, thở và nhớ lại.
Buổi tối trước đó, Katie tỏ ra trầm lặng. Chỉ có ba người họ ăn tối cùng nhau vì Josh đang ở nhà cậu bạn Hugo. Bình thường, không có chuyện sáng mai phải đi học mà tối hôm trước Josh lại được phép ở nhà bạn, nhưng hai vợ chồng đã đồng ý có ngoại lệ vì họ lo lắng cho thằng bé. Họ tận dụng cơ hội nói chuyện với Katie về chuyện này. Không biết con có để ý thấy, họ hỏi, dạo gần đây Josh có vẻ bất an quá không?
“Chắc em nó lo đến chuyện sang năm phải vào trường lớn” con bé đáp, nhưng nó nói mà không nhìn vào mặt bố mẹ, nó vẫn dán mắt vào đĩa thức ăn, và giọng nó thoáng dao động.
“Những thằng bé sẽ ổn cả thôi.” Alec nói. “Một nửa lớp thằng bé sẽ có mặt ở đó. Và con cũng sẽ có mặt ở đó nữa.”
Louise vẫn nhớ khi Alec nói câu này, bàn tay đang cầm cốc nước của con gái bà siết chặt hơn một chút. Bà vẫn nhớ con bé đã khó nhọc nuốt nước bọt và nhắm mắt lại trong thoáng chốc.
Họ rửa bát cùng nhau, Louise rửa còn Katie lau khô, vì máy rửa bát đã hỏng. Louise nhớ bà đã bảo không vấn đề gì đâu, nếu Katie bận học bài thì bà làm một mình cũng được, và Katie bảo, “Xong hết rồi ạ.” Louise nhớ rằng mỗi lần Katie đón lấy một cái đĩa từ tay bà để lau cho khô, con bé lại nấn ná các ngón tay trên ngón tay mẹ mình một thoáng lâu hơn cần thiết.
Chỉ có điều bây giờ Louise không tài nào dám chắc liệu bà có nhớ đúng toàn bộ những chuyện này hay không. Có phải Katie đã cụp mắt, nhìn xuống đĩa thức ăn? Có phải con bé đã nắm chặt chiếc cốc hơn, hay kéo dài sự đụng chạm hơn thật? Giờ thì chẳng cách nào nói chắc được, mọi ký ức của bà dường như đều mở rộng cửa cho các hoài nghi, nhầm lẫn. Bà không chắc có phải đây là ảnh hưởng từ cú sốc khi nhận ra hết thảy những gì bà đã biết chắc chắn lại không hề chắc chắn, hay do tâm trí bà đã trở nên mụ mẫm vĩnh viễn bởi đống thuốc ngủ bà uống mỗi ngày hàng tuần sau khi Katie chết. Louise đã nốc hết vốc thuốc này đến vốc thuốc khác, mỗi vốc đầy lại mang đến những giờ đồng hồ khuây khỏa trống rỗng, chỉ để rồi mỗi khi thức dậy, bà lại tiếp tục chìm vào trong ác mộng. Sau một thời gian, bà bắt đầu hiểu ra rằng mấy tiếng đồng hồ lãng quên ấy chẳng xứng nổi với nỗi kinh hoàng khi tái phát hiện sự thiếu vắng con gái, hết lần này đến lần khác.
Chỉ có một điểm này, bà cảm thấy bà có thể đoan chắc: khi Katie chúc ngủ ngon, nó đã mỉm cười và hôn mẹ theo đúng cách nó vẫn luôn làm. Nó đã ôm bà, không chặt hơn cũng không lâu hơn thường lệ, và nói, “Mẹ ngủ ngon nhé.”
Và làm sao nó có thể làm được như thế, khi đã biết rõ nó sắp làm gì?
Trước mặt Louise, con đường mòn trở nên mờ nhòe, nước mắt đã che mờ tầm nhìn của bà, vậy nên mãi đến khi đến sát sạt rồi, bà mới để ý thấy dải băng chắn. Hàng rào cảnh sát. Cấm vượt qua. Bà đã leo được nửa đường lên đồi và đang tiến về phía đỉnh đồi, bà buộc phải ngoặt gấp sang bên trái để tránh quấy rầy mảnh đất cuối cùng Nel Abbott từng đặt chân lên.
Bà mạch leo lên đỉnh đồi rồi xuống sườn đồi, hai bàn chân đau nhức, mái tóc bết mồ hôi ép sát vào da đầu, xuống đến với bóng râm mời gọi nơi con đường chạy xuyên qua một vạt cây rậm bên mép vùng sông. Men theo con đường mòn tầm hơn một dặm, bà đến được chỗ cây cầu và trèo lên các bậc thang dẫn lên đường cái. Một nhóm thiếu nữ đang tiến tới gần từ phía bên trái bà và bà đưa mắt sang, như bà vẫn luôn làm thế, tìm kiếm bóng dáng con gái mình giữa nhóm đó, dò tìm mái đầu tóc màu nâu sáng của nó, nghe ngóng tiếng cười giòn giã của nó. Trái tim Louise lại vỡ tan lần nữa.
Bà dõi nhìn các cô gái, cánh tay họ choàng qua vai nhau còn người họ dán sát vào nhau, một khối cơ thể mơn mởn quấn quýt, và ở trung tâm của họ, Louise nhận ra, là Lena Abbott. Lena, con bé chìm trong cô độc suốt vài tháng vừa qua, đang được sống trong sự nổi tiếng. Nó cũng sẽ được nhìn chòng chọc, được thương xót và rồi, chẳng bao lâu sau, bị xa lánh.
Louise tránh khỏi đường đi của đám con gái và bắt đầu leo lên đồi về nhà. Bà khom vai, hạ thấp cằm xuống, hy vọng bà có thể im hơi lặng tiếng tránh sang đường khác, bởi vì nhìn thấy Lena Abbott là một chuyện thật kinh khủng biết bao, nó khơi dậy trong tâm trí Louise những hình ảnh khủng khiếp. Nhưng con bé đã phát hiện ra bà và gọi to, “Bác Louise! Bác Whittaker! Đợi cháu với.”
Louise cố bước nhanh hơn, nhưng hai chân bà nặng như chỉ còn tim bà xẹp xuống như một quả bóng cũ, trong khi Lena thì lại trẻ trung khỏe mạnh.
“Bác Whittaker, cháu muốn nói chuyện với bác.”
“Bây giờ thì không được, Lena. Bác xin lỗi.”
Lena đặt bàn tay lên cánh tay Louise, nhưng Louise rụt tay lại, bà không thể nhìn thẳng vào con bé. “Bác rất xin lỗi. Bác không thể nói chuyện với cháu bây giờ được.”
Louise đã biến thành một con quái vật, một sinh vật trống rỗng không chịu an ủi một đứa trẻ mồ côi mẹ, một kẻ - tệ hơn nữa, tệ hơn rất nhiều - không thể nhìn thẳng vào đứa trẻ đó mà không nghĩ rằng, Tại sao lại không phải là cháu? Tại sao cháu lại không phải là người ở trong dòng nước, Lena? Tại sao người đó lại không phải là cháu? Tại sao lại là Katie của bác? Tử tế, dịu dàng, hào phóng, chăm chỉ và giàu nghị lực - xuất sắc hơn cháu nhiều trên mọi phương diện. Lẽ ra con bé không bao giờ nên vào trong đó. Lẽ ra người đó là cháu mới phải.
Vũng Sông Chết Đuối, Danielle Abbott **
* * *
**(chưa xuất bản)
Mở đầu
Hồi mười bảy tuổi, tôi đã cứu em gái tôi khỏi chết đuối.
Nhưng đó, dù tin dù không, cũng không phải điểm khởi đầu cho tất cả những chuyện này.
Có những người bị hút về phía nước, những người vẫn duy trì một cảm giác nào đó nguyên thủy, còn sót lại từ ban sơ về những nơi có dòng chảy. Tôi tin rằng tôi là một người trong số họ. Tôi luôn giàu sức sống nhất mỗi khi ở gần dòng nước, mỗi khi tôi ở gần dòng nước này. Chính tại nơi đây, tôi đã học bơi, tôi đã học cách sống giữa thiên nhiên, chính tại nơi đây, cơ thể tôi được ở trong trạng thái hân hoan nhất, dễ chịu nhất.
Từ hồi chuyển tới Beckford năm 2008, tôi đã bơi trong dòng sông này gần như hằng ngày, hè cũng như đông, có lúc cùng con gái, có lúc chỉ một mình, và tôi đã bắt đầu bị mê hoặc bởi cái ý nghĩ rằng nơi đây, chốn ngất ngây của tôi, có thể đối với người khác lại là nơi dành cho nỗi khiếp hãi và kinh hoàng.
Hồi mười bảy tuổi, tôi đã cứu em gái tôi khỏi chết đuối, nhưng tôi đã bị ám ảnh bởi vũng sông Beckford từ trước đó rất lâu rồi. Bố mẹ tôi là những người hay kể chuyện, đặc biệt là mẹ tôi; chính từ miệng mẹ, tôi đã lần đầu tiên nghe về câu chuyện bi thảm của Libbg; về cuộc tàn sát kinh hoàng ở ngôi nhà nhỏ của gia đình Ward, câu chuyện khủng khiếp về cậu bé chứng kiến mẹ mình nhảy sông. Tôi đã bắt mẹ kể cho tôi nghe, hết lần này đến lần khác. Tôi vẫn nhớ nỗi thất kinh của bố tôi (“Những câu chuyện này đâu phải dành cho trẻ con chứ”) và sự phản bác của mẹ tôi (“Tất nhiên là phải chứ! Chúng là lịch sử mà.”).
Mẹ đã gieo vào trong tôi một hạt mầm, và rất lâu trước khi em gái tôi vào trong dòng nước, rất lâu trước khi tôi giơ một cái máy ảnh lên hay đặt bút trên trang giấy, tôi đã dành hết giờ này sang giờ khác mơ mộng giữa ban ngày, tưởng tượng xem nó ắt hẳn phải như thế nào, cái cảm giác ấy ắt hẳn phải ra sao, dòng nước ắt hẳn phải lạnh đến dường nào đối với Libbg vào ngày hôm đó.
Đến tuổi trưởng thành, bí ẩn khiến tôi lao tâm khổ tứ, tất nhiên, là bí ẩn của chính gia đình tôi. Đáng lý ra nó chẳng nên được coi là một bí ẩn, nhưng nó lại thế đấy, bởi vì, bất chấp mọi nỗ lực hàn gắn của tôi, em gái tôi vẫn không thèm mở miệng với tôi trong suốt nhiều năm. Trong sự im lặng bất tận của nó, tôi đã cố hình dung xem điều gì đã lôi cuốn nó đến với dòng sông giữa đêm hôm khuya khoắt, và dẫu là người có trí tưởng tượng độc nhất vô nhị, tôi vẫn đành thất bại. Bởi vì em gái tôi vốn chẳng bao giờ là người dễ kích động, không bao giờ hành xử lỗ mãng. Có lẽ nó ranh mãnh, xảo trá, có thù tất báo y như dòng y sông ấy thật, nhưng tôi vẫn không sao hiểu nổi. Tôi không biết liệu có phải mình sẽ vĩnh viễn không hiểu nổi hay không.
Tôi quyết định, trong lúc vẫn tiếp tục cố gắng tìm hiểu bản thân, gia đình và những câu chuyện chúng tôi kể cho nhau nghe, tôi sẽ tìm cách lý giải tất cả những câu chuyện về Beckford, rằng tôi sẽ viết lại tất thảy những giờ khắc cuối cùng, theo như tôi tưởng tượng ra, trong cuộc đời những phụ nữ đã đi đến Vũng Sông Chết Đuối Beckford.
Tên của nó đã mang sức nặng; tuy nhiên, nó là gì chứ? Một nhánh sông, thế thôi. Một đoạn sông uốn khúc. Ta sẽ tìm thấy nó nếu ta bám theo con sông trên mọi đoạn sông quanh co khúc khuỷu, phình ra và chảy tràn, trao sự sống và đồng thời tước đoạt sự sống. Dòng sông chỗ thì mát lạnh sạch trong, chỗ thì tù đọng nhơ bẩn; nó uốn éo luồn qua khu rừng và như thanh thép cắt xuyên qua đồi Cheviot mềm mại, rồi sau đó, ngay ở phía Bắc Beckford, nó chảy chậm lại. Nó nghỉ ngơi, trong chốc lát, ở Vũng Sông Chết Đuối.
Đây là một địa điểm mang đậm chất đồng quê: những cây sồi tỏa bóng mát che cho con đường, cây tiêu huyền và cây sồi nằm rải rác trên các sườn đồi, và một bờ sông phủ cát nằm thoai thoải bên sườn Nam. Một nơi rất tiện cho người ta vầy nước, để dẫn đám trẻ đến; một địa điểm picnic hoàn hảo cho một ngày nắng.
Nhưng vẻ ngoài của nó là lừa dối, vì đây là chốn chết chóc. Dòng nước, tối sẫm và phẳng lặng như gương, che giấu hết thảy những gì nằm bên dưới: rong rêu quấn lấy ta, lôi ta xuống dưới, những tảng đá lởm chởm cào rạch da thịt ta. Phía bên trên, sừng sững vách đá xám đen: một sự thách thức, một sự khiêu khích.
Chính nơi đây, hàng bao thế kỷ qua, đã tước đoạt sinh mạng của Libby Seeton, Mary Marsh, Anne Ward, Ginny Thomas, Lauren Slater, Katie Whittaker, và còn hơn thế nữa - vô số những người khác, không mặt không tên. Tôi những muốn hỏi tại sao, và bằng cách nào, và cái gì đã được cuộc sống và cái chết của họ kể cho chúng ta nghe về chính bản thân chúng ta. Có những người thà không hỏi những câu này, những người thà làm thinh, lấp liếm, im lặng. Nhưng tôi không bao giờ là người đành lòng yên lặng.
Trong tác phẩm này, trong cuốn hồi ký về cuộc đời tôi và cũng sông Beckford này, tôi muốn bắt đầu không phải bằng chuyện chết đuối, mà bằng chuyện bơi lội. Bởi vì đó chính là nơi khởi nguồn của nó: với sự bơi lội của các phù thủy - thử thách từ dòng nước. Ở đó, tại vũng sông của tôi, chốn đẹp đẽ bình yên cách nơi tôi ngồi hiện tại không đến một dặm, chính là nơi người ta đã mang họ đến, trói họ lại và ném họ vào trong dòng sông, để chìm hoặc để bơi.
Có người nói rằng những người phụ nữ đã để lại trong dòng nước một phần nào đó của chính họ, có người lại bảo nó chiếm giữ một phần sức mạnh của họ, vì kể từ hồi ấy, nó đã dụ hoặc đến hai bên bờ sông những con người thiếu may mắn, kẻ tuyệt vọng, người bất hạnh, kẻ yểu mệnh. Họ đến đây để bơi cùng các chị em gái của mình.
Erin
Beckford, đó là một chốn kỳ quái chết bầm. Có những lúc, nó thật đẹp, đến mức gần như nghẹn thở, nhưng nó cũng thật kỳ lạ. Nó khơi dậy cảm giác về một chốn xa cách, tách biệt hẳn với hết thảy mọi thứ xung quanh. Tất nhiên, nó cách hàng dặm so với bất kỳ đâu - ta sẽ phải lái xe cả mấy tiếng đồng hồ mới tiếp cận được bất kỳ nơi nào có ánh sáng văn minh. Đấy là trong trường hợp ta xếp Newcastle vào dạng có ánh sáng văn minh, mà tôi thì không chắc mình nghĩ thế. Beckford là một nơi kỳ lạ, nhan nhản những con người kỳ quặc, với một lịch sử quái dị rõ rành rành. Và, xuyên suốt trung tâm của nó là dòng sông này, và nó là thứ kỳ dị hơn hết thảy - dường như ta rẽ theo đường nào cũng đụng phải nó, đi theo hướng nào cũng đụng phải nó, bằng cách nào đó, đến cuối cùng, ta sẽ luôn luôn quay về chỗ dòng sông.
Tay thanh tra cũng có vẻ xa cách thế nào đó. Anh ta là dân địa phương, vậy nên tôi cho rằng cái vẻ ấy cũng là lẽ đương nhiên thôi. Tôi đã nghĩ thế vào lần đầu tiên để mắt đến anh ta, sáng hôm qua lúc người ta lôi xác Nel Abbott ra khỏi dòng nước. Anh ta đang đứng bên bờ sông, tay chống hông, đầu cúi xuống. Anh ta đang nói chuyện với ai đó - sau mới biết hóa ra là bác sĩ pháp y - nhưng từ xa nhìn lại, trông anh ta chẳng khác gì đang cầu nguyện. Đó chính là suy nghĩ đã nảy ra trong đầu tôi lúc đó - một tu sĩ. Một người đàn ông dong dỏng mặc trang phục tối màu, dòng nước đen làm phông nền, vách đá đen đằng sau anh ta, và dưới chân anh ta là một phụ nữ, tái nhợt và thanh thản.
Tất nhiên không phải thanh thản, mà là đã chết. Nhưng khuôn mặt cô ta không biến dạng, nó không bị tàn phá. Nếu ta không nhìn đến phần thân thể còn lại của cô ta, chân tay bị gãy hay xương sống bị vẹo, ta hẳn đã cho rằng cô ta bị chết đuối.
Tôi tự giới thiệu bản thân và lập tức cảm thấy anh ta có điểm kỳ lạ - đôi mắt đẫm lệ, hai bàn tay run run được anh ta cố gắng kiềm chế bằng cách xoa vào nhau, lòng bàn tay xoa lên cổ tay - nó khiến tôi nhớ đến bố tôi những khi vừa qua một trận nhậu nhẹt bét nhè, khi ta cần biết liệu đường mà nói nhỏ và cúi đầu.
Có vẻ như trong bất kỳ trường hợp nào, biết đường cúi đầu xuống cũng luôn là ý hay. Tôi mới lên miền Bắc chưa đầy ba tuần, sau một cuộc thuyên chuyển chớp nhoáng từ London xuất phát từ một mối quan hệ nông nổi với đồng nghiệp. Thật lòng mà nói, mong muốn duy nhất của tôi là được bắt tay làm việc của mình và quên hết mớ lộn xộn ấy đi. Ban đầu, tôi chắc mẩm sẽ bị tống cho một vụ chán ngắt, vậy nên tôi không khỏi ngạc nhiên khi họ muốn tôi tiếp nhận một vụ tử vong đáng ngờ. Một phụ nữ, xác cô ta nằm giữa sông được phát hiện bởi một người đàn ông đang dắt chó đi dạo ngoài trời. Nạn nhân vẫn mặc quần áo chỉnh tề, vậy nên không có chuyện cô ta đã đi bơi. Ông chánh thanh tra giải thích với tôi. “Gần như chắc chắn là một vụ nhảy sông,” ông ta bảo tôi. “Cô ta ở Vũng Sông Chết Đuối Beckford mà.”
Đây cũng là một trong những vấn đề đầu tiên tôi hỏi thanh tra Townsend. “Anh có nghĩ là cô ta tự nhảy xuống sông không?”
Anh ta nhìn tôi một thoáng, anh ta xem xét tôi. Rồi anh ta chỉ lên đỉnh vách đá. “Lên trên kia đi,” anh ta nói, “tìm cảnh sát kỹ thuật hình sự xem họ có phát hiện được gì không - bằng chứng vật lộn, máu, vũ khí. Điện thoại của cô ấy sẽ là một khởi đầu tốt đấy, vì cô ấy không mang theo trong người.”
“Anh nói đúng.” Trên đường rời khỏi đó, tôi liếc nhìn người phụ nữ và nghĩ thầm trông cô ta mới buồn bã làm sao, giản dị và không trang điểm.
“Tên cô ấy là Danielle Abbott,” Townsend nói, hơi lên giọng. “Cô ấy sống trong vùng. Cô ấy là nhà văn và nhiếp ảnh gia, tương đối thành công. Cô ấy có một con gái, mười lăm tuổi. Vậy nên là không, để trả lời cho câu hỏi của cô, tôi không nghĩ có khả năng cô ấy tự nhảy xuống.”
Chúng tôi cùng nhau leo lên vách đá. Ta đi theo con đường mòn từ bãi cát hẹp dọc sườn vùng sông cho tới khi nó ngoặt sang phải, xuyên qua một lùm cây, sau đó là một con dốc chạy lên đồi tới đỉnh vách đá. Con đường mòn thỉnh thoảng lại lầy lội - tôi có thể thấy những vết trượt của giày ủng, xóa sạch những dấu chân lưu lại trước đó. Trên đỉnh vách đá, con đường ngoặt gấp sang trái và rồi lại chạy từ trong đám cây cối ra, dẫn sang bên phải về phía gờ một vách đá. Dạ dày tôi nhộn nhạo.
“Lạy Chúa.”
Townsend ngoái lại liếc qua vai. Anh ta có vẻ hơi thích thú. “Sợ độ cao à?”
“Một nỗi sợ hoàn toàn hợp lý là nhỡ mình lỡ bước rồi ngã chết mất,” tôi đáp. “Anh không nghĩ là họ nên dựng rào chắn hay sao đó à? Không an toàn lắm nhỉ?”
Thanh tra không trả lời, chỉ tiếp tục tiến về trước, quả quyết bước về phía rìa vách đá. Tôi theo sau, nép người vào những bụi kim tước để tránh nhìn qua vách đá thẳng đứng xuống dòng nước bên dưới.
Viên cảnh sát kỹ thuật hình sự - râu tóc rậm rì mặt mày nhợt nhạt, hình như mấy người làm nghề này luôn trông như thế - không có mấy thông tin có thể xem như tích cực.
“Không máu, không vũ khí, không có dấu hiệu vật lộn rõ rệt nào,” ông ta nhún vai nói. “Thậm chí còn không có mấy thứ kiểu như lá tươi rụng nữa cơ. Tuy nhiên, máy quay của cô ta hỏng rồi. Và không có thẻ nhớ trong.”
“Máy quay?”
Râu Rậm quay sang tôi. “Cô có tin nổi không? Cô ta đã bố trí một máy quay có tính năng tự động kích hoạt khi có chuyển động, đây là một phần của cái dự án mà cô ta đang tiến hành.”
“Tại sao?”
Ông ta nhún vai. “Để quay phim những người lên đây… để xem họ lên đây làm gì? Cô biết đấy, thỉnh thoảng cô sẽ bắt gặp vài kẻ lập dị lảng vảng quanh đây, vì toàn bộ lịch sử của nơi này. Hoặc có khi cô ta muốn bắt được cảnh một người đang lúc nhảy xuống…” Ông ta nhăn mặt lại.
“Lạy Chúa. Và ai đó đã phá hỏng máy quay của cô ta rồi? Chậc, chuyện đó… thật phiền phức.”
Ông ta gật đầu.
Townsend thở dài, khoanh tay trước ngực. “Quả là vậy. Mặc dù cũng không nhất thiết là chuyện đó có ý nghĩa gì. Trước đây đồ nghề của cô ấy cũng từng bị người khác cố tình phá hoại rồi. Dự án của cô ấy bị nhiều người dân ở đây ghét bỏ lắm. Thực ra,” anh ta dấn thêm vài bước tiến tới sát mép vách đá hơn và tôi cảm thấy đầu óc quay mòng mòng, “tôi không chắc liệu cô ấy có thay máy quay sau lần bị phá hoại gần đây nhất không.” Anh ta ngó ra ngoài mép đá. “Còn có một cái khác nữa, phải không nhỉ? Gắn cố định đâu đó dưới kia. Có gì ở đó không?”
“Phải, có vẻ như nó vẫn còn nguyên vẹn. Chúng tôi sẽ mang nó vào, nhưng…”
“Nó sẽ chẳng cho thấy cái gì đâu.”
Râu Rậm lại nhún vai. “Có lẽ cho thấy cô ta đang tiến vào trong khung hình, nhưng nó sẽ chẳng cho ta biết chuyện gì đã xảy ra trên này đâu.”
Hơn hai mươi tư tiếng đồng hồ đã trôi qua kể từ lúc đó, và chúng tôi dường như chẳng tiến thêm được bước nào trong việc tìm hiểu xem chuyện gì đã thật sự xảy ra ở trên đó. Không tìm thấy điện thoại của Nel Abbott, một chuyện tương đối kỳ quái, mặc dù có lẽ cũng không đến nỗi quá kỳ quái. Nếu cô ta chủ định nhảy thì khả năng cao là cô ta đã vứt nó đi từ trước. Nếu cô ta bị ngã thì hẳn nó vẫn còn nằm đâu đó dưới nước, có thể nó đã chìm xuống lớp bùn hoặc bị cuốn đi nơi khác. Nếu cô ta bị đẩy xuống thì tất nhiên kẻ đã đẩy cô ta có lẽ đã tước nó khỏi cô ta trước tiên, nhưng dựa vào việc chẳng có bất kỳ dấu hiệu vật lộn nào trên vách đá, có vẻ như không có mấy khả năng ai đó đã giật nó ra khỏi người cô ta.
Tôi bị lạc đường lúc trở về sau khi đưa Jules (KHÔNG PHẢI Julia, có vẻ thế) đến bệnh viện để nhận dạng thi thể. Tôi thả cô trở lại nhà Cối Xay và trong lúc vẫn đinh ninh mình đang quay về phía đồn cảnh sát thì phát hiện ra không phải vậy: sau khi băng qua cầu, chẳng hiểu sao tôi đã vòng một vòng rồi hóa ra lại quay lại con sông. Như tôi đã nói đấy, rẽ theo đường nào cũng đụng phải dòng nước. Dù sao đi nữa, tôi cũng đã rút điện thoại ra, và đang cố hình dung xem mình đã đi tới chỗ nào thì phát hiện ra một nhóm mấy đứa con gái đang đi bộ trên cầu. Lena, cao hơn hẳn một cái đầu so với các bạn, đã tách khỏi nhóm.
Tôi bỏ xe lại và bám theo sau con bé. Tôi có chuyện muốn hỏi nó, một chuyện dì nó đã nhắc đến, nhưng tôi còn chưa bắt kịp nó thì nó đã bắt đầu tranh cãi với người khác - một phụ nữ, có lẽ bốn mươi tuổi. Tôi thấy Lena túm cánh tay bà ta, người phụ nữ giằng ra rồi giơ cả hai bàn tay lên mặt, như đang sợ bị đánh. Rồi họ đột ngột tách ra, Lena rẽ trái còn người phụ nữ thẳng bước leo lên đồi. Tôi theo sau Lena. Nó nhất quyết không chịu cho tôi biết chuyện vừa rồi là sao. Nó khăng khăng chẳng có gì không ổn cả, rằng hoàn toàn không có chuyện cãi cọ gì, rằng dù sao đi nữa đấy cũng chẳng phải việc của tôi. Một màn trình diễn thái quá, nhưng nước mắt hoen thành vệt trên mặt nó thật. Tôi ngỏ ý đưa nó về nhà, nhưng nó bảo tôi xéo đi cho khuất mắt.
Tôi đã làm thế. Tôi lái xe về đồn và thuật lại với Townsend chi tiết màn nhận dạng thi thể chính thức của Jules Abbott
Phù hợp với bầu không khí chung, cuộc nhận diện thi thể này cũng thật quái dị. “Cô ấy không khóc,” tôi nói với sếp, và anh ta làm một cử chỉ kiểu như gục gặc đầu, ra chiều muốn nói, Ôi dào, thế cũng bình thường. “Đâu có bình thường,” tôi khăng khăng. “Đây đâu phải cú sốc bình thường. Nó thật kỳ quái.”
Anh ta chuyển người trên ghế. Anh ta đang ngồi đằng sau bàn làm việc trong một văn phòng bé tí hin ở phía sau đồn cảnh sát, và nhìn chung, anh ta có vẻ quá lớn so với căn phòng, như thể chỉ cần đứng dậy là anh ta sẽ đụng đầu vào trần. “Kỳ quái thế nào?”
“Khó giải thích lắm, nhưng có vẻ như cô ấy đang nói mà không hề phát ra bất kỳ âm thanh nào. Và ý tôi không phải muốn nói đến kiểu nức nở âm thầm đâu. Lạ lắm. Môi cô ấy mấp máy như là đang nói gì đó… và không chỉ là nói gì đó, mà là nói với ai đó. Đang trò chuyện.”
“Nhưng thật ra cô không thể nghe được gì?”
“Không gì hết.”
Anh ta liếc nhìn màn hình laptop trước mặt và lại quay nhìn tôi. “Có vậy thôi à? Cô ấy có nói gì với cô không? Bất kỳ điều gì, bất kỳ điều gì hữu ích?”
“Cô ấy hỏi về cái vòng tay. Có vẻ như Nel giữ một cái vòng tay từng là của mẹ họ, và cô ta luôn đeo nó không rời. Hoặc ít nhất cho đến lần gặp Jules gần nhất, cách đây vài năm, thì Nel vẫn luôn đeo nó.”
Townsend gật đầu, gãi gãi cổ tay.
“Không có dấu vết gì của nó trong đám tư trang của cô ta, tôi đã kiểm tra rồi. Cô ta đeo một chiếc nhẫn - không có đồ nữ trang nào khác.”
Anh ta chìm vào im lặng một lúc lâu đến độ tôi nghĩ có khi cuộc nói chuyện đã kết thúc. Tôi toan rời khỏi phòng thì đột nhiên anh ta nói, “Cô nên hỏi Lena về chuyện đó xem.”
“Tôi đã định thế đấy chứ” tôi bảo anh ta, “chỉ có điều con bé chẳng hề có hứng thú nói chuyện với tôi.” Tôi kể lại cho anh ta nghe về cuộc chạm trán trên cầu.
“Người phụ nữ đó,” anh ta nói. “Miêu tả bà ta xem nào.”
Vậy là tôi tuân lệnh: vừa qua bốn mươi, hơi đậm người, tóc đen, mặc áo cardigan dài màu đỏ bất chấp cái nóng.
Townsend săm soi tôi một hồi lâu.
“Không phát hiện được gì sao?” tôi hỏi.
“Ồ có chứ,” anh ta nói, nhìn tôi như thể đang nhìn một đứa nhóc đặc biệt ngây ngô. “Đó là Louise Whittaker.”
“Và bà ta là?”
Anh ta cau mày. “Cô vẫn chưa có bất kỳ kiến thức nền gì về nơi này hả?”
“Thật tình là chưa,” tôi nói. Tôi muốn chỉ ra cho anh ta thấy rằng việc bổ túc cho tôi bất kỳ kiến thức nền liên quan nào hẳn có thể được xem như công việc của anh ta, vì anh ta là người địa phương cơ mà.
Anh ta thở dài và bắt đầu gõ lên bàn phím máy tính. “Cô nên đẩy nhanh tốc độ với toàn bộ chuyện này đi. Lẽ ra cô phải được cung cấp tài liệu.” Anh ta đập một phím Enter đặc biệt cứng đầu, như thể anh ta đang nện lên một chiếc máy đánh chữ chứ không phải một cái iBook nhìn đã thấy đắt đỏ. “Và cô cũng nên đọc hết bản thảo của Nel Abbott đi.” Anh ta ngẩng lên nhìn tôi và cau mày. “Dự án cô ấy đang tiến hành ấy? Nó sẽ thành một dạng như sách ảnh để bàn, tôi nghĩ thế. Các bức ảnh và các câu chuyện về Beckford.”
“Một cuốn lịch sử địa phương á?”
Anh ta thở hắt ra. “Đại loại thế. Cách hiểu của Nel Abbott về các sự kiện. Về các sự kiện chọn lọc. Sự… thêu dệt của cô ấy về mọi chuyện. Như tôi đã nhắc đến rồi đấy, không phải một thứ được nhiều người dân địa phương ưa thích. Dù sao đi nữa, chúng tôi cũng có bản sao mọi thứ cô ấy đã viết tính đến giờ. Một điều tra viên sẽ kiếm cho cô một bản. Cứ hỏi Callie Buchan nhé - cô sẽ tìm thấy cô ấy ngoài kia. Vấn đề là một trong những vụ việc cô ấy viết lại chính là vụ Katie Whittaker, tự tử hồi tháng Sáu. Katie là bạn thân của Lena Abbott và Louise, mẹ cô bé, cũng từng một thời thân thiết với Nel. Họ đã cãi nhau, có vẻ như là về nội dung tác phẩm của Nel, và rồi sau đó khi Katie chết…”
“Louise đổ lỗi cho cô ta,” tôi nói. “Bà ta nghĩ Nel phải chịu trách nhiệm.”
Anh ta gật đầu. “Phải, đúng như vậy.”
“Vậy tôi cũng nên đi nói chuyện với bà ta nhỉ, bà Louise này này?”
“Không,” anh ta đáp. Hai mắt anh ta vẫn dán vào màn hình. “Để tôi làm cho. Tôi quen bà ta. Tôi là người đã điều tra cái chết của con gái bà ta.”
Anh ta lại chìm vào im lặng một hồi lâu. Anh ta không xua tôi đi, vậy nên cuối cùng tôi nói. “Có nghi ngờ nào rằng có một ai khác liên quan đến cái chết của Katie không?”
Anh ta lắc đầu. “Không. Không có nguyên nhân rõ ràng, nhưng cô cũng biết thừa rồi đấy, thường thì cũng làm gì có đâu. Dù sao đi nữa, với những người bị bỏ lại thì cũng chẳng có nguyên nhân hợp lý nào. Nhưng Katie đã để lại thư tuyệt mệnh.” Anh ta đưa một bàn tay lên che mắt. “Đó chỉ là một thảm kịch thôi.”
“Vậy là năm nay đã có hai phụ nữ chết trong dòng sông đó?” tôi hỏi. “Hai phụ nữ quen biết nhau, có mối liên hệ…” Viên thanh tra không nói gì, anh ta không nhìn tôi, tôi thậm chí còn chẳng chắc liệu anh ta có đang nghe hay không. “Đã có bao nhiêu người chết ở đó rồi? Ý tôi là, tổng cộng ấy?”
“Kể từ khi nào?” anh ta hỏi, lại lắc đầu. “Cô muốn lần ngược lại xa đến đâu?”
Như tôi đã nói đấy, kỳ quái quá mức.
Jules
Em luôn cảm thấy hơi sợ chị. Chị biết điều đó, chị thích nỗi sợ của em, thích cái sức mạnh mà nó cho phép chị đàn áp em. Vậy nên em cho là, dù thế nào đi nữa, chị hẳn sẽ thích buổi chiều hôm nay.
Họ đề nghị em nhận dạng xác chết - Lena tình nguyện đi, nhưng họ bảo con bé không được, vậy nên em đành phải đồng ý. Nào còn ai khác đâu. Và mặc dù không muốn nhìn thấy chị, em biết mình vẫn buộc phải làm, bởi vì thà nhìn thấy chị còn hơn là tưởng tượng ra chị; nỗi kinh hoàng do tâm trí khơi dậy luôn luôn tệ hơn nhiều so với bản thân nó. Và em cần phải nhìn thấy chị, bởi vì cả hai ta đều biết em sẽ không tin chuyện đó, không tài nào thuyết phục bản thân tin rằng chị đã ra đi, cho tới chừng nào em nhìn thấy chị.
Chị nằm trên băng ca giữa phòng lạnh, một tấm khăn phủ màu xanh lục nhạt phủ lên người. Một người đàn ông trẻ tuổi đang đứng đó, mặc bộ quần áo phẫu thuật, gật đầu chào em cùng điều tra viên, và cô ấy cũng gật đầu chào lại. Lúc anh ta chìa tay ra để kéo ngược tấm khăn phủ, em đã nín thở. Em không nhớ nổi kể từ hồi còn nhỏ tới giờ đã khi nào em cảm thấy sợ hãi đến vậy chưa.
Em đã đợi chị nhảy dựng lên với em.
Chị không làm thế. Chị bất động và xinh đẹp. Khuôn mặt chị luôn bộc lộ rất nhiều - rất nhiều cảm xúc, niềm vui hay vẻ nham hiểm - và nó vẫn còn y nguyên ở đấy, những dấu vết của nó, chị vẫn là chị, vẫn hoàn hảo, và rồi suy nghĩ ấy bất chợt lóe lên trong đầu em: chị đã nhảy xuống.
Chị đã nhảy xuống?
Chị đã nhảy xuống?
Cái từ đó, nó dường như sai sai thế nào đó trong miệng em. Chị sẽ không nhảy xuống. Chị sẽ chẳng bao giờ làm thế, đó không phải cách để làm điều đó. Chị đã từng nói với em như thế. Vách đá không đủ cao, chị bảo. Khoảng cách từ đỉnh vách đá tới mặt nước chỉ có năm mươi lăm mét - người ta có thể vẫn sống sót sau cú rơi. Vậy nên, chị bảo, nếu ta nghiêm túc có ý định đấy, nếu ta thật lòng nghiêm túc có ý định ấy, ta cần phải đảm bảo chắc chắn. Đầu chúc xuống trước. Nếu nghiêm túc có ý định ấy, đừng chỉ nhảy, mà nên lao đầu xuống cơ.
Và trừ phi ta nghiêm túc có ý định ấy, chị bảo, còn không thì làm thế làm gì chứ? Đừng có biến mình thành khách du lịch. Chẳng ai thích khách du lịch đâu.
Người ta có thể sống sót sau cú rơi, nhưng điều đó không có nghĩa là họ sẽ như thế. Rốt cuộc thì chị thế này đây, chị đã không lao đầu xuống. Chị đã cho chân xuống trước và vậy là chị thế này đây: chân gãy, lưng gãy, cả người gãy. Điều đó nghĩa là sao, Nel? Có phải thế có nghĩa là chị đã chùn chân? (Không giống chị chút nào.) Phải chăng chị không thể chịu đựng được nó, cái ý tưởng chúc đầu xuống trước, hủy hoại khuôn mặt xinh đẹp của chị? (Chị lúc nào cũng vô cùng phù phiếm.) Với em thì chuyện này chẳng hề hợp lý. Nói một đằng làm một nẻo và đi ngược lại ý muốn của mình không phải là phong cách của chị.
(Lena bảo chẳng có bí ẩn gì ở đây hết, nhưng con bé thì biết gì cơ chứ?)
Em cầm tay chị và nó có vẻ thật xa lạ trong tay em, không chỉ bởi vì nó lạnh ngắt mà còn vì em không nhận ra được hình dạng của nó, cái cảm giác khi chạm vào nó. Lần cuối cùng em nắm tay chị là khi nào nhỉ? Có lẽ là lúc chị với tìm tay em ở lễ tang của mẹ? Em vẫn nhớ đã xoay người tránh khỏi chị, xoay người sang phía bố. Em vẫn nhớ biểu cảm trên mặt chị (chị đã trông đợi điều gì?) Trái tim em đã trở nên đờ đẫn trong lồng ngực, nhịp đập của nó chậm lại theo tiếng trống tang.
Ai đó nói. “Xin lỗi, nhưng cô không được phép chạm vào cô ấy.”
Bóng điện kêu vo vo phía trên đầu em, chiếu sáng làn da chị, nhợt nhạt và tái xám trên nền thép bên dưới chị. Em đặt ngón tay cái lên trán chị, lướt ngón tay theo sườn mặt chị.
“Xin đừng chạm vào cô ấy.” Điều tra viên Morgan đang đứng ngay phía sau em. Em có thể nghe thấy tiếng thở của cô ấy, chậm rãi và đều đặn, át tiếng đèn điện vo vo.
“Đồ đạc của chị ấy đâu?” em hỏi. “Quần áo chị ấy đã mặc, nữ trang của chị ấy?”
“Chúng sẽ được trả lại cho cô,” điều tra viên Morgan nói, “sau khi bên pháp y kiểm tra xong xuôi.”
“Có cái vòng tay nào không?” em hỏi cô ấy.
Cô ấy lắc đầu. “Tôi không biết, nhưng cho dù cô ấy mang theo gì thì nó cũng sẽ đều được trả lại cho cô thôi.”
“Đúng lý ra là phải có một chiếc vòng tay,” em lặng lẽ nói, nhìn xuống Nel. “Một chiếc vòng tay bạc có móc gài bằng mã não. Nó là của mẹ chúng tôi, nó được khắc các chữ cái đầu tên của bà ấy. SJA. Sarah Jane. Chị ấy lúc nào cũng đeo nó. Mẹ luôn làm thế. Và rồi đến lượt chị.” Viên cảnh sát nhìn em chằm chằm. “Ý tôi là, chị ấy làm thế. Ý tôi là Nel làm thế.”
Em lại hướng ánh mắt chăm chú vào chị, vào cái cổ tay mảnh mai của chị, vào nơi cái móc bằng mã não hẳn sẽ yên vị trên những đường gân xanh. Em muốn chạm vào chị lần nữa, sờ vào làn da chị. Em có cảm giác chắc chắn rằng em có thể đánh thức chị dậy. Em thì thầm tên chị và đợi chị cựa mình, chờ đợi đôi mắt chị chớp mở và dõi theo em khắp căn phòng. Em đã nghĩ có lẽ em nên hôn chị, biết đâu cái mẹo với nàng công chúa ngủ trong rừng có hiệu quả, và em không khỏi mỉm cười, vì chị thể nào cũng căm ghét cái ý tưởng đó. Chị chẳng bao giờ là công chúa, chị chẳng bao giờ là người đẹp thụ động chờ đợi một chàng hoàng tử, chị khác hẳn. Chị về phe bóng tối, về phe bà mẹ kế độc ác, về phe bà tiên xấu, mụ phù thủy.
Em cảm thấy ánh mắt cô điều tra viên đang dán lên người em và em mím môi lại kìm nén nụ cười. Mắt em khô cong và cổ họng em trống rỗng, và khi em thì thầm với chị, dường như chẳng hề có âm thanh nào phát ra.
“Chị muốn nói gì với em?”
Lena
Lẽ ra phải là tôi mới đúng. Tôi là người gần gũi nhất về mặt huyết thống với mẹ, là người thân trong nhà. Người yêu thương bà. Lẽ ra phải là tôi mới đúng, nhưng họ lại không cho phép tôi đi. Tôi bị bỏ lại một mình, chẳng có việc gì để làm ngoài ngồi trong ngôi nhà trống trải mà hút đến điếu thuốc cuối cùng. Tôi tới cửa hàng trong làng mua thêm - bà béo ở đó thỉnh thoảng vẫn đòi xem giấy căn cước của tôi nhưng tôi biết hôm nay thì không. Tôi vừa đi khỏi thì nhìn thấy mấy con ranh cùng trường - Tanya và Ellie cùng với cả đám ấy - đang bước trên đường cái tiến về phía tôi.
Tôi cảm thấy sắp nôn đến nơi, tôi bèn cúi đầu xuống, rẽ tránh sang hướng khác và bắt đầu rào chân hết tốc lực, nhưng chúng nó đã nhìn thấy tôi, chúng gọi vàng lên và cả đám bắt đầu chạy để bắt kịp tôi. Tôi không biết chúng định làm gì. Hóa ra, khi bắt kịp tôi, cả đám bèn ôm chầm lấy tôi và bảo chúng lấy làm thương tiếc thế nào, và Ellie thật ra còn mặt dày nhỏ ra mấy giọt nước mắt giả dối chết tiệt. Tôi mặc cho chúng đu lên người, mặc cho chúng khoác tay quanh người tôi và vuốt tóc tôi. Quả thật cảm giác được đụng chạm cũng khá dễ chịu.
Chúng tôi lên cầu - tụi nó đang tính chuyện lên chỗ căn nhà nhỏ của gia đình Ward để làm vài viên thuốc rồi đi bơi - “Nó sẽ giống như một cuộc thức canh linh cữu vậy, kiểu như một lễ kỷ niệm,” Tanya nói. Ngu hết sức. Nó có thật lòng cho rằng hôm nay tôi còn có tâm trạng để chơi thuốc và đi bơi ở dòng nước ấy? Tôi vẫn đang cố nghĩ xem nên nói gì thì nhìn thấy Louise và đúng là chẳng khác gì chết đuối vớ được cọc, vậy là tôi có thể lẳng lặng tách ra khỏi chúng mà chúng chẳng làm gì được.
Thoạt đầu, tôi tưởng bác ấy không nghe tiếng tôi gọi, nhưng lúc bắt kịp bác, tôi thấy bác đang khóc và không muốn ở cạnh tôi. Tôi tóm chặt bác. Tôi không biết tại sao, nhưng tôi chỉ muốn bác đừng bỏ đi, đừng bỏ lại tôi ở đó mặc cho lũ kền kền chó đẻ kia nhìn ngó và giả vờ buồn bã trong lúc vẫn thích thú thưởng thức màn kịch chết bầm. Bác ấy cố giằng ra, nậy từng ngón tay của tôi ra, và bác bảo, “Bác xin lỗi, Lena, bác không thể nói chuyện với cháu bây giờ được. Bác không thể nói chuyện với cháu được.”
Tôi những muốn nói gì đó với bác, kiểu như: Bác đã mất con gái còn cháu đã mất mẹ. Điều đó không khiến chúng ta hòa nhau ư? Bây giờ bác vẫn không thể tha thứ cho cháu sao?
Nhưng tôi không nói gì, và rồi đúng lúc đó cô nàng cảnh sát không biết gì kia xuất hiện và dường như muốn hiểu mọi chuyện theo hướng chúng tôi đã cãi nhau, vậy nên tôi cũng thuận theo rồi đi bộ về nhà một mình.
Tôi cứ tưởng đến lúc tôi về nhà thì dì Julia đã quay lại rồi. Thật tình, chuyện đó thì mất bao nhiêu thời gian chứ, đi đến nhà xác, nhìn người ta kéo khăn phủ ra sau và bảo, vâng, đúng là chị ấy đấy? Không có mấy khả năng dì Julia sẽ muốn ngồi với mẹ, nắm tay mẹ, an ủi mẹ, giống như tôi sẽ làm.
Lẽ ra phải là tôi mới đúng, nhưng họ không cho tôi đi.
Tôi lặng lẽ nằm trên giường. Tôi thậm chí chẳng buồn nghe nhạc vì tôi cảm thấy tất cả mọi thứ đều mang cái ý nghĩa khác này, cái ý nghĩa trước đây tôi đã không nhìn ra và bây giờ nó khơi lên quá nhiều đau đớn nên chẳng dễ gì mà đối mặt được. Tôi không muốn cứ khóc mãi, nó khiến lồng ngực tôi đau đớn, cổ họng tôi đau đớn, và tệ hơn hết thảy là chẳng có ai đến giúp tôi. Chẳng còn lại ai để giúp tôi. Vậy nên tôi nằm trên giường, hút thuốc triền miên cho đến lúc nghe tiếng cửa chính mở.
Dì Julia không lớn tiếng gọi tôi hay làm gì tương tự, nhưng tôi nghe tiếng dì trong bếp, mở rồi đóng tủ bát, loảng xoảng tiếng nồi niêu. Tôi đợi dì đến gặp tôi, nhưng cuối cùng, tôi chỉ phát chán lên và thấy buồn nôn vì hút thuốc quá nhiều và đói ngấu, vậy nên tôi xuống dưới tầng.
Di đang đứng bên bếp khuấy gì đó và giật mình lúc quay lại thấy tôi. Không phải kiểu giật mình bình thường khi ta bị ai đó hù và rồi phá lên cười; nỗi sợ hãi vẫn ở nguyên trên mặt dì ấy.
“Lena,” dì nói. “Cháu ổn chứ?”
“Dì có thấy mẹ không?” tôi hỏi.
Dì gật đầu và nhìn xuống sàn. “Chị ấy có vẻ… đúng là chị ấy.”
“Thế thì tốt,” tôi nói. “Cháu mừng là thế. Cháu không muốn nghĩ rằng mẹ…”
“Không. Không. Không như vậy đâu. Không gãy nát.” Dì quay trở lại với ngăn lò sưởi. “Cháu có thích spaghetti Bolognese không?” dì hỏi. “Dì đang nấu… dì đang nấu món ấy đấy.”
Tôi thích chứ, nhưng tôi không muốn nói cho dì biết, vậy nên tôi không đáp. Thay vào đó, tôi hỏi dì, “Tại sao dì lại nói dối cảnh sát?”
Dì quay ngoắt lại, chiếc thìa gỗ trong tay dì vẩy nước xốt đỏ lên sàn.
“Cháu nói thế là sao, Lena? Dì không nói dối…”
“Có, dì có nói dối. Dì bảo họ rằng dì chẳng bao giờ nói chuyện với mẹ cháu, rằng dì không có liên lạc gì trong nhiều năm…”
“Thì đúng vậy mà.” Cả mặt lẫn cổ dì đều đỏ au, miệng dì trễ xuống như miệng một thằng hề, và tôi đã nhìn thấy nó, sự xấu xí mẹ từng nhắc đến. “Dì chẳng có bất kỳ liên lạc có ý nghĩa nào với mẹ cháu từ hồi…”
“Mẹ cháu gọi điện thoại cho dì suốt.”
“Không phải suốt. Thỉnh thoảng thôi. Và đằng nào thì bọn dì cũng đâu có nói chuyện.”
“Phải, mẹ kể với cháu là dì không chịu nói chuyện với mẹ, bất kể mẹ có cố gắng đến thế nào đi nữa.”
“Chuyện phức tạp hơn thế, Lena ạ.”
“Phức tạp như thế nào?” tôi bật lại. “Như thế nào?” Dì tránh mắt không nhìn tôi. “Đấy là lỗi của dì, dì biết thế.”
Dì bỏ cái thìa xuống và dấn thêm vài bước về phía tôi, hai tay chống nạnh, khuôn mặt đầy quan tâm, như một giáo viên đang sắp sửa bảo ta rằng bà ấy thất vọng đến thế nào trước thái độ của ta trong lớp.
“Cháu nói thế là sao?” dì hỏi. “Lỗi nào của dì?”
“Mẹ đã cố gắng liên lạc với dì, mẹ muốn nói chuyện với dì, mẹ cần…”
“Mẹ cháu không cần dì. Nel chẳng bao giờ cần dì.”
“Mẹ cháu không hề sống vui vẻ!” tôi nói. “Dì thậm chí chẳng buồn quan tâm sao?”
Dì thối lui một bước. Dì lau mặt như thể vừa bị tôi nhổ nước bọt. “Tại sao mẹ cháu lại sống không vui vẻ? Dì không… Mẹ cháu chưa từng bảo là mẹ cháu sống không vui vẻ. Mẹ cháu chưa từng bảo dì rằng mẹ cháu sống không vui vẻ.”
“Vậy nếu mẹ bảo thì dì sẽ làm gì? Chẳng gì cả! Dì sẽ chẳng làm gì cả, dì vẫn luôn như vậy. Y như khi bà ngoại mất và dì đã tỏ thái độ hết sức đáng ghét với mẹ, hay như khi mẹ mời dì đến đây lúc nhà cháu chuyển đến, hay khi mẹ mời dì đến chơi hồi sinh nhật cháu và dì thậm chí chẳng buồn đáp lại! Dì chỉ phớt lờ mẹ, y như mẹ không hề tồn tại. Mặc dù dì biết mẹ chẳng còn ai khác, mặc dù…”
“Mẹ cháu có cháu mà,” dì Julia nói. “Và dì không bao giờ ngờ rằng mẹ cháu sống không vui vẻ, dì…”
“Ồ, mẹ cháu thực sự sống không vui đấy. Mẹ thậm chí còn chẳng đi bơi nữa.”
Dì Julia đứng chết sững, dì quay đầu về phía cửa sổ như thể đang lắng nghe điều gì. “Cái gì?” dì hỏi, nhưng không nhìn tôi. Cứ như thể dì đang nhìn ai đó khác, hoặc nhìn vào hình phản chiếu của chính dì. “Cháu bảo sao?”
“Mẹ ngừng bơi. Từ lúc bắt đầu có ý thức, cháu vẫn nhớ mẹ thường ra bể bơi hay ra sông, ngày nào cũng như ngày nào, nó là sở thích của mẹ, mẹ cháu là một kình ngư. Ngày nào cũng như ngày nào, kể cả giữa mùa đông khi nước đóng băng và ta phải phá vỡ lớp băng trên mặt nước. Thế rồi mẹ ngừng. Cứ thế mà ngừng thôi. Mẹ cháu sống không vui vẻ đến như thế đấy.”
Dì không nói gì một hồi, dì chỉ đứng đó, nhìn chằm chằm ra ngoài cửa sổ, như thể đang tìm kiếm ai đó. “Cháu có biết… Lena, cháu có nghĩ là mẹ cháu đã chọc ai đó không? Hoặc ai đó đã quấy rầy mẹ cháu, hoặc…?”
Tôi lắc đầu. “Không. Nếu có thì mẹ đã kể với cháu.” Nếu có thì mẹ đã cảnh báo tôi.
“Thật hả?” dì Julia hỏi. “Bởi vì, cháu biết đấy, Nel… mẹ cháu… chị ấy có một kiểu rất riêng, phải không? Ý dì là, mẹ cháu rất biết cách chọc tức người khác, biết cách khiến cho người ta phát điên…”
“Không, không phải như thế!” tôi quát lên, mặc dù quả thực thỉnh thoảng mẹ vẫn thế, nhưng chỉ với những người ngu ngốc, chỉ với những người không hiểu mẹ thôi. “Dì chẳng biết gì về mẹ cháu hết, dì chẳng hiểu gì về mẹ cháu. Dì chỉ là một con mụ khốn kiếp hay đố kỵ - từ hồi còn trẻ dì đã như vậy và cả giờ vẫn vậy. Lạy Chúa. Thậm chí nói chuyện với dì cũng chẳng ý nghĩa gì.”
Tôi bỏ ra khỏi nhà mặc dù đang đói gần chết. Thà đói gần chết còn hơn là ngồi đó ăn cùng dì, việc đó giống như một sự phản bội vậy. Tôi không ngừng nghĩ đến cảnh mẹ ngồi đó, nói chuyện vào điện thoại, và sự im lặng ở phía đầu dây bên kia. Con mụ lạnh lùng khốn kiếp. Tôi đã từng có lần bực mình với mẹ vì chuyện đó, bảo mẹ, Sao mẹ không mặc xác nó đi? Quên dì ấy đi? Rõ ràng dì ấy chẳng muốn liên quan gì đến chúng ta. Mẹ nói, Dì là em gái mẹ, dì là người nhà duy nhất của mẹ. Tôi bảo, Thế còn con thì sao, con cũng là người nhà mà. Thế là mẹ bật cười nói, Con không phải người nhà. Con còn hơn cả người nhà. Con là một phần máu mủ của mẹ.
Một phần máu mủ của tôi đã ra đi, mà tôi thậm chí còn chẳng được phép gặp bà. Tôi không được phép siết tay bà hay hôn chào tạm biệt hay nói với bà rằng tôi hối tiếc biết bao.
Jules
Tôi không đi theo. Thật ra tôi không muốn bắt kịp Lena. Tôi không biết tôi muốn gì. Vậy nên tôi cứ đứng đó, trên thềm trước nhà, hai bàn tay chà xát hai bắp tay, đôi mắt dần quen với bóng tối nhá nhem đang mỗi lúc một dày đặc.
Em biết em không muốn gì: em không muốn đối đầu với con bé, không muốn nghe thêm gì nữa. Lỗi của em ư? Làm sao chuyện này lại là lỗi của em được? Nếu chị sống không vui vẻ, sao chị chẳng bao giờ nói cho em biết. Nếu chị nói với em, em hẳn đã lắng nghe. Trong đầu em, chị bật cười. OK, nhưng nếu chị bảo với em chị đã ngừng bơi, Nel, vậy thì em hẳn đã biết có chuyện không ổn. Bơi lội chính là cốt lõi sự lành mạnh tinh thần của chị, chị đã từng nói với em như thế, không có nó, chị gục ngã. Không thứ gì giữ được chị rời xa dòng nước, cũng hệt như không thứ gì có thể lôi em vào trong nó.
Có điều đã có thứ làm được. Có thứ hẳn đã làm được.
Tôi đột nhiên thấy đói cào cả ruột, chẳng hiểu sao đột nhiên lại thấy thèm khát mãnh liệt được lấp đầy cái dạ dày. Tôi quay vào trong nhà, tự lấy cho mình một bát mì Bolognese, rồi thêm bát nữa, và bát thứ ba. Tôi ăn và ăn và rồi, chán ghét chính bản thân, tôi lên gác.
Quỳ trong phòng tắm, tôi để đèn tắt. Một thói quen bỏ bễ từ lâu nhưng cũng vì đã quá lâu nên khi làm lại nó mang tới một cảm giác gần như an ủi. Tôi rạp người trong bóng tối, những mạch máu trên mặt căng ra đến mức chỉ chực vỡ tung, hai mắt tôi đầm đìa nước mắt trong lúc tôi tẩy ruột. Khi cảm thấy đã không còn giữ lại bất kỳ chút gì, tôi đứng dậy, xối nước, rồi vã nước lên mặt, tránh ánh mắt của chính mình trong tấm gương nhưng thành ra lại khiến tầm mắt rơi xuống hình phản chiếu trên bồn tắm phía sau.
Tôi đã không ngồi ngâm mình trong nước hơn hai mươi năm nay rồi. Hàng mấy tuần liền sau vụ suýt chết đuối, tôi vẫn thấy khó mà tắm rửa cho tử tế. Đến khi tôi đã bắt đầu bốc mùi, mẹ đành phải lôi tôi vào dưới vòi hoa sen và giữ chặt tôi ở đó.
Tôi nhắm mắt lại, tiếp tục vã nước lên mặt. Tôi nghe thấy tiếng xe chạy chậm dần trên con đường nhỏ ngoài nhà, nhịp tim tôi tăng lên theo đà giảm tốc của chiếc xe, và rồi lại giảm bớt khi chiếc xe lại tăng tốc. “Chẳng có ai đến hết,” tôi nói to thành tiếng. “Chẳng có gì phải sợ.”
Lena vẫn chưa quay về, tuy nhiên tôi chẳng biết tìm con bé ở đâu trong thị trấn này, một chốn vừa thân quen lại vừa xa lạ. Tôi lên giường nhưng không ngủ được.
Mỗi lần nhắm mắt em lại nhìn thấy khuôn mặt chị, xanh tái và nhợt nhạt, môi tím bầm, và trong trí tưởng tượng của em, hai phiến môi ấy co rút vào bên trên lợi chị, và dẫu cho mồm chị đang đầy máu, chị vẫn mỉm cười.
“Thôi đi, Nel.” Tôi lại nói lên thành tiếng, y như một mụ điên. “Hãy thôi đi.”
Em dỏng tai lên chờ chị trả lời, nhưng đáp lại em chỉ có lặng im, thứ lặng im chỉ bị phá vỡ bởi tiếng nước chảy, âm thanh của ngôi nhà chuyển động, cựa mình, kẽo kẹt khi dòng sông xô qua. Trong bóng tối, em dò dẫm tìm điện thoại để trên nóc tủ đầu giường và nhấn số truy cập hòm thư thoại. Bạn không có tin nhắn mới, giọng nói điện tử thông báo với em, và có bản tin nhắn đã lưu.
Tin nhắn thoại gần nhất là của thứ Ba tuần trước, chưa đầy một tuần trước khi chị mất, vào lúc một rưỡi sáng.
Julia, chị đây. Chị cần em gọi lại cho chị. Xin em đấy, Julia. Chuyện quan trọng. Chị cần em gọi lại cho chị, ngay khi em có thể, được chứ? Chị… ừm… chuyện quan trọng lắm. OK. Bye.
Em nhấn phím 1 để tua lại tin nhắn, tua đi tua lại. Em lắng nghe giọng chị, không chỉ là cái chất giọng khàn khàn, cách phát âm chỉ phảng phất kiểu Mỹ nhưng cũng đủ gây khó chịu của chị, em lắng nghe chị. Chị đã cố nói gì với em?
Chị để lại tin nhắn giữa đêm hôm khuya khoắt và em nhận được nó vào đầu giờ sáng, lăn người trên giường nhìn vào cái ánh sáng trắng thông báo tin nhắn trên điện thoại. Em nghe ba tiếng đầu tiên chị nói, Julia, chị đây, và ngắt máy. Lúc đó, em mệt mỏi, xuống tinh thần và em không muốn nghe giọng chị. Em đợi về sau mới nghe nốt phần còn lại. Em đã không thấy có gì kỳ lạ và em không thấy có gì đặc biệt kích thích. Đó là kiểu hành động quen thuộc của chị: để lại những tin nhắn bí hiểm nhằm khơi gợi hứng thú của em. Chị vẫn làm thế hàng bao nhiêu năm rồi, và sau đó khi em gọi lại cho chị, một hai tháng sau, em nhận ra chẳng có cơn khủng hoảng nào, chẳng có bí ẩn nào, chẳng có sự kiện to tát nào. Chị chỉ đang cố gắng thu hút sự chú ý của em. Đó là một trò chơi.
Phải vậy không?
Em lắng nghe tin nhắn, hết lần này đến lần khác, và giờ khi đã nghe một cách tử tế, em không thể tin nổi lúc trước em đã không để ý đến cách nói hơi hổn hển của chị, lời lẽ có phần mềm yếu không hề giống như của chị, sự lưỡng lự, sự ngập ngừng.
Chị đã sợ.
Chị sợ gì? Chị sợ ai? Người dân trong ngôi làng này, những kẻ đã dừng lại nhìn chằm chằm nhưng không ngỏ lời chia buồn, những kẻ không mang thức ăn, không gửi hoa viếng? Có vẻ như, Nel, chị chẳng được người ta nhớ nhung nhiều lắm. Hay có lẽ chị sợ đứa con gái cáu kỉnh, lạnh lùng, kỳ lạ của chị, đứa con đã không khóc than cho chị, đứa cứ nhất quyết cho rằng chị đã tự giết mình, mà chẳng hề có bằng chứng, chẳng có căn cớ gì.
Em rời khỏi giường và rón rén lén qua cánh cửa bên cạnh vào phòng chị. Em đột nhiên cảm thấy mình dường như bé lại. Em vẫn thường làm thế này - lẻn qua cánh cửa phòng bên cạnh - khi bố mẹ chúng mình ngủ ở đây, khi em thấy sợ hãi giữa đêm, khi em gặp ác mộng sau khi nghe một câu chuyện chị kể. Em đẩy cửa mở ra và lẻn vào trong. Căn phòng có cảm giác ngột ngạt, ấm nóng, và khi nhìn thấy cái giường chưa được dọn dẹp của chị, em đột nhiên ứa nước mắt.
Em ngồi vắt vẻo trên mép giường, nhấc cái gối của chị, vải lanh đen xám mát lạnh với diềm màu đỏ máu, và áp lên người em. Em nhớ lại một ký ức vô cùng sống động về cái lần hai chị em mình vào đây nhân sinh nhật mẹ. Chị em mình làm bữa sáng cho mẹ, hồi đó mẹ đang ốm và chúng mình đã rất nỗ lực, cố gắng hòa thuận với nhau. Những sự hòa giải tạm thời ấy chẳng trụ được lâu: chị phát mệt vì em lảng vảng xung quanh, em không ngừng đánh mất sự chú ý của chị. Em dần dần lùi về bên mẹ và chị sẽ nheo mắt dõi nhìn, vừa khinh khỉnh vừa tổn thương.
Em không hiểu chị, nhưng nếu hồi ấy em mới chỉ thấy chị thật kỳ lạ thì bây giờ chị đã trở nên hoàn toàn xa lạ. Giờ em đang ngồi đây trong ngôi nhà của chị, giữa đồ đạc của chị, nhưng thứ mang lại cảm giác quen thuộc chính là ngôi nhà chứ không phải chị. Em đã không hề hiểu gì về chị từ hồi chị em mình còn choai choai, hồi chị mười bảy còn em mười ba. Kể từ cái đêm mà, giống như một cây rìu bổ xuống một khúc củi, các sự kiện đã chẻ chúng ta ra, để lại một vết nứt rộng và sâu hoắm.
Nhưng mãi tới sáu năm sau, chị mới hạ cây rìu ấy xuống lần nữa và chia tách chúng ta vĩnh viễn. Chuyện xảy ra vào buổi thức canh. Mẹ vừa được chôn, chị và em hút thuốc trong vườn giữa một đêm tháng Mười một lạnh giá. Em vẫn đờ đẫn vì buồn đau, nhưng chị đã tự chữa lành bản thân từ bữa sáng và chị muốn nói chuyện. Chị kể với em về một chuyến đi chị sắp thực hiện, tới Na Uy, tới Pulpit Rock, một vách đá cao sáu trăm mét bên trên một vịnh hẹp. Em cố không nghe, bởi vì em biết nó là gì và em không muốn nghe về nó. Ai đó - một người bạn của bố - gọi với ra chỗ chúng ta, “Mấy đứa ở đó vẫn ổn cả đấy chứ hả?” Tiếng ông ta hơi líu nhíu. “Đang dìm cho sầu muộn chết chìm phỏng?”
“Chết chìm, chết chìm, chết chìm…” chị nhắc lại. Chị cũng đã say. Chị nhìn em từ bên dưới hai mí mắt sùm sụp, trong đôi mắt có một ánh sáng kỳ lạ. “Juulia,” chị nói, chậm rãi kéo dài tên em, “em có bao giờ nghĩ đến nó không?”
Chị đặt bàn tay lên cánh tay em và em hẩy tay ra. “Nghĩ về cái gì?” Em dợm đứng dậy, em không muốn ở với chị thêm giây phút nào nữa, em muốn ở một mình.
“Tối hôm đó ấy. Em có… em có bao giờ kể với ai về nó không?”
Em lùi lại một bước tránh xa chị, nhưng chị đã tóm lấy bàn tay em và siết thật chặt. “Thôi nào, Julia… Nói thật cho chị nghe đi. Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à?”
Sau đó, em ngừng nói chuyện với chị. Việc đó, theo con gái chị, có nghĩa là em đã cư xử quá đáng với chị. Chị và em, chúng ta kể các câu chuyện của chúng ta theo những cách khác nhau, phải vậy không?
Em ngừng nói chuyện với chị, nhưng điều đó không ngăn được chị gọi điện cho em. Chị để lại những mẩu tin nhắn kỳ lạ, kể với em về công việc của chị hay con gái chị, một phần thưởng chị giành được, một tấm mề đay. Chị chưa bao giờ nói chị đang ở đâu hay với ai, mặc dù thỉnh thoảng em nghe thấy những âm thanh hậu cảnh, tiếng nhạc hay tiếng xe cộ, đôi khi là giọng nói. Đôi khi em xóa các tin nhắn và đôi khi em lưu chúng lại. Đôi khi em nghe chúng hết lần này đến lần khác, nghe nhiều đến độ thậm chí đến mấy năm sau em vẫn có thể nhớ rõ từng từ chị nói. Lúc thì chị tỏ ra bí hiểm, lúc lại giận dữ, chị nhắc lại những lời lăng mạ cũ, chị đào bới những mâu thuẫn đã bị vùi lấp từ lâu, bới móc những lời gièm pha ngày xưa. Chờ mong cái chết! Một lần, giữa lúc tình hình căng thẳng, mệt mỏi vì những ám ảnh bệnh hoạn của chị, em đã buộc tội chị vẫn chờ mong cái chết, và ôi chao, chị nhai đi nhai lại chuyện đó mới dai dẳng làm sao!
Có những lúc chị lên con ủy mị, nhắc đến mẹ chúng ta, thời thơ ấu của chúng ta, hạnh phúc từng có và mất mát của chúng ta. Lại có lúc chị lên tinh thần, vui vẻ, kích động. Đến nhà Cối Xay đi! chị khẩn nài. Đi đi mà! Em sẽ yêu nó cho xem. Đi mà, Julia, đã đến lúc chị em mình bỏ toàn bộ chuyện vớ vẩn này lại đằng sau. Đừng bướng bỉnh nữa. Đã đến lúc rồi. Và rồi em giận điên lên - Đã đến lúc rồi! Ai cho chị cái quyền được quyết định đầu là lúc kết thúc vấn đề giữa chúng ta?
Em chỉ muốn một điều duy nhất là được để yên, được quên Beckford, quên chị đi. Em đã tự gây dựng một cuộc đời riêng - nhỏ bé hơn của chị, tất nhiên rồi, sao có thể không như thế chứ? Nhưng là của em. Bạn bè tử tế, các mối quan hệ tốt đẹp, một căn hộ nhỏ giữa một vùng ngoại ô xinh đẹp phía Bắc London. Một công việc trong ngành công tác xã hội cho em mục đích sống; một công việc khiến em phải dốc toàn tâm toàn lực và khiến em thấy mình trọn vẹn hơn, bất chấp thu nhập kém cỏi và thời gian làm việc dài.
Em chỉ muốn được yên thân, nhưng chị không chịu. Có khi đôi lần một năm, có khi đôi lần một tháng, chị gọi điện: làm em xáo trộn, mất ổn định, bất an. Đúng kiểu chị vẫn luôn làm - đó là một phiên bản thời trưởng thành của hết thảy những trò chơi thuở nhỏ của chị. Và em vẫn luôn chờ đợi, em đợi một cuộc gọi mà em có thể thực sự đáp lại, một cuộc gọi để chị giải thích tại sao chị lại cư xử như vậy hồi chúng ta còn trẻ, tại sao chị đã làm tổn thương em rồi đứng nhìn để mặc em bị tổn thương. Một phần trong em cũng muốn nói chuyện với chị, nhưng trước hết chị phải xin lỗi em, trước hết chị phải cầu xin em tha thứ. Lời xin lỗi ấy chưa bao giờ tới, và em thì vẫn chờ đợi.
Em đến chỗ thành giường, mở ngăn kéo trên cùng tủ đầu giường. Có những tấm bưu thiếp, chưa ghi gì - ảnh chụp những nơi chị từng đặt chân, có lẽ vậy - bao cao su, chất bôi trơn, một cái bật lửa bằng bạc kiểu cũ khắc các chữ cái LS lên sườn. LS. Một người tình? Em lại quét mắt quanh phòng và chợt nhận ra trong căn nhà này chẳng hề có ảnh chụp đàn ông. Trên đây không, tầng dưới không. Thậm chí đến trong các bức tranh cũng gần như đều là phụ nữ. Cả những lúc chị để lại tin nhắn, chị có kể về công việc của chị, về ngôi nhà và Lena, nhưng chưa từng nhắc đến một người đàn ông nào. Đàn ông dường như chưa bao giờ có ý nghĩa quan trọng đối với chị.
Nhưng vẫn có một người, phải vậy không nhỉ? Cách đây lâu lắm rồi, từng có một chàng trai có ý nghĩa quan trọng với chị. Hồi còn thiếu nữ, chị vẫn thường lẻn khỏi nhà ban đêm, chị trèo ra ngoài qua cửa sổ phòng giặt, thả người xuống bờ sông và rón rén đi vòng quanh nhà, bùn ngập đến mắt cá chân. Chị bò trên bờ sông lên đường làng, và anh ta đợi chị ở đó. Robbie.
Cứ nghĩ đến Robbie, nghĩ đến chị và Robbie là em lại có cảm giác như đang lao nhanh trên cái cầu vòm: hoa mắt chóng mặt. Robbie cao, to và tóc vàng hoe, môi cong lên thành một nụ cười chế nhạo thường trực. Anh ta có cái lối nhìn con gái khiến cô ta không còn là mình nữa. Robbie Cannon. Một con đực alpha, một kẻ đầu đàn, luôn bốc mùi lăn khử mùi Lynx và tình dục, vũ phu và nhỏ mọn. Chị yêu anh ta, chị bảo thế, mặc dù theo em thấy nó chẳng giống tình yêu cho lắm. Chị và anh ta chỉ hoặc là đè nhau ra hoặc là ném vào mặt nhau những lời mạt sát, chẳng bao giờ ở giữa hai trạng thái đó. Chẳng bao giờ có chút bình yên nào. Em không nhớ đã từng nghe thấy nhiều tiếng cười. Nhưng em vẫn nhớ rõ như in hình ảnh hai người bọn chị cùng nằm trên bờ sông, tay chân quấn quýt, bàn chân ngâm trong dòng nước, anh ta lăn người đè lên chị, ấn hai bên vai chị lún vào trong cát.
Hình ảnh ấy có gì đó thật gai mắt, khơi dậy trong em một cảm xúc em đã không cảm thấy một thời gian. Nỗi xấu hổ. Nỗi xấu hổ thầm kín, dơ dáy của một người thích thú trước hình ảnh khiêu dâm, trộn lẫn với một thứ khác, một thứ gì đó em không thể và cũng không muốn tìm hiểu cho rõ là gì. Em cố tránh mắt đi, nhưng em vẫn nhớ, đó không phải lần duy nhất em quan sát anh ta ở cùng chị.
Đột nhiên cảm thấy khó chịu trong lòng, em bèn đứng dậy khỏi giường chị và đi lại quanh phòng, nhìn ngắm các bức ảnh. Ảnh ở khắp nơi nơi. Tất nhiên rồi. Những bức ảnh chị lồng khung đặt trên tủ com mốt, rám nắng và tươi cười, ở Tokyo và Buenos Aires, đi trượt tuyết và trên bãi biển, ôm con gái trong vòng tay. Trên tường, những ảnh bìa tạp chí chị chụp được lồng khung, một phóng sự trang bìa tờ New York Times, các giải thưởng chỉ nhận được. Nó đấy: toàn bộ bằng chứng về sự thành công của chị, chứng cứ cho thấy chị đánh bại em trên mọi mặt. Công việc, nhan sắc, con cái, cuộc sống. Và giờ chị lại đánh bại em lần nữa. Thậm chí kể cả trong chuyện này, chị đã thắng.
Một bức ảnh khiến em dừng khựng lại. Đó là bức ảnh chụp chị và Lena - không còn là một em bé nữa mà đã thành một cô bé, có lẽ năm sáu tuổi, cũng có khi lớn hơn, em chẳng bao giờ đoán chắc được tuổi của bọn trẻ con. Con bé đang mỉm cười, để lộ hàm răng nhỏ trắng tinh, và bức ảnh toát lên điều gì đó rất lạ, điều gì đó khiến cho tóc em dựng ngược lên; điều gì đó ở đôi mắt của con bé, dáng dấp khuôn mặt con bé, khiến nó có vẻ của một loài thú săn mồi.
Tôi có thể cảm thấy mạch máu rần rật trên cổ, một nỗi sợ xưa cũ đang trỗi dậy. Tôi trở lại giường nằm, cố không lắng nghe tiếng dòng nước, nhưng kể cả khi mọi cửa sổ đều đã đóng, ở tận tầng trên cùng ngôi nhà, âm thanh ấy vẫn không thể lờ đi. Tôi có thể cảm thấy nó đang xô vào tường nhà, luồn vào trong những vết gạch nứt, đang dâng lên cao. Tôi có thể nếm thấy nó, vấy bùn và bẩn thỉu trong miệng tôi, và da tôi dường như nhớp nháp.
Đâu đó trong ngôi nhà, em có thể nghe thấy tiếng ai đó đang cười, và nghe rất giống với tiếng chị.
THÁNG TÁM, 1993 **
* * *
*Jules*
Mẹ mua cho tôi một bộ đồ bơi mới, một bộ đồ cổ lỗ kẻ trắng xanh có “nâng ngực”. Nó có vẻ tương tự một món đồ của thập niên 1950, kiểu mà có lẽ Marilyn từng mặc. Béo ú và trắng bệch, tôi chẳng có vẻ gì giống Norma Jean, nhưng dù sao thì tôi cũng vẫn mặc vì mẹ đã tốn bao công mới tìm thấy nó. Tìm được đồ bơi cho một đứa như tôi đâu có dễ.
Tôi xỏ chiếc quần soóc màu xanh dương và tròng áo phông trắng quá khổ lên người. Lúc Nel xuống ăn trưa, mặc quần soóc denim không viền gấu và áo bikini buộc dây cổ, chị liếc nhìn tôi rồi hỏi, “Chiều nay em định ra sông à?” bằng một tông giọng lộ rõ chị không muốn tôi đi, và rồi chị bắt gặp ánh mắt mẹ và bảo, “Con không trông nó đâu, OK? Con đến đó tụ tập bạn bè mà.”
Mẹ nói, “Tử tế đi, Nel.”
Hồi đó, bệnh tình của mẹ đã thuyên giảm, nhưng mẹ vẫn yếu đến độ gió thổi nhẹ cũng lay, làn da màu ô liu của mẹ vàng ệch, như tờ giấy cũ, và Nel cùng tôi đều nhận được chỉ thị nghiêm khắc từ bố, buộc phải Sống Thuận Hòa.
Một phần của kế hoạch Sống Thuận Hòa ấy đồng nghĩa với việc Biết Hòa Nhập, vậy nên phải đó, tôi sẽ ra sông. Mọi người đều ra sông. Thật ra, ngoài việc đó ra thì cũng chẳng có gì khác để mà làm. Beckford không giống như bãi biển, nó không có hội chợ vui chơi, không có các khu trò chơi điện tử, cũng chẳng có nổi một sân golf mini. Ở đây có nước, thế thôi.
Khi hè đã sang được vài tuần, một khi các thói quen đã được thiết lập, khi tất cả mọi người đã hình dung ra được họ thuộc về nơi nào và có quan hệ với ai, một khi người bên ngoài và dân địa phương đã trộn lẫn vào nhau, khi ai bạn ai thù đã rõ, người ta bắt đầu kết thành từng nhóm lang thang dọc bờ sông. Bọn trẻ ít tuổi hơn thường bơi ở phía Nam nhà Cối Xay, nơi nước chảy chậm và dưới sông có cá để bắt. Đám trẻ hư lượn lờ ở ngôi nhà nhỏ của gia đình Ward, làm tình và chơi thuốc, chơi trò cầu cơ và tìm cách gọi lên những linh hồn giận dữ. (Nel từng bảo tôi rằng nếu săm soi thật kỹ, ta vẫn có thể phát hiện ra các vết máu của Robert Ward dính trên tường.) Nhưng đám đông lớn nhất sẽ tập trung ở Vũng Sông Chết Đuối. Bọn con trai nhảy từ vách đá xuống bơi còn đám con gái thì tắm nắng, nhạc được bật và các vỉ nướng được châm lửa. Luôn có người mang theo bia.
Tôi vẫn thích ở nhà hơn, trong nhà, tránh xa mặt trời. Tôi thích nằm trên giường đọc sách, hoặc chơi bài với mẹ, nhưng tôi không muốn mẹ phải lo lắng cho mình, mẹ còn nhiều vấn đề quan trọng hơn để lo nghĩ. Tôi muốn cho mẹ thấy tôi có thể giao lưu, tôi có thể kết bạn. Tôi có thể Hòa Nhập.
Tôi biết thừa Nel không muốn tôi đi. Đối với chị, tôi càng dành nhiều thời gian ru rú trong nhà càng tốt, và như thế sẽ càng làm bớt đi khả năng bạn bè của chị sẽ nhìn thấy tôi - vết nhơ, nỗi xấu hổ: Julia, béo, xấu và quê mùa. Chị thấy lúng túng khi phải đồng hành cùng tôi, lúc nào cũng vượt lên trước vài bước hoặc tụt lại phía sau cả chục bước; sự khó chịu của chị khi ở gần tôi lộ liễu đến mức đủ khiến cho người khác phải chú ý. Một lần, khi hai chúng tôi cùng nhau rời khỏi cửa hàng tạp hóa làng, tôi nghe thấy một đứa trai làng bảo, “Nó chắc phải là con nuôi. Làm gì có chuyện con ranh béo ú đó là em ruột của Nel Abbott chứ.” Tụi nó cười phá lên, và tôi nhìn sang chị tìm kiếm sự an ủi, nhưng chỉ bắt gặp nỗi xấu hổ.
Hôm đó, tôi ra sông một mình. Tôi mang theo một cái túi xách đựng khăn tắm, một cuốn sách, một lon Diet Coke và hai thanh Snicker, phòng khi tôi thấy đói khi bữa trưa đã qua còn bữa tối chưa tới. Bụng tôi đau, lung tôi đau. Tôi muốn quay lại, về với sự riêng tư trong căn phòng nhỏ tối tăm mát mẻ của tôi, nơi tôi có thể được ở một mình. Không bị ai nhìn thấy.
Đám bạn của Nel đến ngay sau tôi một lát; bọn họ chiếm cứ bãi cát, vùng bờ cát hình bán nguyệt nhỏ bên trái vùng sông. Đấy là chỗ ngồi xịn nhất, địa hình dốc xuống nên ta có thể nằm ngâm ngón chân trong dòng nước. Có ba đứa con gái - hai đứa là dân trong làng còn một đứa tên Jenny từ Edinburgh đến với nước da trắng ngà đẹp tuyệt cùng mái tóc đen quá vai cắt bằng. Mặc dù là người Scotland, Jenny vẫn nói giọng Anh chuẩn, và đám con trai cố sống cố chết được ngủ với chị ta vì nghe nói chị ta vẫn là gái trinh.
Tất cả đám con trai ngoại trừ Robbie, tất nhiên, anh ta chỉ để mắt đến một mình Nel. Hai người họ gặp nhau hồi hai năm trước, khi anh ta mười bảy còn chị mười lăm, và giờ họ là một cặp chính thức trong hè, mặc dù họ vẫn được phép gặp gỡ những người khác vào khoảng thời gian còn lại trong năm, bởi vì nếu trông chờ anh ta chung thủy khi Nel không ở cạnh thì đúng là quá thiếu thực tế. Robbie cao tầm mét tám, điển trai và rất nổi tiếng, anh ta hay chơi bóng bầu dục, gia đình anh ta thuộc dạng có tiền.
Hồi Nel qua lại với Robbie, thỉnh thoảng chị lại trở về nhà mang theo những vết thâm tím trên cổ tay hay trên bắp tay. Khi tôi hỏi chị đã có chuyện gì, chị bật cười bảo, “Em nghĩ sao?” Robbie luôn gây ra một cảm giác kỳ quái trong dạ dày tôi và tôi không sao kiềm chế nổi để khỏi trừng mắt nhìn anh ta mỗi khi anh ta lởn vởn xung quanh. Tôi đã cố không làm thế, nhưng tôi cứ nhìn anh ta suốt. Giờ anh ta cũng để ý thấy chuyện này bèn bắt đầu trừng mắt nhìn lại. Anh ta và Nel lôi chuyện này ra làm trò cười, và thỉnh thoảng anh ta lại nhìn tôi, liếm môi và cười phá lên.
Lúc tôi đến vùng sông, đám con trai cũng đã ở đó, nhưng chúng ở phía bên kia, đang bơi, đang leo lên bờ dốc, xô đẩy nhau ngã khỏi các tảng đá, cười đùa chửi thề và gọi nhau là gay. Dường như lúc nào cũng thế: đám con gái ngồi đợi, bọn con trai nhặng xị xung quanh đến khi phát chán thì lại vượt sang bờ bên này và làm trò này nọ với đám con gái, đám con gái thì có lúc cưỡng lại có lúc không. Toàn bộ đám con gái ngoại trừ Nel, người không sợ lặn vào trong dòng nước và làm tóc ướt nhẹp, người thích thú với tính thô bạo và hỗn loạn của trò chơi của chúng, người đã thành công đi trên sợi dây thăng bằng kéo căng giữa bên này là làm một người trong bọn con trai còn bên kia là làm đối tượng cơ bản cho ham muốn của chúng.
Tôi không ngồi với bạn bè Nel, tất nhiên. Tôi trải khăn tắm xuống dưới tán cây và ngồi một mình. Có một nhóm con gái khác nhỏ tuổi hơn, trạc tuổi tôi, ngồi cách tôi một quãng ngắn và tôi nhận ra một đứa trong đó tôi đã gặp từ những mùa hè trước. Nó mỉm cười với tôi và tôi mỉm cười đáp lại. Tôi khẽ vẫy tay với nó, nhưng nó đã nhìn tránh đi chỗ khác.
Trời nóng. Khi đó, tôi háo hức được vào trong dòng nước. Tôi có thể tưởng tượng ra rõ mồn một cái cảm giác của nó trên da mình, êm ái và sạch sẽ, tôi có thể tưởng tượng ra những đống bùn ấm áp bị giẫm xuống len vào giữa những ngón chân tôi, tôi có thể nhìn thấy ánh sáng màu cam ấm áp trên mi mắt khi tôi nằm ngửa trôi bồng bềnh. Tôi cởi áo phông ra, nhưng làm thế cũng chẳng khiến tôi ngầu hơn chút nào. Tôi để ý thấy Jenny đang quan sát tôi và chị ta chun mũi lại rồi sau đó nhìn xuống mặt đất vì chị ta biết tôi đã nhìn ra vẻ ghê tởm trên mặt chị ta.
Tôi xoay người tránh khỏi bọn họ, nằm nghiêng về bên tay phải và mở sách ra. Tôi đang đọc Lịch sử bí mật. Tôi khát khao có một nhóm bạn giống như thế, gắn bó chặt chẽ, tách biệt và giỏi giang. Tôi muốn ai đó để tôi đi theo, ai đó sẽ bảo vệ tôi, ai đó được chú ý đến nhờ bộ não chứ không phải vì đôi chân dài. Tuy nhiên, tôi biết, nếu có những người như thế ở quanh đây hay ở trường tôi tại London, họ cũng sẽ không muốn kết bạn với tôi. Tôi không ngu ngốc, nhưng tôi không tỏa sáng.
Nel tỏa sáng.
Khoảng giữa buổi chiều, chị xuống sông. Tôi nghe chị la to gọi bạn, và lũ con trai hét gọi chị từ trên đỉnh vách đá chỗ chúng đang ngồi, chân đung đưa ra bên ngoài gờ vách đá, miệng phì phèo thuốc lá. Tôi ngoái lại qua vai, quan sát chị cởi quần áo ra rồi chậm chạp lội vào dòng nước, té nước lên người, tận hưởng sự chú ý.
Lúc này bọn con trai đang xuống khỏi đỉnh vách đá, xuyên qua rừng cây. Tôi lẫn người nằm sấp lại, cúi gằm mặt xuống, mắt dán chặt lên trang sách, những câu chữ nhạt nhòa. Tôi ước gì mình đã không đến đây, ước gì tôi có thể lần đi chỗ khác mà không bị ai để ý, nhưng tôi chẳng thể làm gì mà không bị ai để ý, chẳng thể làm gì theo đúng nghĩa đen của nó. Cái thân hình trắng phau dị dạng của tôi chẳng lần đi bất kỳ nơi đâu được.
Bọn con trai mang theo một quả bóng, và chúng bắt đầu đá qua đá lại. Tôi có thể nghe tiếng chúng í ới gọi nhau chuyền bóng, quả bóng vỗ vào mặt nước, tiếng đám con gái cười ré lên khi bị nước bắn vào. Rồi tôi cảm thấy nó, một cú đập mạnh đau nhói ở bắp đùi khi quả bóng đập trung vào tôi. Tất cả bọn chúng đều đang cười. Robbie giơ tay lên và chạy về phía tôi để lấy lại quả bóng.
“Xin lỗi, xin lỗi,” anh ta nói, nụ cười tươi rói nở rộng trên khuôn mặt. “Xin lỗi nhé, Julia, không cố tình đá trúng em đâu.” Anh ta nhặt quả bóng lên và tôi nhận thấy anh ta đang nhìn tôi, nhìn cái vết đỏ lấm bùn trên da thịt tôi, trắng bệch và ngấn mỡ giống y như một tảng mỡ động vật để lạnh. Ai đó nói gì đó về một mục tiêu cỡ bự, chuẩn đấy, mày có thể không sút trúng cầu môn nhưng mày không thể nhắm trượt bộ mông kia được.
Tôi trở lại với cuốn sách. Quả bóng đập trúng một cái cây cách tôi vài bước chân và ai đó hét lên, “Xin lỗi nhé.” Tôi phớt lờ bọn chúng. Chuyện đó lại xảy ra lần nữa, và rồi một lần nữa. Tôi lăn người lại; bọn chúng đang nhắm vào tôi. Tập nhắm mục tiêu. Bọn con gái đang gập hết cả người lại, cười rũ rượi, tiếng cười ré vui vẻ của Nel lớn hơn hết thảy.
Tôi ngồi dậy, cố gắng tỏ vẻ cùng công. “Phải rồi, okay. Vui lắm đấy. Giờ thì mọi người có thể dừng lại được rồi đấy. Thôi đi! Dừng lại đi,” tôi hét toáng lên, nhưng một đứa khác đã nhắm bóng. Quả bóng bay về phía tôi. Tôi giơ cánh tay lên bảo vệ mặt và quả bóng đập vào da thịt tôi, một cú đập mạnh, đau nhói. Nước mắt cay sè trong hốc mắt, tôi loạng choạng đứng dậy.
Bọn con gái khác, đám nhỏ tuổi hơn, cũng đang theo dõi. Một đứa trong bọn đưa tay lên che miệng.
“Thôi đi!” nó hét lên. “Các anh làm nó bị thương rồi. Nó chảy máu kìa.”
Tôi nhìn xuống. Máu dính trên chân tôi, chảy thành dòng ở mặt trong bắp đùi tôi xuống tới đầu gối tôi. Không phải thế, tôi biết ngay lập tức, bọn chúng không làm tôi bị thương. Những cơn co thắt ở bụng, cảm giác đau lưng - và suốt cả tuần vừa rồi tôi vẫn luôn thấy khổ sở hơn hẳn bình thường. Tôi đang chảy máu nhiều, ồ ạt, không chỉ lấm chấm vài giọt - quần soóc của tôi ướt sũng. Và bọn chúng đang nhìn tôi, tất cả bọn chúng, chằm chằm nhìn tôi. Bọn con gái không cười nữa, chúng há hốc miệng nhìn nhau, nửa kinh hoảng nửa thích thú. Tôi bắt gặp ánh mắt Nel và chị quay đi chỗ khác, tôi gần như có thể cảm thấy chị đang đỏ bừng mặt. Chị thấy mất thể diện. Chị xấu hổ vì tôi. Tôi vội lấy hết tốc độ tròng áo phông lên, quấn khăn tắm quanh eo và lúng túng tập tễnh bỏ đi, quay ngược trở lại theo con đường làng. Tôi có thể nghe thấy tiếng bọn con trai lại bắt đầu phá lên cười khi tôi rời khỏi đó.
Tối đó, tôi đã vào trong dòng nước. Khi đó, chuyện đã xảy ra được một lúc lâu - rất, rất lâu - và tôi đã uống rượu, trải nghiệm đầu tiên trong đời tôi với chất cồn. Cũng đã xảy ra nhiều chuyện khác nữa. Robbie đã đến tìm tôi, anh ta nài tôi ra ngoài, anh ta xin lỗi tôi vì thái độ cư xử của anh ta và bạn bè. Anh ta bảo tôi anh ta rất xin lỗi, anh ta choàng cánh tay ôm vai tôi, anh ta bảo tôi không cần xấu hổ làm gì.
Nhưng dù sao đi nữa tôi cũng đã tới Vũng Sông Chết Đuối, và Nel đã lôi tôi ra khỏi sông. Chị kéo tôi lên bờ và xốc tôi đứng dậy. Chị tát mạnh lên mặt tôi. “Con ranh, con ranh béo ị ngu xuẩn, mày đã làm gì vậy hả? Mày đang định làm gì hả?”
2015 **
THỨ TƯ, 12 THÁNG TÁM
* * *
*Patrick*
Ngôi nhà nhỏ của gia đình Ward không còn là tài sản của gia đình Ward gần trăm năm nay rồi, và nó cũng không phải tài sản của Patrick - thật ra có vẻ như nó chẳng còn là tài sản của bất kỳ ai. Patrick đoán có lẽ nó thuộc về hội đồng thị trấn, dù chưa từng có ai xác nhận điều đó. Nhưng dù sao đi nữa, Patrick cũng có chìa khóa, vậy nên ông ta có cảm giác mình là chủ ở đây. Ông ta trả những hóa đơn điện nước khiêm tốn, ông ta tự lắp khóa hồi vài năm trước sau khi cánh cửa cũ bị mấy kẻ lỗ mãng phá tan tành. Giờ chỉ còn mỗi ông ta cùng người con trai, Sean, có chìa khóa, và Patrick luôn đảm bảo sao cho nơi này được gọn gàng sạch sẽ.
Chỉ có điều, thỉnh thoảng, cửa ra vào lại bị để tơ hơ không khóa và nếu hoàn toàn thành thật, Patrick chẳng dám chắc chắn là mình đã khóa nó lại. Ông ta bắt đầu cảm thấy, càng lúc càng thường xuyên hơn theo thời gian, những khoảnh khắc hỗn loạn lấp đầy ông ta bằng một nỗi kinh sợ lạnh người đến độ ông ta không chịu đối mặt. Đôi khi, ông ta quên tên, quên từ, và phải mất rất nhiều thời gian mới nhớ lại được. Những ký ức xưa trôi lên phá vỡ sự bình yên trong tâm trí ông ta, chúng sặc sỡ dữ dội, ồn ào náo loạn. Quanh rìa tầm nhìn của ông ta là những cái bóng chuyển động.
Ngày nào Patrick cũng lên thượng lưu sông, nó là một phần thời gian biểu của ông ta: bắt đầu từ sáng sớm, đi bộ ba dặm men dòng sông tới ngôi nhà nhỏ, thỉnh thoảng câu cá một hai tiếng đồng hồ. Dạo gần đây, ông ta ít làm thế hơn. Không chỉ vì ông ta mệt, hay vì chân đau, mà là do thiếu lòng nhiệt huyết. Ông ta không còn tìm thấy niềm vui trong những việc xưa kia từng khiến ông ta thích thú. Tuy nhiên, ông ta vẫn thích kiểm tra xem mọi thứ nào, và những khi chân cẳng có vẻ ổn, ông ta vẫn có thể xoay xở đi bộ đến đó rồi quay trở lại trong vòng vài tiếng đồng hồ. Tuy nhiên, sáng nay, lúc ông ta tỉnh dậy, bắp chân trái sưng phồng đau đớn, mạch đập rần rật nhức nhối dai dẳng như một chiếc đồng hồ tích tắc. Vậy nên ông ta quyết định sẽ đi ô tô.
Ông ta lê người khỏi giường, tắm táp, thay quần áo, rồi sau đó bực mình nhớ ra xe của ông ta vẫn đang ở tiệm sửa - chiều qua ông ta đã quên béng không lấy nó về. Càu nhàu một mình, ông ta khập khiễng băng qua sân trong để hỏi mượn xe của cô con dâu.
Vợ của Sean, Helen, đang ở trong bếp lau sàn. Trong học kỳ, tầm giờ này cô đã ra khỏi nhà rồi - cô là hiệu trưởng và luôn cho rằng ngày nào cũng nhất thiết phải có mặt ở văn phòng lúc bày rưỡi sáng. Nhưng kể cả những khi trường được nghỉ, cô cũng không ngủ nướng. Cô không phải người quen thói lười biếng.
“Dậy sớm quá đấy,” Patrick nói trên đường vào bếp, và cô mỉm cười. Với những nếp nhăn hằn quanh hai mắt và những dải tóc xám lẫn trong mái tóc nâu ngắn, Helen trông già hơn nhiều so với độ tuổi ba mươi sáu của mình. Già hơn, Patrick nghĩ, và mệt mỏi hơn nhiều so với lẽ thường.
“Không ngủ được ạ,” cô nói.
“Ôi, xin lỗi con nhé.”
Cô nhún vai. “Ta có thể làm gì được cơ chứ?” Cô bỏ cây chổi lau sàn vào xô và dựng thẳng nó lên áp vào tường. “Con pha cho bố ít cà phê nhé?” Giờ cô gọi ông ta là bố. Ban đầu nó có vẻ kỳ kỳ, nhưng giờ ông ta thích cách gọi này; sự trìu mến trong giọng cô khi cô phát âm từ này, nó khiến ông ta thấy ấm lòng. Ông ta bảo mình sẽ cho một ít cà phê vào bình giữ nhiệt, giải thích rằng ông ta muốn lên thượng nguồn sông. “Bố sẽ không đến gần vùng sông đấy chứ? Chỉ là con thấy…”
Ông ta lắc đầu. “Không đâu. Tất nhiên là không rồi.” Ông ta dừng lại. “Sean xử lý mọi chuyện thế nào rồi?”
Cô lại nhún vai. “Bố biết mà. Anh ấy có nói gì đâu.”
Sean và Helen đang sống trong ngôi nhà Patrick từng sống chung với vợ. Sau khi bà mất, Sean cùng Patrick sống ở đó. Nhiều năm sau, sau khi Sean lập gia đình, họ cải tạo lại cái chuồng bò cũ phía bên kia sân và Patrick chuyển sang đó. Sean phản đối, bảo đúng lý thì chính anh ta và Helen mới cần phải chuyển đi, nhưng Patrick không chịu. Ông ta muốn họ sống ở đó, ông ta thích cái cảm giác tiếp nối, cảm giác ba người họ là một cộng đồng nhỏ riêng biệt, là một phần của thị trấn nhưng đồng thời cũng tách biệt khỏi nó.
Lúc đến chỗ ngôi nhà nhỏ, Patrick lập tức nhận ra đã có người ở đây. Rèm cửa đã bị kéo lên, cửa chính khép hờ. Trong nhà, ông ta thấy giường bừa bộn. Mấy cốc thủy tinh rỗng lem vết rượu đứng trên sàn và một cái bao cao su nổi lềnh bềnh trong bồn cầu. Mấy điếu thuốc lá tự cuộn còn trơ đầu mẩu trong gạt tàn. Ông ta nhặt một mẩu thuốc lên ngửi, tìm kiến dấu vết thuốc phiện, nhưng chỉ ngửi thấy mùi tàn đã lạnh. Còn nhiều món đồ khác nữa, các món trang phục và đủ loại đồ tạp nham - một cái tất màu xanh dương kỳ quái, một chuỗi hạt. Ông ta gom hết tất cả lại tống vào trong một cái túi giấy bóng. Ông ta lột ga trải giường ra, rửa cốc trong bồn, ném các đầu mẩu thuốc lá vào trong thùng rác và khóa cửa cẩn thận lại sau lưng. Ông ta mang hết mọi thứ ra ngoài xe, ném ga trải giường lên ghế sau, vứt rác vào trong cốp và nhét mấy món tạp nhập kia vào ngăn để găng tay.
Ông ta khóa xe lại và đi bộ đến mép sông, vừa đi vừa châm một điếu thuốc lá. Cẳng chân ông ta đau nhức và ngực ông ta thắt lại theo từng nhịp thở, khói thuốc cay nồng xộc vào cổ họng ông ta. Ông ta bật họ, tưởng như có thể cảm nhận rõ cái hăng hăng cay sẽ cạo xát vào buồng phổi mệt mỏi ám đen của ông ta. Ông ta đột nhiên thấy buồn vô hạn. Những cảm xúc này thỉnh thoảng vẫn choán lấy Patrick, tóm lấy ông ta bằng một sức mạnh khiến ông ta nhận ra ông ta chỉ mong sao nó qua hết đi. Hết sạch sành sanh đi. Ông ta nhìn vào dòng nước và khịt mũi. Ông ta chưa bao giờ nằm trong số những người đầu hàng trước cái cám dỗ được quy phục, được nhận chìm chính mình xuống nước, được tống khứ tất cả đi, nhưng ông ta vẫn đủ trung thực để thừa nhận rằng có nhiều khi, thậm chí đến cả ông ta cũng có thể nhận thấy sức quyến rũ của sự lãng quên.
Lúc ông ta về đến nhà thì đã là giữa buổi sáng, vầng mặt trời đã treo cao trên bầu trời. Patrick liếc thấy con mèo mướp hoang mà Helen vẫn hay cho ăn uống đang uể oải diễu qua sân, tiến tới bụi hương thảo trên luống đất bên ngoài cửa sổ bếp. Patrick để ý thấy lưng nó hơi còng, bụng nó phình ra. Đang mang thai. Ông ta phải làm gì đó với chuyện này mới được.
THỨ NĂM, 13 THÁNG TÁM **
* * *
*Erin*
Mấy người hàng xóm tởm lợm của tôi trong căn hộ đi thuê ngắn hạn tởm lợm của tôi ở Newcastle đã có một trận phải nói là bố của cãi cọ vào lúc bốn giờ sáng nay, vậy nên tôi quyết định dậy đi chạy một chuyến. Tôi đã thay quần áo xong xuôi rồi thì chợt nghĩ việc gì mình phải chạy ở đây trong khi có thể chạy ở đó kia chứ? Vậy là tôi lái xe tới Beckford, đỗ xe ngoài nhà thờ rồi nhằm con đường mòn ven sông thẳng tiến ngược lên thượng nguồn.
Ban đầu, cuốc chạy thật chẳng dễ dàng. Khi đã qua vùng sông, ta sẽ phải leo ngược lên ngọn đồi kia rồi xuống dốc ở phía sườn bên kia, nhưng sau đó thì địa hình trở nên bằng phẳng hơn nhiều và nó đúng là một cuộc chạy bộ đáng mơ ước. Không khí mát lạnh khi mặt trời mùa hè chưa tìm tới, tĩnh lặng, đẹp như tranh và không có bóng dáng người đi xe đạp nào, khác một trời một vực so với tuyến chạy dọc kênh Regent của tôi ở London, cứ phải tránh xe đạp và đám du khách suốt.
Ngược vài dặm về phía thượng lưu sông, thung lũng trải rộng ra, sườn đồi xanh ngắt đối diện, lấm chấm bóng cừu, nhẹ nhàng trôi ra xa. Tôi chạy men theo mặt đất bằng phủ đá cuội, cằn cỗi chẳng có gì ngoài mấy vạt cỏ xác xơ và kim tước nhan nhản khắp nơi. Tôi guồng chân chạy, đầu cúi gằm, thêm tầm một dặm nữa thì thấy một ngôi nhà nhỏ nằm hơi khuất khỏi bờ sông, phía sau một hàng bạch dương.
Tôi chuyển dần từ chạy sang đi bộ để điều hòa hơi thở, tìm đường tiến đến chỗ căn nhà xem sao. Căn nhà hiu quạnh, có vẻ không có người ở nhưng cũng không phải đã bị bỏ hoang. Rèm cửa nửa kín nửa hở, các cửa sổ đều sạch sẽ. Tôi ngó vào bên trong, thấy một phòng khách nhỏ, bày hai cái ghế bành xanh lục hai bên một chiếc bàn nhỏ. Tôi thử mở cửa nhưng nó đã bị khóa, vậy nên tôi ngồi xuống bậc thềm trước nhà trong bóng râm và lấy chai nước mang theo ra làm một hớp. Duỗi thẳng hai chân, thả lỏng mắt cá, tôi đợi cho hơi thở và nhịp tim dần chậm lại. Ở chân khung cửa ra vào, tôi để ý thấy ai đó đã nguệch ngoạc một dòng chữ - Annie Điên đã ở đâu - kèm theo một hình đầu lâu nhỏ bên cạnh.
Mấy con quạ đang quang quạc trong đám cây cối sau lưng tôi, nhưng ngoài những âm thanh đó cùng với thỉnh thoảng be be tiếng cừu, thung lũng chìm trong tĩnh lặng, và thập phần trinh nguyên. Tôi vẫn luôn cho rằng mình là một cô gái thành phố từ trong ra ngoài, nhưng nơi này - vốn kỳ quái đến thế - vẫn khiến ta gai cả người.
Thanh tra Townsend triệu tập cuộc họp lúc quá chín giờ một chút. Chúng tôi không tập trung nhiều người ở đó - hai cảnh sát mặc cảnh phục phụ trách đến từng nhà hỏi han, điều tra viên khá trẻ Callie, tay kỹ thuật hình sự Râu Rậm và tôi. Townsend đã làm việc với điều tra viên chuyên trách những vụ tử vong bất thường về kết quả khám nghiệm tử thi - anh ta thông báo kết quả cho chúng tôi, phần lớn đều đã được đoán trước. Nel chết vì những vết thương gây ra trong quá trình rơi xuống. Phổi không tích nước - cô ta không bị chết đuối, cô ta đã chết trước khi chìm trong nước. Cô ta không có vết thương nào không thể quy nguyên nhân về cho cú rơi - không có vết cào xước hay thâm tím nào có vẻ lạc lõng hay có thể khơi dậy mối hoài nghi rằng còn có bàn tay của kẻ khác dính vào. Cô ta cũng có một lượng cồn tương đối trong máu - tương đương ba bốn cốc rượu.
Callie báo cáo kết quả phỏng vấn lần lượt các hộ gia đình - nói thế thôi chứ cũng chẳng có gì nhiều để mà nhắc tới. Chúng tôi biết rằng Nel có mặt chốc lát ở quán rượu vào tối Chủ nhật, và rằng đến tầm bảy giờ thì cô ta rời đi. Chúng tôi biết rằng cô ta đã ở nhà Cối Xay cho tới ít nhất là mười giờ rưỡi, khi Lena đi ngủ. Không ai khai là đã nhìn thấy cô ta sau khoảng thời gian đó. Không ai khai là đã chứng kiến cô ta cãi cọ với bất kỳ người nào dạo gần đây, mặc dù mọi người đều đồng ý rằng cô ta không được lòng người khác lắm. Dân làng không thích thái độ của cô ta, không thích cái lối cho rằng cô ta xứng đáng có được những đặc quyền của một kẻ ngoài cuộc đã đến thị trấn của họ và rắp tâm kể câu chuyện của họ. Nói cho đúng thì cô ta học được cái lối ấy từ đâu cơ chứ?
Râu Rậm đã kiểm tra tài khoản email của Nel - cô ta đã lập một tài khoản dành riêng cho dự án của mình và mời mọi người gửi các câu chuyện của họ. Phần lớn các trường hợp, cô ta chỉ nhận được những lời lăng mạ. “Tuy vậy, theo như tôi thấy thì cũng chẳng tệ hơn những thứ mà bình thường nhiều phụ nữ khác cũng nhận được trên Internet,” ông ta nói và nhún vai với tôi vẻ áy náy, như thể ông ta phải chịu trách nhiệm cho mọi kẻ ngu ngốc căm ghét phụ nữ trong không gian mạng. “Chúng tôi sẽ theo dõi tiếp, tất nhiên, nhưng…”
Những chứng cứ còn lại Râu Rậm thu thập được thật ra khá thú vị. Đầu tiên, nó cho thấy Jules Abbott là một kẻ dối trá điện thoại của Nel vẫn chưa được tìm thấy, nhưng sao kê cuộc gọi chỉ ra rằng mặc dù không thường sử dụng di động, nhưng cô ta đã gọi mười một cuộc vào số điện thoại của em gái trong vòng ba tháng vừa rồi. Phần lớn cuộc gọi kéo dài chưa tới một phút, thỉnh thoảng là hai ba phút, không cuộc gọi nào đặc biệt kéo dài, nhưng cũng không có cuộc nào bị từ chối.
Ông ta cũng đã xoay xở xác minh được thời gian tử vong. Máy quay ở dưới bãi đá - cái máy quay không bị hỏng - đã quay được gì đó. Không có gì ra hình ra dạng, không có gì rõ ràng, chỉ có một chuyển động mờ đột ngột trong bóng tối, tiếp theo là nước bắn tóe lên. Hai giờ ba mươi mốt phút sáng, theo máy quay cho thấy, là thời điểm Nel lọt vào khung hình.
Nhưng ông ta đã để dành thông tin đặc sắc nhất đến phút chót. “Chúng tôi đã lấy được một dấu vân tay trên vỏ cái máy quay kia, cái đã bị hỏng,” ông ta nói. “Có vẻ như nó không trùng khớp với vân tay của ai trên hồ sơ, nhưng chúng ta có thể yêu cầu dân làng bắt đầu cung cấp dấu vân tay, để họ tự loại trừ họ ra?”
Townsend chậm rãi gật đầu.
“Tôi biết rằng máy quay đã bị phá hoại trước đó.” Râu Rậm tiếp tục kèm theo một cái nhún vai, “vậy nên không nhất thiết là nó sẽ cung cấp cho chúng ta bất cứ thông tin thuyết phục nào, nhưng…”
“Kể cả thế cũng đừng bỏ qua. Để xem chúng ta tìm được gì. Vụ đó tôi nhờ cô lo nhé,” Townsend nói, nhìn sang tôi. “Còn tôi sẽ phải nói chuyện với Julia Abbott về những cuộc điện thoại này.” Anh ta đứng dậy, tay khoanh trước ngực, cằm hạ thấp. “Mọi người nên biết rằng.” ” anh ta nói, trầm giọng, gần như biện bạch, “vừa sáng nay tôi đã nhận được điện thoại từ cấp trên.” Anh ta thở dài thườn thượt, và chúng tôi liếc nhìn nhau. Chúng tôi đã biết sắp có chuyện gì. “Dựa theo kết quả khám nghiệm tử thi và việc không có bất kỳ bằng chứng cụ thể nào cho thấy có vụ xô xát nào xảy ra trên vách đá đó, chúng ta đang gặp sức ép không được lãng phí nguồn lực” - anh ta ngoặc ngón tay làm dấu trích dẫn nguyên văn -“vào một vụ tử vong do tự sát hoặc tai nạn. Vậy đấy. Tôi biết ta vẫn còn nhiều việc phải làm, nhưng chúng ta cần phải hành động nhanh chóng và hiệu quả vào. Chúng ta sẽ không có quá nhiều thời gian cho vụ này đâu.”
Thông báo này cũng không hẳn là một cú sốc gì. Tôi nhớ lại cuộc đối thoại với viên chánh thanh tra hôm tôi nhận nhiệm vụ - gần như chắc chắn là một vụ nhảy sông. Nhảy sông nhan nhản khắp nơi, từ các vách đá đến với các đoạn kết cuộc đời. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên, xem lịch sử của nơi này thì thấy.
Nhưng vẫn còn nhiều khúc mắc. Tôi không thỏa mãn với kết luận này. Tôi không thỏa mãn vì chỉ trong vòng vài tháng, đã tìm thấy xác hai phụ nữ dưới sông, và họ lại biết nhau. Họ có mối liên hệ, cả về mặt không gian sống lẫn con người. Họ đều có mối liên hệ với Lena: bạn thân của người này, con gái của người kia. Người cuối cùng nhìn thấy mẹ mình còn sống, cũng là người đầu tiên kiên quyết cho rằng chuyện này - không chỉ cái chết của mẹ, mà còn cả bí ẩn bao quanh nó - là điều bà ấy muốn. Một đứa trẻ mà lại giả định như thế thì cũng kỳ quái thật.
Tôi nói hết những suy nghĩ này với Townsend khi chúng tôi rời khỏi đồn. Anh ta nhìn tôi đầy ác ý. “Chỉ Chúa mới biết có gì trong đầu con bé đó,” anh ta nói. “Nó sẽ tìm mọi cách lý giải chuyện đó. Nó…” Anh ta dừng lại. Một phụ nữ đang đi về phía chúng tôi - thật ra thì giống lết hơn là đi - miệng lầm bầm một mình. Bà ta mặc áo khoác màu đen, bất chấp cái nóng, mái tóc xám điểm những sợi tím, và bà ta sơn móng màu đen. Bà ta chẳng khác gì một tín đồ giá cả của thời trang Gothic.
“Chào Nickie,” Townsend nói.
Người đàn bà ngước nhìn anh ta rồi nhìn tôi, đôi mắt nheo lại bên dưới hai hàng lông mày sâu róm.
“Hùm,” bà ta lầm bầm, chắc đấy là cách chào hỏi. “Đi được đến đâu chưa?”
“Cái gì đi được đến đâu hả Nickie?”
“Tìm xem thủ phạm là ai!” bà ta lập bập nói. “Tìm xem ai đã đẩy cô ấy.”
“Ai đã đẩy cô ta?” tôi nhắc lại. “Bà muốn nói đến Danielle Abbott ? Bà có thông tin gì có thể hữu ích với chúng tôi không, bà… ờ…?”
Bà ta quắc mắt nhìn tôi và rồi lại quay về phía Townsend. “Ai ở đâu chui ra thế này?” bà ta hỏi, chĩa ngón tay cái về phía tôi.
“Đây là hạ sĩ Morgan,” anh ta nói giọng đều đều. “Bà có gì muốn nói với chúng tôi không, Nickie? Về tối hôm nọ ấy?”
Bà ta lại đằng hắng. “Tôi chả nhìn thấy gì sất,” bà ta lầm bầm, “mà cho dù có nhìn thấy gì thì cũng đâu có vẻ gì là những người kiểu như anh chị sẽ chịu nghe, nhỉ?”
Bà ta tiếp tục lết chân đi qua chúng tôi, xuôi con đường chang chang nắng, vừa đi vừa lầm bầm.
“Anh nghĩ chuyện đó là sao?” tôi hỏi viên thanh tra. “Chúng ta có cần nói chuyện chính thức với bà ta không?”
“Tôi sẽ không quá để ý đến những lời Nickie Sage nói làm gì,” anh ta lắc đầu đáp. “Bà ta không thật sự đáng tin đâu.”
“Ồ?”
“Bà ta bảo bà ta là “bà đồng, rằng bà ta nói chuyện được với người chết. Trước đây chúng ta đã có vài rắc rối với bà ta rồi, tội lừa đảo và đại loại vậy. Bà ta còn tuyên bố bà ta là hậu duệ của một phụ nữ từng bị những kẻ săn phù thủy giết chết ở đây,” anh ta lạnh nhạt bổ sung. “Bà ta rồ dại lắm.”
Jules
Tôi đang ở trong bếp thì nghe tiếng chuông cửa kêu. Tôi liếc ra ngoài cửa sổ và thấy viên thanh tra, Townsend, đang đứng ở bậc thang trước nhà, ngước nhìn lên cửa sổ. Lena đã tới cửa trước tôi. Con bé mở cửa cho anh ta và nói, “Chào chú Sean.”
Townsend bước vào nhà, sượt qua thân hình gầy gò của con bé, chú ý đến (anh ta chắc hẳn phải chú ý) cái quần soóc denim không viền gấu, áo phông Rolling Stones in hình cái lưỡi đang thè ra. Anh ta chia tay ra và tôi bắt lấy. Lòng bàn tay anh ta khô ráo, nhưng da anh ta có một kiểu dáng bóng bệnh hoạn, dưới mắt còn lộ rõ những quầng thâm tái xám. Lena quan sát anh ta từ bên dưới đôi mí mắt không buồn vén lên. Con bé giơ ngón tay lên miệng và nhấm nhấm một móng tay.
Tôi ra dấu mời anh ta vào bếp và Lena theo sau. Viên thanh tra và tôi ngồi xuống bàn, trong lúc Lena tựa người vào quầy bếp. Con bé bắt tréo hai mắt cá chân, rồi dịch người và lại bắt tréo hai chân.
Townsend không nhìn. Anh ta húng hắng, chà một bàn tay lên cổ tay. “Khám nghiệm tử thi đã xong rồi.” anh ta nói bằng giọng nhẹ nhàng. Anh ta liếc nhìn Lena và lại quay nhìn tôi. “Nel chết do lực va chạm. Không có dấu hiệu chứng tỏ có ai khác dính líu. Có một ít cồn trong máu cô ấy.” Giọng anh ta vẫn càng lúc càng nhỏ nhẹ hơn. “Đủ để làm suy yếu khả năng phán đoán của cô ấy. Đủ để khiến cho cô ấy đứng không vững.”
Lena bật ra một âm thanh, một tiếng thở dài run rẩy, kéo dài. Viên thanh tra đang nhìn xuống hai bàn tay, giờ đã úp xuống trên bàn trước mặt anh ta.
“Nhưng… Nel bám chắc chân trên vách đá ấy cũng chẳng kém một con dê đâu,” tôi nói. “Và vài ly rượu chẳng là gì đối với chị ấy cả. Nel có thể xử lý cả chai…”
Anh ta gật đầu. “Cũng có thể,” anh ta nói. “Nhưng vào buổi tối, ở trên đó…”
“Đó không phải một tai nạn,” Lena gay gắt nói.
“Chị ấy không tự nhảy,” tôi bật lại.
Lena liếc xéo tôi, môi cong lại. “Dì thì biết cái gì?” con bé hỏi. Nó quay sang nhìn viên thanh tra. “Chú có biết là dì ấy đã nói dối các chú không? Dì ấy đã nói dối là không liên lạc gì với mẹ cháu. Mẹ đã thử gọi cho dì ấy, thế nào nhỉ, cháu thậm chí còn chẳng biết là bao nhiêu lần nữa. Dì ấy không bao giờ trả lời, dì ấy không bao giờ gọi lại, dì ấy không bao giờ…” Con bé dừng lại, quay nhìn tôi. “Dì ấy chỉ… Tại sao dì lại ở đây chứ? Cháu không muốn dì ở đây.” Con bé hùng hổ rời khỏi phòng, đóng sầm cánh cửa bếp lại sau lưng. Một lát sau, cửa phòng con bé cũng đóng sầm lại.
*
Thanh tra Townsend và em ngồi im lặng. Em đợi anh ta hỏi về các cuộc điện thoại, nhưng anh ta chẳng nói gì? mắt anh ta khép hờ, khuôn mặt vô cảm.
“Anh không thấy kỳ quặc sao” cuối cùng em nói, “tại sao con bé lại tin rằng chị ấy đã chủ tâm làm chuyện này?”
Anh ta quay nhìn em, đầu hơi nghiêng sang một bên. Tuy vậy, anh ta vẫn không nói gì.
“Anh thấy có gì đáng nghi trong cuộc điều tra này không? Ý tôi là… tôi chỉ cảm thấy có vẻ như ở đây không phải ai cũng quan tâm đến việc chị ấy đã chết.”
“Nhưng cô thì có à?” anh ta hỏi giọng đều đều.
“Câu hỏi kiểu gì đấy hả?” Em có thể cảm thấy rõ mặt mình đang dần nóng bừng lên. Em biết sắp có chuyện gì.
“Cô Abbott,” anh ta nói. “Julia này.”
“Jules. Là Jules.” Em đang trì hoãn, ngăn cản điều không thể tránh khỏi.
“Jules này.” Anh ta hắng giọng. “Như Lena vừa nhắc đến đấy, mặc dù cô đã bảo với chúng tôi là cô không có bất kỳ liên hệ gì với chị gái trong nhiều năm rồi, nhưng sao kê điện thoại di động của Nel đã cho thấy rằng trong riêng trong ba tháng vừa rồi, cô ấy đã gọi mười một cuộc đến số điện thoại của cô.” Mặt em nóng rực vì xấu hổ, em quay mặt đi. “Mười một cuộc gọi. Tại sao lại nói dối chúng tôi?”
(Nó lúc nào mà chẳng dối trá, chị lầm bầm cay độc. Lúc nào cũng dối trá. Lúc nào cũng bịa chuyện.)
“Tôi không nói dối,” em nói. “Tôi không bao giờ nói chuyện với chị ấy. Chuyện y như Lena đã nói đấy: chị ấy để lại tin nhắn, tôi không hồi âm. Vậy nên không phải là tôi nói dối,” em nhắc lại. Đến chính em cũng thấy mình nói nghe thật yếu ớt, phỉnh phờ. “Nghe này, anh không thể yêu cầu tôi giải thích chuyện này với anh, bởi vì không đời nào có chuyện làm thế với một người ngoài cuộc. Nel và tôi có nhiều vấn đề từ nhiều năm về trước - nhưng chuyện đó chẳng liên quan gì đến vụ này hết.”
“Làm sao cô biết chứ?” Townsend hỏi. “Nếu cô đã không nói chuyện với cô ấy thì làm sao cô biết nó liên quan đến cái gì?”
“Tôi chỉ… Đây,” em nói, chìa điện thoại di động của mình ra. “Cầm lấy đi. Tự mình nghe đi.” Hai bàn tay em run run và, khi anh ta với tay ra đón lấy chiếc điện thoại, tay anh ta cũng vậy. Anh ta lắng nghe tin nhắn cuối cùng của chị.
“Tại sao cô không gọi lại cho cô ấy?” anh ta hỏi, khuôn mặt toát lên một vẻ gì đấy tựa như là thất vọng. “Cô ấy có vẻ bất an, cô không thấy thế à?”
“Không, tôi… Tôi không biết. Nel vẫn hay có cái kiểu ấy mà. Có khi chị ấy vui, có khi chị ấy buồn, lại có lúc chị ấy giận dữ, không chỉ một lần chị ấy say… Nó không có ý nghĩa gì hết. Anh không hiểu chị ấy đâu.”
“Những cuộc gọi khác của cô ấy,” anh ta tra hỏi, giọng giờ nhuốm vẻ gay gắt hơn. “Cô vẫn còn giữ tin nhắn chứ?”
Em không giữ, không phải tất cả, nhưng anh ta nghe hết những tin nhắn em còn lưu, bàn tay anh ta nắm chặt điện thoại của em đến nỗi các khớp ngón tay trắng bệch. Khi đã nghe xong, anh ta trả điện thoại lại cho em.
“Đừng xóa chúng đi nhé. Chúng tôi có thể cần nghe lại.” Anh ta đẩy cái ghế ra sau để đứng dậy, và em theo anh ta đi vào trong hành lang.
Đến cửa ra vào, anh ta quay lại đối diện em. “Tôi phải nói là,” anh ta bảo, “tôi thấy thật kỳ lạ là cô đã không trả lời cô ấy. Lạ là cô đã không cố tìm hiểu xem tại sao cô ấy lại khẩn thiết cần nói chuyện với cô như thế.”
“Tôi tưởng chị ấy chỉ muốn thu hút sự chú ý,” em lặng lẽ nói và anh ta bèn quay người rời đi.
Mãi đến lúc anh ta đã đóng cánh cửa lại sau lưng thì em mới nhớ ra. Em chạy đuổi theo anh ta.
“Thanh tra Townsend,” em gọi to,“có một cái vòng tay. Cái vòng tay của mẹ tôi. Nelluôn đeo nó. Các anh có tìm thấy nó không?”
Anh ta lắc đầu, lại quay nhìn em. “Không, chúng tôi chẳng tìm thấy gì hết. Lena đã bảo với điều tra viên Morgan là mặc dù Nel thường xuyên đeo nó nhưng không phải ngày nào cũng vậy. Tuy nhiên,” anh ta tiếp tục, đầu cúi gằm xuống, “tôi đoán là cô không thể biết chuyện đó.” Sau khi liếc mắt về phía ngôi nhà, anh ta leo vào xe và rồi chậm rãi lùi ra khỏi lối xe đi.
Jules
Vậy là chẳng hiểu tại sao, chuyện này cuối cùng lại thành lỗi của em. Chị giỏi thật đấy, Nel. Chị qua đời, có lẽ là bị giết, và tất cả mọi người đều chia hết mũi dùi về phía em. Mà em thậm chí còn chẳng có mặt ở đây! Em thấy tức giận, thấy mình như đã trở lại thời niên thiếu. Em muốn hét lên với họ, Thế quái nào mà chuyện này lại là lỗi của tôi chứ?
Sau khi viên thanh tra rời đi, em hầm hầm quay trở vào nhà, trên đường đi bắt gặp hình ảnh chính mình trong tấm gương giữa hành lang, và em ngạc nhiên nhận thấy chị đang nhìn lại em (già hơn, không mấy xinh đẹp, nhưng vẫn đúng là chị). Một thứ gì đó vướng vất trong lồng ngực em. Em vào bếp và khóc. Nếu em đã phụ lòng chị, em cần phải biết là như thế nào. Có thể em không yêu quý gì chị, nhưng em cũng không thể để chị bị ruồng bỏ như thế này, bị gạt đi. Nếu có ai đó đã làm chị tổn thương, em muốn biết chúng là ai và tại sao; em muốn chúng trả giá. Em muốn thu xếp cho yên chuyện này, như vậy thì có lẽ chị sẽ có thể thôi thì thầm vào tai em rằng là chị đã không nhảy xuống, đã không nhảy xuống, đã không nhảy xuống. Em tin chị, được chưa? Và (nói thì thầm), em muốn biết rằng em được an toàn. Em muốn biết rằng không có ai đang tìm đến em. Em muốn biết rằng đứa trẻ mà em che chở dưới đôi cánh của mình đúng chỉ là thế - một đứa trẻ vô tội - chứ không phải là thứ gì khác. Không phải là thứ gì nguy hiểm.
Em vẫn luôn quan sát cách Lena nhìn thanh tra Townsend, giọng điệu của nó khi gọi anh ta bằng tên riêng (tên riêng của anh ta phải không?), cách anh ta nhìn nó. Em băn khoăn không biết những điều con bé nói với họ về chiếc vòng tay có phải là sự thật không. Với em, nó mang lại cảm giác không thật, bởi vì chị đã vội vàng đến thế để mà đòi lấy nó, biến nó thành của riêng kia mà. Rất có khả năng, em đoán vậy, chị chỉ không khăng đòi nó bởi vì chị biết em muốn có nó đến nhường nào. Khi chị tìm thấy nó giữa đống đồ mẹ để lại và đeo nó lên cổ tay chị, em đã phàn nàn với bố (vâng, lại đang kể chuyện xưa rồi). Em đã hỏi, Tại sao chị ấy lại có nó? Tại sao không chứ? chị đáp lại. Chị là chị cả còn gì. Và khi bố đi rồi, chị mỉm cười ngắm nghía nó trên cổ tay. Nó hợp với chị thật đấy, chị bảo. Em không thấy nó hợp với chị à? Nhéo lớp mỡ trên cẳng tay em. Chị không tin là nó sẽ bao vừa cái cánh tay nhỏ bé mũm mĩm của em đâu.
Em lau nước mắt. Chị vẫn thường xuyên châm chọc em như thế, chị vẫn giỏi nhất là tỏ ra tàn nhẫn. Có những câu chế nhạo - về kích cỡ của em, về chuyện em chậm chạp thế nào, tối dạ ra sao - em chỉ nhún vai bỏ qua. Những câu khác - Thôi nào, Julia, nói thật cho chị nghe đi. Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à? - là những cái ngạnh cắm ngập vào trong da thịt em, không thể lấy ra trừ phi em muốn xé toạc thêm những vết thương mới. Lời châm chọc cuối cùng đó, líu ríu rót vào tai em vào ngày chúng ta chôn cất mẹ - ôi, vì những lời ấy, em có thể sung sướng mà tự tay bóp cổ chị đấy. Và nếu chị đã làm thế được với em, nếu chị đã có thể khơi dậy trong em cái cảm xúc đó, thì chị còn có thể khơi dậy ý muốn sát nhân ở thêm những ai nữa?
Ở trong lòng ngôi nhà, trong phòng làm việc của chị, em bắt đầu xem xét đống giấy tờ của chị. Em bắt đầu từ những thứ trần tục trước. Từ những tủ hồ sơ gỗ áp tường, em tìm được các hồ sơ y tế của chị và Lena, giấy khai sinh của Lena, không có tên người bố. Tất nhiên, em đã biết thế nào cũng thế, đây là một trong những bí ẩn về chị, một trong những bí mật chị giữ chặt trong lòng. Nhưng thậm chí cả Lena cũng không biết sao? (Em đã thầm hỏi, một cách ác ý, rằng có phải thật ra chính chị cũng không biết hay không.)
Có các phiếu thông báo kết quả học tập ở trường, từ trường Park Slope Montessori ở Brooklyn, và từ trường cấp một cấp hai địa phương ở Beckford này. Giấy tờ nhà, hợp đồng bảo hiểm nhân thọ (Lena là người thụ hưởng), sao kê ngân hàng, tài khoản đầu tư. Hết thảy những thứ tạp nham bình thường từ một cuộc sống tương đối ngăn nắp, không có các bí mật để mà bị lộ tẩy, không có những sự thật bị che giấu để mà được nhắc đến.
Những ngăn kéo bên dưới chứa các hồ sơ của chị về “dự án”: các hộp chất đầy những bản in thô các bức ảnh, các tờ ghi chép, có tờ được đánh máy, có tờ được viết bằng kiểu chữ viết tay nghều ngào của chị, bằng mực xanh dương và xanh lục, nhiều từ bị gạch chéo và viết hoa và được gạch chân, như những lời diễn thuyết hùng hồn của một người theo thuyết âm mưu. Một mụ điên. Không giống các hồ sơ khác, các giấy tờ hành chính, chẳng có thứ nào trong này được xếp theo trật tự, mọi thứ là một mớ bòng bong, bị xáo trộn hết cả lên. Như thể trước em đã có ai đó lục lọi các hồ sơ này, tìm kiếm gì đó. Da em sởn gai, miệng em khô khốc. Cảnh sát đã lục soát chúng, tất nhiên. Họ giữ máy tính của chị, nhưng họ vẫn muốn xem những thứ này. Có lẽ họ đang tìm một bức thư.
Em xem lướt qua hộp đựng ảnh đầu tiên. Đa phần là ảnh chụp vùng sông, vách đá, bãi cát nhỏ. Ở một vài bức, chị đã đánh dấu này nọ lên viền, những mật mã em không giải nghĩa được. Cũng có nhiều ảnh chụp Beckford: đường phố nhà cửa của nó, những ngôi nhà đá cổ kính xinh đẹp và những ngôi nhà mới xấu xí hơn. Một trong số đó được chụp đi chụp lại, một ngôi nhà chung tường giản dị theo phong cách thời Edward với những tấm rèm bẩn thỉu buông hờ. Có nhiều ảnh chụp trung tâm thị trấn, cây cầu, quán rượu, nhà thờ, nghĩa địa. Ngôi mộ của Libby Seeton.
Libby tội nghiệp. Chị đã bị ám ảnh với cô gái ấy từ hồi chị còn bé tí. Em căm ghét câu chuyện ấy, cái câu chuyện buồn bã tàn nhẫn đến mức ấy, nhưng chị thì lại muốn nghe, nghe đi nghe lại. Chị muốn tìm hiểu xem làm sao mà Libby, vẫn còn là một đứa trẻ, lại bị mang tới dòng nước, bị kết tội là phù thủy. Tại sao? em đã hỏi vậy, và mẹ đáp, Bởi vì hai dì cháu cô ấy hiểu biết về thảo mộc. Họ biết cách chế biến thuốc. Lý do nghe có vẻ ngu ngốc, nhưng những câu chuyện của người lớn vốn vẫn nhan nhản những sự tàn ác ngu ngốc đấy thôi: những đứa bé bị xua đuổi ở cổng trường vì làn da sai màu, những người bị đánh đập hay bị giết vì đã tôn thờ sai đối tượng. Sau này, chị bảo với em nguyên nhân không phải do chế thuốc, chuyện xảy ra bởi vì Libby đã quyến rũ (chị đã giải thích từ này) một người đàn ông lớn tuổi hơn và du dỗ ông ta bỏ vợ bỏ con. Chuyện đó không làm suy suyển hình ảnh của cô ấy trong mắt chị; đó là một dấu hiệu cho thấy sức mạnh của cô ấy.
Hồi chị còn nhỏ, tầm sáu bảy tuổi, chị cứ nhất quyết đòi mặc một trong những cái chân váy cũ của mẹ ra vùng sông, nó quét lên trên đất mặc dù chị đã kéo nó lên tới tận cằm. Chị leo lên bãi đá và ném mình vào dòng nước trong lúc em chơi trên bờ. Chị là Libby: Nhìn này, mẹ ơi! Nhìn này! Mẹ nghĩ con sẽ chìm hay sẽ bơi?
Lúc này em có thể nhìn thấy chị đang làm thế, biểu cảm phấn khích trên khuôn mặt chị. Em có thể cảm thấy bàn tay mềm mại của mẹ trong tay em, cát ấm giữa các ngón chân em trong lúc hai mẹ con quan sát chị. Chuyện đó chẳng hợp lý chút nào: nếu chị sáu bảy tuổi, vậy thì hồi đó em mới hai, ba tuổi - làm sao em có thể nhớ được chuyện đó chứ, phải không?
Em nhớ đến cái bật lửa em tìm thấy trong ngăn tủ của chị, nghĩ đến những chữ cái được khắc trên đó. LS. Có phải là viết tắt của tên Libby không? Thật không, Nel? Có phải chị thật sự bị ám ảnh bởi một cô gái đã chết từ ba trăm năm trước đến độ khắc các chữ cái đầu tên của tên cô ấy lên vật dụng của chị? Có lẽ không phải. Có lẽ chị không bị ám ảnh. Có lẽ chị chỉ là thích cái ý tưởng có thể nắm bắt cô ấy trong lòng bàn tay chị.
Em quay lại với đồng hồ sơ, tìm thêm thông tin về Libby. Em phân loại các tờ giấy in ra thành các tài liệu đánh máy và ảnh chụp, bản in lại từ máy tính các mục báo cũ, các mẩu cắt từ tạp chí, đó đây lại xuất hiện những con chữ nguệch ngoạc của chị trên lề giấy, thường khó mà luận ra nổi, hiếm khi đọc được rõ. Có những cái tên em đã nghe nhắc đến và những cái tên em không biết: Libby và Mary, Anne và Katie và Ginny và Lauren, và ở kia, phía trên cùng tài liệu về Lauren, bằng những dòng chữ đậm mực đen, chị đã viết: Beckford không phải nơi để tự tử. Beckford là nơi để loại bỏ những phụ nữ phiền phức.
Vũng Sông Chết đuối
Libby, 1679
Hôm qua họ đã bảo là ngày mai, vậy nên thời điểm là hôm nay. Cô biết sẽ không mất nhiều thời gian. Họ sẽ đến để đưa cô tới dòng nước, để nhấn cô xuống. Cô muốn nó đến đi, mong sao nó đến đi, nó có đến sớm mấy cũng vẫn chưa đủ. Cô đã mệt vì cảm giác dơ dáy, vì sự ngứa ngáy trên da. Biết thừa nó sẽ không thật sự giúp được gì khi những vết thương giờ đã thối rữa và bốc mùi tệ hại. Cô cần quả cây cơm cháy, hay có lẽ là cúc vạn thọ, cô không chắc cái nào là tốt nhất, hay có phải liệu đã quá muộn để làm bất kỳ cái gì không. Dì May sẽ biết, nhưng giờ dì đã ra đi, lủng lẳng trên giá treo cổ trong khi tám tháng này trôi qua.
Libby thích dòng nước, yêu con sông mặc dù cô sợ độ sâu. Giờ nó sẽ lạnh đến mức đủ khiến cô đông cứng, nhưng ít nhất nó sẽ lấy hết những côn trùng sâu bọ ra khỏi da cô. Họ đã cạo đầu cô hồi mới bắt cô, nhưng tóc cô giờ đã mọc lại được một chút, và có những thứ đang bò khắp nơi, chui rúc vào bên trong cô, cô cảm thấy chúng ở trong tai cô, ở khóe mắt cô và giữa hai chân cô. Cô gãi cho đến khi chảy máu. Sẽ dễ chịu biết bao nếu được gột sạch tất cả chúng đi, mùi máu, mùi của chính cô.
Họ đến vào buổi sáng. Hai người đàn ông, trẻ, bàn tay thô bạo, miệng lưỡi thô bạo, trước đây cô đã biết đến những cú đấm của họ rồi. Nhưng không còn thêm nữa, họ đã cẩn trọng hơn với chuyện đó, vì họ đã được nghe câu chuyện của người đàn ông kia, kẻ đã trông thấy cô trong rừng, hai chân giang ra và Con Quỷ ở giữa chúng. Họ cười nhạo và lăng mạ, nhưng họ cũng sợ cô, và dù sao đi nữa, dạo gần đây cô cũng chẳng mấy dễ nhìn.
Cô thầm hỏi lòng, không biết anh có đến đây xem cô không, và anh sẽ nghĩ gì? Anh từng thấy cô thật xinh đẹp, nhưng giờ răng cô đã long, da cô lốm đốm vết xanh vết tím như thể cơ thể cô đã chết đến nửa phần.
Họ mang cô tới Beckford, nơi dòng sông ngoặt gấp quanh vách đá rồi chảy chậm lại, chậm và sâu. Chính nơi đây, cô sẽ bơi.
Trời đang mùa thu, gió lạnh đang thổi, nhưng mặt trời rực rỡ và bởi vậy, cô thấy hổ nhục, khi bị lột trần ở đó giữa thanh thiên bạch nhật trước mặt toàn bộ dân làng, cả đàn ông lẫn phụ nữ. Cô tưởng như có thể nghe thấy tiếng họ thở hổn hển, hoặc vì kinh hãi hoặc vì ngạc nhiên, bởi Libby Seeton đã thành ra như thế.
Cô bị trói bằng những sợi thừng dày và thô ráp, đủ để mang lại những vết máu tươi rực đỏ trên hai cổ tay cô. Chỉ trói tay. Chân cô được thả tự do. Rồi họ buộc một sợi thừng quanh eo cô, để nếu cô có chìm, họ sẽ có thể mang cô trở lại.
Khi họ đưa cô tới mép sông, cô quay người tìm kiếm anh. Lúc đó, bọn trẻ bèn la hét, tưởng cô quay người lại để nguyền rủa chúng, và đám đàn ông đẩy cô vào trong dòng nước. Cái lạnh rút cạn hơi thở cô. Một người trong đám đàn ông cầm theo một cái sào và hắn chọc nào vào lưng cô, nhấn cô xuống mãi, xuống mãi cho đến khi cô không chịu nổi nữa. Cô trượt xuống, vào trong dòng nước.
Cô chìm.
Cái lạnh khiến cô quá sốc đến độ quên mất mình đang đâu. Cô há miệng hớp hơi và dòng nước đen tràn vào, cô bắt đầu ngạt, cô cùng vẫy, cô quẫy chân, nhưng cô đã mất phương hướng, không còn cảm nhận được lòng sông bên dưới chân mình nữa.
Sợi dây thừng siết chặt lấy cô, ngoạm vào eo cô, xé rách da cô.
*Khi bọn họ lôi cô quay trở lên bờ, cô vẫn đang khóc. *
“Lại lần nữa đi!”
Ai đó đang la lên đòi thử thách lần thứ hai.
“Nó chìm rồi!” một giọng phụ nữ ré lên. “Nó không phải phù thủy đâu, nó chỉ là một đứa trẻ thôi.”
“Lại lần nữa đi! Lại lần nữa đi!”
Đám đàn ông lại trói cô để thử thách lần hai. Lần này khác: ngón cái bàn tay trái với ngón cái bàn chân phải, ngón cái bàn tay phải với ngón cái bàn chân trái. Dây thừng thắt quanh eo. Lần này, họ mang cô vào trong dòng nước.
“Xin làm ơn,” cô bắt đầu cầu xin, bởi vì cô không chắc có thể một lần nữa đối mặt với nó, làn nước đen cùng cái lạnh giá. Cô muốn quay trở về với mái ấm đã không còn tồn tại nữa, quay trở về cái thời cô cùng người dì còn ngồi trước là sưởi kể chuyện cho nhau nghe. Cô muốn ở trên giường của cô trong ngôi nhà nhỏ của hai dì cháu, cô muốn trở về thời thơ ấu, muốn được hút mùi khói củi, mùi hoa hồng cùng hơi ấm ngọt ngào từ làn da người dì.
“Xin làm ơn.”
Cô chìm xuống. Đến lúc họ lôi cô lên lần thứ hai, môi cô đã tím tái, còn hơi thở cô đã tắt vĩnh viễn.
THỨ HAI, 17 THÁNG TÁM **
* * *
*Nickie*
Nickie ngồi ghế tựa cạnh cửa sổ, ngắm mặt trời lên hun màn sương mù buổi sáng tan khỏi rặng đồi. Đêm qua bà hầu như không ngủ, phần trời nóng, phần vì cô em gái cứ lải nhải bên tại suốt cả đêm. Nickie không thích cái nóng. Bà là một sinh vật phù hợp với thời tiết lạnh: gia đình bên nội bà vốn là người quần đảo Hebrides. Dòng dõi Viking. Về phía nhà ngoại thì họ thuộc miền Đông Scotland, đã bị những kẻ săn phù thủy xua đuổi dạt về phía Nam từ mấy trăm năm trước. Dân làng quanh Beckford có thể không tin, họ có thể cười cợt khinh rẻ, nhưng Nickie biết rõ bà chính là hậu duệ của các phù thủy. Bà có thể vạch một đường thẳng lần ngược trở lại rất xa, từ Sage cho tới Seeton.
Tắm táp, ăn uống và diện một bộ đồ đen nghiêm cẩn xong xuôi, Nickie tới vùng sông. Một cuộc đi bộ tập tễnh chậm chạp rất lâu men theo con đường mòn. Bà thầm cảm kích bóng râm những cây sồi tỏa xuống. Dẫu vậy, mồ hôi vẫn cay sè trong mắt bà, tụ lại chỗ xương cùng. Lúc đến được bãi cát nhỏ bên bờ Nam, bà cởi sandal ra và lội xuống sông để nước ngập đến mắt cá chân. Bà cúi người xuống vốc nước đầy hai tay rồi vỗ nước lên mặt, lên cổ, lên bắp tay. Nếu là trước đây, bà thể nào cũng sẽ leo lên đỉnh vách đá để chào hỏi những người đã ngã và những người đã nhảy và những người đã bị đẩy xuống đây, nhưng giờ chân bà đã không còn đủ sức cho việc ấy nữa, vậy nên cho dù cần nói gì với những người trong dòng nước, bà cũng sẽ phải nói từ dưới này.
Lần đầu để ý đến Nel Abbott, Nickie cũng đứng gần như chính xác đúng vị trí này. Cũng đã vài năm rồi, hồi ấy bà đã cũng đang làm y như thế này - đang khỏa nước, vã nước lên mình cho mát - thì để ý thấy một phụ nữ đang ở trên vách đá. Bà quan sát người phụ nữ ấy đi đi lại lại, một lần rồi hai lần, và đến lần thứ ba thì hai lòng bàn tay Nickie bắt đầu râm ran. Có chuyện xấu xa gì đây, bà nghĩ. Bà quan sát người phụ nữ kia cúi người, quỳ gối xuống và rồi, giống y một con rắn đang trườn, cô ta di chuyển đến sát mép vách đá, hai cánh tay lủng lẳng với qua gờ đá. Tim suýt vọt khỏi miệng, Nickie hét lên, “Ối!” Người phụ nữ nhìn xuống và, trước sự ngạc nhiên của Nickie, cô ta mỉm cười vẫy vẫy tay.
Sau chuyện đó, Nickie gặp cô tương đối thường xuyên. Cô rất năng xuất hiện ở vùng sông, chụp ảnh, vẽ phác họa, viết này nọ. Ở trên đó suốt cả ngày lẫn đêm, trong mọi điều kiện thời tiết. Từ cửa sổ phòng mình, Nickie đã quan sát Nel đi bộ xuyên qua làng tiến về phía vùng sông giữa đêm hôm khuya khoắt, dưới trận bão tuyết, hay khi cơn mưa lớn xối xả quất xuống mạnh đến tróc cả da thịt.
Đôi khi, Nickie đi ngang qua cô trên đường mòn và Nel chẳng hề chùn bước, cô thậm chí còn chẳng để ý có người đang đồng hành, dồn hết toàn bộ tâm trí vào nhiệm vụ hiện tại. Nickie thích thế, bà ngưỡng mộ sự tập trung của người phụ nữ ấy, ngưỡng mộ cách công việc hút hết tâm lực của cô. Bà cũng thích sự tận tâm Nel dành cho dòng sông. Trước đây, Nickie vẫn thích đằm mình trong dòng nước một buổi sáng mùa hè ấm áp, dù giờ thì những tháng ngày đó đã trôi vào dĩ vãng rồi. Nhưng còn Nel! Cô bơi lúc bình minh và hoàng hôn, trong mùa đông cũng như mùa hè. Tuy nhiên giờ ngẫm lại thì bà mới nhớ ra, đã một khoảng thời gian Nickie không nhìn thấy cô bơi sông, dễ phải vài tuần. Có khi lâu hơn? Bà cố gắng nhớ lại xem lần cuối cùng nhìn thấy cô ở trong dòng nước là khi nào, nhưng bà không thể, vì em gái bà lại đang nói huyên thuyên trong tai bà, che mờ tâm trí bà.
Bà chỉ mong sao cô em ngậm miệng lại.
Mọi người đều nghĩ Nickie là vết nhơ trong gia đình, nhưng thật ra phải là Jean em gái bà mới đúng. Suốt thời thơ ấu, ai nấy đều khen Jeannie ngoan, bảo gì làm nấy, và rồi cô bước sang tuổi mười bảy và tin nổi không, Cô gia nhập lực lượng cảnh sát. Cảnh sát đấy! Bố họ là thợ mỏ kia mà, vì Chúa. Đúng là một sự phản bội, mẹ bà đã nói vậy đấy, sự phản bội đối với toàn thể dòng họ, toàn thể cộng đồng. Từ đó, bố mẹ bà không thèm nói năng gì với Jean nữa và Nickie đáng lý ra cũng phải phớt lờ cô em. Chỉ có điều sao bà có thể chứ? Jeannie là em gái bà mà.
Mồm mép tép nhảy, vấn đề của cô là thế đấy - chẳng biết đường mà ngậm miệng cho đúng lúc. Sau khi cô rời lực lượng cảnh sát và trước khi cô bỏ Beckford mà đi, Jean đã kể cho Nickie nghe một câu chuyện khiến tóc bà dựng đứng, và kể từ ngày đó, Nickie luôn ngậm chặt miệng và nhổ nước bọt xuống mặt đất, lẩm nhẩm nhũng câu thần chú bảo vệ bản thân, bất kể khi nào tình cờ gặp Patrick Townsend.
Tính cho đến giờ, nó vẫn hiệu quả. Bà vẫn được bảo vệ. Nhưng Jeannie thì không. Sau vụ việc với Patrick cùng vợ ông ta và tất tật những rắc rối kéo theo sau đó, Jeannie chuyển tới Edinburgh, cưới một gã đàn ông vô dụng và bắt đầu cùng nhau dành mười lăm năm tiếp theo uống rượu cho tới chết. Nhưng giờ Nickie vẫn thỉnh thoảng nhìn thấy cô em và Jeannie vẫn tiếp tục nói chuyện với bà. Dạo gần đây thì thường xuyên hơn. Jeannie lại một lần nữa trở thành kẻ ba hoa chích chòe. Ồn ã, phiền phức. Bướng bỉnh.
Mấy tối gần đây, em gái bà huyên thuyên nhiều hơn hẳn bình thường, kể từ lúc Nel Abbott tham gia. Jeannie hẳn thấy mến Nel, hẳn đã nhìn thấy một phần bản thân mình trong cô ấy. Nickie cũng thích cô ấy, thích các cuộc chuyện trò của họ, thích cái thực tế rằng Nel lắng nghe mỗi khi Nickie nói. Cô lắng nghe các câu chuyện bà kể, nhưng cô chẳng thèm để ý đến các cảnh báo của bà, đúng không? Giống y như Jeannie, Nel cũng lại là một người chẳng biết đâu là lúc nên ngậm miệng lại.
Vấn đề nằm ở chỗ, đôi khi, chẳng hạn sau một trận mưa lớn, dòng sông dâng nước lên. Như một con ngựa bất kham, nó hút mặt đất vào trong lòng rồi lật ngược lại, để lộ ra một thứ đã thất lạc nào đó: xương của một con cừu, đôi ủng cao su của một đứa bé, chiếc đồng hồ vàng bọc bùn, một cái kính gắn vào sợi dây bạc. Một chiếc vòng tay bị hỏng móc cài. Một con dao, lưỡi câu cá, cục chì ở dây câu. Hộp thiếc và xe đẩy siêu thị. Rác rưởi. Những thứ quan trọng và những thứ không. Và thế cũng tốt thôi, đó là cách vận hành của sự vật, đó là cách vận hành của dòng sông. Dòng sông có thể quay ngược trở lại quá khứ rồi cuốn nó lên và phun nó lên bờ trước ánh mắt rõ ràng của tất cả mọi người, nhưng con người thì không thể. Phụ nữ thì không thể. Khi ta bắt đầu hỏi han này nọ và dán các tờ quảng cáo vặt ở các cửa hàng và quán rượu, khi ta bắt đầu chụp ảnh và nói chuyện với cánh phóng viên và hỏi han về phù thủy, phụ nữ và những linh hồn lạc lối, thì không phải là ta đang đặt câu hỏi, mà là ta đang hỏi tìm rắc rối.
Đáng ra Nickie phải biết.
Đến lúc bà hong khô chân xong, xỏ lại đôi sandal rồi đi, chậm như rùa, ngược trở lại men theo con đường mòn, leo lên các bậc thang và lên trên cầu, thì đã quá mười giờ, đã gần đến lúc rồi. Bà tới cửa hàng, mua cho mình một lon Coca-Cola và ngồi xuống chiếc ghế băng ở phía bên kia đường đối diện nghĩa địa nhà thờ. Bà không định vào bên trong nhà thờ không phải nơi dành cho bà - nhưng bà muốn quan sát họ. Bà muốn quan sát những người đưa tang, những kẻ tò mò và những tay đạo đức giả trâng tráo.
Bà ngồi xuống và nhắm mắt lại - chỉ chốc lát thôi, bà nghĩ - nhưng đến khi bà lại mở mắt ra thì nó đã bắt đầu rồi. Bà quan sát cô cảnh sát trẻ, người mới, đang khệnh khạng đi quanh, đầu quay hướng này xoay hướng nọ như một con chồn đất. Cô nàng này cũng tới để xem. Nickie nhìn thấy mấy người của quán rượu, vợ chồng ông chủ quán cùng cô gái trẻ làm việc sau quầy bar, vài giáo viên của trường, một bà béo lôi thôi và một chàng điển trai đeo kính mát. Bà nhìn thấy nhà Whittaker, cả thảy ba người, nỗi đau bốc lên từ họ như hơi nước bốc lên khỏi nồi, ông bố như sụm xuống vì đau thương, đứa con trai lẩy bẩy sợ sệt, chỉ có bà mẹ là ngẩng cao đầu. Một đám con gái lóe xóe như bầy vịt, theo sau là một người đàn ông, một khuôn mặt từ quá khứ, một khuôn mặt xấu xí. Nickie biết anh ta nhưng không thể nhớ ra anh ta, không thể định vị hình ảnh anh ta trong tâm trí. Bà bị phân tâm bởi một chiếc ô tô màu xanh dương sẫm đang ngoặt vào bãi đỗ, bởi gai ốc sởn trên da, bởi cảm giác không khí mát lạnh trên gáy. Bà nhìn thấy người phụ nữ trước, Helen Townsend, giản dị như một con chim nâu, bước ra từ ghế sau xe. Chồng cô ta trèo ra khỏi ghế tài xế và từ bên ghế lái phụ là ông già, Patrick, thẳng lưng đúng chất một thượng sĩ. Patrick Townsend: người đàn ông của gia đình, trụ cột của cộng đồng, cựu cảnh sát. Đồ cặn bã. Nickie nhổ nước bọt lên nền đất và đọc thần chú. Bà cảm thấy lão già chĩa ánh mắt về phía bà và Jeannie thì thầm, Tránh mắt đi, Nic.
Nickie đếm số người đi vào và bà lại đếm số người đi ra nửa tiếng đồng hồ sau. Có chút lộn xộn ở cửa chính, mọi người va vào nhau, chen nhau, và rồi có chuyện gì đó đã xảy ra giữa chàng thầy giáo điển trai và Lena Abbott, lời qua tiếng lại gay gắt. Nickie quan sát và bà dám nói cô cảnh sát cũng đang quan sát, Sean Townsend oai vệ đi quanh, đầu và vai cao vượt lên hẳn đám người còn lại. Giữ trật tự. Nhưng có gì đó đã bị bỏ sót, phải không? Giống như một mánh lừa, kiểu thế, khi ta chỉ rời mắt khỏi quả bóng có một giây mà cả cuộc chơi đã thay đổi.
Helen
Helen ngồi ở bàn bếp lặng lẽ khóc, hai vai run run, hai bàn tay siết chặt để trong lòng. Sean hoàn toàn hiểu nhầm về lý do cô khóc.
“Em không cần đi đâu,” anh ta nói, thận trọng đặt một bàn tay lên vai cô. “Em chẳng có lý do gì mà phải đến đó.”
“Vợ con phải đi,” Patrick nói. “Helen sẽ đi, và con cũng vậy, tất cả chúng ta đều đi. Chúng ta là một phần của cộng đồng này.”
Helen gật đầu, lấy má trong bàn tay chùi nước mắt. “Tất nhiên con sẽ đi.” Cô nói, hắng giọng. “Tất nhiên rồi.”
Không phải cô buồn vì đám tang. Cô buồn vì sáng nay Patrick đã dìm chết con mèo dưới sông. Nó có thai, ông bảo cô, và họ không có đủ điều kiện để cho bọn mèo tràn lan khắp chỗ này. Chúng sẽ thành một mối phiền. Ông nói đúng, tất nhiên, nhưng thế thì sao chứ. Con mèo mướp ấy, dẫu là mèo hoang, đã bắt đầu khiến Helen thấy nó giống như một thú cưng. Cô thích nhìn nó thong thả diễu ngang sân mỗi buổi sáng, loanh quanh cửa trước khụt khịt mũi tìm thức ăn, biếng nhác đập mấy con ong đang vo ve quanh bụi hương thảo. Nghĩ đến nó, cô lại ứa nước mắt.
Thấy Sean đã lên tầng, cô bèn nói, “Bố không cần phải dìm chết nó. Con có thể đưa nó đến chỗ bác sĩ thú y, họ có thể cho nó chết an lành.”
Patrick lắc đầu. “Chả cần,” ông cộc cằn nói. “Dìm là tốt nhất rồi. Nhoắng cái là xong.”
Nhưng Helen đã nhìn thấy những vết cào sâu trên cẳng tay ông, chứng tỏ con mèo đã chống trả dữ dội đến mức nào. Tốt thôi, Cô nghĩ. Hy vọng nó đã khiến bố bị thương tơi tả. Rồi cô lại cảm thấy áy náy, vì tất nhiên ông làm vậy không phải vì ông là người tàn ác. “Bố phải xử lý những chỗ này đi,” cô nói, chỉ về phía mấy vết xước trên cánh tay ông.
Ông lắc đầu. “Không sao đâu.”
“Sao lại không sao được chứ, bố có thể bị nhiễm trùng đấy. Và còn có thể bị dây máu lên áo nữa.”
Cô đỡ ông ngồi xuống bàn bếp, lau sạch những vết xước và bôi thuốc sát trùng lên, dán băng Elastoplast lên những chỗ thương tích nặng nhất. Suốt thời gian đó, ông ngắm nhìn khuôn mặt cô, và cô đoán hẳn ông cũng thấy hơi ăn năn vì lúc cô đã xong việc, ông hôn lên tay cô và nói, “Cô gái tốt. Con là một cô gái tốt.”
Cô đứng dậy và bước tránh xa ông, đứng cạnh chậu bếp, đặt hai bàn tay lên quầy bếp và nhìn những viên đá ốp xù xì đẫm nắng. Cô cắn môi.
Patrick thở dài, hạ giọng xuống thành một tiếng thầm thì. “Nghe này con, bố biết với con đây là chuyện khó khăn. Bố biết thế. Nhưng chúng ta phải đi với tư cách gia đình, đúng không? Chúng ta cần ủng hộ Sean. Chuyện này không phải là để bày tỏ sự thương tiếc với cô ta. Chuyện này cốt là cho chúng ta có thể để toàn bộ vụ đó lại phía sau.”
Helen không thể nói chắc là do lời lẽ ông nói hay do hơi thở của ông trên gáy cô, nhưng cô thấy tác dụng đúng cả lên. “Patrick,” cô nói, quay sang nhìn ông. “Bố. Con cần nói với bố về chuyện cái xe, về…”
Sean đang thình thịch xuống cầu thang, nện hai bước một.
“Về cái gì?”
“Thôi không có gì,” cô nói, và anh ta cau mày. Cô lắc đầu. “Chẳng quan trọng đâu.”
Cô lên tầng, rửa mặt và mặc bộ vest màu xám sẫm thường được để dành cho các dịp họp ban giám hiệu. Cô chải lược lên tóc, cố không nhìn mắt mình trong gương. Cô không muốn thừa nhận, dẫu với chính bản thân, rằng cô đang sợ, cô không muốn đối mặt với nguyên nhân khiến cô sợ hãi. Cô đã phát hiện ra mấy thứ trong hộp đựng găng trong xe ô tô của cô, những thứ cô không thể lý giải, và cô không chắc cô có muốn lý giải hay không. Cô đã lấy hết mọi thứ ra và giấu - một cách ngu ngốc và trẻ con - dưới giường.
“Em xong chưa?” Sean đang gọi cô từ dưới nhà. Cô hít một hơi thở sâu, buộc mình phải nhìn vào hình ảnh phản chiếu của chính mình, vào khuôn mặt nhợt nhạt, sạch sẽ, vào đôi mắt trong vắt như thủy tinh xám của cô.
“Em xong rồi,” Cô nói, với chính mình.
Helen ngồi vào ghế sau xe của Sean, Patrick vào ghế trước cạnh con trai. Không ai nói gì, nhưng dựa vào cái cách chồng cô không ngừng xoa lòng bàn tay lên cổ tay, Cô dám chắc anh ta đang lo lắng. Anh ta sẽ đau lòng, tất nhiên. Toàn bộ chuyện này - những cái chết trong dòng nước này đã khơi dậy những ký ức đau buồn trong anh ta và bố anh ta.
Khi họ băng ngang qua cây cầu đầu tiên, Helen liếc nhìn xuống dòng nước xanh lục nhạt và cố không nghĩ đến cô nàng đó, bị dìm xuống dưới, đang vật lộn đòi sống. Con mèo. Cô đang nghĩ đến con mèo.
Josh
Tôi đã cãi nhau một trận với mẹ trước khi chúng tôi rời nhà đến đám tang. Tôi xuống dưới nhà và mẹ đang ở hành lang, soi gương tô son. Mẹ mặc một chiếc áo đỏ rực. Tôi bảo, Mẹ không mặc cái đó đi dự đám tang được đâu, thế là không tôn trọng người ta đấy. Mẹ chỉ bật ra một âm thanh kiểu như một tiếng cười nhạo rồi bước vào trong bếp và vẫn mặc cái áo đó như thể tôi chưa hề nói gì. Nhưng tôi không định đầu hàng, bởi vì chúng tôi không cần thu hút thêm sự chú ý về phía mình nữa. Thể nào chẳng có cảnh sát ở đó - cảnh sát luôn có mặt tại đám tang của những người chết theo những cách đáng ngờ. Nguyên chuyện tôi, và cả mẹ tôi nữa, nói dối họ đã đủ tệ lắm rồi - họ sẽ nghĩ gì nếu thấy mẹ xuất hiện với trang phục chẳng khác nào đi dự tiệc?
Tôi theo mẹ vào bếp. Mẹ hỏi tôi có muốn uống trà không, và tôi bảo không. Tôi bảo tôi không nghĩ là mẹ nên đến đám tang làm gì, vậy là mẹ bảo, vì cái quái gì mà lại không chứ? Mẹ thậm chí còn chẳng có cảm tình với cô ấy, tôi bảo. Ai mà chẳng biết mẹ không thích cô ấy. Mẹ trao cho tôi điệu cười mỉm khó chịu quen thuộc và bảo, ồ thế à, họ biết à? Tôi bảo, Con sẽ đi vì con là bạn Lena, vậy là mẹ bảo, Không, con thì bạn bè gì. Bố xuống nhà và bảo, đừng nói thế, Lou. Tất nhiên con nó là bạn của Lena rồi. Bố nói gì đó với mẹ, khẽ đến độ tôi chẳng nghe thấy gì, và mẹ gật đầu rồi đi lên tầng.
Bố pha cho tôi tách trà, tôi không thích nhưng dù sao vẫn uống.
“Cảnh sát sẽ ở đó, bố nhỉ?” tôi hỏi bố, mặc dù tôi đã biết rõ câu trả lời.
“Bố nghĩ thế. Thanh tra Townsend quen Nel mà, phải không? Thêm nữa, chậc… Bố đoán là rất nhiều người trong làng sẽ muốn đi viếng, bất kể họ có quen biết cô ta hay không. Bố biết… Bố biết với chúng ta thì khá phức tạp, nhưng bố cho là miễn chúng ta đồng tâm hiệp lực thì mọi chuyện sẽ ổn cả thôi, còn có nghĩ thế không?” Tôi không nói gì. “Và con sẽ muốn gặp Lena, phải không, để chia buồn cùng con bé. Cứ thử nghĩ mà xem, Lena ắt hẳn đang trong tâm trạng nào chứ.” Tôi vẫn không nói gì. Bố với tay định vò tóc tôi nhưng tôi hụp đầu tránh đi.
“Bố,” tôi nói, “bố biết cảnh sát đã hỏi gì về tối hôm Chủ nhật chứ, rằng chúng ta đã ở đâu và đại loại thế?”
Bố gật đầu, nhưng đồng thời tôi thấy bố nhìn qua phía trên đầu tôi để kiểm tra xem mẹ có đang nghe không. “Con bảo con đã không nghe thấy có gì bất thường, đúng không?” bố hỏi. Tôi gật đầu. “Con đã nói sự thật.”
Tôi không chắc ông đang nói, Con đã nói sự thật? theo nghĩa câu hỏi hay, Con đã nói sự thật, theo nghĩa một nhận định.
Tôi muốn nói một điều, tôi muốn nói to nó lên thành tiếng. Tôi muốn nói, Nếu thế thì sao? Nếu mẹ đã làm gì xấu thì sao? Chỉ có điều bố có thể bảo tôi thật lố bịch, bố có thể hét lên với tôi, Sao con thậm chí có thể nghĩ thế chứ?
Tôi bảo, “Mẹ đã tới cửa hàng.”
Bố nhìn tôi như nhìn một thằng đần. “Phải, bố biết. Mẹ con đến cửa hàng sáng đó để mua sữa. Josh… Ôi, em đây rồi,” bố nói, nhìn qua vai tôi. “Nhìn mẹ con bây giờ xem. Như thế tốt hơn nhiều, phải không?”
Mẹ đã thay cái áo đỏ, mặc áo đen.
Thế tốt hơn nhiều rồi, nhưng tôi vẫn sợ sẽ có chuyện xảy ra. Tôi sợ mẹ sẽ nói gì đó, hoặc mẹ sẽ cười giữa lúc đang làm lễ hay sao đó. Vẻ mặt mẹ lúc đó thật sự khiến tôi khó chịu, không giống như mẹ đang vui hay sao đó, nó giống như là… giống như vẻ mặt mẹ nhìn bố khi mẹ tranh cãi thắng bố, giống như khi mẹ bảo, Em đã bảo anh đường A68 nhanh hơn rồi mà. Nó giống như khi mẹ chứng minh được mẹ đã đúng về chuyện gì đó và mẹ không thể bỏ cái vẻ mặt đó đi được.
Lúc chúng tôi tới nhà thờ, rất nhiều người đã đang loanh quanh ở đó - chuyện này khiến tôi thấy thoải mái hơn một chút. Tôi nhìn thấy thanh tra Townsend và tôi nghĩ chú ấy đã thấy tôi, nhưng chú ấy không bước lại cũng chẳng nói năng gì. Chú ấy chỉ đứng đó, nhìn quanh, và rồi chú ấy dừng lại quan sát lúc hai dì cháu Lena đi băng qua cây cầu. Lena có vẻ thật sự trưởng thành, khác hẳn so với dáng vẻ bình thường. Nhưng vẫn xinh đẹp. Khi bước qua chỗ chúng tôi, chị ấy nhìn thấy tôi và mỉm cười buồn bã với tôi. Tôi những muốn tiến lại ôm chầm lấy chị ấy, nhưng mẹ đang siết chặt tay tôi như một gọng kìm khiến cho tôi chẳng thể giằng ra được.
Tôi không cần lo mẹ sẽ cười. Khi chúng tôi tiến vào trong nhà thờ, mẹ òa khóc, nức nở ồn ào đến độ những người khác phải quay sang nhìn. Tôi không biết chuyện này khiến cho tình hình tốt hơn hay xấu đi.
Lena
Sáng nay, tôi thấy lòng phơi phới. Tôi đang nằm trên giường, chăn hất sang một bên. Tôi có thể cảm nhận được hơi nóng của ngày đang lên dần và tôi biết hôm nay sẽ là một ngày đẹp trời, và tôi có thể nghe tiếng mẹ đang hát. Rồi tôi tỉnh dậy.
Ở phía sau cánh cửa phòng ngủ của tôi đang treo chiếc váy tôi định mặc. Nó là của mẹ, váy của hãng Lanvin. Có đợi cả triệu năm mẹ cũng chẳng đời nào cho phép tôi mặc nó, nhưng riêng hôm nay tôi nghĩ mẹ sẽ không lấy làm phiền. Chiếc váy đã được giặt khô sau lần cuối cùng mẹ mặc, vậy nên nó vẫn còn lưu mùi hương của mẹ. Khi tròng chiếc váy vào người, tôi có cảm giác như làn da mẹ đang áp vào da tôi.
Tôi gội đầu, sấy khô rồi buộc túm tóc ra sau. Thường tôi vẫn buộc thấp nhưng mẹ thích tôi bới cao tóc lên. Soành điệu lắm, mẹ nói theo cách quen thuộc mỗi khi muốn tôi đảo tròn mắt lên nhìn mẹ. Tôi muốn vào trong phòng mẹ tìm chiếc vòng tay của mẹ - tôi biết nó nằm đâu đấy trong đó thôi - nhưng tôi không thể làm thế được.
Tôi đã không thể nào buộc mình đặt chân vào phòng mẹ kể từ sau khi mẹ mất. Lần cuối cùng tôi ở đó là chiều Chủ nhật tuần trước. Tôi thấy chán chường và buồn bã vì nhớ đến Katie, vậy nên tôi vào phòng mẹ tìm ít cỏ. Không tìm thấy gì ở bàn đầu giường vậy nên tôi bắt đầu lục lọi các túi áo khoác của mẹ trong tủ quần áo, vì thỉnh thoảng mẹ vẫn cất hàng ở đấy. Tôi không ngờ mẹ đang ở nhà. Lúc bắt quả tang tôi, mẹ không tỏ ra giận dữ, mẹ chỉ có vẻ buồn.
“Mẹ không mắng con được đâu nhé,” tôi bảo. “Con đang tìm hàng trong phòng của mẹ mà. Vậy nên mẹ không thể bực mình với con được. Mẹ mà làm thế thì sẽ thành một kẻ đạo đức giả trăm phần trăm đấy.”
“Không” mẹ bảo, “mẹ mà làm thế thì mới đúng là người lớn.”
“Cũng giống nhau thôi,” tôi nói, và mẹ bật cười.
“Phải, có lẽ vậy, nhưng thực tế là mẹ được phép hút cỏ và dùng đồ uống có cồn trong khi con thì không. Mà sao con lại định phê pha giữa một chiều Chủ nhật chứ? Ởmột mình? Buồn hả?” Rồi mẹ tiếp tục, “Sao con không đi bơi hay sao đó ấy? Hẹn hò với bạn?”
Tôi đã phát bực lên với mẹ, vì nghe cứ như thể mẹ đang nói những điều tương tự như Tanya, Ellie và tất cả bọn con gái khốn kiếp ấy nói về tôi - rằng tôi buồn, rằng tôi là kẻ thất bại, rằng tôi chẳng có bạn bè gì vì bây giờ người duy nhất từng có cảm tình với tôi đã tự tìm đến cái chết. Tôi bắt đầu hét lên, “Bạn bè cái của khỉ gì chứ? Con có ai đâu, mẹ không nhớ à? Mẹ không nhớ chuyện gì đã xảy ra với người bạn thân nhất của con à?”
Mẹ lặng chắc và giơ hai bàn tay lên, hành động mẹ vẫn làm - từng làm - mỗi khi mẹ không muốn tranh cãi. Nhưng tôi không ngừng lại, chỉ là tôi không thể ngừng lại được. Tôi hét lên kể lể rằng mẹ chẳng bao giờ ở bên cạnh, lúc nào cũng cứ để mặc tôi một mình, mẹ quá xa cách đến độ dường như mẹ thậm chí chẳng muốn tôi hiện diện xung quanh. Mẹ lắc đầu, bảo, “Không phải như thế, không phải như thế.” Mẹ nói, “Mẹ xin lỗi vì đã bị sao nhãng, nhưng có nhiều chuyện xảy ra mà mẹ không thể giải thích được. Mẹ cần phải làm một việc, và mẹ không thể giải thích được việc đó khó khăn đến mức nào.”
Tôi đã làm mặt lạnh với mẹ. “Mẹ chẳng cần phải làm gì hết, mẹ ạ. Con thề là mẹ đã hứa sẽ giữ mồm giữ miệng. Vậy nên mẹ có gì phải làm đâu. Lạy Chúa, chẳng phải mẹ đã làm quá đủ rồi hay sao?”
“Lenie,” mẹ nói, “Lenie, xin con đấy. Con không biết hết mọi chuyện. Ở đây mẹ là mẹ, là người nuôi con, con phải tin mẹ.”
Đến lúc đó, tôi đã nói những điều kinh tởm, rằng mẹ đã chẳng bao giờ ra dáng một người mẹ, kiểu mẹ gì mà lại phê ma túy nằm lăn giữa nhà và mang đàn ông về nhà buổi tối để cho tôi nghe thấy chứ? Tôi đã bảo mẹ rằng nếu chuyện xảy ra ngược lại, nếu chính tôi mới là người gặp rắc rối giống như Katie, bác Louise thể nào cũng biết phải làm gì, bác ấy thế nào cũng ra dáng một người mẹ và bác ấy sẽ làm gì đó và bác ấy thế nào cũng sẽ giúp được. Và chuyện đó đúng là nhảm nhí, tất nhiên, vì chính tôi mới là người không muốn mẹ nói gì, và mẹ chỉ ra điều đó rồi mẹ bảo dù sao đi nữa mẹ cũng đã cố gắng giúp đỡ. Vậy là tôi bắt đầu gào lên với mẹ, bảo rằng mọi chuyện đều là lỗi của mẹ, rằng nếu mẹ mà đi ba hoa với bất kỳ ai thì tôi sẽ bỏ nhà đi và sẽ không bao giờ nói chuyện với mẹ nữa. Tôi cứ nhắc đi nhắc lại điều ấy, Mẹ đã phá hoại đủ rồi. Điều cuối cùng tôi nói với mẹ là tại mẹ nên Katie mới chết.
Jules
Ngày đưa tang chị, trời nóng, hơi nóng rập rờn óng ánh trên mặt nước, ánh sáng quá chói, không khí quá ngột ngạt, trĩu hơi ẩm. Lena và em đi bộ đến nhà thờ. Lúc ra khỏi nhà, con bé đã đi trước em vài bước và khoảng cách giữa hai dì cháu dãn dần ra, em không quen đi giày cao gót, con bé lại đi rất tự nhiên. Con bé có vẻ rất thanh lịch, rất xinh đẹp, già dặn hơn nhiều so với độ tuổi mười lăm, trong chiếc váy vải nhiều màu đen khoét một lỗ trên ngực. Hai dì cháu đi trong im lặng, dòng sông đục ngầu uốn lượn chảy qua chúng em, ủ rũ và im ắng. Không khí ấm nóng nồng mùi mục thối.
Lúc bọn em rẽ vào lối dẫn lên cầu, em thấy sợ không biết ai sẽ có mặt ở nhà thờ. Em sợ rằng sẽ chẳng có ai đến và bọn em sẽ buộc phải ngồi cô đơn chẳng có gì ở giữa ngoài chị ra.
Em cúi gằm mặt, em quan sát con đường, em dồn sức tập trung đặt bàn chân này lên trước bàn chân kia, Cố gắng không vấp ngã trên con đường nhựa gồ ghề. Áo em (sợi tổng hợp đen thắt nơ bướm trên cổ, không hề phù hợp với thời tiết) dán vào thắt lưng. Mắt em bắt đầu ứa nước. Chẳng có gì to tát, em nghĩ, nếu mascara của mình bị trôi. Mọi người sẽ tưởng mình khóc.
Lena vẫn không khóc. Hoặc ít nhất con bé không khóc trước mặt em. Đôi khi, hình như em nghe được tiếng con bé nức nở trong đêm, nhưng đến lúc xuống ăn sáng, mắt con bé lại trong veo, chẳng chút muộn phiền. Con bé lẻn vào lẻn ra khỏi nhà chẳng thèm nói một lời. Em nghe tiếng nó thầm thì nói chuyện trong phòng, nhưng nó phớt lờ em, nó lùi xa khỏi em lúc em định tiếp cận, cằn nhằn khi em hỏi han này nọ, lảng tránh sự chú ý của em. Con bé chẳng muốn liên quan gì với em. (Em nhớ chị đã từng vào phòng em sau khi mẹ mất, chị muốn nói chuyện, em đã xua đuổi chị. Chuyện này có giống thế không nhỉ? Có phải con bé cũng đang làm y hệt? Em chẳng nói chắc được.)
Lúc bọn em đến chỗ nhà thờ, em để ý thấy một phụ nữ đang ngồi trên ghế băng bên vệ đường, bà ấy mỉm cười với em lộ hàm răng móm mém. Em cứ tưởng đã nghe tiếng ai cười lớn, nhưng hóa ra chỉ là chị thôi, trong đầu em.
Vài người trong số những phụ nữ chị từng viết về được chôn trong nghĩa địa nhà thờ, một vài trong số những phụ nữ phiền phức của chị. Có phải tất cả các chị đều phiền phức không? Libby thì đúng rồi, tất nhiên. Mười bốn tuổi cô đã đi quyến rũ một người đàn ông ba mươi tư, dụ dỗ anh ta từ bỏ người vợ dấu yêu cùng đứa con thơ. Được sự hỗ trợ của người dì, mụ phù thủy May Seeton, cùng một đám ma quỷ được bọn họ gọi hồn, Libby đã dụ dỗ anh chàng Matthew vô tội đáng thương để anh ta thực hiện vô số hành động ghê tởm. Quả là phiền phức thật. Mary Marsh thì nghe nói đã thực hiện nhiều vụ nạo phá thai. Anne Ward thì từng giết người. Nhưng còn chị thì sao, Nel? Chị đã làm gì? Chị đã gây phiền phức cho ai?
Libby được chôn trong nghĩa địa nhà thờ. Chị biết cô ấy nằm ở đâu, cô ấy và cả những người khác, chị đã chỉ cho em thấy các bia mộ, cạo lớp rêu bám đi để chúng ta có thể đọc được chữ. Chị vẫn giữ lại một ít thứ đó - ý em là đám rêu ấy - rồi lẻn vào phòng em, bỏ một ít xuống dưới gối em, sau đó bảo em rằng chính Libby đã để. Buổi tối, cô ấy đi bộ trên bờ sông, chị bảo em, nếu em chăm chú lắng nghe, thể nào em cũng nghe được tiếng cô ấy đang gọi bà dì, bà May, để bà ta đến cứu cô ấy. Nhưng bà May chẳng bao giờ đến: bà ta không thể. Bà ta không ở trong nghĩa địa nhà thờ. Sau khi moi được lời thú nhận của bà ta, họ đã treo cổ bà ta ở quảng trường thị trấn; thi thể bà ta được chôn trong khu rừng bên ngoài tường bao nghĩa địa, hai chân bị đóng đinh để bà ta không bao giờ có thể phục sinh.
Đến giữa cầu, Lena quay lại, chỉ trong một giây, để nhìn em. Biểu cảm của con bé - sốt ruột, có lẽ thoáng chút thương hại - quá giống của chị đến độ em không khỏi rùng mình. Em siết chặt hai nắm tay lại với nhau và cắn môi: Em không thể sợ con bé! Nó chỉ là một đứa trẻ.
Chân em đau nhức. Em có thể cảm nhận được mồ hôi đang râm ran trên đường tóc, em muốn xé toạc lớp vải áo sơ mi, em muốn xé toạc da mình. Em có thể nhìn thấy một đám người không quá đông đã tụ tập trong bãi đậu xe phía trước nhà thờ, giờ họ đang quay lại, về phía bọn em, theo dõi bọn em tiến tới gần. Em thầm tưởng tượng ra cảm giác khi ném mình qua vách đá kia: hoảng sợ, phải, nhưng chỉ trong chốc lát thôi. Em có thể trượt sâu vào đáy bùn và để mặc cho dòng nước tràn lên trên đầu em; sẽ nhẹ nhõm biết bao nhiêu khi cảm nhận được sự mát mẻ, khi được khuất khỏi mọi ánh nhìn.
Ở bên trong, Lena và em ngồi cạnh nhau (cách một bàn chân) ở hàng ghế đầu. Nhà thờ chật kín. Đâu đó đằng sau bọn em, một phụ nữ nức nở, khóc mãi không ngừng, như thể bà ta thương tâm lắm. Cha sở nói về cuộc đời chị, liệt kê các thành tựu của chị, nhắc đến lòng tận tâm chị dành cho con gái. Em được nhắc đến chỗ này chỗ kia. Chính em đã cung cấp thông tin cho ông ấy, vậy nên chắc là em không thể phàn nàn vì bài diễn văn của ông ấy có vẻ thật hời hợt. Lẽ ra em có thể tự nói gì đó, có lẽ đáng ra em nên làm thế, nhưng em không thể tưởng tượng được làm sao em có thể nói về chị mà lại không phản bội một cái gì đó - chị, hay chính em, hay sự thật.
Buổi lễ đột ngột kết thúc, và em còn chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì Lena đã đứng dậy. Em theo con bé bước dọc lối đi giữa hai hàng ghế, hơi nóng từ sự chú ý đang chĩa về phía chúng em chẳng hiểu sao lại nhuốm vẻ đe dọa chứ không làm ấm lòng. Em cố không nhìn những bộ mặt bao quanh mình, nhưng em không thể cưỡng lại được: người phụ nữ đang khóc, khuôn mặt bà ta đỏ phừng nhăn nhúm, Sean Townsend, ánh mắt anh ta bắt gặp ánh mắt em, một thanh niên cúi thấp đầu, một thiếu niên đang che miệng sau nắm tay mà cười thành tiếng. Một người đàn ông hung tợn. Em dừng khựng lại, và người phụ nữ đi đằng sau giẫm chân lên gót giày em. “Xin lỗi, xin lỗi,” bà ta lầm bầm, vòng tránh qua em. Em không nhúc nhích, không thở, không thể nuốt nước bọt xuống được, bên trong em nội tạng đã tan thành chất lỏng. Chính là anh ta.
Già hơn, phải, xấu xí hơn, đã trở nên tàn tạ, nhưng không thể nhầm lẫn được. Một người đàn ông hung tợn. Em chờ anh ta chuyển ánh mắt sang em. Em cho rằng nếu anh ta làm thế, một trong hai tình huống này sẽ xảy ra: em sẽ khóc hoặc em sẽ lao vào anh ta. Em đợi, nhưng anh ta không nhìn em. Anh ta đang nhìn Lena, chăm chú quan sát con bé. Nội tạng đã hóa lỏng của em biến thành băng đá.
Em mù quáng bám theo, đẩy mọi kẻ chắn đường ra. Anh ta đứng bên lề, đôi mắt vẫn dán lấy Lena. Anh ta dõi nhìn trong lúc con bé cởi giày ra. Bọn đàn ông quan sát những cô gái giống như Lena bằng đủ mọi loại thái độ: si mê, khao khát, chán ghét. Em không thể nhìn vào mắt anh ta, nhưng em chẳng cần phải làm thế. Em biết ánh mắt ấy thuộc loại nào.
Em bắt đầu tiến về phía anh ta, một âm thanh dâng lên trong cổ họng. Mọi người đang nhìn em, hoặc thương hại hoặc bối rối. Em phải đến được chỗ anh ta… Và rồi anh ta đột ngột xoay người bỏ đi. Anh ta bước vội vàng xuôi lối mòn và ra ngoài chỗ bãi đậu xe, và em đứng đó, hơi thở đột nhiên trào lên trong buồng phổi, adrenaline khiến tâm trí em quay cuồng. Anh ta leo vào trong một chiếc xe lớn màu xanh lục, và rồi biến mất.
“Jules? Cô ổn chứ?” cảnh sát điều tra Morgan xuất hiện cạnh em và đặt một bàn tay lên cánh tay em.
“Cô có nhìn thấy người đàn ông đó không?” em hỏi cô ấy. “Cô có thấy không?”
“Người đàn ông nào?” cô hỏi, ngó nhìn xung quanh. “Ai cơ?”
“Anh ta là một người hung tợn,” tôi nói.
Cô có vẻ cảnh giác. “Ở đâu, Jules? Ai đó làm gì đó… nói gì đó với cô à?”
“Không, tôi… không phải đâu.”
“Người đàn ông nào, Jules? Cô đang nói đến ai vậy?”
Lưỡi em đã bị buộc vào đám sậy còn miệng em đầy bùn. Em muốn bảo với cô ấy, em muốn nói, Tôi vẫn nhớ anh ta. Tôi biết anh ta có khả năng gì.
“Cô đã nhìn thấy ai?” cô ấy hỏi em.
“Robbie,” cuối cùng em cũng bật ra tên anh ta. “Robbie Cannon.”
THÁNG TÁM 1993 **
* * *
*Jules*
Em đã quên mất. Trước trận đá bóng ấy, đã xảy ra một chuyện khác. Em đang ngồi trên khăn tắm, đọc sách, xung quanh vẫn chưa có ai khác, và rồi chị đến. Chị và Robbie. Bọn chị không nhìn thấy em dưới tán cây, chị chạy xuống nước và anh ta theo sau, rồi hai người bọn chị bơi, té nước vào nhau và hôn nhau. Anh ta nắm tay chị kéo chị lên sát mép nước, anh ta nằm trên người chị, ấn hai vai chị xuống, uốn cong lưng và nhìn lên. Rồi nhìn thấy em đang quan sát. Và mỉm cười.
Lát sau cũng trong chiều hôm đó, tôi trở về nhà một mình. Tôi cởi bộ đồ bơi caro và quần soóc denim ra, ngâm chúng vào nước lạnh trong bồn rửa. Tôi xả nước vào bồn tắm, trèo vào trong, chuỗi người chìm xuống và nghĩ, Mình sẽ không bao giờ loại bỏ nó được, hết thảy chỗ thịt gớm ghiếc này.
Một con bé bự chảng. Một võ sĩ nhà nghề. Chân mà đạp thì Boeing 747 cũng phải bay. Cô ta có thể chơi ở hàng công cho đội tuyển Anh đấy.
Quá khổ so với mọi không gian tôi cư ngụ, lúc nào cũng khiến chúng chật ních. Tôi chiếm quá nhiều diện tích. Tôi chìm xuống dưới bồn tắm và nước dâng lên. Eureka.
Quay lại phòng, tôi trèo lên giường và đắp chăn nằm đó nghẹn ngào vì đau khổ, tủi thân trộn lẫn cảm giác tội lỗi, bởi vì mẹ tôi đang nằm trên giường ngay trong căn phòng sát vách, đang chết dần chết mòn vì căn bệnh ung thư vú trong khi điều duy nhất tôi có thể nghĩ đến là tôi chán sống, tôi không muốn sống tiếp như thế này.
Tôi ngủ thiếp đi.
Bố đánh thức tội dậy. Bố phải đưa mẹ tới bệnh viện để kiểm tra thêm, và họ sẽ qua đêm trong thị trấn và sáng mai phải xét nghiệm từ rất sớm. Bữa tối để sẵn trong lò rồi nhé, bố bảo, con phải tự xoay xở thôi.
Nel đang ở nhà, tôi biết thế, vì tôi có thể nghe thấy tiếng nhạc của chị ấy vang ra từ căn phòng sát vách. Một lát sau, tiếng nhạc dùng, và rồi tôi có thể nghe thấy các giọng nói, nhỏ rồi sau đó to dần, và cả những âm thanh khác nữa, tiếng rên rỉ, tiếng càu nhàu, tiếng thở gấp. Tôi dậy khỏi giường, thay quần áo rồi ra hành lang. Đèn đang bật, cửa phòng Nel mở hé. Bóng tối bên trong dày đặc hơn, nhưng tôi có thể nghe thấy tiếng chị, chị đang nói gì đó, chị đang gọi tên anh ta.
Gần như không dám thở, tôi tiến gần hơn thêm một bước. Xuyên qua khe cửa hé mở, tôi có thể nhận ra hình dáng hai người họ đang chuyển động trong bóng tối. Tôi không thể buộc mình rời mắt đi được, tôi quan sát cho tới khi nghe thấy anh ta bật ra một âm thanh lớn đầy thú tính. Rồi anh ta phá lên cười và tôi biết rằng họ đã xong xuôi.
Ở tầng dưới, tất cả đèn đều bật. Tôi đi một vòng tắt đèn, rồi thơ thẩn vào bếp mở tủ lạnh ra. Tôi nhìn chằm chăm vào những thứ bên trong tủ lạnh và qua khóe mắt, tôi để ý thấy có một chai vodka, đã mở, với một nửa, trên quầy bếp. Tôi bắt chước những gì đã thấy Nel làm: tôi tự rót cho mình một nửa ly nước cam rồi đổ thêm vodka cho đầy, sau đó, lên tinh thần để sẵn sàng cho vị cồn đắng ngắt, buồn nôn tôi đã từng trải nghiệm trong những lần uống thử rượu vang và bia, tôi nhấp một ngụm, và phát hiện ra nó ngọt chứ không hề đắng chút nào.
Tôi uống cạn ly rồi rót thêm ly nữa. Tôi thích thú tận hưởng cảm giác trong thịt da, hơi ấm lan tỏa từ dạ dày đến lồng ngực, máu nóng bừng, cả cơ thể thả lỏng, nỗi khổ sở của chiều hôm ấy rút dần.
Tôi vào phòng khách và nhìn ra dòng sông bên ngoài, một con rắn đen trơn tuột đang bò dưới ngôi nhà. Tôi không khỏi ngạc nhiên vì bỗng nhiên, tôi có thể nhìn ra được những thứ tôi chưa từng thấy rằng vấn đề của tôi không phải là không thể vượt qua. Tôi đột nhiên thấy lòng sáng rõ: tôi không cần phải cố định thế này, tôi có thể thay đổi. Giống như dòng sông. Có lẽ xét cho cùng, chuyện đó cũng không đến nỗi quá khó khăn. Chẳng phải tôi có thể nhịn ăn, vận động nhiều hơn một cách âm thầm, khi không có ai quan sát)? Có thể biến hình, từ con sâu thoát thai thành bướm, trở thành một con người khác, không thể nhận ra được, để cho người con gái xấu xí, bị chảy máu ấy trôi vào quên lãng? Tôi sẽ biến mình thành một con người mới.
Tôi quay lại bếp để lấy thêm rượu.
Tôi nghe tiếng bước chân trên tầng, thong thả bước trên chiếu nghỉ rồi xuống cầu thang. Tôi lặng lẽ trở vào trong phòng khách, tắt đèn đi và thụp người xuống trong bóng tối trên ghế ngồi cạnh cửa sổ, chân thu lên bên dưới người.
Tôi nhìn thấy anh ta vào bếp, nghe tiếng anh ta mở tủ lạnh - đúng hơn là ngăn đá, tôi có thể nghe tiếng anh ta đang tách đá ra khỏi khay. Tôi nghe tiếng chất lỏng rót ồng ộc và rồi nhìn thấy anh ta đi ngang qua chỗ mình. Rồi anh ta dừng lại. Và lùi lại một bước.
“Julia? Em đấy à?”
Tôi không nói gì, không cả thở. Tôi không muốn gặp ai - tôi chắc chắn không muốn gặp anh ta - nhưng anh ta đã dò dẫm bật điện lên, rồi ánh điện bừng sáng và anh ta đang đứng đó, trong chiếc quần xà lỏn và ngoài ra chẳng mặc thêm gì nữa, làn da anh ta màu nâu sẫm, vai rộng, thân hình thon dần về phía vòng eo hẹp, đám lông trên bụng chạy xuôi vào trong quần. Anh ta mỉm cười với tôi.
“Em ổn chứ?” anh ta hỏi. Khi anh ta bước lại gần hơn, tôi có thể nhận thấy mắt anh ta có vẻ hơi đờ đẫn, nụ cười toe ngơ ngẩn hơn, uể oải hơn thường lệ. “Sao em lại ngồi trong bóng tối thế này?” Anh ta liếc thấy ly nước tôi đang cầm và nụ cười ngoác ra rộng hơn. “Có vẻ như vodka của em sắp cạn rồi nhỉ…” Anh ta bước đến gần và cụng ly với tôi, sau đó ngồi xuống cạnh tôi, bắp đùi tì vào bàn chân tôi. Tôi dịch người tránh ra, đặt chân xuống sàn và dợm đứng dậy, nhưng anh ta đã đặt bàn tay lên cánh tay tôi.
“Này, đợi đã,” anh ta nói. “Đừng chạy đi. Anh muốn nói chuyện với em. Anh muốn xin lỗi em về chuyện chiều nay.”
“Không sao đâu,” tôi nói. Tôi có thể cảm thấy mặt mình đang đỏ bừng lên. Tôi không nhìn anh ta.
“Không, anh xin lỗi. Mấy thằng đó toàn đồ con lừa ấy mà. Anh thật lòng xin lỗi, nhé?”
Tôi gật đầu.
“Chẳng có gì phải ngượng đâu.”
Tôi co rúm người lại, nỗi xấu hổ hừng hực khắp toàn thân. Một phần nhỏ, ngu ngốc nào đó trong tôi đã hy vọng rằng bọn họ đã không nhìn thấy, đã không nhận ra vụ đó.
Anh ta siết chặt cánh tay tôi, nheo mắt lại nhìn tôi.
“Mặt em xinh đấy, Julia, em có biết không?” Anh ta bật cười. “Anh nói thật lòng đấy, mặt em xinh.” Anh ta thả tay tôi ra, quàng tay ôm vai tôi.
“Nel đâu rồi?” tôi hỏi.
“Đang ngủ,” anh ta bảo. Anh ta nhấm nháp phần đồ uống của mình rồi chép miệng.
“Chắc anh làm cô ấy mệt rũ rồi.” Anh ta kéo tôi lại gần anh ta hơn. “Em đã từng hôn anh chàng nào chưa, Julia?” anh ta hỏi tôi. “Em có muốn hôn anh không?” Anh ta xoay mặt tôi về phía mặt anh ta và áp môi lên môi tôi, tôi cảm nhận được lưỡi anh ta, ấm nóng và trom ướt, đang lùa vào trong miệng tôi. Tôi cảm thấy buồn nôn, nhưng tôi vẫn để mặc cho anh ta làm thế, chỉ cốt để xem nó sẽ có cảm giác thế nào. Khi tôi đẩy người lùi lại, anh ta mỉm cười nhìn tôi. “Em thích không?” anh ta hỏi, hơi thở nóng hổi, hơi cồn và khói hôi nồng phả vào mặt tôi. Anh ta lại hôn tôi và tôi hôn đáp lại, cố gắng cảm nhận cho ra bất kỳ cảm xúc nào mà đúng lý ra tôi nên cảm thấy. Anh ta trượt tay vào trong cạp quần pyjama của tôi. Tôi vặn người tránh ra, vô cùng xấu hổ, khi cảm thấy những ngón tay của anh ta đang ấn vào lớp mỡ bụng của tôi, luồn vào trong quần lót của tôi.
“Không!” Tôi tưởng tôi đã hét to lên, nhưng nó chỉ hơn một tiếng thầm thì.
“Không sao đâu,” anh ta nói. “Đừng lo. Máu me chút anh cũng không ngại đâu.”
Sau đó, anh ta phát cáu lên với tôi vì tôi cứ khóc mãi.
“Ôi, thôi đi, cũng đâu đến mức đau lắm đâu! Nín đi. Thôi đi, Julia, đừng khóc nữa. Em không thấy dễ chịu à? Nó thật tuyệt, cảm giác ấy, đúng không? Em cũng khá ướt rồi mà. Thôi nào, Julia. Uống thêm ly nữa đi. Của em đây. Làm một ngụm đi. Chúa ơi, đừng có khóc nữa! Chết tiệt. Anh tưởng em phải thấy cảm kích chứ.”
2015**
* * *
*Sean*
Tôi lái xe chở Helen và bố về nhà, nhưng lúc về đến cửa chính, tôi lại chẳng hề muốn bước qua bậc thềm. Thỉnh thoảng, những suy nghĩ kỳ lạ lại choán lấy tôi và tôi phải vùng vẫy rũ sạch nó đi. Tôi đứng bên ngoài nhà, vợ và bố tôi ở bên trong, đang nhìn tôi chờ đợi. Tôi bảo họ cứ ăn đi không cần đợi tôi. Tôi bảo tôi phải quay lại đồn.
Tôi là một kẻ hèn nhát. Tôi nợ bố tôi nhiều hơn thế này nhiều. Đáng lẽ ra hôm nay tôi nên ở cùng ông, hôm nay, hơn bất kỳ hôm nào khác. Helen sẽ giúp ông, tất nhiên, nhưng đến cả cô ấy cũng không thể hiểu được bố sẽ cảm thấy ra sao, không thể hiểu được nỗi đau khổ của ông sâu sắc đến mức nào. Tuy nhiên, tôi không thể ngồi cùng bố, tôi không thể nhìn vào mắt bố. Chẳng hiểu sao, bố và tôi không bao giờ có thể nhìn vào mắt nhau mỗi khi chúng tôi nghĩ về mẹ.
Tôi lấy xe lái đi, không phải tới đồn mà quay trở lại nghĩa địa nhà thờ. Mẹ tôi đã được hỏa táng, bà không nằm ở đây. Bố tôi đã mang tro hài cốt của mẹ tới một “nơi đặc biệt”. Bố không bao giờ nói cho tôi biết đích xác đấy là đâu, mặc dù ông đã hứa rằng một ngày nào đó sẽ dẫn tôi đến đó. Chúng tôi chẳng đi bao giờ. Tôi từng hỏi bố về chuyện đó, nhưng lần nào ông cũng bực mình, vậy nên sau một thời gian, tôi đành mặc kệ.
Nhà thờ và nghĩa địa đều vắng tanh, không có ai trong tầm nhìn ngoài bà già Nickie Sage, đang tập tễnh bước chậm chạp quanh vòng ngoài. Tôi ra khỏi xe, men theo con đường mòn vòng quanh bức tường đá tiến về phía hàng cây phía sau nhà thờ. Lúc tôi đến gần Nickie, bà ta đang đứng chống một tay lên tường, hơi thở khò khè trong lồng ngực. Bà ta đột nhiên quay lại. Mặt bà ta hồng rực lên và bà ta đang đầm đìa mồ hôi.
“Anh muốn gì?” bà ta khò khè hỏi. “Sao anh lại bám theo tôi?”
Tôi mỉm cười. “Tôi có bám theo bà đâu. Tôi nhìn thấy bà lúc ở trong xe và chỉ nghĩ là có khi nên đến chào bà một câu. Bà ổn cả chứ?”
“Tôi ổn, tôi ổn.” Bà ta trông chẳng có vẻ ổn gì cả. Bà ta tựa người vào bức tường và nhìn lên trời. “Sắp có bão rồi đấy.”
Tôi gật đầu. “Ngửi mùi thì dễ thế lắm.”
Bà ta giật ngửa đầu ra sau. “Vậy chuyện đó xong xuôi rồi hả? Nel Abbott ấy? Đóng hồ sơ lại rồi? Phó thác cô ấy cho lịch sử rồi?”
“Vụ việc vẫn chưa khép lại,” tôi nói.
“Vẫn chưa. Nhưng sẽ sớm thôi, phải không?” Bà ta lầm bầm gì đó rất khẽ.
“Sao cơ?”
“Mệt mỏi thật, phải không?” Bà ta quay sang đối diện với tôi và chọc ngón trỏ mập mạp vào ngực tôi. “Anh biết rõ vụ này không giống với vụ trước đó, phải không? Vụ này không giống vụ Katie Whittaker. Vụ này giống vụ của mẹ anh.”
Tôi lùi lại một bước. “Bà nói thế là có ý gì?” tôi hỏi bà ta. “Nếu biết gì đó, bà nên nói cho chúng tôi biết. Bà có biết gì không? Bà có biết gì về cái chết của Nel Abbott không?”
Bà ta quay người tránh đi, lại lầm bầm gì đó, không tài nào luận nổi bà ta nói gì.
Hơi thở tôi trở nên dồn dập, cơ thể tôi nóng bừng lên vì xúc động. “Đừng có nhắc đến mẹ tôi như thế. Lại còn vào ngày hôm nay nữa chứ. Lạy Chúa! Người gì mà lại đi làm thế?”
Bà ta phẩy tay về phía tôi. “Ôi, anh không chịu nghe, các anh chẳng bao giờ chịu nghe cả,” bà ta nói, rồi lại tập tễnh bỏ đi men theo con đường mòn, vẫn vừa đi vừa nói, thỉnh thoảng lại với về phía bức tường đá để lấy điểm tựa.
Tôi tức giận với bà ta, nhưng còn hơn thế nữa, tôi có cảm giác đã bị tấn công bất ngờ, gần như bị tổn thương. Chúng tôi quen biết nhau đã nhiều năm, và tôi chưa bao giờ cư xử thiếu lịch sự với bà ta. Bà ta đã làm đường lạc lối, hiển nhiên rồi, nhưng tôi vẫn không cho rằng bà ta là người xấu, và chắc chắn tôi chưa từng nghĩ bà ta là kẻ tàn nhẫn.
Tôi mệt mỏi lê bước quay trở lại xe nhưng rồi nghĩ lại và chuyển hướng tới cửa hàng tạp hóa của làng. Tôi mua một chai whisky Talisker - bố tôi thích loại này, mặc dù ông uống không nhiều. Tôi nghĩ lát nữa chúng tôi có thể uống chung một ly, để bù đắp cho chuyện vừa nãy, cho việc tôi đã bỏ đi như thế. Tôi cố gắng hình dung ra hình ảnh đó, hai bố con ngồi ở bàn bếp, cái chai ở giữa, đang nâng ly lên. Tôi thầm hỏi chúng tôi sẽ nâng ly vì cái gì - vì ai? Nguyên việc tưởng tượng ra chuyện này cũng đã khiến tôi sợ hãi, và tay tôi bắt đầu run lên. Tôi mở chai rượu.
Mùi whisky và hơi nóng của cồn trong lồng ngực khiến tôi nhớ đến những cơn sốt thời thơ ấu, những giấc mơ bất an, lúc tỉnh dậy thấy mẹ đang ngồi bên mép giường, gạt món tóc ẩm ướt ra khỏi trán tôi, xoa dầu Vicks lên ngực tôi. Trong cuộc sống, có nhiều khi tôi hầu như không hề nhớ đến mẹ, nhưng dạo gần đây, mẹ càng lúc càng hay xuất hiện trong tâm trí tôi hơn - và trong vài ngày vừa qua lại càng thường xuyên hơn bao giờ hết. Khuôn mặt mẹ hiện đến với tôi, thỉnh thoảng mẹ đang mỉm cười, thỉnh thoảng không. Thỉnh thoảng mẹ với tay về phía tôi.
Cơn bão mùa hè đã nổi lên mà tôi không hề để ý. Có lẽ tôi đã ngủ thiếp đi. Tôi chỉ biết là đến lúc tôi tĩnh trí lại thì con đường trước mặt đã biến thành một dòng sông còn sấm dường như đang khiến chiếc ô tô rung chuyển. Tôi xoay chìa khóa khởi động xe, nhưng rồi đột nhiên nhớ ra chai whisky trong lòng giờ chỉ còn hai phần ba, vậy nên tôi lại tắt máy đi. Dưới nhịp trống của cơn mưa đang ầm ầm sấm dội, tôi có thể nghe thấy tiếng thở của mình, và trong một thoáng, tôi tưởng như nghe thấy cả tiếng thở của một ai đó khác. Tôi đột nhiên nảy ra một ý niệm buồn cười rằng nếu tôi quay người lại, thể nào cũng thấy có một người đang ở đó, trên ghế sau xe. Trong một thoáng, tôi tin chắc vào ý nghĩ đó đến độ sợ quá chẳng dám cử động.
Tôi quyết định rằng một cuộc đi bộ trong mưa sẽ giúp tôi tỉnh táo hơn. Tôi bèn mở cửa xe, miễn cưỡng ép mình kiểm tra ghế sau, và bước ra ngoài. Ngay lập tức, tôi đã ướt sũng cả người và bị nước mưa che mất tầm nhìn. Một tia chớp rạch đôi không trung và chính trong một giây đó, tôi nhìn thấy Julia, ướt như chuột lột, đang nửa đi nửa chạy về phía cây cầu. Tôi chui lại vào trong xe và bật đèn xe nhấp nháy. Cô ta dừng lại. Tôi lại nhấp nháy đèn và, ngập ngừng, cô ta tìm đường tiến về phía tôi. Cô ta dừng lại cách xe vài mét. Tôi hạ kính cửa sổ xuống và hét to gọi cô ta.
Cô ta mở cửa xe chui vào trong. Cô ta vẫn đang mặc tang phục, tuy nhiên giờ chúng đã ướt sũng và dính sát vào thân hình nhỏ bé của cô. Nhưng cô ta đã thay giày. Tôi để ý thấy tất của cô ta đã rách toác - tôi có thể nhìn thấy một ít da thịt xanh xao lộ ra chỗ đầu gối. Cảnh tượng ấy dường như thật đáng kinh ngạc, vì bất cứ khi nào tôi gặp cô ta trước đó, cơ thể cô ta cũng đều được che kín - tay áo dài và cổ áo cao, không để lộ chút da thịt nào. Không thể chạm tới.
“Cô đang làm gì ngoài này vậy?” tôi hỏi. Cô ta liếc xuống nhìn chai whisky trong lòng tôi, nhưng không bình luận gì. Thay vào đó, cô ta với tay ra, kéo mặt tôi lại sát mặt mình và hôn tôi. Cảm giác thật lạ lùng, chuếnh choáng. Tôi có thể nếm thấy vị máu trên lưỡi cô ta và trong một thoáng tôi xuôi theo, nhưng rồi tôi vùng mạnh, giằng ra khỏi cô ta.
“Tôi xin lỗi,” cô ta nói, lấy tay lau môi, mắt cụp xuống. “Tôi rất xin lỗi. Không biết sao tôi lại làm thế nữa.”
“Không, tôi nói. “Cả tôi cũng vậy.” Chẳng chút hợp tình hợp cảnh, cả hai chúng tôi cùng phá lên cười, ban đầu thì lo lắng, nhưng sau đó lại đầy sảng khoái, như thể nụ hôn ấy là trò đùa khôi hài nhất trần đời. Đến lúc ngừng cười, cả hai chúng tôi bèn chùi sạch nước mắt lem trên mặt.
“Cô đang làm gì ngoài này vậy, Julia?”
“Jules chứ,” cô ta nói. “Tôi đang tìm Lena. Tôi không biết con bé đang ở đâu…” Cô ta có vẻ khác hẳn, không còn xa cách nữa. “Tôi sợ quá,” cô ta nói, rồi lại bật cười, như thể giờ đang xấu hổ. “Tôi sợ thật sự.”
“Sợ cái gì?”
Cô ta hắng giọng và gạt mớ tóc ướt ra sau cho khỏi chờm lên mặt.
“Cô sợ cái gì?”
Cô ta hít một hơi thở sâu. “Tôi không… Chuyện này có vẻ kỳ lạ, tôi biết, nhưng có một người đàn ông ở lễ tang, một người tôi nhận ra. Anh ta từng là bạn trai của Nel.”
“Ồ?”
“Ý tôi là… không phải gần đây. Hồi xa lắc xa lơ rồi. Dạo chúng tôi còn thiếu niên. Tôi không biết liệu sau đó chị ấy còn gặp anh ta nữa không.” Hai đốm hồng ửng lên trên hai gò má cô ta. “Chị ấy chưa từng nhắc đến anh ta trong bất kỳ tin nhắn thoại nào. Nhưng anh ta đã có mặt lễ tang, và tôi nghĩ… Tôi không thể lý giải được tại sao, nhưng tôi nghĩ có thể anh ta đã làm gì đó với chị ấy.”
“Làm gì đó? Có phải ý cô là cô nghĩ anh ta có thể liên quan đến cái chết của cô ấy?”
Cô ta nhìn tôi vẻ van nài. “Tôi không thể nói thế được, tất nhiên, nhưng anh phải kiểm tra anh ta xem sao, anh phải tìm hiểu cho ra anh ta đã ở đâu lúc chị ấy chết.”
Da đầu tôi co rúm lại, adrenaline xuyên qua chất cồn.
“Tên người đàn ông này là gì? Cô đang nói về người nào?”
“Robbie Cannon.”
Tôi mơ hồ mất một lúc, nhưng rồi chợt nhớ ra. “Cannon? Trai làng à? Nhà buôn ô tô, rất giàu. Người đó hả?”
“Phải. Người đó. Anh quen anh ta à?”
“Tôi không quen, nhưng tôi vẫn nhớ anh ta.”
“Anh nhớ…?”
“Hồi trung học ấy. Anh ta học trên tôi một lớp. Chơi thể thao giỏi. Sát gái. Không sáng dạ lắm.”
Đầu cúi thấp đến độ cằm suýt chạm vào ngực, Jules nói, “Tôi không biết anh đã học trung học ở đây đấy.”
“Có chứ,” tôi đáp. “Tôi luôn sống ở đây mà. Chắc cô không nhớ tôi, nhưng tôi vẫn nhớ coo. Cô và chị gái, dĩ nhiên rồi.”
“Ồ,” cô ta nói, và khuôn mặt cô ta chợt lạnh tanh, như thể một cánh cửa chớp vừa đóng sầm lại. Cô ta đặt tay lên tay nắm cửa, như thể định bỏ đi.
“Gượm đã nào,” tôi nói. “Tại sao cô lại cho rằng Cannon đã làm gì đó với chị gái cô. Anh ta đã nói gì à, đã làm gì à? Anh ta cư xử thô bạo với cô ấy à?”
Julia lắc đầu nhìn tránh đi chỗ khác. “Tôi chỉ biết rằng anh ta là người nguy hiểm. Anh ta không phải người tốt. Và tôi đã thấy anh ta… nhìn Lena.”
“Nhìn cô bé?”
“Phải, nhìn.” Cô ta quay đầu lại và cuối cùng cũng nhìn vào mắt tôi. “Tôi không thích cách anh ta nhìn con bé.”
“OK,” tôi nói. “Tôi sẽ, ừm… Tôi sẽ xem có thể phát hiện được gì không.”
“Cảm ơn anh.”
Cô ta lại toan mở cửa xe, nhưng tôi đã đặt tay lên cánh tay cô ta. “Tôi sẽ lái xe chở cô về,” tôi nói.
Một lần nữa, ánh mắt liếc đến cái chai, nhưng cô ta không nói năng gì. “OK.”
Chỉ mất vài phút là đã quay trở về được nhà Cối Xay và hai chúng tôi không ai nói gì cho đến khi Jules mở cửa xe. Lẽ ra tôi không nên nói gì hết, nhưng tôi vẫn muốn nói với cô ta.
“Cô biết không, cô rất giống cô ấy đấy.”
Cô ta có vẻ sửng sốt và bật ra một tràng cười sằng sặc.
“Tôi chẳng có điểm gì giống chị ấy hết.” Cô ta lau một giọt nước mắt vương trên má. “Tôi trái ngược hẳn với Nel.”
“Tôi không nghĩ thế đâu,” tôi nói, nhưng cô ta đã đi mất rồi.
Tôi không nhớ đã lái xe về nhà như thế nào.
Vũng sông chết đuối
Lauren, 1983
Mừng sinh nhật lần thứ ba mươi hai của Lauren, trong một tuần nữa, họ định sẽ tới Craster. Chỉ có cô và Sean, vì Patrick còn phải làm việc. “Nó là chỗ mẹ thích nhất thế giới,” cô bảo con trai. “Có một lâu đài, một bãi biển đẹp, và thỉnh thoảng con còn có thể nhìn thấy hải cẩu trên bãi đá nữa. Và sau khi đã tới bãi biển và lâu đài, mẹ con mình sẽ tới nhà hun khói ăn bánh mì nâu cá trích hun khói. Thiên đường.”
Sean chun mũi. “Con nghĩ con thích đến London hơn,” cậu tuyên bố, “để xem Tháp. Và ăn kem.”
Mẹ cậu bật cười bảo, “Vậy cũng tốt, có lẽ mình làm thế cũng được.”
Cuối cùng, họ chẳng làm gì hết.
Hồi đó đương giữa tháng Mười một, ngày ngắn và giá lạnh, và Lauren thường xuyên bị mất tập trung. Cô ý thức rõ cô đang hành xử khác thường, nhưng dường như chẳng thể dừng lại được. Cô nhận thấy mình đang ngồi ở bàn ăn sáng cùng gia đình và đột nhiên da cô đỏ ửng, mặt cô bùng cháy, và cô buộc phải quay mặt đi để che giấu. Cô cũng quay mặt đi khi chồng cô đến hôn cô - chuyển động của đầu cô gần như cô thức, vượt ngoài tầm kiểm soát của bản thân, khiến cho môi Patrick chỉ quét trên má cô, hay khóe miệng.
Ba ngày trước sinh nhật cô, một cơn bão nổi lên. Nó mạnh dần lên từng giờ, một trận cuồng phong chẻ toác thung lũng, một bầy ngựa trắng quần thảo khắp chiều rộng vũng sông. Đến tối thì bão lên đỉnh điểm, nước dâng tràn bờ, cây cối đổ la liệt ven sông. Mưa trút xuống như thác, vạn vật chìm trong nước.
Chồng và con trai Lauren đã ngủ say như những đứa trẻ, nhưng Lauren vẫn thức. Trong phòng làm việc dưới nhà, cô ngồi bên bàn làm việc của chồng, chỗ khuỷu tay là chai Scotch yêu thích của anh ta. Cô uống một ly và xé một tờ giấy từ cuốn sổ tay. Cô uống thêm ly nữa, rồi ly nữa, trang giấy vẫn trống trơn. Cô thậm chí chẳng xác định nổi nên dùng cách xưng hô nào - “thân mến” thì có vẻ tùy tiện mà “yêu dấu” thì lại dối trá. Với cái chai gần như đã cạn và trang giấy vẫn chưa viết gì, cô bước ra ngoài trời tiến vào trong cơn bão.
Máu trong người cô đặc sệt rượu, nỗi u sầu và giận dữ, cô tìm đường đến chỗ vũng sông. Ngôi làng vắng tanh, các cửa sập đều đã hạ kín. Không bị ai nhìn thấy cũng không bị ai quấy rầy, cô leo trèo và trượt qua bãi bùn để lên vách đá. Cô đợi. Cô đợi một người đến, cô cầu nguyện rằng người đàn ông cô đã đem lòng yêu đó có thể bằng một phép mầu nào đó mà biết được, có thể bằng cách nào đó cảm nhận được nỗi tuyệt vọng của cô và sẽ đến để cứu cô thoát khỏi chính bản thân cô. Nhưng giọng nói cô nghe thấy, giọng nói đang gọi cô trong nỗi tuyệt vọng kinh hoàng, lại không phải giọng nói cô muốn nghe.
Và vô cùng liều lĩnh, cô bước lên vách đá dựng đứng rồi, hai mắt mở to, quăng mình về phía trước.
Không cách nào cô có thể nhìn thấy cậu, không cách nào cô có thể biết rằng con trai cô đang ở dưới đó, đằng sau hàng cây.
Không cách nào cô có thể biết rằng cậu đã bị đánh thức bởi tiếng la hét của bố và tiếng cửa trước đóng sầm lại, rằng cậu đã dậy và chạy xuống dưới nhà rồi ra ngoài trời vào trong cơn bão, hai bàn chân để trần và tứ chi khẳng khiu của cậu chỉ được che phủ bởi một lớp vải cotton mỏng tang.
Sean nhìn thấy bố mình đang leo vào xe và thét gào gọi mẹ. Patrick quay lại, hét bảo con trai quay vào nhà. Anh ta chạy về phía cậu, thô bạo tóm lấy cánh tay cậu và nhấc bổng cậu lên, cố gắng ép cậu quay trở vào nhà. Nhưng cậu bé van xin, “Con van bố, con van bố, đừng bỏ lại con ở đây.”
Patrick mủi lòng. Anh ta nhấc cậu bé lên và mang cậu tới xe, nhét cậu ở ghế sau, và Sean co rúm người lại ở đó, hoảng loạn và hoang mang. Cậu nhắm tịt mắt lại. Họ lái xe tới dòng sông. Bố cậu dừng xe lại trên cầu và bảo cậu, “Đợi nhé. Đợi ở đây nhé.” Nhưng trời tối và mưa nện xuống nóc xe nghe như tiếng đạn bắn và Sean không sao rũ đi cái cảm giác rằng có ai đó khác đang ở trong xe cùng cậu, cậu có thể nghe thấy tiếng thở không đều của người này. Vậy nên cậu bỏ ra ngoài và chạy đi, leo xuống các bậc thang bằng đá và ngã vào lớp bùn trên con đường mòn, mò mẫm trong bóng tối và dưới cơn mưa để tiến về phía vũng sông.
Sau này, ở trường, người ta kể cho nhau nghe rằng cậu đã nhìn thấy cảnh ấy - cậu chính là cậu bé đã chứng kiến cảnh mẹ mình nhảy đến đoạn kết cuộc đời. Sự thật không phải thế. Cậu chẳng nhìn thấy gì cả. Khi cậu tới vũng sông, bố cậu đã ở trong dòng nước, đang bơi ra xa. Không biết phải làm gì, cậu đành quay lại và ngồi xuống dưới tán cây, tựa lưng vào một thân cây mập mạp để không ai có thể lẳng lặng lại gần mà không bị cậu phát hiện.
Dường như cậu đã ở đó một lúc lâu. Sau này nghĩ lại, cậu vẫn thầm hỏi không biết có phải cậu đã ngủ thiếp đi không, mặc dù với bóng tối và âm thanh và nỗi sợ ấy, chuyện đó có vẻ không mất có khả năng. Điều cậu có thể nhớ được là một phụ nữ đang tiến đến - Jeannie, từ đồn cảnh sát. Cô mang theo chăn và đèn pin và cô đưa cậu quay trở lại cây cầu, cho cậu một cốc trà ngọt để uống, và họ ở đó đợi bố cậu. Lát sau, Jeannie lái xe đưa cậu về nhà cô và làm bánh mì nướng phó mát cho cậu.
Nhưng không cách nào Lauren có thể biết được bất kỳ điều nào trong số những chuyện này.
Erin
Rời khỏi lễ tang, tôi để ý thấy rất nhiều người dự lễ đã len đến nói vài lời với bố của Sean Townsend, người đã được giới thiệu với tôi, một cách ngắn gọn đến không ngờ, là Patrick Townsend. Hết người này đến người khác bắt tay, ngả mũ, và suốt trong lúc ấy, ông ta đúng đó như một vị tướng trong cuộc diễu hành, lưng thẳng, môi cứng đờ.
“Lão khọm khốn khổ, nhỉ?” tôi nói với viên cảnh sát mặc cảnh phục đang đứng bên cạnh. Tay cảnh sát quay sang nhìn tôi như thể tôi vừa bò ra từ dưới một tảng đá.
“Tỏ ra tôn trọng chút đi,” anh ta rít lên, rồi quay lưng về phía tôi.
“Sao cơ?” tôi hỏi, nói với cái gáy của anh ta.
“Ông ấy là một cảnh sát đã được tặng thưởng huân chương cao quý,” viên cảnh sát nói. “Và là một người góa vợ. Vợ ông ấy đã chết tại đây, trong dòng sông này.” Anh ta lại quay mặt về phía tôi và hừ mũi, không mảy may bộc lộ sự tôn trọng đối với chức vụ của tôi, “Tỏ ra tôn trọng chút đi.”
Tôi cảm thấy mình chẳng khác gì một con ngốc chết giẫm. Nhưng thật ra, sao tôi biết được Sean trong câu chuyện của Nel Abbott lại chính là Sean ở đồn cảnh sát? Tôi đâu có biết tên bố mẹ anh ta. Chết tiệt. Đâu có ai kể gì với tôi chứ, và khi đọc lướt qua tác phẩm của Nel Abbott, tôi đâu có dành quá nhiều sự chú ý cho các chi tiết của một vụ tự tử đã diễn ra từ hơn ba thập kỷ trước. Xét tình hình thì nó đâu có vẻ gì là quá mức cấp thiết.
Nghiêm túc nhé: sao có ai lại ghi nhớ hết được tất cả những cái xác quanh đây kia chứ? Nhiều y như trong series phim Midsomer Murders, chỉ có điều không phải là xác mấy kẻ chết vì trượt chân ngã hố hay bị nện vào đầu mà là những vụ tai nạn và tự tử và chết đuối kỳ quái sặc mùi kỳ thị phụ nữ và liên quan đến đủ thứ sự kiện trong quá khứ.
Hết giờ làm việc, tôi lái xe quay lại thành phố - vài người khác thì tới quán rượu, nhưng do cú phốt Patrick Townsend tôi vừa dính phải, thân phận người ngoài của tôi có phần nặng nề hơn một chút so với trước đây. Dù sao đi nữa, vụ này cũng đã xong rồi, đúng không? Loanh quanh đây thêm nữa cũng chẳng để làm gì.
Tôi thấy nhẹ nhõm, đúng kiểu cảm xúc ta cảm thấy khi cuối cùng ta cũng vắt óc nhớ ra được bộ phim ta từng thấy một diễn viên nào đó thủ vai là gì, khi một điều mơ hồ nào đó từng khiến ta hao tâm tổn trí bất chợt trở nên rõ ràng. Thái độ kỳ lạ của viên thanh tra - đôi mắt ướt nước, hai bàn tay run rẩy, vẻ xa cách - giờ tất cả đều trở nên hợp lý. Nó sẽ hợp lý nếu ta biết về quá khứ của anh ta. Gia đình anh ta gần như đã phải chịu đựng chính xác những gì Jules và Lena giờ đang phải gánh chịu - cùng nỗi kinh hoàng đó, cùng con sốc đó. Cùng nỗi băn khoăn đó.
Tôi đã đọc chương sách Nel Abbott viết về Lauren Townsend. Nó không kể gì nhiều. Bà ta là một người vợ không hạnh phúc, yêu người đàn ông khác. Chương sách kể về sự lơ đãng của bà ta, tâm hồn treo ngược cành cây của bà ta - có lẽ bà ta thấy chán chường? Xét cho cùng, ai mà biết được? Cái này đâu phải là thứ có khả năng tin tưởng được, nó chỉ là phiên bản quá khứ theo cách nhìn của Nel Abbott. Ắt hẳn phải là người có ý thức kỳ lạ lắm về quyền hạn của bản thân, tôi nghĩ, thì mới đi khai thác bi kịch của một người khác như thế và rồi viết nó lại như thể nó thuộc quyền sở hữu của mình.
Đọc đi đọc lại chương sách, điều khiến tôi không tài nào hiểu được là tại sao Sean lại có thể vẫn sống ở đây. Cho dù không nhìn thấy bà ta rơi xuống thì anh ta cũng đã ở đấy. Chuyện đấy ảnh hưởng thế nào đến ta chứ? Nhưng nói đi cũng phải nói lại. Hồi ấy anh ta chắc vẫn còn nhỏ. Sáu, bảy tuổi? Với những chấn thương tâm lý kiểu như thế, trẻ con có thể phong tỏa nó. Nhưng còn người bố? Ngày nào ông ta cũng đi dạo ven sông, tôi đã nhìn thấy ông ta. Cứ tưởng tượng mà xem. Cứ thử tưởng tượng ra cảnh ngày nào cũng như ngày nào, đi dạo qua nơi ta từng mất người thân. Tôi không thể tin nổi chuyện đó, vẫn luôn không thể tin nổi chuyện đó. Nhưng ngẫm lại thì, có lẽ tại tôi chưa từng thật sự mất ai. Sao tôi có thể biết được nỗi buồn đau sẽ như thế nào?

