Vào Trong Dòng Nước - Phần 2

PHẦN HAI

THỨ BA, 18 THÁNG TÁM **

* * *

*Louise*

Nỗi buồn đau của Louise giống như dòng sông: triền miên và bất định. Nó gợn sóng, dâng trào, lúc triều lên lúc triều xuống, hôm thì lạnh lẽo, đen tối và sâu thẳm, hôm thì chảy xiết, mịt mờ. Cảm giác tội lỗi của bà cũng là một chất lỏng, nó thấm qua các kẽ hở khi bà cố gắng chặn nó lại. Bà có ngày đẹp và ngày xấu.

Hôm qua, bà đã tới nhà thờ để chứng kiến người ta chôn Nel xuống đất. Trên thực tế - và đáng ra bà nên biết điều này - họ không làm thế. Tuy nhiên, bà đã được chứng kiến cô ta trượt vào lò thiêu, vậy nên hôm qua cũng có thể coi là một ngày đẹp. Ngay cả sự tuôn trào cảm xúc quá đà - bà đã khóc nức nở suốt buổi lễ, dù không hề mong muốn - cũng khiến bà phấn chấn.

Nhưng hôm nay sẽ là một ngày khốn kiếp. Bà đã cảm thấy nó ngay lúc thức dậy, không phải một sự hiện diện nào mà là sự trống vắng. Sự phấn chấn bà cảm thấy ban đầu, cảm giác mãn nguyện vì đã báo xong mối hận, đã dần phai nhạt. Và giờ, khi Nel đã hóa tro tàn, Louise chẳng còn lại gì. Chẳng có gì. Bà chẳng còn biết bấu víu vào đâu để mà đổ lỗi cho nỗi đau và sự khổ sở của mình, bởi vì Nel đã đi rồi. Và bà lo rằng rốt cuộc nơi duy nhất bà phải mang đau khổ của mình tới chính là nhà.

Về nhà với chồng và con bà. Vậy đấy. Hôm nay sẽ là một ngày khốn kiếp, nhưng ta sẽ phải đối mặt mà lườm đồ khốn kiếp ấy cho đến khi nó chịu khuất phục. Bà đã đi đến quyết định: đã đến lúc chuyển đi. Họ phải đi trước khi quá muộn.

Louise và chồng, Alec, đã tranh cãi về vấn đề này - kiểu tranh cãi lặng lẽ, vặt vãnh quen thuộc dạo gần đây của họ - cả tuần rồi. Alec cảm thấy tốt hơn hết nên chuyển đi trước khi học kỳ mới bắt đầu. Họ nên để cho Josh bắt đầu năm học ở trong một môi trường hoàn toàn mới, ông tranh luận, nơi không ai biết thằng bé là ai. Nơi nó sẽ không phải ngày ngày đương đầu với sự vắng mặt của người chị.

“Vậy thì thằng bé sẽ chẳng bao giờ nói chuyện về chị nó sao?” Louise hỏi.

“Nó sẽ nói về chị nó với chúng ta,” Alec đáp.

Họ đang đứng trong bếp, giọng họ gượng gạo và kìm nén. “Chúng ta phải bán ngôi nhà này và bắt đầu lại từ đầu,” Alec nói. “Anh biết,” ông nói, giơ cả hai bàn tay lên khi Louise định phản đối. “Anh biết đây là nhà của con bé.” Rồi ông ngập ngừng, đặt hai bàn tay to tướng, lốm đốm vết nám, lên quầy bếp. Ông bám chặt lấy nó như thể nó là phao cứu sinh. “Chúng ta phải bắt đầu lại, Lou, vì Josh. Nếu như chỉ có anh và em…”

Nếu như chỉ có họ, bà nghĩ, họ sẽ theo Katie vào trong dòng nước và kết thúc mọi chuyện. Họ có làm thế không? Bà không chắc Alec sẽ làm thế. Bà vẫn thường cho rằng chỉ có những người làm bố làm mẹ mới có thể hiểu được thứ tình yêu choán hết con người ta, nhưng giờ bà lại băn khoăn không biết có phải chỉ những người mẹ mới hiểu được không. Alec cảm thấy đau thương, tất nhiên, nhưng bà không chắc ông cảm thấy tuyệt vọng. Hoặc căm hận.

Vậy là những vết nứt đã bắt đầu xuất hiện trong một cuộc hôn nhân là những tưởng bất khả lay chuyển. Nhưng tất nhiên trước đây bà chẳng biết gì cả. Giờ thì nó đã trở nên hiển nhiên: không cuộc hôn nhân nào có thể sống sót qua mất mát này. Chuyện đó - rằng cả không ai trong bọn họ có thể ngăn con bé lại - sẽ vĩnh viễn chắn giữa họ. Tệ hơn nữa, rằng cả hai vợ chồng không ai từng nghi ngờ gì hết. Rằng họ đã lên giường và chìm vào giấc ngủ đến tận sáng và ngay cả khi phát hiện ra giường con bé trống không vẫn không mảy may tưởng tượng nổi rằng con bé đang ở trong dòng nước.

Không có hy vọng nào cho Louise, và chỉ có một ít, bà nghĩ, cho Alec, nhưng Josh thì khác. Cho tới cuối cuộc đời, Josh sẽ không một ngày nào nguôi nỗi nhớ người chị gái, nhưng nó có thể hạnh phúc: thằng bé sẽ hạnh phúc. Nó sẽ mang chị gái theo bên mình, nhưng nó cũng sẽ vẫn làm việc, du hành, yêu đương, sống. Và cơ hội tốt nhất dành cho nó chính là tránh xa khỏi nơi đây, tránh xa Beckford, tránh xa dòng sông. Louise biết chồng bà đã đúng về chuyện đó.

Đâu đó trong lòng, bà vốn đã biết rõ điều này, bà chỉ không sẵn lòng đối mặt với nó. Nhưng hôm qua, quan sát cậu con trai sau lễ tang, bà đã không thoát khỏi nỗi kinh hoảng. Khuôn mặt lo lắng, rúm ró của nó. Nó hơi tí là giật mình, e dè trước những âm thanh lớn, co rúm lại giữa đám đông như một con chó sợ hãi. Cái cách thằng bé không ngừng đánh mắt chăm chú nhìn bà, như thể nó đang biến trở lại hồi thơ ấu, không còn là một cậu chàng mười hai tuổi độc lập, mà chỉ là một đứa bé thiếu thốn tình cảm, hoảng sợ. Họ phải đưa nó rời khỏi nơi đây.

Tuy nhiên. Đây cũng là nơi Katie đã chập chững những bước đầu tiên, nói những từ đầu tiên, đã chơi trốn tìm, chơi nhào lộn quanh khu vườn, đã cãi lộn với em trai, sau đó lại dỗ dành, đã cười đã hát đã khóc đã chửi thề đã đổ máu và ngày ngày sau khi đi học về vẫn ôm chầm lấy mẹ.

Nhưng Louise đã ra quyết định. Giống như con gái mình, bà cũng là người kiên quyết, mặc dù cần rất nhiều quyết tâm mới được như vậy. Để đứng dậy khỏi bàn bếp, đi tới chân cầu thang rồi trèo lên các bậc thang, đặt bàn tay lên tay nắm cửa, đẩy ra, bước vào phòng của con bé lần cuối cùng. Bởi vì, nó mang lại cảm giác như thế đó. Đây là lần cuối cùng nó còn là phòng của con bé. Sau ngày hôm nay, nó sẽ biến thành một thứ khác.

Trái tim Louise là một khối gỗ; nó không đập, nó chỉ khiến bà đau đớn, cạo vào lớp mô mềm, cào rách tĩnh mạch và cơ, để máu tràn đầy ngực.

Ngày đẹp và ngày xấu.

Bà không thể bỏ mặc căn phòng như thế này. Dẫu khó có thể nghĩ đến việc đóng gói đồ đạc của Katie, cất hết quần áo của con bé, tháo những bức ảnh của con bé xuống khỏi tường, dọn dẹp sạch sẽ dấu vết của nó, che giấu nó khỏi tầm nhìn, nhưng thế vẫn chưa là gì so với việc nghĩ đến những người lạ sẽ ở trong đây. Chưa là gì so với việc tưởng tượng ra họ sẽ động chạm, họ sẽ tìm kiếm các manh mối, họ sẽ ngạc nhiên ra sao vì mọi thứ lại có vẻ bình thường đến thế, Katie lại có vẻ bình thường đến thế. Con bé ư? Chắc chắn không phải đấy chứ? Chắc chắn con bé không thể là người đã chết đuối được.

Vậy nên Louise sẽ làm điều này: bà sẽ dọn dẹp mọi đồ dùng học tập khỏi bàn và nhặt cây bút từng nằm yên trong nắm tay Katie. Bà sẽ gấp cái áo phông mềm màu xám Katie từng mặc để đi ngủ, bà sẽ dọn giường của con bé. Bà sẽ cầm đôi hoa tai màu xanh dương mà người dì Katie yêu quý nhất đã tặng con bé nhân sinh nhật thứ mười bốn rồi cất gọn vào trong hộp nữ trang. Bà sẽ lấy cái va li to màu đen xuống khỏi nóc cái tủ ngoài hành lang, và sẽ cất hết quần áo của Katie vào đó.

Bà sẽ làm thế.

Bà đang đứng giữa phòng, nghĩ đến toàn bộ chuyện này, thì nghe thấy một tiếng động đằng sau, và bà quay lại, thấy Josh đang đứng ở ngưỡng cửa, quan sát bà.

“Mẹ?” Thằng bé trắng bệch như một con ma, giọng nghẹn lại trong cổ họng. “Mẹ đang làm gì vậy?”

“Chẳng có gì đâu, con yêu, mẹ chỉ..” Bà bước một bước về phía con trai, nhưng thằng bé đã lùi lại.

“Mẹ định… Mẹ định dọn phòng chị ấy bây giờ à?”

Louise gật đầu. Giọng Josh nghẹn lại. “Mẹ định cho hết đi à?”

“Không đâu, con yêu.” Bà tới bên con và với tay vuốt món tóc mềm mại trên trán nó. “Chúng ta sẽ giữ lại hết. Chúng ta sẽ không đem cho cái gì cả.”

Josh có vẻ lo lắng. “Nhưng lẽ ra mẹ nên đợi bố chứ? Lẽ ra bố phải ở đây chứ? Lẽ ra mẹ không nên làm chuyện này một mình.”

Louise mỉm cười với thằng bé. “Mẹ chỉ khởi động thôi,” bà nói, cố gắng tươi tỉnh hết sức. “Mẹ cứ tưởng sáng nay con đến nhà Hugo rồi chứ, vậy nên…” Hugo là bạn Josh, có lẽ là người bạn đích thực duy nhất của nó. (Không ngày nào Louise không cảm tạ trời đất vì sự hiện hữu của Hugo cùng gia đình Hugo, những người luôn đón nhận Josh bất cứ khi nào nó cần trốn tránh thực tại.)

“Con đi rồi, nhưng con quên điện thoại nên đã quay về lấy.” Josh giơ điện thoại lên cho bà thấy.

“Ừ,” bà nói. “Chàng trai ngoan. Con có định ở đấy ăn trưa không?”

Josh gật đầu, và nó cố gắng mỉm cười, rồi nó rời đi. Bà đợi cho đến khi nghe thấy tiếng của chính đóng rầm lại rồi mới ngồi xuống giường và cho phép bản thân khóc cho thỏa lòng.

Trên chiếc bàn đầu giường, có một dây buộc tóc cũ, đã bị rão và xơ ướp thành ra gần như chỉ còn là một sợi dây, vài sợi tóc đen dài óng ả của Katie vẫn còn quấn vào nó. Louise nhặt nó lên lật đi lật lại trong hai bàn tay, buộc chặt nó lại giữa các ngón tay. Bà giơ nó lên áp vào mặt. Bà đứng dậy và đi tới chỗ bàn trang điểm, mở hộp đựng nữ trang bằng thiếc có hình trái tim ra rồi cất sợi dây buộc tóc vào bên trong. Nó sẽ được giữ lại đó cùng với hoa tai và vòng tay của con bé - sẽ không có gì bị vứt đi, mọi thứ sẽ đều được giữ lại. Không phải ở đây, mà một nơi nào đó, nó sẽ du hành cùng họ. Không một phần nào của Katie, không có gì con bé từng chạm qua, sẽ phải héo hon chờ đợi trên một cái giá đồ từ thiện bụi bặm nào đó.

Cổ Louise đang đeo sợi dây chuyền Katie từng đeo lúc con bé qua đời, một sợi dây bạc xỏ một chú chim sơn ca tí hon. Louise thấy buồn bực vì con gái đã chọn đúng cái món nữ trang ấy. Louise không ngờ con bé lại thích nó. Nó không giống như đôi hoa tai vàng trắng mà vợ chồng bà tặng con bé nhân dịp sinh nhật lần thứ mười ba (đôi này nó rất mê!), cũng không giống như chiếc vòng tết dây tình bạn (“chiếc vòng chị em”) Josh đã mua cho nó (bằng tiền riêng của thằng bé!) vào kỳ nghỉ cuối cùng của họ tới Hy Lạp. Louise không sao hiểu nổi tại sao Katie lại chọn món này - một món quà của Lena, một người dường như không còn đặc biệt thân thiết với con bé, con chim được khắc chữ (cực kỳ không giống phong cách của Lena) cùng với tình yêu.

Con bé không mang món nữ trang nào khác. Quần jean, áo jacket, quá nóng cho một tối mùa hè, các túi quần túi áo chất đầy đá. Ba lô của nó cũng chất nặng tương tự. Khi người ta tìm thấy nó, bao quanh nó là hoa, nhiều bông vẫn còn được giữ chặt trong nắm tay nó. Giống Ophelia. Giống bức tranh trên tường nhà Nel Abbott.

Mọi người vẫn bảo thật là hời hợt - nói nhẹ nhất thì là vậy, còn nặng nhất thì phải là thật lố bịch và tàn nhẫn - nếu đổ lỗi cho Nel Abbott vì chuyện xảy ra với Katie. Chỉ bởi vì Nel viết về vùng sông, nói về vùng sông, chụp ảnh ở đó, tiến hành các cuộc phỏng vấn, gửi các bài báo được đăng trên tờ báo địa phương, từng có lần nói về nó trên một chương trình truyền thanh của BBC, chỉ bởi vì cô ta nhắc đến những từ “địa điểm tự tử”, chỉ bởi vì cô ta nói về những “người bơi” yêu dấu của cô ta với vai trò những nhân vật nữ chính lãng mạn, sáng chói, với vai trò những phụ nữ dũng cảm đã gặp gỡ cái kết thanh thản của cuộc đời tại chốn đẹp đẽ đã được chọn lựa của họ, chỉ bởi vì thế thì không thể gán trách nhiệm cho cô ta được.

Nhưng Katie đã không treo mình lên phía sau cánh cửa phòng ngủ, không cắt cổ tay hay nốc một vốc thuốc đầy. Con bé đã chọn vùng sông. Chuyện lố bịch đích thực là phớt lờ điều đó, phớt lờ bối cảnh, phớt lờ việc có những người - những người trẻ tuổi, những người nhạy cảm - dễ dàng bị dẫn dắt đến mức nào. Những thanh thiếu niên - những đứa con ngoan ngoãn, thông minh, tử tế - trở nên bị đầu độc bởi các ý tưởng. Louise đã không hiểu tại sao Katie lại làm điều con bé đã làm, bà cũng sẽ không bao giờ hiểu được, nhưng bà biết rằng hành động của nó không được thực hiện một mình.

Chuyên gia tư vấn về nỗi đau bà gặp trong có hai buổi điều trị đã bảo bà là đừng nên truy tìm lý do làm gì. Rằng bà sẽ chẳng bao giờ có thể trả lời được câu hỏi đó, rằng không ai có thể; rằng trong nhiều trường hợp, người ta tự chấm dứt cuộc đời của họ mà chẳng có một lý do nào hết, cuộc sống chỉ là không đơn giản như thế. Louise, trong con tuyệt vọng, đã chỉ ra rằng Katie không hề có quá khứ tuyệt vọng nào cả, con bé không bị bắt nạt (họ đã nói chuyện với nhà trường, họ đã kiểm tra một lượt email của nó, Facebook của nó, họ chẳng tìm thấy bất cứ gì khác mà chỉ tuyền yêu thương). Nó xinh đẹp, nó học hành giỏi giang ở trường, nó có tham vọng, có mục tiêu. Nó không hề bất hạnh. Thỉnh thoảng chán chường hoảng hốt, thường xuyên kích động. Rầu rĩ. Mười lăm tuổi mà. Trên hết, nó không hay giấu giếm. Nếu gặp rắc rối, nó sẽ kể với mẹ. Nó kể với mẹ tất cả mọi chuyện, luôn luôn thế. “Con bé chẳng giấu tôi điều gì,” Louise nói với chuyên gia tư vấn, và bà nhìn thấy ông ta tránh mắt không nhìn mặt bà.

“Bậc phụ huynh nào cũng nghĩ thế,” ông ta khẽ khàng nói, “và tôi e rằng bậc phụ huynh nào cũng đều nhầm cả.”

Sau lần đó, Louise không gặp lại chuyên gia tư vấn nữa, nhưng đã có sự tổn thương rồi. Một vết nứt đã xuất hiện và cảm giác tội lỗi đã rỉ ra, ban đầu chỉ là một tia nhỏ nhưng rồi sau đó là cả một trận lũ. Bà đã không hiểu con gái. Chính bởi vậy, sợi dây chuyền mới khiến bà phiền lòng đến thế, không chỉ vì nó là món quà của Lena, mà còn vì nó đã trở thành một biểu tượng cho hết thảy những điều bà không hiểu không biết về cuộc sống của con gái bà. Càng nghĩ về chuyện đó, bà càng tự trách mình: vì đã quá bận rộn, vì đã quá tập trung vào Josh, vì đã hoàn toàn thất bại trong việc bảo vệ con mình.

Con triều tội lỗi cứ dâng lên mãi và chỉ có duy nhất một cách để bà giữ cho đầu ở cao hơn nó, tránh khỏi chết đuối, và đó chính là phải tìm cho ra một lý do, để chỉ nó ra, để nói, Đấy thấy chưa. Chính là nó đấy. Con gái bà đã làm một lựa chọn vô nghĩa, nhưng các túi quần túi áo chất đầy đá và hai tay nắm hoa: lựa chọn đó có bối cảnh. Bối cảnh đó đã được cung cấp bởi Nel Abbott. Louise đặt cái va li màu đen lên giường, mở tủ quần áo ra và bắt đầu tháo quần áo của Katie ra khỏi các móc treo: chiếc áo phông sáng màu của nó, chiếc váy mùa hè của nó, cái áo có mũ màu hồng rực nó đã mặc suốt mùa đông năm ngoái. Tầm nhìn của bà nhòe đi và bà cố gắng nghĩ đến điều gì đó để ngăn nước mắt khỏi rơi, bà cố tìm một hình ảnh nào đó để găm con mắt tâm trí mình vào đó, và bởi vậy bà nghĩ đến thi thể Nel, bị bầm giập trong dòng nước, và bà lấy ra từ nó niềm an ủi nhiều nhất có thể.

Sean

Tôi bị đánh thức bởi tiếng một phụ nữ đang réo gọi, một âm thanh tuyệt vọng, xa xăm. Tôi cứ chắc mẩm mình đã mơ thấy nó, nhưng rồi tôi giật mình tỉnh hẳn bởi tiếng đập mạnh, ầm ĩ, gần ngay bên cạnh, xộc thẳng vào tôi, và có thật. Ai đó đang ở cửa chính.

Tôi vội vã thay quần áo và chạy xuống nhà dưới, liếc nhìn chiếc đồng hồ trong bếp trên đường đi qua đó. Mới vừa qua nửa đêm - tôi cùng lắm mới ngủ được nửa tiếng. Tiếng nện ầm ầm ở cửa vẫn dai dẳng và tôi có thể nghe thấy một phụ nữ đang gọi tên tôi, một giọng nói tôi thấy quen nhưng mất một lúc vẫn không thể xác định được là ai. Tôi mở cửa.

“Anh có thấy cái này không?” Louise Whittaker đang hét lên với tôi, mặt đỏ gay và giận dữ. “Tôi đã bảo anh rồi, Sean! Tôi đã bảo anh là có chuyện gì đó mà!” Cái này mà bà ta vừa nhắc đến là một lọ nhựa màu cam, kiểu lọ ta thường đựng thuốc kê theo đơn, và ở trên thành lọ có một cái nhãn, với một cái tên. Danielle Abbott. “Tôi đã bảo anh rồi mà!” bà ta nhắc lại, và rồi bà ta òa khóc nức nở. Tôi vội dẫn bà ta vào trong nhà - lúc này đã quá khuya. Trước khi đóng cửa phòng bếp, tôi đã nhìn thấy có ánh điện trong phòng ngủ tầng trên bên ngôi nhà của bố tôi.

Mất một lúc mới hiểu được Louise đang nói với tôi chuyện gì. Bà ta đang kích động, câu cú lộn xộn và chẳng có nghĩa lý gì hết. Tôi phải lần lần từng bước, gỡ rối thông tin từ bà ta, những câu từ giận dữ, hổn hển, nghe câu được câu chăng. Vậy là cuối cùng họ đã quyết định rao bán ngôi nhà. Trước khi bắt đầu cho khách mua xem nhà, bà ta quyết định dọn dẹp phòng ngủ của Katie. Bà ta không muốn để cho người lạ sục sạo ở đó, sờ mó vào đồ ở đạc của cô con gái. Bà ta đã bắt tay vào dọn dẹp lúc chiều nay. Trong lúc đóng gói quần áo của Katie, bà ta đã tìm thấy cái lọ màu cam. Bà ta đang tháo một cái áo khoác ra khỏi móc treo, cái áo màu xanh, một trong những chiếc áo Katie ưa thích nhất. Bà ta nghe thấy tiếng lạo xạo. Bà ta bèn thọc tay vào trong túi áo và phát hiện ra lọ thuốc. Bà ta bị sốc, thậm chí càng sốc hơn nữa khi nhìn thấy cái tên trên lọ là của Nel. Bà ta chưa nghe thấy tên thuốc này bao giờ - Rimato, nhưng bà ta đã tìm kiếm trên Internet và phát hiện ra đó là một loại thuốc giảm cân. Thuốc này vẫn chưa được lưu hành hợp pháp ở Vương quốc Anh. Các nghiên cứu tại Mỹ cho thấy việc dùng thuốc có thể làm nảy sinh tâm trạng chán chường và các suy nghĩ tự tử.

“Anh đã bỏ sót nó!” bà ta kêu lên. “Anh đã bảo với tôi trong máu con bé chẳng có gì hết. Anh đã bảo Nel Abbott không liên quan gì đến chuyện này. Nhưng đây này” - bà ta giống nắm đấm lên bàn, khiến cái lọ nảy bật lên không - “xem đi! Cô ta đã cung cấp thuốc cho con gái tôi, thứ thuốc nguy hiểm này. Ấy vậy mà anh lại để cô ta lọt lưới.”

Kể ra thì cũng lạ thật, nhưng suốt trong lúc bà ta nói đến việc này, suốt trong lúc bà ta công kích tôi, tôi lại thấy nhẹ cả người. Bởi vì bây giờ đã có lý do rồi đây. Nếu Nel đã cung cấp thuốc cho Katie, vậy thì chúng tôi có thể chỉ ra chuyện đó, và nói, Xem đi, đấy, lý do chuyện đó xảy ra đấy. Lý do khiến một thiếu nữ hạnh phúc, xuất sắc đã mất mạng đấy. Lý do khiến hai người phụ nữ mất mạng đấy.

Chuyện đó mới khiến tôi khuây khỏa làm sao, nhưng đó cũng là một sự dối trá. Tôi biết rõ đó là sự dối trá. “Xét nghiệm máu của cô bé âm tính, Louise ạ.” tôi nói. “Tôi không biết cái này… cái Rimato này duy trì được bao lâu. Tôi không biết nó lưu lại trong cơ thể bao lâu. Chúng ta còn chẳng biết liệu cái này có đúng là Rimato không, nhưng…” tôi đứng dậy, lấy một cái túi ziplock từ tủ bếp chìa ra cho Louise. Bà ta nhặt cái lọ lên khỏi bàn và thả nó vào trong túi. Tôi đóng kín cái túi lại. “Chúng ta có thể tìm ra.”

“Và đến lúc đó chúng ta sẽ biết,” bà ta nói, hổn hển hớp không khí lần nữa.

Sự thực là, chúng tôi sẽ chẳng biết được đâu. Kể cả khi có dấu hiệu của thuốc trong cơ thể cô gái, kể cả khi chúng tôi đã bỏ sót mất gì đó, nó cũng chẳng nói lên điều gì chắc chắn với chúng tôi.

“Tôi biết giờ cũng quá muộn rồi,” Louise nói, “nhưng tôi muốn mọi người biết chuyện này. Tôi muốn tất cả mọi người đều biết Nel Abbott đã làm gì… Lạy Chúa, có khi cô ta còn đưa thuốc cho cả những đứa con gái khác ấy chứ… Anh phải kể cho vợ anh biết - với tư cách hiệu trưởng, cô ấy cần phải biết có người đang bán cái thứ chết tiệt này trong trường của cô ấy. Các anh cần phải lục soát các tủ để đồ, các anh phải…”

“Louise,” tôi ngồi xuống cạnh bà ta, “cứ từ từ. Tất nhiên chúng ta sẽ nghiêm túc xem xét chuyện này - chúng ta sẽ làm thế - nhưng chúng ta không thể biết được tại sao Katie lại có cái lọ này. Rất có khả năng Nel Abbott mua thuốc cho chính cô ấy dùng…”

“Cái gì? Anh đang nói cái gì? Rằng Katie đã lấy trộm nó à? Sao anh dám suy đoán như thế chứ, Sean! Anh biết rõ con bé…”

Cánh cửa bếp kêu lạch cạch - nó rất hay bị kẹt, nhất là sau khi trời mưa - và mở bung ra. Đó là Helen, trông cô có vẻ lôi thôi trong chiếc quần thể thao và áo phông, tóc chưa chải. “Có chuyện gì vậy? Louise, chuyện gì vậy?”

Louise lắc đầu, nhưng không nói gì. Bà ta lấy hai tay bưng mặt.

Tôi đứng dậy bảo Helen. “Em cứ về giường đi,” tôi nói, giữ nhỏ giọng. “Không có gì đáng lo đâu.”

“Nhưng…”

“Anh chỉ cần nói chuyện với Louise một lát. Ổn cả mà. Em cứ lên tầng đi.”

“Được rồi,” cô nói giọng cảnh giác, liếc nhìn người phụ nữ đang khẽ thổn thức bên bàn bếp nhà chúng tôi. “Nếu anh chắc chắn…”

“Anh chắc chắn đấy.”

Helen lặng lẽ rời khỏi bếp, đóng cửa lại sau lưng. Louise lau nước mắt. Bà ta đang nhìn tôi với ánh mắt kỳ quái, có lẽ đang băn khoăn không biết Helen đã ở đâu. Lẽ ra tôi có thể giải thích: cô ấy ngủ không ngon, bố tôi cũng bị chứng mất ngủ, thỉnh thoảng họ vẫn ngồi với nhau, chơi trò giải ô chữ, nghe radio. Lẽ ra tôi có thể giải thích, nhưng cái viễn cảnh ấy đột nhiên trở nên thật mệt mỏi, vậy nên thay vào đó tôi nói, “Tôi không nghĩ là Katie ăn trộm cái gì hết, Louise ạ. Tất nhiên tôi không nghĩ thế. Nhưng con bé có thể… Tôi không biết nữa, đã lấy chúng trong lúc lơ đễnh. Có khi con bé tò mò. Bà nói thuốc ở trong túi áo khoác hả? Biết đâu con bé đã tiện tay cầm rồi quên béng mất.”

“Con gái tôi không bao giờ lấy đồ từ nhà người khác.” Louise cáu kỉnh, và tôi gật đầu. Tranh cãi về chuyện này chẳng nghĩa lý gì.

“Tôi sẽ xem xét việc này, việc đầu tiên sẽ làm trong ngày mai. Tôi sẽ gửi chúng đến phòng thí nghiệm, và chúng tôi sẽ xem lại lần nữa kiểm tra mẫu máu của Katie. Nếu tôi bỏ sót điều gì, Louise…”

Bà ta lắc đầu. “Tôi cũng biết việc này chẳng thay đổi được gì hết. Tôi biết nó sẽ chẳng thể mang con bé quay trở lại,” bà ta lặng lẽ nói. “Nó sẽ chỉ giúp tôi thôi. Giúp tôi hiểu được.”

“Tôi hiểu. Tất nhiên tôi hiểu. Bà có muốn tôi lái xe chở về nhà không?” tôi hỏi bà ta. “Còn xe bà thì sáng mai tôi sẽ mang qua trả.”

Bà ta lại lắc đầu và run run mỉm cười với tôi. “Tôi ổn mà,” bà ta nói. “Cảm ơn anh.”

Tiếng vọng lời cảm ơn của bà ta - không có lý do xác đáng, không hề xứng đáng - ngân rung trong bầu không thinh lặng sau khi bà ta đã rời đi. Tôi cảm thấy thật khổ sở, và không khỏi thấy dễ chịu hơn khi nghe tiếng bước chân của Helen vang trên cầu thang, dễ chịu hơn vì tôi không phải ở một mình.

“Có chuyện gì vậy?” cô hỏi tôi lúc bước vào trong bếp. Cô có vẻ nhợt nhạt và mệt mỏi, những bọng mắt sưng lên bên dưới mắt. Cô ngồi xuống bên bàn và với tay tôi. “Louise làm gì ở đây vậy?”

“Bà ta tìm thấy một thứ,” tôi nói. “Một thứ bà ta cho rằng có thể liên quan tới chuyện đã xảy ra với Katie.”

“Ôi, lạy Chúa, Sean. Gì vậy?”

Tôi phùng má lên. “Đúng ra thì anh không nên… Có lẽ không nên thảo luận chi tiết về chuyện này.” Cô gật đầu và siết tay tôi. “Em nói xem, lần gần đây nhất em tịch thu chất kích thích ở trường là khi nào?”

Cô cau mày. “Chậc, thằng nhóc đó, Watson - Iain - đã bị tịch thu một ít cần sa hồi cuối học kỳ, nhưng trước đó… Ờ, một thời gian dài không có chuyện gì. Không có gì trong một thời gian dài. Còn vụ Liam Markham thì từ tận hồi tháng Ba.”

“Nó là thuốc viên phải không nhỉ?”

“Vâng, thuốc lắc - hay dù sao đi nữa cũng là một thứ gì đó gây kích thích hưng phấn, và Rohypnol. Cậu ta đã bị đuổi học.”

Tôi vẫn lờ mờ nhớ vụ này, mặc dù nó không phải là kiểu vụ việc tôi sẽ trực tiếp tham gia. “Kể từ hồi đó không có gì hết à? Em không tình cờ thấy viên thuốc giảm cân nào à?”

Cô nhướng một bên lông mày. “Không. Dù sao đi nữa thì cũng không có gì thuộc dạng bất hợp pháp. Vài đứa con gái dùng những viên thuốc màu xanh ấy - chúng gọi nó là gì ấy nhỉ? Alli, hình như vậy. Thuốc đấy mua không cần đơn mà, mặc dù em không nghĩ là họ được phép bán loại này cho trẻ vị thành niên.” Cô chun mũi. “Thuốc này làm bọn chúng bị đầy hơi nặng, nhưng có vẻ như đấy là một cái giá có thể chấp nhận được để đổi lấy một khe đùi.”

“Đổi lấy cái gì cơ?”

Helen đảo tròn mắt nhìn tôi. “Một khe đùi! Tất cả bọn chúng đều muốn có đôi chân gầy gò đến độ phần trên cùng ở hai bên đùi không chạm vào nhau. Thực lòng mà nói, Sean ạ, nhiều khi em cứ tưởng anh đang sống ở hành tinh khác ấy.” Cô lại siết chặt tay tôi. “Nhiều khi em chỉ ước sao được sống ở đó cùng anh.”

Chúng tôi cùng nhau lên giường lần đầu tiên sau một thời gian dài, nhưng tôi không thể chạm vào cô ấy. Không thể, sau những gì tôi đã làm.

THỨ TƯ, 19 THÁNG TÁM **

* * *

*Erin*

Mất tầm năm phút, tay cảnh sát kỹ thuật hình sự râu rậm đã tìm thấy email đặt hàng thuốc giảm cân trong mục thư rác của Nel Abbott. Theo như ông ta tìm hiểu, cô ta chỉ mua thuốc có một lần, tất nhiên trừ phi cô ta có một tài khoản email khác không còn hoạt động nữa.

“Kỳ quá, nhỉ?” một cảnh sát nói, một người thuộc nhóm đứng tuổi hơn mà tôi chẳng buồn hỏi tên làm gì. “Cô ta gầy đến thế cơ mà. Ai mà nghĩ được là cô ta lại cần đến chúng chứ. Cô em gái ấy, cô đấy mới béo.”

“Jules hả?” tôi hỏi. “Cô ấy có béo đâu.”

“À ừ, giờ thì không, nhưng cô phải nhìn thấy cô nàng ấy hồi xưa cơ.” Ông ta bắt đầu cười phá lên. “Một con bò cái tơ đấy.”

Mẹ kiếp, càng hấp dẫn chứ sao.

Từ lúc Sean kể cho tôi về vụ thuốc, tôi vẫn đào bới thông tin về Katie Whittaker. Chuyện đã tương đối rõ ràng, mặc dù câu hỏi tại sao vẫn đang lù lù - như thường thấy trong đa số trường hợp. Bố mẹ con bé không mảy may hoài nghi đang có gì không ổn. Các giáo viên cho biết có lẽ con bé hơi mất tập trung, có lẽ hơi khép mình hơn thường lệ, nhưng không có bất kỳ dấu hiệu đáng báo động nào. Xét nghiệm máu của con bé bình thường. Con bé không có tiền sử ngược đãi bản thân.

Vấn đề duy nhất - và nó cũng chẳng đáng để gọi là vấn đề - là mối bất hòa được đồn thổi với người bạn thân, Lena Abbott. Vài bạn học của Katie khai là Lena và Katie đã bất đồng ý kiến về chuyện gì đó. Louise, mẹ của Katie, nói rằng hai đứa ít gặp nhau hơn, nhưng bà ta không nghĩ là có vụ cãi cọ nào cả. Nếu có, bà ta bảo, Katie hẳn đã phải nhắc đến rồi. Trước đây hai đứa cũng từng giận dỗi nhau - bọn con gái vẫn thế mà - và lần nào Katie cũng kể thật với mẹ. Và trước đây, lần nào hai đứa cũng sẽ hôn nhau và làm hòa. Có lần, sau một vụ cãi cọ, Lena còn áy náy đến mức tặng hẳn một sợi dây chuyền cho Katie.

Tuy nhiên mấy đứa bạn cùng trường - Tanya Gì Đó và Ellie Gì Đó Khác - bảo rằng lần này có chuyện nghiêm trọng, mặc dù chúng không thể nói được chuyện nghiêm trọng đó là gì. Điều duy nhất chúng biết là khoảng một tháng trước khi Katie chết, con bé và Lena đã có một “cuộc tranh cãi nảy lửa”, theo cách chúng gọi, dẫn đến động tay động chân mà cuối cùng phải nhờ đến một giáo viên thì hai đứa mới tách nhau ra được.

Lena kịch liệt phủ nhận chuyện này, tuyên bố Tanya và Ellie vốn có ác cảm với nó và rằng hai đứa kia chỉ đang cố gây rắc rối cho nó mà thôi. Louise thì chắc chắn chưa bao giờ nghe nhắc đến vụ cãi lộn này, còn giáo viên liên quan - Mark Henderson - khai rằng đấy còn chẳng phải một cuộc đánh lộn hẳn hoi. Hai đứa chỉ vật nhau ra đùa giỡn thôi, anh ta nói. Nháo hết cả lên. Vì mấy đứa ầm ĩ quá nên anh ta đã bảo chúng nhỏ tiếng lại. Chuyện chỉ có thế thôi.

Tôi đã lướt qua thông tin này khi đọc hồ sơ của Katie, nhưng rồi tôi không ngừng lăn tăn về nó. Cảm giác như có gì có không phù hợp. Hai thiếu nữ vật nhau ra đùa giỡn ư? Chuyện này thì có vẻ như bọn con trai hay làm hơn mới phải. Có lẽ tôi đã chủ quan hóa sự phân biệt giới tính hơn mức tôi muốn thừa nhận. Chỉ có điều tôi đã nhìn ảnh chụp mấy em gái này - xinh đẹp, điềm đạm, đặc biệt Katie ăn mặc vô cùng chải chuốt - và theo như tôi thấy, chúng chẳng giống mấy với những đứa thích vật nhau ra để đùa giỡn.

Lúc đậu xe bên ngoài nhà Cối Xay, tôi nghe có tiếng động bên ngước nhìn lên. Lena đang vươn người ra từ một khung cửa sổ ở tầng trên, tay cầm điếu thuốc lá.

“Chào Lena” tôi gọi to. Con bé không nói gì, nhưng, rõ ràng là cố ý, nhằm vào tôi mà búng đầu mẩu thuốc lá. Rồi nó lùi vào trong, đóng sầm cửa sổ lại. Tôi không mảy may tin vào chuyện vật lộn đùa giỡn: tôi cho rằng một khi Lena Abbott đã ẩu đả thì nó sẽ để cho ra trò.

Jules mời tôi vào trong, lo lắng liếc nhìn qua vai tôi khi mở cửa.

“Mọi chuyện ổn cả chứ?” tôi hỏi. Cô trông đến là kinh: phờ phạc, xám xịt, mắt lờ đờ, tóc bết lại.

“Tôi không ngủ được,” cô nói khẽ. “Dường như tôi không sao nhắm mắt ngủ được.”

Cô nặng nề lê chân xuyên qua căn bếp, bật ấm đun nước và ngồi sụp xuống bên bàn. Cô gợi tôi nhớ đến chị gái tôi lúc vừa sinh đôi được ba tuần - cơ hồ chẳng còn đủ sức để ngẩng đầu lên.

“Có khi cô đi khám đi, để bác sĩ kê cho thuốc gì đó,” tôi đề xuất, nhưng cô lắc đầu.

“Tôi cũng không muốn ngủ quá sâu,” cô nói, đôi mắt mở to, khiến cô có vẻ hơi man dại. “Tôi cần tỉnh táo.”

Suýt nữa tôi đã bảo là tôi từng thấy các bệnh nhân bị hôn mê còn tỉnh táo hơn cô nhiều, nhưng tôi không làm thế.

“Người tên Robbie Cannon mà cô từng hỏi,” tôi nói. Cô co rúm người lại và gặm một móng tay. “Chúng tôi đã tìm hiểu qua về anh ta. Cô đã nói đúng về chuyện anh ta là kẻ hung bạo - anh ta đã dính vài án bạo lực gia đình, chưa kể đến những vụ khác. Nhưng anh ta không liên quan đến cái chết của chị gái cô. Tôi đã tới Gateshead - nơi anh ta sinh sống - và nói chuyện với anh ta. Anh ta ở Manchester chăm con trai vào đêm Nel chết. Anh ta bảo nhiều năm nay vẫn không gặp lại chị gái cô, nhưng khi đọc được tin về cái chết của chị cô trên báo địa phương, anh ta đã quyết định sẽ đến đây viếng đám tang. Anh ta có vẻ tương đối bất ngờ vì chúng tôi hỏi anh ta về chuyện này.”

“Anh ta có…” Giọng cô nhỏ đến mức chỉ hơn một tiếng thì thầm. “Anh ta có nhắc đến tôi không? Hay Lena?”

“Không. Anh ta không nhắc gì. Sao cô lại hỏi thế? Anh ta đã ở đây à?” Tôi nhớ lại thái độ ngập ngừng của cô khi mở cửa ra vào, cách cô nhìn qua vai tôi như thể đang canh chừng ai đó.

“Không. Ý tôi là, tôi không nghĩ thế. Tôi không biết nữa.”

Cố gắng lắm tôi cũng chẳng thể tìm hiểu thêm gì về chủ đề này từ cô. Rõ ràng cô sợ anh ta vì một lý do nào đấy, nhưng cô không cho biết tại sao. Câu trả lời vẫn chưa làm tôi thỏa mãn, nhưng tôi đành để mặc nó thế, vì còn một vấn đề khó xử khác cần bàn đến.

“Có chuyện này hơi rầy rà,” tôi nói với cô. “Tôi e là chúng tôi cần lục soát căn nhà thêm lần nữa.”

Cô nhìn tôi, thất kinh. “Tại sao? Các cô đã phát hiện thấy gì à? Đã có chuyện gì vậy?”

Tôi giải thích về chuyện các viên thuốc.

“Ôi, lạy Chúa.” Cô nhắm chặt mắt lại và gục đầu xuống. Có lẽ sự mệt mỏi tột độ đã khiến phản ứng của cô trở nên trì độn, nhưng cô không có vẻ bất ngờ.

“Cô ấy đã mua chúng hồi tháng Mười một năm ngoái, vào ngày mười tám, từ một website Mỹ. Chúng tôi không tìm thấy thông tin về bất kỳ vụ mua bán nào khác, nhưng chúng tôi cần chắc chắn…”

“Được rồi,” cô nói. “Tất nhiên.” Cô lấy các đầu ngón tay lau mắt.

“Chiều nay vài cảnh sát sẽ đến. Thế được chứ?”

Cô nhún vai. “Chậc, nếu các cô buộc phải thế, nhưng tôi… Cô vừa bảo chị ấy mua chúng hôm nào nhỉ?”

“Ngày mười tám tháng Mười một,” tôi nói, kiểm tra lại ghi chép. “Sao vậy?”

“Chỉ là… đó là ngày kỷ niệm Ngày giỗ mẹ chúng tôi. Có vẻ như… Ôi, tôi không biết nữa.” Cô cau mày. “Thế thì có vẻ kỳ lạ thật, vì Nel thường gọi điện cho tôi vào ngày mười tám, và ngày này năm ngoái rất đáng nhớ vì chị ấy đã không gọi. Hóa ra chị ấy ở trong bệnh viện, vì phải mổ ruột thừa cấp. Có lẽ tôi chỉ thấy ngạc nhiên vì chị ấy lại đi dành thời gian mua thuốc giảm cân trong khi đang ở bệnh viện vì phải mổ cấp cứu. Cô chắc chắn là ngày mười tám chứ?”

Quay trở lại đồn, tôi kiểm tra với Râu Rậm. Tôi đã nói đúng ngày.

“Cô ta có thể đã mua chúng qua điện thoại,” Callie gợi ý. “Ở bệnh viện chán chết lên được.”

Nhưng Râu Rậm lắc đầu. “Không, tôi đã kiểm tra địa chỉ IP rồi - cho dù ai đã tiến hành cuộc mua bán này thì người đó cũng đã làm vào lúc bốn giờ mười bảy phút chiều và đã tiến hành trên một chiếc máy tính sử dụng thiết bị định tuyến ở nhà Cối Xay. Vậy nên phải là ai đó trong hoặc gần ngôi nhà. Cô có biết cô ta nhập viện lúc nào không?”

Tôi không biết, nhưng chẳng khó để tìm ra. Nel Abbott đã nhập viện lúc sáng sớm ngày mười tám tháng Mười một vì viêm ruột thừa cấp, đúng y như em gái cô ta đã nói. Cô ta ở lại bệnh viện suốt cả ngày hôm đó, và họ còn giữ cô ta lại qua đêm nữa.

Không thể có chuyện Nel đã mua thuốc. Chúng đã được mua bởi một người khác, sử dụng thẻ của cô ta, trong nhà cô ta.

“Lena,” tôi nói với Sean. “Hẳn phải là Lena.”

Anh ta gật đầu, vẻ mặt nghiêm trang. “Chúng ta sẽ phải nói chuyện với cô bé này.”

“Anh muốn làm ngay bây giờ không?” tôi hỏi anh ta và anh ta lại gật đầu.

“Không lúc nào phù hợp hơn hiện tại,” anh ta nói. “Không lúc nào phù hợp hơn ngay sau khi đứa trẻ vừa mất mẹ. Chúa ơi, đây đúng là một mớ bòng bong.”

Và mớ bòng bong còn rối beng hơn nữa. Chúng tôi đang trên đường rời khỏi văn phòng thì bị Callie, đang kích động quá mức, chặn lại.

“Dấu vân tay!” Cô nói không ra hơi. “Chúng ta đã tìm thấy dấu vân tay khớp rồi. Chậc, cũng không phải là khớp, bởi vì nó không khớp với dấu vân tay của bất kỳ ai đã ra trình diện, chỉ có điều…”

“Chỉ có điều sao?” viên thanh tra cáu kỉnh.

“Ai đó khôn ngoan đã quyết định ngó qua dấu vân tay trên lọ thuốc và so sánh nó với dấu vân tay trên máy quay - các anh chị biết đấy, cái máy bị hỏng ấy?”

“Có, chúng tôi vẫn nhớ cái máy quay bị hỏng.” Sean đáp.

“OK, vậy thì, chúng khớp nhau. Và đừng vội nói gì, nó không phải dấu vân tay của Nel Abbott, cũng không phải của Katie Whittaker. Một người khác đã động vào cả hai thứ ấy.”

“Louise,” Sean nói. “Hẳn là thế rồi. Louise Whittaker.”

Mark

Mark đang kéo khóa va li thì người cảnh sát xuất hiện. Lần này là một điều tra viên khác, một người phụ nữ khác, lớn tuổi hơn và không mấy xinh đẹp.

“Điều tra viên Erin Morgan,” cô nói trong lúc bắt tay anh ta. “Chúng ta nói chuyện một lát được chứ.”

Anh ta không mời cô vào trong. Nhà cửa đang bề bộn và anh ta không có tâm trạng để mà tỏ ra sốt sắng.

“Tôi đang đóng gói hành lý để đi nghỉ,” anh ta nói. “Tối nay tôi sẽ lái xe đến Edinburgh đón vợ chưa cưới. Chúng tôi định đi Tây Ban Nha vài ngày.”

“Không mất nhiều thời gian đâu” điều tra viên Morgan nói, ánh mắt săm soi của cô trượt qua vai anh ta nhìn vào bên trong nhà.

Anh ta kéo cửa ra vào lại. Họ nói chuyện trên bậc thềm trước nhà.

Anh ta đoán chắc lại là chuyện về Nel Abbott. Xét cho cùng, anh ta là một trong những người cuối cùng gặp cô ta còn sống. Anh ta đã gặp cô ta bên ngoài quán rượu, họ nói chuyện vài câu, anh ta thấy cô ta thẳng tiến về phía nhà Cối Xay. Anh ta đã chuẩn bị sẵn sàng cho cuộc nói chuyện đó. Anh ta không hề sẵn sàng cho cuộc nói chuyện này.

“Tôi biết anh đã nói về vấn đề này rồi, nhưng vẫn còn một vài điều chúng tôi cần làm rõ,” người phụ nữ nói, “về các sự kiện liên quan tới cái chết của Katie Whittaker.”

Mark cảm thấy mạch mình đập dồn dập hẳn. “Chuyện gì, ờ… về chuyện gì?”

“Theo như tôi hiểu thì anh đã buộc phải can thiệp vào một vụ cãi cọ giữa Lena Abbott và Katie, khoảng một tháng trước khi Katie chết?”

Cổ họng Mark dường như khô ran. Anh ta khó nhọc nuốt khan. “Đấy không phải một vụ cãi cọ,” anh ta nói. Anh ta giơ tay lên che mắt khỏi ánh mặt trời. “Tại sao… xin lỗi, tại sao chuyện này lại bị khơi lại vậy? Tôi tưởng cái chết của Katie đã được kết luận là tự tử…”

“Phải,” cô cảnh sát cắt ngang, “đúng là như vậy, và kết luận đó vẫn không thay đổi. Tuy nhiên, chúng tôi đã nhận thấy rằng có vẻ đã có, ờ, các tình tiết xung quanh cái chết của Katie mà lúc trước chúng tôi chưa biết và có thể cần đến một cuộc điều tra sâu hơn.”

Mark quay ngoắt lại, đẩy mở cánh cửa ra vào mạnh đến nỗi nó bật ngược lại về phía anh ta lúc anh ta bước vào trong hành lang. Cái ê tô đang siết chặt hộp sọ anh ta, tim anh ta đập thình thịch, anh ta phải tránh xa mặt trời.

“Anh Henderson? Anh ổn cả chứ?”

“Tôi không sao.” Hai mắt đã điều chỉnh quen với bóng tối của hành lang, anh ta quay lại lần nữa để nhìn cô. “Không sao. Hơi đau đầu ấy mà, chỉ có thế thôi. Ánh sáng chói chang, nó chỉ…”

“Có lẽ nên lấy cho anh một cốc nước nhỉ?” điều tra viên Morgan mỉm cười hỏi.

“Không cần,” anh ta đáp, nhận ra ngay trong lúc nói là giọng mình nghe rầu rĩ quá thể. “Không cần, tôi không sao.”

Sự im lặng bao trùm. “Vụ cãi vã thì sao, anh Henderson? Giữa Lena và Katie ấy?”

Mark lắc đầu. “Đấy không phải một vụ cãi vã… Hồi đó tôi đã nói với cảnh sát như vậy rồi. Không phải là tôi đã tách hai đứa ra. Không… ít nhất cũng không phải theo cái cách mọi người nghĩ. Katie và Lena rất thân nhau, chúng có thể dễ bị kích động và nói năng bạt mạng, đúng kiểu nhiều đứa con gái tầm tuổi đó - bọn trẻ tầm đó - có thể tỏ ra.”

Cô cảnh sát, vẫn đang đứng dưới ánh nắng trên bậc thềm trước nhà, giờ đã biến thành một hình dáng không mặt, một cái bóng. Anh ta thích nhìn cô theo cách kia hon.

“Một số giáo viên của Katie cho biết cô bé có vẻ mất tập trung, có lẽ hơi khép mình hơn so với thường lệ, trong nhiều tuần trước khi qua đời. Theo anh nhớ thì có đúng thế không?”

“Không,” Mark nói. Anh ta chậm chạp chớp mắt. “Không. Tôi không cho là thế. Tôi không cho là nó có gì thay đổi. Tôi không nhận thấy có gì khác biệt. Tôi không đoán được chuyện sắp xảy ra. Chúng tôi không ai trong chúng tôi khi ấy - đoán được chuyện sắp xảy ra.”

Giọng anh ta trầm, căng thẳng và cô cảnh sát đã để ý thấy. “Tôi xin lỗi vì đã khơi lại toàn bộ chuyện này,” cô nói. “Tôi hiểu là khủng khiếp thế nào…”

“Thật tình mà nói, tôi không cho là cô hiểu được đâu. Tôi đã gặp con bé hằng ngày. Nó trẻ trung, thông minh và… Nó là một trong những học sinh xuất sắc nhất của tôi. Tất cả chúng tôi đều rất… yêu quý nó.” Anh ta bị vấp lúc nói từ yêu quý.

“Tôi rất xin lỗi, thật lòng xin lỗi. Nhưng vấn đề là có một số tình tiết mới đã được phát hiện, và chúng tôi buộc phải tìm hiểu.”

Mark gật đầu, cố gắng nghe cô nói trong khi máu đang rần rật trong tai; cả người anh ta dường như lạnh toát, như thể vừa bị ai đó rót đẫm xăng lên.

“Anh Henderson, chúng tôi có cơ sở để cho rằng Katie có thể đã dùng chất kích thích, một loại thuốc được gọi là Rimato. Anh đã từng nghe đến nó chưa?”

Mark chăm chú nhìn cô. Giờ, anh ta chỉ muốn nhìn thấy mắt cô, anh ta muốn đọc được biểu cảm của cô. “Không… Tôi… Tôi tưởng họ đã bảo là nó không dùng chất gì hết? Hồi đó cảnh sát đã nói thế. Rimato à? Đó là cái gì vậy? Đó là… chất tiêu khiển à?”

Morgan lắc đầu. “Đó là thuốc giảm cân,” cô nói.

“Katie đâu có quá cân,” anh ta nói, ngay khi vừa thốt ra câu này đã nhận ra nó có vẻ mới ngớ ngẩn làm sao. Nhưng chúng vẫn nhắc đến nó suốt mà, phải vậy không nhỉ? Đám con gái tuổi teen ấy. Về cân nặng của chúng. Và không phải chỉ đám teen mới thế. Phụ nữ trưởng thành cũng vậy nữa. Vợ chưa cưới của tôi chẳng bao giờ ngừng nói về chuyện đó.”

Sự thật, mặc dù không phải toàn bộ sự thật. Bởi vì vợ chưa cưới của anh ta không còn là vợ chưa cưới của anh ta nữa, cô không còn than vãn với anh ta về cân nặng của cô nữa, cũng như không phải cô đang đợi anh ta qua đón để đồng hành với anh ta tới Málaga. Trong email cuối cùng của cô, được gửi cách đây vài tháng, cô đã cầu mong anh ta phải sống khổ sống sở, đã bảo với anh ta rằng cô sẽ không bao giờ tha thứ cho anh ta vì đã đối xử với cô như thế.

Nhưng điều anh ta từng làm có thật kinh khủng đến mức đó không? Nếu anh ta đúng là một gã đàn ông đáng sợ, một kẻ lạnh lùng, tàn nhẫn, độc ác, anh ta hẳn đã lừa gạt cô để giữ thể diện cho mình. Xét cho cùng, như thế sẽ có lợi cho anh ta mà. Nhưng anh ta không phải một gã đàn ông xấu xa. Chỉ có điều một khi đã yêu, anh ta sẽ yêu một cách trọn vẹn - và chuyện đó thì có cái quái gì không phải có chứ?

Sau khi cô cảnh sát đã đi khỏi, anh ta đi một vòng quanh nhà, mở các ngăn kéo, lục lọi giữa các trang sách, tìm kiếm. Tìm kiếm một thứ anh ta biết quá rõ sẽ không tìm ra được. Buổi tối sau ngày Hạ chí, giận dữ và hoảng loạn, anh ta đã đốt một đống lửa ở vườn sau nhà và ném lên đó những thiệp và thư từ, một cuốn sách. Những món quà khác. Giờ nếu nhìn ra ngoài cửa sổ hậu, anh ta vẫn có thể nhìn thấy nó, một khoảnh đất nhỏ cháy sém nơi anh ta đã diệt trừ mọi dấu vết của cô.

Lúc kéo mở ngăn kéo bàn trong phòng khách, anh ta biết đích xác anh ta sẽ nhìn thấy gì, vì đây không phải lần đầu tiên anh ta làm việc này. Anh ta đã tìm đi tìm lại xem có gì bị bỏ sót không, thỉnh thoảng trong sợ hãi còn thường là trong sầu nhớ. Nhưng anh ta đã rất cẩn thận trong buổi tối đầu tiên đó.

Còn nhiều bức ảnh, anh ta biết, trong văn phòng hiệu trưởng ở trường học. Một hồ sơ. Giờ đã khép lại rồi, nhưng còn được lưu giữ. Anh ta có chìa khóa khối quản lý và biết chính xác cần phải tìm ở chỗ nào. Và anh ta muốn một thứ, anh ta cần một thứ để mang theo. Đây không phải chuyện vặt vãnh, nó là chuyện cốt yếu, anh ta cảm thấy thế, bởi vì tương lai đột nhiên trở nên quá bấp bênh. Mãi đến bây giờ anh ta mới bắt đầu nghĩ đến nó, nhưng anh ta mơ hồ cảm thấy rằng một khi anh ta xoay chiếc chìa khóa ở cửa hậu, khóa căn nhà lại, có lẽ anh ta sẽ không bao giờ làm thế lần nữa. Có lẽ anh ta sẽ không quay trở lại. Có lẽ đã đến lúc để biến mất, để bắt đầu lại từ đầu.

Anh ta lái xe đến trường, đậu xe trong bãi đỗ vắng tanh. Thỉnh thoảng Helen Townsend vẫn làm việc ở đây trong lúc trường nghỉ học, nhưng hôm nay không thấy bóng dáng xe cô. Anh ta chỉ có một mình. Anh ta lẳng lặng vào trong tòa nhà và thẳng tiến qua phòng nhân viên để tới văn phòng của Helen. Cửa phòng cô đang đóng, nhưng khi thử xoay tay nắm cửa, anh ta nhận ra nó không khóa.

Anh ta đẩy cửa mở ra, hít vào trong buồng phổi mùi hóa chất giặt thảm kinh tởm. Anh ta băng qua phòng tới tủ hồ sơ và kéo ngăn trên cùng ra. Nó trống rỗng, còn ngăn bên dưới đã bị khóa. Anh ta nhận ra, trong nỗi thất vọng sâu sắc, rằng ai đó đã sắp xếp lại mọi thứ, rằng thực ra anh ta chẳng hề biết chính xác phải tìm nó ở đâu, rằng có lẽ chuyến đi này thật hoài công vô ích. Anh ta lao vọt ra ngoài hành lang để kiểm tra xem có phải anh ta vẫn đang ở một mình không - đúng vậy, chiếc Vauxhall màu đỏ của anh ta vẫn là chiếc xe duy nhất trong bãi đỗ - và rồi quay trở lại phòng hiệu trưởng. Cẩn thận không làm xáo trộn bất cứ thứ gì, anh ta lần lượt mở từng ngăn kéo bàn làm việc của Helen ra, tìm chùm chìa khóa mở tủ hồ sơ. Anh ta không tìm thấy nó, nhưng lại thấy một thứ khác: một món nữ trang rẻ tiền anh ta không thể tưởng tượng nổi Helen lại đeo. Một cảm giác quen thuộc mơ hồ đột ngột nảy ra trong tâm trí anh ta. Một chiếc vòng tay bạc với móc gài mã não, và các chữ cái được khắc lên trên SJA.

Anh ta ngồi nhìn nó chằm chằm một hồi lâu. Có mất cả đời anh ta cũng không thể nghĩ ra được việc nó ở đây có mang ý nghĩa gì. Nó chẳng nghĩa lý gì hết. Nó chẳng thể có nghĩa lý gì. Mark trả lại chiếc vòng vào trong bàn, từ bỏ cuộc tìm kiếm và quay trở về xe. Anh ta đã cắm chìa khóa định khởi động xe rồi thì đột nhiên nhớ ra chính xác anh ta từng nhìn thấy chiếc vòng tay này lần cuối cùng là khi nào. Anh ta đã nhìn thấy nó trên người Nel, bên ngoài quán rượu. Họ nói chuyện vài câu. Anh ta đã nhìn thấy cô ta thẳng tiến về phía nhà Cối Xay. Nhưng trước đó, trước khi cô ta bỏ anh ta lại, cô ta đã nghịch nghịch một thứ trên cổ tay trong lúc họ nói chuyện, và ở đó, nó đã ở đó. Anh ta bước ngược trở lại đoạn đường vừa rồi, quay trở lại văn phòng của Helen và mở ngăn tủ ra, cầm lấy chiếc vòng tay cất vào trong túi. Trong khi làm thế, anh ta đã biết nếu có ai hỏi tại sao, anh ta sẽ chẳng thể nào biện bạch được.

Cứ như thế, anh ta nghĩ, anh ta đang ở trong dòng nước sâu, như thể anh ta đang với lấy một cái gì đó, bất kỳ cái gì, cốt để cứu mạng mình. Cứ như thể anh ta đã vươn tay ra cố với một cái phao cứu sinh, nhưng thay vào đó lại tìm thấy đám rong rêu, và dù sao đi nữa anh ta vẫn cứ tóm chặt lấy chúng.

Erin

Thằng bé - Josh - đang đứng bên ngoài căn nhà khi chúng tôi đến, giống như một người lính gác nhỏ, nhợt nhạt và cảnh giác. Nó lịch sự chào viên thanh tra, với tôi thì nó nhìn bằng ánh mắt nhiều ngờ vực hơn. Nó đang cầm trong tay một con dao gấp Thụy Sĩ, các ngón tay bồn chồn chuyển động quanh lưỡi dao trong lúc nó hết mở ra lại gấp con dao vào.

“Mẹ cháu có nhà không, Josh?” Sean hỏi, và nó gật đầu.

“Sao Cô chú lại muốn nói chuyện với nhà cháu nữa vậy?” nó hỏi, giọng cao vút lên thành một tiếng rít chói tại. Nó hắng giọng.

“Cô chú chỉ muốn kiểm tra vài việc thôi,” Sean nói. “Không có gì đáng lo đâu.”

“Lúc ấy mẹ cháu ở trên giường,” Josh tuyên bố, hai mắt lướt từ mặt Sean sang mặt tôi. “Tối hôm đó ấy. Lúc ấy mẹ cháu đang ngủ. Cả nhà cháu đều đang ngủ.”

“Tối nào?” tôi hỏi. “Tối đó là tối nào,

Josh?” Nó đỏ bừng mặt và cụp mắt xuống nhìn hai bàn tay, nghịch nghịch con dao. Một cậu bé vẫn chưa học được cách nói dối.

Mẹ nó mở cánh cửa ra vào đằng sau nó. Bà ta nhìn từ tôi sang Sean và thở dài, đưa các ngón tay lên day day hai đầu lông mày. Khuôn mặt bà ta nhuộm màu trà nhạt và khi bà ta quay sang nói chuyện với cậu con trai, tôi để ý thấy lưng bà ta còng xuống, y như một bà cụ. Bà ta vẫy tay gọi nó lại gần, nhỏ giọng nói chuyện.

“Nhưng nhỡ Cô chú ấy muốn nói chuyện với cả con nữa thì sao?” tôi nghe thấy nó hỏi.

Bà ta đặt hai bàn tay lên vai nó vẻ chắc chắn. “Họ sẽ không cần đâu, con yêu,” bà ta nói. “Đi đi con.”

Josh gập con dao lại nhét vào túi quần jean, và trong suốt quá trình ấy, nó vẫn dán mắt vào tôi. Tôi mỉm cười và nó quay người bỏ đi, rảo bước dọc con đường nhỏ, chỉ liếc nhìn lại phía sau một lần khi mẹ nó kéo cánh cửa đóng lại sau lưng chúng tôi.

Tôi theo Louise và Sean vào trong một phòng khách rộng rãi, sáng sủa dẫn tới một phòng kính hình hộp hiện đại dường như khiến cho căn nhà nối liền một mảnh với khu vườn. Bên ngoài, tôi có thể nhìn thấy một cái chòi gỗ dựng trên bãi cỏ và đàn gà bantam, những con gà mái vàng, trắng, đen xinh xắn đang tha thẩn bới tìm thức ăn. Louise ra dấu mời chúng tôi ngồi xuống sofa. Bà ta hạ người ngồi xuống chiếc ghế bành đối diện, một cách chậm chạp và cẩn thận, y như một người đang hồi phục sau chấn thương, lo ngại thương tích sẽ nặng thêm..

“Vậy,” bà ta nói, hơi hếch cằm lên lúc nhìn Sean. “Anh chị có chuyện gì cần nói với tôi?”

Anh ta giải thích rằng xét nghiệm máu cho ra kết quả tương tự với lần xét nghiệm ban đầu: không có dấu vết của chất kích thích trong nội tạng của Katie.

Louise lắng nghe, lắc đầu rõ ràng không tin nổi chuyện này. “Nhưng các anh đâu biết được chất kích thích kiểu đó sẽ lưu lại trong nội tạng bao lâu, đúng không? Hay cần bao nhiêu thời gian để các ảnh hưởng của nó biểu hiện ra ngoài, hoặc để tan biến? Anh không thể cho qua chuyện này được, Sean…”

“Chúng tôi không cho qua gì hết, Louise,” anh ta nói giọng đều đều. “Tất cả những gì tôi đang nói với bà là kết quả chúng tôi tìm ra.”

Hiển nhiên rồi… chà, dù sao đi nữa, việc cung cấp chất kích thích phi pháp cho người khác - cho một đứa trẻ - chắc chắn là hành vi phạm tội nhỉ? Tôi biết…” Bà ta cà răng lên môi dưới. “Tôi biết đã quá muộn để trừng phạt cô ta rồi, nhưng cũng nên công khai nó chứ, anh không nghĩ vậy à? Việc cô ta đã làm ấy?”

Sean không nói gì. Tôi hắng giọng và Louise nhìn tôi chằm chằm trong lúc tôi bắt đầu nói.

“Từ những gì chúng tôi tìm hiểu được, bà Whittaker ạ, liên quan đến thời điểm mua thuốc, Nel không thể mua lọ thuốc đó được. Mặc dù thẻ tín dụng của cô ấy đã được sử dụng, nó…”

“Cô đang ám chỉ chuyện gì?” Giọng bà ta cao với lên giận dữ. “Giờ cô lại bảo là Katie đã lấy trộm thẻ tín dụng của cô ta à?”

“Không, không, tôi nói. “Tôi không nói gì kiểu…”

Vẻ mặt bà ta thay đổi hẳn khi sự thấu hiểu đột nhiên lóe lên trong óc. “Lena,” bà ta nói, ngả người về phía sau trên ghế, miệng mím chặt lại trong sự cam chịu dữ tợn. “Lena đã làm thế.”

Chúng tôi cũng không biết chắc, Sean giải thích, tuy nhiên chắc chắn chúng tôi sẽ hỏi con bé về chuyện đó. Thật ra, con bé đã có lịch đến đồn chiều nay. Anh ta hỏi Louise liệu bà ta có tìm thấy bất cứ thứ gì khác có liên quan trong số đồ đạc của Katie không. Louise phủ phàng gạt phắt vấn đề này đi. “Chỉ có thế thôi,” bà ta nói, ngả người về phía trước. “Các anh không hiểu được chuyện đó à? Các anh cứ kết hợp lọ thuốc đó với nơi này và với việc Katie dành quá nhiều thời gian ở nhà Abbott, bị bao quanh giữa cái đống tranh ảnh đó và những câu chuyện đó, và…” Bà ta dừng lại giữa chừng. Thậm chí chính bà ta cũng có vẻ không hoàn toàn thuyết phục bởi câu chuyện mình đang kể. Bởi vì kể cả khi bà ta đã đúng, và kể cả khi những viên thuốc kia đã khiến cho con gái bà ta lâm vào trầm cảm, chẳng có gì thay đổi được cái thực tế rằng bà ta đã không nhận thấy tất cả những điều ấy.

Tôi không nhắc đến điều đó, tất nhiên, bởi vì những câu hỏi tôi buộc phải đưa ra đã đủ gây khó lắm rồi. Louise đẩy người đứng dậy, tỏ rõ ý cuộc gặp của chúng tôi đã kết thúc, chờ đợi chúng tôi bỏ đi, và tôi phải ngăn bà ta lại.

“Còn một chuyện khác chúng tôi cần hỏi bà,” tôi nói.

“Ừ?” Bà ta vẫn đứng, hai cánh tay khoanh trước ngực.

“Không biết liệu bà có sẵn lòng cho chúng tôi lấy dấu vân tay của bà…”

Bà ta cắt ngang trước khi tôi kịp giải thích. “Để làm gì? Tại sao?”

Sean bứt rứt chuyển tư thế ngồi trên ghế. “Louise, chúng tôi đối chiếu thấy một dấu vân tay trên chiếc lọ bà đưa cho chúng tôi khớp với dấu vân tay trên một trong những chiếc máy quay của Nel Abbott, và chúng tôi cần xác minh tại sao. Chỉ có thế thôi.”

Louise lại ngồi xuống. “Chà, chúng có thể là của Nel,” bà ta nói. “Các anh không đoán ra được à?”

“Chúng không phải của Nel,” tôi đáp. “Chúng tôi đã kiểm tra rồi. Cũng không phải của con gái bà.”

Bà ta chùn lại khi nghe thấy câu này. “Tất nhiên chúng không phải của Katie rồi. Katie thì dính dáng gì đến cái máy quay chứ?” Bà ta bặm môi, với tay lên sợi dây chuyền đeo quanh cổ, kéo qua kéo lại con chim sơn ca nhỏ. Bà ta thở dài đánh thượt. “Thế đấy, là của tôi, tất nhiên rồi,” bà ta nói. “Chúng là của tôi.”

Chuyện xảy ra ba ngày sau khi con gái bà ta qua đời, bà ta bảo với chúng tôi thế. “Tôi tới nhà Nel Abbott. Tôi đã… Chậc, tôi không nghĩ là anh chị có thể tưởng tượng được tâm trạng tôi khi đó đâu, nhưng cứ thử hình dung đi. Tôi gõ cửa chính nhà cô ta, nhưng cô ta không xuất hiện. Tôi không chịu thua, tôi cứ đứng ở đó, đấm tay lên cửa gọi cô ta, và cuối cùng,” bà ta nói, gạt một lọn tóc cho khỏi chờm lên mặt, “Lena mở cửa. Con bé đang khóc, khóc nức nở, thực ra là đang rất kích động. Cảnh tượng đặc sắc lắm.” Bà ta cố mỉm cười nhưng không thành công. “Tôi nói một vài điều với con bé - ngẫm lại thì có lẽ những điều tôi nói thật tàn nhẫn, nhưng…”

“Kiểu như thế nào?” tôi hỏi.

“Tôi… Tôi không thật sự nhớ được cặn kẽ.” Sự bình tĩnh của bà ta bắt đầu trôi tuột đi, hơi thở nông hơn, hai bàn tay túm chặt hai bên thành ghế, sự gắng sức khiến cho làn da màu ô liu trên các khớp ngón tay của bà ta vàng ệch. “Nel chắc hẳn đã nghe tiếng tôi. Cô ta ra ngoài và bảo tôi hãy để cho họ được yên. Cô ta nói” - Louise bật ra một tiếng cười ngắn chói tai - “cô ta nói rằng cô ta chia buồn với mất mát của tôi. Cô ta chia buồn với mất mát của tôi, nhưng nó chẳng liên quan gì đến cô ta, chẳng liên quan gì đến con gái cô ta. Lena đang ngồi trên sàn, tôi vẫn còn nhớ thế, con bé bật ra một âm thanh giống như… giống như một con vật. Một con vật bị thương.” Bà ta dừng lại lấy hơi rồi tiếp tục. “Chúng tôi, Nel và tôi, đã cãi nhau. Cũng khá kịch liệt.” Bà ta cười nửa miệng với Sean. “Anh không ngờ phải không? Anh chưa từng nghe nhắc đến chuyện này phải không? Tôi cứ tưởng Nel đã kể cho anh nghe rồi chứ - hay ít nhất cũng là Lena. Phải, tôi… chậc, tôi không đánh cô ta, nhưng tôi đã lao vào cô ta, và cô ta cản tôi lại. Tôi đòi cô ta cho xem các cảnh quay trong máy quay của cô ta. Tôi muốn… Tôi không muốn xem, tôi không mong muốn gì hơn là cô ta không… Tôi không thể chịu nổi…”

Louise òa khóc.

Chứng kiến một người đang đắm chìm trong nỗi đau thương thống khổ thế này thật kinh khủng, hành động quan sát ấy dường như thật tàn nhẫn, tọc mạch, một sự xâm phạm riêng tư. Tuy nhiên chúng ta vẫn làm thế, chúng ta buộc phải làm thế, lúc nào cũng vậy, ta chỉ đành phải học cách ứng phó với nó theo bất cứ phương thức nào ta có thể viện ra. Sean ứng phó bằng cách cúi đầu xuống và vẫn đứng im như tượng; tôi ứng phó bằng cách tìm sự phân tâm: tôi quan sát đàn gà đang đào bới quanh bãi cỏ bên ngoài cửa sổ. Tôi nhìn các giá sách, mắt tôi lướt qua các cuốn sách lịch sử quân sự và các cuốn tiểu thuyết đương đại đặc sắc; tôi thu vào trong tầm mắt những bức tranh lồng khung ở phía trên lò sưởi. Ảnh cưới, những tấm ảnh chụp gia đình, cùng ảnh chân dung một đứa bé. Chỉ có một bức duy nhất, một cậu bé trong trang phục màu xanh dương. Ảnh Katie đâu? Tôi cố gắng hình dung ra tâm trạng của một người khi phải tháo bức ảnh lồng khung đứa con của mình xuống khỏi vị trí đầy hãnh diện của nó để cất vào trong một ngăn kéo nào đấy. Khi liếc nhìn Sean, tôi thấy đầu anh ta không còn cúi xuống nữa, anh ta đang trừng mắt nhìn tôi. Tôi nhận ra có tiếng gõ nhẹ đang vang lên trong phòng, và nó xuất phát từ tôi, âm thanh cây bút của tôi đang gõ vào cuốn sổ ghi chú của tôi. Tôi không chủ tâm làm thế. Tôi đang run rẩy cả người.

Sau một quãng thời gian dường như dài dằng dặc, Louise lại lên tiếng. “Tôi không thể chịu đựng nổi khi Nel là người cuối cùng nhìn thấy con tôi. Cô ta bảo tôi không có cảnh quay nào hết, rằng máy quay không hoạt động, rằng cho dù có hoạt động thì nó cũng ở tít trên vách đá, vậy nên nó sẽ không… sẽ không bắt được hình ảnh con bé.” Bà ta nặng nề thở một hơi dài, một cơn run rẩy chạy khắp cơ thể bà ta, từ vai cho tới đầu gối. “Tôi không tin cô ta. Tôi không đánh liều được. Sẽ thế nào đây nếu có gì đó trên máy quay và bị cô ta lợi dụng? Sẽ thế nào đây nếu cô ta trưng ra cho toàn thế giới thấy hình ảnh con gái tôi, cô đơn và hoảng loạn và…” Bà ta dừng lại và hít một hơi thở sâu. “Tôi đã bảo cô ta… Lena chắc hẳn đã kể chuyện này với tất cả các anh rồi chứ? Tôi đã bảo cô ta rằng tôi sẽ không ngừng lại chừng nào còn chưa chứng kiến cô ta trả giá cho những gì đã làm. Rồi tôi bỏ đi. Tôi lên chỗ vách đá, cố mở cái máy quay để lấy thẻ nhớ ra, nhưng tôi không làm được. Tôi đã tìm cách phá nó rời khỏi giá đỡ, đến độ làm gãy cả móng tay.” Bà ta giơ bàn tay trái lên - móng tay trỏ của bà ta cụt ngủn, cong lại. “Tôi đá nó vài lần, tôi lấy một hòn đá đập nó vỡ tan. Rồi tôi về nhà.”

Erin

Josh đang ngồi trên vỉa hè đối diện ngôi nhà khi chúng tôi rời đi. Nó dõi mắt nhìn theo chúng tôi đi bộ về phía ô tô, và đến khi chúng tôi đã đi xuôi con phố được tầm năm mươi mét thì nó hối hả băng ngang qua đường và biến mất vào trong nhà. Thanh tra, đang chìm đắm trong những suy nghĩ riêng, có vẻ không để ý thấy.

“Bà ta sẽ không ngừng lại chừng nào còn chưa chứng kiến Nel phải trả giá?” tôi nhắc lại khi chúng tôi đến chỗ ô tô. “Anh không thấy nó giống như một lời đe dọa à?”

Sean nhìn tôi với vẻ mặt trống rỗng quen thuộc, với ánh mắt xa rời thực tại đầy trêu ngươi. Anh ta không nói gì.

“Ý tôi là, chẳng phải thật kỳ quái vì Lena thậm chí chẳng buồn nhắc đến chuyện đó với chúng ta? Và còn Josh nữa? Chuyện tất cả bọn họ đều đang ngủ ấy? Đấy rõ rành rành là dối trá…”

Anh ta gật đầu cụt lủn. “Phải. Có vẻ thế. Nhưng tôi sẽ không quá để tâm đến những câu chuyện của bọn trẻ con đang đau khổ đâu,” anh ta lặng lẽ nói. “Chẳng thể biết chắc được thằng bé cảm thấy thế nào, hay tưởng tượng ra cái gì, hay nó cho rằng nó nên hay không nên nói gì. Nó hiểu rõ chúng ta đã biết rằng mẹ nó ôm mối oán hận với Nel Abbott, và tôi đoán là nó sợ mẹ nó sẽ bị kết tội, sợ bà ta sẽ bị tách xa khỏi nó. Cô phải nghĩ xem nó đã mất mát đến thế nào chứ.” Anh ta dừng lại. “Còn về Lena, nếu nó thật sự bị kích động đúng như Louise nhắc đến, vậy thì có lẽ nó sẽ không nhớ được rõ ràng sự cố ấy, có lẽ nó chẳng nhớ được gì mấy ngoài nỗi buồn của chính mình.”

Về phần tôi, tôi thấy khó mà dung hợp được bản miêu tả của Louise về Lena ngày hôm đó - một con thú bị thương đang tru lên - với một con bé bình thường luôn tự chủ và đôi khi tỏ ra ác độc mà chúng tôi từng đối mặt. Tôi có phần thấy lạ vì phản ứng của con bé trước cái chết của người bạn lại quá khích đến thế, mang tính bộc phát đến thế, trong khi phản ứng của nó trước cái chết của người mẹ lại quá có chừng mực. Liệu có khả năng Lena đã bị tác động mạnh mẽ bởi nỗi bi thương của Louise, bởi lời kết tội của Louise rằng Nel phải chịu trách nhiệm cho cái chết của Katie - liệu có khả năng chính con bé cũng dần tin vào điều đó? Gai ốc lan tỏa khắp da tôi. Có vẻ không có nhiều khả năng, nhưng sẽ thế nào nếu Lena, giống như Louise, cũng đổ tội cho mẹ mình về cái chết của Katie? Và sẽ thế nào nếu con bé quyết định làm gì đó?

Lena

Tại sao người lớn lúc nào cũng đặt nhầm câu hỏi? Những viên thuốc. Giờ đó là chuyện tất cả bọn họ bàn đến. Những viên thuốc giảm cân ngu ngốc chết tiệt ấy - tôi đã quên béng mất rằng mình đã mua chúng, chuyện xảy ra từ đời tám hoành rồi. Và giờ họ lại đi đến quyết định rằng NHỮNG VIÊN THUỐC LÀ CÂU TRẢ LỜI CHO MỌI VẤN ĐỀ và bởi vậy tôi phải đến đồn cảnh sát - với dì Julia, vốn là người giám hộ của tôi. Nghe mà buồn cười. Dì ấy, nói thế nào nhỉ, là người không thích hợp nhất có thể tìm thấy cho tình huống đặc biệt này.

Họ dẫn tôi vào trong một căn phòng ở phía cuối đồn cảnh sát chẳng hề giống với trên ti vi, nó chỉ là một văn phòng thôi. Chúng tôi ngồi quanh bàn và người phụ nữ đó - điều tra viên Morgan - đưa ra các câu hỏi. Đa phần. Sean cũng hỏi vài câu, nhưng đa phần là cô kia.

Tôi nói sự thật. Tôi đã mua thuốc bằng thẻ tín dụng của mẹ vì Katie nhờ tôi, và không ai trong chúng tôi mảy may ý thức được rằng chúng tác động xấu đến người dùng. Hoặc dù sao đi nữa thì tôi cũng không biết, còn nếu Katie có biết thì nó cũng chẳng bao giờ nói gì với tôi.

“Cháu có vẻ không lo lắng” điều tra viên Morgan nói, “rằng chúng có thể liên quan đến trạng thái tinh thần bất ổn của Katie giai đoạn cuối đời.”

Tôi suýt nữa đã cắn đứt cả lưỡi. “Không, tôi bảo cô ta. “Cháu không lo về chuyện đó. Hành động của Katie không phải vì bất cứ thứ thuốc nào cả.”

“Vậy tại sao bạn cháu lại làm thế?”

Lẽ ra tôi nên biết cô ta sẽ tóm ngay lấy cơ hội để hỏi tôi như vậy, vậy nên tôi đành nói tiếp. “Nó thậm chí còn chẳng dùng mấy. Rất ít, chắc chỉ khoảng bốn, năm viên là cùng. Cứ đếm số thuốc còn lại thì biết,” tôi bảo Sean. “Cháu khá chắc chắn đơn hàng là ba mươi lăm viên. Cứ đếm chúng đi.”

“Các chú sẽ làm thế” chú ấy nói. Rồi Sean hỏi, “Cháu có cung cấp thuốc cho bất kỳ ai khác không?” Tôi lắc đầu, nhưng chú ấy không chịu bỏ qua như thế. “Chuyện này quan trọng đấy, Lena.”

“Cháu biết,” tôi bảo chú ấy. “Đó là lần duy nhất cháu mua thuốc này. Cháu đã giúp đỡ một người bạn. Tất cả chỉ có thế. Thật lòng đấy ạ.”

Chú ấy ngả người ra sau tựa vào lưng ghế. “Được rồi,” chú ấy nói. “Điều chú vẫn đang cố hiểu là tại sao Katie lại muốn dùng loại thuốc đó.” Chú ấy liếc nhìn tôi, rồi dì Julia, như thể dì ấy có thể biết câu trả lời. “Đâu phải con bé bị quá cân đâu.”

“Chậc, nó cũng đâu có gầy,” tôi nói, và dì Julia bật ra một âm thanh kỳ lạ, vừa giống tiếng khịt mũi lại vừa giống tiếng cười, và khi tôi nhìn dì, dì cũng đang nhìn lại tôi giống như là dì ghét tôi.

“Mọi người nói thế với Katie à?” điều tra viên Morgan hỏi tôi. “Ở trường ấy? Mọi người bàn tán về cân nặng của Katie à?”

“Lạy Chúa!” Tôi thấy thật khó có thể kiềm chế cơn giận. “Không. Katie không bị bắt nạt. Cô biết sao không? Lúc nào nó cũng gọi cháu là đồ chó gầy nhom. Nó hay cười nhạo cháu, bởi vì, cô chú biết đấy…”

Tôi không khỏi xấu hổ vì Sean đang nhìn thẳng vào tôi, nhưng vì chính tôi đã bắt đầu nên tôi buộc phải kết thúc nó, “Bởi vì cháu không có ngực. Vậy nên nó gọi cháu là đồ chó gầy nhom và thỉnh thoảng cháu đáp lại bằng cách gọi nó là đồ bò béo ú, và không ai trong chúng cháu thực tâm nghĩ vậy.”

Họ không hiểu. Họ chẳng bao giờ hiểu. Và vấn đề nằm ở chỗ, tôi không thể giải thích rành mạch toàn bộ chuyện này. Nhiều khi, thậm chí đến tôi còn chẳng hiểu nổi, bởi vì mặc dù Katie không gầy nhưng chuyện đó thật ra chưa từng khiến nó bận tâm. Nó chưa bao giờ nhắc đến chuyện đó theo cái cách như những người khác. Tôi thì chưa từng thử, nhưng Amy, Ellie và Tanya thì rồi. Lúc nào cũng chế độ ăn low-carb hay nhịn ăn hay thải độc hay cái của nợ nào đó chả biết là gì. Nhưng Katie không quan tâm, nó thích ngực to. Nó thích hình dáng cơ thể của mình hay ít nhất trước đây thì thế. Và rồi - tôi thực lòng không biết chuyện ra sao - một bình luận ngu ngốc nào đó trên Insta hay một nhận xét ngớ ngẩn từ một kẻ thô thiển nào đó ở trường và nó bắt đầu cư xử một cách kỳ quái. Chính vào thời điểm đó nó đã nhờ tôi kiếm thuốc. Nhưng đến lúc tôi kiếm được thuốc thì có vẻ như nó đã vượt qua được rồi - và nó bảo đằng nào thì thuốc cũng chẳng có tác dụng.

Tôi cứ tưởng cuộc thẩm vấn đã xong. Tôi cứ tưởng tôi đã trình bày xong mọi vấn đề rồi, thì điều tra viên Morgan lại chuyển sang một hướng hoàn toàn khác, hỏi tôi về hôm bác Louise đến ngay sau khi Katie mất. Tôi bèn bảo, vâng, tất nhiên rồi, cháu vẫn nhớ ngày hôm đó. Đó là một trong những ngày tồi tệ nhất đời tôi mà. Bây giờ chỉ cần nghĩ lại tôi cũng thấy bứt rứt trong lòng.

“Cháu chưa bao giờ thấy gì như thế,” tôi bảo họ, “như thái độ của bác Louise hôm đó.”

Cô ta gật đầu, rồi cô ta hỏi - hoàn toàn chân thành, hoàn toàn quan tâm, “Khi Louise bảo với mẹ cháu rằng bà ấy ‘sẽ không ngừng lại chừng nào còn chưa chúng kiến Nel trả giá’, cháu thấy thế nào? Cháu có nghĩ rằng bà ấy nghiêm túc có ý đấy không?”

Đến lúc đó thì tôi chẳng còn bình tĩnh được nữa. “Bác ấy chẳng có bất kỳ ý gì hết, đồ ngu!”

“Lena.” Sean trừng mắt nhìn tôi. “Nói năng cho cẩn thận.”

“Chậc, cháu xin lỗi, nhưng vì Chúa! Con gái bác Louise vừa mới mất, bác ấy thậm chí còn chẳng biết bác ấy đang nói gì. Bác ấy đã phát điên mà.”

Tôi đã định bỏ về, nhưng Sean yêu cầu tôi ở lại. “Nhưng cháu không bắt buộc phải ở lại, đúng không? Cháu không bị giam giữ chứ?”

“Không, Lena, tất nhiên là không rồi,” chú ấy nói.

Tôi bảo với chú ấy, bởi vì chú ấy hiểu. “Chú nghe này, bác Louise không nghiêm túc đâu. Bác ấy kích động quá thôi. Phát điên rồi. Chú vẫn còn nhớ, phải không? Tình trạng của bác ấy ấy? Ý cháu là, tất nhiên bác ấy đã nói đủ thứ, chúng ta ai mà chẳng thế, cháu nghĩ tất cả chúng ta đều hơi quẫn trí sau khi Katie qua đời. Nhưng - vì Chúa - bác Louise không làm hại mẹ cháu. Thực ra thì, cháu cho là nếu hôm đó bác ấy có một khẩu súng hay một con dao thì có khi bác ấy sẽ làm thật. Nhưng bác ấy không có.”

Tôi những muốn kể toàn bộ sự thật. Tôi thực lòng muốn thế. Không phải với cô cảnh sát, thậm chí không phải với dì Julia, thật vậy, mà tôi muốn nói với Sean. Nhưng tôi không thể. Đó sẽ là một hành động phản bội, và sau tất cả những gì tôi đã làm, giờ tôi không thể phản bội Katie được. Vậy nên tôi nói tất cả những gì có thể. “Bác Louise không làm gì mẹ hết, OK? Bác ấy không làm. Mẹ đã tự lựa chọn.”

Tôi đứng dậy định đi, nhưng điều tra viên Morgan vẫn chưa xong. Cô ta đang nhìn tôi, với cái biểu cảm kỳ lạ ấy trên khuôn mặt, như thể cô ta không tin một lời nào tôi đang nói, và rồi cô ta bảo, “Cháu có biết điều gì khiến cô thấy kỳ lạ không, Lena? Cháu có vẻ chẳng hề tò mò tại sao Katie lại hành động như thế, và tại sao mẹ cháu lại hành động như thế. Khi ai đó chết như thế này, câu hỏi mà tất cả mọi người đều đặt ra là tại sao. Tại sao họ lại làm thế? Tại sao họ lại kết liễu mạng sống của mình trong khi họ còn có nhiều điều để sống vì chúng? Nhưng cháu thì không. Và lý do duy nhất - lý do duy nhất - cô có thể nghĩ đến, đó là vì cháu vốn đã biết rồi.”

Sean tóm lấy cánh tay tôi dẫn tôi rời khỏi phòng trước khi tôi kịp nói năng gì.

Lena

Dì Julia muốn chở tôi về, nhưng tôi bảo dì tôi thích đi bộ hơn. Thực ra không phải thế, nhưng, a) tôi không muốn một mình trong xe với dì, và b) tôi đã thấy Josh, đang đạp xe, phía bên kia đường, đạp thành vòng tròn hết vòng này đến vòng khác, và tôi biết nó đang đợi tôi.

“Sao hả, Josh?” tôi hỏi khi nó đạp xe lại gần. Hồi tầm chín mười tuổi, nó bắt đầu nói “Sao hả?” với mọi người thay vì chào hỏi, và Katie với tôi chẳng bao giờ cho phép nó quên điều đó. Thường thì nó sẽ bật cười, nhưng lần này thì không. Nó có vẻ sợ sệt. “Làm sao vậy, Josh? Có chuyện gì thế?”

“Họ hỏi chị cái gì vậy?” nó thì thào.

“Chẳng có gì đâu, đừng lo. Họ tìm thấy một ít thuốc mà Katie đã dùng và họ nghĩ rằng chúng - ý chị là những viên thuốc ấy - có lẽ có liên quan gì đó với… chuyện đã xảy ra. Hiển nhiên là họ nhầm rồi. Đừng lo.” Tôi khẽ ôm nó vào lòng nhưng nó lùi lại tránh, trước đây nó chưa từng làm thế. Thường thì nó vẫn tìm bất cứ cớ nào để được vuốt ve hay nắm tay tôi.

“Họ có hỏi chị về mẹ em không?” nó hỏi.

“Không. Chậc, có, chắc vậy. Một ít. Sao hả?”

“Em không biết,” nó nói, nhưng không nhìn tôi.

“Sao hả, Josh?”

“Em nghĩ chúng ta nên nói ra đi,” nó nói.

Tôi có thể cảm thấy những giọt mưa ấm áp đầu tiên trên cánh tay, và tôi ngước nhìn bầu trời. Trời tối sầm, một cơn bão đang đến. “Không, Josh,” tôi bảo. “Không. Chúng ta sẽ không nói.”

“Lena, chúng ta phải nói thôi.”

“Không!” tôi nhắc lại và chộp lấy cánh tay nó, vô ý siết quá chặt khiến nó kêu lên y như một chú cún bị giẫm phải đuôi. “Mình đã hứa rồi. Em đã hứa rồi.” Thằng bé lắc đầu và tôi bèn bấu móng tay vào cánh tay nó.

Nó bắt đầu khóc. “Nhưng bây giờ làm thế có gì tốt đâu cơ chứ?”

Tôi thả tay nó ra và đặt hai bàn tay lên vai nó. Tôi buộc nó phải nhìn thẳng vào tôi. “Một lời hứa là một lời hứa, Josh ạ. Chị nghiêm túc đấy. Em không được kể với ai.”

Nó đã nói đúng, xét trên một phương diện nào đó, chúng tôi chẳng làm gì tốt đẹp cả. Cũng chẳng có chuyện tốt đẹp gì để mà làm. Nhưng dẫu vậy, tôi không thể phản bội mẹ. Nếu họ đã biết về chuyện Katie thì họ sẽ đặt các câu hỏi về chuyện đã xảy ra sau đó, và tôi không muốn ai biết về điều chúng tôi, mẹ và tôi, đã làm. Điều chúng tôi đã làm, và điều chúng tôi đã không làm.

Tôi không muốn bỏ mặc Josh như thế, và dù sao đi nữa tôi cũng chưa muốn về nhà, vậy nên tôi vòng tay quanh người nó, ôm siết nó vào lòng trấn an, sau đó nắm tay nó. “Đi nào,” tôi bảo thằng bé. “Đi với chị đi. Chị biết chúng ta có thể làm một việc, một việc sẽ giúp chúng ta thấy dễ chịu hơn.” Nó đỏ bừng cả mặt và tôi phá lên cười. “Không phải chuyện đó, thằng bé hư hỏng này!” Thằng bé cũng cười, và lau nước mắt đang vương trên mặt.

Chúng tôi im lặng đi bộ về phía Nam thị trấn, Josh dắt xe đi cạnh tôi. Xung quanh chẳng có ai, mưa mỗi lúc một nặng hạt hơn và tôi có thể cảm thấy Josh thỉnh thoảng lại lén đánh mắt sang nhìn tôi vì chiếc áo phông của tôi giờ đã có thể nhìn xuyên thấu mà tôi thì không mặc áo ngực. Tôi khoanh tay trước ngực và thằng bé lại đỏ mặt. Tôi mỉm cười, nhưng không nói gì. Thật ra, chúng tôi không hề nói năng gì mãi cho tới khi đã đến con đường chỗ nhà Mark, và rồi Josh hỏi, “Chúng ta làm gì ở đây vậy?” Tôi chỉ toét miệng cười với nó.

Khi chúng tôi đã dừng lại bên ngoài cửa chính nhà Mark, nó lại hỏi lần nữa, “Lena, chúng ta làm gì ở đây vậy?” Nó lại có vẻ sợ, nhưng cũng đầy phấn khích, và tôi có thể cảm thấy toàn bộ adrenaline đang trào lên bên trong tôi, khiến tôi cảm thấy váng vất và buồn nôn.

“Làm cái này,” tôi nói. Tôi nhặt một hòn đá dưới chân hàng rào lên và vận hết sức bình sinh ném nó lên cửa sổ lớn ở mặt trước nhà ông ta, và nó xuyên thẳng qua, chỉ để lại một cái lỗ nhỏ.

“Lena!” Josh hét lên, lo lắng nhìn quanh xem có ai đang theo dõi không. Chẳng có ai hết. Tôi toét miệng cười rồi lại nhặt một hòn đá khác, lặp lại hành động lúc nãy, và lần này nó đã nện vỡ cửa sổ, cả ô cửa kính tan tành. “Nào,” tôi bảo nó, và tôi đưa cho nó một hòn đá, rồi hai đứa chúng tôi cùng nhau đi vòng quanh căn nhà. Chúng tôi như thể đang ngất ngây vì oán giận - chúng tôi cười rồi la hét rồi gọi cái đồ rác rưởi đó bằng tất cả những cái tên chúng tôi có thể nghĩ ra.

Vũng Sông Chết Đuối

Katie, 2015

Trên đường ra sông, thỉnh thoảng cô dừng lại để nhặt một hòn đá, hay một mẩu gạch, để cất vào ba lô. Trời lạnh, vẫn chưa sáng, mặc dù nếu quay lại nhìn về phía biển, cô thể nào cũng thấy một vết màu xám nơi đường chân trời. Cô không quay lại, không một lần nào.

Thoạt tiên cô bước hối hả, xuống đồi về phía trung tâm thị trấn, kéo dãn khoảng cách giữa cô và nhà cô. Cô không tiến thẳng về phía dòng sông; cô muốn, một lần cuối cùng, đi bộ xuyên qua nơi cô đã lớn lên, đi qua ngôi trường cấp một (không dám nhìn nó phòng ngừa những ký ức về thời thơ ấu ngăn cản bước chân cô), qua cửa hàng tạp hóa của làng, vẫn đang đóng cửa, qua thảm cỏ xanh nơi bố cô từng thử dạy cô chơi cricket mà không thành công. Cô bước qua những ngôi nhà của bạn bè cô.

Có một ngôi nhà đặc biệt cần ghé thăm trên đường Seward, nhưng cô không đủ dũng khí để buộc mình đi dọc con đường đó, vậy nên thay vào đó, cô chọn một đường khác, và bước chân cô chậm dần khi gánh nặng của cô trở nên nặng nề hơn, khi con đường dốc ngược trở lại về phía thị trấn lâu năm, những con phố thu hẹp dần giữa những ngôi nhà bằng đá bị che phủ bởi những dây hồng leo cao.

Cô tiếp tục con đường, qua nhà thờ đi về phía Bắc cho tới khi con đường ngoặt gấp sang bên phải. Cô băng qua dòng sông, dừng lại một lát trên cây cầu vòm. Cô nhìn xuống dòng nước, trơn nhẫy và bóng loáng, lướt nhanh trên đá. Cô có thể nhìn thấy, hoặc cũng có thể chỉ tưởng tượng thấy, đường viền tối đen của cái cối xay cũ, cái bánh xe cồng kềnh mục nát của nó đứng bất động, không hề quay lấy một lần suốt nửa thế kỷ qua. Cô nghĩ đến cô gái đang ngủ bên trong và đặt đôi tay đã tím tái vì lạnh lên thành cầu để ngăn chúng khỏi run.

Cô leo xuống dãy bậc thang dốc bằng đá dẫn từ đường cái đến đường mòn ven sông. Men theo đường này, cô có thể đi bộ tới tận Scotland nếu muốn. Cô đã từng làm thế, một năm trước, hè năm ngoái. Sáu người bọn họ, mang theo lều và túi ngủ, họ đã làm thế trong ba ngày. Họ cắm trại ven sông khi đêm xuống, uống rượu lậu dưới ánh trăng, kể những câu chuyện về dòng sông, về Libby và Anne và hết thảy những người còn lại. Hồi đó, cô đã chẳng thể nào tưởng tượng được sẽ có một ngày cô đi bộ trên chính con đường họ đã từng đi, rằng định mệnh của cô và định mệnh của họ lại quấn vào nhau như thế.

Đi được nửa dặm trên đường từ cây cầu đến Vũng Sông Chết Đuối, cô vẫn bước chậm dần, chiếc ba lô nặng trĩu trên lưng, những vật góc cạnh thúc vào cột sống cô. Cô thổn thức khóc. Dẫu cố hết sức, cô vẫn không thể ngăn mình nghĩ đến mẹ, và đó là điều tệ nhất, tệ vô cùng.

Khi cô băng qua bên dưới tán sồi trên bờ sông, trời tối đến độ vật chỉ cách một bàn chân phía trước là cô đã gần như chẳng thể nhìn rõ, và điều đó bỗng khiến cô dễ chịu. Cô nghĩ có lẽ cô sẽ ngồi xuống một lát, bỏ ba lô xuống nghỉ ngơi, nhưng cô biết cô không thể, vì nếu cô làm thế, mặt trời sẽ mọc, và thế là sẽ quá muộn, và sẽ chẳng có gì thay đổi, sẽ lại mất thêm một ngày nữa cô phải dậy từ trước bình minh rồi rời khỏi ngôi nhà đang say ngủ. Vậy nên, lại một bước chân đặt trước một bước chân.

Một bước chân đặt trước một bước chân, cho tới khi cô ra đến chỗ không còn tán cây to, một bước chân đặt trước một bước chân, rời khỏi con đường mòn, hơi loạng choạng bước xuống bờ, và rồi, một bước chân đặt trước một bước chân, vào trong dòng nước.

Jules

Chị đang dựng chuyện. Viết lại lịch sử, kể lại nó từ điểm nhìn của chị, bằng phiên bản sự thật của riêng chị.

(Thật xấc xược, Nel ạ. Thái độ xấc xược khốn kiếp.)

Chị không biết đã có chuyện gì xảy ra với Libby Seeton và chắc chắn chị không biết Katie nghĩ gì trong đầu khi cô bé chết. Ghi chép của chị đã giải thích rõ:

Vào buổi tối ngày Hạ chí, Katie Whittaker bước vào trong Vũng Sông Chết Đuối. Dấu chân cô được tìm thấy trên bờ sông ở rìa phía Nam. Cô mặc váy cotton xanh lục và đeo một sợi dây chuyền giản dị quanh cổ, một mặt dây hình chim sơn ca khắc chữ “cùng với tình yêu”. Trên lưng, cô đeo chiếc ba lô chất đầy gạch đá. Các xét nghiệm được tiến hành sau khi cô chết cho thấy cô đã không dùng đồ uống có cồn hay chất kích thích.

Katie không có tiền sử bệnh tâm thần hay ngược đãi bản thân. Cô là học sinh giỏi, xinh đẹp và được yêu quý. Cảnh sát không tìm thấy bằng chứng bắt nạt nào, kể cả trong đời thực hay trên mạng xã hội.

Katie xuất thân từ một gia đình tử tế, một dòng họ tử tế. Katie được yêu thương.

Em đang ngồi khoanh chân trên sàn phòng làm việc của chị, lật giở qua các trang viết của chị trong ánh chiều tà ảm đạm, tìm kiếm câu trả lời. Tìm kiếm một điều gì đó. Giữa đống ghi chép - sắp xếp lộn xộn, vô tổ chức, đầy những ghi chú nguệch ngoạc gần như chẳng thể luận nổi bên lề, các từ được gạch dưới bằng mực đỏ hay bị gạch xóa bằng mực đen - cũng có cả các bức ảnh. Trong một bìa hồ sơ rẻ tiền, em tìm thấy các bức ảnh được in trên giấy ảnh chất lượng thấp: Katie và Lena, hai cô bé đang toét miệng cười với ống kính máy ảnh, không bĩu môi, không tạo dáng, ngược trở về một thời kỳ tiền-Snapchat ngây thơ, xa xăm nào đó. Hoa và đồ tưởng niệm được bỏ lại ở mép vùng sông, gấu bông, đồ nữ trang rẻ tiền. Dấu chân trên cát ở mép vũng sông. Không phải của cô bé, em đoán vậy. Không phải những dấu chân thực tế của Katie, hẳn là thế nhỉ? Không, chúng ắt hẳn phải là phiên bản của chị, một sự tái dựng. Chị đã lần theo dấu chân của cô bé ấy, phải không? Chị đi trên con đường cô bé ấy đã đi, chị không thể cưỡng lại được muốn biết cảm giác ấy như thế nào.

Nó luôn là mối quan tâm của chị. Hồi trẻ hơn, chị vẫn bị mê hoặc bởi hành động thể chất, bởi xương cốt, nội tạng. Chị đặt các câu hỏi: nó có đau đớn không? Trong bao lâu? Cảm giác ấy thế nào, khi từ trên cao rơi đập vào dòng nước? Ta có cảm thấy mình đang xương gãy thịt tan? Theo em nghĩ, chị ít để tâm đến phần còn lại của vấn đề: về việc phải cần bao nhiêu thời gian để một người lên đến đỉnh vách đá, hay tới mép sông, và cần bao nhiêu thời gian để thúc đẩy họ tiếp tục di chuyển.

Ở cuối bìa hồ sơ có một cái phong bì nguệch ngoạc tên chị ở mặt trước. Bên trong có một bức thư viết trên giấy kẻ dòng, bằng một bàn tay run rẩy:

Những lời tôi nói khi gặp cô ngày hôm qua là hoàn toàn nghiêm túc. Tôi không muốn bi kịch của con gái tôi trở thành một phần trong cái “dự án” ma quỷ của cô. Không phải chỉ vì tôi cảm thấy ghê tởm bởi cô sẽ được hưởng những lợi ích kinh tế từ nó. Tôi đã bảo với cô hết lần này đến lần khác là tôi tin rằng những gì cô đang làm là CỰC KỲ VÔ TRÁCH NHIỆM và cái chết của Katie là MINH CHỨNG CHO ĐIỀU ĐÓ. Nếu có một chút xíu lòng trắc ẩn nào thì giờ cô sẽ dừng cái việc cô đang làm lại, chấp nhận rằng những gì cô biết, cô in, nói và làm đều có hậu quả. Tôi không mong cô lắng nghe tôi - trước đây cô đã chẳng hề cho thấy dấu hiệu nào của việc đó rồi. Nhưng nếu cô cứ tiếp tục bám theo con đường này, tôi không hề nghi ngờ gì về chuyện một ngày nào đó sẽ có người buộc cô phải lắng nghe.

Bức thư không được ký tên, nhưng rõ ràng nó được mẹ của Katie gửi đến. Bà ta đã cảnh cáo chị - và không phải chỉ riêng một lần này. Ở đồn cảnh sát, em đã nghe thấy cô cảnh sát hỏi Lena về một vụ to tiếng ngay sau khi Katie chết, về chuyện bà ta đe dọa chị và bảo với chị rằng bà ta sẽ bắt chị phải trả giá. Đó có phải chuyện chị muốn nói với em không? Có phải chị sợ bà ta? Có phải chị nghĩ rằng bà ta đang đến tìm chị? Cứ nghĩ đến bà ta, một người đàn bà mắt hoang dại, phát điên vì đau khổ, đang dồn chị vào bước đường cùng ý nghĩ ấy mới đáng sợ làm sao, ý nghĩ ấy mới khiến em kinh hãi đến nhường nào. Em không còn muốn ở đây nữa, giữa những món đồ của chị. Em nhổm người đứng dậy, và khi em làm thế, ngôi nhà dường như chuyển động, nghiêng đi như một con tàu. Em có thể cảm thấy dòng sông đang xô vào bánh xe cối xay, thúc nó quay vòng, dòng nước thấm vào trong những kẽ nứt đã bị kẻ đồng lõa là rong rêu mở rộng ra.

Em tì một bàn tay lên tủ hồ sơ và lên cầu thang vào phòng khách, sự tĩnh lặng ong ong trong tai em. Em đúng một lúc, đôi mắt làm quen với ánh sáng chói hơn, và trong một thoáng, em cảm thấy chắc chắn em đã nhìn thấy một người, đang ở đó trên chiếc ghế cửa sổ, đúng nơi em từng ngồi. Chỉ chốc lát thôi, rồi cô ấy biến mất, nhưng tim em như nện vào xương sườn còn da đầu em râm ran. Ai đó đã ở đây, hoặc ai đó hồi xưa đã ở đây. Hoặc ai đó đang đến.

Hơi thở em nông và dồn dập, em nửa đi nửa chạy đến cửa chính, giờ vẫn đang chốt y như lúc em rời chỗ nó. Nhưng trong bếp, có một thứ mùi kỳ lạ - một thứ gì đó khác lạ, ngọt ngào, như mùi nước hoa - và cửa sổ bếp đang mở toang. Em không nhớ đã mở nó ra.

Em tới chỗ tủ đông và làm một điều em hầu như chẳng bao giờ làm - em tự rót cho mình một ly rượu: vodka mát lạnh. Em rót đầy một ly và uống vội; nó thiêu đốt suốt dọc đường chui xuống cổ họng vào trong bụng em. Rồi em lại rót thêm cho mình ly nữa.

Đầu em quay cuồng và em thì người vào bàn bếp tìm điểm tựa. Có lẽ em vẫn đang ngóng Lena. Con bé đã lại biến mất, nó không chịu để em đưa về nhà. Một phần trong em thấy may mắn - lúc đó em không muốn cùng một chỗ với con bé. Em tự nhủ lòng rằng đó là vì em đang giận nó - cung cấp thuốc giảm cân cho một đứa con gái khác, miệt thị cơ thể của nó - nhưng thật ra em sợ điều người cảnh sát kia đã nói. Rằng Lena không tò mò bởi vì Lena vốn đã biết rồi. Em không thể ngăn mình quan sát khuôn mặt nó, cái bức ảnh trên tầng với hàm răng sắc nhọn và nụ cười thú săn mồi của nó đó. Lena biết gì nhỉ?

Em quay lại phòng làm việc và lại ngồi bệt xuống sàn, gom các ghi chú đã bị em lôi hết ra và rồi sắp xếp lại chúng, cố gắng thiết lập một kiểu trật tự nào đó. Cố gắng hình dung ra câu chuyện chị kể. Khi xem đến bức ảnh Katie và Lena, em dừng lại. Có một vết mực lem trên mặt giấy, ngay bên dưới cằm Lena. Em lật bức ảnh lại trong hai bàn tay. Ở mặt bên kia, chị đã viết một dòng duy nhất. Em đọc dòng chữ đó lên thành tiếng: Thỉnh thoảng những phụ nữ phiền phức tự chăm lo cho chính mình.

Căn phòng tối sầm. Tôi ngước nhìn lên và một tiếng kêu tắc nghẹn trong cổ họng. Tôi đã không nghe thấy tiếng chị, không nghe thấy tiếng cửa chính mở ra hay tiếng bước chân băng qua phòng khách, nó bất thình lình xuất hiện ở đó, đứng trên ngưỡng cửa, chắn hết ánh sáng, và từ chỗ tôi đang ngồi nhìn ra, hình dáng cái bóng đen đó là của Nel. Rồi cái bóng bước vào sâu hơn trong phòng và tôi nhìn thấy Lena, mặt lem vết đất, hai bàn tay bẩn thỉu, mái tóc rối bù hoang dại.

“Dì đang nói chuyện với ai đấy?” con bé hỏi. Nó đang nhấp nhổm chuyển từ chân này sang chân kia, nó có vẻ kích động, cảm xúc bất ổn.

“Dì có nói gì đâu, dì đang…”

“Có, dì có nói,” con bé cười khẩy. “Cháu đã nghe tiếng dì. Ai là người dì…” Rồi con bé dùng phắt lại giữa chừng câu nói, và độ cong của đôi môi nó biến mất khi nó nhìn thấy bức ảnh. “Dì đang làm gì với nó đấy?”

“Dì chỉ đang đọc… Dì muốn…” Tôi chưa kịp bật lời lẽ ra khỏi miệng thì con bé đã ở phía trên đầu tôi, lừng lững phía trên đầu tôi, và tôi co rúm lại. Con bé nhào về phía tôi và giật bức ảnh ra khỏi tay tôi.

“Dì đang làm gì với cái này hả?” Con bé run rẩy, hai hàm răng nghiến lại, mặt đỏ phừng giận dữ. Tôi lập cập đứng dậy. “Cái này chẳng liên quan gì đến dì!” Con bé quay người tránh xa khỏi tôi, đặt bức ảnh Katie lên trên bàn và vuốt lòng bàn tay lên trên là cho phẳng bức ảnh. “Dì có quyền gì mà làm thế này?” con bé hỏi, quay lại đối mặt với tôi, giọng run run. “Ai cho dì lục lọi đồ đạc của mẹ, chạm vào những thứ của mẹ? Ai cho phép dì làm thế này?”

Con bé dấn thêm một bước về phía tôi, trên đường sấn tới đã đá văng ly rượu vodka. Nó bay lên đập vào bức tường vỡ choang ra. Con bé khuyu gối xuống và bắt đầu thu gom những ghi chép tôi vẫn đang sắp xếp. “Đáng ra dì không được chạm vào những thứ này!” Con bé gần như phun phì phì vì giận dữ. “Chẳng liên quan gì đến dì!”

“Lena,” tôi nói, “đừng.”

Con bé bật lùi lại, thốt lên một tiếng kêu nhỏ đau đớn. Nó đã đặt tay lên một mảnh thủy tinh, bàn tay đang chảy máu. Con bé nắm chặt một xấp giấy, áp nó vào ngực.

“Lại đây đi,” tôi nói, cố gỡ đống giấy ra khỏi tay con bé. “Cháu đang chảy máu đấy.”

“Tránh xa ra!” Con bé chồng xấp giấy lên bàn. Mắt tôi bị hút vào vết máu cắt ngang tờ giấy trên cùng và những con chữ được in bên dưới nó: Mở đầu, bằng kiểu chữ in đậm, và bên dưới nó: Hồi mười bảy tuổi, tôi đã cứu em gái tôi khỏi chết đuối.

Tôi cảm thấy một tràng cười cuồng loạn đang dâng lên trong lòng, nó bật ra khỏi tôi lớn tiếng đến độ Lena nhảy dựng lên. Con bé kinh ngạc nhìn tôi chằm chằm. Tôi càng cười dữ hơn, cười vào vẻ giận dữ trên khuôn mặt xinh đẹp của nó, cười vào cái giọt máu đang nhỏ từ ngón tay nó xuống sàn. Tôi cười cho đến khi nước mắt ứa ra, cho tới khi tất cả nhòa đi, như thể tôi đã bị nhấn chìm trong nước.

THÁNG TÁM 1993 **

* * *

*Jules*

Robbie bỏ tôi lại trên ghế cửa sổ. Tôi uống nốt ly vodka. Trước đây tôi chưa say rượu bao giờ, tôi đã không nhận ra bước ngoặt đến nhanh tới mức nào, cú trượt từ trạng thái phấn khởi sang tuyệt vọng, từ vui xuống buồn. Niềm hy vọng dường như đột ngột mất tăm, thế giới ảm đạm. Tôi không suy nghĩ mạch lạc được, nhưng có cảm giác như thể dòng suy nghĩ của tôi vẫn có nghĩa. Dòng sông là lối thoát. Cứ theo dòng sông.

Tôi không biết mình muốn gì khi tôi loạng choạng rời khỏi đường chính, bước xuống bờ sông, đi trên con đường men sông. Tôi mò mẫm bước; đêm dường như tối đen hơn bao giờ hết, không trăng, tĩnh lặng. Đến cả dòng sông cũng lặng lẽ, một giống bò sát không có ma xát, trơn tuột, lướt êm bên cạnh tôi. Tôi không sợ. Tôi có cảm giác gì? Tủi nhục, hổ thẹn. Tội lỗi. Tôi đã nhìn anh ta, tôi theo dõi anh ta, theo dõi anh ta với chị, và anh ta đã nhìn thấy tôi.

Nhà Cối Xay cách vũng sông vài dặm, em chắc chắn phải đi một lúc mới tới. Trong điều kiện thuận lợi nhất, em đã chẳng nhanh nhẹn gì cho cam, còn trong bóng tối, trong tâm trạng này, em lại càng chậm chạp. Vậy nên em đoán là chị đã không đi theo. Nhưng cuối cùng chị vẫn đến.

Lúc đó tôi đã đang ở trong dòng nước. Tôi vẫn nhớ cảm giác mát lạnh bao quanh mắt cá chân tôi, rồi đầu gối tôi, và rồi tôi nhẹ nhàng chìm vào trong bóng tối. Cái lạnh đã biến mất, toàn bộ cơ thể tôi bùng cháy, giờ đã lan lên đến cổ tôi, không đường thoát, và không ai có thể nhìn thấy tôi. Tôi đã được che giấu, tôi đang biến mất, không cần tốn quá nhiều không gian, chẳng hề tốn không gian.

Cái nóng lan khắp người tôi, rồi nó tiêu tan và cái lạnh quay trở lại, không phải trên da mà trong thịt tôi, trong xương tôi, nặng như chì. Tôi mệt mỏi, có vẻ như đoạn đường quay lại bờ dài dằng dặc, tôi không chắc tôi có thể tìm đường quay trở lại được không. Tôi đá chân, với xuống thấp hơn, nhưng tôi không thể chạm tới đây, vậy nên tôi nghĩ có khi cứ thả người trôi một lát, không bị quấy rầy, không bị nhìn ngó.

Tôi trôi tự do. Nước chườm lên mặt tôi và một thứ gì đó quét lên người tôi, mềm mại, giống như tóc phụ nữ. Cảm giác ngột ngạt dâng lên trong lồng ngực khiến tôi phải há miệng, ừng ực nuốt phải nước sông. Đâu đó xa xa, tôi nghe tiếng một phụ nữ la hét. Libby ấy, chị từng bảo thế, em có thể nghe thấy tiếng cô ấy, thỉnh thoảng giữa đêm, em có thể nghe thấy tiếng cô ấy van xin. Tôi vùng vẫy, nhưng một thứ gì đó đang siết chặt xương sườn tôi; tôi cảm thấy bàn tay cô ấy trong tóc tôi, đột ngột và dữ dội, và cô ấy kéo tôi xuống sâu hơn. Chỉ những phù thủy mới nổi.

Đó không phải Libby, tất nhiên, đó là chị, đang là hét với em. Bàn tay chị trên đầu em, kéo em xuống. Em vùng vẫy cố thoát khỏi chị. Kéo em xuống, hay lôi em lên? Chị tóm lấy quần áo em, bấu vào da em, để lại trên cổ trên cánh tay em những vết cào đồng bộ với những vết Robbie đã để lại trên chân em.

Cuối cùng, chúng ta đã ở trên bờ, em quỳ hai gối, hổn hển hóp không khí, còn chị đứng phía trên đầu em, la hét với em. “Con ranh béo ị ngu xuẩn, mày đang làm gì vậy hả? Mày đang định làm cái của khỉ gì vậy hả?” Rồi chị khuỵu gối xuống và vòng tay ôm lấy em, rồi chị ngửi thấy mùi cồn trên người em và lại quát lên. “Em mới có mười ba tuổi, Julia! Em không được phép uống rượu, em không được… Em đang làm gì vậy hả?” Những ngón tay xương xẩu của chị cắm vào cánh tay em, chị lắc em dữ dội. “Tại sao em lại làm chuyện này? Tại sao? Để chọc tức chị, phải không? Để bố mẹ giận chị hả? Chúa ơi, Julia, chị đã làm gì em cơ chứ?”

Chị đưa em về nhà, lôi em lên tầng và cả nước bồn tắm. Em không muốn vào trong bồn, nhưng chị vác em vào, lôi tuột quần áo của em ra và đẩy em vào trong nước ấm. Bất chấp hơi ấm, em vẫn không thể ngừng run rẩy. Em không chịu nằm xuống. Em ngồi, gù lưng xuống, bụng gập chặt đến khó chịu, trong khi chị lấy hai tay vỗ nước ấm lên khắp da em. “Lạy Chúa, Julia. Em vẫn là một cô bé. Em đáng lẽ không được… Em đáng lẽ không nên…” Chị có vẻ không tìm ra được từ nào để nói. “Được rồi. Được rồi, Julia. Được rồi. Chị xin lỗi vì đã hét lên với em. Và chị rất tiếc vì anh ấy đã làm tổn thương em, chị xin lỗi nhé. Nhưng em trông đợi cái gì chứ, Julia? Thật lòng thì em trông đợi cái gì chứ?”

Em để mặc chị tắm cho em, đôi tay chị mềm mại hơn lúc ở trong vùng sông nhiều. Em không hiểu sao lúc này chị lại có thể bình tĩnh đến thế, em cứ tưởng chị sẽ giận dữ hơn cơ. Không chỉ với em, mà còn vì em. Có lẽ em đã phản ứng quá mạnh, hoặc có khi chỉ là chị không muốn nghĩ đến chuyện này.

Chị bắt em thề sẽ không kể cho bố mẹ nghe chuyện đã xảy ra. “Hứa với chị đi, Julia. Em sẽ không kể cho bố mẹ, em sẽ không kể với bất kỳ ai về chuyện này. Được chứ? Không bao giờ. Chúng ta không thể nhắc đến chuyện này, được không? Bởi vì… Bởi vì tất cả chúng ta sẽ gặp rắc rối. Được chứ? Chỉ cần đừng nhắc chuyện này thôi. Nếu chúng ta không nhắc gì đến chuyện này, vậy thì chuyện này sẽ giống như chưa từng xảy ra. Không xảy ra chuyện gì hết, được chứ? Không xảy ra chuyện gì hết. Hứa với chị đi. Hứa với chị đi, Julia, em sẽ không bao giờ nhắc lại chuyện này.”

Em đã giữ lời hứa. Chị thì không.

2015**

* * *

*Helen*

Trên đường đến siêu thị, Helen thấy Josh Whittaker đang đạp xe. Người thằng bé ướt sũng và quần áo lấm lem bùn đất; cô cho xe chạy chậm lại và hạ kính cửa sổ xuống.

“Em không sao chứ?” Cô gọi to và nó vẫy tay nhe răng ra với cô - một nỗ lực vụng về để mỉm cười, cô đoán. Cô lái chậm, quan sát nó qua gương chiếu hậu. Nó đạp nhẩn nha, hết bẻ ghi đông sang bên này lại sang bên nọ, chốc chốc lại chống chân lên bàn đạp đứng dậy ngoái nhìn qua vai.

Tính nó vốn vẫn luôn có phần kỳ dị, và thảm kịch gần đây càng khiến cho tình hình thêm trầm trọng. Patrick đã dẫn nó đi câu cá đôi lần sau khi Katie chết - như một cách giúp đỡ Louise và Alec, để hai vợ chồng có chút thời gian riêng tư. Họ đã ở bên sông hết giờ này qua giờ khác và Patrick kể, thằng bé gần như chẳng nói một lời.

“Họ nên đưa thằng bé tránh xa nơi này ra,” Patrick đã bảo cô. “Họ nên chuyển đi.”

“Hồi ấy bố đâu có làm thế,” cô nhẹ nhàng đáp lại, và ông gật đầu.

“Chuyện đó khác.” ông nói. “Bố phải ở lại. Bố còn việc phải làm.”

Sau khi nghỉ hưu, ông ở lại vì họ - vì cô và vì Sean. Không phải bởi vì họ, mà để gần gũi với họ, bởi vì họ là tất cả những gì ông có: họ, ngôi nhà, dòng sông. Nhưng thời gian chẳng còn lại là bao. Chẳng ai nói gì hết, bởi vì gia đình họ vốn vẫn quen như thế, nhưng Patrick không còn khỏe.

Helen nghe tiếng ông họ giữa đêm, sù sự không ngừng, đến sáng cô lại nhìn thấy rõ ông di chuyển khổ sở đến mức nào. Tệ hơn cả là cô biết vấn đề không chỉ nằm ở sức khỏe cơ thể. Ông vốn cả đời sắc sảo, thế nhưng giờ lại trở nên hay quên, đôi khi lú lẫn. Ông mượn xe của cô và rồi quên béng mất đã để nó lại chỗ nào, hay có khi trả xe lại cho cô thì xe lại chất đầy đồ đồng nát, giống như hôm nọ. Đống rác ông đã tìm thấy? Những món đồ nữ trang rẻ tiền ông đã nhặt? Những chiến lợi phẩm? Cô không hỏi, không muốn biết. Cô sợ thay cho ông.

Nếu buộc lòng phải nói thật, thì cô cũng sợ cho cả chính bản thân mình nữa. Dạo gần đây, cô cứ hay suy nghĩ đâu đâu, lơ đãng, thái độ vô lý. Đôi khi, cô tưởng cô sắp phát điên. Mất kiểm soát. Như thế này chẳng giống cô chút nào. Helen vốn là người thực tế, lý trí, dứt khoát. Cô cân nhắc cẩn thận các lựa chọn của mình, rồi sau đó hành động. Con người não trái, bố chồng cô gọi cô như thế. Nhưng dạo gần đây, cô không còn là chính mình nữa. Những sự kiện trong năm vừa rồi đã khiến cô rối loạn, hất cô trượt khỏi con đường đã định. Giờ đây, cô nhận thấy mình bắt đầu đặt dấu chấm hỏi cho những vấn đề đời sống mà có những tưởng hầu như không cần phải chất vấn chút nào: cuộc hôn nhân của cô, cuộc sống gia đình của họ, thậm chí cả năng lực làm việc của cô.

Mọi chuyện bắt đầu từ Sean. Bắt đầu bằng những nghi ngờ của cô và rồi sau đó - thông qua Patrick - sự xác nhận kinh khủng. Mùa thu năm ngoái cô đã phát hiện ra rằng chồng cô - người chồng đức độ cương quyết, kiên định, chắc chắn của cô - hoàn toàn khác hẳn những gì cô vẫn tưởng. Cô nhận ra mình đã mất phương hướng. Lý trí của cô, tính dứt khoát của cô đã bỏ mặc cô. Cô biết làm gì? Bỏ đi? Bỏ mặc gia đình cùng các trách nhiệm của cô? Cô có nên ra tối hậu thư? Khóc lóc, phỉnh phờ? Cô có nên trừng phạt anh ta? Và nếu có thì bằng cách nào? Cắt nát bươm những chiếc áo sơ mi ưa thích của anh ta, bẻ cần câu cá của anh ta làm đôi, lôi sách của anh ta ra sân đốt?

Hết thảy những điều này có vẻ như đều thiếu thực tế, điên rồ hay đơn giản là lố bịch, vậy nên cô quay sang hỏi ý kiến Patrick. Ông thuyết phục cô ở lại. Ông đảm bảo với cô rằng Sean đã biết sai mà sửa, rằng anh ta vô cùng hối hận vì sự thiếu chung thủy của mình và rằng anh ta sẽ nỗ lực hết sức để được cô tha thứ. “Trong lúc chờ đợi,” ông nói, “hẳn nó sẽ hiểu - cả bố lẫn nó sẽ hiểu - nếu con muốn dùng căn phòng trống ở đây? Có lẽ sẽ tốt cho con nếu có chút thời gian riêng tư - và bố chắc chắn sẽ chỉ có lợi cho nó nếu nó ý thức được nó suýt đánh mất điều gì” Gần một năm sau đó, hầu như đêm nào cô cũng ngủ trong nhà của bố chồng.

Sai lầm của Sean, như nó được biết đến, chỉ là điểm khởi đầu. Sau khi cô chuyển đến nhà Patrick, Helen nhận thấy cô bắt đầu bị chứng mất ngủ khủng khiếp hành hạ: một địa ngục làm ta suy nhược, bất an, trằn trọc. Mà, cô phát hiện ra, bố chồng cô cũng chung cảnh ngộ. Ông cũng không sao ngủ được - ông đã bị vậy nhiều năm rồi, ông nói thế. Vậy nên họ cũng không ngủ. Họ cùng thức - đọc sách, chơi đố chữ, ngồi trong bầu không khí im lặng hữu hảo.

Thỉnh thoảng, nếu Patrick nhấp một ly whisky, ông sẽ thích nói chuyện. Về quãng đời cảnh sát điều tra của ông, về những ngày xưa của thị trấn. Đôi khi, ông kể cho cô nghe những chuyện khiến cô bất an. Những chuyện về dòng sông, những đồn thổi ngày xưa, những chuyện kể xấu xa đã bị chôn vùi từ lâu và giờ lại bị đào lên và sống dậy, lan truyền như thể sự thật bởi Nel Abbott. Những câu chuyện về gia đình họ, những điều tai hại. Những sự dối trá, những lời gièm pha bôi nhọ, chắc chắn vậy? Patrick bảo nó sẽ không cấu thành tội phỉ báng, sẽ không đưa ra tòa được. “Những lời dối trá của cô ta sẽ không bao giờ nhìn thấy ánh sáng ban ngày đâu. Bố sẽ bảo đảm điều đó,” ông bảo cô.

Chỉ có điều, vấn đề không nằm ở đấy. Vấn đề nằm chỗ, Patrick nói, việc cô ta làm đã gây thiệt hại rồi - với Sean, với gia đình. “Con có thực lòng cho rằng Sean sẽ vẫn cư xử theo cách đó nếu không phải vì cô ta nhồi nhét vào đầu nó những câu chuyện đấy, khiến nó nghi ngờ chính con người mình, nghi ngờ xuất thân của mình. Nó đã thay đổi, chẳng phải thế sao, con yêu? Và chính cô ta là người đã gây ra việc đó.” Helen lo rằng Patrick đã đúng và rằng mọi chuyện sẽ chẳng bao giờ còn quay lại như cũ được nữa, nhưng ông trấn an cô rằng có chứ. Ông siết chặt tay cô, cảm ơn cô vì đã lắng nghe và hôn lên trán cô rồi nói, “Con đúng là một cô gái tốt.”

Mọi chuyện khởi sắc, trong một thời gian. Rồi sau đó chúng lại thành ra tệ hơn nữa. Vì đúng lúc Helen nhận ra cô đã có thể ngủ được mấy tiếng liền một lúc, đúng khi cô bắt gặp mình lại đang mỉm cười với chồng theo cách cũ, đúng khi cô cảm thấy gia đình này đang dần quay trở về với sự cân bằng dễ chịu xưa kia, thì Katie Whittaker chết.

Katie Whittaker, ngôi sao của trường, một học sinh chuyên cần ngoan ngoãn, một đứa trẻ điềm đạm - chuyện đó thật sửng sốt, không thể lý giải. Và đó là lỗi của cô. Cô đã phụ lòng Katie Whittaker. Tất cả bọn họ đều thế: bố mẹ con bé, thầy cô giáo, toàn thể cộng đồng này. Họ đã không để ý thấy rằng cô bé Katie hạnh phúc ấy cần giúp đỡ, rằng nó chẳng hề hạnh phúc. Khi Helen bị hạ gục bởi những vấn đề trong gia đình, trở nên mụ mị vì chứng mất ngủ và bị quấy rầy bởi sự hoài nghi bản thân, một trong những người mà cô có trách nhiệm dạy bảo đã gục ngã.

Đến lúc Helen tới siêu thị, mưa đã tạnh. Mặt trời ló dạng và hơi nước bốc lên từ mặt đường nhựa, mang theo mùi đất. Helen lục lọi trong ví tìm danh sách đồ cần mua: cô phải mua một súc thịt bò cho bữa tối, rau, đậu hạt. Họ cần dầu ô liu, cà phê và viên nước giặt.

Đang đứng ở gian thực phẩm đóng hộp tìm nhãn hiệu cà chua băm cô vẫn cho là thơm nhất, cô để ý thấy một phụ nữ đang tiến lại và kinh hoàng nhận ra đó là Louise.

Chậm rãi tiến về phía cô, biểu cảm vô hồn, Louise đang đẩy một cái xe đẩy siêu thị to tướng gần như trống không. Helen hoảng loạn bỏ chạy, bỏ lại xe đẩy hàng của mình và chạy vội tới bãi đỗ xe, trốn trong xe cho tới khi nhìn thấy ô tô của Louise lắc lư đi qua tiến vào đường cái.

Cô thấy mình thật ngớ ngẩn và đáng hổ thẹn - cô biết đây chẳng hề giống với con người cô. Nếu là một năm trước, cô đã chẳng cư xử một cách mất mặt như thế. Cô sẽ nói chuyện với Louise, siết chặt tay bà ta và hỏi han về chồng cùng con trai bà ta. Cô sẽ cư xử một cách đường hoàng.

Helen không còn là chính mình. Cô biết giải thích bằng cách nào khác cho những điều cô vẫn suy nghĩ dạo gần đây, cho cách cô cư xử? Hết thảy cảm giác tội lỗi này, thái độ hoài nghi này, nó đang ăn mòn cô. Nó đang biến đổi cô, bóp méo con người cô. Cô không còn là người phụ nữ trước đây nữa. Cô có thể cảm thấy mình đang tuột ra, đang trượt đi như thể cô đang bị lột một lớp da, và cô không thích cái sự trần trụi bên dưới, cô không thích mùi của nó. Nó khiến cô cảm thấy yếu đuối, nó làm cô thấy sợ.

Sean

Trong mấy ngày sau khi mẹ mất, tôi không nói gì. Không một lời nào. Dù sao đi nữa theo bố tôi kể lại thì là như vậy. Tôi không còn nhớ nhiều về quãng thời gian đó, mặc dù tôi vẫn nhớ cách bố giúp tôi thoát khỏi sự im lặng bằng cách gây sốc, ông cầm bàn tay trái của tôi hơ trên lửa cho tới khi tôi kêu ré lên. Biện pháp tàn nhẫn, nhưng hiệu quả. Và sau đó, bố cho tôi giữ cái bật lửa. (Tôi đã giữ nó nhiều năm, thường mang nó theo người. Dạo gần đây tôi đã đánh mất nó, tôi không nhớ nổi là ở chỗ nào.)

Buồn đau, cú sốc, chúng ảnh hưởng đến người ta theo những cách lạ lùng. Tôi từng chứng kiến những người phản ứng trước tin dữ bằng cách cười phá lên, bằng vẻ dửng dưng ngoài mặt, bằng sự giận dữ, bằng nỗi sợ. Nụ hôn của Jules trong ô tô sau đám tang, nó không phải nụ hôn của ham muốn, nó là nụ hôn của nỗi đau buồn, của mong muốn được cảm thấy một điều gì đó bất kỳ điều gì - ngoài nỗi buồn. Sự câm lặng của tôi hồi nhỏ có lẽ là hậu quả của cú sốc, của chấn thương tâm lý. Mất một người chị có lẽ không hoàn toàn giống với mất một người bố hay người mẹ, nhưng tôi biết Josh Whittaker rất gần gũi với chị mình, vậy nên tôi không muốn phán xét thằng bé, không muốn đọc quá chi tiết xem nó đã nói gì làm gì đã cư xử như thế nào.

Erin gọi cho tôi bảo rằng có vụ náo loạn ở một ngôi nhà bên rìa Đông Nam thị trấn - một người hàng xóm gọi điện, báo rằng lúc cô ta về nhà thì nhìn thấy cửa sổ của ngôi nhà nói trên bị vỡ và một cậu bé đi xe đạp đang rời khỏi hiện trường. Ngôi nhà thuộc quyền sở hữu của một giáo viên trường thị trấn, còn cậu bé - tóc đen, mặc áo phông vàng đi xe đạp đỏ - tôi khá chắc chắn chính là Josh.

Chẳng khó để tìm ra nó. Thằng bé đang ngồi trên thành cầu, chiếc xe đạp cũng dựng tựa vào đó, quần áo ướt sũng và hai chân bê bết bùn. Nhìn thấy tôi, nó không bỏ chạy. Thực ra thì nó còn có vẻ nhẹ nhõm hẳn khi chào tôi, ngoan ngoãn y như bình thường. “Chào chú Townsend.”

Tôi hỏi nó có ổn không. “Cháu sẽ bị cảm lạnh cho xem” tôi nói, ra dấu chỉ bộ quần áo ướt nhẹp của thằng bé, và nó hé miệng nửa như cười nửa như không.

“Cháu không sao,” thằng bé nói.

“Josh này,” tôi bảo, “có phải chiều nay cháu đã đạp xe trên đường Seward không?” Nó gật đầu. “Cháu không tình cờ đi qua nhà thầy Henderson đấy chứ?”

Nó cắn môi dưới, đôi mắt nâu hiền lành mở to đến mức tròn xoe. “Chú đừng kể với mẹ cháu nhé, chú Townsend. Xin chú đừng kể cho mẹ cháu biết. Mẹ cháu đã có quá đủ việc cần lo rồi.” Một cục nghẹn to dần trong cổ họng tôi, và tôi phải cố kìm nước mắt. Nó chỉ là một đứa nhóc mà thôi, và trông nó mong manh quá! Tôi quỳ xuống bên thằng bé.

“Josh! Cháu đang làm cái quái gì vậy? Có ai khác ở đó cùng cháu không? Mấy đứa lớn hơn chẳng hạn?” tôi hỏi, khấp khởi hy vọng.

Thằng bé lắc đầu, nhưng không nhìn tôi. “Chỉ có mình cháu thôi.”

“Thật à? Cháu chắc chứ?” Thằng bé tránh mất đi chỗ khác. “Vì lúc trước chú đã thấy cháu nói chuyện với Lena bên ngoài đồn. Chuyện này không liên quan gì đến Lena đấy chứ?”

“Không!” nó kêu lên, giọng nó là một tiếng rít đau đớn, bẽ bàng. “Không. Là cháu đấy. Chỉ mình cháu thôi. Cháu đã ném đá vào cửa sổ nhà thầy ấy. Vào cửa sổ nhà… thằng chó đẻ ấy.” Cụm từ “thằng chó đẻ” được phát âm một cách cẩn trọng, như thể thằng bé đang cố gắng dùng cụm từ này lần đầu tiên.

“Thế quái nào mà cháu lại làm vậy hả?”

Đến lúc đó, thằng bé mới nhìn vào mắt tôi, môi dưới nó run run. “Bởi vì ông ta xứng đáng bị như thế,” nó nói. “Bởi vì cháu ghét ông ta.”

Thằng bé òa khóc.

“Đi thôi nào,” tôi nói, nhấc xe đạp của nó lên, “chú sẽ chở cháu về nhà.” Nhưng thằng bé đã túm chặt lấy hai bên tay nắm ghi đông.

“Không!” nó nức nở. “Chú không được làm thế. Cháu không muốn mẹ nghe được chuyện này. Bố cũng vậy. Bố mẹ cháu không thể nghe về chuyện này, bố mẹ không thể…”

“Josh,” tôi lại cúi người xuống, đặt tay lên yên xe của thằng bé. “Không sao đâu. Chuyện cũng chẳng tệ đến thế đâu. Chúng ta sẽ xử lý việc này. Thật đấy. Có phải ngày tận cùng của thế giới đâu.”

Nghe đến câu đó, thằng bé bắt đầu gào lên. “Chú không hiểu. Mẹ sẽ không bao giờ tha thứ cho cháu…”

“Tất nhiên là có chứ!” Tôi cố kiềm chế không phá lên cười. “Mẹ cháu sẽ tức giận chút xíu, chú dám chắc là vậy, nhưng cháu có làm chuyện gì khủng khiếp đâu, cháu có làm ai bị thương…”

Hai vai thằng bé run lên bần bật. “Chú Townsend, chú không hiểu. Chú không hiểu cháu đã làm gì đâu.”

Cuối cùng, tôi đưa thằng bé về đồn. Tôi cũng chẳng biết làm thế nào khác, thằng bé không cho tôi chở về nhà mà tôi thì lại không thể để mặc nó bên vệ đường trong tình trạng đấy. Tôi thu xếp chỗ ngồi cho nó ở văn phòng cuối đồn và pha cho nó một cốc trà, rồi bảo Callie chạy ra ngoài mua một ít bánh quy.

“Anh không thể thẩm vấn thằng bé được đâu, thanh tra,” Callie nói, phát hoảng lên. “Không làm thế được nếu không có một người lớn đi kèm.”

“Tôi không thẩm vấn thằng bé,” tôi bực mình đáp. “Thằng bé đang hoảng loạn và chưa muốn về nhà.”

Những lời lẽ ấy đột ngột lấy ra một ký ức: Thằng bé đang hoảng loạn và không muốn về nhà. Hồi đó tôi nhỏ tuổi hơn Josh, mới chỉ lên sáu, và có một cô cảnh sát nắm tay tôi. Tôi chẳng bao giờ biết ký ức nào của tôi mới là thực - tôi đã nghe quá nhiều câu chuyện về thời điểm đó, từ quá nhiều nguồn khác nhau, đến nỗi khó mà phân biệt được đâu là ký ức đâu là tưởng tượng. Nhưng trong đoạn hồi tưởng này, tôi đang run rẩy sợ hãi, và có một cô cảnh sát ở cạnh tôi, đậm người và dịu dàng, ôm sát tôi vào hông cô để chở che trong lúc mấy người đàn ông nói chuyện phía bên trên đầu tôi. “Thằng bé đang hoảng loạn và không muốn về nhà,” cô bảo.

“Cô đưa thằng bé đến chỗ cô được không, Jeannie?” bố tôi hỏi. “Cô cho thằng bé ở cùng nhé?” Thế thôi. Jeannie. Nữ cảnh sát Sage.

Điện thoại đổ chuông lôi tôi trở về với hiện tại.

“Thanh tra?” Là Erin. “Hàng xóm bên kia đường đã nhìn thấy một cô gái bỏ chạy theo hướng ngược lại. Thiếu niên, tóc vàng dài, quần soóc denim và áo phông trắng.”

“Lena. Tất nhiên rồi.”

“Phải, nghe có vẻ là thế. Anh có muốn tôi qua đón nó về đồn không?”

“Hôm nay cứ kệ nó đi,” tôi nói. “Nó đã có đủ vấn đề rồi. Cô có liên hệ được với chủ nhà không - với Henderson?”

“Vẫn chưa. Tôi vẫn đang gọi điện, nhưng cuộc gọi được chuyển thẳng đến hòm thư thoại. Lúc trước tôi nói chuyện với anh ta thì anh ta đã nhắc đến vợ chưa cưới ở Edinburgh, nhưng tôi không có số của cô ta. Có khi giờ này họ đã lên máy bay rồi cũng nên.”

Tôi mang cốc trà vào cho Josh. “Nghe này,” tôi bảo thằng bé, “các chú cần liên lạc với bố mẹ cháu. Chú chỉ muốn báo cho họ biết cháu đang ở đây, và cháu vẫn ổn, được chứ? Chú chưa cần kể chi tiết với họ, ngay bây giờ thì chưa, chú sẽ chỉ bảo với họ là cháu đang lo lắng và chú đưa cháu đến đây để trò chuyện chút đỉnh. Thế được chứ?” Thằng bé gật đầu. “Và sau đó cháu có thể kể cho chú nghe chuyện gì đã khiến cháu lo lắng và rồi các chú sẽ tiếp quản vấn đề từ đó.” Thằng bé lại gật đầu. “Nhưng rồi cháu sẽ vẫn phải giải thích vụ ngôi nhà đấy nhé.”

Josh nhấp trà, thỉnh thoảng nấc cụt, vẫn chưa bình tĩnh hẳn sau cơn bùng nổ cảm xúc vừa rồi. Nó siết chặt hai tay quanh cái cốc, miệng mấp máy như thể đang cố tìm từ để truyền tải điều nó muốn nói với tôi.

Cuối cùng, thằng bé ngước nhìn tôi. “Dù cháu có làm gì đi nữa,” nó nói, “cũng sẽ có người khó chịu với cháu.” Rồi thằng bé lắc đầu. “Không, thật ra nói thế không đúng. Nếu cháu làm điều đúng đắn, mọi người sẽ khó chịu với cháu, còn nếu cháu làm sai, họ sẽ không. Lẽ ra không nên như thế, phải không ạ?”

“Ừ,” tôi nói, “không nên như thế. Và chú không chắc cháu đang nghĩ đúng về vấn đề này. Chú không thể tưởng tượng nổi lại có trường hợp nào mà nếu cháu làm đúng thì lại khiến cho tất cả mọi người khó chịu với cháu. Một vài người thì còn có thể, nhưng chắc chắn nếu đó là điều đúng đắn thì sẽ vẫn có nhiều người nhìn nó theo cách đấy chứ? Và cảm kích cháu?”

Thằng bé lại cắn môi. “Vấn đề là,” nó gọi, giọng lại run run, “đã gây ra thiệt hại rồi. Cháu đã quá muộn. Giờ đã quá muộn để làm điều đúng đắn rồi.”

Thằng bé lại khóc, nhưng không phải kiểu khóc lúc nãy. Nó không than van hay hoảng loạn, lần này thằng bé khóc như một người đã mất tất cả, mất toàn bộ niềm hy vọng. Thằng bé đang tuyệt vọng, và tôi không thể chịu đựng được điều đó.

“Josh, chú phải gọi bố mẹ cháu đến đây, chú phải làm thế,” tôi nói, nhưng thằng bé đã bám chặt cánh tay tôi.

“Xin chú, chú Townsend. Xin chú.”

“Chú muốn giúp cháu, Josh. Chú thật lòng muốn giúp. Nói cho chú nghe xem chuyện gì đang khiến cháu lo lắng quá mức như thế này đi.”

(Tôi nhớ mình đang ngồi trong một căn bếp ấm áp, không phải bếp nhà tôi, ăn bánh mì nướng phết phó mát. Jeannie đang ở đó, cô ngồi cạnh tôi. Sao cháu không kể cho cô nghe xem chuyện gì đã xảy ra, cháu yêu? Kể cho cô nghe đi. Tôi đã không nói gì. Không một từ. Không một lời nào hết.)

Nhưng Josh sẵn sàng nói chuyện. Thằng bé lau mắt và hỉ mũi. Nó húng hắng ho rồi ngồi thẳng dậy trong ghế. “Đó là chuyện về thầy Henderson,” nó nói. “Về thầy Henderson và chị Katie.”

THỨ NĂM, 20 THÁNG TÁM **

* * *

*Lena*

Ban đầu, đó chỉ là một trò đùa. Chuyện với thầy Henderson ấy. Một trò chơi. Trước đây chúng tôi đã chơi trò này rồi, với thầy Friar, dạy môn sinh, và với thầy Mackintosh, dạy môn bơi. Ta chỉ cần làm sao cho họ đỏ bừng mặt xấu hổ thôi. Chúng tôi luân phiên thử. Một trong hai đứa chúng tôi sẽ thử trước, nếu không được thì sẽ đến lượt đứa kia. Ta muốn làm gì tùy ý, muốn thực hiện vào thời gian nào cũng được, quy tắc duy nhất là khi đứa này thực hiện thì phải có mặt cả đứa kia, bởi vì nếu không sẽ chẳng thể chứng thực được gì. Chúng tôi không bao giờ cho thêm ai nhập hội, nó là chuyện riêng của chúng tôi - chỉ tôi và Katie - thật ra tôi không nhớ đây là ý tưởng của ai nữa.

Với thầy Friar, tôi chơi trước và chỉ mất tầm ba mươi giây là xong. Tôi tiến lên chỗ bàn làm việc của thầy ấy, mỉm cười, cắn môi trong lúc thầy đang giải thích gì đó về nội cân bằng và tôi ngả người về phía trước để áo sơ mi trễ xuống thấp thoáng lộ phần ngực, vậy là ô la la. Với thầy Mackintosh, phải tốn thêm chút công sức nữa vì thầy ấy vốn đã quen nhìn chúng tôi mặc đồ bơi rồi nên không có khả năng chỉ dựa vào một ít da thịt mà đủ khiến thầy ấy trở nên phát cuồng. Nhưng cuối cùng Katie vẫn thành công, bằng lối cư xử ngọt ngào e ấp và thoáng chút xấu hổ khi nói chuyện với thầy ấy về các bộ phim kungfu mà chúng tôi biết rõ thầy ấy vốn yêu thích.

Tuy nhiên, với thầy Henderson, đó lại là một câu chuyện khác. Katie nhận nhiệm vụ trước, bởi vì nó đã thắng trong vụ thầy Mac. Nó đợi cho đến khi tan lớp, và trong lúc tôi lề rề dọn dẹp sách vở của mình thì nó đi lên chỗ bàn ông ta và ngồi vắt vẻo ở mép bàn. Nó mỉm cười với ông ta, hơi ngả người về phía trước và định nói chuyện, nhưng ông ta đẩy phắt ghế ra đằng sau rồi đứng dậy, lùi ra sau một bước. Nó vẫn dấn tới, nhưng không mấy nhiệt tình, và khi chúng tôi rời khỏi lớp, ông ta nhìn chúng tôi bằng ánh mắt toát lên vẻ giận dữ. Đến lượt tôi thử, ông ta há miệng ngáp. Tôi đã cố hết sức, đứng sát cạnh ông ta, mỉm cười vuốt tóc sờ cổ và khẽ cắn môi dưới của mình, nhưng ông ta ngáp, rõ mồn một. Cứ như thể tôi khiến ông ta chán ớn.

Tôi không thể gạt nó ra khỏi đầu, cái cách ông ta nhìn tôi như thể tôi chẳng là gì hết, như thể tôi chẳng có xíu xiu thú vị gì. Tôi không muốn chơi nữa. Không phải với ông ta, chẳng vui gì cả. Ông ta cư xử như một thằng khốn. Katie hỏi, “Cậu nghĩ thế à?” và tôi bảo ừ, vậy là nó nói, thế cũng được. Và chuyện kết thúc ở đấy.

Cho đến mãi sau này, mấy tháng về sau, tôi mới phát hiện ra nó đã phá vỡ quy tắc. Tôi không hề biết gì, vậy nên khi Josh đến gặp tôi hôm Valentine cùng với câu chuyện vui nhộn nhất tôi từng nghe trên đời, tôi đã nhắn tin cho nó, gửi kèm một hình trái tim bé xinh. Nghe chuyện anh chàng của cậu rồi, tôi nhắn. KW & MH mãi mãi. Năm giây sau tôi đã nhận được tin nhắn viết XÓA NGAY ĐI. KHÔNG ĐÙA ĐÂU. XÓA ĐI. Tôi nhắn lại, CLGT? Và nó lại nhắn tiếp. XÓA NGAY ĐI NẾU KHÔNG THỂ CÓ CHÚA TỚ SẼ KHÔNG BAO GIỜ NÓI CHUYỆN VỚI CẬU NỮA. Lạy Chúa, tôi nghĩ. Bình tĩnh nào.

Sáng hôm sau trong lớp, nó phớt lờ tôi. Thậm chí còn chẳng buồn chào hỏi. Trên đường ra khỏi trường, tôi túm tay nó.

“Katie? Có chuyện gì vậy?” Nó hùng hổ đẩy tôi vào trong nhà vệ sinh. “Cái của nợ gì thế?” tôi hỏi. “Chuyện này là sao?”

“Chẳng sao cả,” nó rít lên với tôi. “Tớ chỉ thấy nó thật nhố nhăng, được chưa?” Nó nhìn tôi bằng ánh mắt ấy, ánh mắt mà dạo gần đấy nó càng ngày càng thường xuyên nhìn tôi, giống như thể nó đã là người trưởng thành trong khi tôi chỉ là đứa trẻ. “Dù sao đi nữa thì điều gì đã khiến cậu làm thế hả?”.

Chúng tôi đang đứng ở tít cuối phòng vệ sinh, dưới cửa sổ. “Josh đã đến gặp tớ,” tôi kể với nó. “Nó bảo nó đã nhìn thấy cậu và thầy Henderson nắm tay nhau ở bãi đậu xe…” Tôi cười phá lên.

Katie không cười. Nó quay người tránh khỏi tôi và đứng trước bồn rửa, nhìn vào hình phản chiếu của mình trong gương. “Cái gì?” Nó lôi mascara ra khỏi túi. “Chính xác thì nó đã nói gì?” Giọng nó có vẻ kỳ lạ, không giận dữ, không khó chịu, mà giống như là nó đang hoảng sợ.

“Nó bảo nó đang đợi cậu sau giờ tan trường thì nhìn thấy cậu với Henderson và hai người đang nắm tay nhau…” Tôi lại cười phá lên. “Chúa ơi, có phải chuyện gì to tát đâu cơ chứ. Nó chỉ dùng chuyện vì muốn tìm cớ đến gặp tớ thôi mà. Hôm đó là Valentine, vậy nên…”

Katie nhắm nghiền hai mắt. “Lạy Chúa! Cậu đúng là đứa ích kỷ quá mức,” nó nói khẽ. “Cậu lúc nào cũng cho rằng mọi chuyện đều xoay quanh cậu.”

Tôi cảm giác như vừa ăn một cái tát. “Cái gì…?” Tôi thậm chí chẳng biết trả lời ra sao, thái độ của nó khác hẳn bình thường. Tôi vẫn đang cố nghĩ xem nên nói gì thì nó thả rơi cây mascara vào trong bồn rửa, bấu chặt lấy mép bồn và òa khóc.

“Katie…” Tôi đặt tay lên vai nó và nó khóc càng dữ hơn. Tôi vòng tay ôm nó vào lòng. “Ôi lạy Chúa, có chuyện gì vậy? Đã xảy ra chuyện gì vậy?”

“Cậu không để ý thấy à,” nó sụt sịt, “rằng mọi chuyện đã khác trước nhiều? Cậu không để ý thấy à, Lena?”

Tất nhiên tôi để ý chứ. Dạo gần đây nó trở nên khác hẳn, xa cách hơn. Nó lúc nào cũng bận. Nó phải làm bài tập về nhà, vậy nên chúng tôi không lượn lờ sau khi tan học được, hoặc nó sẽ đi mua sắm với mẹ nên không thể đi xem phim, hoặc nó phải trông Josh nên không thể gặp nhau tối đó. Nó cũng thay đổi xét trên nhiều phương diện khác. Lúc ở trường trở nên lặng lẽ hơn. Nó không còn hút thuốc nữa. Nó bắt đầu giảm cân. Nó có vẻ không tập trung vào cuộc nói chuyện, giống như thể phát chán trước những chuyện tôi đang nói, như thể nó đang có những chuyện hay ho hơn để mà bận tâm đến.

Tất nhiên tôi đã để ý thấy chứ. Tôi đã đau lòng. Nhưng tôi không nói gì cả. Còn điều gì tồi tệ hơn chuyện để lộ cho người khác thấy ta đang đau lòng chứ, phải vậy không? Tôi không muốn tỏ ra yếu đuối, hay đáng thương, bởi vì không ai muốn giao du với một người như thế. “Tớ cứ tưởng… Tớ không biết nữa, K, tớ cứ tưởng cậu chỉ thấy chán tớ rồi hay sao đó.” Đến lúc đó nó càng khóc dữ hơn, và tôi ôm chầm lấy nó.

“Không phải thế,” nó nói. “Tớ không chán cậu. Nhưng tớ không thể kể với cậu, tớ không thể kể với bất kỳ ai.” Nó đột nhiên dùng phắt lại và giằng ra khỏi vòng tay tôi. Nó bước về đầu bên kia phòng và quỳ xuống, rồi bò về phía tôi, kiểm tra bên dưới từng buồng vệ sinh một.

“Katie? Cậu đang làm cái gì đấy?”

Đến tận lúc đó, ý nghĩ đó mới đột nhiên lóe lên trong đầu tôi. Tôi thật là đầu đất quá đi mất. “Ôi lạy Chúa,” tôi nói, khi nó đã đứng dậy trở lại. “Cậu… Có phải cậu thật sự đang nói là…” Tôi hạ giọng xuống thành tiếng thì thầm, “Đang có chuyện gì đó à?” Nó không nói gì nhưng nhìn tôi bằng ánh mắt thất thần và tôi đã biết chuyện đó là sự thật. “Mẹ kiếp. Mẹ kiếp! Cậu không thể… Chuyện đó thật điên rồ. Cậu không thể. Cậu không thể, Katie. Cậu phải dừng chuyện này lại… trước khi có bất kỳ điều gì xảy ra.”

Nó nhìn tôi như thể tôi có phần tối dạ, như thể nó thấy tiếc thay cho tôi. “Lena, chuyện đã xảy ra rồi.” Nó nửa cười nữa không, lau nước mắt vương trên mặt. “Chuyện đã xảy ra từ tháng Mười một rồi.”

Tôi không kể gì cho cảnh sát về chuyện đó. Đó hoàn toàn không phải việc của họ.

Họ đến nhà buổi tối, khi dì Julia và tôi đang ở trong bếp ăn tối. Đính chính: Tôi đang ăn tối. Dì chỉ gạt thức ăn lòng vòng quanh đĩa giống như dì vẫn luôn làm. Mẹ kể với tôi dì Julia không thích ăn trước mặt người khác - nó là một tàn dư từ thời dì ấy còn béo. Không ai trong chúng tôi nói chuyện - chúng tôi đã không nói gì với nhau từ lúc tôi về nhà hôm qua và bắt quả tang dì ấy đang động đến đồ đạc của mẹ - vậy nên thật nhẹ cả người khi chuông cửa kêu.

Khi tôi nhìn thấy khách đến là Sean và điều tra viên Morgan - Cô Erin, mấy người đó bảo tôi cứ gọi như vậy sau khi chúng tôi đã dành quá nhiều thời gian ở cạnh nhau - tôi chắc mẩm thể nào cũng là về vụ cửa sổ vỡ, mặc dù tôi cũng thấy nếu chỉ vì vậy mà cả hai người họ đều đến cả thì có vẻ khoa trương quá. Tôi lập tức nhận lõi.

“Cháu sẽ trả tiền bồi thường,” tôi nói. “Giờ cháu có đủ khả năng chi trả rồi nhỉ?”

Dì Julia bặm môi như thể dì nghĩ tôi là một nỗi thất vọng đối với dì. Dì đứng dậy, bắt đầu dọn dẹp bát đĩa, mặc dù dì chẳng ăn gì cả.

Sean cầm ghế của dì và xoay nó lại để ngồi xuống cạnh tôi. “Chúng ta sẽ bàn đến chuyện đó sau,” chú ấy nói, khuôn mặt nghiêm nghị buồn bã. “Nhưng trước tiên cô chú cần nói chuyện với cháu về Mark Henderson.”

Tôi lạnh người, dạ dày tôi nhộn nhạo y như những khi ta biết một chuyện thật sự tệ hại sắp xảy ra. Họ đã biết. Tôi vừa cảm thấy suy sụp lại vừa nhẹ nhõm, nhưng tôi cố hết sức giữ cho vẻ mặt hoàn toàn vô tội và không chút biểu cảm. “Vâng,” tôi nói. “Cháu biết. Cháu đã ném vỡ cửa sổ nhà thầy ấy.”

“Tại sao cháu lại ném vỡ cửa sổ nhà anh ta?” Erin hỏi.

“Vì cháu thấy chán. Vì ông ta là một thằng khốn. Vì…”

“Đủ rồi, Lena!” Sean cắt ngang. “Đừng nói nhăng nói cuội nữa.” Chú ấy có vẻ giận dữ thật sự. “Cháu biết thừa cô chú không nói đến chuyện đó, phải không?” Tôi không nói gì, tôi chỉ nhìn ra ngoài cửa sổ. “Bọn chú đã nói chuyện với Josh Whittaker,” chú ấy nói, và ruột gan tôi lại nhộn nhạo lần nữa. Có lẽ từ lâu tôi đã biết Josh sẽ không đời nào giữ im lặng mãi mãi về chuyện này được, nhưng tôi đã hy vọng rằng với việc ném vỡ cửa sổ nhà Henderson, thằng bé có lẽ sẽ thấy hài lòng, ít nhất cũng trong một thời gian ngắn. “Lena? Cháu có đang nghe chú nói không đấy?” Sean đang ngồi trong ghế đua người về phía trước. Tôi để ý thấy hai bàn tay chú ấy hơi run run. “Josh đã đưa ra một cáo buộc rất nghiêm trọng về Mark Henderson. Thằng bé nói với bọn chú rằng Mark Henderson đã có quan hệ - quan hệ tình dục - với Katie Whittaker trong vòng nhiều tháng trước khi cô bé chết.”

“Vớ vẩn!” tôi nói, và tôi cố gắng bật cười. “Tuyệt đối vớ vẩn.” Mọi người nhìn tôi chằm chằm và tôi chẳng thể ngăn được mặt mũi đỏ bừng. “Chuyện vớ vẩn!” tôi nhắc lại.

“Tại sao thằng bé lại bịa ra một câu chuyện như thế, Lena?” Sean hỏi tôi. “Tại sao em trai Katie lại tưởng tượng ra một câu chuyện như thế?”

“Cháu không biết,” tôi nói. “Cháu không biết. Nhưng chuyện đó không có thật đâu.” Tôi dán mặt vào bàn và cố gắng nghĩ ra một lý do nào đó, nhưng mặt tôi càng lúc càng nóng bừng lên.

“Lena,” Erin nói, “rõ ràng cháu không nói thật. Mà vì cái lý do quỷ tha ma bắt nào mà cháu lại nói dối về một chuyện như thế này chứ. Tại sao cháu lại cố gắng bảo vệ một kẻ đã lợi dụng bạn cháu như thế?”

“Ồ, vì con mẹ nó…”

“Cái gì?” cô ta hỏi, gí sát mặt vào mặt tôi. “Vì con mẹ nó cái gì?” Có một cái gì đó ở cô ta, ở cái cách cô ta áp sát tôi và biểu cảm trên mặt cô ta, tất cả khiến cho tôi chỉ muốn tát cho cô ta một phát.

“Ông ta không lợi dụng nó. Nó có phải trẻ con đâu!”

Đến lúc đó, cô ta có vẻ thật sự hài lòng với bản thân, và tôi càng muốn tát cô ta hơn, còn cô ta vẫn tiếp tục nói. “Nếu anh ta không lợi dụng bạn cháu, vậy thì tại sao cháu lại ghét anh ta đến thế? Cháu ghen à?”

“Tôi nghĩ đủ rồi đấy,” dì Julia nói, nhưng chẳng ai thèm nghe dì. Erin vẫn tiếp tục nói, nói tràng giang đại hải với tôi. “Chính cháu cũng muốn anh ta, phải không? Cháu thấy giận dữ, bởi vì cháu nghĩ cháu là người xinh đẹp hơn, cháu nghĩ lẽ ra cháu mới là người nên giành được hết thảy sự chú ý?”

Đến lúc đó thì tôi hoàn toàn mất bình tĩnh. Tôi biết nếu cô ta không câm miệng lại thì thể nào tôi cũng sẽ đánh cô ta, vậy nên tôi đã nói ra. “Cháu ghét ông ta, đồ ngu ạ. Cháu ghét ông ta vì ông ta đã cướp Katie khỏi cháu.”

Mọi người lặng thinh chốc lát. Rồi Sean hỏi, “Anh ta đã cướp bạn cháu khỏi cháu? Anh ta làm thế bằng cách nào, Lena?”

Tôi không kiềm chế được. Tôi đã mệt chết đi được, và giờ thì đã rõ là dù sao đi nữa họ cũng sẽ phát hiện ra thôi, một khi Josh đã toang toác cái miệng ra rồi. Nhưng trên hết, tôi đã quá mệt mỏi chẳng thể nói dối thêm được nữa. Vậy nên tôi ngồi đó, trong căn bếp của chúng tôi và tôi đã phản bội Katie.

Tôi đã hứa với nó. Sau khi chúng tôi cãi nhau, sau khi nó thề với tôi rằng bọn họ đã chia tay và rằng nó không còn gặp gỡ ông ta nữa, nó đã bắt tôi thề: rằng cho dù có chuyện gì xảy ra, bất kể chuyện gì, tôi cũng sẽ không bao giờ được kể với bất cứ ai về họ. Chúng tôi đã cùng nhau tới vùng sông, lần đầu tiên sau hàng thế kỷ. Chúng tôi ngồi dưới gốc cây nơi không ai có thể nhìn thấy chúng tôi và nó đã nắm tay tôi mà khóc. “Tớ biết cậu cho rằng chuyện này là sai trái,” nó nói, “rằng lẽ ra tớ không nên ở cùng với thầy ấy. Tớ hiểu điều đó. Nhưng tớ yêu thầy ấy, Lenie. Tớ vẫn còn yêu. Thầy ấy là tất cả đối với tớ. Tớ không thể để thầy ấy bị tổn thương, tớ không thể. Tớ không thể chịu đựng nổi chuyện đó. Xin cậu đừng làm bất cứ điều gì gây tổn thương cho thầy ấy. Tớ xin cậu, Lenie, hãy giúp tớ giữ bí mật này. Đây không phải là vì thầy ấy, tớ biết cậu ghét thầy ấy. Hãy làm thế vì tớ.”

Và tôi đã cố gắng. Tôi thật sự cố gắng. Thậm chí kể cả khi mẹ đến phòng tôi báo cho tôi biết người ta đã tìm thấy nó trong dòng nước, thậm chí kể cả khi bác Louise đến nhà trong cơn đau khổ đến mức nửa tỉnh nửa điên, thậm chí kể cả khi gã khốn đó phát biểu trên các tờ báo địa phương rằng nó là một học sinh xuất sắc đến mức nào, nó được bạn học và thầy cô yêu quý và ngưỡng mộ ra sao. Thậm chí kể cả khi ông ta đến gặp tôi ở đám tang của mẹ tôi ngỏ lời chia buồn, tôi vẫn cắn lưỡi làm thinh.

Nhưng giờ tôi đã cắn mãi cắn mãi cắn đến hàng mấy tháng trời và nếu không dừng lại thì thể nào tôi cũng sẽ cắn đứt cả lưỡi mất. Tôi sẽ chết nghẹn mất.

Vậy nên tôi kể với họ. Phải, Katie và Mark Henderson đã qua lại với nhau. Chuyện bắt đầu hồi mùa thu. Chuyện kết thúc vào tháng Ba hoặc tháng Tư. Nó lại bắt đầu lần nữa, cuối tháng Năm, tôi nghĩ thế, nhưng không kéo dài lâu. Nó đã chấm dứt mối quan hệ. Không, tôi không có bằng chứng.

“Họ thận trọng lắm,” tôi kể với họ. “Không email, không tin nhắn, không Messenger, không có dấu vết điện tử nào. Đó là một quy tắc của họ. Họ tuân thủ nó rất nghiêm ngặt.”

“Họ hay anh ta?” Erin hỏi.

Tôi trừng mắt nhìn cô ta. “Này, cháu có bao giờ tâm sự với ông ta đâu, phải không? Katie kể cho cháu nghe thế. Đó là quy tắc của họ.”

“Lần đầu tiên cháu phát hiện ra chuyện này là khi nào, Lena?” Erin hỏi. “Cháu phải kể lại từ đầu đấy.”

“Không đâu, thật ra tôi không cho là con bé sẽ làm thế,” dì Julia đột nhiên nói. Di đang đứng cạnh cửa; tôi đã quên mất dì cũng đang ở trong phòng. “Tôi nghĩ Lena mệt lắm rồi và có lẽ giờ nên để nó yên. Chúng tôi có thể ghé qua đồn cảnh sát vào ngày mai, hoặc anh chị có thể quay lại đây, nhưng hôm nay thì đủ rồi.”

Tôi thật lòng muốn ôm chầm lấy dì, vì đây là lần đầu tiên kể từ khi gặp dì, tôi có cảm giác dì Julia đứng về phía tôi. Erin định phản đối, nhưng Sean đã nói, “Vâng, cô nói đúng,” và chú ấy đứng dậy rồi tất cả họ sải bước rời khỏi bếp vào trong hành lang. Tôi đi theo họ. Khi họ đã ra đến cửa ra vào, tôi nói với họ, “Cô chú có nhận ra chuyện này sẽ ảnh hưởng thế nào đến bố mẹ nó không? Khi họ phát hiện ra?”

Erin quay người lại đối mặt với tôi. “Chậc, ít nhất họ cũng sẽ có được một lý do giải thích cho cái chết của con gái,” cô ta nói.

“Không, họ sẽ không có đâu. Họ sẽ không có lý do nào cả,” tôi nói. “Nó đã làm điều ấy mà chẳng có lý do nào. Xem đấy, ngay bây giờ chính cô chú đang chứng minh điều đó. Bằng việc xuất hiện ở đây, cô chú đã chứng minh rằng nó đã làm thế chẳng vì cái gì cả.”

“Ý cháu là sao, Lena?” Họ đều đang đứng ở đó, nhìn tôi chăm chăm, chờ đợi.

“Nó làm thế không phải vì ông ta đã làm nó đau khổ hay bởi vì nó cảm thấy tội lỗi hay bất kỳ cái gì kiểu thế. Nó làm thế là để bảo vệ ông ta. Nó cho rằng có người đã phát hiện ra. Nó cho rằng ông ta sẽ bị tố cáo và rằng ông ta sẽ bị bêu tên trên báo. Nó cho rằng sẽ có một phiên tòa, và ông ta sẽ bị kết tội, ông ta sẽ bị tống vào tù như một tên tội phạm tình dục. Nó cho rằng ông ta sẽ bị đánh đập, hay bị cưỡng hiếp, hoặc bất kỳ chuyện gì mà những người đàn ông như thế sẽ gặp phải trong tù. Vậy nên nó quyết định loại bỏ bằng chứng,” tôi nói. Đến lúc đó, tôi không ngăn được nước mắt nữa và dì Julia bước ra đứng trước mặt tôi, quàng hai cánh tay ôm tôi, dì dỗ dành, “Suỵt, Lena, không sao đâu, suỵt.” “

Nhưng không sao thế nào được cơ chứ. “Đó chính là điều nó đã làm,” tôi nói. “Cô chú không hiểu à? Nó đã loại bỏ bằng chứng.”

THỨ SÁU, 21 THÁNG TÁM **

* * *

*Erin*

Ngôi nhà nhỏ ven sông, ngôi nhà tôi đã thấy trên đường chạy bộ, sẽ là nhà mới của tôi. Trong một thời gian ngắn, ít nhất là thế. Chỉ cho đến khi chúng tôi giải quyết xong xuôi vụ việc với Henderson. Chính Sean đã gợi ý việc này. Anh ta đã nghe thấy tôi nói với điều tra viên Callie rằng sáng nay suýt nữa tôi đã cho xe leo lề vì quá mệt, vậy nên anh ta bảo, “Chà, chúng ta không thể để như thế được. Cô nên ở lại thị trấn đi. Cô có thể sử dụng ngôi nhà nhỏ của gia đình Ward. Nó ở ngay chỗ thượng nguồn sông và hiện đang để trống. Cũng không được xa hoa đâu, nhưng cô sẽ không mất chi phí gì hết. Chiều nay tôi sẽ đưa chìa khóa cho cô.”

Khi anh ta đã đi rồi, Callie toét miệng cười với tôi. “Căn nhà nhỏ của gia đình Ward hả? Nhớ cảnh giác với Annie Điên đấy nhé.”

“Sao cơ?”

“Ngôi nhà ven sông vẫn được Patrick Townsend dùng làm cabin câu cá ấy - nó vẫn được mọi người gọi là ngôi nhà nhỏ của gia đình Ward. Ward trong tên của Anne Ward. Bà ta là một trong số những phụ nữ đó. Họ nói,” cô nói, hạ thấp giọng xuống thành một tiếng thì thầm, “rằng nếu săm soi kỹ, ta vẫn có thể nhìn thấy vết máu dính trên tường đấy.” Vẻ mặt tôi chắc phải lơ ngơ ghê lắm - tôi chẳng biết cô đang nói đến chuyện gì - bởi vì cô đã mỉm cười nói, “Chỉ là một câu chuyện thôi mà, một trong những câu chuyện xưa. Một trong những câu chuyện xa xưa của Beckford.” Tôi không mấy để tâm tới những câu chuyện xa xưa đến hàng thế kỷ của Beckford - tôi đã có đủ những câu chuyện mới hơn để mà bận tâm.

Henderson vẫn không trả lời điện thoại, vậy nên chúng tôi quyết định mặc kệ đấy chờ cho đến khi anh ta quay lại. Nếu câu chuyện về Katie Whittaker là sự thật, và nếu anh ta phong thanh biết được chúng tôi đã nghe về nó, rất có thể anh ta sẽ chẳng đời nào quay trở về.

Trong lúc đó, Sean đề nghị tôi đến hỏi chuyện vợ anh ta, vốn là hiệu trưởng, sếp của Henderson. “Tôi chắc chắn cô ấy chưa từng mảy may nghi ngờ Mark Henderson,” anh ta nói. “Tôi tin là cô ấy đánh giá khá cao anh ta, nhưng cần có người nói chuyện với cô ấy và hiển nhiên người đó không thể là tôi được.” Anh ta bảo tôi cô đang có mặt ở trường và chờ gặp tôi.

Nếu đang chờ gặp tôi, chắc chắn cô ta đã chẳng cư xử như thế. Tôi tìm thấy cô ta trong văn phòng riêng, đang chống tay quỳ gối, má gần như áp sát lên mặt thảm màu xám trong lúc cô rướn cổ cố nhòm vào bên dưới một tủ sách. Tôi lịch sự hắng giọng và cô ta ngẩng phắt đầu lên, cảnh giác.

“Bà Townsend phải không?” tôi hỏi. “Tôi là điều tra viên Morgan. Erin.”

“Ồ,” cô ta nói. “Vâng.” Cô ta đỏ mặt, giơ một bàn tay lên cổ. “Chả biết mất đầu một cái hoa tai,” cô nói.

“Nhìn thì thấy là cả hai cái đấy,” tôi nói.

Cô ta bật ra một âm thanh kỳ quái kiểu như bực bội và ra dấu mời tôi ngồi xuống. Cô ta giật giật gấu áo và vuốt phẳng cái quần màu xám trước khi ngồi xuống. Nếu trước đây được yêu cầu hình dung về vợ của tay thanh tra này, hẳn tôi đã tưởng tượng ra một người khác hẳn. Quyến rũ, mặc đẹp, có lẽ có dáng thể thao - một cô nàng điền kinh, một vận động viên ba môn phối hợp. Helen có lối ăn mặc phù hợp với một phụ nữ già hơn cô đến hai mươi tuổi. Cô ta xanh xao, chân tay ẻo lả, đúng kiểu một người hiếm khi ra ngoài trời hay nhìn thấy ánh nắng

“Cô muốn nói chuyện với tôi về Mark Henderson,” Cô ta nói, hơi cau mày trước chồng giấy tờ trước mặt. Không chuyện phiếm, không mào đầu - đi thẳng vào vấn đề. Có lẽ đây là điểm viên thanh tra thích ở cô ta.

“Vâng,” tôi đáp. “Theo tôi hiểu, chắc chị đã nghe về các cáo buộc của Josh Whittaker và Lena Abbott?”

Cô ta gật đầu, hai phiến môi mỏng biến mất khi cô ép chúng vào nhau. “Chồng tôi đã kể tôi nghe hôm qua. Tôi có thể đảm bảo với cô, đây là lần đầu tiên tôi nghe thấy một chuyện như vậy.” Tôi mở miệng định nói, nhưng cô ta đã tiếp tục. “Tôi tuyển Mark Henderson về trường hai năm trước. Anh ta mang theo các giấy giới thiệu không chê vào đâu được và bằng cấp của anh ta tính đến thời điểm đó rất có sức thuyết phục.” Cô ta xáo trộn đống giấy tờ trước mặt. “Nếu cô cần thì tôi có thông tin chi tiết đấy?” Tôi lắc đầu, và một lần nữa, cô ta lại bắt đầu nói khi tôi còn chưa kịp hỏi câu tiếp theo. “Katie Whittaker là người chu đáo và chăm chỉ. Tôi có bảng điểm của cô bé ở đây này. Phải thừa nhận là hồi mùa xuân vừa rồi có chút chệch choạc, nhưng cũng chỉ mất một giai đoạn ngắn, nó đã lại cải thiện được tình hình trước khi… trước khi nó…” - cô ta đưa một bàn tay lên che hai mắt - “trước khi mùa hè sang.” Cô hơi thụt người vào sâu hơn trong ghế.

“Vậy là chị không nghi ngờ gì, không có đồn thổi gì…?”

Cô ta nghiêng đầu sang một bên. “Ồ, tôi có nói gì đến các đồn thổi đâu. Điều tra viên… ờ… Morgan. Những đồn thổi bay lượn xung quanh một ngôi trường trung học bình thường có thể làm cho cô xù cả tóc lên được đấy. Tôi chắc chắn,” cô ta nói, miệng rần rật, “rằng nếu để ý, cô có thể tưởng tượng được họ nói, viết và đăng lên Twitter những gì về tôi và cô Mitchell, giáo viên giáo dục thể chất đấy.” Cô ta dừng lại. “Cô gặp Mark Henderson chưa?”

“Rồi.”

“Vậy chắc cô cũng hiểu. Anh ta còn trẻ. Điển trai. Đám con gái - lúc nào cũng là đám con gái - nói đủ thứ chuyện về anh ta. Đủ thứ. Nhưng cô phải học cách sàng lọc thông tin. Và tôi tin rằng tôi đã làm được điều đó. Tôi vẫn tin rằng tôi đã làm được điều đó.” Một lần nữa, tôi muốn nói, và một lần nữa, cô ta lại nhanh miệng hơn. “Tôi phải nói với cô,” cô ta nói, cao giọng, rằng tôi hoài nghi sâu sắc những cáo buộc này đấy. Hoài nghi sâu sắc, bởi vì nguồn gốc của chúng và bởi vì thời điểm mà chúng bung ra.”

“Tôi…”

“Tôi hiểu rằng lời cáo buộc bắt nguồn đầu tiên từ Josh Whittaker, nhưng tôi sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu Lena Abbott không đứng đằng sau toàn bộ chuyện này - Josh mê con bé như điếu đổ. Nếu Lena quyết định tìm cách đẩy sự chú ý tránh ra khỏi những sai lầm cá nhân của nó - chẳng hạn mua thuốc phi pháp cho bạn - tôi chắc chắn nó có thể thuyết phục Josh bịa ra câu chuyện này.”

“Chị Townsend…”

“Có lẽ tôi nên nhắc thêm một chuyện nữa,” cô ta tiếp tục, không cho phép tôi ngắt lời, “là giữa Lena Abbott và Mark Henderson cũng từng có chút quá khứ.”

“Quá khứ?”

“Một vài chuyện. Đầu tiên, thái độ của con bé có đôi lúc không được phù hợp.”

“Kiểu như thế nào?”

“Con bé tán tỉnh. Không phải chỉ với Mark đâu. Có vẻ như con bé đã được dạy rằng đó là cách hiệu quả nhất để đạt được những gì nó muốn. Nhiều đứa con gái đã làm thế, nhưng riêng trong trường hợp của Lena, có vẻ như Mark cảm thấy rằng sự việc đã đi quá xa. Nó đưa đẩy, động chạm vào anh ta…”

“Động chạm vào anh ta?”

“Lên cánh tay - chẳng phải hành động thái quá gì. Con bé đứng quá sát, như lời bài hát nào đó đấy. Tôi đã phải trao đổi với con bé về chuyện này.” Cô ta có vẻ hơi do dự trước ký ức này. “Nó đã bị khiển trách, mặc dù tất nhiên nó chẳng thấy chuyện có gì nghiêm trọng. Nếu tôi nhớ không nhầm thì nó đã nói gì đó đại loại là Thầy ấy muốn mà.” Tôi bật cười khi nghe câu đó, và cô ta cau mày nhìn tôi. “Đây thật sự không phải chuyện đáng cười đâu, điều tra viên. Những chuyện như thế này có thể gây ra những tổn hại khủng khiếp đấy.”

“Vâng, tất nhiên rồi. Tôi biết. Tôi xin lỗi.”

“Được rồi. Thế đấy.” Cô ta lại bặm môi, khắp người toát lên phong thái bà giáo. “Mẹ con bé cũng chẳng coi chuyện đó có gì nghiêm trọng. Thái độ thế cũng chẳng có gì đáng ngạc nhiên.” Cô ta đỏ mặt, một màu đỏ giận dữ ửng lên trên cổ cô, giọng cô ta cao vút lên. “Không đáng ngạc nhiên chút xíu nào. Hết thảy trò tán tỉnh ấy, những cú đá lông nheo và hất tóc bất tận ấy, vẻ mơi hàng dai dẳng đến khó chịu ấy - cô nghĩ Lena học được chúng từ đâu chứ?” Cô ta hít một hơi thở sâu rồi thở ra, gạt tóc khỏi chờm lên mắt. “Thứ hai,” cô ta nói, giờ đã bình tĩnh hơn, thận trọng hơn, “là một sự cố hồi mùa xuân. Lần này không phải là tán tỉnh, mà là gây sự. Mark phải đuổi Lena ra khỏi lớp vì con bé tỏ ra hung hăng và khá hỗn xược, sử dụng ngôn ngữ thô tục trong lúc thảo luận về một văn bản lớp đang nghiên cứu.” Cô ta liếc mắt xuống các ghi chép của mình. “Tác phẩm Lolita, tôi tin chắc thế.” Cô ta nhướng một bên lông mày.

“Chậc, chuyện đó… thú vị thật,” tôi nói.

“Cũng tương đối thú vị. Chuyện đó có lẽ còn gợi ý cho ta rằng con bé đã lấy ý tưởng cho những cáo buộc này từ đầu ra,” Helen nói, nhưng đây hoàn toàn không phải suy nghĩ của tôi.

Buổi tối, tôi lái xe về ngôi nhà tạm của mình. Nó có vẻ càng đậm nét cô liêu dưới bóng chiều chạng vạng, những cây bạch dương tươi sáng sau nhà giờ thật ma mị, tiếng dòng sông róc rách nghe đầy hăm dọa chứ chẳng vui vẻ gì cho cam. Hai bên bờ sông cùng sườn đồi phía đối diện đều vắng tanh. Ta có la hét cũng không ai nghe thấy. Hồi trước, khi tôi băng qua nơi này trên đường chạy bộ, tôi nhìn thấy ở nó một khung cảnh đồng quê thật thanh bình. Giờ thì tôi lại thấy nó phần nhiều giống với một cabin bỏ hoang trong cả trăm bộ phim kinh dị.

Tôi mở khóa cửa ra vào và lướt mắt một vòng quanh nhà, cố gắng, như thường lệ, không tìm kiếm vết máu trên tường. Nhưng nơi này thật ngăn nắp, sực nức mùi hương của một sản phẩm vệ sinh hương chanh nào đó, lò sưởi đã được quét dọn, một chồng củi xếp gọn gàng bên cạnh. Không có gì nhiều nhặn ở đây, nó giống một cabin hơn một ngôi nhà nhỏ đích thực: chỉ có hai phòng - một phòng khách thông với gian bếp nhỏ, một phòng ngủ đặt một chiếc giường đôi nhỏ, một chồng khăn trải giường cùng một chiếc chăn sạch được gấp gọn gàng trên đệm.

Tôi mở cửa sổ và cửa ra vào để cho bay bớt mùi chanh nhân tạo, mở một chai trong lốc bia lúc nãy đã mua ở cửa hàng Co-op trên đường, rồi ngồi trên bậc thềm trước nhà, ngắm nhìn bãi dương xỉ diều hâu trên ngọn đồi phía đối diện đã chuyển từ màu đồng sang vàng óng dưới ánh mặt trời đang lặn. Khi bóng tối loang dần, cảm giác tách biệt đã biến thành nỗi cô đơn, và tôi với tay tìm điện thoại, không chắc định gọi cho ai. Rồi tôi nhận ra - tất nhiên - không có tín hiệu. Tôi nặng nề đứng dậy, lang thang, giương điện thoại lên cao vung vẩy - không có gì, không có gì, không có gì, mãi cho tới khi tôi đã xuống tới mép sông, mới thấy hiện lên đôi ba vạch sóng. Tôi đứng đó một lúc, nước chờm lên các ngón chân, ngắm nhìn dòng sông đen chảy qua, nhanh và nông. Tôi cứ canh cánh cảm giác như đang có ai đó cười lớn tiếng, nhưng chỉ là dòng nước mà thôi, đang hối hả chảy qua bãi đá.

Phải mất đến hàng thế kỷ tôi mới chợp mắt được, và khi tôi bất chợt tỉnh giấc, người nóng hầm hập, trời đã tối đen như mực, cái màu đen thăm thẳm khiến ta có giơ bàn tay lên sát mặt cũng không thể nào nhìn thấy. Một thứ gì đó đã đánh thức tôi, tôi cảm thấy chắc chắn vậy: một âm thanh? Đúng rồi, một tiếng ho.

Tôi với tay lấy điện thoại, vô tình hất nó rời khỏi cái bàn đầu giường nhỏ, tiếng điện thoại rơi lạch cạch trên sàn vang to đến giật mình trong không gian tĩnh lặng. Tôi quờ quạng tìm điện thoại, hốt hoảng tóm vội lấy nó, dám chắc nếu tôi bật điện lên, thể nào cũng sẽ thấy một ai đó đang đứng ngay trong phòng. Giữa vạt cây phía sau nhà, tôi có thể nghe thấy tiếng cú kêu, và rồi lại một lần nữa: ai đó đang ho. Tim tôi đập dồn, tôi sợ hãi một cách ngớ ngẩn, chẳng dám kéo tấm rèm phía bên trên giường ra, chỉ e có một khuôn mặt đang ở bên kia tấm kính, đang nhìn lại tôi.

Tôi trông chờ sẽ nhìn thấy khuôn mặt ai đây? Anne Ward chăng? Chồng cô ta? Thật lố bịch. Lầm bầm trấn an bản thân, tôi bật đèn lên và vung tay kéo rèm ra. Chẳng có gì và chẳng có ai hết. Hiển nhiên rồi. Tôi chuồi ra khỏi giường, mặc quần thể thao và áo nỉ vào rồi đi xuyên qua gian bếp. Tôi định pha một tách trà, nhưng rồi đổi ý khi phát hiện ra một chai Talisker với nửa trong tủ bếp. Tôi rót cho mình một ly rượu đong được chừng vài lóng tay và uống vội uống vàng. Tôi xỏ chân vào đôi giày thể thao, cất điện thoại vào trong túi quần, chộp lấy cái đèn pin trên quầy bếp rồi mở khóa cửa ra vào.

Cây đèn hẳn sắp hết pin. Ánh sáng yếu, không chiếu về phía trước được xa quá sáu bảy bước chân. Ngoài tầm chiếu của cây đèn pin, bóng tối đông đặc. Tôi chiếu chếch đèn pin xuống để soi sáng khoảng đất trước bàn chân, rồi bước ra ngoài trời hòa vào trong đêm tối.

Cỏ nặng trĩu sương đêm. Mới được vài bước, giày và quần của tôi đã ướt đẫm sương. Tôi bước chậm suốt quãng đường vòng quanh ngôi nhà, quan sát ánh đèn pin nhảy múa trượt qua những vỏ sồi màu bạc, một đội quân những bóng ma nhợt nhạt. Không khí mát lạnh ẩm ướt, lất phất những hạt mưa vương trong gió nhẹ. Tôi lại nghe thấy tiếng cú kêu, và tiếng dòng sông róc rách khe khẽ, tiếng ếch ộp ộp nhịp nhàng. Tôi kết thúc chuyến đi vòng quanh ngôi nhà và bắt đầu tiến về phía bờ sông. Rồi tiếng ếch ộp bỗng dừng phắt lại, và một lần nữa, tôi lại nghe thấy tiếng ho đó. Nó không ở gần, nó xuất phát từ bên sườn đồi, đâu đó phía bên kia sông, và lần này nó chẳng hề giống với một tiếng ho. Nghe như tiếng be be thì đúng hơn. Một con cừu.

Tự thấy có phần ngượng ngùng, tôi quay trở vào nhà, rót cho mình thêm một cữ rượu nữa rồi túm lấy tập bản thảo của Nel Abbott đang để trong túi xách. Tôi cuộn người trên ghế bành trong phòng khách và bắt đầu đọc.

Vũng Sông Chết Đuối

Anne Ward, 1920

Nó đã ở sẵn trong nhà rồi. Nó đã ở đó. Bên ngoài chẳng có gì phải sợ, nguy hiểm nằm ở bên trong. Nó đang đợi, nó đã đợi đó từ rất lâu rồi, từ hồi anh ta về nhà.

*Dẫu vậy, xét cho cùng, với Anne, nó không phải nỗi sợ, nó là cảm giác tội lỗi. Nó là sự hiểu thấu, lạnh lẽo và cứng rắn như một viên đá cuội được nhặt từ dòng suối, về điều cô hằng mong mỏi, giấc mơ cô tự cho phép mình ấp ủ buổi đêm khi cơn ác mộng có thực của cuộc đời cô đã trở nên quá sức chịu đựng. Cơn ác mộng đó là anh ta, nằm cạnh cô trên giường, hoặc ngồi bên lò sưởi chân vẫn đi giày, tay cầm cốc rượu. Cơn ác mộng là khi cô bắt gặp anh ta đang quan sát cô, và nhìn thấy vẻ ghê tởm trên khuôn mặt anh ta, như thể bề ngoài cô thật gớm guốc. Vấn đề không chỉ nằm ở cô, cô biết rõ điều đó. Vấn đề nằm ở mọi người phụ nữ, mọi đứa trẻ, ông già, mọi người đàn ông đã không tham chiến. Dẫu vậy, vẫn đau lòng biết bao khi cảm thấy - mạnh hơn và rõ ràng hơn bất kỳ cảm xúc nào cô từng có trong đời - anh ta ghét cô đến nhường nào. *

Tuy nhiên, cô chẳng thể nào nói được rằng cô không đáng bị thế, phải không?

Cơn ác mộng là có thật, nó đang sống trong nhà cô, nhưng nó chính là giấc mơ vẫn ám ảnh cô, giấc mơ cô đã tự cho phép mình mong mỏi. Trong mơ, cô chỉ có một mình trong nhà; đó là mùa hè năm 1915 và anh ta mới vừa lên đường nhập ngũ. Trong mơ, lúc đó đương là buổi tối, ánh sáng đang tàn dần trên sườn đồi phía bên kia sông, bóng tối tụ lại trong các góc nhà, và tiếng gõ cửa vang lên. Sẽ có một người đàn ông đang đợi, trong bộ quân phục, mà ông ta trao cho cô một bức điện tín, và sau đó cô biết rằng chồng cô chẳng bao giờ quay trở về nữa. Trong lúc mơ mộng về chuyện này, cô không thật sự bận tâm xem nó đã xảy ra như thế nào. Cô không quan tâm rằng anh ta đã chết như một anh hùng, trong lúc cứu một người bạn, hay đã chết như một tên hèn nhát, đang trên đường trốn chạy kẻ thù. Cô không quan tâm, miễn là anh ta đã chết.

Như thế hẳn sẽ dễ dàng hơn cho cô. Sự thật là thế, chẳng phải sao? Vậy thì tại sao anh ta lại không nên ghét cô cơ chứ? Nếu anh ta chết ở ngoài kia, cô sẽ khóc thương anh ta, mọi người sẽ đau lòng thay cho cô, mẹ cô, bạn bè cô, các anh em của anh ta (nếu còn lại người nào). Họ sẽ xúm lại, xắn tay giúp đỡ, và cô rồi sẽ vượt qua được. Cô sẽ đau khổ vì anh ta, một thời gian dài, nhưng rồi nó sẽ kết thúc. Cô sẽ mười chín, hai mươi, hai mốt, và cô còn có cả một cuộc đời phía trước.

Anh ta có quyền ghét cô. Ba năm, gần ba năm anh ta ở ngoài kia, ngập trong phân và máu của những người đàn ông từng nhờ anh ta châm thuốc lá, vậy mà bây giờ cô lại ước anh ta không bao giờ quay trở lại, cô nguyền rủa cái ngày bức điện tín không xuất hiện.

Cô đã yêu anh ta từ thuở mười lăm, chẳng thể nhớ được cuộc sống trước khi anh ta xuất hiện là như thế nào. Năm anh ta mười tám tuổi thì chiến tranh nổ ra và đến năm mười chín tuổi thì anh ta ra đi, rồi mỗi lần trở về anh ta lại già hơn, không phải tính theo tháng, mà theo năm, theo thập kỷ, theo thế kỷ.

Tuy nhiên, lần đầu tiên, anh ta vẫn là chính mình. Anh ta bật khóc giữa đêm, run bần bật như đang lên cơn sốt. Anh ta bảo cô anh ta không thể quay trở lại, anh ta quá sợ. Đêm trước ngày anh ta đến hạn trở về đơn vị, cô tìm thấy anh ta bên dòng sông và đã lôi anh ta về nhà. (Lẽ ra cô không bao giờ nên làm như thế. Lẽ ra hồi đó cô cứ mặc kệ anh ta.) Cô thật ích kỷ nên mới ngăn anh ta lại. Giờ thì cứ nhìn mà xem cô đã làm gì.

Lần thứ hai trở về nhà, anh ta không khóc. Anh ta im lặng, khép mình, hiếm khi nhìn cô, chỉ thỉnh thoảng kín đáo liếc nhìn từ bên dưới hàng mi rợp, và không bao giờ nhìn khi họ ở trên giường. Anh ta lật cô lại và không dừng lại kể cả khi cô oan xin, kể cả khi cô chảy máu. Hồi đó anh ta đã căm ghét cô, căm ghét cô sẵn rồi, thoạt đầu cô không nhận ra, nhưng khi cô bảo với anh ta cô thấy buồn đến thế nào về cái cách người ta đối xử với những cô gái đó trong nhà tù, về những người từ chối nhập ngũ vì lương tâm không cho phép và đủ các chuyện khác, anh ta đã tát vào mặt cô, nhổ nước bọt vào cô và gọi cô là con điếm phản bội khốn kiếp.

*Lần thứ ba về nhà, anh ta đã không còn là anh ta nữa. *

Và giờ cô đã biết anh ta sẽ không bao giờ quay trở về nữa. Chẳng còn lại gì của người đàn ông từng là anh ta. Và cô không thể bỏ đi, cô không thể ra đi và yêu một người khác bởi vì anh ta vĩnh viễn vẫn luôn ở đó chờ cô, và giờ anh ta đã đi rồi… Đi rồi, nhưng anh ta vẫn ngồi bên bếp lửa chân mang nguyên giày, và cứ uống mãi uống mãi, nhìn cô như thể cô là kẻ thù, và cô ước gì anh ta đã chết.

Đấy là cuộc sống kiểu gì vậy chứ?

Anne ước gì có thể có con đường nào đó khác. Cô ước gì cô biết được bí mật mà những người phụ nữ khác đã biết, nhưng Libby Seeton đã chết quá lâu rồi và cô ấy đã mang chúng theo cùng. Hiển nhiên, Anne biết một vài điều mà hầu hết cánh phụ nữ trong làng đều biết. Họ biết nên nhặt loại nấm nào và bỏ loại nấm nào, họ đã được cảnh báo về cây mỹ nhân, hay còn gọi là cà độc dược, đã được dặn dò rằng đừng bao giờ, vĩnh viễn không bao giờ được chạm vào nó. Cô biết nó mọc ở đâu trong rừng, nhưng cô cũng biết nó gây ra tác động gì, và cô không muốn anh ta ra đi như thế.

Anh ta thường xuyên sợ hãi. Cô có thể nhìn thấy điều đó, có thể đọc thấy nó trên người anh ta bất cứ khi nào cô trộm nhìn một cái: mắt anh ta luôn dán về phía cửa ra vào, cái cách anh ta nhìn ra ngoài trời lúc hoàng hôn, cố gắng phóng tầm mắt vượt qua viền cây. Anh ta sợ hãi và anh ta đang chờ đợi một cái gì đó. Và suốt thời gian đó, anh ta vẫn nhìn nhầm chỗ, bởi vì kẻ thù không ở ngoài kia, nó đã vào hẳn bên trong rồi, đã vào trong nhà anh ta rồi. Nó đã ngồi bên lò sưởi của anh ta.

*Cô không muốn anh ta sợ hãi. Cô không muốn anh ta nhìn thấy cái bóng đổ xuống người anh ta, vậy nên cô đợi cho đến khi anh ta đã ngủ, ngồi trong ghế chân vẫn mang nguyên giày, cái chai rỗng nằm bên sườn. Cô lặng lẽ và nhanh gọn. Cô kề lưỡi dao lên gáy anh ta và ấn con dao xuống mạnh đến độ anh ta gần như không hề tỉnh dậy, và anh ta đã ra đi mãi mãi. *

Như vậy tốt hơn nhiều.

Nhưng nó bừa bộn bẩn thỉu kinh khủng, dĩ nhiên, vậy nên sau đó cô đã tới chỗ dòng sông để rửa tay.

CHỦ NHẬT, 23 THÁNG TÁM **

* * *

*Patrick*

Những giấc mơ của Patrick về vợ luôn giống nhau. Khi đó là buổi tối, và bà đang trong dòng nước. Ông ta đã bỏ Sean lại trên bờ và ngụp vào trong nước, ông ta bơi mãi bơi mãi, nhưng chẳng hiểu sao ngay khi ông ta đã tiến lại gần đến mức đủ để với tay ra chạm vào bà, thì bà lại trôi dạt ra xa hơn và ông ta lại phải bơi tiếp. Trong giấc mơ, vùng sông rộng hơn nhiều so với ngoài đời. Nó không phải là một vùng sông, nó là một hồ nước, nó là một đại dương. Dường như ông ta cứ bơi mãi không ngừng, và chỉ đến khi đã sức cùng lực kiệt đến độ ông ta chắc chắn chính mình cũng sắp chìm đến nơi thì cuối cùng ông ta cũng tóm được bà, kéo bà về phía mình. Giữa chừng, cơ thể bà chậm rãi xoay trong nước, khuôn mặt bà quay về phía ông ta, và thông qua cái mồm vỡ máu me, bà phá lên cười. Giấc mơ ấy trăm lần như một, chỉ có điều tối vừa rồi, khi cái xác xoay trong dòng nước quay về phía ông ta, khuôn mặt là của Helen.

Ông ta choàng tỉnh với một nỗi sợ hãi khủng khiếp, trái tim nện thình thịch chỉ chực nổ tung. Ông ta ngồi dậy trên giường, lòng bàn tay đè lên ngực, không muốn thừa nhận nỗi sợ hãi của mình, không muốn thừa nhận rằng nó đã trộn lẫn với một cảm giác xấu hổ sâu sắc. Ông ta kéo rèm ra, đợi cho đến khi bầu trời hửng sáng, khi màu đen chuyển sang màu xám, rồi đi sang phòng Helen ngay bên cạnh. Ông ta lặng lẽ vào trong phòng, nhẹ nhàng nhấc cái ghế đẩu bên bàn trang điểm lên đặt xuống sát giường cô. Ông ta ngồi xuống. Khuôn mặt cô đang quay về phía bên kia, đúng y như trong giấc mơ, và ông ta cố kiềm chế nỗi khát khao được đặt tay lên vai cô, lay cô tỉnh dậy, để chắc chắn rằng miệng cô không đầy máu và răng vỡ.

Cuối cùng, cô cũng cựa mình, từ từ lật người lại, và cô giật nẩy người khi nhìn thấy ông ta, đầu hất mạnh về phía sau, đập cả vào tường.

“Patrick! Có chuyện gì thế? Là Sean à?”

Ông ta lắc đầu. “Không. Không có chuyện gì đâu.”

“Vậy…”

“Bố có… bố có để vài thứ ở trong xe của con không nhỉ?” ông ta hỏi cô. “Hôm nọ ấy? Bố đã mang theo ít rác từ ngôi nhà nhỏ và định vứt đi, nhưng rồi con mèo… Bố đã bị phân tâm, và chắc là đã để mấy thứ lại trong xe. Phải vậy không?”

Cô nuốt khan và gật đầu, mắt đen tuyền, hai con ngươi siết mống mắt lại thành hai mảnh màu nâu nhạt. “Vâng, con… Từ ngôi nhà nhỏ à? Bố lấy những thứ đó từ ngôi nhà nhỏ à?” Cô cau mày, như thể đang cố gắng hình dung chuyện gì đó.

“Ừ. Từ ngôi nhà nhỏ. Con đã làm gì với chúng rồi? Con đã làm gì cái túi rồi?”

Cô ngồi dậy. “Con vứt đi rồi,” cô nói. “Nó là rác mà, phải không ạ? Trông như rác vậy.”

“Ừ. Chỉ là các thôi.”

Cô lia mắt ra chỗ khác và rồi lại quay nhìn ông ta. “Bố, bố có nghĩ chuyện đó đã lại bắt đầu không?” Cô thở dài. “Anh ấy và cô ta. Bố có nghĩ…?”

Patrick ngả người về phía trước và nhẹ nhàng gạt món tóc trên trán cô ra đằng sau. “Chà, bố không chắc. Cũng có thể. Bố nghĩ cũng có thể nó đã bắt đầu trở lại. Nhưng giờ thì qua rồi, phải không?” Ông ta toan đứng dậy, nhưng phát hiện ra hai chân mềm nhũn và ông ta phải chống một tay lên chiếc bàn đầu giường thì mới lê người dậy được. Ông ta có thể cảm giác được cô đang quan sát, và ông ta không khỏi xấu hổ. “Con có muốn uống trà không?” ông ta hỏi cô.

“Để con pha cho,” cô nói, kéo chăn ra.

“Không, không. Cứ ở yên đấy. Để bố làm cho.” Ở cửa ra vào, ông ta quay lại nhìn cô. “Con đã vứt đi rồi hả? Chỗ rác kia ấy?” ông ta hỏi lại. Helen gật đầu. Chậm chạp, tứ chi ông ta vụng về và ngực ông ta thắt lại, ông ta lần bước xuống cầu thang vào trong bếp. Ông ta đổ đầy ấm nước và ngồi vào bàn, trái tim nặng trĩu trong lồng ngực. Ông ta không chắc trước đây Helen đã khi nào nói dối ông ta hay chưa, nhưng lúc nãy, ông ta khá chắc chắn rằng cô đã nói dối.

Có lẽ đáng ra ông ta nên tỏ ra giận dữ với cô, nhưng ông ta lại chủ yếu lên cơn giận dữ với Sean, vì chính bởi sai lầm của anh ta nên họ mới thành ra thế này. Lẽ ra Helen thậm chí không nên ở trong căn nhà này! Lẽ ra cô nên ở nhà, trong giường của chồng cô. Và đáng lẽ ra ông ta không nên bị đặt vào tình thế này, cái tình thế ô nhục phải đi dọn dẹp đống lộn xộn do con trai ông ta gây ra. Cái vị trí khiếm nhã là ngủ trong căn phòng ngay bên cạnh phòng con dâu. Da cẳng tay ông ta ngứa ran bên dưới lớp băng gạc và ông ta lơ đãng đưa tay lên gãi.

Tuy nhiên, nếu buộc phải thành thực, và ông ta vẫn luôn cố gắng thành thực, thì ông ta ai mà có đủ tư cách chỉ trích con trai mình chứ? Ông ta vẫn nhớ thời thanh niên là như thế nào, bất lực chịu sự chi phối sinh lý. Ông ta đã có một chọn lựa tệ hại cho bản thân, và đến giờ vẫn không nguôi xấu hổ về chuyện đó. Ông ta đã chọn một người đẹp, một người đẹp ích kỷ, nhu nhược, một phụ nữ thiếu khả năng tự chủ gần như xét trên mọi phương diện. Một phụ nữ bất khả thỏa mãn. Bà đã đẩy chính mình lên con đường tự hủy hoại và giờ nghĩ lại, điều duy nhất khiến ông ta thấy ngạc nhiên là bà đã phải mất đến bằng đấy thời gian mới đi đến đích. Patrick biết rõ một điều Lauren chẳng bao giờ hiểu được - đã bao nhiêu lần bà tiến gần đến mức nguy hiểm tới cảnh mất mạng.

Nghe tiếng bước chân trên cầu thang, ông ta quay người lại. Helen đang đứng trên ngưỡng cửa, vẫn mặc pyjama, đi chân trần.

“Bố? Bố ổn cả chứ?” Ông ta đứng dậy, chuẩn bị pha trà, nhưng cô đã đặt tay lên vai ông ta. “Bố ngồi xuống đi. Để con làm cho.”

Ông ta đã từng có một lựa chọn tệ hại, nhưng lần thứ hai thì không. Bởi vì Helen, con gái một đồng nghiệp, điềm tĩnh, chất phác và chăm chỉ, chính là lựa chọn của ông ta. Ông ta đã nhìn ra ngay lập tức cô sẽ là một người phụ nữ kiên định, biết yêu thương và chung thủy. Sean đã bị thuyết phục. Anh ta đã từng phải lòng một phụ nữ anh ta gặp hồi làm thực tập sinh, nhưng Patrick biết rõ chuyện đó chẳng tồn tại được lâu, và khi nó đã kéo dài quá mức cho phép, ông ta đã đặt dấu chấm hết cho nó. Giờ đây, nhìn Helen, ông ta biết ông ta đã có một chọn lựa tốt cho con trai mình: Helen là người thành thật, khiêm tốn, thông minh - hoàn toàn không hề quan tâm tới kiểu tin tức về người nổi tiếng và những chuyện ngồi lê đôi mách vốn thu hút hầu hết cánh phụ nữ. Cô không lãng phí thời gian vào ti vi hay tiểu thuyết, cô làm việc siêng năng và không phàn nàn. Cô là một người bầu bạn dễ chịu, dễ mỉm cười.

“Của bố đây.” Giờ cô đang mỉm cười đưa trà cho ông ta. “Ôi,” cô hít một hơi gấp gáp qua kẽ răng, “trông thế kia không ổn chút nào.” Cô đang nhìn vào chỗ cánh tay đã bị ông ta gãi trầy cả da và lột cái bằng gạc ra. Lớp da bên dưới đỏ tấy lên, vết thương đen lại. Cô đi lấy nước ấm, xà phòng, chất khử trùng và băng gạc sạch. Cô vệ sinh vết thương và băng tay ông ta lại, và lúc cô đã làm xong, ông ta ngả người về phía trước hôn lên môi cô.

“Kìa bố,” cô nói, khẽ đẩy ông ta ra.

“Bố xin lỗi,” ông ta nói. “Bố xin lỗi.” Và nỗi tủi hổ quay trở lại, giờ thì choán ngợp, và cùng với nó là cơn giận dữ.

Phụ nữ khiến ông ta trở nên thấp kém. Đầu tiên là Lauren và rồi Jeannie, triền miên bất tận. Nhưng Helen thì không. Chắc chắn Helen thì không phải vậy không? Tuy nhiên sáng đó cô đã nói dối ông ta. Ông ta đã nhìn thấy điều đó trên khuôn mặt cô, khuôn mặt thật thà không quen dối trá của cô, và ông ta rùng mình. Ông ta lại nghĩ tới giấc mơ, Lauren đang xoay người trong dòng nước, lịch sử lặp đi lặp lại, chỉ có điều cánh phụ nữ trở nên xấu xa hơn.

Nickie

Jeannie bảo đã đến lúc ai đó phải làm gì đó cho toàn bộ chuyện này.

“Em nói thì dễ lắm.” Nickie phản bác. “Và em lại đổi giọng rồi à? Lúc nào cũng bảo chị phải liệu mà giữ mồm giữ miệng, vì sự an toàn của chính chị. Giờ thì em lại đang bảo chị cứ ném quách sự cẩn trọng cho gió cuốn đi à?” Jeannie im re khi nghe đến câu này. “Chậc, dù sao đi nữa, chị cũng đã thử rồi. Em biết thừa chị đã thử rồi mà. Chị đã vạch ra hướng đi đúng. Chị đã để lại cho cô em một tin nhắn, chẳng phải vậy à? Đâu phải lỗi của chị nếu không có ai chịu lắng nghe chị chứ. Ôi, quá mức tế nhị, thật à? Quá mức tế nhị cơ đấy! Em muốn chị ba hoa chích chòe khắp nơi à? Nhìn xem việc em nói ra đã dẫn em đi đến đâu kìa!” Họ đã tranh cãi về chuyện này suốt cả đêm. “Có phải lỗi của chị đâu cơ chứ! Em không thể bảo đấy là lỗi của chị được. Chị chẳng bao giờ có ý định lôi Nel Abbott vào bất kỳ rắc rối nào hết. Chị đã nói với cô ấy những gì chị biết, có thế thôi. Y như em vẫn bảo chị làm vậy. Chị không cãi lại em được, đúng là chị không thể. Chị thậm chí còn chẳng biết việc quái gì phải bận tâm nữa.”

Jeannie vẫn đang cáu kỉnh. Em gái bà sẽ không đời nào ngậm miệng lại. Và điều tệ nhất là, chậc, không phải tệ nhất, điều tệ nhất chính là chẳng thể chợp mắt được chút nào, điều tệ thứ nhì là rất có thể Jeannie đã đúng. Nickie đã biết thế từ lâu, ngay từ buổi sáng đầu tiên, đang ngồi bên cửa sổ, khi bà cảm thấy nó. Lại thêm một nữa. Lại một người bơi nữa. Hồi ấy bà đã nghĩ đến chuyện đó, thậm chí bà còn định nói chuyện với Sean Townsend. Nhưng bà giữ mồm giữ miệng thế là đúng: bà đã thấy rõ phản ứng của anh ta khi bà nhắc đến mẹ anh ta, tiếng gầm gừ giận dữ, cái mặt nạ tử tế tuột ra. Xét cho cùng, anh ta vẫn là con trai của bố anh ta.

“Vậy thì ai nào? Ai nào, gái già? Chị phải nói chuyện với ai mới được? Không phải cô nàng cảnh sát đó. Đừng có mà gợi ý chuyện đó. Tất cả bọn họ đều giống nhau! Cô ta sẽ đi thẳng đến chỗ sếp, đúng không?” Không phải cô nàng cảnh sát đó, vậy thì ai? Em gái Nel? Ở cô em đó, chẳng có bất kỳ điểm gì khơi gợi tâm tình giãi bày của Nickie. Tuy nhiên, người con gái, cô bé ấy thì khác. Nó mới chỉ là một đứa trẻ, Jeannie nói, nhưng Nickie đã đáp lại, “Vậy thì sao? Con bé nhạy bén và lanh lợi hơn cả nửa số dân trong thị trấn này đấy.”

Đúng vậy, bà sẽ nói chuyện với con bé. Chỉ có điều bà vẫn chưa chắc sẽ nói gì.

Nickie vẫn đang giữ các trang viết của Nel. Những trang viết họ đã cùng nhau hoàn thành. Bà có thể chỉ cho con bé thấy. Chúng được đánh máy, không phải viết tay, nhưng chắc chắn Lena sẽ nhận ra văn phong của mẹ mình, giọng điệu của mẹ mình chứ nhỉ? Tất nhiên, họ đã không giải thích rõ ràng mọi chuyện theo cái cách Nickie cho rằng cần thiết. Đó là một phần lý do khiến họ bất hòa. Những khác biệt về nghệ thuật. Nel đã đùng đùng giận dữ và bảo rằng nếu Nickie không thể nói ra sự thật thì có nghĩa là họ chỉ đang lãng phí thời gian, nhưng thật tình mà nói, cô thì biết gì về sự thật chứ? Tất cả bọn họ đều chỉ đang kể các câu chuyện mà thôi.

Chị vẫn còn ở đây à? Jeannie hỏi. Em cứ tưởng chỉ định đi nói chuyện với con bé, và Nickie đáp, “Được rồi. Em đừng có cáu kỉnh nữa đi. Chị sẽ làm thế. Từ từ rồi chị sẽ làm. Chị sẽ làm thế khi nào chị thấy sẵn sàng.”

Đôi khi bà ước gì Jeannie im miệng đi cho rồi, và đôi khi, bà lại không mong muốn gì hơn là em gái mình đang ở đây, trong căn phòng, ngồi cùng bà bên cửa sổ, quan sát. Lẽ ra họ nên cùng nhau già đi, chọc cho nhau phát điên lên, thay vì cãi cọ vặt vãnh thông qua sóng điện như họ đang phải làm bây giờ.

Nickie chỉ ước gì những khi hình dung về Jeannie, bà sẽ không nhìn thấy em gái theo cái cách lần cuối cùng Jeannie đến căn hộ này. Chuyện đó xảy ra chỉ vài ngày trước khi Jeannie rời khỏi Beckford mãi mãi, và cô tái nhợt vì sốc, run bần bật vì sợ hãi. Cô đến kể với Nickie rằng Patrick Townsend đã gặp cô. Ông ta đã bảo cô rằng nếu cô còn tiếp tục nói năng theo cách cũ, nếu cô vẫn tiếp tục hỏi này hỏi nọ, nếu cô vẫn tiếp tục tìm cách hủy hoại thanh danh của ông ta, ông ta sẽ chăm lo sao cho cô không tránh khỏi thương tổn. “Không phải bởi tôi,” ông ta nói, “tôi sẽ không thèm động chân động tay với cô. Việc bẩn tay ấy tôi sẽ kiếm kẻ khác làm. Và không phải chỉ một người đâu. Tôi sẽ đảm bảo sao cho có đến hơn vài người, và mỗi người trong số đó sẽ đều tận trách với nhiệm vụ của mình. Cô biết thừa tôi vốn quen biết rộng mà, phải không, Jean? Cô không hoài nghi gì về khả năng tối quen biết những người sẽ làm những việc như thế chứ, phải không, cô gái?”

Jeannie đứng ngay chỗ đó trong căn phòng này và bắt Nickie phải hứa, bắt bà thề rằng bà sẽ bỏ qua chuyện này. “Giờ chúng ta chẳng thể làm gì được đâu. Lẽ ra em không bao giờ nên nói gì với chị.”

“Nhưng… còn cậu bé,” Nickie hỏi. “Còn cậu bé thì sao?”

Jeanie gạt nước mắt. “Em biết. Em biết. Chỉ cần nghĩ đến chuyện đó em cũng muốn phát ốm, nhưng chúng ta sẽ buộc phải mặc kệ thằng bé thế thôi. Chị phải im thin thít, không được nói gì hết. Bởi vì Patrick thể nào cũng sẽ xử em, Nicks ạ, và ông ta cũng sẽ xử cả chị nữa. Ông ta không nói vớ vẩn đâu.”

Jeannie bỏ đi vài ngày sau đó, cô không bao giờ quay về.

Jules

Nói thật cho chị nghe đi. Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à?

Em thức dậy, trong đầu vang vang giọng chị. Đã giữa buổi chiều. Buổi tối em không sao ngủ được, ngôi nhà cứ chao đảo y như một con thuyền và âm thanh của dòng nước inh cả tai em. Ban ngày, chẳng hiểu sao nó không tệ đến mức đó. Dù sao đi nữa, em hẳn đã ngủ thiếp đi, vì em thức dậy, trong đầu vang vang giọng chị, đang hỏi.

Chẳng phải phần nào đó trong em cũng thấy thích thú à? Thích thú hay hưởng thụ? Hay là muốn nhỉ? Giờ em chẳng thể nhớ rõ được. Em chỉ nhớ đã rụt tay ra khỏi tay chị rồi giơ lên để đánh chị, nhớ đến vẻ mặt chị, không sao hiểu nổi.

Tôi lê người qua hành lang tới phòng tắm và bật vòi hoa sen. Tôi quá mệt mỏi chẳng hơi sức đâu mà cởi đồ ra nữa, vậy nên tôi cứ ngồi nguyên ở đó, trong lúc căn phòng càng lúc càng mịt mờ hơi nước. Rồi tôi tắt nước đi, tới chỗ bồn rửa vã nước lên mặt. Lúc ngước nhìn lên tôi thấy, hiện lên trên lớp hơi nước, hai chữ cái được vạch trên mặt gương, một chữ “L” và một chữ “S”. Tôi hoảng loạn đến độ hét toáng lên.

Tôi nghe tiếng của phòng Lena mở ra và rồi con bé nện thành thình lên cửa phòng tắm. “Sao vậy? Có chuyện gì vậy? Dì Julia?”

Tôi mở cửa ra cho con bé, tức điên lên. “Cháu làm gì vậy hả?” tôi cật vấn. “Cháu đang muốn làm gì với dì vậy?” Tôi chỉ về phía gương.

“Cái gì ạ?” Con bé có vẻ bực mình. “Cái gì cơ?”

“Cháu biết rõ quá còn gì, Lena. Dù không biết cháu nghĩ rằng cháu đang cố làm gì, nhưng…”

Con bé quay lưng lại với tôi và dợm bước bỏ đi. “Lạy Chúa, dì đúng là một mụ đồng bóng.”

Tôi đứng đó, nhìn chằm chằm những chữ cái trên tường một hồi lâu. Không phải là tôi tưởng tượng ra, chúng rõ ràng đang nằm đó: L.S. Đúng là cái kiểu quen thuộc của chị: để lại cho em những tin nhắn ma quái trên gương hoặc dùng sơn móng tay màu đỏ vẽ những hình ngôi sao năm cánh bé xíu lên đằng sau cửa phòng em. Chị để lại những thứ khiến em sợ hãi. Chị thích dọa cho em sợ mất hồn mất vía và ắt hẳn chị đã kể cho con bé nghe chuyện đó. Ắt hẳn là thế, và giờ con bé cũng đang làm vậy.

Sao lại là LS? Sao lại là Libby Seeton? Sao cứ phải dính lấy cô ấy làm gì? Libby là một người vô tội, một thiếu nữ bị lôi đến dòng nước bởi những kẻ căm ghét phụ nữ, những kẻ đổ tội cho phụ nữ vì những việc chính những kẻ ấy đã làm. Nhưng Lena vẫn đinh ninh chị đã tự nguyện đến đó, vậy thì sao lại là Libby? Sao lại là LS?

Quấn mình trong khăn tắm, em đi qua hành lang vào trong phòng chị. Căn phòng dường như không bị ai động tới, nhưng có một mùi hương vương trong không khí, một mùi hương ngòn ngọt - không phải mùi nước hoa của chị, một mùi khác. Một thứ mùi ngọt ngào giả tạo, quá nồng hương hoa hồng nở quá độ. Tủ ngăn kéo cạnh giường chị đang đóng và khi em kéo tủ mở ra, mọi thứ vẫn y nguyên như trước, chỉ trừ một thứ. Cái bật lửa, cái bật lửa chị đã khắc lên trên những chữ cái đầu tên của Libby, đã biến mất. Ai đó đã vào trong phòng. Ai đó đã lấy nó đi.

Em quay lại phòng tắm và vỗ nước lên mặt lần nữa, chùi hết những chữ cái trên tấm gương đi, và trong lúc làm thế, em nhìn thấy chị đứng đằng sau em, vẫn y nguyên cái biểu cảm ấy trên khuôn mặt, vẻ không hiểu. Em quay ngoắt lại và Lena đang giữ cả hai bàn tay lên như muốn tự vệ. “Chúa ơi, dì Julia, bình tĩnh nào. Dì làm sao vậy?”

Em lắc đầu. “Dì chỉ… Dì chỉ…”

“Dì chỉ làm sao?” Con bé đảo tròn mắt.

“Dì cần một chút không khí.”

Nhưng trên bậc thềm trước nhà, suýt nữa tôi lại kêu lên lần nữa, vì có mấy phụ nữ - hai người - đang đứng ở cổng, mặc đồ đen và cúi gập người xuống, xoắn vào với nhau theo một kiểu nào đó. Một trong hai người ngước lên nhìn tôi. Đó là Louise Whittaker, mẹ của cô bé đã chết. Bà ta đang cố giằng người tránh xa người phụ nữ kia, vừa giằng co vừa nói đầy giận dữ.

“Mặc kệ tôi! Để cho tôi yên! Đừng có lại gần tôi!” Người kia vẫy một bàn tay về phía bà ta - hoặc về phía tôi, tôi không biết chắc nữa. Rồi bà ta quay người chậm chạp tập tễnh bỏ đi dọc theo con đường mòn.

“Mụ điện chết bầm,” Louise nhổ nước bọt trên đường tiến lại gần ngôi nhà. “Mụ ta là một mối hiểm họa, con mụ Sage đó. Để tôi nói cho mà nghe, đừng có dính líu gì đến mụ ta. Đừng có để cho mụ đi qua cửa nhà cô. Mụ là kẻ dối trá và đồ lừa đảo, thứ duy nhất mụ muốn là tiền.” Bà ta dừng lại lấy hơi, cau mày nhìn tôi. “Eo ôi. Trông cô kinh quá thể.” Tôi há miệng ra định nói nhưng rồi lại ngậm miệng lại. “Cháu cô có nhà không?”

Tôi chỉ vào trong nhà. “Để tôi nhắn con bé ra gặp chị nhé,” tôi nói, nhưng Louise đã vào đến chân cầu thang, gọi tên Lena. Rồi bà ta vào trong bếp và ngồi xuống bàn đợi. Một lát sau, Lena xuất hiện. Biểu cảm quen thuộc của con bé, sự hòa trộn giữa kiêu kỳ và buồn chán giống y như đúc vẻ mặt của chị, đã biến mất. Con bé ngoan ngoãn chào Louise, dù em không chắc liệu Louise có để ý hay không vì mắt bà ta đang hướng ra chỗ khác, về phía dòng sông bên ngoài kia hay đâu đó xa hơn thế.

Lena ngồi xuống bên bàn, đưa tay túm tóc lại thành một búi sau gáy. Con bé hơi hếch cằm lên, như thể đang chuẩn bị sẵn sàng cho một cái gì đó, một cuộc thẩm vấn. Một cuộc hỏi cung. Có lẽ trong mắt họ, tôi chỉ là một kẻ vô hình, nhưng tôi vẫn ở lại trong phòng. Tôi đứng cạnh quầy bếp, không thư giãn mà chân nhấp nhổm, phòng trường hợp cần can thiệp.

Louise chậm chạp chớp mắt, và ánh nhìn của bà ta cuối cùng cũng dừng lại trên Lena, và Lena nghênh đón ánh nhìn ấy trong một giây trước khi cụp mắt xuống bàn.

“Cháu xin lỗi, bác Whittaker. Cháu thật lòng xin lỗi.”

Louise không nói gì. Nước mắt lăn dài trên mặt bà ta, thành những dòng suối nhỏ hình thành từ bao tháng ngày đau khổ khôn nguôi.

“Cháu xin lỗi,” Lena nhắc lại. Giờ con bé cũng đang khóc, kệ cho tóc lại xõa xuống, xoắn tóc quanh các ngón tay y như một bé gái.

“Bác không biết liệu cháu có bao giờ biết được.” cuối cùng Louise nói, “cái cảm giác khi nhận ra ta chẳng biết gì về chính con mình.” Bà ta hít một hơi thở sâu run rẩy, “Bác có mọi đồ đạc của nó. Quần áo của nó, sách vở của nó, đĩa nhạc của nó. Những bức tranh nó quý như báu vật. Bác biết bạn bè nó, người nó ngưỡng mộ, bác biết nó yêu quý cái gì. Nhưng đó không phải là nó. Bởi vì bác không hề biết nó yêu ai. Con bé có một cuộc đời - cả một cuộc đời - mà bác không hề hay biết. Phần quan trọng nhất của con bé, bác đã không biết.” Lena định nói, nhưng Louise đã tiếp tục. “Vấn đề nằm ở chỗ, Lena ạ, lẽ ra cháu đã có thể giúp bác. Cháu có thể kể cho bác nghe về nó. Cháu lẽ ra đã có thể nói với bác ngay khi cháu bắt đầu phát hiện ra. Lẽ ra cháu đã có thể đến gặp bác để bảo rằng con gái bác đã để mình vướng vào một chuyện, một chuyện con bé không thể kiểm soát, một chuyện mà cháu biết rõ, cháu chắc hẳn biết rõ, rằng cuối cùng sẽ gây tổn thương cho con bé.”

“Nhưng cháu không thể… Cháu không thể..” Một lần nữa Lena cố gắng nói gì đó, và lại một lần nữa, Louise không để con bé nói hết câu.

“Thậm chí kể cả khi cháu có mù quáng hay ngu ngốc hay vô tâm đến độ không nhìn ra con bé đang lâm vào rắc rối lớn đến thế nào, lẽ ra cháu vẫn có thể giúp bác. Lẽ ra cháu có thể đến gặp bác, sau khi con bé mất, để nói rằng, chuyện này không phải do bác đã làm gì, hoặc không làm gì mà gây ra. Đây không phải lỗi của bác, đây không phải lỗi của chồng bác. Lẽ ra cháu đã có thể ngăn không để cho chúng ta tự hành mình đến phát điên. Nhưng cháu đã không làm. Cháu đã lựa chọn không làm. Suốt thời gian đó, cháu không nói gì hết. Suốt thời gian này, cháu… Và tệ hơn nữa, thậm chí tệ hơn cả chuyện đó nữa, cháu đã để cho hắn…” Giọng bà ta cao lên và rồi tan vào trong không khí, y như làn khói.

“Thoát khỏi chuyện này?” Lena kết thúc câu nói. Con bé không còn khóc nữa, và mặc dù giọng nó đã cao vói lên, nhưng nghe mạnh mẽ, chứ không hề yếu đuối. “Phải. Cháu đã làm thế, và nó khiến cháu phát ốm. Nó khiến cháu phát ốm cả lên, nhưng cháu đã làm thế vì nó. Tất cả những gì cháu đã làm đều là vì Katie.”

“Đừng có nhắc tên con bé với bác,” Louise rít lên. “Sao cháu dám!”

“Katie, Katie, Katie!” Lena nhổm dậy, cúi người về phía trước, khuôn mặt con bé chỉ cách mũi Louise vài phân. “Bác Whittaker,” con bé lại ngồi thụp xuống ghế, “Cháu yêu quý nó. Bác biết rõ cháu yêu quý nó đến mức nào. Cháu đã làm điều nó muốn cháu làm. Cháu đã làm điều nó yêu cầu cháu làm.”

“Lena, cháu không có quyền quyết định giấu giếm một chuyện quan trọng như thế với bác, mẹ của con bé…”

“Không, đấy không phải quyết định của cháu, đó là quyết định của nó! Cháu biết bác cho rằng bác có quyền biết hết mọi chuyện, nhưng không phải thế. Katie không phải là trẻ con, nó không phải một cô bé con nữa.”

“Nó là cô bé con của bác!” Giọng Louise là một tiếng rền rĩ, một tiếng tru. Tôi nhận ra tôi đang túm chặt lấy quầy bếp, rằng tôi cũng sắp khóc đến nơi.

Lena lại lên tiếng, giờ giọng con bé nhẹ nhàng hơn, khẩn nài. “Katie đã đưa ra lựa chọn. Nó đã quyết định và cháu tôn trọng điều đó.” Và còn nhẹ nhàng hơn nữa, như thể biết rằng mình sắp đặt chân vào vùng nguy hiểm, “Và cháu không phải người duy nhất. Josh cũng thế.”

Louise giật bàn tay lại và cho Lena một cái tát, rất mạnh, ngang mặt. Tiếng chát vang vọng, dội lại từ những bức tường. Tôi nhảy chồm về phía trước túm lấy cánh tay Louise. “Không!” tôi hét lên. “Đủ rồi đấy! Đủ rồi đấy!” Tôi cố gắng lôi bà ta đứng dậy. “Bà đi đi.”

“Mặc kệ bác ấy!” Lena quát. Má bên trái của con bé đỏ bừng giận dữ, những biểu cảm của nó lại bình tĩnh. “Dì tránh xa chuyện này ra, dì Julia. Bác ấy cứ việc đánh cháu nếu muốn. Bác ấy có thể móc mắt, bứt tóc cháu. Bác ấy cứ việc làm bất cứ điều gì bác ấy muốn với cháu. Giờ thì chuyện đó có gì quan trọng đâu?”

Louise há miệng ra, tôi có thể ngửi thấy mùi hơi thở chua làm của bà ta. Tôi thả bà ta ra.

“Josh không nói gì là vì cháu,” bà ta nói, chùi nước bọt dính trên môi. “Bởi vì cháu đã bảo nó đừng nói gì hết.”

“Không đâu, bác Whittaker.” Giọng Lena đều đều đến vô cảm trong lúc con bé áp mu bàn tay phải lên má xoa cho đỡ rát. “Sự thật không phải thế. Josh im lặng vì Katie. Bởi vì Katie đã yêu cầu Josh làm thế. Và rồi, sau này, là vì Josh muốn bảo vệ bác và bố nó. Thằng bé cho rằng chuyện đó sẽ khiến các bác đau lòng quá độ. Nếu biết rằng Katie đã…” Con bé lắc đầu. “Thằng bé còn nhỏ, nó nghĩ rằng…”

“Đừng có bảo bác về chuyện con trai bác nghĩ gì.” Louise nói. “Về chuyện nó định làm gì. Đừng có thế.” Bà ta giơ bàn tay lên cổ họng, một phản xạ. Không, không phải một phản xạ: ngón cái và ngón trỏ của bà ta đang siết chặt con chim sơn ca treo trên sợi dây chuyền. “Đây,” bà ta nói, một tiếng rít chứ không phải một lời. Nó không phải là của cháu tặng, phải không?” Lena ngập ngừng chốc lát rồi lắc đầu. “Nó là quà của hắn ta. Phải không? Hắn đã tặng nó cho con bé” Louise xô ghế ra sau, khiến chân ghế cào trên gạch lát. Bà ta đứng thẳng dậy và thô bạo giật sợi dây chuyền ra khỏi cổ, ném nó xuống bàn trước mặt Lena. “Hắn đã tặng thứ này cho con bé, vậy mà cháu lại mặc kệ bác đeo nó lên trên cổ.”

Lena nhắm mắt lại một lát, lại lắc đầu lần nữa. Con bé ngoan ngoãn hối lỗi vừa rón rén vào bếp vài phút trước đã biến mất và thay thế nó là một người khác, già dặn hơn, một người trưởng thành trong khi Louise chỉ như đứa trẻ tuyệt vọng, cư xử thái quá. Đột nhiên, em nhớ lại một ký ức rõ rệt nhất về chị, nhỏ tuổi hơn một chút so với Lena bây giờ, một trong những ký ức hiếm hoi em còn nhớ về việc chị đã từng bảo vệ em. Ở trường, có một giáo viên buộc tội em lấy một thứ không thuộc về em, và em nhớ chị đã trách móc cô ấy. Chị sáng suốt và điềm tĩnh, chị không cao giọng lên khi bảo với cô ấy là cô ấy đã sai khi không có bằng chứng gì mà đã đòi kết tội người khác, và cô ấy đã bị chị lấn lướt. Em vẫn nhớ khi đó em đã hãnh diện về chị biết bao, và lúc này đây, em cũng đang có cảm giác đó, chính cái cảm giác hừng hực trong lòng đó.

Louise lại bắt đầu nói, giọng giờ lí nhí. “Vậy thì hãy giải thích chuyện này cho bác đi,” bà ta nói, lại ngồi xuống ghế, “vì cháu biết rõ thế cơ mà. Vì cháu hiểu rõ thế cơ mà. Nếu Katie yêu người đàn ông đó, và nếu hắn cũng yêu con bé, vậy thì tại sao? Tại sao con bé lại làm điều nó đã làm đấy? Hắn đã làm gì con bé? Để đẩy nó đến bước đường ấy?”

Lena quay sang nhìn tôi chăm chăm. Con bé có vẻ hoảng sợ, tôi nghĩ thế, hoặc có thể chỉ là cam chịu - tôi không thể đọc rõ biểu cảm của con bé. Nó nhìn tôi trong một thoáng rồi nhắm mắt lại, khiến cho nước mắt ứa ra. Khi con bé lại cất tiếng nói, giọng nó cao hơn, căng thẳng hơn hẳn lúc trước.

“Ông ta không đẩy nó đến bước đường đó. Không phải là ông ta.” Con bé thở dài. “Katie và cháu đã cãi nhau, con bé nói. “Cháu muốn nó chấm dứt chuyện đó, đừng có gặp gỡ ông ta nữa. Cháu không nghĩ rằng đó là chuyện đúng đắn. Cháu cho rằng nó rồi sẽ gặp rắc rối. Cháu cho rằng…” Con bé lắc đầu. “Cháu chỉ muốn nó thôi gặp gỡ ông ta.

Vẻ thấu hiểu đột ngột sáng lên trên khuôn mặt Louise; bà ta đã hiểu, ngay giây phút đó, y như tôi.

“Cháu đã dọa cô bé,” tôi nói. “Dọa sẽ vạch trần mọi chuyện.”

“Vâng,” Lena nói, gần như không thể nghe rõ tiếng. “Cháu đã làm thế.”

Louise bỏ đi không nói một lời. Lena ngồi bất động, nhìn chằm chằm dòng sông bên ngoài cửa sổ, không khóc cũng không nói năng gì. Em không biết nói gì với con bé, không có cách nào tiếp cận được nó. Em nhận ra ở con bé một điều em biết chính em cũng từng có, một điều có lẽ tất cả mọi người tầm tuổi đó đều có, một sự khó nắm bắt nào đó từ trong căn cốt. Em nghĩ thật kỳ quái biết bao khi các bậc cha mẹ cứ đinh ninh rằng họ biết con cái họ, hiểu con cái họ. Lẽ nào họ chẳng nhớ gì đến hồi mười tám, hay mười lăm, hay mười hai tuổi? Có lẽ bởi vì khi có con cái của riêng mình, ta đã quên mất thời ta còn là một đứa trẻ. Em nhớ lại hồi chị mười bảy còn em mười ba, và em chắc chắn bố mẹ chúng ta chẳng hề hiểu được chúng ta là người như thế nào.

“Cháu đã nói dối.” Giọng Lena vang lên cắt đứt dòng suy nghĩ của tôi. Con bé không hề nhúc nhích, nó vẫn đang dõi nhìn dòng nước.

“Nói dối ai? Katie à?” Con bé lắc đầu. “Louise ư? Cháu nói dối chuyện gì?”

“Nói cho bác ấy sự thật cũng chẳng ích gì,” Lena nói. “Giờ thì không. Đằng nào bác ấy cũng sẽ vẫn đổ lỗi cho cháu. Ít nhất cháu cũng đang hiện diện quanh đây. Bác ấy cần một chỗ để trút hết nỗi căm hận đó vào.”

“Ý cháu là sao, Lena? Cháu đang nói gì đấy?”

Con bé hướng ánh mắt xanh lục điềm tĩnh về phía em, và con bé thậm chí còn có vẻ già dặn hơn trước. Nó mang hình ảnh của chính chị vào buổi sáng sau khi chị lôi em ra khỏi dòng nước. Thay đổi, mệt mỏi. “Cháu chẳng đe dọa ai hết. Cháu sẽ không bao giờ làm thế với Katie. Cháu yêu quý nó. Có lẽ mọi người chẳng hiểu được điều đó có ý nghĩa thế nào đâu, như kiểu chẳng ai biết tình yêu là gì. Cháu sẵn sàng làm bất cứ điều gì vì nó.”

“Vậy, nếu không phải là cháu đe dọa cô bé…”

Có lẽ em đã biết câu trả lời trước cả khi con bé nói ra. “Là mẹ cháu,” con bé bảo.

Jules

Căn phòng dường như lạnh hơn; nếu tin vào các linh hồn, thể nào em cũng cho rằng chị đang có mặt cùng hai dì cháu em.

“Đúng là chúng cháu đã cãi nhau, như cháu đã kể đấy. Cháu không muốn nó gặp gỡ ông ta nữa. Nó bảo nó không quan tâm cháu nghĩ gì, rằng chuyện đó chẳng quan trọng. Nó bảo cháu là đồ trẻ con, rằng cháu không hiểu gì về một mối quan hệ đích thực. Cháu gọi nó là đồ lẳng lơ, nó gọi cháu là đồ gái trinh. Nó cũng là một dạng cãi lộn. Ngớ ngẩn, khủng khiếp. Khi Katie bỏ đi, cháu nhận ra mẹ đang ở trong phòng, ngay sát vách phòng cháu - cháu cứ tưởng mẹ đã ra ngoài. Mẹ đã nghe lỏm toàn bộ câu chuyện. Mẹ bảo cháu mẹ phải nói chuyện với bác Louise. Cháu nài nỉ mẹ đừng làm thế, cháu bảo mẹ nếu không đòi Katie sẽ đi tong. Vậy là mẹ bảo có lẽ cách tốt nhất là nói chuyện với Helen Townsend, vì xét cho cùng Mark đã hành động sai trái, và Helen là cấp trên của ông ta. Mẹ bảo có lẽ họ có thể khiến ông ta bị đuổi việc mà vẫn không tiết lộ danh tính Katie. Cháu bảo mẹ làm thế thì ngớ ngẩn quá, và mẹ biết thừa như vậy. Họ sẽ không thể cứ tự nhiên mà sa thải ông ta được, chuyện sẽ phải được tiến hành một cách chính thức. Cảnh sát sẽ vào cuộc. Chuyện sẽ bị đưa ra tòa. Chuyện sẽ bị công khai. Và cho dù tên Katie không xuất hiện trên báo chí, bố mẹ nó cũng sẽ vẫn phát hiện ra, tất cả mọi người sẽ biết… Chuyện kiểu như thế làm sao mà giữ bí mật được chứ.” Con bé hít một hơi thở sâu, chậm rãi thở ra. “Lúc đó cháu đã bảo mẹ, cháu bảo Katie thà chết còn hơn là chịu đựng chuyện đó.”

Lena ngả người về phía trước mở cửa sổ bếp, rồi sục sạo trong túi chiếc áo có mũ lôi ra một gói thuốc lá. Con bé châm một điếu thuốc và phả khói vào không trung. “Cháu đã cầu xin mẹ. Thật đấy, đúng là cầu xin luôn, và mẹ bảo cháu rằng mẹ phải suy nghĩ đã. Mẹ bảo cháu phải thuyết phục Katie đừng gặp gỡ ông ta nữa, rằng đó là hành vi lạm dụng và hoàn toàn sai trái. Mẹ hứa với cháu mẹ sẽ không làm gì trước khi cho cháu thời gian thuyết phục Katie.” Con bé dụi điếu thuốc lá hầu như chẳng còn khói nữa lên bậu cửa sổ rồi búng nó về phía dòng nước.

“Cháu đã tin mẹ. Cháu đã tin tưởng mẹ.” Con bé lại quay mặt sang đối diện với em. “Nhưng rồi mấy hôm sau cháu nhìn thấy mẹ ở bãi đậu xe của trường, đang nói chuyện với thầy Henderson. Cháu không biết họ nói chuyện gì nhưng có vẻ cuộc trò chuyện chẳng lấy gì làm hòa nhã, và cháu biết cháu phải nói chuyện với Katie, để đề phòng, vì nó cần phải biết, nó cần phải chuẩn bị…” Giọng con bé vỡ vụn, và nó nuốt nước bọt. “Ba ngày sau thì nó mất.”

Lena sụt sịt, lấy mu bàn tay quệt mũi. “Vấn đề là, sau đó khi mẹ và cháu nói chuyện, mẹ thề với cháu mẹ thậm chí còn không nhắc gì đến Katie với Mark Henderson. Mẹ bảo họ tranh cãi về cháu, về những vấn đề cháu gặp phải ở lớp.”

“Vậy… Lena, gượm đã, dì không hiểu. Cháu bảo mẹ cháu không đe dọa sẽ phanh phui chuyện đó?”

“Cháu cũng không hiểu nổi. Mẹ cháu thề là mẹ không nói gì hết, nhưng mẹ rất áy náy, cháu có thể thấy rõ điều đó. Cháu biết đây là lỗi của cháu, nhưng mẹ cứ hành động như thể nó là lỗi của mẹ. Mẹ không bơi dưới sông nữa, và mẹ bị ám ảnh với chuyện nói sự thật, mẹ cứ nhắc đi nhắc lại điều đó, nào là thật sai trái biết bao khi sợ hãi không dám đối diện với sự thật, không dám cho mọi người biết sự thật, mẹ cứ nhai đi nhai lại…”

(Em không chắc đó là sự lạc lõng hay là sự nhất quán hoàn hảo: chị không nói sự thật, chị chẳng bao giờ làm thế - những câu chuyện chị vẫn kể không phải là sự thật đích thực, chúng là sự thật của chị, nhật ký công tác của chị. Lẽ ra em phải biết. Gần như suốt cả đời, em đã ở bên phía xấu xa trong sự thật của chị.)

“Nhưng mẹ cháu đã không làm thế, đúng không? Mẹ cháu chưa từng kể với bất cứ ai, hay viết về Mark Henderson, trong… câu chuyện mẹ cháu viết về Katie, không hề nhắc gì đến anh ta.”

Lena lắc đầu. “Đúng vậy, bởi vì cháu không cho phép mẹ làm thế. Hai mẹ con đã cãi nhau hết lần này đến lần khác và cháu nói mãi với mẹ rằng cháu rất muốn chứng kiến gã khốn đó bị tống vào tù, nhưng chuyện đó sẽ làm tim Katie tan nát mất. Và như vậy cũng đồng nghĩa với việc chuyện nó đã làm là vô ích.” Con bé nuốt nước bọt. “Ý cháu là, cháu biết. Cháu biết chuyện Katie đã làm là ngốc nghếch, vô nghĩa không để đâu cho hết, nhưng nó đã chết để bảo vệ ông ta. Và nếu ta báo cảnh sát, thì sẽ đồng nghĩa với việc cái chết của nó chẳng có nghĩa lý gì hết. Nhưng mẹ không ngừng lải nhải về sự thật, rằng nếu cứ cho qua mọi chuyện thì vô trách nhiệm quá. Mẹ đã… Cháu không biết nữa.” Con bé ngước mắt lên nhìn tôi, ánh mắt chăm chú của nó cũng lạnh lùng y như khi nó nhìn xoáy vào Louise, và nói, “Dì mà chịu nói chuyện với mẹ cháu thì sẽ hiểu ngay toàn bộ chuyện này, dì Julia ạ.”

“Lena, dì xin lỗi, dì xin lỗi về chuyện đó, nhưng dì vẫn không hiểu tại sao…”

“Dì có biết tại sao cháu biết mẹ cháu đã tự tử không? Dì có biết tại sao cháu biết chắc chắn không?” Tôi lắc đầu. “Bởi vì vào hôm mẹ mất, mẹ con cháu đã cãi nhau. Chuyện bắt đầu chẳng đâu vào đâu, nhưng cuối cùng lại dẫn về Katie, chuyện gì cũng dẫn về Katie được. Cháu đã hét lên với mẹ và bảo mẹ là một bà mẹ tồi và rằng nếu mẹ là một bậc phụ huynh tốt thì mẹ đã có thể giúp chúng cháu, giúp Katie, và như vậy chuyện này đã chẳng xảy ra. Và mẹ bảo cháu rằng mẹ đã cố gắng giúp Katie, rằng có hôm mẹ đã gặp nó đang đi bộ về nhà lúc tối khuya và đã phải dừng lại cho nó đi nhờ. Mẹ cháu bảo Katie rất lo lắng nhưng không chịu nói tại sao, vậy nên mẹ bảo, Cháu không cần phải trải qua chuyện này một mình. Mẹ bảo, Cô có thể giúp cháu. Và, Bố mẹ cháu cũng có thể giúp cháu. Khi cháu hỏi tại sao trước đấy mẹ chưa bao giờ kể cho cháu nghe chuyện đó thì mẹ không nói gì. Cháu hỏi mẹ chuyện xảy ra khi nào và mẹ bảo, Ngày Hạ chí, 21 tháng Sáu. Tối đó Katie đã đến vùng sông. Nói cách khác, chính mẹ đã đẩy nó qua bờ vực. Và vậy là, bởi thế, Katie cũng đã đẩy mẹ qua bờ vực.”

Một nỗi buồn ập đến với em, một con sóng cồn mạnh mẽ đến độ tưởng như nó có thể hất em ngã ra khỏi ghế. Có phải là thế không, Nel? Sau toàn bộ chuyện này, chị đã nhảy xuống, và chị làm thế bởi vì chị cảm thấy tội lỗi và tuyệt vọng. Chị tuyệt vọng bởi vì chị không biết bấu víu vào đâu - không phải vào đứa con gái đang giận dữ và đau khổ của chị, và chắc chắn không phải vào em, bởi vì chị biết thừa nếu chị gọi điện cho em, em sẽ không trả lời. Có phải chị tuyệt vọng không, Nel? Có phải chị đã nhảy xuống không?

Tôi có thể cảm nhận được Lena đang quan sát tôi và tôi biết con bé có thể nhìn thấy nỗi xấu hổ của tôi, có thể nhìn ra rằng cuối cùng thì tôi cũng đã hiểu, tôi đã hiểu rằng tôi cũng là người có lỗi. Nhưng con bé không hề có vẻ đắc thắng, hay mãn nguyện, nó chỉ có vẻ mệt mỏi.

“Cháu không kể gì với cảnh sát về chuyện này, bởi vì cháu không muốn ai biết. Cháu không muốn ai đổ lỗi cho mẹ - dù sao thì cũng không muốn ai đổ lỗi cho mẹ thêm nữa. Mẹ làm thế không phải vì căm ghét gì ai. Và mẹ đã chịu đựng đủ rồi, phải không? Mẹ đã chịu đựng những chuyện lẽ ra mẹ không đáng phải chịu, bởi vì đó không phải lỗi của mẹ. Không phải là lỗi của mẹ hay của cháu.” Con bé hơi nhếch miệng cười buồn với tôi. “Cũng không phải lỗi của dì. Không phải lỗi của bác Louise hay của Josh. Không phải lỗi của chúng ta.”

Tôi định ôm con bé, nhưng nó đã đẩy tôi ra.“Đừng.” con bé nói. “Cháu xin dì, cháu chỉ…” Con bé bỏ dở câu nói. Nó hếch cằm lên. “Cháu cần ở một mình. Chỉ một lát thôi. Cháu sẽ đi dạo.”

Tôi để kệ cho con bé rời đi.

Nickie

Nickie làm y như Jeannie đã bảo, bà đến nói chuyện với Lena Abbott. Tiết trời đã trở lạnh, dấu hiệu của mùa thu đang đến sớm, vậy nên bà quấn mình trong chiếc áo khoác đen, nhét đống giấy tờ vào cái túi trong và đi bộ đến nhà Cối Xay. Nhưng lúc đến nơi, bà phát hiện ra đang có người khác ở đó, mà bà thì không có tâm trạng tụ tập gì lúc này. Nhất là sau những gì mà mụ Whittaker đó đã nói, rằng mối quan tâm duy nhất của bà là tiền và lợi dụng nỗi đau khổ của mọi người, mà điều đó hoàn toàn không đúng. Bà chưa bao giờ có dụng ý đấy - giá như mọi người chịu lắng nghe. Bà đứng bên ngoài nhà một lúc, quan sát, nhưng hai chân bà nhức nhối còn đầu bà ong ong, vậy nên bà quay người để lại cuốc bộ cả chặng đường dài về nhà. Có những hôm, bà cảm thấy rõ sức ép của tuổi tác bà, nhưng có những hôm, bà cảm thấy mình còn già như thể đã bằng tuổi mẹ bà.

Bà chẳng lòng dạ nào mà ăn uống, vì cuộc chiến đang chờ phía trước. Quay trở về phòng, bà lơ mơ ngủ trong ghế, rồi tỉnh dậy và nghĩ có lẽ bà đã nhìn thấy Lena đang tiến đến chỗ vũng sông, nhưng cũng có thể nó là một giấc mơ, hoặc một điềm báo. Tuy nhiên, sau đó, rất lâu sau đó, trong bóng tối, bà tin chắc bà đã nhìn thấy con bé, đang di chuyển như một bóng ma xuyên qua quảng trường, một bóng ma có mục đích, chân bước khá dứt khoát. Nickie có thể cảm thấy không khí rẽ ra khi con bé đi qua, năng lượng tỏa ra từ người con bé, bà có thể cảm thấy nó suốt đoạn đường lên đến tận căn phòng nhỏ tối tăm của bà và nó nâng bà lên, xẻ qua tháng năm ngược về quá khứ. Đây là một cô gái mang sứ mệnh. Cô gái đó có nhiệt tâm, cô gái đó nguy hiểm. Kiểu người ta đừng dại mà chọc vào.

Nhìn thấy Lena như thế, Nickie không khỏi nhớ đến chính mình ngày xưa; nó khiến bà muốn đứng dậy nhảy múa, khiến bà muốn quay về phía mặt trăng mà hú lên. Chậc, thời bà có thể nhảy múa được có lẽ đã qua rồi, nhưng dù đau hay không đau, bà vẫn quyết định tối đó sẽ đến dòng sông. Bà muốn cảm thấy họ bên cạnh, tất cả những người phụ nữ phiền phức đó, những cô gái phiền phức đó, nguy hiểm và tràn đầy sinh lực. Bà muốn cảm nhận được linh hồn họ, tắm mình trong nó.

Bà uống bốn viên aspirin rồi nắm chặt cây gậy chống, chậm chạp lần đường trèo xuống cầu thang, ra khỏi cửa hậu vào con hẻm phía sau cửa hàng. Bà tập tễnh đi qua quảng trường về phía cây cầu.

Chặng đường dường như tốn rất nhiều thời gian, mọi thứ dạo này đều cần rất nhiều thời gian. Hồi ta trẻ trung hơn, chẳng ai từng cảnh báo cho ta biết về điều này, chẳng ai bảo ta biết rằng rồi ta sẽ trở nên chậm chạp đến mức nào, ta sẽ bị chính sự chậm chạp của mình làm cho chán ngán. Đáng lý ra bà nên chiếm đoán được điều đó, bà nghĩ và rồi bật cười trong bóng tối.

Nickie vẫn còn nhớ rõ hồi đôi chân bà còn nhanh nhảu, một con chó đua. Hồi đó, khi bà còn trẻ, bà cùng em gái thường chạy đua bên bờ sông, ngược lên thượng nguồn. Họ chạy nhanh, váy giặt vào trong chiếc quần chăn gối, cảm nhận rõ ràng từng viên đá, từng khe nứt trên mặt đất cứng bên dưới đôi giày vải đế cao su mỏng quẹt. Không thể chặn lại, họ đã là thế đó. Sau này, rất lâu sau này, có tuổi hơn và chậm hơn, họ gặp nhau tại chính địa điểm đó, trên thượng nguồn sông, và họ cùng nhau dạo bộ, nhiều khi đến vài dặm, thường là trong im lặng.

Chính trong một chuyến đi như thế, họ đã nhìn thấy Lauren, đang ngồi trên bậc thềm chỗ nhà Anne Ward, tay cầm điếu thuốc lá, đầu ngửa ra tựa vào cánh cửa ra vào. Jeannie lớn tiếng gọi cô ta, và khi Lauren ngước nhìn lên, họ thấy toàn bộ phía sườn mặt cô ta đã bị nhuộm màu hoàng hôn. “Ông ta là một con quỷ, thằng già của cô ta ấy,” Jeannie bảo.

Cứ nhắc đến quỷ là thể nào quỷ cũng đến liền. Khi Nickie đứng đó, nhớ đến em gái mình, khuỷu tay chống lên lớp đá mát lạnh của cây cầu, cằm tì lên hai bàn tay, đôi mắt hướng xuống dòng nước, bà cảm thấy ông ta. Bà cảm thấy ông ta trước cả khi nhìn thấy ông ta. Bà đã không nhắc đến tên ông ta, nhưng có lẽ tiếng thì thầm của Jeannie đã triệu hồi ông ta, con quỷ Satan của thị trấn nhỏ. Nickie quay đầu lại và ông ta ở đó, đang bước về phía bà từ mạn phía Đông cây cầu, một tay cầm gậy chống, một tay cầm điếu thuốc lá. Nickie nhổ nước bọt lên mặt đất như bà vẫn luôn làm thế, và đọc thần chú.

Thông thường, bà sẽ để mặc như thế, nhưng tối nay - và ai mà biết được tại sao chứ, có lẽ do bà đang cảm thấy linh hồn của Lena, hay của Libby, hay Anne, hay Jeannie - bà cất tiếng gọi. “Giờ thì sẽ chẳng còn lâu nữa đâu,” bà nói.

Patrick dừng lại. Ông ta ngước lên như thể ngạc nhiên khi nhìn thấy bà. “Thế là sao?” ông ta gầm gừ. “Bà nói cái gì?”

“Tôi nói, từ giờ sẽ chẳng còn lâu nữa đâu.”

Patrick bước thêm một bước về phía bà và bà lại cảm thấy linh hồn đó, hừng hực giận dữ, trỗi dậy từ dạ dày bà lên lồng ngực bà và vào trong miệng bà. “Dạo gần đây họ đã nói chuyện với tôi.”

Patrick phẩy một bàn tay về phía bà ra điều không quan tâm, nói gì đó bà không sao nghe ra được. Ông ta vẫn tiếp tục đi theo đường cũ, và linh hồn ấy vẫn không chịu lặng im. Bà nói với theo, “Em gái tôi! Vợ ông! Cả Nel Abbott nữa. Tất cả bọn họ, tất cả bọn họ vẫn đang nói chuyện với tôi. Và cô ấy hiểu rõ ông quá mà, phải không? Nel Abbott ấy?”

“Câm đi, mụ già ngu xuẩn,” Patrick quát. Ông ta làm như định tiến về phía bà, chỉ là hành động giả, và Nickie giật mình. Ông ta phá lên cười, lại quay người đi. “Lần tới nói chuyện với cô ta,” ông ta ngoái lại nói, “nhớ gửi lời chúc tốt đẹp nhất của tôi tới em gái bà nhé.”

Jules

Em ở trong bếp đợi Lena về - em đã gọi điện thoại cho con bé, em đã để lại tin nhắn thoại. Em bực bội trong tuyệt vọng, và trong đầu em, chị trách móc em vì đã không đi theo con bé, giống như chị đã đi theo em. Chị và em, chúng ta kể câu chuyện của chúng ta theo những cách khác nhau. Em biết thế, bởi vì em đã đọc những dòng chị viết: Hồi mười bảy tuổi, tôi đã cứu em gái tôi khỏi chết đuối. Chị là nữ anh hùng, nếu không tính đến văn cảnh. Chị không viết về việc em đã đến đó như thế nào, về trận bóng, hay máu, hay Robbie.

Hay vũng sông. Hồi mười bảy tuổi, tôi đã cứu em gái tôi khỏi chết đuối, chị viết thế, nhưng đó là ký ức đã được chị lựa chọn, Nel ạ! Em vẫn có thể cảm nhận được bàn tay chị trên gáy em, cảm giác thống khổ của buồng phổi thiếu không khí, nỗi hoảng loạn lạnh ngắt khi mà, kể cả trong trạng thái mụ mị ngu ngốc, vô vọng và nhuốm men say của mình, em vẫn biết em sắp chết đuối. Chị đã giữ em ở đó, Nel.

Dù không lâu. Rồi chị đổi ý. Khóa cánh tay quanh cổ em, chị lôi em về phía bờ, nhưng em vẫn luôn biết rằng một phần nào đó trong chị muốn bỏ mặc em ở đó.

Chị đã bảo em đừng bao giờ nhắc đến chuyện đó, chị đã bắt em hứa, vì mẹ, và vậy nên em đã chôn chuyện đó vào sâu trong lòng. Có lẽ em vẫn luôn cho rằng một ngày nào đó, trong một tương lai xa, khi chúng ta đều đã già và chị đã khác, khi chị thấy hối lỗi, chúng ta sẽ khơi lại chuyện đó. Chúng ta sẽ nói về những chuyện đã xảy ra, về điều em đã làm và điều chị đã làm, về điều chị đã nói và chuyện vì sao mà cuối cùng chúng ta lại trở nên căm ghét nhau. Nhưng chị chưa bao giờ nói xin lỗi. Và chị chưa bao giờ giải thích với em tại sao chị lại có thể đối xử với em, đứa em gái bé bỏng của chị, theo cái cách ấy. Chị chẳng bao giờ thay đổi, chị chỉ cứ thế đi rồi chết, và em có cảm giác như thể trái tim em đã bị dứt ra khỏi lồng ngực.

Em muốn được gặp lại chị đến tuyệt vọng.

Tôi đợi Lena cho tới tận khi, không trụ nổi vì mệt mỏi, tôi cuối cùng cũng lên giường. Từ khi về đây tôi thường xuyên khó ngủ và giờ đang lãnh đủ hậu quả. Tôi nằm rã rượi, chợp chờn mơ mơ tỉnh tỉnh cho đến khi nghe thấy tiếng của mở ở tầng dưới, tiếng bước chân Lena trên cầu thang. Tôi nghe tiếng con bé đi vào trong phòng và bật nhạc, âm lượng đủ to để tôi nghe thấy một giọng hát nữ.

*That blue-eyed girl

said ‘No more’,

and that blue-eyed girl

became blue-eyed whore.*

Tôi chậm chạp trôi trở lại giấc ngủ. Khi tôi tỉnh lại lần nữa, tiếng nhạc vẫn đang vang, vẫn là bài hát đó, giờ âm lượng to hơn. Tôi muốn nó dừng lại, tha thiết mong nó dừng lại, nhưng tôi nhận ra tôi không thể nhấc người ra khỏi giường. Tôi băn khoăn không biết mình đã tỉnh dậy hay chưa, bởi vì nếu tôi đã tỉnh rồi thì cái sức nặng trên ngực tôi, đang đè lên tôi là gì? Tôi không thở nổi, không thể nhúc nhích, nhưng tôi vẫn nghe tiếng người phụ nữ hát.

*Little fish big fish, swimming in the water

Come back here man, gimme my daughter*.

Đột nhiên, sức nặng biến mất và tôi nhổm dậy khỏi giường, giận dữ. Tôi loạng choạng bước vào hành lang hét gọi Lena vặn nhỏ nhạc xuống. Tôi lao tới chỗ tay nắm cửa phòng con bé và giật của mở ra. Phòng vắng tanh. Đèn vẫn bật, cửa sổ mở, đầu mẩu thuốc lá trong gạt tàn, một chiếc cốc cạnh chiếc giường trống. Tiếng nhạc dường như càng lúc càng to hơn, đầu tôi ong ong và quai hàm tôi đau nhức, tôi không ngừng hét lên cho dù ở đó chẳng có ai. Tôi tìm thấy cái loa iPod và giật nó ra khỏi tường, và cuối cùng, cuối cùng, tất cả những gì tôi nghe thấy là tiếng hơi thở của tôi và tiếng máu tôi đang rần rật trong tai.

Tôi quay về phòng mình và lại gọi cho Lena, khi không thấy ai trả lời, tôi thử gọi cho Sean Townsend nhưng cuộc gọi lại được chuyển thẳng đến hòm thư thoại. Ở dưới tầng, cửa ra vào đã khóa và đèn đã được bật hết lên. Tôi đi từ phòng này sang phòng khác, lần lượt tắt từng đèn một, loạng choạng như thể say rượu, như bị phê thuốc. Em nằm xuống ghế cửa sổ, nơi em thường ngồi đọc sách cùng mẹ, nơi hai mươi hai năm trước bạn trai chị đã cưỡng hiếp em, và em lại ngủ thiếp đi.

Tôi mơ thấy nước đang dâng lên. Tôi đang ở trên tầng trong phòng ngủ của bố mẹ. Tôi đang nằm trên giường bên cạnh Robbie. Ngoài trời, mưa tuôn xối xả, nước sông không ngừng dâng, và bằng cách nào đó tôi biết rằng ở tầng dưới, nhà đang bị ngập. Ban đầu từ từ, chỉ là một dòng nước nhỏ rỉ vào từ chân cửa, và rồi nhanh hơn, các cửa ra vào và cửa sổ mở bung ra, nước bẩn tràn vào trong nhà, vỗ vào cầu thang. Chẳng hiểu sao, tôi có thể nhìn thấy phòng khách, chìm trong màu xanh rêu, dòng sông đang đòi lại ngôi nhà, dòng nước đang vươn đến cổ của Con chó chết đuối, chỉ có điều giờ nó không còn là một con vật trong tranh nữa, nó là thật. Đôi mắt con chó trắng dã và trợn trừng hoảng loạn, và nó đang vật lộn giành mạng sống. Tôi cố nhổm dậy, cố xuống cầu thang cứu nó, nhưng Robbie không cho tôi đi, anh ta đang kéo tóc tôi.

Tôi giật mình tỉnh giấc, kinh hoảng vì cơn ác mộng. Tôi kiểm tra điện thoại, hơn ba giờ sáng. Tôi nghe thấy tiếng gì đó, ai đó đang di chuyển quanh nhà. Lena đã về. Ơn Chúa. Tôi nghe tiếng con bé đi xuống cầu thang, tiếng đôi tông của con bé loẹt quẹt trên nền đá. Con bé dừng lại, đóng khung trong ngưỡng cửa, ánh sáng từ sau lưng làm nổi bật cái bóng đen là dáng hình nó.

Con bé bắt đầu di chuyển về phía tôi. Con bé đang nói gì đó, nhưng tôi không nghe ra được, và tôi nhận ra con bé không đi tông, nó đang đi đôi giày cao gót tùng đi hôm lễ tang, và mặc cùng cái váy đen đó, đang nhỏ nước tong tong. Tóc nó dính bết vào mặt, da nó xám ngoét, môi tím bầm. Nó đã chết.

Tôi choàng tỉnh, thở hổn hển. Tim tôi nên thành thịch trong lồng ngực, chiếc ghế bên dưới tôi ướt đẫm mồ hôi. Tôi ngồi dậy, hoang mang, tôi nhìn những bức tranh đang treo đối diện tôi và chúng dường như chuyển động, và tôi nghĩ, Mình vẫn đang ngủ, không thể có chuyện mình đã thức dậy, không thể có chuyện mình đã thức dậy. Tôi vận hết sức véo vào da thịt mình, cấu cẳng tay và nhìn thấy những vết móng có thật, cảm nhận đau đớn có thật. Ngôi nhà tối và lặng như tờ, chỉ có tiếng dòng sông rì rầm lặng lẽ. Tôi gọi Lena. Tôi chạy lên tầng đi dọc theo hành lang, cửa phòng Lena hé mở và đèn vẫn bật. Căn phòng vẫn y nguyên hiện trạng như khi tôi rời khỏi vài tiếng đồng hồ trước, vẫn cốc nước và giường chưa dọn và gạt tàn chưa được động đến. Lena không có nhà. Con bé chưa hề về nhà. Con bé đã đi mất rồi.

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.