Con Mắt Biên Tập - Chương 3

Chương 3: VĂN PHẠM VÀ PHONG CÁCH

Chương này sẽ giúp bạn: - Hiểu được ý nghĩa của văn phạm và cú pháp trong việc biên tập - Biết các quy ước về cách dùng từ trong nghề báo - Học cách xây dựng những câu trích dẫn cho thích hợp - Biết cách nhấn mạnh những ý tưởng muốn truyền đạt Bạn nói năng lưu loát? Xin chúc mừng! Bạn viết rất hiếm khi sai ngữ pháp? Điều đó cũng tốt. Nhưng còn khả năng phát hiện lỗi trong tác phẩm của người khác thì sao? Nói cách khác, bạn giỏi đến đâu trong vai trò người biên tập bản thảo cuối? Hãy thử biễn tập mẩu quảng cao sau đây. Một nhà xuất bản địa phương đã đăng rao vặt này trên một nhật báo khi cần tuyển dụng một biên tập viên bản thảo:

Hãy khởi động kỹ năng biên tập của bạn trước khi đọc quảng cáo này. Sẵn sàng chưa? Networking Management là một tạp chí kinh tế/ thương mại của ngành truyền thông đa phương tiện đang cần tuyển dụng một người có chuyên môn biên tập trong lĩnh vực chuyên ngành có ít nhất 3 năm kinh nghiệm viết và biên tập bản thảo. Kỹ năng làm việc trên máy tính là bắt buộc, hiểu biết cơ bản quy trình thiết kế và sản xuất là lợi thế. Có bằng báo chí hoặc một lĩnh vực liên quan cũng quan trọng, bạn phải là người có khả năng học hỏi nhanh xử lý được nhiều dự án vào thời hạn chót. Bạn sẽ biên tập chủ lực các bài chuyên mục, điều phối và viết mục Sản phẩm Mới của các tạp chí và viết tin khi cần. Dự các hội chợ thương mại và các cuộc họp báo không thường xuyên cũng là một phần trách nhiệm đòi hỏi.

Tác giả của rao vặt này là Joanie Wexler, biên tập viên của nhà xuất bản PennWell ở Westford, bang Massachusetts. Bà đã quá mệt mỏi khi phải phân loại hàng trăm bản lý lịch của người xin việc mà không hề biết kỹ năng của họ ra sao. Bà biết sẽ có ít người nộp đơn với những thông báo tuyển dụng đòi hỏi chuyên môn cụ thể. Bà không cần có thật nhiều ứng viên mà cần có ngay những ứng viên tiềm năng. Vì thế, dưới đoạn văn trên, bà khẩn khoản viết thêm: "Nếu bạn cho rằng mẩu quảng cáo này đã hoàn chỉnh, xin vui lòng tìm việc ở lãnh vực khác". Hiệu nghiệm! Công ty của bà nhận được không nhiều đơn dự tuyển và chính kỹ năng biên tập của ứng viên thể hiện qua quảng cáo trên đã giúp bà xếp hạng và chọn được người biên tập giỏi.

Có thể bạn chẳng bao giờ phải biên tập một mẩu rao vặt để được tuyển dụng, nhưng có nhiều khả năng là bạn phải lam bài trắc nghiệm kỹ năng. Và rất nhiều khả năng là bài hắc nghiêm ấy sẽ tập trung vào những điểm tinh tế của ngữ pháp và cú pháp. Bạn không thể làm công việc này mà không am tường ngôn ngữ. Đơn giản vậy thôi. Thực tế, bất kỳ ai viết tín hay đọc tin đều cần thông thạo các quy tắc văn phạm và cách dùng từ. Ngày càng có nhiều phóng viên báo in làm thêm việc tường thuật truyền hình. Ngoài ra, thời gian dành cho biên tập và sản xuất chương trình bị rút ngắn hơn trước. Nhà báo phải chính xác và tự tin khi sử dụng ngôn ngữ.

Thế nhưng nhiều nhà báo có thể gan dạ tường thuật những cuộc chiến tranh du kích lại tỏ ra hoảng hốt khi nghe tới hai chữ "'văn phạm". Không nên như thế. Văn phạm chỉ là một hệ thông, một phương pháp liên kết từ ngữ theo những cấu trúc nhằm chuyển tải cùng một ý nghĩa đến bất kỳ người đọc hoặc người nghe nào. Hãy nhớ câu hỏi triết học này: Nếu một cái cây gãy đổ trong rừng khi không có người nào gần đó nghe thấy thì nó có tạo ra âm thanh nào không? Nếu nhà báo tường thuật những thông tin gây chấn động mà chẳng ai hiểu nổi thi bản tin của họ dã không cung cấp được thông tin gì hết.

Hiển nhiên, cả người viết lẫn người biên tập đều phải am tường văn phạm. Tai họa của mọi thân phận biên tập viên chính là những phóng viên vui vẻ tung hoành trên những vùng cấm của ngữ pháp với tinh thần lạc quan: "Không sao đâu. Sai thì biên tập viên sửa". Nhưng nếu chỉ cần giỏi văn phạm thôi là đủ để viết hay thì bất kỳ ai kiên trì tham khảo sách ngữ pháp cũng có thể sáng tạo ra những áng văn tuyệt tác. Nhưng muốn viết hay lại cần nhiều yếu tố khác chứ không chỉ là văn phạm chính xác. Người viết cần có quan điểm về thế giới và mọi câu chuyện trên đời; cần tinh tường để chuyển tải quan điểm của mình đến với độc giả; vạ cần một yếu tố rất khó nắm bắt: Phong cách.

Với cả phóng viên lẫn biên tập viên, khái niệm "phong cách" mang nhiều ý nghĩa khác nhau - từ những quan tâm cụ thể về "các quy định" của tòa soạn cho tới những câu hỏi khó xác định hơn nhiều về những phẩm chất của một câu văn tốt, đoạn văn hay, bài viết tuyệt vời. Cách viết có súc tích và sinh động không? Cách viết có tránh được những tô sáo mòn, đơn giản hóa được những khái niệm phức tạp, có động lực thúc đẩy độc giả đi tiếp không? Cách viết có trôi chảy không? Những vấn đề này hò hét trong tâm trí người biên tập, kêu gào sự quan tâm, cùng với bao vấn đề khác liên quan đến cách chấm câu và văn phạm.

Phong cách có thể là khái niệm khó xác định nhưng ai cũng từng trải nghiệm những tác động của nổ. Bạn đọc hai bài viết về cùng một sự kiện và ngạc nhiên khi thấy rằng: Dù cả hai bài cùng chứa đựng thông tin giống nhưng một bài lại cuốn hút chú ý trong khi bài kia lại cứ như quả bóng xì hơi chẳng ai màng tới. Hoặc chính bạn từng viết một bài hết sức vất vả nhưng rồi tình cờ đọc một bài tương tự của người khác viết. Bài của bạn trúc trắc, bài người kia bay bổng, vấn đề đâu? Điều đó có liên quan đến phong cách.

Phong cách bao quát một số vấn đề - chẳng hạn như trọng tâm, bố cục và giọng điệu - thường là thuộc lãnh vực của biên tập viên phân công hơn là của biên tập viên bản thảo cuối. Những vấn đề như thế sẽ được đề cập ở Phần Hai: Biên Tập Nội Dung. Nhưng những biên tập viên bản thảo cuối cũng có nhiều quan tâm riêng về phong cách - từ cách dùng từ cho đến cách đặt câu và cả đoạn văn. Tuy phải mất thời gian mới phát triển được một con mắt nhạy bén với phong cách và một trực giác tốt về cách viết tốt, bạn có thể thúc đẩy nhanh tiến trình này bằng cách dõi theo con mắt của biên tập viên lướt qua bản thảo. Một khi bạn đã biết những "ổ gà" cản trở lưu thông có khả. năng đang ẩn nấp ở đâu trong mạch văn, bạn sẽ dê dàng tránh "sụp hầm" hơn.

1. Từ ngữ

1.1. Sử dụng cẩm nang phong cách

Các nhật báo thường sử dụng những cẩm nang phong cách (stylebook)để dùng từ cho nhất quán, giúp độc giả khỏi rối trí. [Ở Mỹ, loại sách cẩm nang phong cách rất phổ biến và đá dạng nhưng giới báo chí thường hay sử dụng cuốn Stylebook của Hãng thông tấn Associated Press do Norm Goldstein chủ biên làm tiêu chuẩn.] Phóng viên và biên tập viên thường xuyên tham khảo - cẩm hang phong cách khi làm việc. Một nữ sinh viên báo chí sau khi tốt nghiệp được tuyển vào làm phóng viên cho hãng tin AP đã nói đùa rằng cuốn Stylebook luôn dính liền với cô như một phần cơ thể — và nói thế là không hề cường điệu. Không có danh sách hay bản liệt kệ nào có thể trả lời được nhiều vấn đề về cách dùng từ chọ bằng, một cuốh cẩm nang phong cách. Với người biên tập, những vấn đề quan tâm nhất cần phải tham khảo sách này là:

QUY ƯỚC VIẾT TẮT. Khi nào thì thích hợp dùng từ viết tắt trong các niên đại, địa chỉ, tham chiếu địa lý, và tên tổ chức hay công ty?

XƯNG HÔ LỊCH Sự. Tòa soạn của bạn có sử dụng cách gọi Ông, Bà, Cô, và Ngài không hay chỉ gọi tên? Mặc dù nhiều - cơ quan báo chí [Mỹ] đã bỏ hết những từ xưng hô này/ một số báo vẫn còn sử dụng.

CÁC THUẬT NGỮ THỂ THAO, KHOA HỌC, QUÂN SỰ, Y KHOA, PHÁP LÝ VÀ TÀI CHÍNH. Những thuật ngữ này sử dụng có chính xác không? Các thuật ngữ ấy khá phổ biến, hầu như ai cũng hiểu, hay cần phải giải thích?

ĐỊA LÝ. Tên thành phố nào có thể đứng một mình, và tên thành phố nào cần nêu rõ địa hạt hay tiểu bang để dễ xác định?

CÁC CHỮ SỐ. Khi nào nên viết bằng số và khi nào nên viết bằng chữ?

CÁC THAM CHIẾU TÔN GIÁO. Nội dung tin bài có sử dụng đúng thuật ngữ và mô tả đúng các nhân vật và nghi thức tôn giáo không?

TIẾNG LÓNG. Dừng "nhóc con" thay cho “trẻ em" được không? Thay "cảnh sát" bằng “cớm” thì sao? Mọi biên tập (tài liệu photo bị mất trang 56 và 57 – chú thích của người scan và sửa sách)

Dù những từ khoa trương không chướng tai như biệt ngữ, chúng vẫn không có chỗ đứng trong các bản tin. Tại sao lại viết ai đó "hiện được tiểu bang tuyển dụng" thay vì người đó "làm việc cho tiểu bang"? Tại sao lại nói ai đó "từ trần tại tư gia" mà không nói "chết ở nhà riêng"?

1.2. Giải thích các thuật ngữ phức tạp hay lạ thường

Thường thì cách tốt nhất để xử lý các thuật ngữ phức tạp hay lạ thường là nên giải thích cho độc giả hiểu được khái niệm trước đã rồi sau đó mới sử dụng thuật ngữ đó trong nội dung. Nhưng phải cẩn thận, đừng có xem thường độc giả. Khi một gia đình trong vùng trúng số độc đắc 20 triệu USD thì không cần phải giải thích "xổ số" là gì? Ai mà chẳng biết! Nếu bản tin phải giải thích từng thuật ngữ trong bài thì bài nào cũng chiếm hết cả trang báo - và chẳng ai thèm đọc nữa.

Phải thừa nhận là nhà báo rất khó xác định xem công chúng đã biết chừng nào. Hãy suy nghĩ theo cách này: Một bài viết cũng giống như một lá thư gửi một người bạn thông minh. Người bạn ấy cũng nhanh trí và từng trải như bạn, chỉ có điều là người ấy không có mặt sự kiện mà bạn chứng kiến. Hãy luôn nhớ đến đối tượng công chung cụ thể ấy để xác định giọng điệu và mức độ giải thích tương xứng với nội dung câu chuyện.

2. Câu văn

2.1. Sử dụng lời trích dẫn

Dấu ngoặc kép là dấu hiệu báo cho độc giả biết: "Bây giờ có chuyện đặc biệt. Người viết sẽ tránh ra và để cho tôi nghe trực tiếp lời của những người có liên quan". Một bài viết đặt những lời nhạt nhẽo vào giữa hai dấu ngoặc kép đã biến dấu hiệu này thành điều dối gạt. Những bài viết trích dẫn quá nhiều từ sáo rỗng, biệt ngữ hoặc những câu dài dòng, rối rắm cũng vậy. Các trích dẫn hay sẽ bổ sung màu sắc và độ tin cậy. Chúng đưa độc giả đến gần với sự kiện hơn, phô bày cá tính nhân vật, cho thấy tiết tấu và ngữ điệu của văn nói. Khi gặp những câu trích dẫn, người biên tập không chỉ chú ý đến các yếu tố ngữ pháp mà còn chú ý cả phong cách. Có bốn phạm trù liên quan đến cách trích dẫn là: nội dung, cách giới thiệu, giải thích bối cảnh và số lượng câu trích dẫn.

NỘI DUNG TRÍCH DẪN. Trích dẫn cảm xúc chứ không trích dẫn dữ kiện. Tuy công thức này không phải híc nào cũng đúng nhưng đó là cách đơn giản nhất để giải thích về những gì hàm chứa trong nội dung trích dẫn. Để hỗ trợ cho đoạn dẫn nhập, có khi một câu chuyện thời sự buộc phải trích dẫn một tuyên bố khá nhạt nhẽo của một nhân vật có thẩm quyền hay một tài liệu nào đó - nhạt nhẽo nhưng cần thiết. Không kể ngoại lệ đó, những lời trích dẫn phải dành cho những phát biểu mà phóng viên không thể viết sinh động bằng những gì đã nghe thấy. Việc gì phải mất công trích dẫn lời một bà hiệu trưởng đại học nói "Trường này có 10.000 sinh viên"? Câu trích dẫn này không phải là một tuyên bố độc đáo mà cách nói cũng chẳng độc đáo gì. Thay vì thế, trong nội dung tin bài nên nêu ra dữ kiện này và trích lời bà hiệu trưởng bộc lộ phản ứng trước dữ kiện đó: "Tôi luôn lo nghĩ nát óc khi những quyết định của tối sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người".

GIỚI THIỆU CÂU TRÍCH DẪN. Một câu trích dẫn phải phát triển từ câu đứng trước nó. Phải cảnh giác với hai kiểu trích dẫn này: lời trích dẫn lặp lại câu trước và lời trích dẫn dường như trên trời rơi xuống.

CẦN CHỈNH SỬA: Bà hiệu trưởng đại học căng thẳng định của bà sẽ ảnh hưởng đến quá nhiều người. Bà nói; "Tôi luôn nghĩ nát ốc khi những quyết định của tôi sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người". (Trích dẫn lặp lại câu trước).

CẦN CHỈNH SỬA: Bà đã làm hiện trưởng đại học từ khi Oklahoma đến đây ha năm trước. Bà nói “tôi luôn lo nghĩ nát óc khi những quyết định tôi sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người". (Trích dẫn không liên quan gì đến câu trước).

ĐÃ BIÊN TẬP: Bà hiệu trưởng đại học này cho biết số lượng sinh viên tăng nhanh đã khiến bà phải thận trọng. Bà nói: "Tôi luôn lo nghĩ nát óc khi nhưng quyết định của tôi sẽ ảnh hưởng đến bao nhiêu người”. (Trích dẫn hỗ trợ câu trước).

GIẢI THÍCH BỐI CẢNH TRÍCH DẪN. Nhiều người thường ta thán rằng các nhà báo đã trích lời họ nằm ngoài bối cảnh. Họ nói không sai. Trừ phi nội dung tin bài ghi lại từng chữ những gì ai đó đã nói với phóng viên, những lời trích dẫn luôn nằm ngoài bối cảnh. Những phóng viên giỏi đều ý thức được tầm quan trọng của việc giải thích những gì cần thiết để bảo đảm không ai hiểu sai lời trích dẫn. Những biên tập viên giỏi luôn kiểm tra nội dung để bảo đảm là phóng viên có giải thích bối cảnh và lời giải thích này phải nằm trước, chứ không nằm sau, lời trích dẫn.

VỤNG VỀ: “Tôi có thể nằm trên giường nghe tiếng vui đùa, ngồi ăn trưa chứng kiến biểu tình, nhìn ra cửa sổ và quan sát những con người mà chính họ là lý do để tôi có mặt nơi này”, bà hiệu trưởng đại học nói về cuộc sống của bà trong ngôi nhà gạch đường bệ nằm ngay trung tâm khu học xá sinh viên.

MẠCH LẠC: Bà tận hưởng mọi điều trong cuộc đời hiệu trưởng giữa những bức tường gạch của ngôi nhà nằm ngay khu trung tâm đại học. Bà nói: “tôi có thể nằm trên giường nghe tiếng vui đùa, ngồi ăn trưa chứng kiến biểu tình, nhìn ra cửa sổ và quan sát những con người mà chính họ là lý do để tôi có mặt nơi này”.

SỐ LƯỢNG CÂU TRÍCH DẪN. Hầu như trong mọi tờ báo, bạn đều có thể tìm thấy những câu chuyện thực tế không phải do phóng viên viết ra. Đó chỉ là hàng loạt lời trích dẫn được xâu kết với nhau bằng vài từ của phóng viên chen vào giữa. Có khi phóng viên dùng kỹ thuật này để nhường lời cho nguồn tin nói. Có khi phóng viên viết bài theo kiểu này chỉ vì họ không tự tin vào ngôn từ của mình, hoặc vì họ không chịu phân tích mọi lời trích dẫn đã thu thập và chọn ra những câu hay nhất. Dù vì lý do nào đi nữa, bài viết như thế cần phải biên tập lại. Độc giả không giở tờ báo ra để dọc hết những phát biểu trên đời ngày hôm qua. Độc giả trông đợi phóng viên phải làm một số việc cho họ, xếp hạng tầm quan trọng của những sự kiện, giải thích ý nghĩa của chúng, truyền đạt những chi tiết đáng chú ý. Phóng viên phải chứng tỏ là mình biết diễn đạt súc tích và lôi cuốn hơn các nguồn tin.

Biên tập viên phải đặc biệt chú ý đến những câu trích dẫn chồng chất gần cuối bài viết. Phóng viên có khi mỏi mệt và, trong tâm lý gấp rút viết cho kịp thời hạn, chỉ làm mỗi việc là gom hết những gì đã ghi chép trong sổ tay đưa vào bài, để cho các nguồn tin thay nhau nói ra rả. Rất dễ giải quyết những câu trích dẫn chồng chất này. Chỉ cần hình dung ra - lý tưởng nhất là nên hội ý với phóng viên - lời của từng người phát biểu sẽ phục vụ cho mục đích nào trong nội dung câu chuyện. Mục đích ấy sẽ trở thành câu giới thiệu cho lời trích dẫn. Sau đó chỉ chon ra một hoặc hai câu hay nhất.

BẢN THẢO: "Tôi phải nghi ngờ những khẳng định của công ty dầu khí cho rằng vùng biển này đầy bất trắc và chuyện không thể trách khỏi”, viên sĩ quan tuần duyên nói: “Tôi đã nói chuyện với những người ở trên chiếc tàu chở dầu ngày hôm ấy. Cụ thể hơn, bản thân tôi từng làm hoa tiêu ở vùng biển này. Không thể nào ví vùng biển này với Tam giác Bermuda. Chúng tôi nói đến một eo biển rộng đến mức mấy đứa con nít cũng có thể lái tàu dầu đi qua an toàn”.

BIÊN TẬP: Viên sĩ quan tuần duyên, ngươi ta làm hoa tiêu ở vùng biển này, cho biết eo biển không bất trắc như công ty dầu khí đã quả quyết. Ông nói: “không thể nào ví vùng biển này với Tam giác Bermuda. Chúng tôi nói đến một eo biển rộng đến mức mấy đứa con nít cũng có thể lái tàu dầu đi qua an toàn”. (Câu thứ nhất đúc kết vai trò của viên sĩ quan trong câu chuyện: cung cấp một quan điểm đối nghịch. Những câu trích dẫn là những lời thú vị nhất trong phát biểu của ông ta).

2.2. Đơn giản hóa những cấu trúc câu phủ định

Nói chung, phóng viên thời sự luôn cố tránh dùng câu phủ định, đặc biệt là trong câu dẫn nhập và tít. Công chúng muốn biết điều gì đã xảy ra, chứ không phải điều không xảy ra. (Bạn có thấy phần cuối của cáu này là rối rắm không? Quá nhiều phủ định). Phóng viên nào gắn bó với từ “nhưng” thường tỏ ra rất ưa chuộng dạng phủ định kép - và có khi trong một câu lại có đủ cả "nhưng" lẫn hai lần "không". Nếu không có ai biên tập lại, độc giả và thính giả chắc hẳn sẽ vò đầu bứt tai với những cầu như “Nhưng không một ai phủ nhận rằng không hề có vấn đề”

Hầu hết phóng viên đều có thể đễ dàng tránh dạng phủ định kép này. Nhưng bệnh "phủ định quá mức" còn xuất hiện trong nhiều hình thức khác ngoài từ "không" - đặc biệt là trong những tin bài về các tiến hình pháp lý hay tố tụng. Chính quyền và tòa án luôn thực hiện những thay đổi lớn theo từng bước nhỏ. Phóng viên rất dễ bị mắc kẹt trong tiến trình đó thay vì tường thuật kết quả một cách đơn giản. Hãy xem ví dụ sau:

Tòa án Tối cao tiểu bang bác bỏ phán quyết đã tuyên bố rằng sắc lệnh của thành phố nghiêm cấm nhảy múa khỏa thân là vi hiến.

"Bác bỏ", "nghiêm cấm", và toàn là những là hàm ý phủ định. Ba từ này hợp lại khiến đầu óc quay cuồng. Thế tòa án đã làm cái trò gì chứ? Hãy xem xét từng bước một. Đầu tiên, chính quyền thành phố ra một sắc lệnh quy định "khùng được nhảy múa khỏa thân", một tòa án cấp thấp bảo rằng sắc lệnh này là vi phạm hiến pháp. Nói cách khác, tòa án cấp thấp bảo thành phố phải cho phép nhảy muá thỏa thân. Sau đó tòa án Tối cao bác bỏ phán quyết đó của tòa án Cấp thấp. Nói tóm lại, Tòa Án Tối Cao cho rằng chuyện thành phố cấm nhảy múa khỏa thân là đúng luật. Ui cha! Sao phóng viên này không viết thế ngay từ đầu cho rồi?

2.3. Các ý tưởng phối hợp và bổ sung

Do chứa đựng nhiều chi tiết, tin bài thời sự hay gặp phải vấn đề là từ ngữ trong câu không thể hiện được mối tương quan của các ý tưởng. Khi phóng viên cố lên quá nhiều thông tin vào trong một câu, độc giả có thể lúng túng không biết ý nào là quan trọng, ý nào kém quan trọng hơn, và các ý đó liên quan với nhau ra sao.

Những ví dụ bên dưới sẽ cho thấy ba vấn đề phổ biến về phối hợp các ý tưởng: các ý không có tầm quan trọng như nhau lại được nhấn mạnh bằng nhau, ý chính lại biến thành phụ, và quá nhiều ý phụ bổ sung cho ý chính.

Ý tưởng không cân xứng, nhấn mạnh như nhau

BẢN THẢO: Giải thưởng kèm theo 2.000 USD tiền mặt và tôn vinh những người đã liều mình cứu người khác.

GỢl Ý SỬA: Trị giá 2.000 USD tiển mặt, giải thưởng tôn vinh những người đã liều mình cứu người khác.

"Và" là một liên từ, nối kết các ý tưống có tầm quan trọng như nhau. Khi bạn gặp hai ý nối kết với nhau bằng thì phải kiểm tra cho chắc là hai ý này cân xứng và không có mối tương quan nào khác. Nếu một ý là nguyên nhân hoặc hệ quả của ý kia, là tương phản với ý kia, hoặc rõ ràng là quan trọng hơn ý kia (giống như hành động anh hùng hẳn là phải quan trọng hơn giải thưởng tiền mặt ở ví dụ trên), chúng phải được nối kết bằng một cái gì đó cụ thể hơn chứ không phải bằng từ “và”

Đề phòng lạm dụng những liên từ. Chứng bệnh này đặc biệt phổ biến ở đầu câu. Dù vẫn còn tồn tại ở một vài ấn phẩm, "mọi nhật báo trước đây đều đã từng nghiêm cấm phóng viên mở đầu càu bằng các từ "và" hoặc "nhưng". Tuy nhiên, nhiều biên tập viên ngày nay vẫn cho phép cách viết này nếu đó là cách diễn đạt ý tưởng tốt nhất - miễn là không dùng quá lố. Khi đọc bản thảo, bạn phải để ý xem cổ nhiều câu mở đầu bằng liên từ hay không. Thường thì có thể loại bỏ từ ờ đầu câu mà không ảnh hưởng gì đến phần còn lại. Với từ "nhưng" thì đừng! Phải đặc biệt cẩn thận với những câu có nhiều hơn một từ "nhưng". Trong một câu mà có nhiều ý đối chọi nhau như vậy thì làm sao độc giả biết được đâu là ý chính.

Ý chính biến thành phụ

BẢN THẢO: Hành trình này thậm chí còn gian khó hơn những gì Timothy Jones đã tưởng tượng, nhưng người mù đi thuyền buồm vòng quanh thế giới này cho biết ông cùng đã thuyết phục được chính mình rằng ông tàn tật.

GỢI Ý SỬA: Timothy Jones cả đời đã không ngừng thuyết phục người khác rằng ông mù nhưng không tàn tật. Ông đã đi thuyền buồm vòng quanh thế giới dế chứng minh với mội người quan trọng nhất: chính mình.

(tài liệu photo thiếu trang 64 và 65)

BIÊN TẬP VIÊN LƯU Ý: Văn phạm và Phong cách - Đã sửa hết lỗi văn phạm và kiểm tra mọi dấu chấm câu chưa? - Đã tham khỏa sách cẩm nang phong cách về mọi vấn đề tiềm tàng chưa? Phải kiểm tra các chữ viết tắt, chữ số, chức danh, tên nước ngoài và các danh từ kỹ thuật. - Trong câu văn có từ nào thừa không? Trong giai đoạn văn có câu nào thừa không? Trong toàn bài có đoạn này thừa không? - Bạn đã loại bỏ hết các từ sáo mòn chưa? - Bạn đã thay những biệt ngữ và từ khoa trương bằng các từ đơn giản chưa? - Những thuật ngữ phức tạp và lạ thường đã được giải thích hết chưa? - Nhưng lời trích dẫn có đáng trích hay không? - Bạn đã kiểm tra các mệnh đề phụ đề phụ để bảo đảm là ý chính không nằm trong đó chưa? - Phóng viên có thay đổi độ dài và cấu trúc câu cho đa dạng không?

Báo cáo nội dung xấu

Chi phí đọc tác phẩm trên Gác rất rẻ, 100 độc giả đọc mới đủ phí cho nhóm dịch, nên mong các bạn đừng copy.

Hệ thống sẽ tự động khóa các tài khoản có dấu hiệu cào nội dung.